12 Tướng Soái Trung Hoa

Lượt đọc: 124 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12 TỪ ĐẠT - CÔNG THẦN DANH TƯỚNG

❊ ❊ ❊

Với sự cai trị hà khắc tàn nhẫn của triều Nguyên, toàn thể người dân Trung Hoa đều phẫn uất. Sở dĩ triều Nguyên tồn tại được khá lâu, từ năm 1206 cho đến 1341 mới diệt vong là vì qua một thời gian hủ bại của các triều đình nhà Tống, hầu như không có nhân tài nào xuất hiện lãnh đạo. Nếu có chăng, thí dụ như Nhạc Phi thì cũng đã bị bọn gian thần diệt trừ bằng hết rồi. Thế nhưng bất cứ hoàn cảnh nào, dồn người vào con đường quá phẫn uất thì trước sau cũng nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống đối. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên mang màu sắc tôn giáo, bắt nguồn từ Minh giáo mà cầm đầu là vị Tiểu Minh vương. Thời thế đã đổi thay, lập tức các cuộc khởi nghĩa nông dân khác cũng lớn mạnh, đáng kể nhất là lực lượng của quân quàng khăn đỏ (Hồng cân) và của Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông ở Dĩnh châu; của Từ Huy Thọ ở Ký châu rồi đến Lý Nhi, Bành Đại, Triệu Quân ở Từ châu; Quách Tử Hưng, Tôn Đức Nhai ở Hào châu; sau này lại có lực lượng của Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành vô cùng hùng mạnh.

Với những cuộc nổi dậy liên tiếp ấy, quân đội triều Nguyên không thể nào đánh dẹp được hết, dần dần yếu thế và để mặc cho các anh hùng Trung Hoa tung hoành chiến địa. Lúc ấy nổi lên một danh tướng tên là Chu Nguyên Chương. Đầu tiên Chu Nguyên Chương gia nhập hàng ngũ của Quách Tử Nhưng sau nhiều năm thì xảy ra bất đồng chính kiến. Do vậy Chu Nguyên Chương tách ra thành một lực lượng riêng, đóng quân ở Hào châu.

Nhờ vào thời niên thiếu cực khổ gian nan nhưng Chu Nguyên Chương đối đãi rất nghĩa khí nên khi nắm quân khởi nghĩa rồi, có rất nhiều bạn bè ở Hào châu đến xin gia nhập, sau này đều trở thành những công thần danh tướng của họ Chu. Dưới tay Chu Nguyên Chương có những người như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Quách Anh, Ngô Lăng, v.v...

Họ Chu là người có hoài cao xa, nhận thấy không những cần đến quân tướng mà còn rất cần những Nho gia học sĩ, mưu sĩ làm nòng cốt cho mình nên mời hai anh em họ Phùng là Phùng Quốc Dụng và Phùng Quốc Thắng ra phò giúp. Nghe lời hai anh em họ Phùng, Chu Nguyên Chương tiến chiếm Kim Lăng để làm căn cứ địa. Sau này họ Chu còn được một danh sĩ nhiều tài năng là Lý Thiện Trường đến xin cùng giúp sức, thanh thế bắt đầu lớn mạnh.

Trong số những bạn bè đất Bái đi theo Chu Nguyên Chương ngay từ khi khởi nghĩa, đáng kể nhất là Từ Đạt. Ông không những là viên tướng soái bách chiến bách thắng, nhiều mưu lược mà còn là nguyên lão công thần của triều nhà Minh sau này.

Từ Đạt sinh năm 1332, tên tự là Thiên Đức, sinh trưởng ở Hào châu, xuất thân gia đình là nông dân thuộc tầng lớp thấp kém giống như Chu Nguyên Chương vậy. Ông là người có thân hình cao lớn, khỏe mạnh, tính tình rất kiên cường dũng cảm, được các trai tráng trong thôn kính nể. Ngay từ khi chưa gia nhập hàng ngũ của họ Chu, Từ Đạt đã nổi danh là người nghĩa dũng, tự tập họp trai tráng ở thôn Thái Bình thành một đội quân. Lúc Chu Nguyên Chương lấy tình đồng hương chiêu mộ quân sĩ thì Từ Đạt lập tức cùng với một số bạn bè đi theo ngay. Từ Đạt còn giúp Chu Nguyên Chương dễ dàng trong việc tuyển quân, giới thiệu những bạn bè trai tráng có chí khí. Vì rất nể trọng Từ Đạt nên rất nhiều xin theo họ Chu, chẳng bao lâu đã tụ họp được gần một ngàn người.

Khi ấy Chu Nguyên Chương đang nắm chức Trấn Phủ dưới cờ của Quách Tử Hưng, có chút quyền hành nên phong cho các bạn bè thân thiết ở Hào châu làm Đầu mục, trong số đó có Từ Đạt. Đã có trong tay quân tướng hùng hậu, Chu Nguyên Chương liền nghe theo lời của Lý Thiện Trường đánh chiếm Trừ châu rồi sau đó là Hòa châu. Trong những lần đánh chiếm này, Từ Đạt biểu lộ là người có tài năng, chiến đấu hết sức dũng cảm nên khi xong việc, Chu Nguyên Chương xin với Quách Tử Hưng phong cho ông làm Trấn Phủ, tức ngang bằng với mình trước kia.

Khi Quách Tử Hưng chết, em vợ của ông ta là Trương Thiên Hựu lên nối chức Nguyên soái nhưng thực ra Chu Nguyên Chương mới là người quan trọng nhất.

Năm 1355, Từ Đạt theo Chu Nguyên Chương vượt Trường Giang tiến đánh Hòa Châu. Dù tướng nhà Nguyên là Man Tử Hải Nha chống cự hết sức kiên cường nhưng vẫn không sao địch nổi hai danh tướng Thường Ngộ Xuân và Hồ Đại Hải. Thấy tình hình thuận lợi, Từ Đạt liền thúc giục Chu Nguyên Chương thừa cơ đánh chiếm thành Thái Bình. Thấy quân Nguyên rút chạy, Từ Đạt nhanh chóng chớp thời, xin với Chu Nguyên Chương dẫn binh đi mai phục ở vùng núi phía nam Thái Bình, đánh bại quân cứu viện do Trần Dã chỉ huy, bắt buộc chủ lực quân Nguyên phải rút chạy về Tập Khánh.

