Vào lúc một giờ mười ba phút sáng hôm sau, cả đoàn chúng tôi bắt đầu đi vào địa phận khu rừng biên giới. Xe vừa đến nơi, Ivan mở cửa để rồi giúp Duy Anh chui ra đầu tiên. Chật vật một lúc, tám người trong đoàn cũng bước xuống được mặt đất. Người ngồi trên chiếc xe đi đằng trước và đằng sau chúng tôi lúc này cũng lục tục bước xuống. Lúc này tôi mới biết, ngoài chúng tôi ra cũng có vài ba người khác đi cùng. Họ đều ngồi trong thùng hàng hệt như chúng tôi. Suốt mấy tiếng ngồi trong tư thế quỳ mọp, hai đầu gối tôi gần như gãy rời. Tội nghiệp nhất là chú Sang và bà Loan. Cả hai đều đã có tuổi, cơn đau nhức từ khớp khiến cho toàn thân gần như khuỵu xuống, may mà có cái Phượng và Đức Hà Nội dìu đi.
Cánh rừng biên giới chào đón tất cả mọi người bằng cái lạnh như muốn cắt da cắt thịt. Gió thổi thốc vào người khiến tôi vội vội vàng vàng kéo cái mũ len sụp xuống qua tai. Nhờ ánh đèn pin trong tay của Ivan, tôi mới có thể dễ dàng quan sát xung quanh. Không giống với những khu rừng ở Nga hay Ukraina rợp bóng bạch dương, khu vực này rậm rạp và âm u hơn nhiều. Chúng tôi đang dừng chân ở một trạm chờ xe bus đã bỏ hoang từ lâu, khắp nơi đều nhuốm màu rêu phong, ẩm mốc. Tôi đưa mắt qua sát những người cùng vượt biên với chúng tôi lần này. Trong số đó có một người phụ nữ độ chừng ba mươi tuổi, hai người đàn ông giống hệt nhau, có lẽ họ là anh em song sinh, và một gã thanh niên trạc tuổi tôi. Nghe qua giọng nói của họ, tôi đoán rằng tất cả đều là người miền Trung và dường như có quen biết với nhau từ trước. Trong lòng tôi thoáng lo lắng, bởi lẽ số lượng người vượt biên càng nhiều thì xác suất thất bại lại càng cao. Đó là chưa kể con đường giáp với Đức và Ba Lan này đặc biệt nguy hiểm. Tôi đưa mắt nhìn mọi người trong đoàn, họ cũng đều cảm thấy lo lắng giống hệt tôi.
Vào lúc đó, bọn Ivan mới bắt đầu đưa ra đề nghị với chúng tôi. Một là cả đoàn sẽ phải tự mình băng rừng để vào Đức, tại đó sẽ có người trong đường dây đưa chúng tôi về nhà. Hai là Ivan sẽ tiếp tục dẫn đường, với điều kiện chúng tôi phải nộp cho anh ta thêm một ngàn năm trăm Euro phụ phí. Vừa nghe xong, tâm trạng ai cũng trĩu nặng. Đã bước tới đường này, nếu muốn quay trở lại cũng không có cách nào. Mà liều mạng đi một mình thì chẳng khác nào tự mình đi vào chỗ chết. Lựa chọn tối ưu lúc này chỉ có thể chấp nhận mất thêm một khoản tiền cho đường dây. Đức Hà Nội nói với những người trong đường dây rằng muốn bàn bạc riêng một lát.
Ivan gật đầu đồng ý, anh ta còn không quên nhắc chúng tôi phải quyết định cho sớm, đôi bên đều không thể nấn ná lâu ở đây. Vì chưa hề tiếp xúc với những người ngồi ở bên xe kia, cho nên vẫn là tám người trong đoàn chúng tôi bàn bạc. Đức Hà Nội nói sơ qua về đề nghị của Ivan cho Jane và Anne nghe. Hai cô gái nhìn nhau lo lắng, nhưng rồi Anne là người quyết định đầu tiên. Cô ấy đồng ý sẽ “thuê” bọn Ivan để dẫn đường. Jane hơi ngần ngại, nhưng cũng gật đầu rất nhanh. Bà Loan thấy vậy bèn nói:
“Hai đứa nó đồng ý rồi đấy, giờ chúng ta thì sao?”
Chú Sang nhổ toẹt nước miếng xuống dưới chân lầm bầm chửi rủa:
“Mả mẹ bọn nó! Sớm không nói, muộn không nói. Đến lúc này mới đặt người ta vào tình thế đã rồi.”
Cái Phượng thở dài buồn bã:
“Có lẽ phải cầu cứu người nhà thôi, chứ đường rừng thế này không có người dẫn đường không được.”
Chỉ riêng Duy Anh mặt vẫn buồn rười rượi. Tôi hiểu ý bèn trấn an thằng bé:
“Thôi! Cứ đồng ý với bọn thằng Ivan đi. Qua đến Đức rồi tính tiếp. Không có tiền ngay thì vay. Cả đoàn đồng ý bỏ tiền mà có một người không chiụ chi thì chưa biết chừng bọn nó sẽ bỏ rơi mày giữa đường đấy.”
Lời động viên của tôi khiến Duy Anh dao động. Nó gật đầu đồng ý, cả đoàn chúng tôi đi đến thống nhất rằng sẽ gom tiền từ Việt Nam gửi sang cho bọn Ivan. Điều khiến tôi bất ngờ nhất là những người kia lại không đồng ý thuê người dẫn đường qua khu rừng này. Quyết định của đoàn người Việt kia khiến bọn Ivan có phần ngạc nhiên, nhưng chúng chỉ nhún vai rồi phẩy tay cho những người kia xuất phát trước. Riêng đoàn tôi sẽ đi sau.
Mọi người ở đoàn kia biến mất vào màn đêm trước mặt. Ivan cẩn thận lấy tiếp một chiếc bản đồ rồi bắt đầu quan sát dưới ánh đèn pin. Có tất cả năm người trong đường dây áp tải chúng tôi tới khu vực này, giờ ba người quay trở về, chỉ còn Ivan và gã người Trung Đông lần trước đi theo. Ivan và gã thì thào nói chuyện rất lâu, tôi nghe loáng thoáng thấy Ivan gọi gã là Apmando. Hai kẻ lái người bàn bạc với nhau xong xuôi, cuối cùng chúng tôi mới bắt đầu lên xe đi tiếp khoảng vài kilomet nữa rồi mới bắt đầu cuốc bộ. Ba chiếc xe ô tô chở chúng tôi đến đây nhanh chóng rời đi trong đêm. Vì khu rừng này đặc biệt nguy hiểm, Ivan cầm một sợi dây, yêu cầu chúng tôi phải giữ thật chắc, không được phép buông tay, trừ những lúc nghỉ chân. Duy Anh bé nhất nên đi đầu tiên, nó thắc mắc:
“Khu rừng này tên là gì hả anh?”
“Có nói mày cũng không hiểu. Nhưng người ta đặt cho nơi này một cái tên rất quỷ dị.”
“Là gì?”
“Khu rừng xương trắng.”
Mọi người khựng lại một chút vì ngạc nhiên. Đức Hà Nội tỏ ra tò mò:
“Sao lại gọi là khu rừng xương trắng?”
Apmando nặng nề trả lời mà không hề quay đầu lại:
“Cánh rừng này có hai biệt danh. Biệt danh đầu tiên là khu rừng xương trắng, những người địa phương gọi thế vì người ta thường xuyên phát hiện những bộ hài cốt rơi vương vãi ở đây. Còn những người vượt biên thì gọi nơi này là bàn tiệc của tử thần, vì rất nhiều người bỏ mạng. Đống hài cốt mà người dân vùng này phát hiện là của người vượt biên chứ ai. Đám người vừa nãy không thuê người dẫn đường... chưa chắc có thể sống nổi...”
Gã Trung Đông nói một tràng sau đó chăm chú nhìn chiếc la bàn dạ quang. Nhắc đến nhóm bốn người kia bất cứ ai trong đoàn cũng cảm thấy kì quặc. Họ đã dồn tiền, dồn sức đi được đến nơi này, vậy mà vào lúc này lại muốn vượt rừng một mình. Chú Sang phỏng đoán, có thể nhóm người đó tìm được đường dây khác nên thay đổi. Đức Hà Nội nghe thấy vậy thì không đồng tình, anh ta cho rằng việc đổi đường dây là một chuyện không thể xảy ra.
