Vào cuối thời Chiến quốc, nước Tần phát triển hùng hậu nhất, có dã tâm thôn tính 6 nước còn lại trong Thất Hùng. Lúc đó Tần Chiêu Tương vương Doanh Tắc (306 đến 250 Trước Công nguyên), tức ngồi trên ngai vàng 56 năm đã đặt nền móng cho nhà Tần gồm thâu thiên hạ sau này. Tần vương có dưới tay rất nhiều danh tướng và theo kế sách “tằm ăn dâu” của Phạm Thư dần dần xâm chiếm các nước gần như Triệu, Hàn, Ngụy, v.v... đồng thời kết giao với các nước xa như Sở và Tề. Kế sách “viễn giao cận công” (nước gần đánh chiếm, nước xa giao hảo) này có tác dụng rất hiệu quả bởi các nước xa hầu như khoanh tay ngồi mà nhìn, cho rằng Tần sẽ chiếm các nước nhỏ và gần chứ không thể đụng đến mình. Đây là suy nghĩ thiển cận, đưa đến kết quả nước Tần từng bước tiến tới ngôi Hoàng đế Trung nguyên.
Vào khoảng năm 274, Tần Chiêu Tương vương sai danh tướng Bạch Khởi tiến đánh nước Triệu. Sau khi đạt chiến thắng lẫy lừng ở Trường Bình, Bạch Khởi đã tiến quân đến bao vây thành Hàm Đan rất gấp, toan tính rằng chỉ trong một tháng sẽ tiêu diệt được nước Ngụy. Thế nhưng, với lòng đố kỵ của Phạm Thư, Tần vương dại dột triệu Bạch Khởi về triều, cuối cùng ban cho ông cái chết oan uổng.
Khi Bạch Khởi chết rồi, Tần vương mới nhận ra sai lầm của mình, lần lượt sai Vương Hạt rồi đến Ngũ Đại phu Vương Lăng dẫn quân tiếp trợ vẫn không làm sao hạ được thành Hàm Đan. Cơ hội ngàn năm một thuở đã di qua mất rồi. Tần vương hết sức nóng nảy, một lần nữa lại sai một tướng tên là Vương Tiễn đến Hàm Đan kết hợp đánh chiếm. Nguyên Vương Tiễn là bộ tướng dưới quyền Bạch Khởi, đã học được rất nhiều kinh nghiệm của danh tướng này nên biết rằng không còn thời cơ nữa, vì vậy yêu cầu Tần vương thân chinh đi cùng với mình để khích động tinh thần ba quân. Đồng thời Vương Tiễn khéo léo đưa ra lý do tiến đánh Hàm Đan là muốn đòi cái đầu của Ngụy Tề, kẻ thù của Ứng hầu Phạm Thư. Việc báo thù đáng ra là phải do tay Phạm Thư, Vương Tiễn không hề có trách nhiệm trong đó, vì vậy đây chỉ là cái cớ để nếu thất bại cũng không mang tiếng thua nước Triệu, đồng thời ông tự biết đòi hỏi này có thể được Triệu vương đáp ứng. Đó chính là biểu hiện sự quyền biến và trí tuệ khôn ngoan của Vương Tiễn vậy.
Nhờ vào trí tuệ này, suốt cuộc đời Vương Tiễn trải qua 4 triều đại nhà Tần vẫn ung dung giữ chức vụ Đại tướng, danh vọng lên đến tột đỉnh mà không hề bị đại thần này ganh ghét so bì. Những chiến công của Vương Tiễn rất đáng cho người đời sau ngưỡng mộ nhưng chính triết lý sống của ông mới là bài học đối nhân xử thế đáng suy ngẫm.
Theo một số sử liệu thì Vương Tiễn sinh vào khoảng năm 303 trước Công nguyên và mất năm 213 trước Công nguyên, tức thọ được 90 tuổi, một số tuổi đáng nể trong các hàng danh tướng vốn hầu như đã chấp nhận “da ngựa bọc thây, chết trước khi đến tuổi già lão”. Vương Tiễn là người ở Tân Dương Đông, có sức mạnh hơn người nhưng tính tình điềm đạm, ngay từ lúc nhỏ đã biểu lộ sự khôn ngoan trong cách đối xử với mọi người.
Trong tình hình thời Chiến quốc với những chiến tranh xảy ra liên miên, để dương danh thiên hạ không gì tốt hơn là môi trường quân đội, vì vậy bước đầu ông hoạt động ra sao sử sách không ghi chép. Ông chỉ được người ta biết đến khi là tướng dưới quyền của Bạch Khởi.
Khi Tần vương và Vương Tiễn kéo 20 vạn đại quân đến Hàm Đan với danh nghĩa lấy đầu Ngụy Tề thì Triệu vương vừa mới mất, Thái tử Đan lên nối ngôi xưng là Hiếu Thành vương. Tuy rằng Hiếu Thành vương nghe theo kế sách của Liêm Pha, một mặt cố sức chống đỡ, một mặt kêu gọi các nước mà trong đó hy vọng nhất là Tề với binh lực hùng hậu do Điền Đan chỉ huy. Thế nhưng Hiếu Thành vương cũng không dám ỷ lại, vẫn nghe theo lời yêu cầu của Tần vương, tìm mọi cách bắt bằng được Ngụy Tề, rốt cuộc ông ta trốn đến nhà Tín Lăng quân Vô Kỵ rồi biết đã cùng đường đành tự sát.
Dựa vào lý do ấy, Tần vương liền cho rút quân. Đó là lần đầu tiên Vương Tiễn được giữ chức Đại tướng, được toàn quyền điều động binh sĩ. Khi về nước rồi, Tần vương hết lời khen ngợi, cho rằng Vương Tiễn dụng binh ngang hàng với Bạch Khởi nhưng mưu trí cao sâu hơn bởi không tốn một tên quân nào cũng giết được Ngụy Tề và làm cho các nước kinh sợ. Tần vương liền phong cho ông tước Võ Thành hầu, cấp cho 10 vạn hộ thực ấp.
Thế nhưng vì tuổi đã cao, năm sau đó Tần Chiêu Tương vương mất, lên nối ngôi là Doanh Trụ xưng hiệu Hiếu Văn vương. Chỉ 1 năm sau Doanh Trụ chết, Doanh Tử Sở nối ngôi xưng hiệu Trang Tương vương. Thế nhưng cũng không lâu, chỉ 3 năm sau Trang Tương vương cũng qua đời và bắt đầu một vị vua mới hùng tài đại lược lên nắm quyền, đó là Tần vương Doanh Chính, người sau này tự xưng Tần Thủy Hoàng đế khét tiếng thiên hạ về nhiều mặt.
