Qua ngày hôm sau, thể trạng của tôi đã dần phục hồi. Có lẽ là do ăn được một chút thịt và được ngủ được một giấc ngon lành. Hầu hết mọi người đều ở trong ụ đất để nghỉ ngơi cho lại sức. Duy chỉ có Apmando và cô gái nhóm kia vắng mặt. Không cần hỏi tôi cũng biết cả hai người họ giờ đang làm gì. Có lần gã nhảy đến sờ soạng vào người tôi, nhưng Ivan khẽ liếc mắt một cái, gã hiểu ngay lập tức rồi quay đi. Tôi ngồi xuống bên cạnh cái Phượng, vô tình quan sát thấy ở trên cổ và gáy của nó có mấy vết bầm thâm tím. Nó ứa nước mắt rồi nói thầm vào tai tôi:
“Thằng Apmando đánh tao.”
Tôi cúi đầu, khẽ vòng tay qua người nó để ôm, thực tình không biết phải nói gì hơn trong lúc này. Khi cô gái kia trở về, toàn thân run rẩy, bước đi xiêu vẹo như một ngọn lau trong gió. Bà Loan đưa cho cái Phượng một lọ dầu gió đã vơi gần nửa. Cái Phượng hiểu ý vội vàng xức lên hai bên thái dương của cô gái tội nghiệp.
Lúc đó tôi không có nhiều thời gian để cảm thán về tình cảnh hiện giờ của mình. Ấy là bởi vì Ivan thông báo cho chúng tôi một tin quan trọng: Đêm nay sẽ rời khu rừng này để xuống đường cao tốc. Người trong đường dây đã sẵn sàng để đón vào ngày mai.
Kế hoạch lần này khá đơn giản. Cả đoàn sẽ vượt qua cánh rừng này để tới đường quốc lộ, tại đó sẽ có xe ô tô chở về trạm trung chuyển tiếp theo. Độ dài của cung đường ngắn, địa hình cũng không đến nỗi hiểm trở như rừng biên giới Ba Lan. Điều nguy hiểm nhất ở đây là cảnh sát và chó nghiệp vụ. Trong trường hợp không thể thoát thân, tốt nhất là đứng im để xin vào trại tị nạn, còn hơn là trốn chạy.
Bà Loan và chú Sang rầu rĩ vì lo sợ mình sẽ bị bắt lại. Ngay cả những người trẻ khỏe, sức dài vai rộng như Đức Hà Nội cũng không dám khẳng định có thể chạy thoát được hay không. Nói gì đến người đã có tuổi.
Đêm cuối cùng nằm bên dưới ụ đất, tôi không nghe thấy tiếng ngáy đều đều của chú Sang và Đức Hà Nội như thường lệ. Giờ này khó có ai có thể ngủ yên giấc được. Sáng hôm sau, vài hạt tuyết lại xuất hiện trong không gian. Nhiệt độ vẫn giữ mức 1 độ C như hôm qua. Tôi chằng cái khăn len để che đầu mũi cho đỡ lạnh. Ivan trên miệng hầm chờ đợi một ai đó. Ở đằng xa có bóng người đi lại, thấy bà ta Ivan vẫy tay làm dấu hiệu.
Để rút ngắn hành trình, lần này có một người dẫn đường mới xuất hiện. Đó là một người đàn bà mũi khoằm mặc một bộ áo mưa màu đen. Điều khiến tôi đặc biệt ấn tượng ấy là một bên mắt đã bị chột. Miếng băng màu đen làm cho diện mạo của người này chẳng khác gì cướp biển. Bà ta chỉ gật đầu chào Ivan một cái rồi bắt đầu đi ngay. Chúng tôi bám sát phía sau, Apmando vẫn đi cuối cùng. Lớp tuyết ở dưới chân chưa quá dày, nhưng cũng chính vì thế mà con đường trở nên trơn trượt hơn rất nhiều. Tôi vừa đi vừa cố gắng nhìn lên trên cao để tìm ánh trăng. Không biết lịch âm hôm nay đã là ngày bao nhiêu mà vầng trăng chẳng hề xuất hiện. Giá như có trăng, ít ra nhìn đường còn dễ hơn.
Đoàn chúng tôi đi được hai tiếng đồng hồ nhưng vẫn không thấy động tĩnh gì. Tôi nói thầm với chú Sang:
“Chú ơi! Có khi nào bọn nó đang rình rập mình ở đâu đó không?”
“Đừng có nói gở!” Chú Sang khẽ mắng.
Apmando cầm cái roi vụt vào ba lô của tôi một cái, ngụ ý không muốn tôi nói chuyện thêm nữa. Thế là tôi lại cắm đầu đi tiếp.
Bốn mươi lăm phút đồng hồ nữa lại trôi qua. Cảnh vật xung quanh vẫn im ắng. Vào đúng lúc tôi tưởng chừng như có thể suôn sẻ thoát khỏi cánh rừng này thì...
Đoàng! Đoàng! Đoàng!
Một loạt súng đinh tai nhức óc vang lên liên tiếp. Ivan gào lên:
“Nằm xuống!”
Ngay lập tức cả đoàn nằm rạp xuống đất. Tôi thấy mười mấy bóng người cao to chạy vụt qua trước mặt, rồi biến mất sau tàn cây. Tiếng chó bắt đầu sủa ầm lên như muốn xé toạc không gian tịch mịch ban đêm. Chúng tôi nhìn thấy từ phía xa có một đoàn người đèn pin sáng rực. Bước chân rầm rập đuổi theo đám người kia. Apmando hét lớn:
“Chạy! Chạy đi! Chạy thẳng là ra được đường lớn.”
Không cần nhắc đến câu thứ hai. Tất cả mọi người lồm cồm bò dậy để chạy. Tôi hơi mất đà nên bước đi loạng choạng. Phải mất vài giây sau mới bắt đầu phóng về phía trước. Vừa chạy vừa giơ tay che chắn trước mặt để tránh cành cây rừng đâm vào mặt.
Khung cảnh xung quanh lúc này phủ một màu trắng miên man. Tuyết đụn lên thành từng đống nho nhỏ, hệt như cánh đồng muối ở quê tôi. Nhiệt độ ngoài trời có vẻ như đang giảm dần, gió rít lên lùa qua làn tóc bết chặt vào mặt, vậy mà mồ hôi ở lưng vẫn túa ra như tắm. Hai mắt tôi bắt đầu mờ dần, đầu gối đau nhừ như muốn khuỵu xuống dưới mặt đất. Tiếng chó sủa ầm ĩ ở phía sau, hòa cùng với tiếng la hét và những ánh đèn pin chiếu loạn xạ. Tôi cắn răng đến mức bật máu cố giữ cho đầu óc mình vẫn tiếp tục chạy đến địa điểm tập kết như đã hẹn. Một người chạy phía sau ngã nhào xuống lớp tuyết bông xốp, tôi giật mình ngoái lại thì bị ánh đèn pin chiếu vào làm lóa cả mắt. Trong một tích tắc, tôi nhìn thấy chàng thanh niên sinh đôi giơ bàn tay đầy bất lực về phía tôi thì thào: “Cứu tôi! Cứu tôi với!”
Tôi thoáng ngần ngừ, định quay lại để đỡ anh ta dậy. Nhưng rồi cuối cùng tôi lại chọn cách quay đi, hai chân vẫn tiếp tục thẳng tiến về phía trước. Tiếng chó sủa điên cuồng bên tai, tiếng người kia hét lên thảm thiết rồi tắt lịm. Dù không hề ngoái đầu lại nhưng tôi biết chuyện gì đã xảy ra ở phía sau. Tôi vừa chạy vừa quan sát động tĩnh bên trong, vị ngòn ngọt tanh tanh của máu chảy ra từ môi xộc thẳng vào trong khoang miệng khiến cho tôi cảm thấy khó chịu, thế nhưng điều đó chẳng có hề gì. Trong đường rừng tối tăm mịt mùng, ngọn đèn yếu ớt đến đáng thương từ chiếc đồng hồ đeo trên tay mỗi lúc một yếu dần. Tôi càng thêm hoảng loạn. Nếu đèn tắt, tôi không thể nào tránh được đoàn người đang truy đuổi phía sau. Tồi tệ hơn nữa, những cành cây trong rừng sẽ đâm thẳng vào mặt chỉ vì tôi không né được. Lại một tiếng kêu đầy sợ hãi: “Á! Chết tôi.”
