25 Độ Âm

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Canh Bạc Cuối Cùng

❊ ❊ ❊

Chú Sang rít một điếu thuốc rồi nhìn mọi người trong đoàn. Ngay cả Jane và Anne, dù cho bất đồng ngôn ngữ nhưng vẫn chăm chú dõi theo. Bà Loan là người mở lời trước:

“Giờ ý kiến của mọi người ra sao?”

Cái Phượng ngần ngừ:

“Cháu thấy là ngồi trong cabin an toàn hơn cô ạ. Chỉ hiềm một nỗi, giá đắt quá, lại phải đóng thêm tiền.”

Đức Hà Nội gật đầu:

“Nhưng mà bị bắt lại thì coi như mất trắng số tiền ấy. Người ngồi trong cabin hay thùng container đều bị bắt vào trại như nhau, đâu có gì khác?”

Tôi hỏi chú Sang:

“Vậy chúng ta sẽ phải đợi ở trong thùng xe hay sao? Cứ cho là mình trót lọt qua được trạm kiểm soát ở cảng thì bước tiếp theo sẽ như thế nào? Lần trước chú đi có giống thế này không ạ?

Gương mặt đang trầm tĩnh của người đàn ông luống tuổi bỗng xao động. Chú hắng giọng:

“Lần trước bọn chú đi cũng phải nhảy container, đi từ Pháp vòng qua Bỉ rồi mới sang đến Anh. Nhóm đi hôm ấy là có mấy chục người, tất cả đều phải đợi ở một căn nhà hoang, sau đó mới lên được phà. Người trong đường dây dặn, nếu như thấy có tiếng chim hải âu thì tức là đã ra đến ngoài biển rồi. Khi nằm trên xe phải ngồi im, không được phát ra tiếng động gì để tránh việc mấy thằng tài xế biết được.”

Duy Anh nghe xong thì ngập ngừng:

“Vậy bây giờ chúng ta sẽ đi bằng gói nào?”

Đức Hà Nội quyết định ngay:

“Cháu sẽ đi gói Vip thôi. Tiền bây giờ không có đủ, nhưng ngộ nhỡ lên thùng đông lạnh thì đóng băng.”

Nói rồi anh ta quay sang Duy Anh:

“Mày theo anh không?”

Thằng bé hơi do dự nhưng cũng gật đầu ngay lập tức. Vậy là đã có hai người trong nhóm lựa chọn gói “VIP”. Đức Hà Nội quay sang nói chuyện với Jane và Anne. Hai cô bạn thảo luận một lúc rồi gật đầu. Đức Hà Nội thông báo với mọi người:

“Hai người này cũng chọn giống chúng tôi. Họ nói rằng bản thân không còn nhiều tiền. Nhưng còn hơn là đánh cược mạng sống theo kiểu hên xui.”

Rất nhanh sau đó, bà Loan, cái Phượng và chú Sang cũng nhập hội với mấy người kia. Cuối cùng chỉ còn lại mỗi tôi. Khi mọi người quay lại nhìn, tôi chợt nghĩ đến số tiền trong túi mình. Nhưng rồi tôi cũng đồng thuận:

“Cháu theo mọi người.”

Đoàn chúng tôi báo lại với người trong đường dây để sắp xếp. Chúng tôi nhận ra, có nhiều nhóm khác cũng quyết định tương tự. Trong số đó, tôi nhận thấy bà thầy bói lần trước lại đi theo “gói vip”. Tôi lân la đến hỏi thăm thì bà ấy chẳng nói chẳng rằng, chỉ ngoảnh mặt quay đi.

Tối hôm ấy chúng tôi lên đường ngay. Trước khi đi, chú Sang đã gom tiền để nhờ mụ Xuân mua một ít vật dụng cho cả đoàn. Lúc mới đầu tôi cứ nghĩ là mua đồ ăn hoặc đèn pin. Nhưng đến khi lật mở thùng hàng ra, tôi mới té ngửa. Bên trong là mấy cái túi ngủ màu đen quạch hệt như túi đựng tử thi. Ngoài ra còn một ít trái bóng bay đồ chơi đầy màu sắc của trẻ con, cùng với đó là mấy chiếc tã giấy cỡ đại.