Ngay từ thời Trang Tương vương, Lã Bất Vi đã được phong làm Tướng quốc nắm đại quyền lấn át cả nhà vua. Vương Tiễn là đại quan trong triều, nhìn thấy rất rõ mối quan hệ giữa Hoa Dương công chúa, Lã Bất Vi và Doanh Tử Sở nên không hề có một thái độ nghiêng về phe nào. Ông giữ vững quan điểm này của mình cho đến tận cuối đời, tức là giữ tròn bổn phận làm tướng, không có tham vọng gì thì sẽ không rước lấy tai họa giống như Bạch Khởi. Vì vậy ông luôn tự giữ thái độ trung dung, không bao giờ ỷ vào các chiến công mà kiêu ngạo với mọi người, không chỉ trích hay bàn bạc về quốc chính, luôn luôn biết thế nào là đủ.
Với quan điểm như vậy, Vương Tiễn được hầu hết quần thần yêu mến và kính trọng. Trải qua 8 năm khi Tần vương Doanh Chính ngồi trên ngai vàng, ông ta đã 21 tuổi, tức đã được nắm đại quyền, không cần tới Trọng phu Lã Bất Vi nữa. Tần vương Chính nắm đại quyền rồi liền hạ lệnh tiến đánh nước Triệu, trước tiên là tỏ thiên uy, sau nữa muốn tiếp nối tham vọng của các tiên vương nhà Tần trước kia đã bỏ lỡ cơ hội.
Tần vương Doanh Chính định cử Vương Tiễn làm Đại tướng nhưng Lã Bất Vi gạt đi. Nguyên trước đó khi Bàng Noãn kêu gọi các nước hợp tung đánh Tần, phong cho Xuân Thân quân làm chủ tướng, Hoàng Yết của Sở làm Phó tướng, theo toan tính đồng lượt tấn công Hàm Cốc. Thế nhưng Hoàng Yết kiêu căng tự phụ, cho rằng nên đánh vào chỗ yếu của địch mới thắng, tự ý dẫn quân Sở đánh vào Đông Quan. Nhìn rõ sự bất đồng của đối phương, Vương Tiễn liền hiến kế cho Lã Bất Vi cứ nhắm vào quân Sở mà đánh, chỉ cần Sở thua là mấy nước kia tự tan vỡ. Lã Bất Vi nghe theo, sai Mông Ngao, Vương Tiễn, Hoàn Xỉ, Lý Tín, Nội sử Đằng đem quân chống cự. Hoàng Yết chưa ra quân nhưng được mật báo tin này, hết sức kinh sợ không chịu tiến nữa, thành ra mưu đồ hợp tung của Bàng Noãn chưa thực hiện thì đã tan vỡ, đành thở than rồi cùng quân các nước kéo về. Sau này Sở vương trách mắng Hoàng Yết rất dữ nhưng sự việc đã xong, không còn làm gì được nữa.
Lần đó Vương Tiễn không phải đánh một trận nào nhưng vẫn có công lao rất lớn nên Tần vương mới tin dùng, định sai ông làm Đại tướng đánh Triệu. Không phải Lã Bất Vi ghét bỏ Vương Tiễn mà cho rằng việc đánh Triệu không khó khăn gì, chỉ cần các tướng nhỏ như Mông Ngao, Trương Đường, Vương Hạt là đã đủ sức đối phó với các tướng của Triệu rồi. Vì vậy Tần vương chia quân làm hai đường, một do Mông Ngao làm chủ tướng, Trương Đường làm phó tướng; đường khác do Trường An quân Thành Kiệu (là con của Trang Tương vương, dòng dõi chính thống họ Doanh) làm chủ tướng, Phàn Ô Kỳ làm phó tướng, ồ ạt tiến quân qua biên giới nước Triệu. Vương Tiễn không hề bài bác kế hoạch của Lã Bất Vi nhưng nói riêng với Tần vương:
– Thần e rằng lần ra quân này sẽ thất bại bởi tuy Mông Ngao và Trường Đường là tướng giỏi nhưng với 5 vạn quân trong tay thì khó đối phó được với quân Triệu vốn hùng hậu và đông đảo gấp nhiều lần. Riêng Phàn Ô Kỳ có nhiều cử chỉ kỳ lạ, e rằng sẽ không tiếp trợ cho Mông Ngao. Thần cho rằng nếu Phàn Ô Kỳ dốc hết sức với Đại vương thì quân Tần sẽ đại thắng, bằng trái lại thì chắc chắn thất bại bởi Mông Ngao không mưu trí bằng danh tướng Bàng Noãn của Triệu.
Quả nhiên tình hình diễn ra đúng với tiên đoán của Vương Tiễn. Quân của Mông Ngao đụng độ với quân của Bàng Noãn, hai bên đồng tài đồng sức, quân Triệu lại có tiếp viện thêm mỗi ngày nên Mông Ngao đành phải sai người đến đạo quân của Thành Kiệu thúc giục phối hợp với mình. Chẳng ngờ Phàn Ô Kỳ từ trước đã biết rõ việc “buôn vua” của Lã Bất Vi, trong lòng bất mãn cả ông ta lẫn Tần vương Chính nên nhân cơ hội này kể hết cho Thành Kiệu nghe, đồng thời nói:
– Tại sao còn nhiều tướng già kinh nghiệm mà Văn Tín hầu (Lã Bất Vi) không dùng tới, lại sai ngài cầm quân. Đó là Văn Tín hầu muôn dùng tay quân Triệu giết chết ngài, rồi đó bao nhiêu cơ nghiệp của nước Tần sẽ về tay nhà họ Lã hết. Bây giờ phải nhân dịp này toan tính việc lớn mới xong.
Thành Kiệu còn nhỏ tuổi, nghe vậy rất căm tức, liền cùng Phàn ô Kỳ bàn việc mưu phản với số quân nắm trong tay. Phàn Ô Kỳ lập tức viết thư hứa hẹn với Mông Ngao, để mặc cho ông ta chống đỡ với quân Triệu, có thời gian truyền hịch đi khắp nơi kể tội Lã Bất Vi. Tần vương Chính nghe được hịch văn này, nổi trận lôi đình, sai ba tướng là Vương Tiễn, Hàm Xỉ và Vương Bôn xuất quân đi đánh dẹp phản loạn. Lúc dó Mông Ngao cũng đã biết tin Thành Kiệu và Phàn Ô Kỳ làm phản, sợ rằng hai đầu thọ địch nên vội vã rút quân về. Ngờ đâu Bàng Noãn rất khôn ngoan, biết ngay toan tính của Mông Ngao nên cấp tốc cho quân đi trước chặn đường mai phục.
Mông Ngao lọt vào ổ phục kích, bị thương rất nặng nhưng dù sao vẫn khét tiếng anh hùng, còn lấy hết sức tàn giương cung bắn trúng Bàng Noãn một mũi rồi mới chịu chết dưới chân núi Thài Hàng. Vì vậy Bàng Noãn tuy là thắng trận nhưng về đến đất Triệu thì vết thương tái phát, cũng chết theo.