Tôi nhận ra giọng nói này, ấy là của cô gái trong nhóm kia. Cô ấy chưa kịp nói dứt câu thì đã đâm sầm vào gốc cây trước mặt. Cả người ngã ngửa ra phía sau, bất tỉnh nhân sự. Hình ảnh cuối cùng tôi kịp nhìn thấy là khuôn mặt của người này toàn máu là máu. Có vẻ như cây rừng đã chọc đúng vào tròng mắt. Chúng tôi không có thời gian để quan tâm tới người khác. Việc cần thiết lúc này là phải tìm chỗ trốn thật an toàn. Tôi cố gắng nhìn chằm chằm vào bóng lưng Ivan để chạy tiếp. Đầu ngón chân của tôi bị vấp vào hòn đá sắc lẻm khi nãy bắt đầu rỉ máu. Tôi Tiếng chó vẫn sủa oang oang ở bên tai, nhưng ánh đèn pin rọi theo đã tối dần. Bóng lưng của Ivan vẫn thấp thoáng ở trước mắt, bên cạnh là tiếng bước chân của mọi người.
Năm phút sau, Ivan dẫn theo mọi người trốn vào trong một rặng cây vẫn chưa bị tuyết che phủ. Tôi khuỵu xuống, hai chân như cẳng chân như muốn gãy rời. Tôi nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, máu bên trong khoang miệng ứa ra nổi bật trên nền tuyết lạnh. Chưa bao giờ tôi cảm thấy cung đường nào lại dài như thế. Đức Hà Nội đang xoa gương mặt chảy máu ròng ròng, anh ta là người mở lời đầu tiên.
“Sao mà nhiều cảnh sát thế nhỉ? Chúng đi vây bắt người nhập lậu à?”
Ivan lắc đầu.
“Không phải! Mày có nhớ hai cái thằng trọc đầu khoác theo cái ba lô cắt ngang qua đường của mình trốn không? Bọn chúng nó buôn thuốc đấy. Thứ trong túi của chúng nó chắc chắn là thuốc nên mới nhiều cớm đuổi theo như vậy. Rất có thể là kẻ nào đó chỉ điểm nơi giao dịch của bọn nó nên mới bị phục kích như vậy.”
“Mẹ nhà nó! Đi đường nào không đi, đi ngay vào đường gặp cớm. Tất cả là tại con mẹ này.” Apmando làu đàu quay sang bên cạnh. Lúc này gã mới nhận ra.
“Ơ kìa! Mụ già kia đâu? Đừng nói là mụ bị bắt ở lại rồi nhé.”
Chú Sang ngồi bệt dưới một tảng đá, miệng vẫn đang thở hồng hộc. Chú lắc đầu:
“Lúc ấy tôi thấy bà ấy chạy đường khác.”
Apmando càng thêm điên máu. Gã vung con dao trong tay, chém loạn xạ vào thân cây tội nghiệp.
“Con mụ khốn nạn! Bỏ của chạy lấy người. Lúc nguy cấp nhất thì lại thoát thân một mình. Đừng có để tao gặp mụ một lần nữa.”
Ivan cau mày nạt ngang:
“Thôi không nói nữa! Trời sắp sáng rồi! Tìm đường ra đi.”
Cả hai người họ bắt đầu nghiên cứu bản đồ dưới ánh đèn pin chập choạng. Tôi bật đèn ở trên đồng hồ soi xung quanh. Phải tới lúc này, tôi mới có dịp nhìn kỹ lại mọi người trong đoàn. Bà Loan và chú Sang gần như ngất xỉu, cả hai ngồi tựa vào nhau. Duy Anh và cái Phượng cùng Đức Hà Nội gục xuống vì mệt mỏi, gương mặt ai cũng bị cào xước chảy máu bởi mấy bụi cây trong rừng. Thảm hại nhất là Jane, cô nàng bị một vết thương rất lớn ở tay. Anne nói rằng lúc chạy Jane vô tình ngã vào một đống vỏ chai thủy tinh vỡ vụn mà ai đó đã để quên ở giữa rừng. Tôi lấy trong ba lô của mình ra một ít bông băng để thấm máu. Mỗi lần miếng bông gòn chạm vào tay, Jane lại kêu lên khe khẽ. Tôi đoán rằng những mảnh thủy tinh vẫn còn găm lại bên trong.
Duy Anh khó nhọc mở lời:
“Liệu hai người kia có bị làm sao không anh Đức?”
Đức Hà Nội lắc đầu:
“Không biết được. Nếu may mắn thì được vào trại tị nạn, còn không thì chết dọc đường.”
Cái Phượng xòe bàn tay ra đếm. Giọng nó run run.
“Nhóm đó có bốn người. Một người chết vì trót ăn phải nấm độc. Một người qua đời do đột quỵ. Hai người còn lại thì chưa rõ sống chết, nhưng chắc là khó có đường sang Anh thêm nữa.”
Tôi thở dài não nề, chẳng muốn nghe thêm nữa. Ánh sáng tờ mờ của ngày mới xuất hiện, báo hiệu một đêm dài lại vừa trôi qua. Lúc này Ivan bắt buộc phải đưa ra quyết định. Hoặc là tiếp tục ở lại chờ đến tối thì mới băng rừng, hoặc là đi ngay lập tức. Sau một hồi cân nhắc và tính toán, Ivan lựa chọn phương án rời khỏi nơi này ngay trong buổi sáng hôm nay. Anh ta không giải thích, nhưng chúng tôi hiểu rõ, vụ vây bắt bọn mafia giao dịch ma túy đêm hôm qua vẫn chưa chấm dứt. Không thể loại trừ trường hợp sẽ có cảnh sát và chó nghiệp vụ đang tìm kiếm trong rừng. Giờ mà ở lại thì chẳng khác nào tự chui đầu vào rọ. Bởi thế mà chúng tôi bắt buộc phải di chuyển ban ngày. Thế là cả đoàn lại bắt đầu đi, chẳng hề được chợp mắt phút nào.
* * * * *
Chúng tôi mất thêm hơn hai tiếng đồng hồ nữa để di chuyển đến vị trí giáp với con đường từ cửa khẩu vào sâu trong nội địa. Nhìn thấy con đường màu xanh xanh xám xám cùng với bảng chỉ dẫn, trong lòng tôi khẽ reo vui:
“Trời ơi! Cuối cùng cũng ra khỏi đây được rồi.”
Mặc dù mọi người lúc này đều đã gần kiệt sức, nhưng cảnh tượng trước mắt cũng đủ khiến cho người nào người nấy mừng rơi nước mắt. Ivan bắt đầu cầm điện thoại để liên hệ với người trong đường dây. Sau cuộc nói chuyện qua điện thoại kết thúc, chúng tôi chờ thêm vài phút thì nhìn thấy phía trước có một chiếc xe ô tô màu đen chạy lùi lại. Ivan và Apmando ra hiệu cho mọi người bước xuống đường và bắt đầu ngồi vào trong cốp xe. Chúng tôi chưa kịp nhìn thấy mặt người tài xế thì dã bị tống vào đằng sau.
Mặc dù cốp của chiếc xe này khá rộng rãi, nhưng việc nhồi nhét gần chục người ngồi ở trong quả thực ngột ngạt. Mấy người đàn ông bị dồn vào bên trong, phụ nữ thì nhét bên ngoài. Lúc mới đầu, Đức Hà Nội khẩn khoản xin cho một người nằm xuống sàn ở băng ghế phía sau nhưng không được. Người ta sợ rằng cảnh sát sẽ phát hiện. Thế là đành chịu.
Trên đường đi, mọi người liên tục hỏi giờ và nhiệt độ. Chúng tôi đoán già đoán non, không biết bao giờ mới về được đến trạm trung chuyển. Vì nằm trong cốp xe tối om, nên tôi chẳng thể nào nhìn thấy đường để biết mình đang đi đến đâu.