Sau khi chỉnh đốn lại binh mã, Từ Đạt tiếp tục tiến đánh Lật Dương, hình thành thế bao vây thành Tập Khánh vào giữa. Chu Nguyên Chương rất dễ dàng đánh chiếm Tập Khánh và đổi tên thành Ứng Thiên phủ, tức là ứng theo số mệnh của trời đất, quyết định lấy Ứng Thiên phủ để đóng quân.

Lúc ấy về phía đông Ứng Thiên phủ vẫn còn một tướng nhà Nguyên là Định Định trấn giữ, nếu như để lọt vào tay Trương Sĩ Thành thì rất nguy hiểm. Do vậy họ Chu giao trọng trách này cho Từ Đạt, phong làm Đại tướng quân. Đây là lần đầu tiên Từ Đạt nắm ấn tín Tướng soái. Ông mau chóng chiếm được Trấn Giang rồi đến Kim Đàn, Đơn Dương, công trạng rất lớn. Vì vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương ưu ái phong cho Từ Đạt làm Thống quân Nguyên soái. Bắt đầu từ đây với quân tướng trong tay, Từ Đạt trở thành trụ cột không thể thiếu của Chu Nguyên Chương và có những chiến công hết sức lẫy lừng.

Thế nhưng Trương Sĩ Thành không chiếm được Trấn Giang thì liền cho thủy quân tấn công cố lấy lại. Từ Đạt dù ít quân hơn hẳn nhưng vẫn chỉ huy cầm cự kiên cường, đồng thời cấp tốc báo về Chu Nguyên Chương xin quân tiếp viện. Đã có lực lượng tương đồng, Từ Đạt liền bày trận thế, chia quân ra làm ba cánh liên hợp với nhau mà đánh. Riêng ông thì chỉ huy trung quân đánh trực diện. Với tài ba lỗi lạc cùng với tinh thần chiến đấu hừng hực, cuối cùng Từ Đạt lại lập công lớn, đánh bại quân của Trương Sĩ Thành, bắt sống được hai tướng của đối phương. Thừa thế, Từ Đạt cho quân tiến đến Thường châu.

Biết quân địch còn khá mạnh, Từ Đạt không vội tấn công mà cứ bao vây chặt chẽ, đồng thời phái quân đi đánh chặn các đường tiếp tế của đối phương. Chẳng bao lâu trong thành Thường châu hết lương thực, quân dân náo loạn, Từ Đạt liền xua quân tấn công dữ dội và chiếm được thành. Chu Nguyên Chương rất mừng vì chiến thắng này, đổi tên Thường châu lộ thành Thường Châu phủ và thiết lập Khu Mật Viện ở đó, cho Từ Đạt đứng đầu, còn tướng Thang Hòa giữ chức Khu Mật Viên Đồng Thiêm.

Cùng năm ấy, Từ Đạt theo Chu Nguyên Chương tiến đánh Ninh Quốc, bắt sống được em của Trương Sĩ Thành là Trương Sĩ Đức. Tuy nhiên lúc ấy vẫn còn một số quân nổi dậy có liên hệ với họ Chu, vì vậy Từ Đạt liên minh với quân của Thiệu Vinh đánh chiếm Nghi Hưng phủ. Thế là toàn bộ Ứng Thiên phủ đã không còn bị uy hiếp nữa. Tất cả những công trạng ấy đều có mặt của Từ Đạt.

Năm 1360, Từ Huy Thọ bị bộ tướng dưới quyền là Trần Hữu Lượng sai người giết chết. Theo “An Nam chí lược” của Lê Tắc, Trần Hữu Lượng là hậu duệ của Trần Ích Tắc, người Việt Nam, sinh sống ở Cái Dương, Hồ Bắc. Trần Hữu Lượng xuất thân đánh cá nhưng rất chịu khó học hành, thao luyện võ nghệ nên ngay từ thời niên thiếu đã nổi tiếng là đọc sách nhiều, nhớ dai, vì vậy đầu tiên được làm chức văn thư trong huyện. Một lần, vì bất hòa với cấp trên vốn là quan lại nhà Nguyên mà Lượng vẫn thường chê ngu dốt hơn mình, Lượng liền gia nhập vào quân Hồng Cân do Từ Thọ Huy cầm đầu.

Nhờ có võ nghệ cao cường, lại học hành đôi chút nên Trần Hữu Lượng chiến đấu rất mưu trí, nhiều lần lập được công trạng, dần dần thăng tới Lãnh binh nguyên soái, tự xưng là “Bình Chương”. Năm 1360, Trần Hữu Lượng bí mật sai người thân tín dùng trùy sắt đánh chết Từ Thọ Huy rồi lên ngôi hoàng đế ở Thái Thạch đặt quốc hiệu là Hán, đổi niên hiệu là Đại Nghĩa rồi sai người đi ước hẹn với Trương Sĩ Thành cùng đi đánh Chu Nguyên Chương ở Ứng Thiên.

Đây là trận chiến ác liệt và gay go bởi quân số bên địch đông hơn rất nhiều. Thế nhưng Chu Nguyên Chương rất tài tình, một mặt chống đỡ một mặt sai Từ Đạt đánh ngang hông chia cắt quân của Trần Hữu Lượng ra làm hai, không còn tiếp trợ cho nhau được nữa. Thật sự Trần Hữu Lượng dựa vào sức mạnh của thủy quân nên về đánh trên bộ thì rất yếu so với các cách dùng binh của Chu Nguyên Chương và nhất là của Từ Đạt.

