Trong thời gian từ năm 1208 đến khoảng 1300, lịch sử Trung Hoa nổi lên những cái tên mà hầu như ai cũng kinh sợ mỗi khi nhắc đến, đó là tên các danh tướng lẫy lừng từ Đông sang Tây như Thiết Mộc Chân, Oa Khoát Đài, Đà Lôi, Mông Kha, Hốt Tất Liệt, v.v... Những danh tướng này tuy có một vài trận không chiến thắng bởi nhiều lý do khách quan nhưng hầu hết đều đạt thắng lợi lớn lao, giúp cho triều Nguyên mở rộng biên cương từ Đông sang Tây, từ Bắc cho tới tận miền nam Trung Hoa.
Lịch sử huy hoàng của triều Nguyên bắt đầu từ Thiết Mộc Chân, sau khi chết được truy tặng là Nguyên Thái tổ. Dưới sự chỉ huy của Thiết Mộc Chân, vó ngựa người Mông Cổ tung hoành từ Đông sang Tây, từ nước Nga sang đến tận châu Âu; từ bắc xuống tới tận biên giới với Việt Nam.
Năm sinh của Thiết Mộc Chân không được sử sách ghi chép rõ ràng, chỉ theo sự kiện lịch sử mà tính thì ông sinh vào khoảng 1155 ở bên bờ sông Oát Nan, sau nhiều cuộc chiến tranh tiêu diệt các bộ tộc Mông Cổ hoặc sát nhập họ vào quân đội của mình, năm 1206 Thiết Mộc Chân xâm chiếm Trung Hoa và dựng nên triều đại nhà Nguyên. Ông trị vì được 22 năm, đến năm 1228 thì lâm bệnh nặng rồi qua đời ở sông Ngưu Đầu thuộc huyện Thanh Thủy sau khi quốc vương Tây Hạ đã đầu hàng.
Họ của Thiết Mộc Chân là Bột Nhi Chỉ Cân, con vị Hãn của một bộ tộc nhỏ người Mông Cổ tên là Dã Tốc Cai. Hãn tức là người đứng đầu của bộ tộc, khi bộ tộc ấy lớn mạnh hoặc sát nhhập nhiều bộ tộc với nhau mới tôn xưng lên là Khả Hãn hay Đại Hãn, tức tương đương với tước Vương ở Trung Hoa. Lúc đó có rất nhiều bộ tộc sống rải rác khắp miền bắc, hầu hết sinh sống bằng việc săn bắn và nuôi súc vật chứ không biết đến nông nghiệp. Vì là xứ sở mênh mông với những hoang mạc ở Gôbi và những bình nguyên đồng cỏ ở phía nam Seberi thuộc nước Nga. Ở đây có một bộ tộc Mông Cổ nổi tiếng thiện chiến và hung dữ tên là Tác Ta.
Các bộ tộc nhỏ thường dựa vào nhau để sinh tồn và rất thiện nghệ về thuật cưỡi ngựa. Sau này thuật cưỡi ngựa được quân đội Mông Cổ sử dụng như là thứ vũ khí lợi hại nhất, đoàn kỵ binh Mông Cổ đi tới đâu là nơi đó bị tiêu diệt không còn một con chó con gà, nhà cửa thì bị đốt cháy, san thành bình địa. Có thể nói, sự hung hãn của người Mông Cổ cũng được coi là “một loại vũ khí” đánh vào tinh thần. Do vậy hễ nghe tin quân Mông Cổ sắp tiến đến, hầu như các thành phố đều hoảng loạn, sĩ khí xuống thấp, rất lợi cho việc đánh chiếm của họ. Thế nhưng vì quá lợi dụng “võ khí tinh thần” này mà dần dần người Mông Cổ bị toàn bộ các dân tộc khinh ghét, thậm chí căm thù thấu xương, là tiền đề cho sự suy tàn của cả một đế chế trải rộng từ Đông sang Tây do một tay Thành Cát Tư Hãn dựng lên.
Cùng với thuật cưỡi ngựa, người Mông Cổ thiên về săn bắn nên thuật bắn cung cũng có thành tựu rất cao siêu. Dần dần các bộ tộc Mông Cổ kết hợp lại, trở thành một lực lượng rất mạnh nhờ vào tính kỷ luật và sự phối hợp hành quân rất chặt chẽ. Với hoàn cảnh ngày đây mai đó không dừng bước nơi nào lâu dài, người Mông Cổ không chú trọng vào việc học chữ mà ngay từ nhỏ đã chuyên tâm rèn luyện việc cưỡi ngựa, bắn cung. Đa số bộ tộc Mông Cổ theo “Bái vật giáo”, tức là về tâm linh vẫn còn sơ khai.
Bái vật giáo có thể định nghĩa là một loại bùa hộ mệnh nào đó hoặc một phép lạ. Bái vật giáo hình thành từ lúc loài người mới nhận biết Thượng đế và tổ chức thành tín ngưỡng. Bái vật giáo tin vào các thuộc tính siêu nhiên của vật thể tự nhiên như gốc cây cổ thụ, hòn đá có hình dáng kỳ quái, v.v... Bộ tộc Mông Cổ suốt đời sinh sống nơi hoang dã, tất nhiên rất dễ tin tưởng vào các biến chuyển hay hình dáng của vật thể tự nhiên, đó chính là Bái vật giáo.
Lúc đó bộ tộc của Dã Tốc Cai phải sống chung với một bộ tộc người Khiết Đan và một bộ tộc Mông Cổ tên là Thái Xích Ô. Cuộc sống của Thiết Mộc Chân có lẽ sẽ cũng như bao người khác nếu như không xảy ra sự cố lớn lao trong gia tộc, đó là việc thân phụ ông bị người Tác Ta (một bộ tộc Mông Cổ sinh sống mãi về phương Đông, gần với nước Nga hơn Trung Hoa) đầu độc vào năm 1167. Cái chết của Dã Tốc Cai biến bộ tộc của Thiết Mộc Chân trở thành đại loạn, mẹ của ông là Nguyệt Luân phu nhân phải lưu lạc hết sức gian khổ để nuôi dạy đùm bọc cho những đứa con vẫn đang bị bộ tộc Tác Ta truy sát “diệt cỏ tận gốc”. Đồng thời hai bộ tộc thân cận là Khiết Đan và Thái Xích Ô cũng bỏ đi càng khiến bốn mẹ con Thiết Mộc Chân bơ vơ không nơi nương tựa. Khi ấy Thiết Mộc Chân mới là đứa trẻ 13 tuổi, đã phải vất vả kiếm sống để giúp đỡ cho mẹ cùng với hai đứa em trai.
