Bệnh Án Của Thần Linh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Câu Chuyện Thứ Hai - Đường Hoa Tiễn Biệt

❊ ❊ ❊

Câu chuyện thứ hai

Đường Hoa tiễn biệt

sakura

Shimazaki Touson[1] đã mô tả Kisoji là tuyến đường "nằm trọn trong núi". Phải chăng chính vì được sinh ra và lớn lên tại Kisoji nên ông mới có thể viết nên câu văn nổi tiếng đó?

Dù đường Nakasen xưa kia hiện nay đã được đổi tên thành "đường quốc lộ số mười chín", nhưng con đường quanh co, gập ghềnh, với cơ man nào là hầm và cầu này vẫn kéo dài tận tám mươi ki lô mét từ trạm Ochiai cho tới trạm Niekawa. Đây là con đường độc đạo không có cả đường cao tốc lẫn đường nhánh, thế nên một khi đã đi vào tuyến đường hẹp nằm trong núi này thì chỉ còn hai nước: hoặc tiến, hoặc lùi mà thôi.

Ở thời Touson, hẳn toàn bộ con đường đều nằm trong lòng núi.

Tôi bất chợt nghĩ vậy khi đang ngồi trên xe quay về Matsumotodaira sau ca trực ở bệnh viện Kiso.

Bây giờ đang là đầu tháng Mười một.

Mùa thu ngắn ngủi đã kết thúc, chẳng bao lâu nữa vị khách không mời mang tên 'Tướng Quân mùa đông" sẽ bắt đầu thống trị vùng nông thôn Shinshu. Miền quê Kiso dường như đã hoàn thành xong việc chuẩn bị nghênh đón mùa đông, hàng phòng thủ được gia cố bằng những chiếc lá cứng của loài cây lá kim. Còn tôi, ngay lúc này vẫn đang diện chiếc áo sơ mi trắng nhăn nhúm mặc từ hồi mùa xuân, nên cảm nhận rõ hơn ai hết cái rét của Kiso. Tôi chìm vào một xúc cảm mãnh liệt không nguyên cớ. Phải chăng trong thế giới tự nhiên, chỉ duy nhất loài người dù đã trải nghiệm hàng chục lần mùa đông đến rồi đi, nhưng vẫn luôn chậm trễ trong việc chuẩn bị đón đông về.

Trên đường, tôi dừng xe tại trạm Narai, một trong mười một trạm nghỉ ở Kiso. Thị trấn trạm trước bảy giờ sáng vắng tanh không một bóng người. Tôi tản bộ thơ thẩn trên con phố tịch mịch, đột nhiên lòng tràn ngập cảm giác kỳ lạ tưởng như đang lạc vào đường Nakasen thời Edo[2]. Những ánh đèn chập chờn ngoài hiên, những cánh cửa gỗ mắt cáo, những mái ngói san sát như xếp chồng lên nhau, và khu rừng trấn thủ ở phía đối diện, tất cả đều mờ ảo trong sương sớm, huyền hoặc tựa một bức tranh thủy mặc.

Khi dừng chân trên cầu Kiso no ohashi, tôi nhận thấy khí trời buốt giá của buổi sáng sớm đã xâm nhập khắp thân thể, và hơi thở của tôi trở nên trắng xóa.

Ca trực ở bệnh viện Kiso kết thúc vào lúc sáu giờ sáng. Từ nơi đó quay về Matsumotodaira mất chưa đầy hai tiếng đồng hồ. Vì chỉ cần về kịp giờ khám ngoại trú của bệnh viện Honjou lúc chín giờ, nên tôi vẫn còn dư chút thời gian. Có được quãng thời gian nhàn hạ ngắn ngủi này mà vội vàng quay về làm việc ngay thì đúng là quá sức xuẩn ngốc. Có lẽ tôi còn đủ thời gian nhâm nhi một lon cà phê trên vỉa hè mờ sương của Kiso nữa.

Tôi ngồi dưới mái hiên trạm nghỉ vắng vẻ, thư thái thở ra một hơi. Đúng lúc ấy, bất ngờ tiếng chuông điện thoại đáng ghét reo lên. Thở dài, tôi cầm máy và bấm nút nghe. Một giọng quen thuộc vang tới:

"Touzai ở bệnh viện Honjou đây. Phải bác sĩ Kurihara đó không?"

"Số máy quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được. Vui lòng..."

"Thôi anh đừng nói linh tinh nữa. Bà Azumi bị xuất huyết hậu môn rồi."

Tôi choáng váng, tựa như bị đánh thức đột ngột khi đang say giấc.

"Bà Azumi ở phòng số 302 ấy à?"

"Đứng rồi. Chính là bà Azumi lùn lùn, tính tình lịch sự, hiền hậu ở phòng 302, bị ung thư túi mật ấy."

Touzai đang hoảng loạn, một chuyện vô cùng hiếm thấy. Cô y tá Touzai, người mà dù mưa đá, giáo mác có rơi từ trên trời xuống, dù tôi có quỵ ngã vì chứng rung tâm nhĩ bộc phát thì cũng chẳng mảy may dao động, con người ấy bây giờ đang hoảng loạn.

"Tình trạng ra sao?"

"Huyết áp 95/40. Mạch 108. Mức ý thức hiện chưa giảm. Y tá phát hiện khi đi kiểm tra năm phút trước. Bà ấy xuất huyết nhiều đến mức làm bẩn hết cả ga trải giường."

Tụt huyết áp thì còn đỡ, nhưng lại cả tim đập nhanh nữa. Đó là tín hiệu đỏ.

"Em hãy cho chuẩn bị xét nghiệm huyết đồ, sinh hóa và truyền máu. Từ giờ hãy liên lạc với bác sĩ Sunayama nhé. Trong vòng một tiếng cho đến khi anh trở lại, em cứ xin chỉ dẫn từ cậu ấy."

"Bác sĩ Sunayama ấy à? Nhưng bây giờ mới bảy giờ mà."

"Cậu ta lúc nào cũng tới bệnh viện lúc sáu giờ."

Tôi liền uống một hơi hết lon cà phê rồi quăng vào thùng rác.

"Em nói lại với cậu ta là năm mươi phút nữa anh về đến nơi."

"Hiểu rồi."

Lúc tôi định ngắt điện thoại thì bất ngờ nghe Touzai nói thêm:

"Anh lái xe cẩn thận đấy! Việc ở đây chúng em sẽ cố lo liệu nên anh đừng vội quá mà gây tai nạn!"

Đây chính là điểm tuyệt vời ở Touzai.

"Em chu đáo quá. Nhưng hình như lúc trước anh nói rồi, anh là người đã có vợ..."

Điện thoại ngắt đột ngột.

Ung thư túi mật và xuất huyết hậu môn.

Thông thường khó mà cho rằng đây là hai bệnh có liên quan trực tiếp đến nhau. Thế nhưng một dự cảm không lành cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi.

Rời Narai-juku, tôi về tới bệnh viện Honjou trong vòng bốn mươi phút. Dù tôi đã đi quá tốc độ một chút, nhưng cũng do tình huống cấp bách, vạn bất đắc dĩ mà thôi. Cứ thế tôi vội vã lao đến khu số ba phía Nam và thấy Sunayama Jirou, trong bộ dạng to xác đen thui thường lệ, đang đứng sững như phỗng trước đèn đọc CT.

"Jirou!" Tôi gọi. Gương mặt đen thui nhúc nhích.

Phía trên đèn đọc là phim CT chụp ổ bụng. Gã Jirou lúc nào cũng hớn ha hớn hở hiện giờ lại đang nhìn những tấm phim với vẻ nghiêm trọng. Tôi đinh bảo: "Sắc mặt cậu không được ổn cho lắm," nhưng vì mặt hắn đen quá nên tôi cũng không chắc nữa.

"Tớ vừa mới chụp CT cho bệnh nhân. Trước mắt đã bắt đầu truyền máu nên bệnh nhân cũng ổn định hơn rồi. Tớ cũng cho uống thêm thuốc cầm máu. Hiện giờ bệnh nhân đã ngừng xuất huyết hậu môn."

"Nhưng vấn đề là..." Jirou cho tôi xem CT, "... cái này rất tệ."

Ngay bên dưới gan có một khối u rất to màu trắng. So với kết quả CT hai tháng trước, trong lần chụp thứ hai này, nó đã to hơn. Và khối u này đang sinh trưởng tại khu vực bên dưới, lan rộng và ăn sâu vào thành kết tràng ngang.

"Quả nhiên..."

Ung thư túi mật đã xâm lấn vào kết tràng ngang.

Ung thư trực tiếp ăn vào đại tràng, rồi từ đó gây ra xuất huyết.

"So với kết quả CT lần trước, đây thực sự là CT của cùng một bệnh nhân sao? Khối u đang phát triển với tốc độ khủng khiếp. Bệnh nhân không còn sống được quá một tháng nữa đâu."

Đúng như Jirou nói.

Ung thư túi mật vốn dĩ đã sinh trưởng nhanh. Đây là căn bệnh không có triệu chứng rõ ràng nên khi phát hiện thì đã muộn, bên cạnh đó, một khi đã đến giai đoạn tiến triển thì thời gian sống còn lại không nhiều. Dẫu là như vậy, ung thư túi mật trong trường hợp này vẫn nhanh bất thường. Từ túi mật, ung thư lan rộng ra kinh khủng và ăn vào từng cơ quan nội tạng xung quanh. Giống như nuôi một con mãnh thú trong bụng vậy.

"Jirou, trước tiên phải cảm ơn cậu đã giúp đỡ."

"Đừng để bụng. Có qua có lại ấy mà. Nhưng cậu định xử lý ca này ra sao?"

"Tôi đang suy nghĩ."

"Dù nghĩ đi nữa thì liệu có cách chữa không?"

"Tôi không nghĩ cách chữa."

Vẫn nhìn khối ung thư trong tấm phim, tôi nói tiếp:

"Tôi đang nghĩ phải nói sao với bệnh nhân."

Tôi là bác sĩ.

Công việc của bác sĩ không chỉ là chữa bệnh.

Vừa bước về phía phòng số 302, tôi vừa nhớ lại cái ngày bà Azumi đến gặp tôi để khám ngoại trú lần thứ hai.

Hôm ấy, bà ngồi với vẻ mặt ngại ngùng.

Trong phòng khám ngoại trú, tôi nắm chặt lá thư hồi âm từ bệnh viện trường đại học. Chẳng thể tìm ra một lời dễ nghe, tôi đủ biết lặng im mà nhìn xuống tay mình.

Tháng trước, tôi vừa tình cờ phát hiện bà Azumi bị ung thư túi mật trong lần khám sức khỏe tổng quát. Sự biến đổi cơ thể do bệnh lý hoàn toàn không lớn. Thế nhưng phần ung thư rất tệ, và nằm ở cửa gan - vị trí rất khó thực hiện phẫu thuật.

Dù vậy, với hy vọng có thể phẫu thuật được, một tuần trước đó tôi đã viết giấy giới thiệu bà tới bệnh viện đại học. Và rồi hôm ấy bà Azumi quay trở lại chỗ tôi khám ngoại trú, lặng lẽ trao cho tôi lá thư hồi âm của họ.

"Quả nhiên là không phẫu thuật được rồi." Bà mỉm cười e dè. Dáng người nhỏ bé của bà dường như càng nhỏ hơn.

Trên lá thư hồi âm chỉ viết một dòng đơn giản: "Nhận định không có khả năng phẫu thuật. Đã giải thích đầy đủ cho bệnh nhân."

Giải thích đầy đủ ư? Giải thích như thế nào cơ chứ?

"Tôi xin lỗi đã gây nhiều phiền toái cho bác sĩ."

Bà Azumi cúi đầu thấp thật thấp. Và cứ cúi như vậy, bà nói thêm:

"Họ nói tôi chỉ còn sống được nửa năm nữa thôi. Vì không thể chữa trị, nên nhân lúc còn sống muốn làm gì thì hãy làm đi."

Chẳng khó nhận ra thoáng run rẩy ở cuối câu nói của bà.

Bà Azumi năm nay bảy mươi hai tuổi. Chồng mất sớm, bà sống một thân một mình, không có con cái lẫn họ hàng. Với một bệnh nhân cô độc như vậy mà có thể đột ngột nói "Muốn làm gì thì hãy làm đi" sao?

Gã bác sĩ nào lại ngu xuẩn như thế?

Chính là vì thời điểm thông báo những chuyện quan trọng như thế này mà chúng tôi phải dành thời gian xây dựng mối quan hệ với bệnh nhân. Trong buổi khám đầu tiên, nói gì không nói lại đột ngột nói "Nửa năm nữa là chết rồi nên bây giờ muốn làm gì thì làm đi" thì thật là...

Tôi khó mà kìm nén cơn thịnh nộ sôi sục trong lòng, gần như vò nát lá thư hồi âm trong tay. Bà Azumi khẽ khàng nói với tôi:

"Tôi quay lại đây được không ạ?"

Rồi trước khi tôi kịp trả lời, bà nói tiếp:

"Lần sau bác sĩ lại khám cho tôi được không ạ?"

Cùng với mỗi từ ngữ thốt ra, từng giọt nước mắt của bà lã chã rơi.

Ngay cả khi tôi thông báo rằng bà bị ung thư, ngay cả khi cơn đau bộc phát, bà vẫn tuyệt không tỏ vẻ buồn rầu, chỉ điềm nhiên đón nhận sự thật. Vậy mà con người ấy lúc này đang khóc.

Tôi nắm lấy đôi tay đẫm nước mắt của bà, lặng lẽ gật đầu.

Khích lệ hay an ủi... những điều quá sáo rỗng ấy tôi chẳng thể thốt thành lời. Thiên ngôn vạn ngữ trong đầu tôi, chẳng câu từ nào có thể sánh được với những giọt nước mắt này.

Một lúc sau, cuối cùng tôi cũng thốt lên được một câu ngốc nghếch:

"Buổi khám ngoại trú lần sau tiến hành lúc nào thì được ạ?"

Vậy mà, bà Azumi ngước đầu lên và mỉm cười.

Đến chiều thì trời đổ mưa.

Khí trời lúc bình thường đã lạnh thấu xương, bấy giờ dường như còn lạnh hơn nhiều. Khung kính trượt trên cửa sổ phủ một làn nước mưa trắng xóa mịt mờ, không thể nhìn thấy cảnh vật bên ngoài.

"Xin lỗi vì lúc nào cũng làm phiền bác sĩ."

Trên giường, bà Azumi nở nụ cười thoáng chút hối lỗi như thường lệ.