Khi ấy Phàn Ô Kỳ phò Thành Kiệu đóng quân ởĐồn Lưu, tuy bị Vương Tiễn và Trương Đường vây hãm rất ngặt vẫn còn dũng mãnh, quân Tần không làm được gì. Thế nhưng Phàn ô Kỳ chỉ biết dựa vào sức mạnh chứ mưu trí thì thua xa Vương Tiễn. Thấy đánh đã lâu không tiêu diệt được phản loạn, Vương Tiễn liền lập mưu sai một tân khách trước kia của Thành Kiệu tên là Dương Đoan Hòa lén vào thành đưa thư khuyên hàng. Đồng lúc, Vương Tiễn sai quân đánh mạnh vào hai địa điểm bố phòng tiếp ứng của Phàn ô Kỳ là Trường Tử và Hồ Quan. Phàn ô Kỳ còn mải cho chống giữ Đồn Lưu, khi định mang quân đi cứu viện thì hai căn cứ này đã mất do cách đánh “tốc chiến tốc thắng” của Vương Tiễn học hỏi được nơi Bạch Khởi.
Phàn ô Kỳ thấy thanh thế quân triều đình quá mạnh, xin với Thành Kiệu ra đánh, nếu có thể sẽ mở vòng vây bỏ chạy. Dương Đoan Hòa liền nhân dịp ấy đưa thư khuyên hàng cho Thành Kiệu rồi chờ khi Phàn Ô Kỳ chạy về liền đứng trên thành hô lớn:
– Trường An quân đã bỏ tối về sáng. Ai bắt được phản tặc Phàn Ô Kỳ đều được trọng thưởng, người nào theo phản tặc sẽ bị tru lục toàn gia.
Thành Kiệu tuy chưa toan tính cặn kẽ nhưng quân tướng ở Đồn Lưu nghe vậy liền náo loạn, hầu hết đều buông võ khí khiến Thành Kiệu chỉ còn biết bưng mặt mà khóc. Vương Tiễn dễ dàng chiếm được Đồn Lưu, bắt Thành Kiệu đưa về triều cho Tần vương xét xử. Riêng Phàn Ô Kỳ thì chạy thoát qua nước Yên ẩn trốn.
Đây lại là chiến công bằng mưu trí của Vương Tiễn khiến Tần vương Chính hết sức hài lòng, rất tin cậy ở ông. Lúc đó là năm thứ 9 Tần vương Doanh Chính, ông là người mình cao vai rộng, mặt vuông mắt mày rậm, tư chất thông minh, lại có ý chí cao ngạo khác người nên từ khi nắm đại quyền thì dần dần tước bớt chức vụ của Lã Bất Vi và Thái hậu Triệu Cơ.
Trước khi Doanh Chính lên ngôi và ngay khi đã nắm đại quyền, Lã Bất Vi vẫn thường tư thông với Thái hậu rồi sau đó lại giới thiệu tên du thủ du thực Lao Ái hầu hạ bà ta. Nhiều người lấy làm lạ về việc này bởi Doanh Chính là người thông minh, lẽ đâu không nhìn được sự việc mà để mặc tình Lã Bất Vi, Thái hậu và Lao Ái thao túng làm nhục quốc thể. Chỉ riêng Vương Tiễn nhìn đời với cặp mắt trầm tĩnh là nhận ra ý đồ sâu xa của Tần vương Chính bởi nhà vua đã quyết định trao cho ông nắm hết binh quyền trong tay, chắc chắn là sẽ có dịp dùng tới.
Chẳng mấy chốc đã tới kỳ lễ tế giao, Tần vương Doanh Chính đã sửa soạn xong thì đột ngột có sao chổi rất lớn xuất hiện trên bầu trời làm cho dân chúng vô cùng xao động. Viên quan Thái sử bói một quẻ cho là điềm chẳng lành, tâu với Tần vương tạm hoãn việc tế giao ở Ung thành. Trước đó, để tránh tai tiếng, Tần vương đã cho Thái hậu và Lao Ái đến Ung thành, hai người này được thể lại càng thao túng tệ hại, kết nạp rất nhiều tay chân và còn tính đến chuyện làm phản để đưa con của Lao Ái và Thái hậu lên làm vua. Vì vậy lời khuyên can của Thái sử lo ngại là vì có Lao Ái chứ không phải vì sao chổi.
Tần vương Doanh Chính nghe xong cười nhạt, gằn giọng nói:
– Sao chổi là điềm có tai họa nhưng theo ta thì tai họa của người khác chứ không phải ta, người cứ tiến hành lễ tế như bình thường.
Thế nhưng Tần vương không hề khinh suất, trước khi đến Ung thành đã sai Vương Tiễn tập hợp đại quân dương oai diễu võ suốt 3 ngày ở Hàm Dương. Sau đó Vương Tiễn cùng đại quân đóng giữ ở kinh thành rất nghiêm, thật sự là đã được lệnh canh chừng Lã Bất Vi. Còn một bí mật khác mà chỉ riêng Tần vương và Vương Tiễn biết, đó là Hoàn Xỉ đã được lệnh âm thầm đem 3000 giáp binh đến đóng ở Kỳ sơn chờ lệnh. Vương Tiễn càng thêm phục ông vua trẻ mà có tâm cơ rất sâu sắc, dám đương đầu với thử thách.
Quả nhiên khi Tần vương Chính ở Ung thành, Lao Ái vì quá say nên tiết lộ nhiều điều phạm thượng, sau đó tỉnh rượu, liều mạng cùng với bọn tay chân là Tá qua Kiệt và Nội sử Tứ họp hết bọn tay chân kéo đến cung Kỳ Niên để bắt giết Tần vương.
Doanh Chính thật xứng đáng là “chân thiên tử”, khi ấy chỉ có vài trăm võ sĩ đi theo nhưng không hề kinh sợ, đứng thẳng người trên lầu cao chỉ mặt Lao Ái mà mắng, tuyên bố bất cứ ai giết được hắn thì sẽ phong Vạn hộ hầu. Thật ra đó là kế hoãn binh, vừa đủ cho Hoàn Xỉ kéo giáp binh đến, đánh tan bọn phản loạn, giết chết bọn Nội sử Tứ, Tá qua Kiệt, còn Lao Ái thì bị phanh thân; hai đứa con của Thái hậu và Lao Ái bị cho vào bao đập đến chết.
Tổng cộng vụ án này liên lụy có đến hơn 4000 người khiến kinh thành bị một phen xáo động tuy vẫn không xảy ra việc gì trầm trọng hơn bởi đã có sự canh phòng nghiêm mật của Vương Tiễn.
Khi phản loạn đã dẹp yên, Tần vương Chính liền bãi chức Tướng quốc của Văn Tín hầu Lã Bất Vi, cho ông về đất phong ở Lạc Dương. Thế là bao nhiêu mầm mống nguy hiểm đã diệt trừ xong, Tần vương Chính bắt đầu tiến hành tham vọng bình thiên hạ của mình. Đáng lẽ sự việc đến đây là kết thúc, thế nhưng khi Lã Bất Vi về đất phong, hầu như ngày nào cũng có sứ giả của các nước chư hầu lén đến dâng tặng lễ vật, đồng thời thuyết phục ông về làm Tướng quốc cho nước mình.