Chú Sang cố gắng bảo mọi người ngủ một lúc để cho đỡ mệt. Duy Anh cười khổ, miệng méo xệch hỏi ngược lại:
“Nằm trong này thở còn không thở được thì làm sao mà ngủ được hả chú?”
Sau gần ba giờ đồng hồ, tôi bắt đầu nghe thấy nhiều tiếng động ở xung quanh, chứng tỏ xe đã đi vào con đường đông đúc. Mặc cho toàn thân đang tê cứng, âm thanh từ bên ngoài truyền tới khiến cho tất cả mọi người đều phấn khích. Tựa hồ như một cơn mưa nặng hạt xối xuống khu vườn sau những ngày khô hạn.
Chờ đợi thêm khoảng nửa giờ, Ivan mở cốp xe rồi ra hiệu.
“Xuống nhanh đi. Đến nơi rồi.”
Phải mất một lúc chúng tôi mới có thể chui ra, chân tay ai cũng quặp xuống như bị tật vì chuột rút. Tôi quan sát xung quanh rồi nhận ra vị trí mình đang đứng vốn là trong hầm đỗ xe của một tòa chung cư cũ kỹ. Lão cai lệ người Việt dẫn chúng tôi lên một căn hộ có ba phòng ngủ. Lão tự giới thiệu tên mình là Cường, nhập quốc tịch Đức cũng ngót nghét ba mươi năm. Vợ con lão ở một nơi khác trong thành phố, còn căn hộ này chỉ để dành đón những người từ Ba Lan hoặc Latvia sang. Gã thông báo với chúng tôi, cứ cách ba ngày sẽ có một chuyến sang Pháp. Phương tiện di chuyển duy nhất là xe ô tô. Ngộ nhỡ trên đường có vấn đề gì, chúng tôi sẽ gọi điện thoại báo cho gã. Khi sang đến Pháp sẽ có một người trong đường dây đón tiếp.
Ivan và Apmando ở lại cho chúng tôi gọi điện thoại về Việt Nam để dặn người nhà chuẩn bị tiền. Chú Sang, bà Loan, cái Phượng và Đức Hà Nội lần lượt gọi. Bốn người họ nói chuyện điện thoại với người nhà rất lâu, chỉ còn tôi và Duy Anh chờ đợi. Tôi rủ thằng bé ra ngoài ban công nói chuyện. Nó không ngần ngại mà đi theo luôn.
Bên ngoài trời rất lạnh, tuyết lại bắt đầu rơi. Tôi nhìn thấy một vài chiếc xe tải chở đầy những cây thông giáng sinh lên trên thùng. Trên khoảng sân sau của chung cư, một đám trẻ con đang chơi đùa ngoài tuyết. Một đứa bé gái vô tình bị vấp ngã, nó khóc váng lên để thu hút sự chú ý của người khác. Ngay lúc đó, một bà cụ vội vàng chạy đến đỡ nó dậy rồi bế nó biến mất khỏi tầm mắt của tôi. Chắc hẳn đó là hai bà cháu.
Cảnh tượng ấy làm cho khóe mắt tôi cay cay. Duy Anh thở dài bên tai:
“Mình đi được hai phần ba chặng đường rồi chị nhỉ.”
Tôi gật đầu. Nó lấy từ trong túi áo khoác ra một bao thuốc lá, tự châm lửa rồi đưa lên trên miệng phì phèo. Tôi nhìn nó ngạc nhiên.
“Mày biết hút thuốc à? Sao chị chưa bao giờ thấy?”
“Em không nghiện. Em chỉ hút cho đỡ buồn.” Duy Anh nhún vai.
Nó lại nói tiếp:
“Em chắc không dám gọi điện thoại về nhà. Bố mẹ em giờ chưa chắc đã xoay nổi tiền.”
Tôi không bất ngờ trước thông tin này. Thế là tôi nói với nó:
“Chị còn ít tiền phòng thân. Nếu cần thì chị sẽ cho mày mượn.”
Thấy tôi chủ động mở lời, thằng bé thoáng ngạc nhiên. Nó định nói điều gì đó nhưng lại ngập ngừng. Sau cùng thằng bé gật đầu cảm kích, còn hứa sẽ cố gắng kiếm tiền để trả tôi thật sớm. Tôi không muốn nói cho nó biết số tiền mà tôi vô tình nhặt được trên thi hài của người đàn ông chết trong rừng. Quãng thời gian lưu lạc ở khắp châu Âu đủ để dạy tôi một điều rằng không phải lúc nào thật thà cũng là tốt. Tôi nhón tay lấy một điếu thuốc từ Duy Anh rồi đưa lên miệng. Làn khói xộc thẳng vào vòm họng rồi thông lên mũi khiến tôi ho sặc sụa. Thằng bé bên cạnh nhìn tôi cười cười.
“Thôi! Chị hút cái này làm gì? Nghiện thì lại khổ!”
Khi tôi chưa kịp trả lời thì cái Phượng đã ló đầu ra gọi:
“Lam! Đến lượt mày gọi điện thoại rồi. Vào đi!”
Tôi lặng lẽ theo nó vào bên trong. Cầm điện thoại trên tay, bấm một dãy số quen thuộc rồi bắt đầu chờ đợi. Đầu dây bên kia vang lên âm thanh báo tín hiệu, giọng nói của bố tôi truyền lại:
“Alo? Ai đấy?”
Tôi hơi ngập ngừng:
“Bố ạ? Con đây!!”
“Lam đấy à? Đi đến đâu rồi?” Giọng nói hờ hững của bố bắt đầu thay đổi.
“Con đi đến Đức rồi. Vài ngày nữa là bắt đầu lên đường sang Pháp.”
“Vậy à? Ở quê nhà tầm này lạnh lắm rồi. Bố mẹ đang muốn sửa lại cái mái nhà, rồi mua cho thằng Huy một cái máy vi tính...” Ngữ điệu của bố càng lúc càng phấn khởi.
Tôi không muốn đáp lại mà đột ngột cắt ngang:
“Bố ơi! Giờ con nói chuyện với bà ngoại được không ạ?”
Vừa nhắc đến bà ngoại, nụ cười của bố tôi bỗng tắt ngúm.
“À..ừm...Bà ấy mất rồi con ạ. Mất được hai tuần...”
“Cái gì cơ...” Tôi lắp bắp không thành tiếng. Toàn thân chết sững, trái tim gần như vỡ tan thành từng mảnh. Mọi người trong phòng ngoái lại nhìn tôi với ánh mắt tò mò.
“Bố.. bố nói gì cơ ạ? Sao bà ngoại lại mất được?” Tôi lắp bắp không thành lời.
Bố dửng dưng đáp:
“Bà ấy hôm trước bị cảm lạnh. Thế rồi qua đời.”
Tai tôi ù đi. Mặt đất như đang đổ sụp dưới chân. Bố tôi nói những gì sau đó, tôi không thể nghe được nữa. Chiếc điện thoại trượt ra khỏi tay, muốn khóc mà không thể nào khóc được. Có một thứ gì đó quặn lên từ dạ dày, đi ngược lên cuống họng, làm cho tôi khó thở vô cùng. Phần thân trên của tôi gập xuống, mọi thứ tối sầm lại.
* * * * *
Khi tôi tỉnh lại thì đang thấy mình nằm trên giường, mùi dầu gió thoang thoảng xung quanh. Tôi nhớ lại cái tin bà ngoại mất ngay khi vừa mở mắt ra. Cơn đau quằn quại và dai dẳng trong lòng khiến cho tôi vã mồ hôi. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi biết thế nào là nước mắt chảy ngược vào tâm can.
Bà Loan và cái Phượng nói với tôi vài câu an ủi. Jane và Anne được Đức Hà Nội nói lại cũng đến nắm tay tôi để chia sẻ. Tôi cảm kích lắm, nhưng sẽ tốt hơn nếu họ để tôi lại một mình. Tôi mua của lão Cường mấy bao thuốc lá, rồi ngồi ở lối cầu thang thoát hiểm để hút thuốc một mình. Căn chung cư xập xệ này cũng chẳng còn nhiều người ở, cho nên lão cai phá lệ cho phép tôi đứng bên ngoài. Mấy lần đầu tiên tôi ho sặc sụa, nhưng rồi cũng quen dần. Tôi miên man suy nghĩ về những chuyện đã qua, những người đã gặp và cả con đường ở phía trước.