Sắc mặt bà xanh xao, tạo nên một sự tương phản mang điềm gở với sắc đỏ thắm của túi máu treo lòng thòng ngay bên cạnh. Má bà hõm sâu, đôi tay cũng gầy hơn. Bệnh ung thư đang dần dà ăn mòn sức sống của bà Azumi.

"Bác sĩ ơi, bây giờ tôi ngừng xuất huyết hậu môn rồi. Không sao cả đâu."

Bà cười để tôi an lòng, như thể vị trí bác sĩ và bệnh nhân của chứng tôi đã hoán đổi cho nhau vậy. Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhỏ bên cạnh giường.

Chợt bà Azumi phá lên cười "ha ha" đến nghẹn cả giọng.

Nhìn vẻ bối rối của tôi, bà bảo:

"Không có gì ạ, chẳng hiểu sao sắc mặt của bác sĩ cũng tệ quá, giống tôi thật đó!"

Tôi vô thức cười buồn. Nhắc mới nhớ, đêm qua tôi trực ở bệnh viện Kiso nên chẳng chợp mắt được. Mặt chưa rửa, râu chưa cạo, chắc bây giờ nom tôi tiều tụy lắm.

"Khối u to lắm à bác sĩ?

Một sự công kích bất ngờ.

Đôi mắt hiền hòa của bà Azumi nhìn vào đôi mắt thoáng chút lúng túng của tôi. Ánh mắt bà yên bình tựa đại dương tĩnh lặng. Đây đâu phải là ánh mắt của một người rơi vào cơn hoảng loạn hay đang bị nỗi tuyệt vọng giày vò.

Cứ nhìn tôi dịu dàng như thế, bà nói:

"Tôi không sao đâu. Hơn ai hết, tôi phải biết rõ về ngày tháng còn lại của bản thân chứ."

Tôi gật đầu, rồi từ từ trĩnh bày vắn tắt cho bà nghe.

Tôi nói rằng ung thư túi mật đang phát triển với tốc độ nhanh hơn dự đoán, và nó làm tổn thương thành đại tràng gây ra xuất huyết. Tôi cũng nói trong thời điểm hiện tại chưa có phương pháp xử lý hữu hiệu, chỉ có thể theo dõi quá trình mà thôi...

Duy nhất một điều tôi không nói, là việc bà chỉ còn sống được thêm một tháng.

Bà Azumi lặng yên nghe tôi nói hết, thỉnh thoảng lại khẽ gật đầu.

"Không sao. Không sao đâu, bác sĩ à." Bà thì thầm, mắt nhìn xa xăm, như thể đang độc thoại với chính mình. "Tôi có thể ở lại đây cho tới lúc chết không?"

Vẫn im lặng, tôi gật đầu. Bà Azumi nở nụ cười, dường như đã an tâm hơn một chút.

"Bác sĩ, cháu đúng là một người rất tốt."

Tôi chỉ biết lặng yên dõi mắt nhìn bà. Còn có thể làm gì khác đây? Một lời nói quan tâm tôi cũng chẳng thốt lên được. Điều tốt nhất tôi có thể làm chỉ là lặng lẽ ngồi bên bà và gật đầu.

Một lát sau bà Azumi bắt đầu ngáy, có vẻ bà đã mệt rồi. Bà lão cô đơn nhỏ bé ấy, giờ đây dường như càng nhỏ bé hơn mọi khi.

Phải làm thế nào đây...

Trong khu nội trú vào lúc nửa đêm, đầu óc tôi đang quay mòng mòng.

Ông Tagawa qua đời, bệnh tình bà Azumi chuyển biến xấu. Vào thời gian này, không hiểu vì lẽ gì mà trong số các bệnh nhân khác, có nhiều người tình trạng cũng trở nên tệ hơn. Thinh thoảng các cụ cao tuổi người thì bị sốt, người thì khó chịu. Có người gọi hiện tượng này là "dắt tay đưa đi", tức những người đã chết vì cô đơn quá nên gọi bạn bè theo cùng. Nhưng ít nhất thì ông Tagawa cũng có người vợ mà ông mong nhớ bấy lâu nay đang ở thế giới bên kia chờ ông, ông chẳng phải kẻ có sở thích kỳ quặc đến nỗi khi rời khỏi thế giới này còn cố tình lôi kéo người không quen biết theo cùng.

Khi tôi đang suy nghĩ vẩn vơ thì bất ngờ một cốc cà phê được đặt xuống trước mặt.

“A, lúc nào cũng để em phải lo lắng. Nhờ Touzai..."

Tôi ngẩng đầu lên, ngạc nhiên. Người đang đứng đó là Mizunashi. Kiểu tóc tém, với những lọn tóc màu hạt dẻ được cắt ngang tai, trông thật hợp với cô. Cô gái lúc nào cũng đung đưa mái tóc nâu ấy, tất bật tới lui các phòng bệnh, mỉm cười rạng rỡ với tất cả mọi người, hôm nay lại trưng ra một vẻ mặt ủ dột lạ thường. Cô nhìn tôi ngập ngừng, gương mặt thiểu não như muốn nói điều gì đó.

"Sao thế?"

"Chuyện hôm trước cho em xin lỗi ạ."

Cô đột ngột cúi xuống thật thấp.

Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả.

Trước tiên cứ thử nhấp một ngụm cà phê đã. Hương vị vẫn còn kém xa cà phê của Touzai.

"Em đã làm việc gì có lỗi với anh à?"

"Là chuyện về ông Tagawa ấy ạ. Em đã nói nhiều lời tệ hại với bác sĩ... Nhưng em nghe chủ nhiệm Touzai bảo rằng trong ba ngày cuối bác sĩ đã ở lại bệnh viện suốt, quyết tìm cách giúp ông ấy bớt đau đớn. Còn em, chỉ làm hết giờ của mình, khi công việc kết thúc thì về nhà thong thả nghỉ ngơi, lại còn nói những lời quá ích kỷ, vậy mà đến bây giờ mới..."

"Đó là điều đương nhiên." Tôi cười chán nản. "Một cái bệnh viện mà ngay cả y tá cũng phải làm việc thâu đêm thì anh cũng thấy ghét, không tới làm cho đâu. Nói chung anh là người luôn hoài vọng về một tương lai sẽ tăng số lượng bác sĩ, áp dụng chế độ chia hai ca. Em mà cứ hiểu nhầm rằng ở lại bệnh viện qua đêm là điều tốt thì gay go lắm. Nếu có thời gian rảnh mà ủ rũ như thế thì em nên tự hào về bản thân mình hơn đi!"

Tóm lại, ý tôi là "Em đã làm tốt lắm," nhưng tiếng Nhật thiệt khó diễn đạt quá chừng.

Không biết tôi truyền đạt trôi chảy đến mức nào mà gương mặt của Mizunashi nom có vẻ bối rối tệ. Thế là tôi đành nói thêm:

"Chỉ những khi Mizunashi có mặt thì ông Tagawa mới yên lòng, bớt căng thẳng và có thể ngủ ngon. Đó là thành công mà anh không làm được. Tóm lại, em tuyệt vời lắm đấy!"

Nghe những lời nói nồng nhiệt của tôi, Mizunashi ngây người ra một lát. Thế rồi cô bất ngờ phá lên cười.

Tôi có linh cảm xấu.

"Hình như em đã hiểu được chút chút những điều chủ nhiệm Touzai nói rồi."

Tôi hoàn toàn không biết Touzai đã nói gì, nhưng chắc toàn là điều tốt thôi.

"Chủ nhiệm bảo rằng bác sĩ tuy độc mồm độc miệng, ăn mặc không chỉnh tề, có kiểu nói chuyện kỳ quặc, dùng toàn từ ngữ khó hiểu nên nhiều lúc chị ấy chẳng rõ anh đang nói gì, nhưng riêng những việc liên quan đến bệnh nhân thì anh luôn suy nghĩ rất nghiêm túc."

"Những lời vừa rồi có vẻ chê nhiều hơn khen..."

"Nhưng chủ nhiệm Touzai hiếm khi khen người khác lắm ạ. Đứa như em đây thì chẳng bao giờ được chị ấy khen lấy một câu."

Hình như trước mặt tôi Touzai đã từng khen lấy khen để Mizunashi, nhưng thôi kệ đi. Tôi chẳng có lý do gì mà phải để tâm đến cô gái này quá như vậy.

"Dù anh có bị nói là kể kỳ lạ hay lập dị thì cũng chẳng biết làm sao được. Tính anh như vậy rồi. Nhưng lúc nào anh cũng nghiêm túc cả."

"Em biết. À không, bây giờ thì em đã hiểu rồi ạ."

Mizunashi nhoẻn miệng cười. Tôi cảm thấy vẫn còn một vài sự hiểu lầm nên lo lắm, nhưng cô ấy đã đồng tình rồi nên chắc cũng không có vấn đề gì.

Cô cúi đầu và nói với giọng tươi tỉnh: "Từ giờ mong được anh chỉ bảo ạ."

Tươi tỉnh là tốt. Pha cà phê ngon hơn chút nữa thì còn tốt hơn.

Lúc Mizunashi bỏ đi, tôi sực nhớ ra một chuyện, liền gọi giật cô lại.

"Có hơi đường đột nhưng Mizunashi này, em nghĩ sao về Sunayama Jirou?"

"B... bác sĩ Sunayama ấy ạ?"

Mizunashi quay lại. Đôi má cô ủng đỏ.

Ửng đỏ?

Tại sao chứ?

"Em... em nghĩ anh ấy là một bác sĩ r... rất tốt ạ."

Trong phút chốc, sắc đỏ đã lan đến tận mang tai.

Rồi Mizunashi chẳng nói chẳng rằng, vội vội vàng vàng chạy đi mất.

Một cô gái khi nhớ tới con quái vật đen sì đó liền sợ xanh cả mặt thì tôi còn hiểu được, chứ đỏ mặt lên thế này thì thật khó hiểu quá. Mà những chuyện khó hiểu trên thế gian này vốn chất cao như núi, cũng chẳng nên nghĩ ngợi sâu xa làm gì. Tôi nhìn đồng hồ, đã mười hai giờ đêm rồi. Tình trạng của bà Azumi cũng dịu đi. Đêm nay có lẽ tôi về nhà thôi.

Cất từng bước mệt mỏi trên con đường về nhà vào lúc đêm khuya, tôi dừng chân tại thành Matsumoto. Chẳng rõ tự bao giờ mưa đã tạnh, vầng trăng ló ra giữa những áng mây.

Tôi băng qua hào ngoài của thành Matsumoto, vượt lên trước cổng Đen, rồi tản bộ thong thả dọc theo hào trong hướng lên tháp canh. Tới đoạn khu vực hào trong rẽ vuông góc chính là nơi tòa thành có góc nhìn đẹp nhất. Bên trái có tháp canh Inuiko, bên phải còn có tháp nhỏ để ngắm trăng, tòa thành mang dáng vẻ uy phong lẫm liệt, đứng vững chãi hiên ngang trên nền đất.

Tại nơi đó, tôi bắt gặp một nàng công chúa khả ái đang cố định chân máy và bấm nút trập.

Chẳng cần nói cũng biết, đó chính là vợ tôi.

Nàng dùng quang kế đo độ sáng, định khẩu độ, điều chỉnh tiêu điểm, xác nhận tốc độ màn trập, rồi bình thản bấm nút trập. Đôi lúc nàng thay đổi góc độ, dịch chuyển chân máy một chút, nhưng mọi cử chỉ của nàng đều thanh thoát như dòng nước, chẳng có động tác nào thừa. Những lúc thế này, tôi mới thấy vợ mình đúng là một nhiếp ảnh gia thực thụ. Khác với tôi - kẻ làm việc đầu tắt mặt tối tại một bệnh viện nhà quê, nàng là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng, thi thoảng lại danh thời gian bay nhảy khắp nơi trên thế giới.

Tôi giẫm lên lớp đá cuội, bước đến bên nàng. Nhận ra tôi, nàng liền vẫy tay.

"Mừng anh về, Ichi!"

"Anh cũng muốn nói là 'Anh về rồi đây' lắm, nhưng đây đâu phải nhà mình, Haru."

Vợ tôi cười khúc khích.

"Anh đợi em nhé! Một lát nữa thôi là em chụp xong rồi."

"Không cần phải vội đâu."

Nếu buộc phải nói thì, tôi thấy lo về việc nàng một mình đi chụp ảnh vào đêm hôm khuya khoắt thế này. Nhưng dẫu sao vợ tôi cũng từng vác theo đống phụ tùng nặng mười cân mà leo ngọn núi cao bốn ngàn mét, nên có lẽ nàng là người không cần kẻ khác phải bận tâm.

Sau khi nàng cất chiếc máy ảnh ống kính rời hiệu Nikon đi, chụp một vài tấm bằng máy Leica M6, thì có vẻ công việc chụp ảnh hôm nay đã hoàn thành. Nàng gập chân máy cao bằng người mình lại một cách khéo léo.

Chẳng mấy chốc, việc thu dọn đã xong. Chúng tôi lên đường về nhà.

"Em chụp được ảnh đẹp chứ?"

"Chưa được anh ạ. Mãi mà ông trăng tốt chẳng chịu xuất hiện."

"Trăng mà cũng có trăng tốt, trăng xấu sao?"

"Có chứ. Trên bầu trời xa kia, có ông trăng tốt và ông trăng xấu. Thật ra, chúng ta chẳng thể biết được ông nào sẽ xuất hiện, cho tới khi nhìn thấy ông ấy." Vợ tôi vui vẻ kể.

"Thế hôm nay là ông trăng nào?"

"Ồng không được tốt cho lắm."

Tôi vô thức ngẩng đầu nhìn lên, nhưng vầng trăng đang lơ lửng trên trời kia vẫn là một vầng trăng cuối tháng bình thường.

Chẳng có vẻ gì là một gã đặc biệt xấu xa.

"Phải rồi, Ichi nè!" Đột nhiên vợ tôi đập vào tay tôi "Có phải anh Cử Nhân sắp chuyển đi không?"

"Ngài Cử Nhân ấy à? Tại sao?"

"Sáng nay anh ấy đốt sách trong sân. Nhiều sách lắm. Em biết anh Cử Nhân là người rất quý sách nên mới hỏi anh ấy sao lại làm thế. Anh ấy bảo là có thể sẽ ra đi..."

Chuyện này tôi chưa từng nghe qua.

Chỉ vài hôm trước, các anh đã nhiệt tình can ngăn khi tôi lưỡng lự về vấn đề có chuyển đi hay không. Việc Ngài Cử Nhân đột ngột rời đi thật khó mà tưởng tượng nổi...