Kết quả cuối cùng Trần Hữu Lượng đại bại, dùng thuyền chạy về Giang châu. Trong trận này Chu Nguyên Chương bắt được khá nhiều tù binh cùng với các chiến thuyền của Trần Hữu Lượng, thanh thế càng tăng cao. Lúc ấy Trương Sĩ Thành về đầu hàng triều Nguyên, được lệnh tấn công quân khởi nghĩa Hoàng cân do Lưu Phúc Thông nắm giữ. Vì trước kia có mối liên hệ với Hoàng cân và nếu để Lưu Phúc Thông thất bại thì Ứng Thiên phủ cũng bị hở sườn nên Chu Nguyên Chương quyết định đem 20 vạn quân trở về cứu Hồng Đô, có cả Từ Đạt theo.

Quân hai bên bày trận ở trên hồ Phiên Dương và sau đó xảy ra một cuộc chiến hết sức quyết hệt. Có thể nói đây là cuộc chiến quyết định sự tồn vong của cả hai bên nên mỗi bên có cách hành xử khác nhau. Quân Trần Hữu Lượng thì phao lên là có tới 60 vạn trong khi Chu Nguyên Chương chỉ có 20 vạn. về mặt chiến thuyền cũng có sự khác biệt, chiến thuyền của quân Trần Hữu Lượng to lớn hơn còn Chu Nguyên Chương chỉ có thuyền nhỏ. Như vậy về binh lực và trang bị, Trần Hữu Lượng đều chiếm ưu thế, ai cũng tưởng lần này họ Chu tất phải bại trận.

Thế nhưng, Chu Nguyên Chương cũng không phải tay vừa, một mặt ông sai Từ Đạt trở về Ứng Thiên phủ lo liệu việc đề phòng bị Trương Sĩ Thanh đánh úp, một mặt sử dụng hỏa công để đối phó với các chiến thuyền to lớn của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương lợi dụng nhược điểm thuyền lớn của quân Hán khó xoay xở, sử dụng tính linh hoạt của thuyền nhỏ, chủ động tấn công trước và bắt chước Khổng Minh ngày trước, dùng hỏa công chặn đường sau của quân Trần Hữu Lượng. Trải qua 36 ngày ác chiến, quân họ Trần bị cắt đứt trên dưới, đành bỏ chạy tán loạn, Trần Hữu Lượng cũng bị trúng tên mà chết.

Thế là về mặt đối phó nội tình không còn phải lo lắng gì nữa, Trương Sĩ Thành không xứng tay đối thủ với ông ta. Vì vậy vào năm 1364, Chu Nguyên Chương tự xưng là Ngô vương, thiết lập triều đình đầy đủ ban bệ, phong cho Từ Đạt làm Tả Tướng quốc. Nếu tính từ khi bắt đầu gia nhập quân đội, tức là khi ông được 23 tuổi, chỉ mới 9 năm đã lên tới hàng đại quan nhất phẩm triều đình.

Thiết lập triều đình xong, lực lượng lớn mạnh nhất của Trần Hữu Lượng đã bị tiêu diệt, Chu Nguyên Chương chỉ còn lại cái gai là Trương Sĩ Thành. Lúc ấy Trương Sĩ Thành cố thủ ở phía nam Trường Giang, lúc thì phản lại lúc thì đầu hàng triều Nguyên, không có ý chí nhất định. Vì vậy Chu Nguyên Chương rất coi thường họ Trương, không thân chinh đi đánh mà sai Từ Đạt làm Đại tướng đem quân tiến đánh.

Với lối đánh thần tốc và dũng mãnh, Từ Đạt cho quân công kích dữ dội, nhanh chóng chiếm được Thái châu, bắt sống tướng Nghiêm Tái Hưng. Thừa thế, Từ Đạt chia quân làm hai đạo, một do Lưu Kiệt tiến đánh Hưng Hóa, một do mình chỉ huy tiến đánh Cao Bưu. Thế nhưng Chu Nguyên Chương sợ rằng Từ Đạt quá hăng hái sẽ đi sâu vào đất địch bất lợi, hạ chỉ gọi ông về. Thật sự là do Chu Nguyên Chương lo sợ Từ Đạt lập công lớn khó bề kềm chế mà thôi. Đây là dấu hiệu nghi ngờ công thần của họ Chu mà sau này gây ra nhiều tác hại, giết gần hết các công thần đã theo phò tá mình từ ngày mới khởi nghĩa, trong đó có cả Từ Đạt theo một giả thuyết khác với chính sử.

Lúc đó Trương Sĩ Thành thừa cơ đang tiến đánh Giang Nam nên khi Từ Đạt trở về không hề được nghỉ ngơi, lại phải cầm quân đi chống đỡ, đẩy lui được quân của Trương Sĩ Thành ra khỏi vùng Giang Nam. Đang lúc Từ Đạt định đánh Cao Bưu thì Chu Nguyên Chương triệu hồi về nhưng lại sai một tướng khác là Phùng Quốc Thắng đem quân tiến đánh. Điều này càng chứng tỏ tâm địa nghi ngờ công thần danh tướng của họ Chu đã bắt đầu lộ ra. Tiếc rằng Phùng Quốc Thắng mắc mưu của Du Đồng Thiêm, tổn thất khá nhiều quân sĩ, phải bỏ chạy về Ứng Thiên.

Lúc đó Chu Nguyên Chương mới quyết định sai Từ Đạt đem quân cùng với Phùng Quốc Thắng tiến đánh Cao Bưu. Ông chỉ cần một trận đã chiếm được thành và giết chết Du Đồng Thiêm, quả là không hổ danh Tướng soái trụ cột của triều Ngô.

Thừa thắng, Từ Đạt xin lệnh tiến đánh luôn Hoài An. Tướng giữ thành là Mai Tư Tổ vừa nghe quân của Từ Đạt thì đã hồn vía lên mây, lập tức mở thành đầu hàng. Từ Đạt không phải tốn tên quân nào cũng chiếm toàn bộ Hoài An và mấy châu quận liên thuộc. Sau đó Từ Đạt tiến chiếm luôn thành Hưng Hóa, toàn bộ đất Hoài Đông đã về tay triều Ngô mà tất cả chiến công đều là công sức của Từ Đạt. Hoài Đông bình định xong nhưng đối thủ Trương Sĩ Thành vẫn còn đóng quân ở Hồ châu. Nếu đưa quân đi xa mà không tính toán kỹ lưỡng thì rất dễ thất bại, do vậy một lần nữa Chu Nguyên Chương lại nhờ tới tài năng của Từ Đạt, phong làm Đại tướng rồi cho Thường Ngộ Xuân làm Phó tướng, kéo 20 vạn quân tiến thẳng tới Hồ châu.