Thứ nhất, tiền đặt cọc đã chuyển ngay khi còn ở Việt Nam. Thứ hai, việc liên lạc với người khác, ngoại trừ gia đình tại quê nhà đều rất hạn chế. Khi chấp nhận đi nước ngoài bằng con đường phi pháp, ai cũng mong sẽ tới đích càng nhanh càng tốt. Vậy nên càng phải tuân theo yêu cầu của bọn Ivan mới phải.
Nghĩ tới nghĩ lui chúng tôi cũng không tài nào lý giải được. Apmando đi cuối hàng cằn nhằn, hắn không muốn chúng tôi nói chuyện, vì sợ người khác nghe thấy.
Mọi người lặng lẽ đi trong màn sương mù dày đặc. Chiếc đồng hồ trên tay báo hiệu cho tôi biết ngoài trời lúc này chỉ còn ba độ. Sương mù ngấm vào da càng khiến cho cái lạnh ngấm sâu vào người. Mới vào đầu mùa đông thôi mà đã lạnh thế này, không biết vài tuần nữa thời tiết sẽ khắc nghiệt đến mức độ nào.
Chúng tôi cứ đi mãi, đi mãi, hệt như một đoàn cô hồn dò dẫm trong cõi u minh. Phải tận đến bốn giờ sáng, Ivan mới ngoái lại thông báo.
“Nửa giờ đồng hồ nữa là sẽ đến một chỗ nghỉ rồi. Đi nhanh lên.”
Biết sắp được nghỉ ngơi, tinh thần của mọi người trở nên phấn chấn hẳn. Tôi ngước mặt lên trời, không biết do cây rừng dày đặc, hay do trời sáng muộn mà không gian bây giờ vẫn còn tối như hũ nút. Bà Loan đi đằng trước tôi gọi nhỏ.
“Lam! Lam ơi.”
“Sao đấy hả cô?”
“Mày có để ý nơi này có gì lạ không?”
Tôi nhìn xung quanh rồi trả lời thành thật.
“Có gì lạ hả cô? Cháu không biết.”
“Nơi này... không thấy có một tiếng chim tiếng thú nào. Mày không thấy lạ à?”
Vừa nghe đến đó tôi giật nảy mình. Quả thực không gian ở nơi đây im ắng đến không ngờ. Trong mấy khu rừng ở Nga hay Ukraina thỉnh thoảng còn nghe thấy tiếng cú mèo rúc lên thật thê lương, thì nơi này hoàn toàn vắng lặng. Tôi tỏ ra thật bình tĩnh:
“Cháu nghĩ là... trời lạnh như thế này...chim chóc hay thú rừng chuẩn bị đi ngủ đông rồi. Mình không nghe thấy cũng phải.”
Người đàn bà phía trước tôi không nói gì thêm. Chúng tôi lại tiếp tục di chuyển, mặc dù đôi bàn chân và đầu gối đều đã mỏi nhừ. Cảm giác rệu rã là thứ khiến cho người ta nản lòng nhiều nhất. Cả đoàn lúc này giống như một đàn kiến, chỉ bò loanh quanh bên miệng một hũ mật, mãi mãi chẳng bao giờ có được thứ mình mong muốn. Bầu trời vời vợi ở trên cao, dưới đất là con đường dài đằng đẵng, chẳng hề có điểm dừng.
Khi đoàn chúng tôi đến nơi nghỉ thì trời cũng vừa tảng sáng. Đồng hồ hiển thị sáu giờ, vậy mà nhiệt độ cũng chẳng ấm hơn lúc trước là bao. Mọi người nhìn trạm dừng chân mà tần ngần. Những lần trước ít nhiều chúng tôi còn được ngủ nghỉ trong một gian nhà kho dựng tạm bằng mấy tấm tôn chắp vá. Còn bây giờ, nơi nghỉ chân giữa rừng chỉ là một miếng bạt mỏng dính phủ lên ba thân gỗ khẳng khiu. Lớp bạt đã bạc phếch vì mưa gió, ngồi ở dưới này hay ngồi ở ngoài trời chẳng khác nhau là bao. Lúc này Apmando mới rút từ trong ba lô ra phát cho cả đoàn hai chiếc ô màu đen. Ivan thấy vậy thì bảo:
“Cầm lấy cái này mà che rồi ngủ đi. Chiều nay lại tiếp tục lên đường.”
Bà Loan thắc mắc:
“Chiều đã lên đường rồi à? Không đợi tối hẳn mới đi như mọi lần hay sao?”
Ivan lắc đầu.
“Rừng này trời càng tối càng khó đi. Lộ trình lần này sẽ phải vượt qua một con dốc rất hiểm trở. Không thể mạo hiểm đi vào buổi tối được.”
Chú Sang và bà Loan đưa mắt nhìn nhau. Mọi người cố gắng nhai chiếc bánh mì rệu rã trong tay, rồi chia nhau từng ngụm nước. Không ai muốn khuấy động vào nỗi lo sợ lảng vảng trong đoàn. Ăn xong, chúng tôi lập tức ngủ ngay. Cảnh màn trời chiếu đất như thế này tôi vốn đã quen, thế nên vừa đặt lưng xuống là đã có thể tóm được một giấc ngủ.
Trước khi vào giấc, tôi còn nghe thấy cái Phượng và Duy Anh bàn tán với nhau về chặng đường sắp tới. Tôi không muốn nghe, chính xác hơn là không dám ngheBởi tôi biết rằng, giờ có lo lắng cũng chẳng giải quyết được điều gì. Tôi vùi mặt vào trong chiếc khăn len màu đỏ, mặc kệ sương gió vẫn đang gào thét bên tai. Một cơn mơ len lén bước vào trong tiềm thức. Tôi lại nhìn thấy bà ngoại đứng đợi tôi trên bãi cát dài bên bờ biển. Ánh hoàng hôn màu máu phản chiếu lại khiến cho hình bóng của bà lúc thực lúc hư. Vừa nhìn thấy tôi, bà ngoại nở một nụ cười buồn bã rồi quay lưng bước xuống biển. Tôi ngơ ngác nhìn theo, chưa kịp hiểu gì thì bà ngoại đã biến mất. Ánh nắng mặt trời rọi vào mắt khiến tôi bừng tỉnh. Trời lúc này đã quá trưa, mọi người chưa có ai thức giấc, ngoại trừ Apmando vẫn phì phèo điếu thuốc lá.
Khẽ xoay lưng lại về hướng khác, đầu óc tôi vẫn trôi theo giấc chiêm bao vừa rồi. Nghĩ vẩn vơ một lát, tôi tự nhủ rằng phải thật cố gắng để tới được Đức, sau đó gọi điện thoại về Việt Nam để gặp bà ngoại. Mấy tháng nay không được nghe giọng nói của bà, lúc nào tôi cũng cảm thấy bất an.
Ngay buổi chiều hôm ấy chúng tôi xuất phát sớm như đã định. Đồng hồ mới điểm ba giờ mà trời đã tắt nắng, trả lại cho khu rừng dáng vẻ âm u vốn có. Càng đi sâu vào bên trong, địa hình càng dốc. Để có thể đi lại vững vàng, mỗi người phải dùng những cành cây chắc chắn để làm chiếc gậy. Nhìn qua như chiếc gậy tầm vông mà bộ đội ta vẫn thường dùng ngày trước. Sợi dây hôm qua không còn tác dụng, mỗi người phải tự lo thân. Lúc trời chạng vạng, Jane và Anne xì xào với nhau chuyện gì đó, chốc chốc cả hai lại ngoái lại phía sau. Điều đó khiến Apmando và Ivan đặc biệt chú ý. Anh ta bước lùi lại để hỏi hai người kia. Cả bốn người nói chuyện với nhau, làm nhóm người Việt chúng tôi ngờ ngợ sắp có chuyện không hay. Khi Ivan trở lại vị trí dẫn đầu, chú Sang hỏi nhỏ:
“Sao thế? Có chuyện gì thế?”
Anh ta lặng thinh, chỉ tiếp tục bước đi. Chừng năm phút sau, cả đoàn ồ lên khi nhìn thấy bức tường đá xuất hiện trước mặt. Chúng tôi chuẩn bị vượt qua một con dốc gần như dựng đứng. Như thể đã quá quen với địa hình ở nơi này, Ivan cất chiếc la bàn vào trong túi áo, nhanh nhẹn trèo lên một thân cây to lớn nằm dưới đất, rồi đặt chân lên một mỏm đá nhô ra trên bức tường. Thấy chúng tôi ngây người nhìn theo, Apmando giục:
“Còn nhìn theo làm cái gì nữa? Leo đi.”