Một dự cảm kỳ lạ nhói lên trong lòng tôi.

Như thấu hiểu tâm trạng ấy, vợ tôi hướng đôi mắt bất an về phía tôi.

"Mọi người còn có thể chung sống cùng nhau đến bao giờ?"

"Có chuyện gì mà đường đột như vậy chứ?"

"Phải chăng vì trang viên Ontake tập hợp toàn những người có chút kỳ lạ nên hàng xóm thường bàn ra tán vào, khiến anh Cử Nhân thấy không thoải mái, mới dứt áo ra đi..."

Nỗi buồn của vợ tôi không hẳn là vô căn cứ.

Việc trang viên Ontake bị đàm tiếu là một tình trạng khó xử. Dẫu sao đi nữa, những người ra vào nơi ấy chẳng có ai bình thường cả. Người ngoài nhìn vào hẳn sẽ nghĩ khu nhà này tập hợp toàn những kẻ khả nghi, vợ chồng tôi cũng không là ngoại lệ.

"Em đừng lo, Haru ạ!" Tôi cố gắng đáp lại mạch lạc. "Dù người đời có phàn nàn gì đi nữa thì chúng ta vẫn biết một điều chắc chắn."

Cảm nhận được ánh mắt của vợ tôi trên gò má, tôi ngước lên nhìn trăng rồi gật đầu.

"Tất cả những người cư trú ở đó đều luôn nỗ lực sống hết mình. Đương nhiên chúng ta cũng vậy."

Trang viên Ontake là một không gian kỳ lạ.

Khu nhà ấy hệt như một ngôi chùa đoạn duyên, chốn nương náu mà những kẻ không thể thích nghi với xã hội đã tìm ra nơi cuối hành trình vô định. Thế nhưng, nơi ấy khác với chùa chiền ở điểm những người ghé đến chẳng hề có ý định xuất gia, buông bỏ thế gian vô thường. Chúng tôi vẫn một lần nữa dong buồm tiến ra đại dương bất tận mang tên "cõi đời". Chúng tôi chẳng sợ đắm tàu hay bị mắc kẹt nơi cô đảo. Chúng tôi là những người đã bao lần cất bước đi tìm nơi mà bản thân thuộc về. Những lời đàm tiếu gọi đám người vụng về ấy là "quái nhân" chỉ là hồ ngôn loạn ngữ của phường tục tử chẳng thể thấu cảm gian khổ của kiếp người.

Có thể nói, suy nghĩ này là niềm kiêu hãnh chung của cư dân trang viên Ontake.

Tất cả chúng tôi đều là những kẻ luôn ngẩng cao đầu mà sống bên lề xã hội.

"Có lẽ cả Nam Tước lẫn Ngài Cử Nhân đều sẽ đặt bước lên hành trình của riêng mình. Thế nhưng đó là việc đáng chúc mừng. Trang viên Ontake vẫn luôn dõi theo bao người như thế. Ngay cả vợ chồng mình, nếu không có nơi đó thì thậm chí chúng ta còn chẳng thể gặp gỡ nhau, phải không nào?"

Trong tâm trí tôi, những ký ức đầy hoài niệm chợt ùa về. Tựa như đồng cảm, vợ tôi khẽ nở một nụ cười.

"Đã ba năm rồi nhỉ?"

"Phải. Đến bây giờ anh vẫn nhớ như in ngày anh gặp Haru lần đầu."

Vẫn nhìn vầng trăng trên đầu, tôi hơi nhíu mắt lại.

"Hôm ấy trời mưa như trút nước."

Đột nhiên, tôi tưởng như nghe thấy tiếng mưa rả rích vọng về từ chốn xa xăm.

Đó là câu chuyện về một ngày mùa hạ ba năm về trước. Lúc đó, tôi đã làm bác sĩ được một năm rưỡi, và cuối cùng cơ thể cũng bắt đầu quen với nếp sinh hoạt gian khổ của một bác sĩ thực tập.

Hôm ấy, một ngày hiếm hoi được về nhà sớm, tôi liền ghé gian Cúc Dại, và từ chiều đã cùng Nam Tước và Ngài Cử Nhân mở tiệc rượu linh đình. Mưa rơi lâm thâm từ sáng, cho đến chiều thì trở nên dữ dội đến nỗi chẳng thể thấy được Matsumotodaira nữa.

Ngoài trời vọng tiếng mưa tuôn xối xả, bên trong nhà tràn ngập tiếng cười nói của chúng tôi. Đúng vào lúc bữa tiệc đang đến hồi cao trào thì chúng tôi chợt nghe thấy giọng phụ nữ ở cổng trước.

"Nam Tước và Ngài Cử Nhân uống nhiều quá rồi đó. Em xin khẳng định là nghe nhầm thôi."

Vừa kể tôi vừa liếc nhìn sang bên cạnh. Vợ tôi nhìn lại bằng ánh mắt dịu dàng.

"Chẳng rõ vì sao anh lại không nghĩ thế. Vậy là sau khi tranh cãi gay gắt vớ vẩn một hồi, cả ba đứa bọn anh liền quyết định kéo nhau ra cổng trước."

Chúng tôi ra khỏi gian Cúc Dại, đi xuyên qua hành lang tối om, tới cổng trước. Và tại đó, cả đám đứng sững như trời trồng.

"Vì hồi đó bộ dạng của em thấy mà ghê..."

Vợ tôi cười tủm tỉm, rồi nàng ngượng nghịu nhìn xuống đất.

Nhân vật mà ba chúng tôi mục kích nơi ấy là một cô nàng đeo chiếc ba lô khổng lồ cao ngang người, toàn thân ướt đẫm như chuột lột, đang đứng ở lối vào.

"Lúc đó anh vô cùng kinh ngạc. Kinh ngạc ngang với khi gặp một bệnh nhân nôn ra máu trong đêm trực đầu tiên luôn."

"Em đây cũng ngạc nhiên, hốt hoảng lắm. Nhờ vào tấm bản đồ được đại lý bất động sản trước nhà ga cho, em đội mưa đi mãi mới tới được trang viên Ontake. Vậy mà những người ra đón trông lại quái quái thế nào ấy..."

“Cả đám bọn anh lúc đó đều đang say bí tỉ mà."

"Ngài Nam Tước thì quay mặt vào tường mà lẩm bẩm gì đó, còn anh Cử Nhân thì nhìn em rồi không ngừng xua tay: 'Không được đến đây, không được đến đây!'..."

Tôi cười méo xệch. Tình huống khi ấy đúng là dở mếu dở cười.

Sau đó chúng tôi mới nghe chuyện từ chủ nhà. Thấy bảo từ vài hôm hước, trên bảng thông báo chung ở bếp đã có đính một tờ giấy ghi "Sắp có người chuyển đến". Đương nhiên là chúng tôi đã không xem xét cẩn thận rồi.

Bối rối trước vị khách bất ngờ, ba đứa chúng tôi mỗi đứa trưng ra một bộ dạng say xỉn khó coi.

"Lúc ấy, thực tình em đã tính đến chuyện quay ra và đi tìm nhà khác."

"Nghĩ như thế cũng là điều bình thường. Anh mà là Haru thì có lẽ đã chẳng do dự mà đâm đầu lại vào mưa rồi."

"Nhưng mà..." Vợ tôi bỗng ngước lên nhìn tôi. "Khi Ichi thấy em ướt đẫm, anh đã lập tức chạy đi đâu đó. Và lúc quay trở lại, anh mang cho em một chiếc khăn tắm to. Em đã hạnh phúc vô cùng."

Nàng nói, miệng cười như hoa nở.

Để có thể thấy được nụ cười này, dẫu phải tốn một trăm hay hai trăm cái khăn tắm, phải vượt qua thiên gian vạn khổ, tôi cũng cam lòng. Tôi vui như mở cờ trong bụng, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ vẻ đăm chiêu. Giọng nói trong trẻo của vợ tôi vang lên bên tai.

"Khi ấy Ichi đã nói một câu với gương mặt nghiêm trang. Đến bây giờ em vẫn còn nhớ câu nói đó."

"Anh đã nói gì vậy?"

Nàng khẽ gật đầu rồi hạ giọng như muốn bắt chước giọng nói của tôi khi đó.

"Anh bảo: 'Sẽ ổn cả thôi. Không có cơn mưa nào mà không tạnh cả.’"

"Đúng là tầm xàm bá láp nhỉ?"

"Không phải thế đâu."

Thấy tôi thở dài, vợ tôi liền nắm tay tôi, rồi nói tiếp:

"Bởi vì, khi em ướt sũng và hoang mang, anh đã hết lòng động viên em, em đã cảm nhận rất rõ điều đó, nó làm em vô cùng cảm động.”

Đó là lần gặp gỡ đầu tiên giữa tôi và người vợ tương lai.

Nàng xưng tên là Katashima Haruna, nghề nghiệp nhiếp ảnh gia. Nàng nói mình từ Tokyo đến để chụp ảnh núi Alps Bắc, và sẽ ở lại trong vòng hai tháng kể từ hôm đó. Phòng nàng ở là gian Tùng trên tầng hai, kế bên gian Anh Đào của tôi.

Tôi ở lại bệnh viện đến hơn nửa số ngày trong tuần, còn nàng thì thường xuyên tới sơn trang trên núi Alps Bắc và không về nhà, nên hẳn nhiên chúng tôi hầu như không chạm mặt nhau. Thế nhưng, vị thần định mệnh đã gắn kết chứng tôi trong một thời điểm tuyệt diệu. Tôi đã gom hết chút dũng khí ít ỏi mà mời nàng đi ăn, chúng tôi cũng thường cùng với Nam Tước và Ngài Cử Nhân bốn người mở tiệc rượu hoành tráng. Hồi ấy, tôi cũng đã tìm cách xoay xở kiếm được một ngày nghỉ từ cái nơi làm việc kinh hoàng như bãi chiến trường để cùng nàng đến Kamikouchi.

Thấm thoát đã gần tới thời điểm mà kỳ hạn hai tháng kết thúc. Bắt gặp nàng nơi hành lang, tôi vô thức buột miệng hỏi:

"Em sắp đi à?"

Giọng tôi lãnh đạm, nhưng trong lòng nước mắt đã tuôn rơi. Biết bao kỷ niệm đẹp đẽ trong hai tháng qua hiện về như chiếc đèn kéo quân. Tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ xấu xa, những muốn bắt cóc người con gái đáng yêu này và nhốt nàng trong gian Anh Đào mãi mãi.

Thế nhưng câu trả lời của nàng lại nằm ngoài suy đoán của tôi.

Nàng hơi nghiêng đầu, trầm tư như đang cân nhắc, rồi lặng lẽ đáp:

"Có lẽ em ở lại thêm một thời gian nữa cũng được."

Khoảng năm giây sau đó, sự im lặng vẫn bao trùm.

Trong khoảnh khắc, tôi sững người nhìn vào đôi mắt đẹp ấy, thế rồi một khúc khải hoàn ngân lên cao vút trong tâm khảm làm ngây ngất lòng tôi. Nhưng tôi vẫn hỏi bằng giọng bình thản:

"Không quay về Tokyo cũng được sao?"

"Em chụp ảnh tại đây cũng được. Nơi này tốt hơn. Vả lại..."

"Vả lại?"

"Em chẳng có nơi nào để về."

Ánh mắt đơn côi mà nàng để lộ trong giây phút đó, đến bây giờ vẫn in sâu trong tâm trí tôi.

Nàng là một người cô độc, khi còn nhỏ đã mất gia đình. Nàng kể rằng mình được nuôi dạy tại nhà một người họ hàng xa ở Tokyo từ thuở bé, nhưng dẫu cố gắng thế nào vẫn chẳng thể coi ngôi nhà ấy là tổ ấm. Sau khi tốt nghiệp đại học mỹ thuật ở Tokyo, nàng bắt đầu công việc nhiếp ảnh gia, cho đến nay đã được hai năm. Đối với một người con gái như thế, cuộc sống ở trang viên Ontake đã mang đến cho nàng một cơ hội tốt để rời khỏi nhà và tự lập.

Hai năm sau đó chúng tôi kết hôn. Từ khi kết hôn đến nay là tròn một năm. Tổng cộng đã ba năm trôi qua.

Tại thời điểm ấy, chàng bác sĩ thực tập nửa vời tôi đây đã trở thành một bác sĩ nội khoa, có thể hướng dẫn các bác sĩ thực tập khác. Còn nhiếp ảnh gia chuyên chụp núi là nàng thì đã mở rộng phạm vi hoạt động ra quốc tế.

Biết bao nhiêu điều đã đổi thay.

Đột nhiên tôi trở về với hiện thực. Mắt tôi nhíu lại.

Ở phía xa xa trên đường, tôi có thể thấy ánh điện từ trang viên Ontake chẳng bao giờ thay đổi.

Tại một góc khu dân cư nơi những mái hiên được tu bổ đẹp đẽ nằm san sát nhau, ngôi nhà tồi tàn cùng cây mai cổ thụ tọa lạc trong bộ dạng lạc lõng.

"Vốn dĩ đó chẳng phải là nơi để bám víu, để định cư vĩnh viễn. Xét cho cùng, nó chỉ là một chốn dung thân tạm thời mà thôi. Có lẽ chúng ta cũng phải suy nghĩ lúc nào nên ra đi."

Tôi đưa mắt từ tấm biển cũ kỹ của trang viên Ontake về phía người vợ bên cạnh.

"Haru có muốn chuyển đi không?"

Nghe tôi nói, nàng vội lắc đầu quầy quậy.

"Em muốn ở lại đó đến chừng nào còn có thể. Vì em rất quý mến mọi người."

Tôi hồ hỏi gật đầu đồng tình với câu trả lời không chút do dự của nàng. Nếu hai vợ chồng đều không có ý kiến thì chúng tôi cũng chẳng cần gấp rút tìm đến một thế giới tốt hơn. Cuộc đời chúng tôi vẫn mờ sương. Trong sương mù dày đặc, nếu chúng tôi vội vã dong buồm ra khỏi và mắc cạn ngay khi rời bến cảng, thì thật chẳng còn gì để nói.

Bỗng nhiên nhớ lại, tôi bèn nói tiếp:

"Chuyện của Ngài Cử Nhân, dù thế nào anh cũng sẽ tự mình hỏi lại."

Nếu anh chuyển đi khỏi trang viên Ontake, đó chắc chắn là thời điểm anh đã đạt được thành công. Nếu đứng là vậy thì phải nâng cốc chúc mừng. Chứng tôi chẳng phải hạng tầm thường đến mức ngán không cho bạn bè dong buồm ra khơi.