Thế nhưng sự việc không dừng ở đó, từng bước một hai bộ tộc Khiết Đan và Thái Xích ô cũng tìm cách bỏ rơi bốn mẹ con Thiết Mộc Chân với ý định đẩy họ vào cảnh tự nhiên bị tiêu diệt. Quả nhiên chẳng bao lâu sau người đứng đầu bộ tộc Thái Xích Ô triệu tập đại hội các bộ lạc Mông Cổ để bầu lên một vị Hãn mới.
Đương nhiên bộ tộc Thái Xích Ô đã sửa soạn sẵn sàng, lấy số đông áp đảo nên cuối cùng viên thủ lĩnh của bộ tộc ấy là Tháp Nhĩ Hốt Đài được bầu làm Hãn. Đây chẳng khác gì làm loạn bởi dòng dõi của Dã Tốc Cai vẫn còn sống, đáng ra Thiết Mộc Chân mới là người thừa kế ngôi vị của cha. Hai mẹ con Thiết Mộc Chân hết sức phẫn nộ nhưng không còn thủ hạ dưới tay, đành ôm hận chờ cơ hội.
Tháp Nhĩ Hốt Đài lên nắm quyền Hãn rồi lập tức tính đến việc giết luôn cả gia đình Thiết Mộc Chân, bất ngờ cho quân tấn công lều của mẹ con họ. May sao có một thủ hạ trung thành biết tin ấy, chạy đến báo trước nên bốn mẹ con mới kịp chạy thoát. Thế nhưng quân của Tháp Nhĩ Hốt Đài quyết truy đuổi đến cùng, bốn mẹ con Thiết Mộc Chân chui rúc từ cánh rừng này đến núi đá kia vẫn không sao thoát được sự truy đuổi của bọn chúng. Lúc ấy Thiết Mộc Chân mới 13 tuổi nhưng lâm vào tình trạng nguy, ông đã tỏ ra là người có trí tuệ, biết tính toán lợi hai. Thiết Môc Chân liền một mình một ngựa chạy ra đường khác để thu hút sự truy đuổi, giúp cho mẹ và hai em có cơ hội thoát thân.
Cuối cùng sau mấy ngày đói khát, Thiết Mộc Chân bị bọn Thái Xích Ô bắt sống nhưng không giết ngay mà đưa về để cho toàn thể các thủ lĩnh bộ tộc quyết định xét xử. Lâm vào cảnh sống chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng Thiết Mộc Chân vẫn không cam chịu đầu hàng số phận, ngay đêm ấy đã nhân cơ hội bọn canh gác lơ lỏng liền lẻn trốn ra ngoài sa mạc. Thiết Mộc Chân may mắn được một người thủ hạ già giúp cho ngựa và lương thực cùng nước uống.
Hình như vận mệnh trời đất đã đặt định sẵn cho Thiết Mộc Chân trở thành một vị tướng lãnh tài ba và sau cùng là ngôi Hoàng đế của một đế quốc rộng lớn nên khi chạy đến dãy núi Cô Sơn thì gặp lại gia đình, tất cả cùng đồng ý kiến phải đến bằng được vùng núi Bất Nhi Hãn thì mới có thể tránh được tai mắt của bọn Thái Xích Ô. Nhờ rặng núi này rộng bao la, lại có suối nước trong nên tạm thời gia đình của Thiết Mộc Chân ẩn trú, lấy việc chăn nuôi gia súc làm sinh kế hàng ngày.
Một ngày kia đàn ngựa quý như vàng của Thiết Mộc Chân bất ngờ bị lấy trộm. Ai nấy đều than thở và lo lắng cho tương lai nếu như không có đàn ngựa ấy. Lúc này mới thể hiện rõ lòng quyết tâm và can trường của Thiết Mộc Chân, chàng thanh niên lập tức dùng con ngựa duy nhất còn lại của gia đình, quyết đuổi theo bọn trộm đến cuối cùng trời đất mới thôi. Ông kiên nhẫn theo đuổi, không hề nghỉ ngơi, ăn trên lưng ngựa uống trên lưng ngựa luôn mấy ngày đêm mới bắt kịp bọn đã trộm ngựa.
Thiết Mộc Chân còn đang băn khoăn chưa biết phải làm sao thu hồi được số ngựa của mình thì tình cờ gặp được một thanh niên có vóc dáng hết sức oai phong. Hỏi thăm danh tánh thì mới biết đó chính là anh em họ xa của Thiết Mộc Chân tên là Bác Nhĩ Thuật. Nhờ sự trợ giúp của Bác Nhĩ Thuật, Thiết Mộc Chân đoạt lại được số ngựa nhưng không đủ sức tiêu diệt hết bọn trộm ngựa, trong lòng vẫn chưa thấy thỏa mãn.
Thời gian trôi qua rất nhanh, chẳng bao lâu cả ba anh em Thiết Mộc Chân đã trở thành những dũng sĩ can trường, các môn cưỡi ngựa bắn cung đều tài ba hơn người. Vào khoảng năm 1174, tuy sử sách không ghi lại chính xác nhưng theo khẩu truyền thì năm ấy Nguyệt Luân phu nhân quyết định cuộc hôn nhân cho Thiết Mộc Chân và Bôi Nhi Thiếp, con của một bộ tộc Ôn Cát Lạp Mông Cổ. Có lẽ đây là quyết định thiên về chính trị chứ không hẳn chỉ quan tâm đến hôn nhân bởi nếu thành công thì gia đình của bà sẽ có lực lượng tiếp trợ mỗi khi cần đến. Thiết Mộc Chân đang ôm mối thù giết cha, không hề vui vẻ với quyết định này nhưng vẫn tuân theo bởi vì ông cũng biết cái lợi khi cùng liên kết với bộ tộc Ôn Cát Lạp.
Trước khi Thiết Mộc Chân sinh ra thì vào năm 1115, bộ tộc người Nữ Chân phát khởi thành một quốc gia hùng mạnh, dưới sự lãnh đạo tài ba của Hoàn Nhan Mân, quân Kim đã chiếm một phần lãnh thổ Trung Hoa và xây dựng nên chính quyền nhà Kim, tự xưng là Thái tổ, đóng đô ở Trung Đô. Đến thời điểm Thiết Mộc Chân đã là thanh niên cường tráng với nhiều ý chí báo thù thì nhà Kim đã sang mấy đời, truyền đến Kim Thế tông Hoàn Nhan Ung. Sự thành công của người Nữ Chân thôi thúc Thiết Mộc Chân cũng muốn đạt thành đại nghiệp như vậy nên bắt đầu bằng việc muốn tìm viên Đại Hãn trước kia là Cáp Bất Cần, nhờ ông ta trợ giúp. Một phần vì Cáp Bất Cần cũng nuôi mối thù với người Kim bởi đã có một lần ông ta bị người Kim xúi bẩy bộ tộc Tác Ta ám sát nhưng bất thành. Cả hai đều có mối hận thù chung là bộ tộc Tác Ta, vì vậy Thiết Mộc Chân hy vọng sẽ thành công.