Trước đó Từ Đạt đã nghiên cứu tình hình quân đội của đối phương, dùng kế sách chia cắt ra đánh từng phần một nên dù Trương Sĩ Thành đã tăng viện cho Hồ châu 6 vạn binh do hai tướng Châu Xiêm và Lữ Trân chỉ huy vẫn bị Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đánh cho mấy trận thất điên bát đảo. Bất đắc dĩ Trương Sĩ Thành phải tự thân dẫn quân đi cứu nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã đoán trước được việc này, cho quân mai phục ở một địa điểm nơi Chiết Giang, làm cho Trương Sĩ Thành phải bỏ chạy trở về. Sau đó luôn mấy lần Trương Sĩ Thành phái quân đi cứu viện nhưng lần nào cũng bị Từ Đạt đuổi chạy không còn manh giáp.

Quân của Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đi đến đâu chiến thắng đến đó, nhiều thành bị phá nhưng cũng không ít thành vừa nghe thấy tên ông đã vội đầu hàng. Đó là các tướng Phan Nguyên Minh ởHàng châu, Lý Tư Trung ở Thiệu Hưng... hình thành thế bao vây Trương Sĩ Thành ở Bình Giang không còn đường nào thoát chạy. Nhận thấy thành Bình Giang rất kiên cố, Từ Đạt liền cho quân lấy đất đắp thành tường cao chung quanh thành giống như một bức tường thứ hai vậy. Từ bức tường này quân của Từ Đạt cố thủ bao vây chặt chẽ, ngày đêm bắn tên, gỗ, đá vào thành khiến Trương Sĩ Thành không còn biết cách nào chống đỡ.

Thế nhưng dù đã cạn kiệt lương thực, Trương Sĩ Thành nhất quyết tử chiến, cũng không chịu về đầu hàng. Biết rằng nếu đánh thành tất phải hao tổn quân số lớn, Từ Đạt bèn sai người về xin ý kiến của Chu Nguyên Chương và được nhà vua chấp thuận toàn quyền quyết định. Từ Đạt được toàn quyền liền hiệu triệu quân tướng ra sức đánh phá, tuy chưa thành công nhưng đã giết chết được người em của Trương Sĩ Thành là Trương Sĩ Tín. Nghe tin này Trương Sĩ Thành hết sức chán nản nhưng vẫn không chịu đầu hàng.

Từ Đạt không muốn quân sĩ chết nhiều nên cứ trì hoãn cuộc tấn công tổng lực, nay thấy Trương Sĩ Thành quá ngoan cố thì không dừng được nữa, ra lệnh cho toàn quân dốc sức tấn công. Quân của Từ Đạt rất tinh nhuệ, lại được một danh sĩ là Lưu Bá Ôn mới về phò tá cho họ Chu, chế tạo ra “vân thê” (thang làm bằng mây) nên từ bốn cửa thành trèo vào tấn công hết sức dữ dội. Kết quả là Trương Sĩ Thành nhìn thấy thành bị chiếm, bao nhiêu công lao từ lúc khởi nghĩa đến nay tiêu tan thành mây khói, đau lòng vào nhà riêng tự thắt cổ mà chết.

Thông thường thành nào quyết tử chiến đến khi bị đánh hạ sẽ bị trả thù tàn nhẫn, riêng Từ Đạt có lòng nhân từ, sai quân treo bảng trấn an và hạ lệnh nếu cướp phá tài sản người dân hoặc giết người đều bị xử trảm. Nhờ vậy gần 20 vạn dân quân trong thành Bình Giang đều được yên ổn, người người đều ca tụng.

Nhờ chiến công đánh hạ thành Bình Giang, Chu Nguyên Chương đích thân đến cửa Kích Môn đón chào, thăng Từ Đạt lên làm Tín Quốc công, còn Thường Ngộ Xuân được phong Ngạc Quốc công. Lúc đó chỉ còn lại lực lượng của Dương Quốc Trân ở Chiết Giang. Tuy nhiên đó là lực lượng khá yếu kém, không sao chống nổi với các danh tướng của triều Ngổ, chỉ trong vòng vài tháng đã bị tiêu diệt.

Đến đây mới là bước ngoặt quan trọng, đó là trực diện đối đầu với quân triều Nguyên ở các tỉnh phía bắc như Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Huy, Triết Giang. Để đối phó với quân chủ lực triều Nguyên, Chu Nguyên Chương cho phép các Đại tướng được toàn quyền quyết định, ứng xử tùy theo hoàn cảnh chiến trường không phải tâu báo về triều đình.

Sau đó vào năm 1367, Chu Nguyên Chương phong Từ Đạt làm “Chinh Lỗ Đại nguyên soái” cùng với Thường Ngộ Xuân dẫn 25 vạn quân tiến lên phía bắc. Từ Đạt mau chóng chiếm được Sơn Đông rồi từ đó làm bàn đạp tiến đánh Tương Dương, Nam Dương, Nghi châu. Chỉ trong năm ấy, quân của Từ Đạt đã tiến xa hơn kế hoạch, đến chân thành Tế Nam bao vây. Thấy thanh thế của quân Ngô quá hùng hậu, viên tướng trấn giữ thành là Đóa Nhi Chỉ mở cửa ra đầu hàng. Tiếp tục chiến dịch, trong vòng 3 tháng Từ Đạt đã tạm thời bình định toàn bộ vùng Sơn Đông.