Tôi có thể hiểu mục đích sử dụng của những chiếc tã và túi ngủ, nhưng mấy trái bóng bay màu mè kia thì chẳng có chút khái niệm nào. Một gã cai đi ngang qua nhìn thấy thế thì nhoẻn miệng cười. Những người khác đều xúm xít lại xem rồi bàn tán. Thì ra những trái bóng kia dùng để giữ hơi thở cho chúng tôi, phòng khi ngồi trong thùng hàng không có không khí.

Mọi người chia nhau một ít để dùng, bà Loan còn cẩn thận mang theo mấy lọ dầu gió bên người. Đúng 8 giờ tối, chúng tôi xuất phát. Lần này đi cả thảy là hai mươi mốt người.

Ban đầu hai gã tây trắng tóc màu hung đỏ đưa chúng tôi lên một chiếc xe thùng. Trước khi ra đi, tôi còn vô tình thấy lão Đại mặt mũi sưng vù đứng ở trước cổng nhà ngóng theo. Thấy tôi, lão lúng túng quay đi. Tôi cũng chẳng nói gì mà đi thẳng. Trong thùng xe tối om, con đường không hề xóc nhưng tiếng động cơ rung lên bần bật làm cho bụng tôi quặn lên. Trước khi lên đường, cả đoàn được biết từ căn nhà kho đang tá túc cho tới địa điểm tập kết xe phải mất năm, sáu tiếng mới đến nơi. Xe vừa lăn bánh là tôi đã bắt đầu bấm giờ. Nhiệt độ hôm nay chỉ vào khoảng âm 2 độ C, ai cũng thở ra khói.

Xe đang đi bình thường, bỗng nhiên rẽ về bên tay phải làm hai mươi mốt người bên trong ngã chúi theo. Tôi lại nhìn xuống đồng hồ. Lúc này đã gần hai giờ sáng, điều đó cũng có nghĩa là xe đã đi được gần sáu tiếng đồng hồ.

Bên ngoài thùng xe lại có tiếng lạch cạch, cánh cửa mở toang. Thằng tây tóc hung đỏ vừa nãy ra hiệu cho mọi người xuống xe. Cả đoàn lập tức làm theo không thắc mắc. Chúng tôi được đưa vào một căn nhà hoang nằm ở trong rừng để chờ đợi. Bên trong không có ghế hay bất cứ thứ gì có thể ngồi. Tôi nhìn thấy một đống tro tàn và vài cây củi đang cháy dở, quang cảnh giống hệt căn nhà kho mà bọn Ivan từng dẫn chúng tôi đi theo.

Ngồi đợi được một lúc, bụng ai cũng sôi lên ùng ục nhưng chẳng có cái gì ăn ngoài mấy chiếc kẹo sữa mềm mà Anne trữ trong túi áo. Mấy người đàn ông chơi cờ bạc hôm trước lạnh quá bèn đốt lửa sưởi ấm, mặc cho chú Sang đã can ngăn vì có thể khiến cho cảnh sát phát hiện. Vừa mới sưởi được một lúc thì một thằng cai từ đâu xồng xộc chạy tới, nó túm ngay lấy người đàn ông ngồi gần đống lửa nhất rồi đánh cho túi bụi. Người kia kêu lên oai oái để xin tha. Đức Hà Nội rùng mình, nói nhỏ với chúng tôi:

“Nó đang chửi thằng kia vì đứng từ xa cũng có thể thấy ánh sáng phát ra từ căn nhà này.”

Tôi chưa kịp trả lời lại thì một gã cai khác chạy xộc đến hét lớn. Mọi người ngây ra, Đức Hà Nội là người đầu tiên phản ứng lại.

“Bỏ mẹ rồi! Chạy đi! Cảnh sát tới.”