Thế nhưng Cáp Bất Cần đã quá già yếu, không còn tham vọng gì nữa, bất đắc dĩ Thiết Mộc Chân phải chịu lụy đến xin Thoát Lý, lúc ấy đang là quốc vương của một nước nho nhỏ tên là Khắt Liệt. Người Khắc Liệt là bộ tộc Đột Quyết, rất gan dạ và dũng cảm nhưng không thể liên kết lâu dài với họ được. Tiếc rằng Thoát Lý không đồng ý, quên hẳn tình xưa nghĩa cũ của Dã Tốc Cai nên bao nhiêu hoài bão muốn phục hồi lực lượng của bộ tộc mình đều thất bại.
Đang lúc Thiết Mộc Chân lúng túng thì lại có tai họa xảy đến, bộ tộc Miệt Lý Cát bất ngờ tiến đánh và bắt vợ của Thiết Mộc Chân đi mất. Lần này không còn đường nào khác, Thiết Mộc Chân lại phải đến vương quốc Khắc Liệt cầu cứu Thoát Lý. Chẳng ngờ Thoát Lý cũng đang có mối thù với bộ tộc Miệt Lý Cát, nhận lời ngay nhưng yêu cầu phải có người của bộ tộc đứng ra cầm đầu. Do vậy Thiết Mộc Chân cùng với người bạn Bác Nhĩ Thuật đến đề nghị với Trác Mộc Hợp.
Sau khi dàn xếp xong, đại quân của mấy bộ tộc lập tức tiến đến đại bản doanh của bộ tộc Miệt Lý Cát. Bây giờ Thiết Mộc Chân đã hết sức chín chắn chứ không nôn nóng như ngày trước, vận dụng trí tuệ ra dùng mưu kế đánh úp bất ngờ vào nửa đêm khiến cho bộ tộc Miệt Lý Cát trở tay không kịp, bị đánh tan tành, cứu được người vợ Bôi Nhi Thiếp.
Khi dẫn đoàn quân khải hoàn trở về, Thiết Mộc Chân liền cùng với Trác Mộc Hợp kết nghĩa anh em, từ đó thế lực của chàng mỗi ngày càng phát triển. Với hùng tài đại lược của Thiết Mộc Chân, chẳng bao lâu ông đã có dưới tay rất nhiều dũng sĩ được huấn luyện theo bài bản chứ không ô hợp như quân của Trác Mộc Hợp. Tiếc rằng “một nước không có hai vua, một rừng không có hai cọp”, khi Thiết Mộc Chân đã có trong tay lực lượng hùng hậu thì nảy sinh vấn đề ai sẽ là người được bầu lên chức Hãn đây? Vì đã là anh em không tiện đấu đá, cuối cùng Thiết Mộc Chân và Trác Mộc Hợp quyết định chia ra làm hai lực lượng khác nhau, mỗi người chiếm cứ một vùng. Thiết Mộc Chân cởi bỏ được sự ràng buộc rồi bắt đầu tiến hành việc chiêu mộ nhân tài, chỉ hơn ba năm sau đã có trong tay gần 5 vạn người, còn lớn mạnh hơn cả khi thân phụ của ông là Dã Tốc Cai cầm đầu.
Sau mấy năm nữa lực lượng của Thiết Mộc Chân càng phát triển nhưng ông đối xử với quân tướng giống như là anh em, ai ai cũng vừa kính phục vừa mến mộ. Với thanh thế ấy, chẳng bao lâu Thiết Mộc Chân đã đựợc mọi người tin tưởng, bầu lên làm Khả Hãn.
Khác với mọi Khả Hãn của Mông Cổ, ngay khi chính danh, Thiết Mộc Chân đã nghĩ tới việc xây dựng một chính quyền đầy đủ các chức vụ giống như triều Kim của người Nữ Chân. Ông sắp đặt người có tài về hành chính làm quan giống như chức Thừa tướng của Trung Hoa, còn người có dũng khí và can trường đều được phong làm tướng, có quân đội riêng, tất cả đều dưới sự xem xét của Thiết Mộc Chân, nếu ông đi vắng thì có người bạn thân thiết từ thuở nhỏ là Bác Nhĩ Thuật thay thế.
Thế nhưng Thiết Mộc Chân không ngờ tai họa lại đến từ những người thân của mình. Trong một cuộc tranh chấp đồng cỏ, người của ông lỡ tay giết chết em của Trác Mộc Hợp nên ông ta hết sức tức giận, âm thầm liên kết với hơn 10 bộ tộc, trong đó có cả bộ tộc Tác Ta, tiến đánh Thiết Mộc Chân.
Đến đây mới nhận thấy tài năng chinh chiến của Thiết Mộc Chân hơn người. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng ông vẫn mau chóng chia quân ra làm nhiều cánh, mỗi cánh chống với mỗi bộ tộc. Vì lực lượng liên quân quá hùng hậu, Thiết Mộc Chân đành phải rút lui nhiều lần để bảo toàn lực lượng. Thật ra ông đã có ý riêng bởi vì Trác Mộc Hợp quá nôn nóng đuổi theo nên bỏ quên đi việc tiếp vận lương thảo, mấy ngày sau quân binh đều đói khát mệt mỏi.
Nhìn ra được điểm yếu của đối phương, Thiết Mộc Chân bất ngờ tập họp quân sĩ tấn công, đánh tan đoàn quân ô hợp của Trác Mộc Hợp, bắt sống hơn 3000 tù binh.
Đến đây rẽ qua một khúc quanh mới, khi bàn tính với số tù binh bắt được, Bác Nhĩ Thuật nghiêm mặt nói:
– Giữ bọn chúng thì tốn kém mà chiêu hàng thì không thể chắc chắn chúng sẽ phản bội lúc nào. Thêm vào đó, nếu muốn lập được đại nghiệp thì không nên nghĩ tới nhân nghĩa, Đại Hãn nên giết sạch bọn chúng để thị uy. Sau này tất không còn tên nào dám chống đối nữa. Đó là kế sách “Đả thảo kinh xà” của người Trung Hoa làm cho đối phương phải mất hết tinh thần chiến đấu.