Khi đã thấy tương đối đã mở rộng được non sông, Chu Nguyên Chương liền lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Minh vào năm 1368. Đã có triều đình tất phải có đại thần trụ cột và Lý Thiện Trường được phong Hữu Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu sư; còn Từ Đạt được phong Tả Thừa tướng, kiêm Thái tử Thiếu phó. Danh vọng của ông gần như đã cao nhất không ai sánh kịp. Tất cả đều xuất phát từ tài năng dùng binh của ông quá siêu việt, hầu như chưa trận nào đại bại, giúp nhà Minh xây dựng sớm hơn dự tính rất nhiều.

Triều đình đã dựng xong, Chu Nguyên Chương tiếp tục cho quân tiêu diệt hết các đạo quân Nguyên còn đóng trong lãnh thổ Trung nguyên và cũng chính Từ Đạt được giao trọng trách này. Với khí thế mạnh mẽ và tài cầm quân của Từ Đạt, chẳng bao lâu quân Minh đã chiếm được toàn bộ Hà Nam, bắt đầu tiến sang Thiểm châu. Nơi đây có Đồng Quan ải rất nổi tiếng với sự xây dựng hết sức kiên cố, là cửa ngõ tiến vào Trung nguyên. Thế nhưng khi ấy danh tiếng của Từ Đạt đã trở thành nỗi kinh hoàng của quân Nguyên. Ngay khi ông tiến quân đến Đồng Quan thì hai hàng tướng nhà Nguyên là Lý Tư Tề và Trương Tư Đạo lập tức bỏ thành chạy trốn. Thế là quân Minh đã tạo được một vòng vây chung quanh Đại Đô, kinh thành của triều Nguyên. Chu Nguyên Chương quyết định thân hành đến Biện Kinh cùng các tướng bàn soạn kế sách, quyết một lần phải tiêu diệt được quân Nguyên ở Đại Đô. Do vì đây là chiến dịch hết sức quan trọng nên Chu Nguyên Chương rất phân vân. Riêng Từ Đạt thẳng thắn đưa ra ý kiến riêng. Ông cho rằng đang lúc quân Nguyên khiếp vía kinh hoàng thì nên dồn lực lượng đánh ngay và đánh thật dữ dội. Nếu để thời gian trôi qua, nỗi khiếp sợ ấy tan dần và triều Nguyên chấn chỉnh được quân mã thì sẽ rất khó đánh. Đó là kế sách “sét đánh không kịp bưng tai” nên Chu Nguyên Chương chấp nhận ngay.

Tuy nhiên trước khi xuất quân, Từ Đạt còn hỏi rõ Chu Nguyên Chương nếu quân Nguyên bỏ chạy sâu vào nội địa thì có nên truy kích đánh giết hay không? Đó là sự cẩn trọng của Từ Đạt và cũng là tiên đoán kết quả quân sự mà ông đã nắm chắc trong tay. Chu Nguyên Chương cho rằng quân Nguyên đã thiệt hại quá lớn mà quân mình cũng cần phải có thời gian chỉnh đốn nên không cho Từ Đạt truy kích.

Dù đã chắc thắng mười phần, Từ Đạt vẫn xuất quân rất thận trọng, từng bước đánh chiếm các thành trì xung yếu quanh Đại Đô. Nếu bỏ qua các thành này, có thể bọn chúng sẽ bất ngờ tập hậu sau lưng hay gây khó khăn cho các đoàn quân tiếp tế lương thảo. Từng bước một Từ Đạt cho quân theo Hoàng Hà tiến lên phía bắc, đánh chiếm Đức châu, Trường Lư, Trực Ngô rồi thẳng tiến đến Thông châu.

Những tin bất lợi liên tiếp bay về Đại Đô, cộng với tinh thần đã quá suy sụp, lập tức Nguyên Thuận đế thu xếp cùng với các phi tần lén lút bỏ chạy về Cư Dung quan. Đến đây Nguyên Thuận đế vẫn chưa cảm thấy yên tâm, tiếp tục chạy đến Khai Bình, sâu mãi trong Nội Mông. Khi thành lập triều Nguyên, không biết các Hoàng đế có cảm giác như trước sau gì cũng không thể giữ nổi Trung nguyên hay không mà lập ra hai kinh đô, một ở Đại Đô, một gọi là Thượng đô ở Khai Bình.

Từ Đạt chẳng tốn một mũi tên cũng đường hoàng tiến vào Đại Đô. Ông tiến quân quá nhanh nên cả triều đình bù nhìn do nhà Nguyên dựng lên đều không kịp chạy trốn. Từ Đạt lấy danh nghĩa là Thừa tướng triều Minh, ban bố khuyến dụ nếu ai thành khẩn đầu hàng thì sẽ tha chết, còn lại đều đem chém đầu làm gương, trong đó có cả Hoài vương và hai viên Tể tướng của triều Nguyên.

Nhờ chính sách giải quyết ôn hòa và nghiêm minh của Từ Đạt, hoàn toàn không có cảnh đại loạn xảy ra, người dân Đại Đô dù là Hoa hay Mông đều sinh hoạt bình thường. Nếu xét về mặt chính trị thì ông cũng rất xứng đáng là nhà cai trị tài ba.

Tin tức chiếm được Đại Đô bay về Ứng Thiên phủ làm cho toàn dân Trung nguyên nức lòng hởi dạ bởi đó chính là sự kiện đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ cai trị tàn khốc của quân Nguyên. Chu Nguyên Chương liền cho đổi tên Đại Đô thành Bắc Bình phủ, để người dân quên hẳn đi thời kỳ chiếm đóng của ngoại bang.

Tuy căn bản đã tiêu diệt được triều Nguyên nhưng vẫn còn khá nhiều đạo quân Nguyên đóng rải rác ở miền bắc. Theo cách hành quân của người Mông Cổ thì bất cứ đạo quân nào viễn chinh đều phải tự túc từ lương thực tới nước uống, thậm chí không có tiếp viện. Nếu chiếm được thành trì cũng vậy, do đó có thể giải thích được tại sao đi đến đâu quân Nguyên cũng cướp phá tài sản người dân đến đó.