Không chờ nói đến câu thứ hai, chúng tôi nhanh chóng vứt mấy chiếc gậy sang một bên, cố gắng bám theo người dẫn đường ở phía trước. Tôi nhận thấy, cứ cách một sải tay là lại có một mỏm đá lô nhô để đặt chân. Những người trẻ tuổi leo lên trước, hai người già cả đi phía sau. Khoảng cách của bức tường đá không cao nhưng đặc biệt hiểm trở. Chỉ cần một giây bất cẩn thôi là sẽ lĩnh đủ hậu quả. Lúc chúng tôi còn đang đu mình giữa tường thì Ivan đã leo thành công, anh ta cúi người xuống thúc giục cả đoàn. Đức Hà Nội và Duy Anh chạm đích, cả hai người giơ tay để đỡ tôi và cái Phượng đi sau. Tiếp theo là Jane và Anne. Trên bờ đá bây giờ chỉ còn bà Loan và chú Sang. Dù đứng xa khoảng vài mét, tôi vẫn có thể cảm thấy cả hai đều đang run cầm cập. Tôi nằm rạp xuống đất, nhỏ giọng động viên:
“Cố lên! Cố lên! Sắp tới nơi rồi cô chú ơi.”
Bà Loan run run bám vào bức tường, móng tay bị mỏm đá nhọn hoắt làm bật máu. Nước mắt bà ứa ra, bà run giọng:
“Nếu.... nếu tôi... tôi có chết ở đây thì nhờ ông Sang nhớ ngày giỗ tôi nhé.”
Chú Sang bò ngay đằng sau, vừa nghe “di ngôn” của bà Loan đã tức giận.
“Đừng có nói gở mồm. Bà mà chết bây giờ là tôi cũng không toàn thây.”
Máu từ hai đầu móng tay của bà vẫn túa ra không ngừng. Có vẻ như bà Loan không còn trụ vững được bao lâu. Nước mắt tôi nhòe nhoẹt, quay sang cầu cứu Ivan.
“Làm thế nào bây giờ?”
Ivan vứt phịch chiếc ba lô xuống đất, lấy một đầu chiếc dây thừng buộc vào thân cây gần đó, đầu còn lại thả xuống vào đúng tầm với của bà Loan. Đức Hà Nội hiểu ý nói với theo:
“Bám vào sợi dây thừng đi cô Loan. Bọn cháu kéo lên.”
Hệt như người chết vớ được cọc, bà Loan bám lấy sợi dây bằng cả hai tay. Chúng tôi lập tức chạy lại nắm chặt vào sợi dây thừng để kéo người ở đầu còn lại lên. Đức Hà Nội bắt nhịp:
“Hai... ba... kéo!!!”
Sợi dây nặng trịch từ từ di chuyển. Chừng mười giây sau, bàn tay của bà Loan chạm được vào mép tường rồi lồm cồm bò lên. Jane vội vã chạy lại để đỡ bà dậy. Nối tiếp là chú Sang và Apmando cũng thuận lợi vượt qua vách núi. Chúng tôi ngồi thở hồng hộc. Không biết vì đau đớn hay vui mừng mà bà Loan vừa khóc vừa cảm ơn Ivan cùng với mọi người. Thế nhưng, anh ta lại lạnh lùng gạt đi.
“Giờ không phải là lúc nói chuyện đó. Đi thôi.”
Hai tiếng đồng hồ nữa tiếp tục trôi qua, cả đoàn chúng tôi đã đi được tới một tán cây có vũng nước đọng rất lớn. Ivan giơ tay ra hiệu cho mọi người dừng lại.
“Dừng chân đi. Đêm nay chúng ta sẽ ngủ ở đây.”
Đức Hà Nội tò mò:
“Nghỉ sớm thế. Còn mấy tiếng nữa trời mới sáng cơ mà.”
Apmando nạt ngang:
“Bảo chúng mày nghỉ thì cứ nghỉ đi. Trời này chuẩn bị có tuyết đấy.”
Apmando soi đèn pin để cho chúng tôi nhìn thấy trên mấy vạt cỏ giờ này đã bắt đầu có lớp băng trắng li ti đọng lại. Khung cảnh lãng mạn ấy chẳng khiến ai trầm trồ, mà chỉ khiến cho cả đoàn nhìn nhau sợ hãi. Vậy là nỗi lo lắng lớn nhất của chúng tôi cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực. Tôi ngồi phịch xuống dưới gốc cây, cố gắng kéo sụp cái mũ xuống quá tai để ngăn gió thấm vào đầu. Không khí lạnh ở châu Âu rất tai quái, nó không lạnh ẩm như mùa đông tại Việt Nam, mà từng cơn rét giống như những mảnh thủy tinh sắc lẻm, cứa vào da thịt người ta, rồi thấm vào trong nội tạng.
Lúc này, cái Phượng đang giúp bà Loan băng bó lại vết thương ở tay. Móng ở hai ngón tay bật ra hết cả, máu chảy thành dòng xuống ống tay áo, nhìn cảnh đấy, tôi vội vàng quay mặt đi.
Ivan rút trong túi ra một bao thuốc lá, định đưa lên miệng nhưng rồi lại thôi. Chú Sang tưởng anh ta hết thuốc nên ngỏ ý mời.
“Không hút nữa à?”
Ivan lắc đầu từ chối.
“Đừng ai hút thuốc nữa. Có vẻ như có ai đó đang bám theo chúng ta.”
Câu nói ấy khiến cả đoàn điếng người. Chú Sang vội vàng đi đầu thuốc xuống dưới chân. Apmando nhanh chóng đứng dậy, giữ chắc khẩu súng trong tay, cặp mắt đeo kính ban đêm nhìn về bốn phía. Giây phút căng thẳng trôi qua, Ivan hơi cau mày.
“Lúc chưa vượt bức tường đá, tôi có nghe thấy có tiếng bước chân người ở đằng xa. Ngay cả hai con bé kia cũng nghe thấy. Giờ thì chẳng thấy gì lạ. Quái lạ thật.”
“Có khi nào tiếng động ấy do bọn thú rừng không anh?” Duy Anh phỏng đoán.
“Sai bét! Bước chân người khác với chân thú. Không thể nào nhầm được.” Apmando sẵng giọng.
Nửa đêm về sáng chúng tôi đi nghỉ trong sự thấp thỏm. Nỗi căng thẳng của tôi không chỉ dừng lại ở việc nghi ngờ có người bám theo, mà phần lớn nằm ở trận tuyết sắp đổ tới. Nhiệt độ hiện tại đang là 1 độ C, tôi tự ru mình ngủ để lấy sức, cố gắng không để ý tới làn da và đôi môi của mình càng ngày càng nứt toác vì hanh khô.
* * * * *
Lịch trình ngày hôm sau của chúng tôi cũng giống hệt như hôm trước. Ngoại trừ việc tốc độ di chuyển chậm hơn hẳn mọi khi thì không có gì đặc biệt. Ivan và Apmando thay đổi vị trí cho nhau. Bây giờ người dẫn đường lại là gã Trung Đông khó tính, còn Ivan thì đi cuối cùng. Tôi để ý anh ta chốc chốc lại ngoái đầu về phía sau, như để nghe ngóng động tĩnh. Trước khi khởi hành, Đức Hà Nội đã thì thầm với cả đoàn, giả như cả đoàn bị phục kích thì chúng tôi phải bám vào nhau mà chạy. Tuyệt đối không cần phải suy xét xem đối phương là cảnh sát hay cướp giữa đường. Những người trong đường dây đã nói ngay từ đầu, nếu như chúng tôi bị bắt tuyệt đối không được phép đả động đến bọn chúng. Điều đó có nghĩa là khi xảy ra chuyện, bọn họ sẽ bỏ rơi chúng tôi.
Từ lúc khởi hành tại Nga cho đến giờ, việc xuất hành của cả đoàn không thể nói là suôn sẻ, nhưng ít ra chúng tôi vẫn còn giữ được mạng. Vậy thì chẳng có lý gì khiến cả đoàn phải vì một vài cá nhân khác mà tự đặt mình vào thế nguy hiểm, kể cả Ivan.