Thiết Mộc Chân nghe theo, ngày hôm sau ban bố lệnh: “Bất cứ ai dám chống lại Khả Hãn Thiết Mộc Chân đều bị xử tử không tha”. Sau đó toàn bộ số tù binh bị giết sạch. Quả nhiên sau đó lập tức có hai bộ tộc nhỏ đến xin qui hàng, càng làm cho thanh thế của Thiết Mộc Chân lừng lẫy. Trung thành với chiến lược này, không ít lần đoàn quân Mông Cổ trước khi tiến đánh một thành nào đều tuyên bố nếu đầu hàng thì sẽ tha mạng, bằng chống cự sẽ giết không còn một con gà con chó. Suốt trong thời gian chinh chiến khắp Đông, Tây, quân đội Mông Cổ đều thi hành mệnh lệnh này một cách nghiêm khắc khiến ai nghe thấy cũng phải rùng mình kinh sợ. Tuy việc này quá tàn nhẫn nhưng xét lại đúng là đòn “tâm lý chiến” hết sức lợi hại.
Thời cơ đưa đến rất thuận lợi, khi Chương tông Hoàn Nhan Cảnh của triều Kim lên ngôi thì gặp rất nhiều khó khăn do việc người Tống vẫn kiên trì chống cự. Đang phải lo về mặt phía nam thì bộ tộc Tác Ta lại nhân cơ hội quấy phá nên Chương tông bèn sai Thừa tướng Hoàn Nhan Tương đến liên kết cùng với vương quốc Khắc Liệt và lực lượng của Thiết Mộc Chân. Dĩ nhiên Thiết Mộc Chân mừng rỡ bằng lòng ngay vì đây chính là lần đầu tiên có cơ hội báo thù rửa hận cho cha.
Ba cánh quân của Khắc Liệt, triều Kim và của Thiết Mộc Chân đồng loạt tấn công dữ dội. Bộ tộc Tác Ta hết sức thiện chiến nhưng vẫn không thể đối đầu với lực lượng hùng hậu như vậy, viên thủ lĩnh bị bắt giết tại trận, bao nhiêu tài vật đều chia cho ba cánh quân, chỉ còn lại một số ít chạy thoát. Kể từ đó thế lực của bộ tộc Tác Ta không còn đáng kể nữa.
Nhờ vào chiến thắng này, Thoát Lý chính thức được triều Kim công nhận là vua của vương quốc Khắc Liệt và Thiết Mộc Chân được phong một chức quan võ trong triều đình nhà Kim. Thừa thắng, trên đường trở về Thiết Mộc Chân tiêu diệt thêm hàng chục bộ tộc nữa. Một bộ tộc nhỏ tên là Trát Thích Xích Nhi nghe tin Thiết Mộc Chân đang tiến quân thì liền ra qui thuận, được ông vui vẻ chấp nhận, dùng dũng sĩ Mộc Lê Hoa của bộ tộc ấy làm quan thân cận cho mình. Về sau này Mộc Lê Hoa cũng đạt được nhiều chiến công hiển hách, là một trong những tướng soái trụ cột của Mông Cổ.
Mấy năm sau vương quốc Khắc Liệt có nội loạn, Thoát Lý phải chạy sang cầu cứu Thiết Mộc Chân. Từ đó hai thế lực này liên kết với nhau càng làm cho sức mạnh thêm hùng hậu. Tiếc rằng Thoát Lý không giữ được lòng đố kỵ, khi cùng với Thiết Mộc Chân đi chinh phạt bộ tộc Nãi Man, lúc về đã lặng lẽ chiếm lấy số lớn của cải rồi bỏ đi đường khác. Chẳng ngờ tàn quân Nãi Man tập họp lại được, không dám đánh với Thiết Mộc Chân mà đuổi theo Thoát Lý, rốt cuộc ông ta quá tham thành hại, tơi tả chạy về chẳng còn tài vật nào trong tay.
Nhân đà thắng lợi liên tiếp, Thiết Mộc Chân tính sổ với bộ tộc Thái Xích Ô và giết chết thủ lĩnh của họ, tiêu diệt hơn một nửa bộ tộc Thái Xích Ô. Chưa kịp nghỉ ngơi thì Thiết Mộc Chân lại phải đối phó với âm mưu của Trác Mộc Hợp. Hắn chưa thể nào quên được mối thù ngày trước, tìm đến tàn quân của các bộ tộc, liên kết lại rồi dẫn đại quân tấn công.
Lần này Thiết Mộc Chân phải liên kết với Thoát Lý bởi Trác Mộc Hợp có đến hơn 5 vạn quân mã. Trận chiến nổ ra hết sức hung hãn bởi đôi bên đều dựa vào kỵ binh, lại biết nhau quá rõ, vì vậy giằng dai mãi đến chiều tối quân của Thiết Mộc Chân mới thủ thắng, đáng lẽ trời đã tối thì nên cho quân nghỉ ngơi nhưng Thiết Mộc Chân vẫn trung thành với lối đánh của mình, tức là đã đánh thì phải đánh đến khi tận tuyệt mới thôi. Thế nhưng cũng chính vì đêm tối mà Thiết Mộc Chân không thể thấy rõ đường lối, bị trúng tên suýt mất mạng.
Mũi tên này là do một “thần tiễn” dưới trướng Trác Mộc Hợp bắn ra, dũng sĩ đó tên là Hạt A Tịch. Sau khi trời sáng chính Hạt A Tịch đến đầu hàng quân của Thiết Mộc Chân. Ông rất khen ngợi tài bắn cung của Hạt A Tịch, lấy lời phủ dụ và đổi tên thành Triết Biệt, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “Thần tiễn”. Sau này Triết Biệt lại là một viên tướng đắc lực nhất của Thiết Mộc Chân, đã từng chinh chiến cả Trung Hoa, Trung Âu và Trung Á, nhưng lại chết trước khi dẫn quân tiến đánh một vương quốc nhỏ tên là Hoa Thích Tử Mô. Cái chết của Triết Biệt là đòn mạnh đánh vào sự kiêu hãnh của Thành Cát Tư Hãn. Trước đó một danh tướng kiêm mưu sĩ của Thành Cát Tư Hãn là Mộc Lê Hoa cũng tử trận khi tiến đánh quân kháng chiến của con trai Mô Hãn Mặc Đức ở Y Lạp Khắc. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng về sau Mộc Lê Hoa không đồng chính kiến với Thành Cát Tư Hãn và bị ông ta giết chết.