Chiến dịch triệt phá toàn bộ quân Nguyên trên dải đất Trung nguyên là chiến dịch cuối cùng nên toàn quân Minh đều phấn khởi, tranh nhau đi đầu lập công. Lúc ởThái Nguyên vẫn còn đại binh của một tướng Nguyên là Vương Bảo Bảo trấn giữ. Vương Bảo Bảo là thân thích của hoàng gia, lại có nhiều chiến công nên rất tự kiêu, thấy quân Minh đã rút số lớn khỏi Bắc Bình thì liền lén tấn công Nhạn Môn quan.

Nghe tin này, thay vì mau chóng mang quân tiếp viện, Từ Đạt lại có suy nghĩ khác, nói với các tướng:

– Nhạn Môn quan là cửa ải trọng yếu, xây dựng vững chắc, lại có quân của ta liều chết chống giữ thì Vương Bảo Bảo không dễ gì chiếm nổi trong một thời gian ngắn. Nay hắn đã bỏ trống Thái Nguyên, chúng ta nên tập kích thẳng vào hậu phương của chúng. Đó là kế sách “vây Ngụy cứu Triệu” mà các danh tướng ngày xưa hay dùng. Nay chúng ta không những chiếm Thái Nguyên cứu Nhạn Môn quan mà còn dồn Vương Bảo Bảo vào con đường tiến không xong, lui không được.

Các tướng đều khen ngợi kế sách này thần diệu, quyết tâm đánh chiếm Thái Nguyên trong thời gian mau nhất. Nghe tin Thái Nguyên bị đánh dữ dội, Vương Bảo Bảo rất kinh sợ, vội vàng kéo quân trở về cứu nguy. Thế nhưng Từ Đạt đã cho quân mai phục sẵn, đánh tan đại quân của hắn vào lúc đêm khuya. Vương Bảo Bảo bị đánh bất ngờ đến nỗi không kịp trở tay, đành cùng mấy chục tùy tùng thân tín chạy trối chết về Đại Đồng. Còn lại hơn 4 vạn quân tướng nhà Nguyên đều xin đầu hàng. Chiến thắng này hết sức vang dội nên Vương Bảo Bảo ở Đại Đồng nghe tin càng thêm kinh sợ, lập tức bỏ chạy về Cam Túc.

Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân thừa thế xua quân vượt Hoàng Hà đánh chiếm các thành trì vùng Thiểm Tây. Cũng như bao lần chiến chinh trước, dù lần này Từ Đạt gặp một số khó khăn do sự phản bội của tên Trương Lương Thần nhưng cuối cùng vẫn đại thắng. Chiếm được toàn bộ Thiểm Tây tức là hầu như toàn bộ đất Trung nguyên đã về tay nhà Minh. Vì vậy Chu Nguyên Chương hết sức mừng rỡ, cho Từ Đạt rút quân về nghỉ ngơi và ban thưởng rất nhiều vàng bạc, gấm lụa.

Được một thời gian yên tĩnh, Từ Đạt lại phải lên đường xuất chinh khi tướng Nguyên Vương Bảo Bảo thu vét tàn quân tiến đánh Lan Châu. Trước khi xuất quân, Chu Nguyên Chương hội quần thần lại vạch rõ nguyên nhân tại sao quân Nguyên vẫn chưa tận diệt. Đó là vì Hoàng đế triều Nguyên vẫn còn ở vùng đất phía sau Cư Dung quan. Tiếp thu ý kiến này, Từ Đạt tự thân đem quân chống với Vương Bảo Bảo ở Lan châu, đồng thời sai Phó tướng Lý Văn Trung dẫn quân vượt Cư Dung quan đánh thẳng vào nơi triều Nguyên đang trú ẩn. Đây là chiến thuật rất hay bởi triều Nguyên không thể trở tay kịp mà nếu có thì cũng không thể tiếp viện cho Vương Bảo Bảo nổi.

Thế nhưng Vương Bảo Bảo không hổ là danh tướng trụ cột của triều Nguyên, chống cự với quân của Từ Đạt rất dữ dội. Đôi bên không phân được thắng bại, cứ đối mặt nhau ở Thẩm Nhi cốc. Có lúc quân Minh thắng trận nhưng cũng có lúc Vương Bảo Bảo thừa thế đánh úp, thắng được một trận. Nhân cơ hội này, Từ Đạt xuống lệnh chém đầu mấy bộ tướng đã lơ là sơ hở để cho quân Nguyên có thể đánh úp rồi lại nhân đó ban lệnh quyết chiến, bất cứ ai không theo quân lệnh tự ý rút lui đều bị xử chém.

Do vậy ngày hôm sau, quân Minh mở cuộc tiến công tổng lực, khí thế ngất trời, quân tướng đều hăng hái xung phong lên phía trước. Quân Nguyên không sao chống lại nổi, bỏ chạy tán loạn để mặc cho các đại quan triều Nguyên bị bắt sống. Quân Nguyên đầu hàng và bị bắt sống tổng cộng lên tới mấy vạn. Kết quả cuộc chiến này làm cho Vương Bảo Bảo suốt đời không còn phát triển được quân mã nữa, mối nguy hiểm đã bị triệt tiêu.

Riêng cánh quân do Phó tướng Lý Văn Trung may mắn hơn, vừa tới Ứng Xương thì đúng lúc triều đình nhà Nguyên xảy ra đại loạn. Nguyên Thuận đế băng hà, Thái tử lên nối ngôi vốn là người nhát sợ, nghe tin quân Minh đang tiến tới liền dẫn theo các phi tần, con cháu vương thất chạy sang Hòa Lâm. Vì số người quá đông, di chuyển chậm chạp nên Lý Văn Trung dễ dàng truy kích kịp, bắt sống toàn bộ lên đến mấy trăm người. Cùng với chiến thắng của Từ Đạt, không bao giờ triều Nguyên còn phục hồi được nữa.

Khi đoàn quân chiến thắng trở về, đích thân Chu Nguyên đến Lũng Giang đón chào, phong cho Từ Đạt tước Ngụy Quốc công, đặc ân cho phép không phải vào chầu thường xuyên như các quan lại khác. Đó là sự tín nhiệm tuyệt đối của vị Hoàng đế nổi tiếng hay nghi ngờ này.