Vương Tiễn nghe được tin tức này, vội vã vào báo cho Tần vương biết. Nhà vua liền viết một bức thư gởi cho Lã Bất Vi, Ông ta đọc xong thư , ngửa mặt lên trời than thở:
Ta vốn dĩ chỉ là thương buôn, chỉ vì quá tham lam nên mới tính đến chuyện “buôn vua”. Vì việc ấy mà ta từ một người bình trở thành tồi tệ, không những thông dâm với vợ người mà còn giết vua để mau chóng đưa người của mình lên thay thế. Những tội lỗi ấy chắc chắn trời đất không tha thứ được, ta đành phải tự xử mà thôi.
Than thở xong, Lã Bất Vi sai người lấy rượu độc ra uống. Các tân khách của ông còn sợ Tần vương làm nhục thi hài nên lén trộm xác đem chôn ở núi Bắc Mang. Vì việc này xảy ra chuyện trục hết các tân các nước khác ra khỏi Hàm Dương và rồi Tần vương Chính gặp được Lý Tư. Sau đó Lý Tư lại nhỏ mọn tìm cách hại chết Hàn Phi Tử nên Tần vương rất giận, Lý Tư dành phải chuộc lỗi, tiến cử một binh lược gia nổi tiếng ở Đại Lương tên là Úy Liêu Tử, được Tần vương trọng đãi gọi bằng sư phụ.
Tuy vậy, không phải vì có Úy Liêu mà Tần vương ruồng bỏ Vương Tiễn, trái lại khi hai người gặp nhau rất tâm đầu ý hợp, nhiều phen bàn về binh pháp rất hợp ý. Theo kế sách của Úy Liêu, Tần vương liền sai Hoàn Xỉ đem quân đi đánh nước yếu kém nhất là Hàn, sau đó sẽ thôn tính tới Triệu và Ngụy. Sau khi Tam Tần mất thì sẽ đến lượt Sở và Tề. Hoàn Xỉ mau chóng hoàn thành kế hoạch này nhưng đến khi muốn tiến đánh nước Triệu thì không có nguyên cớ gì, phải sai Úy Liêu giả như đi đánh nước Ngụy. Nước Ngụy liền cầu cứu với Triệu hợp binh chống lại, thế là đã danh chính ngôn thuận để tiêu diệt Triệu. Hoàn Xỉ cũng nhanh chóng đánh bại quân Triệu trong mấy trận khiến Triệu vương vô cùng lo lắng, muốn mời lão tướng Liêm Pha ra cầm quân. Thế nhưng tên gian thần Quách Khai đã nhận vàng đút lót của Úy Liêu, tìm cách lừa gạt nên cuối cùng Liêm Pha đành phải qua nước Sở, sau đó vì uất ức mà chết.
Tần vương Chính nghe tin Triệu không dùng Liêm Pha thì rất mừng, lập tức thúc giục Hoàn Xỉ xuất quân đánh thật rát. “Họa vô đơn chí” ngay lúc ấy Triệu vương Vi quá lo buồn mà mất, con của ông là Công Gia lên nối ngôi, chỉ biết ăn chơi xa xỉ. Hoàn Xỉ liền nhân cơ hội ấy tiến đánh Nghi An, chém chết tướng chỉ huy là Hổ Tiếp, giết hơn 10 vạn quân Triệu rồi thừa thắng kéo đến vây Hàm Đan. Triệu vương hoảng sợ, vội mời một lão tướng khác là Lý Mục ra cầm quân, nhờ vậy đánh tan quân Tần ở Phi Lũy, giết vô số quân tướng nước Tần.
Hoàn Xỉ đang tiến đánh Cam Toàn, nghe tin này vội vã trở về Phi Lũy nhưng cũng bị Lý Mục đánh cho một trận thất điên bát đảo, mang tàn quân chạy về Hàm Dương. Chiến công của Lý Mục oai hùng không kém Bạch Khởi ngày trước nên ông được Triệu vương phong tước Võ An quân giống như Bạch Khởi trước kia để dương danh với thiên hạ.
Lúc này Tần vương Chính mới biết đại cuộc nếu không có một tướng nhiều mưu trí thì rất khó đối phó với Lý Mục, sau khi giáng Hoàn Xỉ xuống làm thường dân liền phong cho Vương Tiễn làm Đại tướng, cùng với Dương Đoan Hòa đem quân đi đánh nước Triệu báo thù.
Tiếc rằng Lý Mục là lão tướng rất cao tay ấn, không trực tiếp giao chiến với Vương Tiễn mà đóng quân cố thủ hết sức nghiêm mật ở núi Hội Toàn, quân Tần không làm sao vượt qua ngọn núi này dược. Tần vương Chính đang lúc tức giận nước Triệu, lại sai Vương Ngao đến tham mưu cho Vương Tiễn. Hai tướng bàn nhau phải dùng kế lý gián mới loại trừ được Lý Mục.
Một mặt Vương Tiễn đến xin giao hảo với Lý Mục, cho rằng thật sự vẫn có thể giải hòa. Lý Mục tin vậy nên cùng với Vương Tiễn đi lại khá thân mật, nhiều khi uống rượu bàn việc quân cho đến khi say khướt mới thôi. Trong khi đó Vương Ngao lén sang Triệu, xin gặp Quách Khai báo là Lý Mục muốn cùng với Vương Tiễn tư thông. Theo ông ta thì hai tướng này đã hứa hẹn với nhau nếu chiếm được nước Triệu sẽ chia làm hai, mỗi người thành một ông vua nho nhỏ là thỏa mãn lắm rồi.
Quách Khai liền báo với Triệu vương và bí mật sai người đi dò xét, quả nhiên lời của Vương Ngao không sai, hai bên hàng ngày vẫn đi lại rượu chè với nhau, không hề tỏ ra đang đối đầu chút nào. Triệu vương liền gọi Lý Mục về thăng lên làm Tướng quốc, thực sự là cắt binh quyền của ông ta, cho Triệu Thông thế chức. Chẳng ngờ Lý Mục biết việc này, chán nản không giao ấn tín cho Triệu Thông, ngửa mặt than thở:
– Ta thường nghĩ Nhạc Nghị và Liêm Pha không trọn đạo làm tướng. Nay mới biết nỗi khổ tâm của họ ra sao, ta có thể đem quân về triều đánh giết bọn gian thần nhưng làm thế lại mang danh phản nghịch.
Than xong Lý Mục treo ấn tín lên cành cây rồi nửa đêm lẳng lặng bỏ đi. Triệu Thông rất giận việc này, cho quân truy đuổi và giết chết Lý Mục trong một quán rượu nhỏ bên đường. Vương Tiễn biết tin Lý Mục đã ra đi, lập tức cùng Dương Đoan Hòa chia quân làm hai cánh tấn công dữ dội. Triệu Thông cố sức chống giữ nhưng tài hèn sức kém, rốt cuộc bị Vương Tiễn chém chết tại trận, quân Triệu như rắn mất đầu đua nhau bỏ chạy về Hàm Đan.