Bất cứ vì nguyên nhân nào, cái chết của Mộc Lê Hoa, Triết Biệt và người con trưởng của Thành Cát Tư Hãn là Thuật Xích cũng đã khiến cho vị tướng bách chiến bách thắng này suy sụp tinh thần, cộng với sức lực suy yếu sau nhiều năm sương gió nơi chiến trường đã kết thúc cuộc đời vị Hoàng đế mà toàn thế giới ai nghe đến tên cũng phải kinh sợ.
Vào năm 1203, một lần nữa người anh em kết nghĩa Trác Mộc Hợp lại xúi giục Thoát Lý cùng mình hợp quân tấn công Thiết Mộc Chân. Tuy lần này ông phải rất vất vả đối phó nhưng sau cùng với tài cầm quân quyền biến và có nhiều danh tướng tài dưới tay, vẫn đánh bại được liên quân của họ, giết chết Thoát Lý rồi thừa thắng tiêu diệt luôn vương quốc Khắc Liệt. Còn Trác Mộc Hợp thì chạy đến bộ tộc Nãi Man nương nhờ.
Khi Thoát Lý chết rồi, người bạn của ông ta là Trác Hốt Nan, một đại tướng của bộ tộc Nãi Man quyết định hưng binh báo thù. Biết rằng quân của Thiết Mộc Chân rất hùng hậu, Trác Hốt Nan liền đến vương quốc Uông Cổ xin hợp quân. Tuy vương quốc này ở sát với biên cương Trung Hoa nhưng nguồn gốc vẫn là người Mông Cổ, nghe đề nghị liền trở mặt bắt trói Trác Hốt Nan giải giao cho Thiết Mộc Chân xét xử.
Nhân cớ ấy Thiết Mộc Chân liền quyết định ra quân tiêu diệt luôn bộ tộc Nãi Man, sai Triết Biệt và Hốt Tất Liệt làm tướng tiên phong. Đóng trại xong, Mộc Hoa Lê dâng kế “hư trương thanh thế” mỗi quân binh phụ trách đốt mấy đống lửa khiến quân tướng Nãi Man nhìn thấy đều tỏ vẻ khiếp sợ. Không những thế, cứ đêm tới là quân của Thiết Mộc Chân nổi lửa sáng rực, người ngựa nhốn nháo giống như sắp tiến đánh, sau đó chợt im lặng không còn động tĩnh gì nữa.
Đêm nào cũng thế khiến quân tướng Nãi Man canh phòng rất mệt mỏi. Đúng lúc quân Nãi Man bất ngờ nhất, quân Mông Cổ đột ngột ào ào tiến đánh, đến chiều tối đã dồn được toàn quân Nãi Man rút lên núi cố thủ. Khả Hãn của Nãi Man là Thái Dương cho rằng thể nào quân Mông Cổ cũng phải nghỉ ngơi đến sáng mới tiếp tục đánh nên chẳng đề phòng chút nào. Đột ngột giữa đêm khuya quân Mông Cổ âm thầm theo từng góc núi tiến lên, cứ vậy mà chém giết chứ không reo hò như mọi khi.
Trận này Thiết Mộc Chân dùng kỳ binh rất thần diệu nên hoàn toàn đại thắng, bắt sống được cả gia quyến Thái Dương đem chém đầu. Thế là hầu hết các bộ tộc ít người vùng phía bắc đã bị sát nhập vào lực lượng của Thiết Mộc Chân, còn lại một ít lui vào rừng núi ẩn trốn, không đáng kể. Đó là vào năm 1206.
Sau đó Trác Mộc Hợp bị các tùy tướng bắt giao nộp cho Thiết Mộc Chân. Ông bèn tha chết cho người anh em đã kết nghĩa ngày nào, chém đầu bằng hết bọn phản tướng. Trác Mộc Hợp vô cùng hối hận không muốn sống nữa nên Thiết Môc Chân ban cho ông ta chết toàn thây. Khi đã không còn đối thủ nữa, vào tháng 4 năm 1206, Thiết Mộc Chân liền theo chê độ quân chủ của Trung Hoa, ban bố chiếu lệnh rồi lên ngôi tự xưng là Nguyên Thái tổ, hiệu danh Thành Cát Tư Hãn, tức là “Vị Hoàng đế lớn nhất thiên hạ”. Thành Cát Tư Hãn cho đóng đô ở dưới chân núi Hòa Lâm và cũng từ đấy cái tên Thiết Mộc Chân không bao giờ được người ta nhắc tới nữa.
Đại nghiệp đã được dựng lên nhưng đối với Thành Cát Tư Hãn thì đời con người chán ngán nhất là phải ngồi chơi, không được ra chiến trận. Vì vậy sau khi bàn bạc cùng quần thần, ông quyết định tiến đánh Tây Hạ, mở đầu cho tham vọng chiếm toàn thế giới.
Khi ấy Tây Hạ đã là một cường quốc với nhiều thành lũy kiên cố, tướng sĩ cũng anh hùng nhưng người đứng đầu là Bất Hãn lại không có tài năng gì, chỉ lo ăn chơi khoái lạc. Khi nghe tin Thành Cát Tư Hãn kéo quân tiến đánh, quốc vương Bất Hãn đã định đầu hàng để giữ địa vị nhưng quần thần nhất quyết tâu xin lấy hơi thở cuối cùng ra bảo vệ non sông, bất đắc dĩ phải bằng lòng mà hết sức lo lắng.
Nhờ vào sự quyết tâm, thành Trung Hưng của kinh đô Tây Hạ lại được xây dựng vô cùng kiên cố nên quân dân Tây Hạ chống chọi với đoàn kỵ binh khủng khiếp của nhà Nguyên được mấy tháng. Sau cùng Thành Cát Tư Hãn phải dùng đến mưu trí, sai quân phá một đoạn đê điều trên sông Hoàng Hà. Thế nhưng chính nước ngập lại làm cho đoàn kỵ binh Mông Cổ không thể tiến được, đành phải rút lui. Tuy không chiếm được kinh đô đối phương nhưng trận này Thành Cát Tư Hãn cũng khiến cho đất nước Tây Hạ lâm vào cảnh suy yếu, nhân dân đói khổ oán thán khôn xiết. Đây là lần chinh phạt Tây Hạ thứ nhất.
Quốc vương Bất Hãn phải nghe những lời oán thán ấy không hề tức giận người Mông Cổ mà lại đổ hết căn thù lên đầu người Kim. Hóa ra Tây Hạ và Kim đã có ký kết hòa ước, bất cứ bên nào lâm nguy thì bên kia phải đưa quân tới giúp. Thế mà quân Mông Cổ bao vây thành Trung Hưng hơn một tháng vẫn không hề thấy bóng dáng của quân đội triều Kim đâu. Từ sự tức giận này, Bất Hãn sai sứ giả sang triều Nguyên thuyết phục Thành Cát Tư Hãn đánh nước Kim, Tây Hạ sẽ thần phục cho quân tiếp trợ.