Tuy nhiên để đề phòng quân Nguyên có thể vẫn còn quấy nhiễu, Chu Nguyên Chương cho Từ Đạt làm Trấn thủ Bắc Bình, ông liền ra sức chấn chỉnh quân mã, sửa sang thành lũy và rất chú trọng đến nông nghiệp. Đó cũng là đức tính căn bản của người nông dân, luôn luôn lấy đồng ruộng làm lẽ sống của quốc gia.

Chu Nguyên Chương lo xa rất đúng, đến năm Hồng Võ thứ 5, tức năm 1373, một lần nữa tàn quân triều Nguyên do Vương Bảo Bảo chỉ huy lại kéo sang quấy phá vùng biên cương phía bắc. Bọn chúng rút kinh nghiệm chia quân trải rộng ra khiến việc tiêu diệt phải rất vất vả. Từ Đạt thấy vậy cũng chia quân ra làm nhiều cánh nhưng chính vì vậy mà bị Vương Bảo Bảo kết hợp cùng với một tướng Nguyên khác là Gia Tông Triết tập hợp đại quân đánh bại. Vì Từ Đạt ít quân hơn nên tuy thua trận mà không bị Chu Nguyên Chương trách phạt.

Trận thua này một phần là do Chu Nguyên Chương và Từ Đạt quá khinh địch, mặc dù nhiều lần mưu sĩ Lưu Bá Ôn, thường gọi là Lưu Cơ đã khuyến cáo đừng xem thường hắn. Lưu Bá Ôn có thể nói là một “kỳ nhân” tài năng sánh ngang với Gia Cát Lượng thời Tam quốc, rất thông thạo Âm Dương Bát quái, kiêm cả Phong thủy chiêm bốc, đoán việc như thần. Thậm chí người ta còn thêu dệt Lưu Bá Ôn còn có thể “hô phong hoán vũ” như thần tiên, ông được Chu Nguyên Chương đích thân đến cầu hiền và sau đó kính trọng như bậc thầy. Chính Lưu Bá Ôn đã giúp kế sách cho Họ Chu đại thắng Trần Hữu Lượng, một đối thủ khó chịu nhất lúc còn ở Ứng Thiên phủ. Thế nhưng đến khi Chu Nguyên Chương đã lên ngôi Hoàng đế thì không còn chú ý đến hiền tài này nữa. Do vậy mới xảy ra việc xem thường Vương Bảo Bảo, dẫn đến thất bại.

Đúng với lời khen tặng của Lưu Bá Ôn, Vương Bảo Bảo hết sức trung thành với triều Nguyên, không chỉ một lần đó thôi mà sau này không ít lần chiêu mộ thêm quân tướng, kéo đi quấy phá các châu huyện biên giới. Mãi đến khi Vương Bảo Bảo chết vào năm 1375, mối đe dọa ấy mới thực sự hoàn toàn chấm dứt và triều Minh được yên tĩnh để lo về nội trị.

Đó là việc sau này, lúc Từ Đạt chưa tiêu diệt xong tàn quân nhà Nguyên ở Cư Dung quan thì Chu Nguyên Chương đã chính thức kiến lập nhà Minh vào năm 1369. Chu Nguyên Chương đích thân cùng với quần thần luận bàn công trạng của từng người, xong xuôi liền cho lập “Công thần miếu”, ghi rõ công lao xếp theo thứ tự ít hay nhiều và Từ Đạt được nêu đầu bảng với danh xưng “Đệ nhất khai quốc công thần”. Đây là sự ban phong xứng đáng bởi Từ Đạt không những đã phò giúp cho Minh Thái tổ ngay từ khi mới khởi nghĩa mà chắc chắn công lao không ai sánh bằng nổi, kể cả danh tướng Thường Ngộ Xuân. Nếu tính ra ông đã trải qua hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, không thua kém gì các danh tướng thời trước như Bạch Khởi, Vương Tiễn, Hàn Tín, v.v... Thường Ngộ Xuân (khi ấy đã chết vì bệnh) chỉ được Chu Nguyên Chương liệt vào hạng công thần thứ nhì bởi hầu hết các chiến thắng của Thường Ngộ Xuân đều dựa vào sự liều lĩnh, can đảm đến điên cuồng mà thành công, không thận trọng tính toán được như Từ Đạt.

Về mặt nhân văn, Thường Ngộ Xuân cũng rất hay lạm sát, giết địch quân và hàng binh không gớm tay trong khi Từ Đạt lấy nhân nghĩa làm chủ đạo, vì vậy ông không những được tướng sĩ, đồng liêu yêu mến mà cả đến người dân khắp nước cũng rất kính trọng. Mỗi khi quân đội của ông đi tới đâu, người dân vô cùng yên tâm, không hề bị cướp phá hay tổn thất thứ gì.

Ngoài Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân có công lao lớn nhất, các danh tướng đã theo ông từ thuở mới khởi nghĩa, gồm đến 28 người đều được phong Hầu và rất nhiều đất đai thực ấp. Những người này hình thành một tập đoàn thế lực được sử gọi là “Tập đoàn Hoài Tây”. Có lẽ chính Chu Nguyên Chương cũng muốn như thế để dựa vào đó mà không còn lo lắng bị đại thần phản trắc chiếm ngai vàng nữa. Thế nhưng cuộc đời không bao giờ tiên đoán được hết, Chu Nguyên Chương lo sợ người ngoài cướp ngôi Hoàng đế, không hề đề phòng con cháu và chính con trai của ông là Chu Lệ sau này lại là người cướp đoạt ngai vàng, xưng hiệu Minh Thành tổ.