Vương Tiễn không bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng, xua quân truy kích và tiến đến bao vây Hàm Đan. Tên gian thần Quách Khai thấy vậy sợ quá, nói với Triệu vương:
– Nước Hàn đã bị diệt. Nước Yên và Ngụy tự giữ mình không xong thì còn ai cứu được nước Triệu. Chi bằng đầu hàng Tần may ra còn giữ được địa vị phong hầu mà tế tự.
Triệu vương tức giận lấy kiếm chỉ mặt Quách Khai mà mắng khiến hắn ôm đầu rút lui về phủ. Thế nhưng tên gian thần này đã nhất quyết bán nước, lén sai người báo cho Vương Tiễn biết:
– Thật sự Triệu vương đã run sợ lắm rồi nhưng nói rằng nếu như Tần vương thân chinh mang quân đến nơi thì sẽ đầu hàng ngay.
Vương Tiễn liền báo tin này cho Tần vương Chính. Nhà vua vui vẻ nghe theo, thân dẫn 3 vạn tinh binh, cờ xí rợp trời, chiêng trống vang lừng kéo đến trước thành Hàm Đan. Triệu vương liền nghe thoe lời xúi giục của Quách Khai, đem viên ngọc họ Hòa và bản đồ thành Hàm Đan, mở cửa thành phía Tây dâng thư đầu hàng Tần vương Chính. Khi vào thành xong, Tần vương ngồi chễm chệ trên ngai vàng cho Triệu vương làm lễ tôi thần khiến các cựu thần nước Triệu có mặt đều rơi nước mắt.
Doanh Chính cầm viên ngọc Hòa mà nói:
– Cũng viên ngọc này, trước kia tiên vương ta lấy 15 thành mà không đổi được. Nay nhờ có Vương Tướng quân mà nó nằm trong tay của ta.
Sau đó Triệu vương bị giam giữ trong một cái nhà bằng đá, buồn rầu sinh bệnh mà chết. Riêng Quách Khai được tha cho về quê quán, hắn chuyển tải mấy xe vàng bạc về đến nửa đường thì bỗng có bọn cướp xông ra giết chết toàn bộ, bao nhiêu vàng bạc đều cướp sạch. Có người cho rằng đó chính là các tân khách của Lý Mục báo thù nhưng cũng có người cho rằng đó là hành vi của Tần vương Doanh Chính.
Trước đó một năm, Thái tử Đan của nước Yên đang làm con tin nơi nước Tần, dùng kế lén trốn về Yên tổ chức quân binh chống đỡ nếu một khi bị quân Tần xâm lăng. Tần vương còn đang lo việc đánh Hàn và Triệu nên bỏ qua việc này nhưng chắc chắn trong thời gian ngắn sẽ “tính sổ” chứ không đời nào tha thứ. Thái tử Đan tuy đã chiêu mộ được khá nhiều dũng sĩ như Hạ Phù, Tống Ý và Tần Võ Dương, ngay cả Phàn Ô Kỳ cũng đến đầu quân và được phong làm Thượng tân, nhưng vẫn thừa nhận như thế vẫn không đủ sức đánh lại quân Tần, bàn với các mưu sĩ kế sách ám sát Tần vương Chính.
Đại thần là Cúc Võ liền giới thiệu một mưu sĩ nổi tiếng là Điền Quang. Khi đến diện kiến, biết Thái tử Đan đang nuôi dưỡng các dũng sĩ để thi hành kế ám sát, Điền Quang lắc đầu nói:
– Hạ Phù có máu nóng nên mặt luôn luôn đỏ bừng, Tống Ý có mạch nóng nên trên mặt lộ ra màu xanh, Tần Võ Dương có khí cố nóng nên lộ ra mặt màu trắng. Những màu sắc ấy biểu hiện tính tình mừng, giận. Người đã biểu lộ tính tình thì không thể dùng vào việc hệ trọng này.
Điền Quang liền tiến cử một kiếm khách nổi tiếng tên là Kinh Kha. Thật ra Kinh Kha nhận ra đây là việc còn khó hơn là lên trời hái sao bởi Tần vương tự biết rất nhiều người oán ghét ông ta, đề phòng rất cẩn mật. Kinh Kha nhiều lần từ chối nhưng Thái tử Đan qua nài ép, lại hậu đãi hết mức nên cuối cùng đành phải nhận lời. Khi đã luyện tập xong, Kinh Kha cùng với Tần Võ Dương lên đường làm sứ giả, lấy cái đầu của Phàn Ô Kỳ để trong hộp gỗ và bản đồ thành Hàm Đan làm lễ vật, toan tính thế nào Tần vương Chính cũng chăm chú nhìn xem, nhân cơ hội ấy mà ám sát.
Rất tiếc là khi đến gần Tần vương Doanh Chính, Kinh Kha sơ hở để lộ chuôi kiếm nên Tần vương nhanh nhẹn chạy quanh cột rồng khiến mấy lần Kinh Kha không thể đâm trúng. Tần vương Chính định rút thanh bảo kiếm Lộc Lư ra đối phó nhưng vì kiếm quá dài, mãi không rút ra được. May sao có một tên hoạn quan là Triệu Cao la lớn:
– Sao Đại vương không xoay vỏ kiếm về phía sau?
Tần vương nghe lời, nhờ vậy mới rút kiếm ra chém chết được Kinh Kha. Hôm sau Tần vương ban thưởng cho quần thần rất hậu, tùy theo vết thương mà lãnh thưởng, riêng Triệu Cao được thưởng 100 cân vàng và từ đó Tần vương Chính rất tin dùng hắn. Khi đã tự xưng Tần Thủy Hoàng đế, Triệu Cao còn được ưu ái thăng làm Thừa tướng nhưng chính hắn là kẻ phản bội khiến cho nước Tần bị suy yếu rồi tiêu vong vào tay Hán Cao tổ Lưu Bang. Vì việc hành thích này Tần vương không kềm được tức giận, lập tức sai hai cha con Vương Tiễn và Vương Bôn mang đại quân tiến đánh nước Yên, lệnh nếu không thắng thì đừng trở về triều.
Đương nhiên quân Yên không thể nào chống lại được, bị quân Tần bao vây kinh thành rất chặt chẽ, Thái tử Đan phải phò Yên vương chạy đến Liêu Đông tránh nạn, bỏ mặc kinh thành cho quân Tần chiếm đóng. Mọi sự tạm yên ổn, Vương Tiễn thấy mình già yếu, hay bị bệnh nên viết thư dâng lên Tần vương, xin được cáo lão về đất phong ở Dĩnh Dương yên hưởng tuổi già. Nhờ vậy quân Tần mới không đuổi theo ngay, Thái tử Đan mới có thời gian lập lại triều đình ở Liêu Đông.