Sự thật này thực khó chấp nhận, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác. Tôi vẫn giữ trong người mình hai con dao kể từ hôm băng qua Cổng Địa Ngục, lại thêm việc có sẵn tiền phòng thân khiến tôi cảm thấy an tâm hơn rất nhiều.
Tâm trạng hồi hộp có kẻ bám theo mình có vẻ như chẳng thể nào so sánh được với cái bụng đói đang réo lên từng hồi. Lúc trước còn được ăn mì nóng hổi, giờ chỉ còn miếng bánh mì cứng hơn đá. Nguồn nước cũng dần vơi cạn. May mà đêm hôm qua ngủ ở gần một vũng nước đọng, chúng tôi đã tranh thủ lấy được ít nước sạch cho vào chai nước dắt bên hông. Dẫu là thế cũng không xoa dịu được cơn đói cồn cào. Không ai dám hỏi Ivan hay Apmando về thức ăn. Bởi lẽ chúng tôi đều biết rằng, bọn họ cũng đang phải chịu đựng cảm giác cơn đói giày vò. Thế là cả đoàn lại cắn răng lầm lũi bước đi. Tối hôm đó, bánh mì đã hết sạch. Tôi được một nhúm bánh, chưa kịp nhai thì thứ bột nhàn nhạt đã tan trong miệng. Để khỏa lấp dạ dày, tôi đưa chai nước lên miệng, uống thành hai ngụm nhỏ.
Chú Sang đi vòng xung quanh để xem xét có bất cứ thứ gì khả dĩ để nhét vào miệng. Bao năm hành nghề vận tải lái xe trên tuyến đường Bắc Nam, kinh nghiệm sinh tồn của chú phong phú hơn người. Thế mà khi trở về, chú lắc đầu thất vọng.
“Tìm hết rồi. Đất ở đây cứng lắm. Cây cối thì toàn cổ thụ, chẳng có bất cứ thứ gì. Tôi có nhìn thấy vài khóm nấm màu đỏ mọc dưới thân cây, nhưng mà chẳng biết có ăn được không. Nhỡ đâu là nấm dại thì khổ.”
Cái Phượng nghe đến đó thì thở dài thất vọng. Đột nhiên ánh mắt con bé sáng lên, nó vội nói:
“Thế còn chuột thì sao hả chú? Cháu thấy mấy người đi rừng kể lại họ hay bắt chuột để ăn.”
“Cũng không có đâu. Trời rét run như này, rắn rết chuột bọ rủ nhau đi ngủ đông hết cả. Nếu tìm thấy hang của bọn nó cũng chưa chắc đã bắt được. Chúng nó rúc sâu lắm.”
Ivan nghe chúng tôi nói chuyện thì an ủi. Theo như lời anh ta khẳng định thì chỉ vài ngày đường nữa là chúng tôi sẽ đến triền núi để vào Đức. Vào đến địa phận của nước này, tức là bắt đầu có sóng điện thoại, anh ta sẽ thay sim để có thể gọi điện cho người trong đường dây đến đón. Chỉ cần đợi đến lúc đó, tình hình sẽ khả quan hơn. Tôi nghe mà cười khổ trong lòng. Sợ rằng chưa đến được nơi đó, chúng tôi đã bỏ mạng ở khu rừng này rồi.
Cơn đói làm cho dạ dày của tôi bắt đầu đau thắt, nhưng cũng vì thế mà ý chí sinh tồn trong lòng tôi bừng lên kinh ngạc. Tôi đứng phắt dậy, lấy con dao trong túi rồi bắt đầu đẽo gọt lớp vỏ ngoài thân cây. Mọi người trong đoàn trố mắt nhìn theo. Vài phút trôi qua, lớp vỏ cây trong vạt áo tôi càng lúc càng nhiều. Tôi mang về chìa ra trước mặt Duy Anh và cái Phượng. Thằng nhóc ngây ra nhìn.
“Chị ơi! Cái này ăn được không?”
“Ăn được! Ở cây có tiết ra nhựa, bên trong còn cả côn trùng nữa thì chắc chắn không có độc đâu.”
Duy Anh rón rén lấy một miếng rất bé rồi đưa lên mũi ngửi. Tôi đánh liều cắn một miếng vỏ cây. Mùi vị chẳng có gì đặc biệt ngoài lớp rêu bám bên ngoài dai nhách. Ban đầu chỉ có tôi và Duy Anh miễn cưỡng ăn. Sau đó, mọi người dần dần chia nhau, ít ra còn đỡ hơn là để bụng trống rỗng đi ngủ.
* * * * *
Ngày hôm sau tình hình càng trở lên bi đát. Gió lạnh vừa dịu đi chưa được bao lâu thì tuyết bắt đầu xuất hiện. Những bông tuyết rơi lác đác trong khu rừng vắng vẻ khiến cho khung cảnh nơi đây đẹp đẽ và hiu quạnh. Tôi ngẩn ngơ ngước lên bầu trời. Vậy là mong ước từ ngày bé của tôi cuối cùng cũng trở thành sự thật. Chỉ có điều, tôi không ngắm tuyết qua ô cửa sổ với tách trà nóng hổi, mà bằng cái bụng đói meo. Làn gió buốt óc xoáy tận vào thái dương kéo tôi trở về với thực tại. Toàn thân đau ê ẩm, gót chân phồng rộp vì đi lại quá nhiều. Trước mặt vẫn còn nửa chặng đường, sau lưng là một món nợ khổng lồ tại quê nhà. Cảnh đẹp của trời tuyết lúc này chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tiếng thở dài não nề của tôi vang lên, khiến cái Phượng tò mò hỏi:
“Mày làm sao thế Lam?”
“Không có gì. Tao chỉ đang nghĩ giờ này ở nhà trời cũng lạnh rồi.” Tôi nói dối.
Cái Phượng lại quay đi mà chẳng nói thêm nửa lời. Tất cả chúng tôi đã thống nhất rằng không được chủ động nhắc tới gia đình. Điều đó chẳng khác nào làm cho tâm trạng của mọi người trĩu nặng. Cuối buổi chiều, Ivan quyết định phá lệ, cho phép chúng tôi đốt củi để sưởi ấm. Khỏi phải nói, điều ấy khiến mọi người vui mừng đến cỡ nào. Duy Anh và cái Phượng đi kiếm củi, còn tôi thì có nhiệm vụ dùng dao để róc lấy vỏ cây. Ăn mãi thứ nay rồi cũng quen, thậm chí đến giờ này tôi còn có thể tích lũy kinh nghiệm để lựa chọn phần vỏ chỗ nào là ngon nhất. Mỗi một lần ăn xong, mọi người lại chia nhau vài viên thuốc chống tiêu chảy. Bị ngộ độc ở giữa rừng, chẳng khác nào nhận án tử.
Trời đã tối nhưng cả đoàn vẫn không lên đường. Ivan ngồi dựa vào thân cây để tranh thủ chợp mắt, riêng Apmando vẫn sẵn sàng khẩu súng ở trên tay. Thấp thoáng bên hông quần của anh ta, tôi còn nhìn thấy hai con dao găm sắc lẻm. Chờ mãi bọn Duy Anh cũng về tới nơi, mang theo hai ôm củi nho nhỏ. Phượng khoe với chúng tôi vài cây nấm màu nâu nhìn rất xấu xí. Tôi và Đức Hà Nội lãnh nhiệm vụ nhóm bếp. Mấy thanh củi ướt bốc khói um tùm làm nước mắt tôi chảy ra giàn giụa.
Sau một hồi chật vật, củi cũng bắt lửa và bắt đầu cháy, tạo ra những âm thanh tí tách nghe thật vui tai. Nhìn mấy cây nấm cái Phượng mang về, tôi không dám chắc có thể ăn được hay không. Cuối cùng chú Sang quyết định vất đống nấm ấy sang một bên. Giữa nơi rừng thiêng nước độc thế này, không một ai dám liều lĩnh với tính mạng của mình.
Ngọn lửa vàng vàng đỏ đỏ tỏa ra hơi nóng đem đến sự dễ chịu cho mọi người. Tôi tranh thủ hong đôi giày vốn bị ướt bấy lâu nay. Cũng may đôi giày này phủ một lớp chống thấm nước, bằng không thì chân tôi đã đóng băng từ bao giờ. Ngồi sưởi được một lúc, Ivan yêu cầu tắt lửa rồi mới đi ngủ. Chú Sang gật đầu làm theo mà không hề thắc mắc. Tôi nằm xuống cạnh đống tro tàn âm ỉ, lim dim mắt nghĩ ngợi về những ngày sắp tới. Cơn buồn ngủ lại đến như đã hẹn. Lúc tôi đang mơ màng thì bất ngờ có một ai đó thét lên. Tôi mở mắt nhưng vẫn chưa tỉnh táo hẳn. Có ai đó chửi rủa bằng tiếng Nga, sau đó là tiếng bước chân chạy nặng nề.