Quả là cơ hội rất tốt cho Thành Cát Tư Hãn, lại càng tốt hơn ngay khi ấy có sứ giả nước Kim đến báo tin triều đình đã có Hoàng đế mới. Nguyên vào năm 1209, Kim Chương tông Hoàn Nhan Cảnh qua đời, nối ngôi là Hoàn Nhan Vĩnh Tế. Vĩnh Tế không xưng Đế như các đời khác mà xưng hiệu là Vệ Thiệu vương, là một người bất tài vô tướng, không được quân tướng tin tưởng nhưng lại hết sức kiêu ngạo, ngông cuồng vô lối. Thành Cát Tư Hãn chưa kịp động binh thì Vệ Thiệu vương Vĩnh Tế đã biết tin, lập tức sai quân đánh phủ đầu Mông Cổ. Đại quân của triều Kim do hai Đại tướng là Thông Cát Thiên và Gia Nỗ Hoàn chỉ huy, dẫn đến 3 vạn quân vượt qua biên cương Mông, Kim.
Thành Cát Tư Hãn hết sức tức giận, đưa ra chiến thuật tốc chiến tốc thắng, sai ba anh em Thuật Xích dẫn quân đánh ngay khi quân Kim chưa kịp hạ trại. Kết quả là quân Kim đại bại, chết quá nửa, phải rút lui rồi dựng chiến lũy ở Ô Sa cố thủ. Thành Cát Tư Hãn thừa thế thắng trận, đích thân dẫn đại quân tiến đánh thành Tây Kinh của nước Kim. Tuy thành này còn kiên cố hơn thành Trung Hưng của Tây Hạ nhưng không quyết tâm chống giữ nên chỉ mấy ngày sau đã thất thủ.
Quân đội triều Kim phải rút về ải Thúy Bình, Thành Cát Tư Hãn cũng không buông tha, kéo đại quân đến đó bày trận. Nhờ vào sự đầu hàng của một tướng Kim, quân Mông Cổ chiếm được cửa ải này rất dễ dàng. Với chiến thuật đánh tới cùng, Thành Cát Tư Hãn không để quân tướng nghỉ ngơi, quyết định chia quân ra làm hai đạo, một tiến đánh Đông Đô, một do mình chỉ huy kéo rốc đến Trung Đô, là kinh thành của triều Kim uy hiếp. Vệ vương Vĩnh Tế nghe tin địch quân bao vây thành không hề biến sắc mặt, sai Đại tướng Hồ Sa Hổ chỉ huy chống giữ, còn mình thì tiếp tục ăn chơi sa đọa.
Quân triều Kim chống đỡ cũng rất kiên cường nhưng khi nghe tin Đông Đô đã bị Mông Cổ chiếm lập tức biến thành hoảng loạn, ai nấy đều oán giận Vĩnh Tế. Đại tướng Hồ Sa Hổ liền lập mưu giết chết Vĩnh Tế, tôn phò Hoàng Nhan Tuân lên nối ngôi Hoàng đế nước Kim, xưng hiệu là Kim Tuyên tông. Vị Hoàng đế này còn trẻ tuổi non gan nên quyết định hiến dâng một số tài vật cùng với Công chúa yêu thương nhất cho Thành Cát Tư Hãn để cầu hòa.
Khi ấy Thành Cát Tư Hãn vẫn canh cánh điều nhục nhã là không hạ được thành Trung Hưng, lập tức chấp thuận rút quân tính đến việc đánh Tây Hạ cho bõ giận. Khi đại quân Mông Cổ rút lui rồi, Kim Tuyên tông Hoàng Nhan Tuân vẫn chưa hết sợ hãi, vội vàng cho thiên đô về Biện Kinh, lấy cớ Trung Đô quá gần với Mông Cổ khó đề phòng. Chẳng ngờ việc này làm cho Thành Cát Tư Hãn nổi cơn lôi đình, sửa soạn chia quân làm hai đạo cùng lúc tiến đánh Trung Đô lẫn Biện Kinh.
Đoàn quân đánh Trung Đô do danh tướng Mộc Lê Hoa chỉ huy chỉ trong một trận đã chiếm được thành, một phần là do Thái tử nước Kim quá tệ hại trong việc chống giữ. Mộc Lê Hoa còn bắt sống được Gia Luật Sở Tài, một mưu sĩ kiêm chính trị gia nổi tiếng của Tây Hạ. Nguyên Gia Luật Sở Tài là hoàng thân của nước Liêu nhưng khi nhà Liêu không còn nữa thì ông phục vụ dưới triều Kim, rất được Hoàng đế triều Kim tin tưởng. Tuy dòng dõi là người phương bắc nhưng Gia Luật Sở Tài chẳng khác gì người Trung Hoa, rất thông thạo Thư, Thi cùng với thiên văn địa lý, binh pháp chính trị, không môn học thuật nào không biết. Khi bị bắt, Gia Luật Sở Tài liền xin theo Thành Cát Tư Hãn làm mưu sĩ.
Thế nhưng đạo quân của Thành Cát Tư Hãn lại không sao vượt nổi Đồng Quan để đến Biện Kinh bởi thành lũy quá chắc chắn và quân Kim bị dồn vào tử địa chống trả hết sức kiên cường. Thành Cát Tư Hãn rất khâm phục tài năng của Mộc Lê Hoa, phong cho ông tước Vương để chỉ huy ba quân tiến đánh phía nam nước Kim. Mộc Lê Hoa quả là tướng tài, chỉ trong vòng mấy tháng đã hạ được hơn 30 thành trì, làm cho quân Kim nghe đến tên đã kinh hồn bạt vía.
Khi đã giao trách nhiệm cho Mộc Lê Hoa, Thành Cát Tư Hãn tiến quân về phía tây. Khi ấy con trai của Thái Dương xứ Nãi Man là Khuất Xuất Luật chạy thoát đến vương quốc Hoa Thích Tử Mô. Hắn ngon ngọt thuyết phục được quốc vương xứ ấy là Mô Hãn Mặc Đức tấn công Tây Liêu mở rộng biên cương. Khi tiêu diệt xong Tây Liêu rồi, Mô Hãn Mặc Đức phong cho Khuất Xuất Luật làm Quốc vương. Thành Cát Tư Hãn nghe tin này lập tức phái tướng Triết Biệt dẫn một vạn binh mã tiến đánh Tây Liêu, chưa đầy một tháng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, lại giết chết luôn Khuất Xuất Luật.