Trong việc từ chức này cũng có một số nghi ngờ xảy ra giữa Vương Tiễn và Tần vương nhưng với chủ trương mềm dẻo, cuối cùng Tần Vương Chính cũng đánh tan được sự nghi ngờ ấy và Tần vương chấp thuận cho ông về hưu dưỡng, sai Lý Tín cầm quân thay thế. Vương Bôn là con của Vương Tiễn, tuổi trẻ như Lý Tín, lại có nhiều kinh nghiệm do thân phụ truyền lại. Thế nhưng khi Tần vương hỏi Vương Tiễn muốn dùng ai thay thế mình trong chức vụ Đại tướng thì ông thẳng thắn tâu:
– Theo thần thì Vương Bôn có đủ tài năng đảm nhận chức vụ này.
Tần vương cười nhạt, hỏi:
– Theo ta thì Lý Tín cũng tài năng không kém. Khanh tiến cử con mình mà bỏ qua người tài khác, như thế có thiên vị lắm không?
Vương Tiễn khôn khéo đáp:
– Đó là ý của thần, còn quyết định là của Đại vương. Đại vương sáng suốt tất sẽ không bổ nhiệm sai lầm.
Rốt cuộc Tần vương cho Lý Tín cầm quân, hạ lệnh tiếp tục đuổi theo giết bằng được cha con Yên vương. Yên vương cầu cứu khắp nơi không được, lại không nỡ giết Thái tử Đan theo yêu cầu của Tần vương nên đành phải cùng triều thần trốn đến Đào Hoa đảo. Thế nhưng quân Tần vẫn không buông tha, cho quân đuổi theo quyết liệt đến Thủ sơn thì bắt kịp, bao vây bốn phía, đồng thời viết thư hạch tội Thái tử Đan, cương quyết cho rằng nếu chưa giết được thì sề chưa dừng binh.
Yên vương bất đắc dĩ phải phục rượu Thái tử Đan đến say mèm rồi thắt cổ giết chết, mang thủ cấp đứa con đến dâng cho Lý Tín. Việc này hết sức đau lòng, oán khí bốc lên tới trời xanh nên có nhiều hiện tượng lạ xảy ra, Tần vương cũng xúc động hạ lệnh cho Lý Tín rút quân về.
Không để cho quân sĩ ngơi nghỉ, Tần vương lại theo hiến kế của Úy Liêu, bắt đầu tấn công nước Ngụy, sai Vương Bôn làm Đại tướng. Nước Ngụy đã cầu cứu nước Tề nhưng chính họ cũng sợ bị Tần trách cứ nên từ chối. Vì vậy Vương Bôn mấy trận đều đại thắng, tiến quân đến bao vây kinh thành Đại Lương. Vương Bôn thừa kế trí mưu của cha, thấy trời mưa to, nước dâng lên rất nhanh liền dùng thủy kế đưa nước tràn vào thành rồi tiến đánh. Sự việc xảy ra bất ngờ đến nỗi Ngụy vương không kịp trở tay, đành bị bắt sống cùng toàn bộ triều thần, giải về Hàm Dương cho Tần vương xét xử. Khi đi giữa đường, Ngụy vương vì quá đau buồn uất ức, bệnh rồi chết.
Thế là Vương Bôn thừa cơ đánh chiếm luôn đất Giã Vương, giáng chức Vệ quân xuống làm thường dân. Đây là chiến công rất lớn của Vương Bôn, mở đầu cho những chiến công lừng lẫy chẳng khác gì cha mình sau này.
Khi tiêu diệt xong Ngụy, Tần vương toan tính tiếp tới việc diệt Sở và Tề, theo ý kiến của Úy Liêu thì hai nước này mất rồi, còn lại những nước nhỏ khác tất sẽ đầu hàng, không cần phải đánh. Thế nhưng nước Sở là một nước rất hùng mạnh, người đông, quân tướng kiêu dũng, cần phải có kế hoạch kỹ lưỡng trước khi tiến binh. Lúc ấy nước Sở cũng đã sửa soạn sẵn sàng, Sở vương là Phụ Sô mời danh tướng Hạng Yên đem 20 vạn quân ra biên giới đào hào đắp lũy chống cự nên việc đánh Sở không phải dễ dàng.
Tần vương cũng không khinh suất, bàn bạc với Úy Liêu xong tự thân đến Dĩnh Dương hỏi ý kiến của Vương Tiễn, trong ý vẫn muốn ông cầm quân đánh Sở thì mới yên tẩm. Lão tướng này liền tâu:
– Thần đầu quân khi mới 16 tuổi, làm tướng khi mới 20, trải qua mấy chục năm chinh chiến, nay đã 80 tuổi, sức yếu trí kém hẳn ngày trước nhiều nhưng nếu Đại vương tin tưởng thì vẫn cố đem hết sức tàn ra báo đáp. Thế nhưng nước Sở rất rộng lớn, quân tướng hùng mạnh, lại có danh tướng Hạng Yên ra sức chống đỡ thì phải cần tới 60 vạn quân mới hy vọng tiêu diệt được họ.
Tần vương giật mình nói:
– 60 vạn quân là toàn bộ số quân trong nước. Nếu xuất toàn bộ quân đội đi, trong nước trống rỗng thì rất nguy hiểm, khanh có thể tính toán lại được không?
Vương Tiễn cứ nhất quyết phải đủ số 60 vạn mới dám xuất quân khiến Tần vương đành phải về triều hỏi ý kiến của Lý Tín. Viên tướng trẻ này sau mấy trận đại thắng, hùng khí lên cao, kiêu ngạo nói:
– Bình định nước Sở cần gì đến số quân nhiều như vậy? Theo thần thì chỉ cần độ 20 vạn quân là thừa sức lắm rồi.
Tần vương cả mừng, nói:
– Thế mà lão tướng Vương Tiễn đòi đến 60 vạn. Ta sẽ giao cho khanh số quân 20 vạn, khi nào chiến thắng thì hãy mở tiệc thật lớn cho Vương Tiễn biết mình đã quả già yếu nhút nhát lắm rồi.
Thế là Tần vương Chính phong cho Lý Tín làm Đại tướng, Mông Vũ làm Phó tướng, dẫn 20 vạn quân tiến đánh nước Sở. Mấy trận đầu quân Tần chiến thắng liên tiếp, chiếm được Bình Dư và Tẩm địa, cả đất Yên đất Sính cũng rơi vào tay quân Tần. Tiếc rằng Lý Tín quá tự phụ, không đợi kết hợp với đoàn quân của Mông Vũ mà cứ thế xua quân tràn lên phía trước. Quân của Lý Tín tiến nhanh như vũ bão, khi gần đến Chân thành thì quân của Hạng Yên cũng đã dàn sẵn đối địch.