Khi ánh mặt trời từ đằng xa xuất hiện, từng tia nắng rọi vào ô cửa kính, cũng là lúc tôi nhận ra dưới chân mình toàn là tàn thuốc. Tôi cặm cụi thu dọn đống rác rưởi trên nền đất, rồi quay trở vào căn hộ. Mọi người vẫn đang ngủ, tiếng ngáy đều đều của chú Sang và Đức Hà Nội vẫn như mọi ngày. Tôi ngồi nhẩm đếm lại đống tiền mà mình nhặt được, trừ số tiền phải trả cho bọn Ivan, thì tôi vẫn còn giữ kha khá. Đáng lẽ tôi định sẽ gửi cho bà ngoại một phần, nhưng giờ bà chẳng còn nữa. Người duy nhất yêu thương tôi cũng đã rời khỏi trần thế này, vậy thì còn gì để tôi luyến tiếc. Tiếng chim hót ríu rít trên cành cây cao thu hút sự chú ý của tôi. Chúng không biết rằng có một đôi mắt đang thẫn thờ nhìn chúng. Tôi mím môi thật chặt, quyết định từ giây phút này sẽ bắt đầu sống cho riêng mình. Tôi vuốt ve chiếc đồng hồ trên tay. Đây là kỷ vật duy nhất mà bà ngoại tặng tôi trước khi rời xa mãi mãi. Một giọt nước rơi bộp xuống mặt đồng hồ. Tiếp theo đó là dòng nước mằn mặn thi nhau lăn dài trên má. Tôi vùi mặt vào trong chiếc chăn cũ kỹ, cảm giác rằng thế giới này chẳng còn gì giá trị.
* * * * *
Tối muộn hôm ấy tôi mới tỉnh dậy. Mọi người đi đi lại lại trong nhà, cố gắng tắm rửa để gột sạch bụi bẩn vương trên đường. Để được tắm nước nóng, chúng tôi phải trả thêm một ít tiền. Lâu lắm rồi tôi mới được đứng dưới làn nước ấm áp. Dòng nước xối vào mặt chẳng thể nào phân biệt được đâu là nước mắt, đâu là nước từ vòi. Tôi tự an ủi mình bằng cách cố gắng sống tiếp, như cái Phượng an ủi tôi rằng: Chắc chắn bà ngoại trên trời cao cũng chẳng muốn tôi giày vò bản thân mình mãi. Tôi soi mình trong gương, đôi mắt đã sưng húp và đỏ mọng. Tôi cảm thấy đói bụng và muốn ngủ thêm một lúc trước khi chuẩn bị đi đến nước thứ năm trong chuyến hành trình.
Vào trước đêm xuất phát, những người trong đoàn họp lại. Tôi và Duy Anh đã đóng tiền trực tiếp cho Ivan, nên hai chị em chắc chắn có mặt trong chuyến đầu tiên sang Pháp. Hai người tiếp theo là bà Loan và Đức Hà Nội. Nhóm chú Sang sẽ khởi hành sau đó ba ngày, ấy là trong trường hợp gia đình tại Việt Nam xoay đủ tiền.
Chúng tôi thống nhất sẽ vẫn cùng nhau tạo thành một nhóm, những người đi trước sẽ chờ những người đi sau. Nghe nói tại Pháp sẽ có một nhà kho rất rộng lớn, đủ sức chứa hàng trăm người từ khắp các nơi tụ họp về. Vì thế tình hình cũng phức tạp hơn hẳn mọi lần.
Đang ngồi thảo luận thì lão Cường đẩy cửa bước vào. Giọng lão khò khè.
“Đi ngủ sớm đi. Mai đi sớm đấy. Khoảng năm giờ sáng mai sẽ có một chiếc xe ô tô bảy chỗ màu đỏ đứng đợi ở dưới gốc cây trước cửa nhà này. Cái Lam, thằng Duy Anh, bà Loan và thằng Đức sẽ đi trước. Thấy xe là phải lên ngay, tuyệt đối không được nói chuyện hay quay ngang quay ngửa gì. Nếu để cho người khác chú ý là hỏng bét, nhớ chưa?”
Chúng tôi gật đầu. Được nghỉ ngơi mấy ngày cũng làm cho sức khỏe của bà Loan phần nào được cải thiện, bà rưng rưng nhìn mọi người. Đức Hà Nội bèn cười to:
“Ơ kìa cô Loan ơi. Nhà mình còn gặp lại nhau để cùng sang Anh nữa mà. Cô nói lời tạm biệt sớm thế. Hay là cô muốn tâm sự riêng với chú Sang thì bọn cháu xin được phép cáo từ.”
Mọi người cười ồ lên. Ngay cả tôi cũng phì cười. Chỉ riêng hai nhân vật chính là ngượng nghịu khẽ trách yêu trò đùa của đám thanh niên. Tôi lên giường từ rất sớm. Trong khi cái Phượng mải nói chuyện với bà Loan thì tôi mở quyển nhật ký ra và bắt đầu nắn nót:
“Ngày... tháng... năm 1999
Đêm nay là đêm cuối cùng mình ở Đức, ngày mai lại tiếp tục lên đường rồi. Mình đã từng nhủ với lòng, phải cố gắng sang đến Anh, làm được thật nhiều tiền để có cơ hội đón bà ngoại sang ở cùng. Ước muốn ấy giờ chẳng thể nào thực hiện được nữa. Mình vẫn chưa thể chấp nhận được sự thật này. Ngay lúc này mình chỉ ước sao bà ngoại vẫn còn sống khỏe mạnh. Mình sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để quay lại ngày xưa, quay lại Việt Nam để được ôm lấy nắm mồ của bà. Bà ơi!”
Tôi lau vội giọt nước mắt đang chực trào ra. Nỗi đau buồn khi mất đi một người nào đó lơ lửng trong không khí ở xung quanh. Nó chân thật đến nỗi ta có thể chạm vào nó bất cứ lúc nào. Dù là khi mơ hay khi tỉnh, dù là ban đêm hay ban ngày. Cơn đau đớn ấy vẫn sẽ tồn tại vĩnh viễn.
* * * * *
Bốn người chúng tôi thức dậy giấc sớm vào sáng hôm sau. Chú Sang, cái Phượng và hai cô gái người Trung gốc Phi kia tiễn chúng tôi ra tận cầu thang. Lão Cường và bọn Ivan không theo ra ngoài, chỉ thúc giục chúng tôi nhanh chóng lên chiếc xe đang chờ sẵn. Khi đi được vài bước, tôi ngoái đầu lại rồi vẫy tay tạm biệt Ivan và Apmando. Không biết có phải tôi tự mình tưởng tượng hay không, mà dường như Ivan hơi mỉm cười rồi gật đầu chào tôi.
“Tạm biệt nhé Ivan! Sau lần này sẽ chẳng bao giờ gặp lại nữa rồi.” Tôi nhủ thầm trong đầu.
Bên ngoài trời khô ráo nhưng vẫn lạnh đến mức hơi thở muốn đóng băng, tôi đeo một đôi găng tay thật dày, quàng chiếc khăn len to sụ, cố giữ thật chặt vào quai ba lô để cho bớt trống trải. Chúng tôi bước ra khỏi sảnh của tòa nhà, bắt đầu vòng con đường bên trái. Vì còn quá sớm nên đường đặc biệt vắng vẻ, chỉ nhìn thấy những chiếc xe nối đuôi nhau tấp vào lề đường. Đi được một đoạn, Duy Anh chỉ tay về phía trước:
“Kia có phải là xe đang chờ mình không nhỉ?”