Có điều, dứt áo ra đi chẳng một lời nhắn nhủ thì không thể tha thứ được. Cho tới khi anh cùng chúng tôi cạn một chén rượu, dù phải kéo buồm xuống, tôi cũng sẽ không để anh ra khơi.

Lòng tôi thoáng cô đơn, nhưng tôi vẫn giữ giọng điệu tươi tỉnh mà nói thêm:

"Anh không biết Ngài Cử Nhân đã thấy được tiền đồ xán lạn như thế nào, nhưng anh không thể nhắm mắt làm ngơ việc anh ấy bỏ chúng ta lại mà tự ý một mình tiến bước dưới bầu trời vinh quang. Khi nào gặp Ngài Cử Nhân, anh sẽ hỏi cho ra lẽ."

Nghe vậy, vợ tôi đáp lại bằng một nụ cười rạng rỡ.

Thế nhưng, vài ngày sau đó, tôi mới nhận ra sự ngu ngốc của bản thân khi đùa cợt như vậy.

Hôm sau, tôi khám ngoại trú từ sáng.

Như thường lệ, phòng chờ đông nghịt người vào người ra, chẳng khác nào nhà ga trong giờ cao điểm. Tại một bệnh viện dã chiến ở khu phố lao động như thế này, có rất nhiều bệnh nhân từ các vùng lân cận tự ý kéo đến.

Tôi rắt ghét khám ngoại trú. Có lý do cả đấy.

Gần nửa số bệnh nhân thuộc khoa nội tiêu hóa ở một bệnh viện như thế này đều mắc bệnh vì dính dáng tới bia rượu. Hôm nay, đám người thô kệch mà ai ai hông cũng có vẻ sở hữu một vài thói hư tật xấu lại xếp hàng dài dằng dặc.

Giả dụ như:

Ca thứ nhất, sáu mươi lăm tuổi, nam giới.

"Bác Omura, chức năng gan của bác đang suy giảm tương đối đấy. Dạo này bác uống bao nhiêu rượu thế?"

Bị tôi nhìn chằm chằm, ông lão có vẻ hơi xấu hổ.

"Tôi uống ít đi nhiều rồi bác sĩ à. Bây giờ một ngày tôi chỉ uống khoảng một phần ba lít thôi."

"Một phần ba lít cũng là hơi nhiều rồi, nhưng không chỉ có thế đâu nhỉ? Người thật thà như cháu đây thì bác còn lừa được, chứ kết quả xét nghiệm máu thì không bịp nổi đâu."

"À... thỉnh thoảng tôi uống tầm nửa lít... thì phải?"

"Thỉnh thoảng uống nửa lít? Bác còn định nói có lúc lẩn thẩn uống luôn hai phần ba lít chứ gì?";

"Ừm... cũng không phải là không có bữa tôi lẩn thẩn mà vô tình uống tới hai phần ba lít nhưng... Nhưng chuyện đó hiếm lắm bác sĩ ạ."

"Cơ mà vào mấy hôm như sinh nhật cháu đích tôn chẳng hạn thì vui quá mà uống cả lít luôn nhỉ?"

"Ngày đó thì uống cả lít thật."

Ca thứ hai, tám mươi hai tuổi, nam giới.

"Ông Asahi, ông vẫn uống rượu đấy à?"

Tôi xác nhận kết quả kiểm a máu tệ đi và liếc nhìn ông già. Nhưng ông cụ lại tỏ vẻ khó hiểu.

"Tôi bỏ rượu rồi, bác sĩ. Từ bữa đó đến nay một giọt cũng không uống."

"Một giọt cũng không?"

"Một giọt cũng không!"

Ông đáp với vẻ quả quyết, rồi quay sang nhìn vợ.

"Phải không bà nó? Tôi đã bỏ rượu hẳn rồi nhỉ?"

"Phải phải. Từ bữa đó ông nhà tôi đem cho người ta hết mấy chai shochu. Giờ ông ấy chỉ uống trà lúa mạch với bia thôi."

Bà cười tươi, có vẻ vô cùng an tâm. Tôi tưởng mình nghe nhầm nên e dè hỏi lại:

"Bà vừa nói gì ạ?'- :

"Ổng ấy đem cho người ta hết mấy chai..."

"Câu sau cơ."

"Ông ấy chỉ uống trà lúa mạch và bia thôi."

Ca thứ ba, hai mươi tám tuổi, nữ giới.

"Kiri, nếu cô không bỏ rượu ngay thì cả gan và tụy của cô đều sẽ hỏng hết đấy."

"Đủ rồi!"

Kiri bất ngờ to tiếng. Từ lúc bước vào phòng khám cô đã chuếnh choáng rồi. Chân đăm đá chân chiêu, cô ngồi xuống ghế nhưng người vẫn đổ nghiêng đổ ngửa, mặt buồn bực.

Những cô gái trẻ khi ngà ngà say đều có vẻ hấp dẫn sao đó, nhưng cô Kiri này thì từ đầu đã say bí tỉ. Hình như vợ chồng cô đang có xích mích lớn, nên cô đã trốn vào thế giới của rượu để quên đi những chuyện ấy. Nhưng tôi không thể quản cả chuyện đó được, còn đến ba chục bệnh nhân đang chờ được khám.

"Thế là không được đâu nhé. Tôi vì lo cho thân cô nên mới nói thôi."

"Gì chứ? Nói ngon nói ngọt thật đấy. Tôi không cần cái lòng thương hại rẻ tiền của anh."

"Cô vừa vừa phải phải thôi! Tôi chẳng thương gì cái ngữ say khướt nhà cô đâu. Tôi chỉ cảm thông cho những chai rượu bị cô nốc vô tội vạ thôi."

"Anh bảo thế là có ý gì? Tôi và rượu cái gì quan trọng hơn hả?"

"Cô muốn nói nhăng nói cuội gì cũng được, nhưng dù thế nào cũng bỏ rượu đi! Cô cứ tiếp tục thế này thì sẽ nguy đến tính mạng đấy."

"Kệ! Chết thì chết. Nếu thế ít ra thằng cha ấy cũng sẽ nhận ra tầm quan trọng của tôi."

Có lẽ nên đổi cho cô này từ bác sĩ nội khoa sang bác sĩ tâm thần thì hơn.

"Aa, giá mà cứ thế này bay lên thiên đường luôn thì tốt quá..." Kiri lẩm bẩm. Rồi ngay sau đó, cô bất ngờ khua tay phải vòng vòng trên đầu. Mấy cô y tá hốt hoảng lùi về sát tường.

"Ki... Kiri, cô làm cái gì..."

"Chong chóng tre!"

"Là sao?"

"Tay phải của tôi là chong chóng tre!"

Ca thứ tư, năm mươi tư tuổi, nam giới.

"Bác sĩ, thật tình tôi không bỏ rượu được."

Yokoda đáp gọn lỏn với vẻ mặt dữ dằn. Mắt anh ta đã hơi chuyển vàng, đây là triệu chứng của bệnh vàng da.

"Nhưng anh Yokoda à, nếu không bỏ rượu thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng đấy. Bây giờ vẫn hoàn toàn có khả năng khôi phục chức năng gan lại như xưa mà."

"... Bác sĩ có uống rượu không?"

Một câu hỏi bất ngờ.

"Tôi... có uống một chút..."

Thành thật mà nói thì tôi uống cũng khá nhiều.

"Vậy nếu ngườl ta bảo bác sĩ bỏ rượu đi thì bác sĩ có bỏ không?"

"... Đương nhiên là có."

Bị công kích bất ngờ nên tôi phản hồi hơi chậm, nhưng rồi tôi đã tỏ ra điềm tĩnh và gật đầu.

Yokoda ngước đôi mắt vàng lên trần nhà trong chốc lát, nhưng sau đó rất nhanh anh ta nói:

"Bác sĩ ạ, trên đời này chỉ có hai loại bác sĩ."

Yokoda vốn là thành viên băng đảng yakuza. Cái kiểu nói thì thào từng từ của anh ta gây sức ép ghê gớm.

"Loại bác sĩ ghét rượu, và loại bác sĩ mê rượu."

Đột ngột anh ta nhìn thẳng vào tôi.

"Và loại bác sĩ ghét rượu thì không trả lời lưỡng lự như vậy đâu."

Rồi anh ta nhẹ nhàng đứng lên, cứ thế tiến ra cửa. Ngay trước khi đi còn ngoái nhìn tôi qua vai mà phán một câu:

"Bác sĩ cũng cố mà giữ sức khỏe nhé!"

Rốt cuộc là sao hả?

Đám người này tới bệnh viện để làm gi vậy?

Tôi suýt thì rơi vào một ảo tưởng ngớ ngẩn, rằng phải chăng cứ hễ khi nào tôi mệt mỏi là những kẻ nghiện bia rượu này lại kéo bè kéo cánh tới mà lên giọng kẻ cả với tôi?

Đương nhiên không phải bệnh nhân nào cũng vậy. Nhưng đúng là có những người quái quỷ thế đấy.

Tôi cau mày trước điệu cười ngu ngốc vang vọng trong văn phòng bệnh viện.

Nghe kể về tình trạng thê thảm lúc khám ngoại trú của tôi, Sunayama Jirou cười lăn cười bò.

"Ông đó hài quá đi mất. Bệnh nhân của cậu ai cũng thú vị cỡ chương trình tấu hài luôn. Đúng thật là ngưu tầm ngưu mã tầm mã nhỉ?"

"Jirou, ngậm mồm vào, nhắm mắt lại, rồi nhảy khỏi cửa sổ kia cho tôi! Dù cả thế giới này có thương tiếc cậu thì tôi cũng sẽ gào lên sung sướng từ tận đáy lòng."

Tôi lườm hắn với vẻ đầy khó chịu, nhưng con quái vật vẫn chẳng hề tỏ ra sám hối một tẹo nào.

"Mau tới bệnh viện đại học đi! Ở đó không có những bệnh nhân như thế đâu, sẽ được làm những việc đáng làm hơn."

"Cái thằng vô ý vô tứ này! Cậu định bảo là công việc ở đây không đáng làm hả?"

"Đừng có lý sự! Là tớ lo cho cậu chứ bộ. Cậu nên đến đại học làm việc."

Tôi phớt lờ hắn.

Thế nhưng dù có bị lờ đi chăng nữa, cũng không đời nào có chuyện tên này chịu coi lại cái sự vô duyên của hắn dù chỉ một chút đâu. Như thường lệ, hắn đang uống hỗn hợp Sunayama với vẻ ngon lành lắm. Hắn cũng lịch sự pha cho tôi một phần và đặt lên bàn, nhưng hôm nay không phải là buổi sáng sau đêm trực. Khi không phải thức trắng thì đầu óc tôi vẫn tỉnh táo, đừng hòng tôi nuốt thứ chất lỏng kinh dị này. Tôi chỉ liếc một cái, rồi không thèm quan tâm đến sự hiện diện của chiếc cốc đó nữa.

"À, nhắc mới nhớ!" Đột nhiên Jirou tỏ ra nghiêm túc. "Tình hình bà Azumi từ sau hôm đó ra sao rồi?"

"Cậu hỏi vậy nhưng cũng biết thừa là chẳng thể làm được gì nữa mà. Tạm thời bà ấy đã ngừng xuất huyết hậu môn rồi, tình trạng cũng ổn định hơn."

"Vậy à? Bà lão hiền ơi là hiền nhỉ? Lúc tớ hớt hải chạy tới, bà ấy cứ liên tục xin lỗi vì đã gây phiền phức. Người đâu mà phúc hậu, chẳng còn sống được bao lâu mà còn đi quan tâm đến người khác. Đúng là người tốt thì không thọ."

Jirou thở dài. Tên này bản tính vốn rất lương thiện. Nhìn gã khổng lồ đen thui chìm đắm trong niềm thương cảm, bỗng nhiên tôi muốn chọc hắn quá.

"Nếu lý luận kiểu đó thì chắc cậu sẽ sống dai lắm nhỉ. Thật là đáng tiếc. Cậu cố gắng thành người tốt hơn đi rồi chết sớm một chút thì thế giới này sẽ mang ơn cậu những hai lần đấy."

"Cậu chẳng thành thật gì cả. Tớ mà chết thật thì cậu có muốn gặp tớ cũng chẳng gặp được đâu. Rồi cậu nhất định sẽ cô đơn... Ê này, Ichito!"

Tôi lờ tịt Jirou đang oang oang gọi, ra khỏi văn phòng.

Trêu chọc mấy tên ngốc, ngược lại chỉ khiến bản thân mệt mỏi thôi.

Trong phần trước tôi đã trình bày rằng bà Azumi không còn người thân nào cả. Thế nhưng, không phải là không có ai đến thăm bà.

Vài hôm trước, Touzai có kể cho tôi nghe về một quý ông cao tuổi bí hiểm luôn xuất hiện vào trưa thứ Sáu.

Ông mặc chiếc áo khoác màu xám không một nếp nhăn, thắt cà vạt màu xanh biển, đội một chiếc mũ phớt hơi cũ. Mỗi lần ông bước ra khỏi thang máy của khu, âm thanh "lộc cộc" độc đáo từ cây gậy gỗ để lại cho cô một ấn tượng khó phai.

Quý Ông luôn ngả mũ cúi chào trước trạm y tá, rồi sau đó đi về phòng 302.

Trong phòng bệnh, ông luôn nói chuyện với bà Azumi bằng giọng lịch sự. Ông vào lúc nào chẳng ai hay, rồi sau một tiếng ông lại lặng lẽ đi về. Có vẻ ông không phải gia đình hay họ hàng của bà, nhưng ông mang cho bà quần áo thiếu, rồi lại đem đồ cần giặt về. Ông hành xử hệt như một người chồng vậy. Bà Azumi cũng có vẻ yên tâm giao phó mọi việc cho ông. Hình như trong số các cô y tá, có người nghĩ họ là vợ chồng.

Trưa thứ Sáu nào tôi cũng rất bận nên chưa từng gặp ông trực tiếp, nhưng hôm nay thì khác.

"Quý ông áo xám mọi khi đến đấy!"

Lúc Touzai báo cho tôi là tối thứ Năm. Cô nói ông muốn hỏi về bệnh tình của bà Azumi, và đã chờ tôi mãi từ lúc quá trưa. Tôi ngạc nhiên, lập tức bảo cô gọi ông vào.

"Thật lòng xin lỗi vì đã đường đột!" Ông bước vào trạm y tá, cúi chào thật thấp.

Đột nhiên trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ. Phải chăng sự lễ độ của bà Azumi đã lan truyền tới cả những người gần gũi với bà?