“Lam! Lam! Dậy đi! Có chuyện rồi.” Ai đó gọi tên tôi khe khẽ.
Tôi lập tức ngồi dậy, miệng ú ớ:
“Cái gì thế?”
Bà Loan dí sát ngón tay trỏ vào mặt, tỏ ý bảo tôi im lặng. Giọng Đức Hà Nội trôi bên tai:
“Có trộm! Bỏ mẹ nhà nó!”
Cơn điếng người làm cho tôi tỉnh táo tức thì. Tôi vơ vội lấy cái ba lô đang gối đầu, rồi thọc tay vào túi áo để tìm con dao bấm. Tứ phía tối om, không một ai có thể nhìn thấy bất cứ thứ gì, chỉ có tiếng bước chân đạp lên đống củi khô nghe rào rạo. Tiếng đấm đá vang lên liên tiếp, tiếng một đứa con gái khóc nức nở, rồi ngay sau đó là tiếng nôn thốc nôn tháo. Ivan gọi đồng bọn bằng tiếng Nga, Apmando đáp lại cộc lốc. Dù rằng chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng mọi người đều biết rằng thế sự đã được khống chế. Ivan nói nhỏ với Đức Hà Nội:
“Này! Đi theo tao.”
Đức Hà Nội miễn cưỡng nghe theo. Tôi vẫn cầm chắc con dao, không dám lơi lỏng chờ mấy người kia về. Cái Phượng run giọng:
“Không biết vừa nãy có chuyện gì!”
“Nhanh quá! Tao cũng không kịp hiểu.”
Vừa mới nói chuyện đến đó thì bọn Ivan đã trở về. Tiếng bước chân báo hiệu cho tôi biết, ba người họ không trở về một mình, mà về cùng với vài người khác. Ivan ngồi phịch xuống tảng đá bằng phẳng, đối diện là mấy người đang nửa đứng nửa quỳ dưới đất. Ánh đèn pin loang loáng chiếu vào làm cho cả đoàn chúng tôi nhận ra đó không phải ai xa lạ, mà chính là nhóm người lần trước đã quyết định đi một mình. Ivan thụi thật mạnh vào ba người kia, bắt tất cả phải quỳ xuống đất. Giọng anh ta lạnh lùng:
“Chúng mày đi theo bọn tao à?”
Hai người thanh niên trong nhóm len lén nhìn cô gái, rồi lắc đầu quầy quậy.
“Không! Không phải! Chỉ là tình cờ... là tình cờ thôi.”
“Bọn em không hề theo các anh.”
“Em xin thề...”
Ivan cười lạnh:
“Trùng hợp thế à? Bạt rừng này rộng hàng trăm mẫu, vậy mà lại gặp nhau kể cũng tài. Chúng mày thích nói dối hay thích bị cắt lưỡi?”
Ba người trong nhóm tế như tế sao. Cô gái nước mắt phân trần:
“Bọn em... có đi theo các anh. Em xin lỗi... xin lỗi... Bọn... bọn em xin trả tiền anh đầy đủ. Anh cho bọn em theo.”
Apmando tát một cái thật mạnh vào mặt cô gái làm cho cô mất thăng bằng ngã dúi xuống đất. Gã cố kìm giọng:
“Bảo chúng mày đóng thêm tiền chúng mày không nghe. Rồi chúng mày âm thầm bám theo. Vậy ra, bọn tao bán mạng để làm không công cho chúng mày à?”
Cô gái kia ói ra một ngụm máu ngay dưới chân. Người thanh niên đứng bên cạnh cô vái lấy vái để:
“Các anh tha cho chúng em. Bọn em xin đóng cho các anh thêm một ngàn năm trăm Euro ạ. Bọn em xin các anh...”
Ivan cười:
“Ai nói với mày là một ngàn năm trăm? Ba ngàn một đứa. Đồng ý thì đi, không đồng ý thì....”
Chúng tôi trợn tròn mắt nhìn nhau. Số tiền công đã gấp đôi lần trước. Cả ba người nhìn nhau rồi vội vã gật đầu. Ivan lại hỏi tiếp:
“Lần trước là bốn đứa cơ mà. Một thằng nữa đâu?”
Apmando nhanh nhẩu:
“Bọn này đi theo đoàn mình, sau đó đêm đến định lẻn gần để ăn cắp hành lý. Một thằng trong số đó vô tình nhặt được mấy cây nấm bọn kia vất đi, chắc là đói quá nên đưa lên miệng ăn. Đi được mấy bước thì hoa mắt chóng mặt, gục xuống rồi.”
Như để tăng thêm phần sinh động cho câu chuyện của mình, gã chiếu đèn về góc một giờ. Chúng tôi ngóng cổ nhìn theo, ở hướng ấy có một người đang nằm im bất động, không rõ còn sống hay đã chết.
Ivan hất hàm với Đức Hà Nội.
“Mày ra lôi nó về đây tao xem.”
Người thanh niên nhanh chóng làm theo. Tôi thấy anh ta nắm lấy tay người kia kéo xềnh xệch về, đặt xuống trước mặt chúng tôi. Hai chiếc đèn pin lập tức rọi xuống. Tôi kinh hoàng nhận ra.
Người này đã chết.
Mắt trợn ngược chỉ toàn là lòng trắng. Quanh khóe miệng sùi lên từng lớp bọt trắng xóa. Miệng há hốc, bên trong có một cây nấm cắn dở thò ra. Cái Phượng vội vàng quay về phía sau nôn khan vài tiếng. Duy Anh run lên bần bật.
“May... may mà chúng mình không ăn.”
Chú Sang cúi xuống vuốt mắt cho người quá cố. Ivan trừng mắt hăm dọa.
“Nhìn thấy kết quả của việc coi thường bọn này chưa? Mấy người đàng hoàng, sòng phẳng thì bọn này cũng sẵn sàng dẫn đường đến tận nơi. Chỉ cần ăn quỵt một đồng thôi, thì cứ nhìn vào cái gương trước mắt.”
Jane và Anne bắt đầu khóc sụt sịt. Mọi người nhìn nhau không đáp.
Một đêm kinh hoàng lại trôi qua. Phải đến khi trời bắt đầu sáng thì tôi mới có thể nhận ra người chết đêm qua là người đàn ông lớn tuổi lần trước đã gặp. Ba người sống sót còn lại là hai anh em sinh đôi và cô gái trẻ. Gương mặt của cô bị Apmando đánh đêm qua nay đã sưng vù. Cả ba đều cúi gằm mặt xuống, ngồi tách biệt với mọi người trong đoàn.
Sáng nay có vẻ như may mắn hơn hôm qua. Đức Hà Nội tìm nhặt được một con dơi nằm chết trên tuyết nên đem về. Tôi chưa làm thịt dơi bao giờ nên tỏ ý ngần ngại. Bà Loan lắc đầu ái ngại.
“Hay là thôi đi. Trong dơi cũng có virus bệnh dại, ngộ nhỡ ăn vào rồi lên cơn lại khổ.”
Ivan nghe vậy thì nhún vai tỏ vẻ không quan tâm. Mọi người ngần ngại phần vì tiếc rẻ, phần vì lo bị ngộ độc. Jane và Anne thì khác, cả hai vừa nói vừa ra hiệu cho Đức Hà Nội hiểu rằng, bọn họ có thể làm được món thịt này. Tôi vui vẻ đưa con dơi nhỏ xíu cho Anne. Cô nàng này kể như cũng tháo vát, xoay xở tìm được một lon nước ngọt đã rỗng. Jane nhanh nhẹn làm thịt, còn Anne chế thành một cái nồi con con đặt lên trên bếp lửa. Rất nhanh chóng, món canh dơi được hầm chín.