Không bao giờ ngồi yên một chỗ, tiếp đến Thành Cát Tư Hãn dẫn quân trừng trị Hoa Thích Tử Mô. Lúc đó là năm 1219 tức ông đã hơn 50 tuổi nhưng vẫn còn mạnh khỏe hơn người. Thế nhưng theo đề nghị trước kia của Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn sai sứ giả đến đề nghị tăng viện thêm quân thì Tây Hạ từ chối, ông càng thêm tức giận nhưng đành phải gác lại vì đang đi đánh Hoa Thích Tử Mô.
Quân binh Hoa Thích Tử Mô cũng dũng cảm kiên cường nên nhiều lần công thành đều thất bại. Thành Cát Tư Hãn liền áp dụng chiến thuật mà mình đã suy nghĩ từ lâu, đó là không đánh thẳng vào mục tiêu khó chịu. Ông sai hai con là Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài ởlại tiếp tục công thành đồng thời chia ra ba đạo quân độc lập, mỗi đạo do một viên tướng chỉ huy tiến đánh một thành chung quanh kinh đô của Hoa Thích Tử Mô. Do vậy kinh thành không còn tiếp tế, cả dân lẫn quân đều đại loạn, cuối cùng đành phải mở cửa đầu hàng. Sau này Thành Cát Tư Hãn rất thường áp dụng chiến thuật này nếu có thành nào quá khó tấn công, tiêu diệt toàn bộ các thành trước sau và chung quanh tất sẽ đưa đối phương vào chỗ cô lập, chẳng bao lâu sẽ tự đầu hàng hay là đánh chiếm cũng dễ dàng hơn.
Tuy đã chiếm hầu hết các thành của vương quốc Hoa Thích Tử Mô nhưng quốc vương Mô Hãn Mặc Đức vẫn chạy thoát, Thành Cát Tư Hãn quyết không bỏ cuộc, cho quân truy sát tận tuyệt. Cuối cùng Mô Hãn Mặc Đức phải xuống thuyền chạy ra một hòn đảo ngoài Lý Hải rồi chết ở đó. Quân Mông Cổ rất thiện nghệ kỵ binh nhưng về chiến thuyền hoàn toàn không dự bị, đành phải nhìn Mô Hãn Mặc Đức trốn thoát.
Thừa thế đang tiến quân không ai địch nổi, Thành Cát Tư Hãn còn tiêu diệt luôn cả Tây Vực rồi toan tính tiến sang biên giới với Ấn Độ vì cho rằng đó là đất nước giàu có bậc nhất, nhiều vàng bạc tơ lụa cùng phụ nữ xinh đẹp. May nhờ có Gia Luật Sở Tài đi theo quân ngỏ lời ngăn cản, Thành Cát Tư Hãn mới chịu kéo quân về nước.
Thấy đất đai đã quá rộng lớn, Thành Cát Tư Hãn liền giao nước Hoa Thích Tử Mô cho Sát Hợp Đài; phần đất phía đông Mông Cổ giao cho Oa Khoát Đài; vùng cao nguyên thì giao cho Đà Lôi. Sau này chính Đà Lôi là người kế vị tạm thời khi Thành Cát Tư Hãn mất. Riêng người con trưởng là Thuật Xích nhiều lần chống đối không theo quân lệnh của phụ hoàng nên Thành Cát giáng xuống làm lính, sau đó chết trong một trận công thành của địch. Thành Cát Tư Hãn hết sức thương xót, cho mai táng theo thể thức hoàng gia Mông Cổ nhưng không vì thế mà để sai quân lệnh bao giờ.
Bấy giờ Thành Cát Tư Hãn đã 71 tuổi, cảm thấy rất mệt mỏi, sức lực suy yếu dần nên tạm thời trở về kinh đô Hắc Lâm triều Nguyên tịnh dưỡng. Thế nhưng chỉ vài năm sau, ông lại xuống lệnh phải tiêu diệt Tây Hạ bằng được. Có lẽ trước khi chết ông muốn hoàn thành tâm nguyện của mình chăng? Lúc ấy là thời điểm Tây Hạ đang xuống dốc nên không thể chống nổi với đoàn quân dũng mãnh của Thành Cát Tư Hãn, chẳng bao lâu vó ngựa Mông Cổ đã đến chân thành Linh châu và dễ dàng dánh chiếm. Tiếp tục cuộc chinh phục, đoàn quân Mông Cổ một lần nữa vượt sông tấn công kinh thành Trung Hưng, đồng thời chia quân ra uy hiếp Nam Kinh.
Quân Mông Cổ tiến như chẻ tre, đến đâu chiến thắng đến đó nhưng riêng Thành Cát Tư Hãn lại cảm thấy như bệnh cũ tái phát, phải để Đà Lôi phụ trách tấn công Trung Hưng. Tuy thành này chưa bị chiếm nhưng vua tôi Tây Hạ đã quá kinh sợ, liền sai sứ giả đến cầu hòa. Đang lúc mỏi mệt, Thành Cát Tư Hãn lập tức chấp thuận, rút quân về tới Lục Bàn sơn ở Linh châu thì mất. Tuy nhiên Thành Cát Tư Hãn vẫn còn kịp trăn chối cho Đà Lôi tạm thời phụ trách ngôi vị Hoàng đế triều Nguyên. Đó là vào năm 1227. Trước khi nhắm mắt, Thánh Cát Tư Hãn còn cố gượng sức nói với Đà Lôi phải tiêu diệt Tây Hạ bằng mọi giá thì chết mới yên lòng đồng thời cũng ước mong tiêu diệt được Nam Tống, hoàn thành giấc mộng “đế vương trên tất cả các đế vương” của mình.
Đà Lôi theo di mệnh nắm quyền giám quốc nhưng không thể giao lại cho ai bởi nội bộ Mông Cổ xảy ra rối loạn. Mãi cho đến năm 1229 thì Đà Lôi mới giao lại cho người con thứ ba là Bột Nhi Chỉ Cân Oa Khoát Đài, xưng hiệu là Nguyên Thái tông.
Đế quốc Mông Cổ tưởng như rất vững chắc, thế mà sau khi Thành Cát Tư Hãn chết lại nổ ra nhiều cuộc tranh giành địa vị. Oa Khoát Đài và Mông Kha tuân theo lời trăn trối, chia đại quân ra làm 3 mặt đánh chiếm Nam Tống. Trong một trận đánh bị trúng tên tử trận. Mông Kha lên nối ngôi xưng hiệu là Nguyên Hiến tông nhưng vẫn trung thành với lời trăn trối của Thành Cát Tư Hãn, tự thân đem quân tấn công Hợp châu, tức là đi đường vòng tấn công mặt sau Nam Tống.