Cả đoàn chúng tôi chạy ào ra khỏi cửa. Dẫn đầu là Duy Anh, sau đó là tôi và bọn cái Phượng nối gót theo sau. Xung quanh là tiếng chó sủa vang rền, cùng với ánh đèn pin chiếu sáng rực. Cảnh vật không khác gì lần chúng tôi đụng độ cảnh sát trong khu rừng biên giới Ba Lan. Chú Sang thét lên ở phía sau:

“Hướng hai giờ! Đổi hướng đi.”

Cả nhóm lập tức rẽ ngoặt sang bên tay phải. Hai chân lúc này gần như đã gãy rời, nhưng tôi vẫn dồn hết tốc lực đặng thoát thân.

Phải chạy, nếu không thì sẽ bị cảnh sát bắt.

Tôi không muốn vào trại tạm giam.

Tôi không muốn chết rục xương ở khu rừng này.

Chân bật máu tôi vẫn chạy.

Mồ hôi túa ra như tắm tôi vẫn không ngừng.

“Không được dừng! Không được dừng! Dừng lại là chết!” Tôi lặp đi lặp lại câu nói ấy trong đầu.

Máu từ chân, từ vết thương trên tay, từ bờ môi nứt nẻ của tôi thi nhau chảy ra. Cái lạnh gần âm độ cứa vào từng da thịt

Chúng tôi chạy mãi, chạy mãi, vừa chạy vừa giơ tay ra trước mặt để tránh cành cây. Đến khi ngừng lại thì tiếng chó sủa đã im lìm. Một lần nữa, chúng tôi lại may mắn cắt đuôi thành công.

Tôi ngã phịch xuống mặt đất ẩm ướt đầy sương tuyết. Toàn thân ê ẩm và rã rời như người sắp chết. Giọng nói của bà Loan phá vỡ sự im lặng:

“Mình thoát chưa?”

Tôi lồm cồm bò lại nhìn mọi người. Ngoại trừ tám người trong đoàn chúng tôi và gã cai lúc nãy đã gào lên cảnh báo, thì chỉ còn lại cái Thùy và bà thầy bói. Mười một người ngồi giữa rừng, tất cả đều nhìn chăm chăm về phía đằng sau.

Chú Sang lắc đầu thất vọng:

“Chắc chắn là cảnh sát đã rình rập từ trước rồi. Đường dây động mà bọn này không biết.”

Cái Thùy bưng mặt bật khóc thành tiếng. Tôi không thấy mấy đứa bạn đi cùng nó đâu nữa. Không cần nói cũng biết, giờ này những người còn lại thế nào cũng bị đưa vào trại tạm giam. Tia hy vọng sáng nhất là địa điểm những người trong đoàn bị bắt vẫn nằm trên đất Pháp. Điều đó cũng có nghĩa là những người kia sẽ được thả ra sau khi giam giữ hai tư giờ đồng hồ. Tuy nhiên, cũng không thể không phủ nhận rằng, hành trình trèo lên container của chúng tôi sẽ bị rời lại mấy hôm, để tránh việc truy quét liên tục từ cảnh sát.

Kể ra cũng may mắn cho chúng tôi, trong những người trốn thoát lần này có một tên cai lệ. Hắn lấy chiếc điện thoại di động trong túi quần, bắt đầu gọi điện thoại cho người trong đường dây. Vài phút sau, hắn quay lại nói với chúng tôi vài câu bằng tiếng Pháp. Mặc dù không hiểu hắn nói gì, nhưng chúng tôi cũng biết rằng đây chính là cái phao cứu cánh duy nhất của mình. Khi trời sáng rõ mặt người, cả nhà bắt đầu quay lại nhà kho bỏ hoang đêm qua để chờ người tới đón. Cái Phượng lo sợ lần này về chẳng biết có gặp cảnh sát nữa không, nhưng Duy Anh lắc đầu ra vẻ hiểu biết:

“Em nghĩ là không. Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất. Cảnh sát bây giờ chắc chắn đã rút quân rồi.”