Với công lao ấy, Từ Đạt được giữ chức Tả Thừa tướng, tước Quốc công và đi trấn nhậm một vùng đất trọng yếu Bắc Bình, tức Đại Đô ngày trước. Có thể nói, khi thành công rồi, Từ Đạt coi như đã là một ông vua nhỏ, toàn quyền sinh sát không phải tâu bày với Chu Nguyên Chương. Với quyền hạn rộng lớn ấy, Từ Đạt vẫn không hề kiêu ngạo hay ăn uống xa hoa phí phạm. Ông vốn xuất thân từ nông dân, đến khi lên tới địa vị “dưới một người mà trên vạn người” vẫn giữ cuộc sống giản dị liêm khiết như thuở nào.

Tính thành thât khiêm tốn của Từ Đat khiến người người đều muốn học hỏi nên ngay từ lúc còn làm Thừa tướng không ít người muốn kết giao để nhờ cậy, đến khi về hưu rồi vẫn rất nhiều người xin đến được nghe lời chỉ dạy kể cả những vị Thừa tướng đương thời như Hồ Duy Dung, quyền hành bao trùm cả triều đình. Riêng Chu Nguyên Chương luôn luôn đặt tin tưởng ởnơi ông, do vậy giả thuyết Chu Nguyên Chương bắt ông về kinh đô rồi ban thuốc độc giết chết hoàn toàn mâu thuẫn.

Người ta hay đổ tội cho Chu Nguyên Chương lạm sát, đến cả công thần đệ nhất là Từ Đạt cũng không buông tha nhưng thực tế cho thấy Chu Nguyên Chương quả giết người nhiều thật mà không bao giờ đề cập gì đến Từ Đạt.

Theo chính sử thì Từ Đạt chết ở Ứng Thiên phủ vào năm 1385 vì bệnh nặng. Thế nhưng lúc ấy ông mới được 54 tuổi, chắc chắn sức khỏe còn dồi dào, nên cái chết của ông trở thành nghi án. Khi Từ Đạt chết rồi, chính tay Chu Nguyên Chương viết văn bia cho Từ Đạt, truy phong làm Trung Sơn vương và ban cho con cháu 3 đời đều được kế thừa vương tước ấy. Những ân nghĩa này vẫn không đánh tan được nghi ngờ về cái chết của vị danh tướng công thần triều Minh. Người ta cho rằng Chu Nguyên Chương hiếu sát công thần đến mức thành cố tật, vì vậy khi đã giết hết các công thần thì chỉ còn mỗi mình Từ Đạt, cũng sẵn sàng xuống tay luôn nhưng khéo léo hơn.

Theo giả thuyết này thì khi Từ Đạt bị bệnh nặng ở Bắc Bình, Chu Nguyên Chương liền sai người đến đưa ông về Ứng Thiên phủ, gọi là tiện việc chăm sóc và có lương y giỏi chữa trị. Thế nhưng một lần kia Từ Đạt uống bát thuốc do danh y của Chu Nguyên Chương phái đến thì chỉ một lúc sau là chết. Một thuyết khác thì nói là Từ Đạt bị nhọt độc sau lưng, khi về đến Ứng Thiên phủ, Chu Nguyên Chương sai người đem đến cho ông một bát canh thịt ngỗng. Theo sách thuốc ngày trước, nếu người bị nhọt độc mà ăn canh thịt ngỗng sẽ bị bộc phát mà chết. Từ Đạt cũng biết điều này, rơi nước mắt mà ăn hết bát canh, sau quả nhiên qua đời.

Giả thuyết này có một điểm yếu là: Lúc đó Từ Đạt bệnh nặng sắp chết, Chu Nguyên Chương còn hạ độc thủ làm gì cho mang tiếng?

Nếu sắp xếp một cách khoa học, có lý luận thì Chu Nguyên Chương có thể giết bất cứ ai trừ Từ Đạt bởi những lý do sau:

– Từ Đạt là bạn chí thân của Chu Nguyên Chương, đã kề vai sát cánh trên các chiến địa. Họ đã quá hiểu nhau, không thể vì chút nghi ngờ nào đó mà xuống tay sát hại được.

– Từ Đạt làm quan được mọi người tôn trọng, chưa bao giờ xảy ra đố kỵ hay ghen ghét, vì vậy không có việc bị đại thần gièm pha vu cáo với Chu Nguyên Chương.

– Ông lại là hoàng thích, địa vị cao trọng sánh ngang với Hoàng đế thì còn tham vọng như thế nào nữa mà tới nỗi phải bị Chu Nguyên Chương trừ diệt? Từ Đạt có ba người con gái đều được gả cho con của Chu Nguyên Chương: người lớn nhất lấy Yên vương Chu Lệ và sau này được phong làm Hoàng hậu; một người là Phi tử của Đại vương Chu Quế; người cuối, cùng cũng là Phi tử của An vương Chu Doanh. Với thân phận như vậy, chắc chắn Từ Đạt không bao giờ có tâm ý muốn phản lại triều đình, chẳng lẽ Chu Nguyên Chương giết “cho vui”?

Con trai của Từ Đạt là Từ Huy Tổ kế thừa chức tước của cha, quyền cao chức trọng, nắm đại quyền trong tay. Nếu như Từ Huy Tổ khám phá ra việc phụ thân bị đầu độc thì sẽ nghĩ sao? Một người hiếu sát như Chu Nguyên Chương, sẵn sàng “giết lầm chứ không tha lầm” thì tại sao chỉ giết mỗi mình Từ Đạt? Không giết luôn Từ Huy Tổ để trừ tuyệt hậu họa?

Với những câu hỏi này, giả thuyết Chu Nguyên Chương hạ độc Từ Đạt hoàn toàn sai lầm. Như vậy Từ Đạt còn cao trọng hơn tất cả các Tướng soái trong lịch sử, lập không biết bao nhiêu công trạng tuyệt vời trong chiến trận mà sau cùng cũng được hưởng ơn mưa móc của Hoàng đế và chết trong sự mãn nguyện. Ông không thọ bằng những danh tướng khác là do nguyên nhân dầm sương dãi nắng suốt 35 năm, chắc chắn sức khỏe phải tổn thất nặng nề, khó có thể trường thọ như người ăn sung mặc sướng, đó là lẽ tất nhiên vậy.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Huyền Cơ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.