Ba người chúng tôi lập tức nhìn theo. Quả thực ở phía trước có một người đàn ông đeo kính đen đang ngồi trong chiếc xe bảy chỗ màu đỏ chờ sẵn. Ngoại trừ nó ra, xung quanh không có một chiếc xe nào nổ máy. Đức Hà Nội mở cửa bước lên ngồi ở khu vực ghế phụ, còn ba người chúng tôi ngồi phía sau. Lão tài xế này là dân da trắng, trông còn già hơn cả lão Cường. Chờ chúng tôi ổn định, lão chẳng nói chẳng rằng chỉ nhả phanh, đạp ga rồi đi thẳng. Khi vừa qua chỗ ngoặt để bước vào đường lớn, lão vất cho Đức Hà Nội một xấp giấy nho nhỏ, bên trên có ghi mấy dòng chữ tiếng Việt.
Tôi hỏi ngay:
“Bên trên viết gì thế anh Đức?”
Anh ta nhìn một lúc rồi liệng về phía sau cho tôi. Ba chúng tôi chụm đầu vào để xem mấy dòng chữ trên giấy. Trên giấy gần như là một bức thư dặn dò.
“Tao đang đưa chúng mày sang Pháp. Đoạn đường này không giống như nơi chúng mày đã từng đi. Nếu như cảnh sát có bắt xe dừng lại và kiểm tra giấy tờ của bọn mày, thì tất cả phải nói rằng gặp tao giữa đường rồi xin đi nhờ xe. Tuyệt đối không được khai điều gì về tao. Đọc xong thì xé tờ giấy này rồi vất ra ngoài cửa sổ.”
Chúng tôi đương nhiên là đồng ý với lời đề nghị này. Chờ cho những vụn giấy bay vụt ra đằng sau rồi mất hút, lão tài xế già mới mở một bản nhạc chầm chậm để rải sầu. Tôi tựa đầu vào vai Duy Anh để ngắm cảnh vật trải dài trước mắt. Những tòa nhà, những chiếc xe đủ màu, một vài bức tượng ông già tuyết được dựng lên trước cổng của vài cửa hiệu. Tất cả hiện lên rõ ràng rồi vụt qua cửa sổ. Cơn buồn ngủ ập đến nhanh chóng, tôi đắp tạm chiếc khăn len lên người để chìm vào cơn mộng mị.
* * * * *
Không biết rằng tôi đã ngủ bao lâu, chỉ biết là khi tỉnh dậy thì xe đã vào nước Pháp. Điều này làm cho bốn người chúng tôi khá ngạc nhiên, bởi vì tất cả đều tưởng tượng rằng phải băng rừng lội suối để vào đất Pháp, chứ không hề nghĩ mọi thứ lại đơn giản đến vậy. Tôi định hỏi thăm lão tài xế già, nhưng bà Loan lại ngăn lại. Rõ ràng lão đã cấm chúng tôi không được hỏi bất cứ thứ gì ngay từ khi khởi hành.
Chiếc xe bắt đầu chuyển hướng đi từ con đường vắt ngang qua cánh rừng vào tới một vùng nông thôn. Dù cho trong lòng còn đang thấp thỏm, nhưng không thể nào không nhận thấy cảnh vật nơi đây đẹp đến nao lòng. Từng ngôi nhà, từng bụi cây ẩn mình trong màn tuyết trắng hệt như những bức tranh được vẽ trên tấm thiệp giáng sinh. Chỉ có điều, tuyết ở nơi này vẫn chưa rơi dày bằng khu rừng biên giới giữa Đức và Ukraina, nhiệt độ cũng ấm áp hơn vài phần.
Lão tài xế già đưa chúng tôi đến một căn nhà rất lớn. Chính xác là một kho nhà xưởng bỏ hoang nằm hiu quạnh bên bìa rừng. Tôi không biết nơi này cách Paris bao xa, nhưng chắc chắn nó phải nằm trên một tuyến đường thuận tiện cho việc di chuyển những bãi đỗ xe container chờ khởi hành sang Anh.
Còn nhớ cách đây vài chục tiếng đồng hồ, lão Cường cai lệ đã từng giải thích cho chúng tôi. Cung đường mang tính quyết định trong hành trình vượt biên là từ Pháp sang Anh qua eo biển Manche. Để có thể qua được ải này, chúng tôi chỉ có hai lựa chọn duy nhất, một là nhảy lên container và trốn ở trong đó. Sau khoảng bốn tiếng sẽ qua phà để tới Anh. Lựa chọn thứ hai mạo hiểm hơn, đó là tập trung tại rừng Calais thuộc thành phố cùng tên, nằm trong vùng Nord – Pas de Calais. Khu rừng này có hàng nghìn người tị nạn, đủ các quốc tịch, sống trong lán trại từ năm này qua năm khác. Tất cả đều chờ cơ hội vượt biên vào Anh.
Lão Cường còn bảo, tình hình nơi này khủng khiếp đến nỗi, bọn lái người làm theo đường dây xuyên lục địa nhưng chẳng bao giờ muốn lai vãng, vì chẳng thể biết người tiếp theo bị cướp, hiếp, giết có phải là mình hay không. Những người xuất phát trong khu rừng này cũng có thể chọn cách trèo lên xe container, nhưng phổ biến hơn vẫn là vượt biển bằng thuyền. Vài kẻ tị nạn sẽ hùn tiền với nhau để thuê một chiếc thuyền ọp ẹp cùng với người dẫn đường, và cuộc hành trình lênh đênh cũng bắt đầu từ đó. Thế nhưng, cũng có không ít trường hợp bọn dẫn đường lại trở mặt lừa đảo. Chúng nhận tiền đặt cọc xong liền lập tức bỏ trốn, tệ hơn nữa là giết người cướp của. Những người phụ nữ trong những khu rừng này, tất cả đều bị cưỡng bức dã man. Có rất nhiều trường hợp, những gã đàn ông sẽ làm nhục phụ nữ cho đến chết. Ngay cả khi chết rồi, thi thể vẫn bị xâm hại vì trên đời này không thiếu gì những kẻ bệnh hoạn muốn làm tình với tử thi.
Tôi nghe mà thấy lạnh cả sống lưng. Tự mình cảm thấy may mắn khi được bước vào trong căn nhà kho này. Lão tài xế già giao chúng tôi cho vợ chồng chủ kho thì bỏ đi ngay, chẳng thèm nói một lời. Tôi cũng không để ý nhiều tới lão. Chủ của nhà kho này là một cặp vợ chồng người Việt, ít nhiều cũng ngót nghét ngoài sáu mươi tuổi. Ông chồng tên là Đại, bà vợ tên là Xuân. Dù chưa thể lên hàng lão, nhưng ông chủ nhà kho yêu cầu tất cả mọi người gọi ông ta là lão Đại. Đức Hà Nội thầm thì với tôi, có lẽ rằng lão xem phim xã hội đen Hongkong nhiều quá. Tôi không hùa theo, chỉ hơi nhíu mày nói nhỏ:
“Liệu mà giữ mồm giữ miệng.”
Lão Đại quay lại nhìn tôi rất lâu, đôi mắt híp chặt trên gương mặt núng nính mỡ.
“Em tên gì? Em ở đường dây của thằng Ivan sang đây à?”
Tôi thoáng chút giật mình.
“V...vâng! Em tên Lam ạ.”
Bị một lão già còn hơn tuổi bố mình gọi là em, tôi có phần sượng sùng. Bà vợ lão nhìn tôi lườm một cái rồi quay đi. Bà Loan bấu nhẹ vào tay toi nói thầm:
“Coi chừng! Thằng này để ý mày rồi con ạ.”
Tôi cũng vừa nghĩ đến tình huống ấy. Thế là tôi không dám nói gì thêm, chỉ lẳng lặng cúi đầu thật thấp. Bước vào căn nhà kho, bốn người chúng tôi ngỡ ngàng vì bên trong phải đến mấy chục người. Tất cả đều đang đợi cơ hội để nhảy container như tôi. Lão Đại chỉ vào một góc nhà nằm đối diện với phòng vệ sinh.
“Kia là chỗ của bốn người. Đến bữa thì sẽ có người mang cơm đến. Muốn đi đâu thì phải đăng ký ra ngoài. Không muốn cuốc bộ thì phải trả tiền xe.”
Duy Anh buột miệng:
“Được đi ra ngoài hả bác? Chỗ này cách Paris xa không?”