Tôi hơi gật đầu, trong lòng tán đồng suy nghĩ của nó. Mỗi một bước chân tôi đạp lên tuyết dường như đều có hàng vạn chiếc kim đâm vào. Không hiểu sao đêm qua tôi lại có thể cầm cự được như thế. Nhìn mọi người bên cạnh mình, người nào người nấy cũng đều phờ phạc, đau đớn và nhăn nhó. Tôi gượng cười, cố khích lệ tinh thần cả đoàn bằng một câu vô thưởng vô phạt:

“Ít ra chúng ta còn chưa bị bắt.”

Chú Sang thấy vậy bèn phụ họa theo:

“Đúng rồi! Giờ quay về, mấy hôm nữa là sẽ sang được thôi.”

Chiều muộn cùng ngày, có một chiếc xe ô tô tải khác lần trước đến đón chúng tôi về nhà kho. Trên đường về, tôi cứ nghĩ mãi về lời tiên đoán của bà thầy bói. Liệu rằng đây có phải là đại nạn mà bà ấy nhắc đến lần trước không? Mặc dù rất muốn hỏi, nhưng trên xe không được phép nói chuyện nên tôi đành im lặng.

Chúng tôi quay trở lại căn nhà kho vào lúc nửa đêm. Trên đường đi có hai lần xe đột ngột dừng lại, chúng tôi điếng người không biết bên ngoài xảy ra chuyện gì, nhưng vài phút sau xe lại lăn bánh rời đi.

Vợ chồng lão Đại không hề tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy chúng tôi quay trở về. Những người đến đây, lên xe để nhảy container, quay trở lại rồi lại đi, luẩn quẩn tựa như một vòng tròn không có điểm dừng. Mọi người trong kho nói với cả đoàn, kỷ lục nhảy container của một đôi vợ chồng là mười hai lần, đến lần thứ mười ba thì họ thành công. Hiện giờ cả hai đều đang sống tại London.

Tôi tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Giấc mơ thấy bà ngoại lại xuất hiện hệt như những lần trước. Bà đứng ở dưới biển nhìn tôi mỉm cười đôn hậu, tôi đứng trên bờ cát, muốn rẽ sóng để tìm đến nhưng chẳng thể nào tới được. Khi tôi cố gắng chạy theo thì ngã bổ nhào, nước biển táp vào mặt mặn chát. Tôi dụi mắt nhìn lại thì chỉ thấy trần nhà kho thấp lè tè với mấy cái bóng đèn cáu bẩn. Tôi xoay người thì nhìn thấy trên bàn là một miếng bánh mì khô cứng, có lẽ là phần ăn mà người nào đó trong đoàn đã để lại cho tôi.

Dù biết thứ bánh này chẳng ngon lành gì, nhưng tôi vẫn đưa lên miệng ăn ngấu nghiến, lại tu ừng ực hết nửa chai nước lọc. Chủ yếu là để cho bánh nở ra lấp đầy cái bụng trống rỗng. Mọi người trong đoàn đang nói chuyện điện thoại với người thân ở Việt Nam. Tôi nhìn thấy Duy Anh len lén lau nước mắt khi nghe thấy giọng của mẹ mình. Khoảnh khắc ấy khiến cho tôi nhớ tới cô giáo chủ nhiệm ở trường trung học từng chia sẻ với lũ học trò chúng tôi rằng, khái niệm về hạnh phúc thực ra rất đơn thuần. Đó là có một việc để làm, một ai đó để yêu, và một chút gì đó để hy vọng. Bắt gặp thấy ánh mắt của tôi đang nhìn mình, Duy Anh gật đầu rồi mỉm cười. Thằng bé hạnh phúc hơn tôi nhiều lắm. Nó còn có gia đình để mà cố gắng.