"Xin lỗi vì tôi tự ý muốn hỏi chuyện đột xuất thế này." Ông bỏ mũ, đặt cây gậy xuống rồi từ tốn ngồi lên ghế. Tác phong của ông nhã nhặn, đôi mắt ông ôn hòa, thật là một quý ông kiểu mẫu.

Ông lặng lẽ cất lời:

"Tôi cứ ngần ngại mãi, không biết có nên hỏi hay không. Tôi không phải người nhà của bà Azumi, cũng không có quan hệ huyết thống gì. Nhưng vài ngày trước tôi nghe nói bà ấy phải truyền máu, tôi nóng ruột đứng ngồi không yên nên đành mạo muội thưa chuyện với bác sĩ."

Những thông tin cá nhân của bệnh nhân, thông thường khi cần thiết chúng tôi sẽ nói với gia đình họ. Nhưng việc tiết lộ cho người ngoài thì bị cấm về mặt pháp luật. Đó là luật bảo vệ thông tin cá nhân. Trong trường hợp bệnh nhân không cho phép thì có khi còn không được nói cho người nhà biết nữa.

Vậy nên lời của ông rất chính xác. Nếu không phải người thân thì không thể tự ý nói ra được. Nhưng pháp luật chẳng qua là phương tiện để bảo vệ cho người bệnh, nếu vì tuân thủ pháp luật mà khiến bệnh nhân bị cô lập thì chẳng còn ý nghĩa gì. Các bác sĩ trong tình huống đó nên linh động cân nhắc để xử lý.

Tôi cho rằng ông cũng giống như một người thân của bà Azumi vậy.

"Bệnh tình bà ấy khá trầm trọng."

Ông vừa lắng nghe vừa gật đầu như nuốt lấy từng lời của tôi.

Tôi nói với ông rằng, ung thư đang lan ra rất nhanh, thâm nhiễm vào ruột và gây xuất huyết, nhưng chưa có phương pháp chữa trị hữu hiệu. Từ nay trở đi, nếu xảy ra những vấn đề như xuất huyết nặng, thì có thể gây đột biến dẫn đến khả năng tử vong cao. Tôi cũng nói rằng tiên lượng bệnh nhân không thể sống quá một tháng.

"Một tháng ư?"

Đúng như tôi nghĩ, ông mở to mắt kinh ngạc.

Trong giây lát, ông thẫn thờ nhìn vào không trung, chẳng nói một lời. Một lúc sau, cuối cùng ông cũng cất giọng thì thào:

“Vậy ư... Đến nông nỗi này sao…"

"Xin mạn phép được hỏi, ông có quan hệ thế nào với bà Azumi vậy ạ? Trong số các cô y tá, có người nói rằng hai người giống hệt như vợ chồng..."

Quý Ông, ngược lại, tỏ ra ngạc nhiên khi nghe tôi nói vậy.

"Vợ chồng ấy à... Tuyệt đối, tuyệt đối không phải thế đâu."

Một nụ cười ngượng ngùng thoáng xuất hiện nơi khóe miệng phủ râu trắng của ông.

"Ngày xưa, tôi từng được chồng bà Azumi cứu giúp. Cứu mạng ấy à? Không phải chuyện to tát thế. À không, có lẽ còn đáng quý hơn cả cứu mạng nữa. Chuyện từ năm mươi năm về trước rồi, tôi cũng đã quên gần hết..."

Mắt ông hơi nhíu lại, tựa như đang dúm vào những hồi ức của quá khứ xa xôi.

"Từ đó về sau chúng tôi vẫn giữ mối giao tình lâu dài. Khi chồng bà Azumi mất, ông ấy đã trăn trối với tôi rằng: 'Nhờ cậu chăm lo cho Kyoko!'

"Tôi chỉ giữ trọn lời hứa ấy mà thôi," ông nói khẽ như thì thầm, rồi từ tốn đứng dậy.

"Cảm ơn bác sĩ đã cho tôi biết chuyện quan trọng. Nếu không hỏi, suýt chút nữa tôi đã phải ân hận. Từ mai ngày nào tôi cũng sẽ đến."

Rồi ông lại cúi chào thật thấp. Ông đội chiếc mũ phớt, nhấc gậy lên, rồi quay lựng đi khỏi trạm y tá.

Hóa ra âm thanh từ chiếc gậy của ông vang vọng bên tai tạo nên một ấn tượng kỳ lạ như thế này đây.

Lộc cộc! Tôi có cảm giác từ phía bên kia hành lang, âm thanh ấy cứ vang lên mãi.

"Tin cực lớn đây, Đốc Tờ!"

Lúc tôi về nhà, Nam Tước đang ở trong gian Anh Đào. Đó làcâu đầu tiên anh nói với tôi.

Như thường lệ, vợ tôi đang thành thạo xay hạt cà phê Inoda, bắt đầu chuẩn bị một cốc đầy ắp hạnh phúc.

"Ôi, Công Chúa Haruna, mùi vẫn thơm nức như mọi khi nhỉ? Được sinh ra trong cùng một thế giới với nàng đúng là phúc lớn của anh."

"Cảm ơn, ngài Nam Tước. Anh chờ khoảng ba phút nhé."

"Ừm ừm."

Nam Tước cười mãn nguyện. Tẩu thuốc, cà phê, và scotch là ba thứ mà anh yêu nhất đời.

"Thiệt tình, Đốc Tờ đúng là một người may mắn." Anh vừa ngâm nga vừa nói. "Từ khi chú kết hôn với Công Chúa Haruna đến nay, mới được khoảng một năm nhỉ?"

"Đúng rồi, nhưng nếu anh định khơi lại vụ bỏ lỡ mất ngày kỷ niệm kết hôn thì em không đưa cà phê cho đâu nhé."

"Nào phải vậy!"

Nam Tước vội vàng xua tay.

"Nhìn hai đứa, anh thấy tình nồng ý thắm cứ như vợ chồng đã chung sống bao nhiêu năm rồi ấy. Ghen tị quá đi mất. Anh chợt nghĩ, không biết có thiên sứ nào giống như Công Chúa đây sắp giáng trần đến với anh không?"

"Ngài Nam Tước có bạn gái không ạ?"

Nghe vợ tôi hỏi, Nam Tước trọn tròn mắt như thể kinh ngạc sâu sắc.

"Một lãng khách như anh lẽ nào lại sở hữu thứ xa xỉ như thế. Nói đến người yêu thì anh chỉ có scotch và vải bố thôi."

"Thế thì cô đơn nhỉ?"

Bị nói nhẹ tênh, Nam Tước thõng vai xuống.

Tôi nở nụ cười rầu rĩ với cô vợ đang bối rối, rồi lảng sang chuyện khác.

"Thế, tin lớn của anh là gì vậy hả Nam Tước?"

"Không phải tin lớn. Là tin cực lớn."

Anh là một gã quý tộc rõ thích câu nệ tiểu tiết. Nếu cứ tranh cãi với anh thì sẽ lạc khỏi vấn đề chính mất, nên tôi đành im lặng gật đầu.

"Anh đã thấy một phụ nữ."

Tôi lộ vẻ chán ghét.

"Nếu là chuyện ma thì em không nghe đâu. Em kỵ nhất là đám nghiện rượu và ma quỷ."

"Ma quỷ nỗi gì. Người thật đàng hoàng. Mà còn là một phụ nữ đẹp đến kinh ngạc Đốc Tờ ạ."

Tôi chẳng thấy hứng thú gì sất.

Phụ nữ đẹp thì trên đời này thiếu gì. Còn phụ nữ đẹp đến kinh ngạc, nếu tìm thì cũng có thôi. Thế giới rộng lớn lắm.

Tôi hỏi một câu ước chừng không làm gián đoạn câu chuyện:

"Anh thấy ở đâu?"

"Trong gian Cúc Dại."

Thế này thì siêu hấp dẫn rồi đây.

Theo lời Nam Tước, chuyện xảy ra vào chiều hôm qua.

Có tiếng người chuyện trò vang ra từ gian Cúc Dại của Ngài Cử Nhân, một sự việc rất bất thường, trong đó lại còn lẫn cả tiếng phụ nữ nữa, khiến anh Nam Tước tò mò lắm. Anh ra hành lang đi thơ thẩn loanh quanh một hồi, thì bất ngờ cánh cửa trượt mở toang, và từ bên trong bước ra một người phụ nữ "có mái tóc đen huyền óng ả tựa dòng suối chảy, làn da trắng muốt không tì vết, vóc dáng cao thanh mảnh, và đôi mắt ngoái nhìn về phía anh đầy mị lực đến nỗi có thể đoạt mất hồn của tất cả đàn ông trên thế gian này".

Anh Nam Tước hừng hồn mô tả, nửa lại ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Tính từ nào anh cũng nhấn đi nhấn lại, nhưng chung quy là một phụ nữ đẹp đến không thể tin nổi.

"Sau đó thì sao?"

"Hết rồi."

Sau khi người phụ nữ đi, gian Cúc Dại lặng như tờ không một tiếng động. Có vẻ sau đó người phụ nữ kia không quay lại nữa, chỉ còn "một sự im lặng không thể lý giải" - theo như lời Nam Tước. Đúng là cách mô tả nặng tính chủ quan.

"Hay anh Cử Nhân có bạn gái rồi?" Vợ tôi có vẻ thích thú.

"Nếu là người mà anh Cử Nhân yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên thì hẳn phải là một người xinh đẹp lắm nhỉ?"

"Câu sau thì anh đồng ý. Nhưng câu trước thì sao có thể chứ? Cái cậu Cử Nhân chỉ biết cắm đầu vào học đấy thì phụ nữ nào lại..."

"Ơ kìa ngài Nam Tước, anh Cử Nhân trong mắt nữ giới là người vừa học cao hiểu rộng lại đẹp trai, cực kỳ có sức hút đấy nhé. Em đảm bảo ở trường đại học anh ấy có nhiều fan nữ lắm."

Nhìn nụ cười trong sáng đơn thuần của vợ tôi, Nam Tước không thể đồng tình nhưng cũng chẳng cãi lại được. Anh ấy dễ mềm lòng trước nụ cười của vợ tôi lắm.

"Nam Tước này, cứ đi hỏi trực tiếp người trong cuộc cũng được mà? Nếu anh muốn thì bây giờ chúng ta đi luôn nhé?"

"Việc đó thì…”

Nam Tước nghiêng đầu.

"Từ lúc đó anh đã hỏi mấy lần rồi mà cậu ta có chịu hé răng đâu. Trong lúc anh không để ý, hình như cậu ta bỏ ra ngoài rồi. Anh cũng muốn biết rõ nội tình càng sớm càng tốt đấy chứ…”

"Nếu anh ấy không có nhà thì chỉ còn nước chờ anh ấy về thôi. Chà chà, nếu đến sáng anh ấy mới về thì có lẽ đã rõ 'nội tình' rồi nhỉ."

Nghe tôi thầm thì, vợ tôi đỏ mặt nói "Chà chà" rồi cười.

Nam Tước nhún vai.

"Hai đứa tụi em tỏa ra thứ hào quang hạnh phúc không hề phù hợp với trang viên Ontake nằm dưới đáy xã hội này đã làm anh khổ tâm lắm rồi. Nếu cả Ngài Cử Nhân cũng được hào quang hạnh phúc bao bọc thì anh sẽ thấy lạc lõng mà chịu không nổi mất. Anh phải cầu nguyện để ít nhất cậu ấy sẽ về nhà trong đêm nay."

Nam Tước làm dấu thánh và lẩm bẩm cầu nguyện một cách phô trương, rồi anh nếm thử cà phê vợ tôi pha.

"Ái chà, ngon quá xá là ngon! Vị nữ thần sẽ pha cho anh những cốc cà phê tuyệt phẩm thế này liệu có xuất hiện trên đời không nhỉ?" Anh than thở. Dù thi thoảng hơi nhiều lời, nhưng anh lại là một chàng quý tộc vô tư lự.

Thế nhưng tối hôm ấy chúng tôi đã gặp phải một tình huống không nằm trong dự đoán.

Đối với tôi, đó là một chuyện đầy nuối tiếc.

Trong đêm khuya, đột ngột vang lên một tiếng kêu lớn.

Tôi đang lơ mơ ngủ thì bừng tính. Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng la "Đốc Tờ ơi!". Thế rồi cánh cửa trượt bị đập bùm bụp, cả căn phòng rung lên kẽo kẹt.

"Nam Tước, anh cứ đập như thế thì cái cửa nó rơi ra mất!"

Tôi còn chưa nói hết câu thì hai cánh cửa đã rời ra và đổ rầm vào phòng. Câu đùa nho nhỏ của tôi đi quá xa rồi.

Vợ tôi đã thức dậy từ lúc nào. Nàng bật đèn lên đúng vào lúc Nam Tước ngã nhào lên trên tấm cửa trượt.

"Đốc Tờ, nguy to rồi! Chú tới ngay đi!"

Ngày thường anh Nam Tước luôn trầm tình điềm đạm, thế nhưng lúc này mặt mày anh xanh lét. Anh la lớn:

"Ngài Cử Nhân..."

Tôi choáng váng như bị sét đánh.

Tôi lao vào gian Cúc Dại và chợt ngừng thở.

Trên một góc chiếc bàn ở chính giữa phòng, thân hình Ngài Cử Nhân đổ xuống rũ rượi. Da anh vốn đã trắng, giờ đây gần như chẳng còn chút khí huyết. Có vẻ anh vẫn đang thở khẽ, nhưng nhìn qua thì thấy yếu lắm.

Tôi chạy vội tới nâng anh dậy. Không thấy chảy máu hay vết thương ngoài da nào rõ ràng nhưng thân nhiệt thấp.

"Nam Tước, chuyện này là sao?"

"Nửa đêm anh nghe có tiếng động trong này. Anh nghĩ Ngài Cử Nhân về nên qua gõ cửa nhưng không ai trả lời. Anh cứ nóng ruột không yên sao đó nên mới vào xem thử thì thấy như vầy."

Giọng Nam Tước vẫn hơi run.

Tôi bắt mạch. Huyết áp khoảng 80, nhịp tim 40, không có gì bất thường.

Lạ thật.

Mặc dù huyết áp khá thấp, nhưng nhịp tìm không hề tăng. Lại thêm thân nhiệt giảm.

Tôi nhìn lướt qua phòng và dừng lại trên bàn. Có rất nhiều túi giấy nhỏ. Nhận thấy ánh mắt tôi, vợ tôi liền tới gần, lấy thứ từ bên trong túi giấy ra.

Tôi tặc lưỡi.

Đó là một nắm đầy thuốc viên.