Lão Đại nhếch mép:
“Đi đâu chẳng được, nhưng cảnh sát bắt mày thì phải ngồi trong trại giam hai mươi tư giờ mới được thả ra. Lúc đó lỡ chuyến xe đi container thì ráng mà chịu. Bọn tây nó gom người theo đợt chứ không đợi ai đâu.”
Đức Hà Nội tò mò.
“Vậy là vợ chồng bác không gom người ạ? Cháu chưa nhìn thấy thằng tây nào ở đây cả? Muốn đăng ký nhảy xe sớm thì phải làm sao?”
Bà Xuân cắt ngang lời:
“Thôi vào đi! Bao giờ có tin gì bọn tao nói cho biết.”
Chúng tôi bước vội vào bên trong, hầu hết mọi người đều quay ra nhìn cả nhóm với ánh mắt tò mò. Trước lúc rời đi, lão Đại còn ngang nhiên véo vào mông tôi một cái. Tôi chưa kịp phản ứng thì bà Xuân đã quắc mắc nhìn tôi và lão. Thế là tôi vội vàng quay đi coi như chưa xảy ra chuyện gì, để mặc lão bị bà vợ véo cho một cái đau điếng.
Phải đến khi vợ chồng lão đi rồi, chúng tôi mới có dịp quan sát kỹ hơn chỗ ở tạm của mình. So với nơi này thì những căn nhà kho trong rừng chẳng khác nào thiên đường mặt đất. Sàn nhà ngập ngụa rác rưởi, chiếc giường cáu bẩn và nhà vệ sinh nồng nặc mùi khai. Cả nhóm quyết định sẽ khiêng giường ra xa một chút để tránh mùi, sau đó mới tiến hành phủi bụi. Bà Loan và Duy Anh hơi nhăn mặt nhưng cũng chẳng nói gì thêm, chỉ cắm đầu vào dọn dẹp.
Một vài nhóm người chờ đợi trong kho này vì không có việc gì làm, cho nên bày ra trò đánh bạc. Một nhóm đàn ông nói giọng địa phương thành thục nháo bài, sau đó chia cho những người cùng chơi. Nhiều khi chỉ tranh chấp vài đồng bạc lẻ nhưng cũng cãi nhau ỏm tỏi. Tôi đặc biệt chú ý đến một người đàn bà mặc một chiếc áo thổ cẩm ngồi trong góc. Bà ta trải một cái chiếu ngồi dưới đất, nhìn chăm chú vào mấy quân bài tú lơ khơ được xếp gọn gàng. Theo phỏng đoán của tôi, có thể bà ấy đang xem bói. Duy Anh và tôi bước đến, cúi xuống bắt chuyện:
“Bác đang làm gì đấy ạ?”
“Muốn xem bói không?” Người đàn bà chào mời.
Duy Anh đưa mắt nhìn tôi, tỏ rõ vẻ không hứng thú với trò này. Tôi thì khác, tôi lấy trong túi ra một tờ bạc lẻ rồi đưa cho người trước mặt.
“Cháu chỉ có từng này thôi. Có được không ạ?”
Bà thầy bói gom lại bộ bài, rồi đưa ra trước mặt. Tôi hiểu ý, vội đón lấy rồi nháo đều. Chờ tôi làm xong, bà ấy lại hỏi:
“Muốn xem có đi được sang Anh phải không?”
“Vâng! Bà xem giúp cháu.” Tôi thành thật.
Theo yêu cầu của bà ta, tôi rút ra mười hai lá bài, tất cả đều úp xuống dưới chiếu. Đức Hà Nội và bà Loan, cùng mấy người phụ nữ khác trong nhà lúc này cũng cảm thấy tò mò nên kéo đến xem. Bà thầy bói lẩm nhẩm khấn vái một lúc rồi yêu cầu tôi lật những lá bài lên.
Lá thứ nhất là bảy bích.
Lá thứ hai là bốn bích.
Lá thứ ba là mười bích.
Cứ như thế cho đến lá thứ mười hai, tất cả đều là quân bích. Tuyệt nhiên không thấy một chất nào khác. Gương mặt bà ấy đột ngột trở nên trắng bệch, nhìn tôi rồi phán:
“Xấu lắm... Tình hình trước mắt xấu lắm. Đi về đi. Đi về đi. Đừng đi nữa.”
Tôi ngẩng đầu nhìn bà Loan tỏ ý băn khoăn. Giữa cơn khó xử, một người nào đó đột ngột cất giọng nói oang oang:
“Toàn là lừa đảo. Lần nào bà này cũng tiên đoán cho người ta là không đi được. Thế mà có thấy gì đâu.”
Bà thầy bói quắc mắt nhìn về phía người kia. Rồi lắc đầu nói với tôi:
“Mày đi chuyến này không thuận đâu. Đi rồi lại về. Đến khi đi được thì gặp tai họa.”
Tôi không phản bác cũng chẳng tỏ thái độ lo lắng, chỉ gật đầu rồi đứng dậy. Lẽ dĩ nhiên là tôi không tin bà ấy. Đức Hà Nội nói với mọi người trước khi chúng tôi đi ngủ:
“Nếu bà kia đoán được là con đường đi nguy hiểm, vậy thì bà ấy còn mò tới tận đây làm gì? Bà ấy chỉ đang muốn hù dọa cho chúng ta sợ để nhường suất cho bà ấy đi trước mà thôi.”
Duy Anh gật đầu lia lịa, cá nhân tôi cũng cho rằng cách lý giải ấy đều có lý. Vậy nên tôi chẳng hề nghĩ ngợi gì cả.
* * * * *
Tình hình trật tự trong căn nhà kho này đặc biệt phức tạp. Vì lẽ đó mà chúng tôi quyết định vẫn duy trì việc phân chia ca để canh gác cho người khác nghỉ. Vì đã ngủ say sưa trên xe ô tô, nên tôi xung phong trông cho mọi người ngủ trước. Nhìn bà Loan vừa nằm vừa bịt mũi, tôi đoán chừng bà ấy đang khó chịu vì mùi khai nồng bốc lên từ nhà vệ sinh gần đó. Cũng may là trời đang lạnh nên mùi xú uế còn đỡ, nếu như chúng tôi lưu trú lại trong nhà kho này vào đúng lúc tiết trời oi ả, thật chẳng biết có chịu nổi được không.
Tôi ngồi nhìn mọi người xung quanh. Nhiều nhất là người Việt, kế đến là người Trung Quốc và có cả vài người quốc tịch Thái Lan. Họ kể cho nhau nghe hành trình của mình trước khi góp mặt tại đây. Có người xuất phát từ Hàn Quốc, người khác lại đi đường bộ từ Thổ Nhĩ Kỳ mất ròng rã gần chín tháng trời. Cũng có nhiều người chọn lựa cách đóng lệ phí cao cho người trong đường dây để được bay thẳng từ Việt Nam qua Pháp. Mới đầu tôi cũng cảm thán vì điều này, ít ra họ không phải chịu cảnh băng rừng lội suối, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị bỏ mạng như chúng tôi. Về sau tôi mới biết, phàm những ai khi lựa chọn di chuyển bằng đường hàng không như thế, qua tới Pháp sẽ bị “lăn tay”. Nếu chẳng may bị cảnh sát bắt giữ sẽ bị trả về địa điểm mà mình xuất phát.
Ngồi nói chuyện thêm một lúc, những người đi trước kể cho tôi nghe họ đã trèo lên xe container bao nhiêu lần. Người thì xòe năm ngón tay ra trước mặt, người khác thì nói bảy lần. Đáng kể nhất phải là hai vợ chồng một nhà nọ người Nghệ An. Cả hai đã trèo lên rồi lại bị bắt xuống khỏi container cả thảy là mười hai lần. Tôi nhìn bụng người vợ lùm bùm mà thấy ái ngại thay cho họ. Có người rỉ tai khoe với tôi, cái bụng bầu của người vợ vốn dĩ không phải của ông chồng, mà là của một trong số những thằng lái người. Chúng nó thay nhau làm nhục trước mặt chồng, nhưng cả hai vẫn phải cắn răng bỏ qua. Số tiền vay mượn khắp nơi để cả hai đi vượt biên còn lơ lửng ở đó, chỉ trừ khi chết mới thoát được món nợ này. Tôi bắt đầu cảm thấy hối hận khi nghe mọi người tâm sự. Ai cũng có một hoàn cảnh éo le, điều ấy khiến cho lòng tôi chùng xuống. Một người thanh niên gầy gò ôm chiếc đàn ghi ta cũ nát ngồi hát nghêu ngao:
“Ôi kiếp xa xứ! Sống chết nơi đất khách quê người.