Cái Phượng cầm chiếc điện thoại đến bên cạnh, hỏi rằng tôi có muốn gọi điện thoại về nhà không. Tôi lắc đầu, hai đứa ngồi một góc để tâm sự. Không thể nào nhớ nổi tôi đã hút bao nhiêu điếu thuốc khi nghe Phượng kể về câu chuyện của mình. Con bé có mẹ là người H’mong, còn bố là người Kinh, lên trên Mèo Vạc để thăm dò công trình. Nàng sơn nữ phải lòng anh chàng kỹ sư xây dựng, để rồi cái Phượng ra đời vào mùa tam giác mạch nở khắp núi rừng. Cứ ngỡ rằng gia đình nhỏ ấy sẽ cùng nhau đón mùa hoa đào nở rực, mùa măng bắt đầu nhú, và cả mùa của những cánh đồng lúa vàng rực trải dài tít tắp. Ấy vậy mà, niềm vui ngắn chẳng tày gang, sau khi mẹ Phượng mang bầu được vài tháng, bố nó bị tai nạn rồi qua đời đột ngột. Vì chưa có lễ lạt cho bản làng, nên người ta mặc định rằng con bé không phải người thuộc về nơi này.

Phượng kể với tôi rằng, kiến trúc nhà trình tường của người H’Mông rất đặc biệt. Những ngôi nhà ở bản của nó luôn tựa lưng vào núi, mặt quay ra thung lũng hoặc khe suối để đón ánh mặt trời. Xung quanh nhà luôn luôn có hàng rào đá cao ngang ngực người. Cửa nhà lúc nào cũng mở vào bên trong, then cài cửa được làm bằng gỗ, vót cong tạo thành hình thù giống hệt một cái sừng trâu. Đẩy cánh cửa gỗ để bước vào nhà sẽ gặp một cái ngưỡng cửa cao hơn đầu gối một chút. Ngày còn nhỏ, con bé không thể nào trèo qua nổi cánh cửa ấy để đi ra ngoài chơi. Sau này lớn hơn, nó biết cách lấy một chiếc ghế làm bục rồi dễ dàng bước ra ngoài. Khoảnh khắc ấy nó như một con chim sổ lồng, hăm hở đập cánh vào không gian.

Thế nhưng, trái với niềm mong chờ của nó lại là sự ghẻ lạnh, xua đuổi của người trong bản. Từ người lớn đến trẻ con, từ người già đến người trẻ, ai nấy cũng bảo rằng nó là đứa con hoang, không được bản làng công nhận. Phượng quay trở về nhà, chật vật trèo lại ngưỡng cửa rồi vùi mặt vào chăn khóc nức nở. Mẹ nó đi đâu về, trên tay còn nguyên một cái gùi chất đầy sợi lanh, nghe thấy tiếng con khóc thì vội vàng chạy vào. Phượng mếu máo kể lại với mẹ. Cả hai mẹ con ôm nhau khóc nức nở.

* * * * *

Từ sau lần ấy, Phượng không còn muốn trèo qua cái ngưỡng cửa cao để ra ngoài nữa. Nó chỉ ngồi thu lu ở trước cửa, nhìn từng vạt nắng chiếu chênh chếch vào mái hiên để chờ mẹ về. Có nằm mơ con bé cũng không thể tưởng tượng nổi, có một ngày ông bà nội đến nhận cháu. Lúc ấy hai mẹ con mới biết, bố nó là con độc nhất. Phượng hiểu rằng, tỉ dụ bố nó còn sống, thì hai người ruột thịt trước mặt chưa chắc đã đoái hoài đến nó. Con bé lắc đầu từ chối, không muốn rời xa mẹ. Ông bà nội vội vàng nói sẽ đón cả hai mẹ con về Hà Nội.

Con bé tin rằng điều ấy là thật. Vậy mà ngày đi, lại chỉ có một mình nó tỉnh lại trên một chiếc xe ô tô, ngồi giữa ông bà nội. Nó gào khóc nức nở để đòi mẹ, nhưng chẳng ích gì. Ông nội nghiêm giọng:

“Quên người đàn bà ấy đi! Từ giờ chỉ có ông bà thôi, nhớ chưa?”

Mặc kệ cho con bé khóc lóc van xin, chiếc xe vẫn lao nhanh về phía trước. Cảnh tượng cuối cùng nó nhìn thấy là một cánh đồng hoa giác mạch màu trắng trắng, hồng hồng dưới ánh chiều vàng vọt. Con bé gào lên: “Mẹ ơi! Mẹ cứu con!” Chẳng còn ai trả lời nó cả.