"Haru, gọi xe cấp cứu đi!"

"Vâng!"

Vợ tôi vội vã chạy ra khỏi phòng.

"Nam Tước, anh kiếm được bao nhiêu chăn thì đem hết tới đây. Bằng mọi giá không được để thân nhiệt giảm thêm nữa. Sau đó anh bật tất cả các đèn từ hành lang tới tiền sảnh và mở sẵn cửa ra để đội cấp cứu dễ vào."

Nam Tước cũng vội vã đi ngay.

Tôi xác nhận Ngài Cử Nhân vẫn đang thở khẽ, rồi nhẹ nhàng để anh ngủ, sau đó tôi hướng mắt về phía đống thuốc.

Trong khoảng cách tôi thấy được thì có khoảng năm mươi đến sáu mươi viên. Tầm một nửa số đó là những loại thuốc tôi đã từng thấy, nửa còn lại thì tôi không biết. Tôi xem xét một vòng quanh phòng và phát hiện thêm ba gói thuốc rỗng nữa trong thùng rác và ngăn kéo. Ngay lập tức, tôi ghi lại tên và số lượng những loại thuốc mà tôi biết. Trong số đó, có vẻ không loại nào có thể gây tử vong.

Trong lúc tôi đang làm vậy thì tiếng còi xe cấp cứu đến gần, và liền sau đó, tôi nghe thấy tiếng đội cứu thương. Từ lúc gọi xe đến giờ còn chưa quá ba phút. Sự mẫn căn của những nhân viên cấp cứu Nhật Bản thực khiến người ta phải ngạc nhiên.

"Ở đây!" Tôi cao giọng gọi. Ngay sau đó, nhân viên dẫn đầu đáp lại:

"Phải bác sĩ Kurihara đó không?"

Là đội trưởng Gotou của đội cứu thương toàn khu vực Matsumotodaira. Anh là nhân viên kỳ cựu nhất nhì trong cả đội và cũng là người lớn tuổi nhất - bốn mươi sáu tuổi. Anh có thể linh hoạt tiến hành những biện pháp xử lý chính xác với phong thái điềm tĩnh, và là người bạn mà tôi thường xuyên gặp mặt tại khoa cấp cứu của bệnh viện Honjou. Tôi nói nhanh:

"Anh Gotou, em e là bị ngộ độc thuốc cấp tính, vẫn còn thở, nhưng huyết áp tụt."

Trong lúc tôi thuật lại tình trạng, hai nhân viên cấp cứu thành thạo đo huyết áp, nhấc Ngài Cử Nhân lên cáng, một người bắt đầu ghi chép.

"Cụ thể ra sao em chưa rõ. Dù sao hãy cứ đến bệnh viện Honjou đã ạ!"

"Hiểu rồi. Vậy còn bác sĩ?"

"Đương nhiên em sẽ đi cùng. Dù thế nào đi nữa, có anh là em cũng yên tâm rồi."

Nghe tôi nói, đội trưởng Gotou cười ngần ngại.

"Câu đó chúng tôi nói mới phải chứ, bác sĩ. Cái xe cứu thương cổ lỗ sĩ chỉ có chức năng chuyên chở này đột nhiên biến thành xe cấp cứu có bác sĩ đi kèm. Thật quý hóa quá."

Lập tức tiếng còi xe cấp cứu lại kêu vang.

Tôi nói với vợ tôi và Nam Tước lát nữa hãy đến bệnh viện sau rồi lao ra khỏi trang viên Ontake.

"Huyết áp đang ổn định. Đã siêu âm tìm nhưng không nhận thấy có bệnh hữu cơ. Không có vấn đề gì cả."

Bác sĩ Thản Nhiên của khoa nội tim mạch là một vị bác sĩ kỳ cựu với hai mươi năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Vì anh đúng chuẩn là một người luôn bình tĩnh và thản nhiên, nên tôi gọi anh là bác sĩ Thản Nhiên. Ngay cả trong những giờ phút khẩn cấp, anh vẫn trưng ra bộ mặt vô cảm và thực hiện công việc một cách lãnh đạm. Câu cửa miệng của anh là: "Không có vấn đề gì cả."

"Nhịp tim chậm có thể là do thuốc. Đã truyền dịch rồi nên đợi một lúc anh ta sẽ tỉnh lại thôi. Không có vấn đề gì cả."

"Xin cảm ơn anh. Chỉ cần biết không phải bệnh hữu cơ là đủ rồi ạ. Xin lỗi đã bắt anh phải chạy tới lúc đêm hôm khuya khoắt."

Tôi đứng thẳng lên rồi cúi đầu.

Ba giờ đêm. Sau khi Ngài Cử Nhân được chở đến bệnh viện, nhịp tim giảm xuống 30, tạm rơi vào trạng thái nguy hiểm. Dù cũng có thể tình trạng này phát sinh là do anh đã uống một lượng lớn thuốc hướng tâm thần, nhưng không thể hoàn toàn loại bỏ khả năng tiềm ẩn bệnh tim nghiêm trọng. Vấn đề này buộc phải nhờ cậy đến sự chẩn đoán của bác sĩ chuyên khoa. Vì thế mà tôi bất đắc dĩ phải làm phiền bác sĩ Thản Nhiên nửa đêm chạy tới.

Vẫn với vẻ mặt hờ hững như mọi khi, bác sĩ Thản Nhiên liếc Ngài Cử Nhân đang ngủ mê man một cái, rồi quay sang tôi.

"Người này là bạn của bác sĩ Kurihara à?"

Tôi im lặng gật đầu.

Bác sĩ Thản Nhiên chẳng nói gì, lại dõi mắt về phía Ngài Cử Nhân.

"Trái tim của người này không có vấn đề gì cả. Vấn đề nằm ở thứ khác quan trọng hơn."

"Còn có thứ quan trọng hơn cả trái tim sao?"

Nét mặt của bác sĩ Thản Nhiên chẳng chút thay đổi.

"Bác sĩ Kurihara, quan niệm trái tim là bộ phận quan trọng nhất của con người chỉ là ảo tưởng mà thôi. Có vô số thứ quan trọng hơn nó."

Bác sĩ Thản Nhiên bất ngờ cầm lấy đầu dò siêu âm tìm và chiếu hình ảnh trái tim của Ngài Cử Nhân. Trái tim hiển thị trên màn hình quả thực đang đập mãnh liệt.

"Trái tim của người này đang hoàn thành nhiệm vụ rất xuất sắc. Thế nhưng, nếu chủ nhân của trái tim này ước ao được chết, thì nhịp đập của nó cũng chỉ đơn giản là những chuyển động máy móc để bơm máu mà thôi."

Ngừng lại một chút, rồi anh lẩm bẩm như nói với chính mình.

"Con người không phải là máy móc."

Bác sĩ Thản Nhiên từ tốn thông báo rằng tìm không có vấn đề gì, rồi cứ thế bỏ đi không một lời nói trước.

Còn lại trong phòng, tôi chỉ biết câm lặng nhìn gương mặt say ngủ của Ngài Cử Nhân.

Gương mặt nhìn nghiêng của anh an tĩnh tựa như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Đối với một bệnh nhân đã uống một lúc hai trăm viên thuốc ngủ và thuốc an thần rồi nhắm mắt, thì thật là quá đỗi thanh thản, chẳng chút vấn vương gì.

"Hiện giờ đã có giường cho bệnh nhân nằm viện rồi."

Người vừa lên tiếng là chị Tomura, y tá trưởng của khoa cấp cứu.

Những lúc thế này tôi thật sự biết ơn chị vì đã không tỏ vẻ quan tâm thừa thãi mà mau lẹ hoàn thành công việc.

"Tôi sẽ chuyển bệnh nhân đến khu!"

Tôi im lặng gật đầu.

"Bác sĩ phụ trách là bác sĩ Kurihara nhé?"

Lại một lần nữa, tôi im lặng gật đầu.

Bốn mươi tiếng sau, Ngài Cử Nhân tỉnh dậy.

Ngài Cử Nhân vốn đã có nước da trắng, giờ đây gương mặt không chút khí huyết của anh trắng bệch đến nỗi tôi tưởng như anh đã hòa làm một với tấm ga trải giường của bệnh viện. Anh chỉ lẩm bẩm một câu duy nhất:

"Tôi vẫn sống à?"

Nam Tước nãy giờ vẫn dõi mắt nhìn Ngài Cử Nhân không rời, nghe câu ấy liền nổi xung lên, túm cổ áo Ngài Cử Nhân hét lên gì đó, rồi đùng đùng bỏ ra khỏi phòng bệnh. Sau đó chỉ còn lại một sự im lặng nhức nhối. Tôi giải thích qua loa là tình trạng của anh đang dần ổn định. Anh cũng chẳng hỏi nhiều.

"Xin lỗi Đốc Tờ, tôi..."

"Không có gì. Anh còn sống. Đó là điều quan trọng nhất."

Tôi tuyên bố, với khuôn mặt chẳng chút biểu cảm.

"Nếu không ngủ được thì cứ việc uống thuốc ngủ. Nếu thấy lo lắng thì cứ việc uống thuốc an thần. Nhưng uống quá liều thì không được. Cũng như rượu vậy."

Nghe những lời của tôi, Ngài Cử Nhân khẽ cười.

Một nụ cười mỏi mệt và quá đỗi mong manh.

Kết quả xét nghiệm máu không có vấn đề gì, huyết áp và nhịp tim cũng ổn định, không có rắc rối gì lớn. Thêm một ngày nữa trôi qua, đến quá trưa hôm ấy, Ngài Cử Nhân có khách đến thăm.

Đó là một phụ nữ có mái tóc dài đen huyền, tương phản với màu tóc ấy là nước da trắng tựa tuyết. Vóc người cô cao và thanh mảnh, cử chỉ duyên dáng, đôi mắt đầy mê lực với cái nhìn thăm thẳm. Khi cô dạo bước qua khu, trong dáng điệu cô toát lên vẻ quý phái, khiến cả đàn ông lẫn phụ nữ đều bất giác dừng chân mà ngoái lại nhìn.

Nhân vật Nam Tước kể tối hôm nọ đây mà.

"Tôi là Tachibana Kaede, chị của Sensuke."

Người phụ nữ cúi chào thật thấp. Mất vài giây tôi mới nhận ra Tachibana Sensuke là tên thật của Ngài Cử Nhân.

"Lần này em tôi làm phiền mọi người nhiều quá."

"Tôi không nhớ mình đã phải chịu phiền phức gì cả. Tình trạng của anh ấy khá hơn rồi, có lẽ ngày mai là xuất viện được. Sau khi anh xuất viện, chúng tôi định sẽ cùng anh uống chén rượu mừng. Chị Kaede cũng tham gia luôn thì tốt quá."

Nghe tôi nói vậy, chị mỉm cười gượng gạo.

"Tôi đang tính đưa Sensuke về Izumo." Chị nói ngắn gọn.

Đây là lần đầu tôi biết rằng quê Ngài Cử Nhân ở Izumo.

"Tôi phải xin lỗi Đốc Tờ."

Đột nhiên Ngài Cử Nhân lên tiếng. Một vẻ yên bình hiện lên trên gương mặt đã lấy lại được chút khí sắc của anh.

"Xin lỗi? Miễn sao anh không lén uống trộm chai rượu gạo của em thì không có lý do gì Ngài Cử Nhân phải xin lỗi em cả."

"Tôi không uống trộm rượu của cậu," anh cười thiểu não.

Rồi anh lặng lẽ nói:

"Chuyện tôi đi học hoàn toàn là dối trá."

Dường như đôi bờ vai của chị gái anh đang khẽ run rẩy.

"Tôi chẳng phải nghiên cứu sinh gì hết, tôi thậm chí còn chưa vào đại học. Con đường học vấn của tôi chỉ dừng ở việc tốt nghiệp cấp ba. Tôi đã đến Tokyo để ôn thi đại học nhưng thi trượt. Từ đó về sau tôi cứ lang thang không mục đích khắp cả nước, thế rồi không hiểu vì đâu mà trôi dạt tới miền quê Shinshu này. Từ ngày đến sống ở trang viên Ontake tới giờ, cũng đã được tám năm..."

Một nụ cười khô khốc thoáng hiện trên gương mặt anh, như thể anh đang cười nhạo chính mình. Rồi anh cụp mắt xuống.

Trong khoảnh khắc, sự im lặng lan tỏa.

"Nghiên cứu về Nietzsche, viết luận văn, tất cả là dối trá hết."

Mỗi lời anh thốt ra đều nhói buốt.

"Trong tám năm ấy, chưa một lần tôi về thăm mẹ ở Izumo. Mẹ tôi vẫn cứ đinh ninh rằng tôi đang tiếp tục học tại một trường đại học nào đó ở Tokyo. Chỉ có chị tôi biết sự thật..."

Khi nói gần hết câu, giọng anh run rẩy. Rồi đột ngột nước mắt anh rơi xuống.

"... Tôi cứ nghĩ một ngày nào đó nhất định mình sẽ khiến mẹ được nở mày nở mặt, thế mà…”

Ngài Cử Nhân bật khóc.

Chị gái anh nhẹ nhàng lại gần ôm lấy vai anh.

"Về nhà thôi, Sensuke. Em đã làm rất tốt rồi. Bây giờ em có thể trút bỏ gánh nặng trên vai được rồi."

Căn phòng im ắng, chỉ còn tiếng thổn thức vang lên khe khẽ.

Dáng hình Ngài Cử Nhân đang bị mặc cảm tội lỗi giày vò mong manh đến độ tưởng chừng sẽ cứ thế mà tan biến mất.

"Vậy thì sao chứ?"

Tôi đột ngột thốt lên trong một trạng thái gần như vô thức.

"Ngài Cử Nhân, chuyện anh không phải sinh viên khoa Văn em biết từ lâu rồi. Bởi vì, Đại học Shinano chỉ có khoa Nhân Văn chứ làm gì có khoa Văn."

Ngài Cử Nhân ngước lên nhìn tôi hơi ngạc nhiên.

Tôi lặng thinh nhìn xuống anh rồi nói tiếp.

"Thế nhưng việc đó thì sao chứ? Niềm đam mê học tập của anh yếu ớt đến nỗi không có học vị thì không thể duy trì được à? Trường đại học? Được thôi, nếu thấy nó quan trọng thì giờ anh học là được. Nếu có một người mẹ đang mong ngóng, thì từ nay anh hãy đặt mục tiêu đi. Anh xấu hổ gì chứ?"

"... Nhưng nói dối vẫn là nói dối. Tôi đã lừa gạt Đốc Tờ và mọi người bấy lâu."