Gọi là canh dơi, nhưng thực chất chỉ là món dơi luộc lõng bõng nước, chẳng hề có chút gia vị nào. Vì chỉ có duy nhất một cái nồi tự chế nên chúng tôi thay phiên nhau uống. Không hiểu món canh có vị gì mà ai nấy uống xong đều nhăn nhó mặt mày. Đến lượt tôi dùng thử, một cảm giác tanh nồng tràn vào khoang miệng, xộc xuống thẳng vòm họng. Tôi vội vàng bụm miệng chạy như bay ra gốc cây trước mặt để nôn ra gần hết. Khi quay trở lại, tôi ra hiệu tỏ ý xin lỗi Jane và Anne. Cả hai nhìn mọi người không quen ăn với ánh mắt ái ngại. Tôi sực nhớ đến ba người kia vẫn ngồi một góc, bèn gọi họ đến ăn cùng.
Chẳng biết vì quá đói hay không dám làm phật lòng người nấu, mà cả ba đều ăn có vẻ rất ngon lành. Cũng nhờ họ mà chúng tôi mới biết, thì ra người bày ra quỷ kế quỵt tiền dẫn đường của bọn Ivan là người đàn ông đã chết ở kia. Ông ta nói rằng chỉ cần bám theo chúng tôi là có thể vượt qua rừng biên giới để tiến vào Đức. Sau đó gọi cho người trong đường dây tới là xong. Ba người kia đều còn trẻ, kinh nghiệm sống chưa nhiều, nghe thấy có thể tiết kiệm được tiền liền đồng ý ngay tức lự. Nhóm bốn người phải mất mấy ngày mới có thể bắt kịp được chúng tôi.
Đến lúc này thì chú Sang nhớ ra, thảo nào mà mấy ngày hôm trước Jane và Anne nghe thấy tiếng động phía sau lưng chúng tôi. Thì ra là Ivan đã có sự nghi ngờ từ trước. Tôi liếc trộm người đàn ông ngồi đối diện, bình thường anh ta không phải là kẻ thích gây sự, nhưng đến lúc hành xử thì lạnh lùng đến tàn nhẫn. Nghĩ đi nghĩ lại cũng không thể trách được Ivan, làm cái nghề lái người này, kị nhất là để khách hàng qua mặt. Có trách, chỉ có thể trách người đã chết kia thôi.
Tuyết bắt đầu rơi nhiều hơn vào buổi trưa. Không khí u tái đến nỗi tôi nghĩ rằng mình sẽ chết cóng trong rừng. Ivan và Apmando lo sợ sẽ có một đợt tuyết lớn ập tới cho nên giục chúng tôi đi sớm. Trước khi đi, chú Sang ngỏ ý chôn cất cho người đã khuất. Ivan không đồng ý điều này, anh ta nói rằng việc đó quá mất thời gian. Cuối cùng chúng tôi đành phủ lá cây lên trên người anh ta, tôi còn lấy một cái nhẫn bạc ở tay ông ta trao lại cho hai anh em sinh đôi đi cùng, coi như là di vật. Trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ rằng, biết đâu sau này có thể trực tiếp gặp người nhà của ông ta để trao lại. Nào có ngờ rằng, chủ nhân của chiếc nhẫn cũng như người nhận nhiệm vụ trao trả nó, đều không thể về quê hương thêm lần nào.
Hành trình qua địa điểm được mệnh danh là “bàn tiệc của tử thần” dài như vô tận. Tuyết không rơi đều đặn, nhưng cái lạnh xâm nhập vào bên trong cơ thể, cùng với cái đói thường trực khiến chúng tôi gần như ngã khuỵu. Để chống chọi với cái lạnh, chúng tôi bắt buộc thay đổi lịch trình di chuyển của mình. Thay vì đi đêm ngủ ngày, giờ nhịp sinh hoạt thay đổi theo chiều ngược lại. Apmando bảo rằng đó là một tiền lệ chưa từng có.
Vào ban đêm khi ngủ, chúng tôi vẫn để lửa cháy bập bùng. Bất chấp nguy cơ bị người khác phát hiện. So với việc bị chết cóng giữa rừng thì tôi thà để cảnh sát bắt giữ rồi ném vào trong trại tị nạn còn hơn. Ivan dặn dò tất cả mọi người, nếu không có lý do đặc biệt gì thì tốt nhất là đừng nên nhìn vào tuyết trắng, vì rất dễ bị mù tạm thời. Cảnh vật trong rừng khi được khoác lên một lớp tuyết ở đâu đâu cũng giống nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp một bộ xương người, hoặc xác của một con thú còn đang phân hủy. Tôi ngao ngán lắc đầu, chẳng trách nơi này là cơn ác mộng của bất cứ đoàn vượt biên nào.
Không chỉ thiếu nước và thực phẩm, ngay cả việc tìm kiếm củi khô để cháy cũng đặc biệt khó khăn. Cành cây bị tuyết phủ lên ướt nhẹp, đốt mãi mà chẳng hề bắt lửa, chỉ có khói bốc lên cay xè mắt. Mọi người trong đoàn rầu rĩ đến mức không thể nào ngủ yên. Tình thế bây giờ còn nguy ngập hơn cả lần chúng tôi bị đói meo, sau đó may mắn tìm được thức ăn từ những nạn nhân của lũ kền kền ăn xác. Tôi đánh bạo hỏi Ivan:
“Bao giờ chúng ta tới được ranh giới giữa Ba Lan và Đức?”
Anh ta nhìn trời rồi lắc đầu:
“Cũng không còn xa nữa đâu. Nhưng với tình hình thế này thì....”
Cả hai chúng tôi đều không hẹn mà ngoái đầu lại nhìn những người trong đoàn. Bà Loan vẫn còn băng bó vết thương ở ngón tay, chú Sang thì sức khỏe ngày càng yếu đi nhiều. Ngay cả đám thanh niên sức dài vai rộng như Đức Hà Nội và hai anh em song sinh kia cũng trở nên uể oải. Đống vỏ cây chúng tôi gặm nhấm từ ngày này qua ngày khác khiến cho mọi người đều xanh xao, vàng vọt. Tội nghiệp nhất là cái Phượng, toàn thân nó phát ban vì dị ứng thời tiết, nhưng ngoài việc nhấp một chút nước từ tuyết nấu lên cũng chẳng còn cách nào. Tôi trở về chỗ dừng chân, bắt đầu rút từ trong ba lô của mình ra quyển nhật kí. Hai tuần rồi tôi chẳng hề động đến nó, mặc dù trước đó đã dặn lòng ngày nào cũng phải ghi lại những diễn biến trong ngày. Tôi khẽ cắn nhẹ vào đầu bút để suy nghĩ rồi viết thật nhanh:
Ngày... tháng... năm 1999
Dạo này mọi người trong đoàn đều rất sa sút cả về tinh thần lẫn sức khỏe. Mình là người may mắn khi giờ này vẫn chưa ốm đau nhiều. Nhưng mình băn khoăn tự hỏi: Nếu như sớm biết hành trình vượt biên lại gian khổ thế này, liệu mình có dám đi không? Liệu bố mẹ mình có ép mình phải rời khỏi quê hương không nhỉ? Mình không dám chắc về quyết định của bố mẹ. Còn phần mình thì thà chết cũng không đồng ý.
Một điều rất quái lạ nữa là dạo này mình hay nằm mơ thấy bà ngoại lắm. Lần nào cũng thấy bà lững thững bước xuống biển trong ráng chiều đỏ rực như máu. Không biết có điềm báo gì không? Cầu mong cho mọi chuyện sớm qua, mình có thể thuận lợi đến Đức. Ngay lúc đó, mình sẽ gọi điện thoại về Việt Nam để gặp bà luôn. Bà ngoại ơi! Cháu gái còn đang dùng chiếc đồng hồ bà tặng đây này. Bà chờ cháu nhé!”
Tôi ngập ngừng định viết thêm một vài dòng. Nhưng nghĩ một hồi lâu cũng chẳng biết phải làm gì thêm nữa. Vậy là tôi gấp quyển sổ lại, gối đầu lên trên chiếc ba lô để chợp mắt.
* * * * *
Sáng hôm sau, ánh nắng mặt trời xuất hiện. Sau bao nhiêu ngày âm u, cuối cùng cũng có vài tia ấm áp. Chú Sang kéo bà Loan ra ngồi sưởi nắng. Cái Phượng trông thế bèn trêu rằng cả hai giống như một đôi vợ chồng. Chú Sang cười hì hì, còn bà Loan khẽ lườm nó một cái rồi cũng cười tươi như hoa. Khoảnh khắc ấy khiến cho lòng tôi xao động, bất giác quên đi hiện thực khốc liệt trước mặt mình.