Chẳng ai thương yêu, chẳng ai coi trọng.
Chẳng ai nói cho con biết.
Đường nào về quê mẹ, mẹ ơi!”
Bài hát rời rạc, nhưng tiếng đàn tựa như lưỡi dao cứa vào tim. Anh ta vừa mới hát được đến đó thì mấy người khác đã làu bàu. Làm gì có người nào chịu nổi cảnh tượng này trong ráng chiều tịch mịch? Cuối cùng cũng chỉ đành lén một tiếng thở dài.
* * * * *
Sang ngày hôm sau, thời tiết đã có chút chuyển biến. Sắc trời hôm nay phủ một màu xanh nhàn nhạt, tôi nghe đâu đó có tiếng chim hót trên cành. Để cho đỡ buồn, tôi rủ ba người còn lại đi lên Paris để chơi. Dẫu sao cũng chẳng còn ở đây được mấy ngày. Nghe thấy tôi gợi ý, mọi người đồng ý ngay. Chúng tôi được lão Đại chở trên xe ô tô, ban đầu tôi hơi ngần ngại vì sợ mụ Xuân sẽ hiểu lầm, nhưng lão cười hề hề nói rằng vợ lão đang đi thăm con gái đẻ, chưa thể về ngay. Bọn đàn em lão thuê cũng có thể canh gác kho chứa người, nên lão sẵn lòng đưa chúng tôi đi. Trong đầu tôi thoáng nghi ngờ về thái độ kỳ lạ này. Nhưng chính tôi lại tự thuyết phục mình, rằng đi cùng với nhiều người thế này, lão sẽ chẳng dám giở trò.
Khác với gã tài xế lần trước luôn luôn tỏ ra cảnh giác cao độ và im lặng trong suốt hành trình, lão Đại ưa kể chuyện. Lão bảo rằng, nhiều người Việt trong lúc chờ đợi được nhảy xe container vẫn thường bỏ ra ngoài để kiếm sống. Không ít người còn móc nối được với những người trồng cần sa trong nhà để xin vào chăm cây. Việc ấy tuy kiếm được rất nhiều tiền để gửi về quê nhà, nhưng cũng đi kèm với rủi ro cao. Hoặc là bị cảnh sát bắt giữ, hoặc là bị những băng đảng phi pháp theo dõi rồi cướp trắng trợn. Khi đám cướp ập vào bên trong, muốn giữ mạng thì phải đứng yên để chúng vơ vét, chỉ cần chống cự hoặc hô hoán thì chỉ còn nước về chầu ông bà ông vải. Tôi không đến nỗi phải bán mạng để làm việc ấy, nhưng Duy Anh và Đức Hà Nội tỏ ra đặc biệt quan tâm. Không cần phải nói ra nhưng tôi cũng biết cả hai đều rất cần tiền.
Đoạn đường từ khu nhà kho đi đến Paris cũng phải mất vài tiếng đồng hồ. Giá như chúng tôi là những người nhập cư hợp pháp, có thể tự đi bằng phương tiện công cộng. Nhưng bây giờ, ngoài việc phải nhờ lão Đại đưa đi thì quả thực chẳng còn cách gì khác. Sau khi đi qua rất nhiều cầu và khu phố từ lớn đến nhỏ, cuối cùng Paris cũng hiện ra trước mắt tôi với vẻ đẹp tráng lệ. Mặc dù chưa thể nhìn thấy tháp Eiffel, nhưng quang cảnh xung quanh cũng đủ khiến tất cả mọi người cảm thấy náo nức.
Tôi khá bất ngờ khi biết được có thể mua vé để bước vào thang máy rồi lên đỉnh tháp Eiffel. Người ta tin rằng, khi lên tới đỉnh cao nhất có thể cầu nguyện và điều ước ấy sẽ trở thành hiện thực. Tôi không có nguyện ước gì lớn lao, trước kia tôi muốn có thật nhiều tiền để cùng bà ngoại sống thật an yên, giờ thì chỉ mong sau có thể bình an đến cuối đời là đủ. Chúng tôi ngồi trong xe, ngắm nhìn ngọn tháp từ phía xa, tự nhủ một ngày nào đó sẽ quay trở lại trong một tâm thế khác. Khoảnh khắc được nhìn ngọn tháp sừng sững nổi bật trên nền trời xanh khoáng đạt ấy, chúng tôi đâu biết rằng, niềm mong muốn đơn thuần ấy, mãi mãi chẳng thể nào chạm vào được.
Lão Đại đưa chúng tôi trở về nhà khi trời đã quá trưa. Xe đi được một lúc lâu, tôi bỗng mơ hồ nhận ra con đường này không giống với con đường buổi sáng từng đi. Đức Hà Nội hỏi nhanh:
“Sao lại chạy vào rừng thế này hả chú?”
Lão Đại không trả lời, chân nhấn ga để phóng nhanh hơn. Tim tôi bắt đầu đập loạn lên vì lo sợ. Không biết đang toan tính điều gì trong đầu?
Khi vừa đến một con đường mòn nho nhỏ, bên cạnh có một cái lán để làm chỗ dừng chân. Lão dừng xe, quay lại nhìn tôi rồi hất hàm:
“Xuống đi! Còn đợi gì nữa?”
Tôi ngây ra không hiểu, quay ra nhìn ba người còn lại, ai nấy cũng đều ngơ ngác. Lão Đại bước xuống xe, vòng ra đằng sau rồi mở cửa xe cho tôi, mặt lão lạnh như tiền:
“Không hiểu à? Xuống nhanh lên!!!”
Tôi chết đứng như trời chồng, lập tức hiểu lão đang muốn điều gì. Từ lúc bước vào căn nhà kho này, tôi vẫn biết lão có ý với mình. Chỉ không ngờ lão dám hành xử như thế trước mặt tất cả mọi người ở đây. Tôi vô thức ngoái lại nhìn ba người trong nhóm, ai cũng cúi đầu quay đi. Riêng bà Loan thì thở dài não nề. Trách mình quá chủ quan cũng không thể thay đổi được điều gì, tôi lựa chọn cách ngả bài thẳng thắn:
“Vậy tôi có được quyền ưu tiên nhảy container sớm hơn không nhỉ?”
Nụ cười nham nhở của lão sững lại. Lão chất vấn:
“Mày định quỵt tiền của bọn đường dây à?”
Tôi bước ra ngoài, nhìn thẳng vào mặt lão cười nhạt:
“Không! Tôi không quỵt, mà là ông quỵt mới đúng. Ông muốn có tôi thì phải buộc trả giá chứ, hay là để tôi nói với bà Xuân nhỉ? Mọi người trong kho nói với tôi, ông vẫn chưa được nhập quốc tịch Pháp. Nếu giờ mà bà ấy biết được chồng mình lang chạ sau lưng, thật không biết sẽ nghĩ gì.”
Lão Đại nhìn tôi gầm gừ. Tôi rút từ trong túi áo khoác ra một bao thuốc, điềm nhiên châm lửa rồi thở ra một làn khói mờ. Lão còn đang phân vân, thì tôi lại giục:
“Nhanh lên lão đại! Có quyết định hay không là ở ông đấy.”
Kẻ đốn mạt trước mắt tôi cay đắng nhổ cái toẹt một cái rồi bước vào xe, chở chúng tôi về nhà. Ba người kia trố mắt nhìn, không ai có thể ngờ rằng tôi lại dám cả gan đến thế. Về đến nhà rồi nhưng mà tôi vẫn chưa hết run, câu chuyện về Tái ông thất mã cứ luẩn quẩn trong đầu tôi. Lần này thoát được lão dâm ô này, nhưng chưa chắc lần sau đã may mắn đến thế. Tôi không ngờ rằng, cái lần sau mà tôi lo lắng lại đến nhanh như vậy.