"Không phải nói dối!"

Tôi to tiếng đến mức ngay cả bản thân cũng ngạc nhiên. Chị gái anh giật mình ngước lên nhìn tôi.

Nhưng tôi chẳng quan tâm.

"Không phải nói dối, Ngài Cử Nhân ạ. Kiến thức sâu rộng của anh là sự thật. Dù tốt nghiệp cấp ba hay tốt nghiệp đại học đi nữa, anh vẫn cứ tinh thông sách vở khắp đông tây kim cổ, hiểu tường biết tận triết học Đức, còn về Nietzsche thì kiến thức và độ am hiểu của anh đủ để áp đảo người khác. Những điều này em biết rõ hơn ai hết."

Vì anh không hiểu những điều hiển nhiên như vậy, nên tôi phải nói ra tất cả.

"Điều quan trọng trong sự học là nghị lực chứ không phải bằng cấp, là đam mê chứ không phải thể diện. Dù anh không đến trường đại học, nhưng chắc chắn gian phòng tám chiếu của anh đã luôn là một phòng triết học. Căn phòng ấy tràn ngập suy tư và trí tuệ, là nơi những ý tưởng lóe sáng. Những điều này, ngay bây giờ em vẫn chẳng thể nói hết thành lời. Trên con đường mà anh đã theo đuổi suốt tám năm trời đó, điều gì làm anh hổ thẹn chứ?"

Nghe giọng điệu sôi nổi của tôi, hai chị em đều im lặng.

“Nếu có người cười thì cứ mặc họ cười. Cậu vẫn luôn tiến về phía trước. Chúng tôi chính là nhân chứng cho điều đó."

Tôi ngừng lại, ngước lên trần phòng bệnh, rồi từ tốn nói thêm:

"Nếu là Nam Tước, có lẽ anh ấy sẽ nói vậy nhỉ?"

Đột ngột, căn phòng lại chìm vào thinh lặng.

Nước mắt của Ngài Cử Nhân đã khô tự bao giờ. Vậy là tốt rồi.

Tôi im lặng cầm bệnh án lên, nhẹ nhàng lật trang, và viết thêm vào phần dự định ngày mai câu "phục hồi tốt, xuất viện".

"Ngay cả người có ý chí sắt đá như em đây còn có khi uống quá chén chút đỉnh cơ mà. Sau hai ngày say, một quãng thời gian hạnh phúc tương đối dài, thì có vẻ anh đã tính rồi. Em thấy mai là xuất viện được rồi đấy."

Tôi đóng sập quyển bệnh án lại.

"Thay vì nghỉ ngơi, anh cứ thẳng lưng lên mà về gặp mẹ một lần đi."

Ngài Cử Nhân cúi đầu.

"... Cảm ơn Đốc Tờ... Thật ra..."

Rồi cứ thế, giọng anh nghẹn lại đau đớn.

"Mẹ tôi đã qua đời hôm trước rồi."

Tôi chẳng biết phải nói sao về sự nông cạn của chính mình.

o0o

Ngu đến mức này thì hết thuốc chữa rồi.

Trong một góc trạm y tá, tôi ngồi ôm đầu suốt từ sáng đến giờ, mặt mày khủng hoảng như thể vừa phải uống hết một xô hỗn hợp Sunayama.

Nguyên nhân chính khiến Ngài Cử Nhân quyết kết liễu đời mình chính là cái chết của mẹ anh.

Người mẹ ấy chẳng hề hay biết sự tình, cứ vừa nằm liệt trên giường bệnh vừa mong ngóng đứa con trai vinh hiển trở về. Đương nhiên đứa con ấy, với bí mật giấu kín trong lòng, đã chẳng thể về thăm bà. Và trong khi anh sống những thời khắc vô vi thì mẹ anh đã lìa bỏ thế gian. Chìm trong cảm giác tội lỗi, Ngài Cử Nhân đã cự tuyệt cả lời chị gái xin anh ít nhất cũng hãy về dự đám tang mẹ. Trong những ngày thống khổ ấy, có lẽ trái tim anh đã bị ăn mòn. Người chị lo lắng cố tình tới gặp anh, nhưng ngược lại càng khiến Ngài Cử Nhân phải đối mặt với hiện thực nghiệt ngã.

Chẳng hề rõ những điều ấy, tôi còn trưng ra bộ mặt ta-đây-biết-tuốt mà hùng hồn nói những câu như: "Anh nên về gặp mẹ đi."

"Đồ ngu! Đồ ngu!" Tôi hét lên trong đầu. Nhưng dù có hét bao nhiêu lần đi nữa thì cũng chẳng khiến thằng ngu bên trong mặc quần áo vào rồi bước ra khỏi người tôi được.

"Aaa!" Tôi vò đầu bứt tóc, làm rụng mất năm, sáu sợi. Trong số đó có ba sợi là tóc bạc.

"Anh đang làm cái gì thế?"

Như thường lệ, Touzai xuất hiện.

Cô đúng là một người chăm chỉ đến phát sợ. Rốt cuộc thì cô nghỉ ngơi vào lúc quái nào chứ?

"Em thấy sao thì là vậy đó. Anh đang vật lộn, giao chiến với một gã có tên là 'tuyệt vọng buông xuôi'."

"Chuyện anh Tachibana à?"

"Khỏi phải nói."

Tôi nhìn mấy sợi tóc bạc rụng ra bằng ánh mắt chán ghét, rồi quăng chúng vào thùng rác.

Định bụng sẽ động viên Ngài Cử Nhân một cách thật là ngầu, nhưng rồi tôi cũng chẳng khá hơn một nhà thuyết giáo ngu dốt kém cỏi mà cứ ra vẻ hiểu biết. Đúng là thằng hề.

"Nếu có người cười thì cứ mặc họ cười."

Đột nhiên Touzai nhại lại lời tôi. Bực mình quá rồi đấy!

"Em nghĩ cũng không tệ đâu."

"Gì cơ?"

"Thì câu đó ấy, em thấy nó cũng đâu có tệ. Kiểu nói chuyện cổ lỗ sĩ của bác sĩ đôi khi cũng hữu ích nhỉ? Nó giúp em cảm thấy có thêm chút dũng khí."

"Em thấy có thêm dũng khí thì cũng có nghĩa lý gì đâu."

"Em nghĩ nhất định anh Tachibana cũng đã được khích lệ đấy. Dù có hơi lạc đề một xíu, nhưng những lời nói nhiệt thành của bác sĩ chắc chắn đã truyền được tới anh ấy."

Touzai đang động viên tôi.

Đúng là chuyện hiếm thấy trên đời.

"Em có ý đồ gì hả?"

"Đừng có lúc nào cũng nói toàn mấy lời khó nghe như thế. Thỉnh thoảng anh hãy chân thành đi chứ. Uống cà phê không?"

Touzai cười khổ, cô đặt hai cốc cà phê xuống mà chẳng cần nghe câu trả lời của tôi.

"Uống thôi!"

Hôm nay, tôi chỉ còn nước vẫy cờ trắng đầu hàng.

Bà Azumi đã được chuyển sang phòng 300.

Đó là phòng đơn dành cho bệnh nhân mắc bệnh nặng, nằm đối diện trạm y tá. Cho tới hôm trước, đây từng là phòng của ông Tagawa.

May thay, từ sau hôm ấy bà không còn bị xuất huyết hậu môn nhiều nữa, thế nhưng thỉnh thoảng trong phân vẫn còn lẫn máu tươi. Vì tình trạng huyết áp không ổn định, nên cũng có khi sắc mặt bà đột ngột xấu đi, nguy cơ xảy ra đột biến cao.

Bản thân bà Azumi cũng không tỏ ra thay đổi đặc biệt gì. Đôi khi bà được đẩy trên xe lăn đến phòng sinh hoạt chung, tại đó bà lại ngồi lặng hàng giờ ngắm nhìn núi Apls Bắc phía xa.

"Bà thích núi lắm ạ?"

Khi tôi đột ngột hỏi vậy, bà Azumi mỉm cười gật đầu.

Bà bảo lý do là bởi chồng bà rất yêu núi.

"Ông nhà tôi là người có tấm lòng quảng đại."

Bà Azumi nói vậy, rồi kể cho tôi nghe một câu chuyện lạ lùng.

Bà vốn xuất thân từ một sơn thôn nhỏ nằm sâu trong núi Hotaka. Tại thôn đó, bà đã gặp gỡ chồng mình, rồi hai ông bà kết hôn và dựng xây tổ ấm. Đó là chuyện từ hơn năm mươi năm về trước.

"Thôn của chúng tôi nghèo lắm. Đất đai cằn cỗi, số hoa màu thu hoạch được từ những khoảnh ruộng đã khai khẩn chẳng đáng là bao. Thế nên, khi mùa đông tới, lương thực cạn kiệt, cứ ba đứa trẻ con thì có một đứa chết vì đói."

Tại những sơn thôn ở vùng Shinshu thời trước chiến tranh, những chuyện như vậy không hiếm.

"Thế nhưng, nhà chúng tôi vẫn là một gia đình làm nông sở hữu mảnh ruộng hơi lớn một chút, so với láng giềng thì chúng tôi cũng gọi là còn có của ăn của để. Vào một ngày đầu thu nọ, kho thóc nhà chúng tôi đã bị trộm đột nhập."

Không hiểu vì lẽ gì nét vui vẻ thoáng hiện lên trên gương mặt bà Azumi.

Tôi im lặng, chăm chú lắng nghe.

"Đó là một thằng bé sống ở cùng thôn mà chúng tôi có quen.

"Nhà nó nghèo lắm, vụ thu năm nay cũng chẳng thu hoạch được gì. Phải nuôi một người cha bệnh tật và hai đứa em gái, nó quá túng quẫn không biết phải làm sao. Cuối cùng, nó đã lẻn vào nhà chúng tôi, là nhà thu hoạch được nhiều nhất trong số những gia đình xung quanh.

"Trong cái thôn nhỏ chưa đến một trăm người này, nếu việc ấy vỡ lở ra, có lẽ cả gia đình thằng bé sẽ bị đuổi khỏi thôn. Trước mùa đông mà mất nhà, thì hẳn nhiên cả gia đình sẽ lâm vào bước đường cùng. Khi bị phát hiện, chắc rằng nó đã nghĩ đến điều đó đầu tiên.

"Thằng bé đột ngột chạy ra sân, quỳ sụp xuống rồi dõng dạc khai nhận:

'Việc này chỉ có một mình em làm. Xin đừng liên lụy đến người nhà em!'

"Rồi nó rút từ ngực áo ra một cái liềm cắt cỏ nhỏ.

“’Em xin mổ bụng tại đây để tạ tội.’ Thằng bé la lớn.

"Lưỡi liềm vừa gỉ vừa cùn. Đến cỏ còn chẳng cắt nổi, huống chi là bụng."

Bà bật cười ha hả.

Trong lúc ấy, không rõ tự bao giờ, có vài cậu thanh niên hàng xóm nghe thấy náo động đã tập trung ở cổng trước.

Một đứa cất tiếng hỏi có chuyện gì. Cậu thiếu niên lúc này đang toan mổ bụng, còn chồng bà thì lặng yên nhìn xuống.

"Khi tôi đang luống cuống không biết nên làm thế nào thì bất thình lình chồng tôi đang đi đi lại lại ở phía trước chợt kêu lên thật to:

'Không có gì hết! Chỉ là một tengu[3] say rượu đi lạc vào sân thôi!'

"Cái chuyện 'tengu say rượu' ấy, nếu là thời nay thì nhất định sẽ thấy rất kỳ lạ. Nhưng hồi đó thì có sức thuyết phục lắm."

Nghe nói tengu đã đi, đám thanh niên liền bỏ về. Cậu thiếu niên sửng sốt ngồi bệt xuống sân.

"Nhưng mà này, chưa tới đoạn bất ngờ đâu nhé!"

Bà Azumi chậm rãi nhíu mắt. Dường như bà đang hồi tưởng và thưởng thức những hình ảnh xưa cũ từ chốn xa xăm của ký ức.

"Chồng tôi đột nhiên đi một mạch vào kho thóc, vác ra một bao gạo. Rồi ông ấy ném phịch xuống trước mặt thằng bé.

"'Cầm về đi!' Ông ấy bảo.

"Nhà chúng tôi gọi là dư dả nhưng cũng không dư đến mức đem cho cả một bao gạo. Nếu làm chuyện vô lý như thế thì đến đầu xuân kẻ khốn khổ chính là chúng tôi."

Cậu thiếu niên chỉ biết ngạc nhiên hết nhìn bao gạo lại nhìn chồng bà, vô cùng sửng sốt.

"'Mang về đi! Với chừng ấy khí phách, nếu có thêm bao gạo này, thì ngay cả mùa đông cũng sẽ vượt qua được. Đã vứt bỏ sinh mạng một lần thì đói rét chẳng còn đáng sợ nữa. Hãy bảo vệ gia đình cho thật tốt!'

"Chồng tôi nói với lại rồi bỏ vào trong nhà không trở ra nữa.

"Ngay sau đó, thằng bé dập đầu lên mặt sân, hết cảm ơn rồi lại xin lỗi rối rít. Cuối cùng tôi thấy nó nức nở khóc đến là tội nghiệp. Rốt cuộc tôi đành chạy tới lau mặt cho nó rồi bảo: 'Thôi em về cẩn thận!'"

Tôi bất giác phá lên cười.

Đôi vai bà Azumi rung rung, có vẻ bà cũng rất vui.

"Thằng bé đi rồi, tôi quay lại mâm com thì thấy chồng tôi đang húp canh như chưa từng có gì xảy ra. Đến mức tôi đã nghĩ liệu có phải chuyện vừa rồi chỉ là một giấc mơ, hay thật sự đã có một tengu đi lạc vào nhà mình chăng. Nhưng mà…”

Bà Azumi ngừng lại một lúc, từ từ thở ra.

Tôi chăm chú chờ nghe bà kể tiếp.

"Khi tôi ăn xong và đặt đũa xuống, thì chồng tôi lên tiếng. Ông ấy bảo: 'Xin lỗi mình!'. Chỉ một lời. Chỉ một lời như vậy thôi đã khiến tôi vui lạ thường. Tôi gật đầu tới mấy lần. Tôi nói rằng: 'Cách mình sống chẳng có gì sai cả. Mình hãy cứ sống theo cách ấy!'"

Gương mặt bà Azumi nom rất hạnh phúc. Đã lâu rồi tôi mới thấy bà có nhiều biểu cảm thế này.

"Gia đình cậu thiếu niên đó ra sao ạ?"