Ivan vẫn tiếp tục nghiên cứu tấm bản đồ. Chúng tôi không dám làm phiền anh ta nên chỉ nói chuyện thật khẽ. Vào lúc cả đoàn chuẩn bị khởi hành thì một trong hai người thanh niên song sinh kêu lên thảng thốt. Giọng nói của anh ta lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Đập vào mắt chúng tôi là người thanh niên mặc áo khoác đen đang quỳ mọp dưới tuyết, trên tay anh ta còn đỡ người anh em của mình. Người kia không hiểu vì lý do gì mà mặt mày đỏ au, hai mắt trợn ngược rồi liên tục lên cơn co giật. Duy Anh hoảng hốt gọi:
“Cô Loan! Cô Loan! Người này bị làm sao ấy.”
Bà Loan tập tễnh bước tới, chú Sang vội vàng đỡ phía sau. Người thanh niên nhìn bà mếu máo khóc:
“Cô ơi! Cô xem anh cháu thế nào với. Mới hôm qua vẫn bình thường, vừa đứng lên một cái đã gục luôn.”
Chúng tôi quây thành vòng tròn, hồi hộp ngóng theo. Cảnh tượng này thật chẳng khác gì lúc trước Anne ngã bệnh. Bà Loan lấy từ trong ba lô ra một cái nhiệt độ, khẽ vẩy vài cái rồi kẹp vào nách người kia. Tay bà đặt lên trán người kia một lúc rồi lẩm bẩm:
“Sốt cao quá. Co giật rồi!”
Cô gái trong nhóm kia lo lắng hỏi:
“Liệu có sao không hả cô? Cô có thuốc không ạ?”
Bà Loan xem xét chiếc nhiệt độ rất kỹ. Sau đó lắc đầu.
“Ba mươi chín độ năm. Tình trạng không khả quan lắm đâu. Bệnh nhân bắt đầu co giật rồi.”
Người em sinh đôi của anh chàng kia bật khóc thành tiếng. Toàn thân người anh mỗi lúc co giật một mạnh hơn. Bà Loan chỉ tay vào Duy Anh:
“Đi kiếm một cành cây nho nhỏ về đây để nhét vào miệng nó. Không cắn lưỡi chết bây giờ.”
Duy Anh và Đức Hà Nội vội vàng chạy đi. Tôi và cái Phượng ngồi phịch xuống đất, hai tay ôm mặt. Đến giờ phút này, thực tình tôi không muốn chứng kiến cảnh tượng chết chóc nào nữa. Duy Anh chạy vội vàng trên nền tuyết lạnh, khi thằng bé cầm được cành củi nho nhỏ bằng ngón tay về thì người kia đã chết. Hai mắt nhắm nghiền, gương mặt đỏ au dần dần tái nhợt. Người em trai gần như hóa điên:
“Không! Không! Sơn ơi! Mở mắt nhìn em... Em đây... em đây... Em là em trai của anh đây. Mở mắt ra đi... Đừng dọa em...”
Những lời cuối cùng của anh ta bị át đi bởi tiếng khóc sụt sùi của cô gái đi cùng. Nước mắt thi nhau rơi trên má tôi từ bao giờ. Bà Loan, cái Phượng, và cả Duy Anh cũng đều sụt sịt. Nào ai có thể ngờ rằng, một người bị sốt cao lại có thể ra đi nhanh như thế. Chỉ trong vòng hơn một tuần mà cả đoàn đã mất đi hai người. Sắc mặt của Ivan và Apmando nặng nề, cả hai không nói lời nào, chỉ khẽ vỗ vào vai người em rồi khiêng xác của người anh đặt vào một gốc cây ven đường. Chúng tôi cúi đầu tạm biệt người quá cố. Trước khi đi, người em còn xin tôi một tờ giấy và mượn cái bút ghi vội vài dòng.
Nguyễn Thanh Tùng Sơn
Mất đầu tháng mười hai năm 1999
Quê quán: Huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Mất trên đường đi vượt biên.
Khi viết những dòng chữ cuối cùng, tôi nhận thấy đôi vai người em càng trở lên run rẩy. Phải đến khi anh ta mất đi đột ngột chúng tôi mới biết được họ tên. Người em gấp thật kỹ lưỡng tờ giấy rồi nhét vào trong túi áo của thi hài. Tôi nghe thấy cái Phượng thầm thì hỏi bà Loan vì sao người ấy lại chết nhanh đến thế. Hồi lâu sau bà Loan mới đáp, nhiều khả năng người ấy bị cảm lạnh chạy vào tim rồi qua đời.
Ivan lẳng lặng cầm chiếc la bàn bước về phía trước. Hành trình của chúng tôi lại tiếp tục. Tôi ngoái lại nhìn một người đồng bào của chúng tôi nằm lại nơi đất khách quê người, mãi cho tới khi khuất hẳn. Không ai trong chúng tôi có thể tưởng tượng được rằng, con số thương vong trong đoàn vẫn chưa dừng lại ở đó.
Hai ngày sau, cuối cùng chúng tôi cũng đến được ranh giới giữa Đức và Ba Lan. Lãnh thổ của hai nước chỉ cách nhau vài bước chân. Để sang được đất nước tiếp theo, cả đoàn phải băng qua một con đường, rồi ẩn mình vào trong bụi rậm. Nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng để nhập lậu thành công là cả một vấn đề.
Apmando nói rằng cách vị trí chúng tôi đang đứng khá xa về phía đông, có một cửa khẩu rất hiện đại. Người dân sinh sống quanh khu vực này làm đủ nghề để kiếm tiền. Từ việc cho thuê xe du lịch, mở phòng trọ, khách sạn hay nhà hàng ăn uống cho đến buôn lậu hay lừa đảo. Thứ dịch vụ duy nhất mà nơi ấy không chào bán công khai ấy chính là dẫn người vượt biên. Nếu muốn sang Đức mà không cần giấy tờ, bắt buộc phải đi đường rừng tới vị trí mà chúng tôi đang đứng. Điều đó đồng nghĩa với việc nơi này luôn luôn nằm trong tiêu điểm của cảnh sát biên phòng. Vừa nghĩ đến đó, tim tôi bắt đầu đập thình thịch vì hồi hộp hệt như lần vượt sông vào ban đêm.
Để tránh việc bị phát hiện, Ivan quyết định sẽ cho cả đoàn băng qua đường vào ban đêm. Chúng tôi không được phép đi thành đoàn như mọi lần, mà phải đi chia thành từng người. Người đầu tiên chạy sang sẽ đứng ở một vị trí dễ quan sát những thành viên chạy phía sau. Khi cả đoàn đã sang được đông đủ, mọi người phải nghe ngóng tình hình để ứng phó linh hoạt. Chúng tôi thống nhất với nhau, trong trường hợp tất cả đều có thể vượt qua thì cả đoàn sẽ nhanh chóng di chuyển để tìm chỗ an toàn. Lỡ như xui xẻo, một trong số đó bị cảnh sát biên phòng phát hiện, những người còn lại phải bỏ trốn khẩn trương. Ivan đưa cho chúng tôi một số điện thoại, dặn dò phải giữ thật kỹ để có thể liên lạc với người trong đường dây. Chúng tôi được phát sẵn một chiếc điện thoại Nokia, để dành khi liên lạc.
Thấy mọi người lo lắng như thể chuẩn bị ra trận, Apmando nhún vai:
“Không phải căng thẳng như thế. Thực ra con đường này vẫn chưa đáng sợ bằng đoạn đường từ rừng đến đường quốc lộ. Để vượt qua được cánh rừng trước mặt kia phải mất thêm hai ngày đường nữa. Cứ bình tĩnh! Trời tuyết đổ thế này bọn cớm cũng không sục sạo nhiều đâu. Những ai đi vào mùa hè hoặc mùa thu mới dễ bị tóm.”
Những lời động viên của Apmando chẳng khiến chúng tôi yên tâm hơn chút nào. Ngược lại càng làm mọi người nơm nớp sợ hãi. Chúng tôi đợi đến khi trời tối, màn sương mù mịt bắt đầu giăng phủ khắp nơi, thì mới chuẩn bị tinh thần để chạy qua.
Chú Sang và bà Loan là hai người hoảng hốt nhất, họ biết tốc độ di chuyển của mình không nhanh như những người trẻ. Tôi cố gắng trấn an bản thân mình, nước Đức chỉ cách tôi một con đường với vài bước chân. Chưa cần hai mươi giây là tôi có thể chạm đến, dẫu rằng lúc này đường trơn trượt hơn bình thường vì có tuyết.