Hạng Yên một mặt cho quân dàn trận ở Tây Lăng, một mặt sai Khuất Định mai phục sẵn, vì vậy Lý Tín trúng kế, bị quân Sở đánh cho một trận tan tác. Lần này quân Tần mới nếm mùi đau khổ, chạy suốt ba ngày ba đêm vẫn không sao thoát được sự truy đuổi của quân Sở, chết đến mấy tướng, còn binh sĩ tử thương thì không sao kể xiết. Lúc ấy Mông Vũ chỉ mới tiến quân đến Thành Phụ, nghe tin Lý Tín đại bại cũng không làm gì được, đành phải lui về đất Triệu phòng giữ và phi báo cho Tần vương biết tin xấu. Tần vương vô cùng giận dữ, truyền lệnh tước hết chức vụ và đất phong của Lý Tín, giáng xuống làm thường dân.
Khi ấy Tần vương mới hiểu ra Vương Tiễn quả là người nhiều kinh nghiệm, không những ông đòi hỏi số quân lớn mà còn không hề tin tưởng Lý Tín. Ông tiến cử Vương Bôn là có ý muốn truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu cho con cháu, đồng thời có thể theo dõi để sửa chữa những sai lầm mà thường khi những tướng trẻ cao ngạo hay phạm phải.
Tần vương liền thân đến Dĩnh Dương, nói với Vương Tiễn:
– Ta không nghe lời lão tướng nên nước Tần bị một phen nhục nhã. Ta cũng biết khanh già yếu nhưng có thể giúp ta rửa mối nhục này không?
Vương Tiễn bình tĩnh đáp:
– Như thần đã nói trước kia. Tuy thần đã bát tuần nhưng nếu nước nhà cần tới thì vẫn có thể cố gượng sức tàn mà báo đáp công ơn của Đại vương. Thế nhưng nếu không đủ 60 vạn quân thì thần e rằng khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ khó khăn ấy. Thần cho rằng 60 vạn quân là vừa đủ chiếm được nước Sở, còn nếu muốn giữ thì e rằng phải thêm nữa mới xong.
Tần vương liền lấy xe ngựa của mình, mời Vương Tiễn về triều, lập đại lễ phong cho ông làm Đại tướng, Mông Vũ làm Phó tướng, chỉ huy 60 vạn quân tiến đánh nước Sở lần nữa.
Trước khi xuất binh, Vương Tiễn xin với Tần vương:
– Lần này chắc là lần cuối thần cầm quân ra đi. Thế nhưng trải qua bao nhiêu chiến trận mà gia đình vẫn còn rất khó khăn về kinh tế, sang trọng không bằng ai. Vì vậy nhân cơ hội cuối cùng này, thần cúi xin Đại vương ban cho một số ruộng tốt ở Hàm Dương cùng với một số phủ đệ để gia đình được vinh hiển. Nếu Đại vương chấp thuận thì dù da ngựa bọc thây thần vẫn mỉm cười nơi chín suối.
Tần vương Chính nghe vậy cả cười, đáp:
– Chưa xuất quân mà sao khanh bi quan như vậy? Khi nào chiếm được Sở, nước Tần gồm thâu thiên hạ thì khanh là công thần của Tần, giàu sang phú quý tới cùng cực, lo gì nghèo đói mà phải lo lắng xin trước?
Vương Tiễn cố nằn nì:
– Thần tự biết tuổi đã quá cao, dù Đại vương chiếm được thiên hạ thì thần cũng không làm quan được bao lâu nữa để hưởng giàu sang. Chi bằng lúc này còn sống thì hãy kiếm cho con cháu chút ít đất ruộng, đời đời hưởng ân huệ của Đại vương thì hoàn toàn thỏa mãn, yên tâm lao vào vòng lửa đạn.
Nghe vậy Tần vương đành phải chiều theo. Thế mà khi quân Tần đã đến Hàm Cốc, tức sửa soạn vượt biên giới, một lần nữa Vương Tiễn lại sai người về triều cố xin thêm mấy chỗ đất tốt nữa, rốt cuộc đều được Tần vương ban cho.
Phó tướng Mông Vũ thấy vậy phàn nàn:
– Tướng quân xin mãi như vậy chẳng là quá đáng lắm ư? Một khi thắng trận trở về tất Đại vương còn ban thưởng nhiều gấp bội, chưa có công lao gì mà xin mãi thì tôi sợ rằng Đại vương không hài lòng đấy.
Nhân lúc ấy chỉ có hai người, lại đã quá hiểu nhau nên Vương Tiễn nhỏ giọng thú thực:
– Ông thừa biết Đại vương tính tình rất tàn nhẫn, lại hay đa nghi. Nay bất đắc dĩ phải giao cho ta và ông 60 vạn quân, tức không còn bao nhiêu quân ở bên mình. Nếu như chúng ta đồng lòng phản nghịch thì Đại vương làm sao chống nổi, tất không khỏi băn khoăn nghi ngờ. Ta cốt xin nhiều ruộng đất là để cho Đại vương yên tâm, không còn nghi ngờ nữa đấy thôi. Ta không hề tham lam chút của cải phù hư đó đâu.
Khi ấy Mông Vũ mới hiểu ra, hết lời khen ngợi Vương Tiễn không những mưu trí sâu xa mà còn hiểu biết nhân tình thế thái rất rõ ràng. Cách hành xử của ông từ lúc bắt đầu cầm binh quyền cho đến khi cuối đời càng tỏ rõ “gừng càng già càng cay” là bài học thâm thúy để người đời sau suy nghĩ.
Về mặt nước Sở, khi nghe tin chính Vương Tiễn cầm quân, lại có dưới tay 60 vạn tinh binh, cả Sở vương lẫn triều thần đều phải kinh hoảng. Sở vương không còn cách nào khác là phải sai tướng Cảnh Kỳ chiêu mộ thêm 20 vạn quân đến Đông Cương tiếp trợ cho Hạng Yên.
Thế nhưng khi đại quân của Vương Tiễn đến nơi lại không hề ra trận, cứ đóng quân ở đó. Hạng Yên vô cùng kinh nghi, mấy lần cho quân ra khiêu chiến nhưng Vương Tiễn vẫn án binh bất động khiến ông ta không thể hiểu nổi đối phương đang toan tính gì. Các tướng Sở bàn bạc cùng nhau, sau cùng đều đồng ý có lẽ Vương Tiễn đã quá già yếu nên đâm ra nhút nhát, bất đắc dĩ mới phải theo lệnh cầm quân, hoàn toàn không muốn giao tranh chút nào. Vì vậy việc canh phòng cũng có chút lơi lỏng.
Riêng Vương Tiễn không những cho quân tướng nghỉ ngơi thỏa thích mà còn bày ra những trò chơi như nhảy cao, ném đá, khiêng gạch, rồi phân thắng thua mà ban thưởng. Thật sự Vương Tiễn hoàn toàn không bày chuyện vô ích, những trò chơi ấy vừa có tác dụng cho quân tướng vận động tay chân, rèn luyện sức khỏe vừa nhìn ra được ai dũng cảm, ai khỏe mạnh hay yếu đuối mà ngầm ghi vào sổ rồi biên chế vào các đội khác nhau. Thế nhưng Hạng Yên không hiểu được điều này, đến hơn một năm thì bắt đầu tin rằng các tướng nói đúng, không đốc thúc phòng bị nữa.