* * * * *
Lúc chúng tôi về nhà, bà Loan đại diện nhóm đưa cho lão Đại ít tiền. Gương mặt của lão nặng trịch vì tức giận. Giả như bình thường, tội gì lão phải bỏ công chở chúng tôi đi ra ngoài như thế. Với tư cách là chủ kho, lão thiếu gì mấy thằng đàn em để sai bảo. Đức Hà Nội sổ toẹt rằng, lão Đại bất quá cũng chỉ là một kẻ bám váy đàn bà, không hơn không kém. Chúng tôi không hơi đâu để tâm đến vị thế của lão trong gia đình, mục tiêu trước mắt là phải sang được Anh càng sớm càng tốt.
Tôi vừa bước vào kho đã nghe thấy một giọng nói rất quen gọi giật lại:
“Chị Lam , anh Đức!”
Cả nhóm tò mò quay đầu về phía phát ra tiếng động. Cái Thùy mà tôi đã gặp ở Ba Lan chạy ào tới, tay bắt mặt mừng với chúng tôi. Mọi người hơi ngạc nhiên vì nó lại xuất hiện ở đây nhanh đến thế. Con bé trả lời rằng, ngay ngày hôm sau chúng tôi lên xe rời đi là nó cũng được đi luôn. Đoàn nó đi thuận lợi hơn dự định nên cuối cùng gặp chúng tôi ở kho này. Giữa lúc mọi người còn đang hàn huyên thì hai gã người da đen cao to bước vào phát cơm. Món ăn hôm nay lại là mì tôm nhạt thếch và nổi váng dầu, nhưng chúng tôi vẫn ăn sạch vì đói. Đến tầm tối muộn, chưa người nào đi ngủ thì một gã da đen cạo trọc đầu đến thẳng tới chỗ tôi đang nằm. Tôi chưa kịp phản ứng thì gã đã kéo tôi tuột vào trong nhà vệ sinh rồi bắt đầu đè tôi xuống.
Ai nấy cũng đều ngỡ ngàng, không gian im phăng phắc không có nổi một tiếng động, ngoài tiếng thở nặng nhọc của gã và tiếng chửi bới của tôi. Gã giằng lấy cái áo khoác định xé tan nó ra nhưng tôi nhanh trí dùng đầu gối thụi vào phần hạ bộ của gã. Gã kêu lên một tiếng nhưng biểu hiện lại càng thêm kích động. Tay phải của gã chộp lấy tôi nhưng tôi đã thừa cơ đứng dậy được. Trong cơn quẫn bách, tôi nhìn thấy ở góc phòng có một vỏ chai bia nằm lăn lóc, tôi nhào đến lấy rồi đập thật mạnh vào trong tường, mảnh thủy tinh văng ra tung tóe. Ngay lập tức trên tay tôi có một thứ vũ khí sắc lẻm. Máu nóng của tôi bắt đầu dồn lên não, tôi nghiến răng kèn kẹt:
“Vào đây! Vào đây! Tao với mày cùng chết.”
Nhận thấy tôi đã gần như hóa điên, gã trọc đứng thẳng đầu, hai tay giơ về phía trước rồi nói một vài câu tiếng Pháp. Cuối cùng gã rời đi. Không gian bên ngoài còn vọng vào tiếng bước chân cộp cộp, rồi tiếng đóng cửa cái rầm. Tôi buông thõng cái chai trên tay, mảnh thủy tinh cứa vào tay làm máu chảy đầm đìa. Tôi thây kệ, chẳng buồn quan tâm thêm nữa mà ngồi xuống bưng mặt khóc. Trước khi đến nơi này, tôi đã dặn lòng sẽ không khóc ở Paris, nơi hoa lệ này đâu có hợp để khóc lóc. Ấy vậy mà nước mắt tôi vẫn tuôn không ngừng. Tôi nghe thấy bà Loan và tiếng cái Thùy ngoài cửa:
“Chị Lam! Ra đi! Thằng ấy nó đi rồi.”
Họ đỡ tôi đứng dậy, máu lúc này đã dính vào chiếc áo mà con bé Thùy từng bán cho tôi để lấy tiền. Tôi chẳng màng quan tâm tới mọi cặp mắt đều đang đổ dồn về phía mình. Duy Anh đã xin được của ai đó một chút bông băng rồi đưa cho bà Loan. Vết thương không sâu, nhưng đường cắt lại dài, thành ra tôi phải băng hết cả bàn tay. Tôi đoán là tên khốn kia sai người đến đây để làm nhục tôi trước mặt tất cả mọi người. Ngay cả lần đầu tiên trong đời bị Ivan lạm dụng, cũng không đến nỗi làm cho tôi phẫn nộ như thế này. Lại một đêm thức trắng, tôi đốt thêm vài bao thuốc. Để có được thuốc lá để hút, tôi phải mua lại từ mấy người cùng ở trong kho. Giá cả đương nhiên đắt hơn ở bên ngoài, nhưng có hề gì, miễn là nó giúp tôi bình tĩnh trở lại.
Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ màu đỏ trên tay, lòng lại nhớ đến bà ngoại. Không biết bà có thể tưởng tượng nổi cháu gái mình rơi vào tình cảnh trớ trêu thế này không nhỉ? Những gia đình ở quê nhà, làm sao mà biết được con đường vượt biên đầy rẫy những chết chóc, khổ đau, những lần bị lạm dụng đến mức phải van xin kẻ dẫn đường dừng lại. Ăn đói mặc rét, nguy hiểm cận kề bên cạnh sẵn sàng lấy mạng bất cứ lúc nào. Tôi tự nói cho mình nghe:
“Làm gì có ai biết được? Phải không?”
Có tiếng rúc của một con chim nào đó ở bên ngoài vô tình đáp trả lại lời tôi. Khói thuốc bốc lên nghi ngút, làm cho ai đó càu nhàu:
“Tắt thuốc đi cô gì ơi! Đàn bà con gái gì mà hút thuốc như cái ống bễ.”
Tôi mỉm cười ném điếu thuốc xuống dưới đất rồi dùng chân di thật mạnh. Tuyết bên ngoài cửa sổ lại bắt đầu lất phất bay.
Sáng ngày hôm sau lại có một chuyến xe đưa người đi tới. Tôi đang ngủ vùi trong chăn thì thấy tiếng Duy Anh bất chợt reo lên:
“Chú Sang! Phượng! Cuối cùng mọi người cũng đến rồi.”
Tôi bật dậy ngay như có gắn lò xo. Trước mắt tôi là những người quen thuộc. Chú Sang vẫn khoác chiếc áo phao đen đã sờn, cái Phượng nhìn thấy tôi miệng méo xệch như muốn khóc. Jane và Anne mỉm cười rạng rỡ, dù cho bộ dạng có hơi bơ phờ vì mệt mỏi.
Thấy bàn tay tôi bị băng lại, cái Phượng hỏi ngay. Tôi vội vàng lấp liếm:
“Để sau rồi tao kể cho mày nghe.”
Con bé gật đầu rồi lẳng lặng đi vào bên trong.
Thế là cả nhóm cuối cùng cũng hội ngộ đầy đủ. Mọi người trong kho nhận được tin sẽ có chuyến nhảy container trong vài ngày sắp tới. Hai gã tây tóc vàng cao to thông báo, có hai “gói dịch vụ” cho chúng tôi lựa chọn. Gói thứ nhất là gói “vip” đắt tiền, những người lựa chọn gói này sẽ được ngồi trong khoang xe có người giúp mở cửa. Gói thứ hai là gói “cỏ”, người dùng phải tự nhảy lên xe rồi ngồi vào bên trong. Nếu may mắn thì chọn trúng xe chở hàng khô, còn nếu như xe đông lạnh thì chỉ còn nước chết. Bọn chúng cho mọi người thời gian suy nghĩ, nhưng không được phép trả lời quá muộn.
Tôi sờ đến số tiền vẫn ghim trong người, lưỡng lự không biết có nên đi gói vip. Để cân nhắc thêm trước khi quyết định, đoàn chúng tôi tụ tập lại trong một góc nhà, bắt đầu suy tính mọi việc.