Tàn thuốc cháy thành một đoạn dài, Phượng không khóc nhưng mắt tôi lại đỏ hoe. Nó cúi đầu kể tiếp:

“Sau đó rất nhiều năm, tao cũng tiết kiệm đủ tiền để tìm về Mèo Vạc gặp mẹ. Khi đến nơi thì người ta nói với tao, mẹ tao đã tự vẫn bằng cách ăn lá ngón kể từ lúc tao đi được bảy ngày. Người trong bản sợ hồn vía của mẹ tao oán hận sẽ biến thành ma quỷ, nên vội vàng chôn trong rừng. Tao chỉ biết ôm nấm mồ mà khóc. Đến khi quay lại ngôi nhà xưa kia, khắp nơi đều phủ một lớp bụi dày, chăn gối lạnh ngắt và mốc meo. Tao nhìn thấy cái ghế nằm bên cái ngưỡng cửa mà ngày xưa tao đã từng trèo ra ngoài. Lúc ấy... tao mới biết, tao chưa bao giờ bước ra khỏi nơi này được cả.”

Tôi băn khoăn không biết vì sao nó lại lưu lạc đến bầu trời châu Âu này. Phượng kể rằng, thời gian sau ông nội nó qua đời vì bệnh ung thư. Chỉ còn bà nội ở một mình cùng với người cháu họ. Bà nó biết chuyện mẹ cái Phượng tự vẫn vì bị đoạt mất con, nên tỏ ra áy náy vô cùng. Để chuộc lỗi, bà ấy cho cái Phượng một khoản tiền, nói là để cho con bé học đại học. Có một điều mà bà ấy không hề biết rằng, trong lòng đứa cháu gái độc nhất, số tiền ấy chẳng khác nào tiền mua mạng của mẹ nó. Thế là cái Phượng quyết định sẽ đi thật xa, đi tới một nơi nào đó mà bà nội và họ hàng của nó không thể can hệ với mình được nữa. Và rồi, nó xuất hiện ở đây cùng với tôi.

Tôi thở dài, khói thuốc bay bay đủ để gương mặt của đứa bạn phút chốc mờ mờ ảo ảo. Trong một tích tắc, tôi như nhìn thấy một căn nhà có bức tường đá bao quanh, bên hông nhà là một cây hoa đào nở hồng rực, vạt nắng hắt vào ngưỡng cửa cao. Chăn màn trong nhà cũ kỹ, giường chiếu lạnh im, một người đàn bà ngồi bên ngưỡng cửa để nhìn ra bên ngoài để đợi con. Và rồi chết trong cơn đau bùng lên từ dạ dày. Điếu thuốc trên tay tôi, sao bỗng nhiên đắng thế?

* * * * *

Mấy ngày hôm sau, chúng tôi lại chuẩn bị nhảy lên xe container lần thứ hai. Đoàn người đi lần này nhiều hơn lần trước, những hai mươi sáu người. Đa phần đều là người trung tuổi. Cung đường vẫn hệt như lúc trước, điểm khác biệt duy nhất là nội bộ đường dây đã thay đổi người dẫn đường. Một trong hai tên đó là kẻ đã lôi tôi vào trong nhà vệ sinh định làm nhục tôi lần trước. Tôi tỏ ra như chưa có chuyện gì, cố gắng để lẫn mình vào trong đám đông.

Chúng tôi đi đến một địa điểm tập kết container cách vị trí lần trước không xa. Gã da đen cầm theo một thanh sắt cong chuyên dụng, bước đi nhanh nhẹn giữa những hàng container. Như thể đã quá quen với việc này, gã chỉ lựa chọn những thùng hàng sẽ sang Anh. Ngoại trừ những thùng hàng đông lạnh, thùng hàng khô sẽ là sự lựa chọn lý tưởng của những kẻ muốn vượt biên như chúng tôi. Khi đã xác định được thùng hàng như ý muốn, gã dùng thanh sắt cầm ở tay để bắt đầu phá khóa.