Ngay trong thời gian này, Tần vương cũng bị nhiều lời gièm pha, cho rằng nên cách chức của Vương Tiễn. Nhà vua đã tin tưởng Vương Tiễn tuyệt đối, không nghe theo nhưng mật sai người đến hỏi. Vương Tiễn liền đáp:
– Trước kia có danh tướng Nhạc Dương kéo quân đi đánh nước Trung Sơn, ba tháng ròng không hề động binh. Ngụy Văn hầu cũng nhận được vô số tấu thư gièm pha nhưng đọc xong đều cất hết vào hộp gỗ. Đến khi Nhạc Dương thắng trận trở về, Ngụy Văn hầu bèn đưa cái hộp gỗ ấy ra cho Nhạc Dương xem. Nay thần cũng muốn Đại vương làm như Ngụy Văn hầu được chăng?
Tần vương nhận được lời đáp này liền hiểu ra mưu kế của Vương Tiễn, từ đấy trở đi mỗi khi có triều thần dâng tấu đều cười mà xếp vào góc. Đúng thời cơ, Vương Tiễn liền mở tiệc đãi đằng quân tướng rồi hiệu triệu quyết đánh một trận sống còn. Lúc đó quân tướng nước Tần rất khỏe mạnh nhờ nghỉ ngơi lâu ngày, ăn uống đầy đủ nên hăng hái xin liều chết, tranh nhau xin đi đầu. Vương Tiễn liền theo danh sách ghi từ trước, chọn ra 20 vạn quân binh tinh nhuệ nhất, mỗi người có thể chống nổi 10 người làm quân tiên phong.
Hạng Yên không thể ngờ quân Tần lại đột ngột tiến đánh, quân tướng Sở lại không có chuẩn bị hay luyện tập gì nên vừa thấy quân Tần xông lên liền đại loạn, tranh nhau chạy trốn. Ngay trận ra quân đầu tiên, quân Tần đã giết được Khuất Định, còn Hạng Yên và Cảnh Kỳ dẫn tàn quân chạy trối chết. Chủ trương của Vương Tiễn trước sau như một, đó là “tránh mũi nhọn của đối phương, tốc chiến để đạt thắng lợi, truy kích không để đối phương có cơ hội phục hồi sức mạnh” nên lập tức cho quân đuổi theo ráo riết. Đến đất Vĩnh An thì quân Tần đuổi kịp, hai quân lại giao chiến lần nữa nhưng kết quả vẫn không có gì thay đổi: quân Sởđại bại, mất luôn đất Tây Lăng.
Vương Tiễn liền sai Mông Vũ để một số quân đóng lại còn bao nhiêu thì tiến thẳng đến Hồ Nam. Riêng Vương Tiễn thống lãnh đại binh tiến đến Thọ Xuân, bao vây kinh thành. Chưa được bao lâu, Vương Tiễn nghe tin Hạng Yên đã lên sông Hoài chiêu mộ quân sĩ, liền lợi dụng cơ hội ấy đánh thành rất gấp. Cuối cùng quân Sở không sao giữ được thành, Cảnh Kỳ tự đâm cổ mà chết, còn Sở vương Phụ Sô bị Vương Tiễn bắt sống.
Chờ đợi bao nhiêu ngày tháng, vừa nghe tin đại thắng, Tần vương Chính vô cùng mừng rỡ, cùng triều thần đến Phàn Khẩu nhận tù nhân Phụ Sô, truất ông ta xuống làm thứ dân. Đồng thời Tần vương nhân đà thắng, lại sai Vương Tiễn và Mông Vũ tiến đánh luôn Kinh Dương. Khi ấy Hạng Yên mới biết tin kinh thành thất thủ, vội vàng vượt Trường giang chạy trốn, lập Xương Vinh quân làm Sở vương rồi tổ chức phòng thủ ở Ô Lăng.
Thế nhưng chỉ hơn năm sau, Vương Tiễn đóng thuyền xong liền xuất quân tiến đánh. Xương Bình quân, tức Sở vương mới lập đi tuần trên thành bị trúng tên chết nên Hạng Yên chán nản đến mức không còn lòng dạ nào chiến đấu nữa, tự đâm cổ mà chết. Thế là nước Sở bị tiêu diệt, duy nhất chỉ còn lại nước Tề.
Sau đại thắng này, Vương Tiễn được Tần vương ban thưởng ngàn dật vàng, rồi chấp nhận cho ông về Dĩnh Dương hưu dưỡng như trước. Tần vương còn ưu ái phong cho con Vương Tiễn là Vương Bôn làm Đại tướng, sai đi tiêu diệt nước Yên. Quả là “hổ phụ sinh hổ tử”, Vương Bôn không phụ lòng mong đợi của phụ thân và Tần vương, sau khi tiêu diệt nước Yên xong còn thừa thắng đánh luôn nước Tề. Lúc đó nước Tề ỷ lại Tần sẽ không bao giờ đánh mình, vì vậy trở tay không kịp, Vương Bôn lại khôn khéo từ phía bắc đánh xuống chứ không theo phía tây nhưng thường lệ nên đến đâu đều đại thắng, tiến nhanh như chẻ tre, chẳng bao lâu đã bao vây kinh thành Lâm Tri của Tề.
Thế cùng lực kiệt, Tề vương nghe theo lời của Hậu Thắng mở cửa ra đầu hàng. Thế là Vương Bôn không tốn một tên quân cũng đã tiêu diệt được nước Tề, công trạng còn huy hoàng hơn cả Vương Tiễn. Khi ấy là năm thứ 26 của Tần vương Doanh Chính, tất cả 6 nước trong “thất hùng” đều bị tiêu diệt, thống nhất Trung nguyên thành một đất nước duy nhất.
Người minh trí đều biết rằng một khi công thành danh toại thì các công thần cũng khó sống sót, vì thế Vương Tiễn nhất quyết không ra mặt, ẩn cư ở Dĩnh Dương, còn Úy Liêu thì đột ngột đi đâu mất.
Tần vương đã đạt đại công, cũng không nghĩ gì nữa, không truy xét tung tích úy Liêu mà cũng không nhắc gì đến Vương Tiễn, để cho ông sống nhàn nhã cho đến khi 90 tuổi thì mất. Xét theo công trạng thì Vương Tiễn ngang bằng với danh tướng Bạch Khởi ngày trước, cũng được phong tước Võ An quân nhưng mưu trí hơn rất nhiều, hễ không đánh thì thôi, đánh là phải thắng, xứng đáng cho người đời sau ngưỡng mộ.
Ông là vị đại tướng lớn tuổi nhất trong lịch sử, trải qua 4 triều đại nhà Tần vẫn giữ vững được lòng trung thành và được nhiều người tôn trọng. Vương Tiễn mất vào năm 213 trước Công nguyên, tức là chưa tới 5 năm sau thì Thủy Hoàng đế Doanh Chính cũng mất trên đường tuần du, rồi 3 năm sau nhà Tần diệt vong dưới tay Lưu Bang và Hạng Võ.