Để rút ngắn thời gian, Ivan và Apmando sẽ là người chạy sang đầu tiên, sau đó là Duy Anh và Đức Hà Nội. Tôi và cái Phượng sẽ xuất phát ở vị trí thứ ba, kế đến là Jane và Anne. Áp chót là hai người trong nhóm kia, cuối cùng là chú Sang và bà Loan. Tôi siết tay bà Loan và cái Phượng, trong lòng vốn dĩ muốn nói vài lời chúc may mắn, nhưng câu từ chẳng thể nào thốt ra ở trên môi. Cuối cùng chỉ dừng lại ở những cái ôm thật chặt.
* * * * *
Vào lúc sáu giờ năm phút tối, sương mù nổi lên dày đặc. Ivan và Apmando tắt đèn pin, cả hai phóng như bay rồi biến mất vào một gốc cây đối diện với chúng tôi. Một ánh sáng nho nhỏ như ánh lửa chập chờn xuất hiện nổi bật giữa đêm tối mịt mùng. Mọi người trong đoàn biết đó là dấu hiệu biểu thị cho hướng mà chúng tôi phải đến. Nhóm tiếp theo là Duy Anh và Đức Hà Nội. Hai người sải bước chân dài hơn hẳn bình thường, bụi cây khẽ rung lên một cái báo hiệu cả hai đều thành công. Jane và Anne cũng thuận lợi vượt qua mà không gặp chút trở ngại nào. Chờ cho họ băng qua, tôi nhìn cái Phượng rồi gật đầu ra hiệu. Chúng tôi hít một hơi thật sâu rồi chạy thục mạng về hướng ánh đèn chiếu leo lét bên kia đường. Sương mù phả vào mặt lạnh toát, tôi cắn răng thật chặt, dồn hết sức vào đôi chân, phần thân trên thì rướn về phìa trước. Đức Hà Nội và Duy Anh đứng sẵn đón hai đứa tôi. Tôi thở hồng hộc ôm chầm lấy thằng bé, miệng vẫn còn lắp bắp:
“Qua được rồi! Qua được rồi!”
Chưa đầy mười giây sau đó, hai người ở nhóm kia cũng nhập bọn với chúng tôi. Lúc này chỉ còn chú Sang và bà Loan. Trời quá tối để có thể nhìn thấy mặt hai người, nhưng tôi biết bọn họ lúc này đều tái mét. Tiếng chân nặng nề nện xuống đường, theo sau đó là tiếng thở dốc của người đàn bà lớn tuổi. Tôi đứng cạnh Duy Anh mà hồi hộp. Tiếng áo phao cọ vào bụi cây nghe sột soạt. Chú Sang đã nhập bọn với chúng tôi, chỉ còn bà Loan vô tình ngã sõng soài trước khi bước vào bụi rậm. Đức Hà Nội vội vàng chạy ra ngoài đỡ bà dậy, gấp rút chui vào trong rừng. Bà Loan run cầm cập hỏi tôi:
“Sang được Đức chưa? Sang được chưa?”
Tôi nửa cười nửa mếu trả lời bà:
“Đến Đức rồi cô ơi! Đoàn mình đến Đức rồi.”
Ivan vội vã quăng cho chúng tôi sợi dây như lần trước. Trên mặt anh ta đã đeo sẵn kính nhìn xuyên đêm ngay từ đầu. Apmando nhanh nhẹn chạy ra phía sau để đi cuối cùng. Chúng tôi nắm chặt sợi dây, bắt đầu cuộc hành trình ở một đất nước mới. Tôi vẫn giữ thói quen như mọi lần, ngoái đầu lại để nhìn Ba Lan lần cuối. Khu rừng xương trắng bị bỏ lại phía sau, trong phút chốc bị che khuất bởi đám cây rừng. Gió lại nổi lên dữ dội.
* * * * *
Sáng hôm sau, cả đoàn đến một ụ đất bỏ hoang trong rừng. Chúng tôi đã đi bộ suốt đêm hôm qua, bất chấp màn sương giăng tứ phía. Không ai dám ngừng lại, cũng không có ai dám hé răng nửa lời. Trời gần sáng, Ivan dẫn chúng tôi bước sâu vào ụ đất để nghỉ ngơi. Nơi này thoạt nhìn khá giống chiếc hố lần trước chúng tôi tránh máy bay trực thăng. Tuy nhiên khi bước sâu xuống, ụ đất này lại giống căn hầm tránh bom ở Việt Nam hơn. Ở làng tôi ngày trước cũng có vài chiếc, nghe nói là từ thời các cụ để lại. Bọn trẻ con chúng tôi vẫn thường xuyên mò xuống đó để chơi trốn tìm. Mãi sau này người trong làng xây nhà, sửa đường mới lấp chúng lại.
Bên trong ụ đất rất ấm, khoảng cách từ đáy cho tới mặt đất chỉ khoảng hai mét. Với những người có chiều cao như Ivan hay Apmando, chỉ cần đứng dậy vươn tay là người trên mặt đất có thể nhìn thấy. Cung đường hôm nay làm cho chúng tôi quá mệt mỏi, tôi gục đầu xuống vai của cái Phượng mà bắt đầu ngủ, chẳng buồn cởi áo để làm chăn đắp như mọi lần.
Lần đầu tiên sau rất nhiều ngày đi dọc châu Âu, tôi dậy muộn hơn mọi người. Khi tôi tỉnh dậy thì Duy Anh và bọn cái Phượng đang ngồi xung quanh một đống củi nho nhỏ, trên tay mỗi người là một cành cây nho nhỏ có thứ gì đó bóng nhẫy, thơm lừng ở phía trên. Đức Hà Nội nở một nụ cười láu cá nhìn tôi mời mọc.
“Ăn thịt chuột nướng không Lam?”
Tôi thốt lên kinh ngạc:
“Thịt chuột á? Ở đâu mà có thế này?”
Duy Anh chỉ vào một cái lỗ nhỏ sau lưng.
“Trong này vừa hay có một ổ chuột. Thế là mọi người bắt luôn.”
Dường như thái độ của tôi không được như những gì Đức Hà Nội trông mong. Nụ cười trên môi anh ta hơi héo đi, cái Phượng châm chọc.
“Anh thấy chưa? Em đã bảo là nó không hề sợ đâu mà.”
Tôi biết tỏng họ đã định hù dọa khi tôi còn đang ngủ. Tôi dụi mắt nhìn khắp căn hầm, không hề thấy Ivan hay Apmando đâu cả. Hỏi ra mới biết, cả hai người kia vừa mới đi ra bên ngoài để bắt sóng điện thoại liên lạc với người trong đường dây.
Chú Sang vừa cẩn thận xiên từng con chuột mới đẻ vào đầu dao nhọn, vừa nhẩm tính.
“Hôm nay đã là đầu tháng mười hai rồi. Nếu như may mắn thoát khỏi cánh rừng này vào trong thành phố, thì tuần sau là đoàn có thể qua Pháp.”
Bà Loan mở lời:
“Có ai muốn ở lại Đức không? Hay tất cả đều muốn qua Pháp để sang Anh?”
Ánh mắt của bà hướng về hai người trong nhóm kia. Đôi mắt của cô gái trẻ sưng mọng vì khóc. Cô không trả lời mà chỉ khẽ lắc đầu. Người thanh niên thở dài:
“Cháu vẫn muốn đi Anh. Tâm nguyện của anh em chúng cháu khi còn ở quê nhà là như vậy. Sang Anh thì kiếm được nhiều tiền hơn.”
Bà Loan gật ù đồng tình. Tôi thấy anh ta khẽ quay mặt đi để không cho ai nhìn thấy đôi mắt mình đỏ hoe. Chúng tôi đủ tế nhị để vờ như không thấy. Từ lúc tỉnh dậy đến giờ, tôi cứ nơm nớp lo sợ một điều gì đó không may sẽ ập đến. Tôi đem chuyện này nói với cái Phượng, con bé gạt đi:
“Mày đừng nghĩ linh tinh. Qua được khu rừng xương trắng kia là may mắn lắm rồi. Tao còn tưởng là lúc mình băng qua đường sẽ bị bắt ấy chứ. Thế mà cuối cùng có làm sao đâu?”
Tôi cũng chỉ mong dự cảm của mình sẽ sai sót, nhưng cuộc đời chẳng ai học được chữ ngờ.