Tiếng động boong boong dội lại làm tôi lo sợ không biết liệu có bị gã tài xế nào đó phát hiện không. Bà Loan nằm phục bên cạnh tôi thì thầm, ánh mắt vẫn dán chặt về hướng phát ra tiếng động.

“Sao nãy giờ mắt tao cứ máy. Có khi nào....”

Người đàn bà ấy chưa kịp nói dứt câu thì gã da đen ra hiệu cho chúng tôi chuẩn bị lên xe. Nào ngờ, vừa mới tấp tểnh đi tới thì đèn pin rực sáng, mấy người lái xe phát hiện. Cả đoàn vội vội vàng vàng chạy về xe tải, không dám ngoảnh đầu lại nhìn. Thế là lần thứ hai cũng thất bại.

Lại một lần nữa quay về căn nhà kho, đối diện với vẻ mặt nặng trịch của mụ Xuân và lão Đại. Mấy người lớn tuổi an ủi nhau, mới thất bại có hai lần cũng chưa thể gọi là nhiều. Điều đáng lo nhất lúc này là thời tiết ngày một khắc nghiệt, cảnh sát sẽ tăng cường rà soát để ngăn chặn những vụ vượt biển Manche để từ Pháp vào Anh. Vì lẽ đó, tám người chúng tôi đặt mục tiêu: Lần thứ ba phải vào được vương quốc Anh thành công. Đó chính là canh bạc cuối cùng, mà mọi người muốn dồn hết sức mình để thắng cược.

Một ngày cuối tháng mười hai, tôi nghe thấy từ trong căn nhà của lão Đại có tiếng nhạc vọng ra. Nghe kỹ hơn thì thấy ấy là bài hát Chúc Mừng Năm Mới của nhóm ABBA. Tôi khẽ lẩm nhẩm hát theo, mặc dù phát âm còn chưa sõi.

“No more champagne

And the fireworks are through

Here we are, me and you

Feeling lost and feeling blue”

Giọng hát của tôi truyền tới tai Đức Hà Nội. Anh ta nhìn tôi với ánh mắt phức tạp.

“Đừng hát nữa. Lời bài hát dịch ra tiếng Việt ảm đạm lắm.”

Thông tin này khiến cho tôi, Duy Anh và Phượng đều bất ngờ. Cứ mỗi năm tết đến xuân về, có gia đình người Việt nào lại không nghe bài hát này cơ chứ. Tôi níu lấy tay anh ta gặng hỏi lý do. Đức Hà Nội cau mày, cuối cùng đành miễn cưỡng nhún vai giải thích:

“Nhiều người thích giai điệu của bài hát này, nhưng không mấy ai hiểu được lời của ca khúc rất ảm đạm và u tối, báo hiệu một viễn cảnh chẳng mấy tốt đẹp gì.”

Anh ta ngừng một lúc rồi ngân nga:

“If don’t we might as well lay down and die, you and I.

Sometime I see, how the brave new world arrives..

And I see how it thrives, in the ashes of our lives.”

“Đoạn này có thể dịch nôm na rằng “Anh và em, chúng mình có thể ngã xuống và chết đi. Đôi khi em thấy, thế giới mới đang tới, sinh sôi nảy nở trên đống tro tàn của chúng ta.”

Đức Hà Nội thở dài:

“Từ khi anh có thể hiểu được lời bài hát này, không bao giờ còn muốn nghe nó vào đêm giao thừa nữa. Lời bài hát này hơi bất hạnh. Nhất là khi.... chúng ta sắp vượt biên lần cuối.”

Anh ta bỏ lửng câu nói rồi ra ngoài để hút thuốc. Ba người chúng tôi đứng nhìn nhau. Khóe môi của cái Phượng hơi cong lên nhưng cũng chẳng phản bác lại. Tôi nhìn ra ngoài trời tuyết rơi ảm đạm. Linh cảm bất an đột nhiên ùa tới trong lòng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.