Quân Mông Cổ chia làm 4 lộ: một tấn công Ngạc châu và Kinh sơn; một tấn công Đàm châu; một tiến đánh Hải châu; còn lại do chính Mông Kha chỉ huy tấn công Tứ Xuyên. Cánh quân do Mông Kha chỉ huy tiến như chẻ tre, chưa tới một năm đã chinh phục được một vùng đất rộng lớn là Xuyên Tây, Xuyên Bắc và Xuyên Trung. Thế nhưng khi đến Hợp châu thì phải dừng chân. Do vì thành Hợp châu nằm ở dưới chân núi Điếu Ngư ba mặt đều là sông nước rất bất lợi cho kỵ binh Mông Cổ. Tướng Vương Kiên dựa vào địa thế hiểm trở này mà chống cự khiến Mông Kha nhiều lần tấn công mà không thể hạ nổi.
Thấy kéo dài đã lâu, quân tướng Mông Cổ không hợp thủy thổ bệnh tật chết rất nhiều, các tướng dưới quyền khuyên Mông Kha tạm rút binh. Nhưng Mông Kha quyết hoàn thành tâm nguyện cho Thành Cát Tư Hãn, một đêm vào năm 1259 sai Đại tướng Uông Đức Thần tấn công quyết liệt. Tiếc rằng quân dân Hợp châu cũng anh dũng không kém nên vẫn giữ vững được thành. Uông Đức Thành sợ bị tội với Mông Kha, ngày hôm sau đổi chiến thuật đến chân thành thuyết phục đối phương đầu hàng, bất ngờ bị đá trên thành bắn xuống chết tại chỗ.
Mông Kha hết sức tức giận, tự mình cầm quân tấn công nhưng rốt cuộc cũng bị trúng tên mà chết. Khi ấy Hốt Tất Liệt đang đóng quân ở Ngạc châu, cấp tốc đem binh về Khai Bình chiếm lấy ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Nguyên Thế tổ. Dưới thời Hốt Tất Liệt quân Mông Cổ mới hoàn toàn cai trị Trung nguyên, hoàn thành tham vọng của Thành Cát Tư Hãn.
Thành Cát Tư Hãn được nhắc đến như là một vị tướng soái tài ba chứ ít ai nghĩ ông là Hoàng đế của một triều đại kéo dài từ năm 1206 cho đến 1368 mới diệt vong, rơi vào tay Chu Nguyên Chương. Cả cuộc đời ông toàn là chinh chiến, rày đây mai đó, tưởng như chỉ biết có chiến trận mà thôi. Thật sự khi đã lên ngôi Hoàng đế rồi, Thành Cát Tư Hãn cũng có suy nghĩ về tâm linh nên đã có lần mời một vị Chân sư là Khâu Xứ Cơ đến doanh trại của mình để nghe giảng đạo. Khâu Xứ Cơ là tên thật, đạo hiệu là Trường Xuân Chân nhân hay Trường Xuân tử, theo giáo phái Toàn Chân ở Trung Hoa.
Đó là vào năm 1219, khi đang ở Trung Đô, Thành Cát Tư Hãn đặc biệt sai sứ giả đến mời Khâu Xứ Cơ đến giảng đạo cho mình. Trước đó Kim Thế tông Hoàn Nhan Ung cũng đã mấy lần mời ông đến Trung Đô giảng đạo cho triều thần. Việc Thành Cát Tư Hãn triệu mời Trường Xuân Chân nhân gây nhiều thắc mắc trong giới nghiên cứu bởi vì hoàn toàn không biết vị Hàng đế nổi tiếng tàn ác này có ý định ra sao.
Bí mật ấy cùng với cái chết bất ngờ của Thành Cát Tư Hãn vẫn là nghi vấn chưa ai có thể tìm ra. Sau này người ta nghiên cứu có đến mấy giả thuyết về cái chết của ông mặc dù trong “Nguyên sử” do Thái tổ Chu Nguyên Chương ban lệnh soạn thảo viết rất rõ ràng: “Ngày Nhâm Ngọ, tháng 7 mùa thu (ông) bệnh nặng. Ngày Kỷ Sửu băng tại hành cung Tát Lý châu.”
Theo các thuyết này thì Thành Cát Tư Hãn bị trúng tên tẩm thuốc độc của người Tây Hạ nhưng vẫn gắng gượng cứu chữa, sau đó tái phát mới chết. Cũng với giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị trúng độc nhưng không phải do tên địch thủ mà là bị các Vương phi đầu độc. Điều này tương đối có chứng cứ bởi vì mỗi khi Thành Cát Tư Hãn bắt được thê thiếp của các quốc vương hay thủ lĩnh bộ tộc, bất cứ ai có nhan sắc đều ép buộc làm Phi tần của mình. Họ có thể có cơ hội đầu độc được. Thế nhưng lại có giả thuyết khác ly kỳ hơn, đó là mỗi lần ân ái cùng với các Phi tần tù binh, Thành Cát Tư Hãn chắc chắn đã đề phòng cẩn mật, không thể nào họ giấu được thuốc độc hay võ khí. Vì vậy giả thuyết nêu lên là một Phi tần của người Tây Hạ đã dùng răng làm Thành Cát Tư Hãn bị thương nặng nơi hạ bộ, sau đó không cầm máu được mà chết. Tựu trung các giả thuyết Thành Cát Tư Hãn bị Phi tần tù binh sát hại đều dựa vào con số các phi tần mà ông ta bắt được, buộc phải làm vợ của mình. Theo ghi chép thì khi Thành Cát Tư Hãn chết, số Phi tần bị tuẫn táng theo lên tới số 40, có lẽ đó là cách ông ta trả thù người đã hạ độc mặc dù không chính xác là ai, tất cả Phi tần bị nghi ngờ đều phải chết.
Trong chính sử của người Mông Cổ thì lại ghi rằng Thành Cát Tư Hãn ngã ngựa bị thương, cộng với bệnh tật do sương gió thành bệnh mà chết. Còn một số giả thuyết ly kỳ hơn như bị sét đánh, bị các vương phi đâm chết, v.v... Tất cả đều là giả thuyết bởi ngay hiện tại người ta còn chưa thể tìm ra lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn ở đâu. Nếu như tìm được, khai quật rồi khám nghiệm xương cốt bằng những khí cụ khoa học tối tân ngày nay, chắc chắn sẽ chứng minh được cái chết bất ngờ của “Vị vua của toàn thể thế giới”.