"Cả gia đình đều vượt qua được mùa đông bình an vô sự. Hơn nữa, sau đó thằng bé ấy chăm chỉ làm việc và học tập đến quên cả ngủ, cuối cùng nó đã được đến trường, và còn kiếm được một công việc rất tốt ở Tokyo. Chú tengu nhỏ ấy, chẳng rõ từ lúc nào đã trở thành người thành đạt nhất thôn. Lúc thằng bé diện đồ tây đẹp đẽ về thôn, chúng tôi ngạc nhiên ghê lắm."

Tôi chợt hiểu.

Đó là quý ông mặc áo xám. Chắc hẳn quý ông trạc tứ tuần ấy chính là cậu tengu nhỏ trong câu chuyện của bà Azumi. Ông đã nói: "Từng được cứu giúp một việc còn đáng quý hơn cứu mạng."

"Đó là một câu chuyện xưa nho nhỏ về chốn núi non."

Bà Azumi kết lại câu chuyện với một nụ cười tinh nghịch.

Tôi cũng cười và gật đầu.

Một câu chuyện thật ấm áp. Trong lòng tôi, cuộc đấu tranh với sự căm ghét bản thân mới nãy vẫn nặng trĩu, giờ đã được một làn gió mát thổi bay đi, như thể chưa hề tồn tại.

"Bà Azumi, cảm ơn bà."

Nghe tôi nói vậy, bà Azumi tỏ vẻ ngạc nhiên.

"Ơ kìa, sao bác sĩ lại cảm ơn tôi?"

"Cháu thích thì nói thôi. Cảm ơn, bà Azumi."

Vẫn ngạc nhiên, nhưng rồi bà Azumi mỉm cười thật tươi như đã thấu hiểu điều gì đó.

"Anh đi thật à?"

Nghe tôi hỏi vậy, Ngài Cử Nhân gật đầu. Gương mặt anh vẫn bình thản như mọi khi.

"Buồn quá nhỉ?"

Tôi chỉ nói có thế, rồi lẳng lặng ngó quanh gian Cúc Dại.

Cơ man nào là sách của anh hầu như đều không còn nữa. Trên kệ sách trống rỗng, chỉ sót lại đôi ba quyển và hai chai rượu Goichi cực phẩm. Hai chai Goichi, hàng đặc biệt màu đỏ và trắng, là thứ rượu thượng hạng mà Ngài Cử Nhân rất quý.

Đó là buổi tối hai ngày sau anh xuất viện về nhà.

Khuôn mặt Ngài Cử Nhân vẫn mang vẻ yên bình ấy, chẳng thay đổi mấy so với trước khi anh nhập viện. Sau bao thăng trầm, anh đã quyết định trở về nơi chôn nhau cắt rốn.

"Sáng mai chị tôi sẽ đến đón. Đêm nay là đêm cuối cùng tôi ở trang viên Ontake."

Giọng nói hiền hòa của anh thấm đẫm từng ngóc ngách của gian phòng tám chiếu. Dường như chiếu, cột, trần nhà, tất cả đều đang dỏng tai lên nghe thật kỹ từng câu, từng từ của anh, và tiếc thương người chủ nhân sắp ra đi.

Nếu im lặng, tôi chẳng làm sao xua tan được cảm giác bi ai này.

Tôi đã sống bên Ngài Cử Nhân năm năm. Đối với cả hai chúng tôi, đó là năm năm đầy sóng gió. Mối quan hệ mà chúng tôi xây đắp đã vượt qua khuôn khổ của một tình bạn đơn thuần. Có thể nói anh là bạn chí cốt của tôi. Người bạn chí cốt ấy đang định thầm lặng không lời tiễn biệt, buông xuôi mà ra đi.

Bên cạnh tôi, vợ tôi cúi đầu, mắt nhòa lệ, lặng lẽ ngồi đó. Đôi lúc bờ vai nàng run lên như đang thổn thức.

"Thời gian chúng ta ở bên nhau ngắn ngủi quá, Ngài Cử Nhân."

Cứ trong những lúc thế này, tôi lại chẳng nói được câu gì hay ho.

Thôi không lặp lại những lời thừa thãi nữa, tôi đặt cuốn sách phai màu nãy giờ vẫn lặng lẽ cầm trên tay lên bàn.

Đó là cuốn Trước bình minh của Shimazaki Touson.

"Chọn sách tặng cho Ngài Cử Nhân hiểu sâu biết rộng thật khó quá."

"Tặng tôi?"

"Có lẽ anh đã đọc rồi, nhưng..."

"Từ lâu lắm rồi."

Ngài Cử Nhân chạm bàn tay trắng trẻo lên gáy sách màu đỏ của cuốn Trước bình minh cũ kỹ. Bìa sách đã bị lột ra không biết bao nhiêu lần. Chẳng rõ từ lúc nào, cuốn sách đã trở nên te tua, đầy những dấu tay và vết trầy xước. Chắc chắn truyện được chia làm hai tập, nhưng tôi chỉ còn giữ được tập một mà thôi.

"Một câu chuyện cay đắng."

Tôi nói, và Ngài Cử Nhân khẽ gật đầu.

"Hoàn toàn chẳng phải một tác phẩm vui vẻ dễ chịu. Truyện kể về hành trình vô tận của Katsutou và Ounou. Cốt truyện mạch lạc, từng chút gọi mở tương lai giữa những phân đoạn đau buồn. Đây là quyển sách em đã kiếm được ở một cửa hàng sách cũ hồi cấp ba. Mỗi khi cảm thấy bế tắc, em thường mở sách ra xem. Cho đến bây giờ, em vẫn luôn nhắc nhở bản thân rằng thời gian bế tắc chính là khoảnh khắc 'trước bình minh' của cuộc đời."

Những lời ấy có hơi quá ủy mị. Nhưng với tôi lúc này, đó là nỗ lực lớn nhất rồi.

"Đây là quyển sách rất quan trọng của cậu à?"

"Là một trong những quyển mà em ghét nhất. Nhìn thôi em đã thấy ghét rồi, nên anh mang nó đi đi."

Vẫn giữ vẻ mặt chán chường, tôi đẩy cuốn sách cũ kỹ về phía Ngài Cử Nhân. Anh ngập ngừng, nhưng khi thấy thái độ của tôi, anh không cố từ chối nữa. Anh cúi đầu rồi nhận lấy một cách trân trọng.

"Không có màn đêm nào không tàn. Không có cơn mưa nào không tạnh. Là vậy đấy, Ngài Cử Nhân."

Ngài Cử Nhân gật đầu đồng tình với tôi.

Rồi anh rời chỗ ngồi, lấy hai chai rượu trên giá sách xuống.

"Tôi có rượu Goichi hàng đặc biệt đây. Đêm nay anh em ta tụ tập nhé, Đốc Tờ?"

"Đương nhiên. Dù núi Asama phun trào hay chùa Gofuku xảy ra động đất đi nữa, thì đêm nay, anh em ta vẫn phải cùng nhau đối ẩm tại gian Cúc Dại này đến sáng."

Tôi đáp lại bằng giọng thật to để xua đi sự đơn côi trong tâm khảm.

"Mà nhắc mới nhớ, có chuyện gì với anh Nam Tước thế nhỉ?"

Nghe tôi hỏi vậy, Ngài Cử Nhân lắc đầu buồn bã.

Hôm nọ, ngay sau khi Ngài Cử Nhân tính dậy trong bệnh viện, Nam Tước đã nổi trận lôi đình. Thế rồi sau đó đột nhiên không thấy tin tức, bóng dáng anh đâu nữa. Anh không về gian Cát Cánh. Vợ tôi cũng nói là không thấy anh đâu.

"Đáng tiếc thật. Là tôi tự làm tự chịu thôi, nhưng..."

"Có lẽ gã Nam Tước ấy đã đánh hơi được ở nơi nào đó có scotch tuyệt phẩm nên tìm đến uống rồi. Anh ấy không rời bỏ thế giới này đâu. Anh đừng lo!"

Ngài Cử Nhân khui chai rượu Goichi.

Anh từ tốn rót lần lượt vào ba chiếc ly đã được đánh bóng.

Chất lỏng màu vàng kim sáng lấp lánh dưới ánh đèn huỳnh quang.

Ngay sau đó, chúng tôi cụng ly, bắt đầu bữa tiệc rượu ly biệt.

Chúng tôi uống hết ly này tới ly khác, luận đàm triết học, ngâm "Hoàng Hạc Lâu"[4], thổ lộ nỗi niềm cô quạnh. Màn đêm thăm thẳm dần buông. Giữa chừng, vợ tôi biết ý, đã lặng lẽ rời đi.

Sau đó, bữa tiệc trở thành của riêng hai chúng tôi.

Ngài Cử Nhân bàn về Bình minh, bình về Bên kia bờ thiện ác[5]. Thế là tôi thuật lại Gối đầu lên cỏ từ đoạn mở đầu.

Không có lý, cũng chẳng có luận. Chỉ có thời gian.

Một chai rỗng không. Hai chai cạn ráo.

Tôi chợt nhận ra Ngài Cử Nhân đang khóc.

Nghĩ đến chuyện đó, tôi cũng khóc.

Nếu có người cười thì cứ mặc họ cười. Những kẻ vụng về chúng tôi vẫn từng bước tiến lên như thế.

Quên bẵng dòng chảy thời gian, chúng tôi ngủ thiếp đi.

Tôi mở mắt.

Trời sáng rồi.

Tôi hoảng hồn nhìn quanh gian Cúc Dại. Ngài Cử Nhân đang ngủ trong góc. Tôi thở dài nhẹ nhõm.

Dù đang ở trong phòng, nhưng hơi thở của tôi trắng xóa. Mùa đông đã đến rồi.

Tôi chậm rãi đứng lên, nhẹ nhàng mở cánh cửa trượt bước ra hành lang. Và tôi sửng sốt.

Suốt ba giây, tôi đứng sững không nói nên lời.

"Ng... Ngài Cử Nhân,..!"

Cuối cùng tôi cũng kêu lên được một tiếng, giọng khàn đặc đến ngốc nghếch.

Ngài Cử Nhân nghe tiếng tôi gọi liền tỉnh giấc và bước ra hành lang. Rồi anh khẽ thốt lên: "A!"

Hoa Anh Đào nở rộ!

Trong tầm mắt tôi, khắp bốn phương tám hướng đều phủ kín hoa Anh Đào.

Tường, sàn, trần nhà, khắp mọi nơi đều vẽ hình hoa Anh Đào nở.

Trên hai bức tường, một đại lộ rcxp bóng Anh Đào trải dài tít tắp. Trên trần, những cánh hoa tung bay. Dưới sàn phủ đầy những cánh hoa rơi màu hồng... Màu hồng đào, màu hồng cẩm chướng, màu phớt hồng, vườn hoa Anh Đào với những sắc màu luân chuyển thiên biến vạn hóa. Một cơn gió thổi qua, những cánh hoa chợt tung bay, và sắc Anh Đào ngọp trong mắt tôi. Khung cảnh tuyệt diệu này đã lưu giữ một khoảnh khắc như thế.

Tất cả những gì tôi thấy lúc này đều mang màu giấc mơ.

Bức tường cho tới đêm qua còn dơ bẩn đầy bụi bặm, giờ đây trở thành con đường hoa chúc phúc, kéo dài tới tận tiền sảnh.

Cuối cùng Ngài Cử Nhân cũng cất bước. Anh đi loạng choạng, nhưng chẳng phải tại cơn say suốt hai ngày qua. Anh đang choáng ngọp và run rẩy trước khung cảnh phi thường.

Anh từ từ bước ra hành lang. Khi đến trước cầu thang ở giữa hàng lang, anh dừng lại.

Dưới những bậc thang cũ kỹ là Nam Tước, toàn thân dính đầy màu vẽ, đang cuộn mình trong chán ngủ say. Bên cạnh anh, vợ tôi cũng đang ngủ ngon lành, những vệt màu vương trên vầng trán nàng.

"Nam Tước..,"

Giọng Ngài Cử Nhân run run.

"Nam Tước."

Khi bị gọi thêm một lần nữa, cặp mắt ngái ngủ của Nam Tước mới hé mả.

"Ô, trời đã sáng rồi sao?"

"Sáng rồi... Nam Tước."

"Có vẻ là kịp rồi nhỉ?"

Vẫn cuộn mình trong chăn, Nam Tước cười tươi rói.

"Hoa Anh Đào rất hợp với ngày khỏi hành phải không?"

Nam Tước quả đúng là một họa sĩ thiên tài.

Tôi nghe thấy tiếng ô tô đỗ trước trang viên Ontake.

Tôi ra tiền sảnh, mả cửa, và thấy một chiếc xe hơi hạng nhẹ màu trắng đỗ ngay dưới cây mai cổ thụ. Người ngồi sau tay lái là chị gái của Ngài Cử Nhân.

"Chị anh đến đón rồi."

Tôi quay lại thông báo. Ngài Cử Nhân khẽ gật đầu.

Biểu cảm của anh có chút cứng nhắc.

Vợ tôi đã thức dậy từ lúc nào. Nàng tất tả chạy vào gian Cúc Dại, mang đống hành lý ít ỏi của Ngài Cử Nhân ra.

"Cảm ơn em."

Ngài Cử Nhân nhận lấy. Vợ tôi không nói gì, chỉ lắc dầu hai, ba lần.

Người con gái ấy, cũng giống như Nam Tước, từ tóc đến chân tay đều dính đầy màu vẽ. Lúc nửa đêm, nàng ra khỏi gian Cúc Dại, đã trông thấy Nam Tước đang đơn độc chiến đấu tại đó. Nàng chẳng phải loại người thấy bạn minh nỗ lực chiến đấu vì bằng hữu mà lại quay lưng bỏ đi. Có lẽ nàng đã lập tức hòa màu vẽ, mang nước đến, và hết mình tham chiến cùng anh.

Ngài Cử Nhân hơi nhíu mắt, chậm rãi lướt nhìn đại lộ hoa Anh Đào mà Nam Tước và vợ tôi đã vẽ nên. Trong ánh nhìn của anh chan chứa biết bao cảm xúc không thể nói thành lời.

Cuối cùng, anh từ từ cất bước đi.

Đột nhiên Nam Tước la lớn:

"Đây không phải là thất bại mà là một hành trình mới nhé, Ngài Cử Nhân!"

Ngài Cử Nhân dừng lại trong chốc lát. Nam Tước nói thêm:

"Bước này là bước hướng về phía trước. Là tiến lên. Con đường hoa này tồn tại vì lẽ đó. Cậu nhất định không được quên nhé!"

Nam Tước chảy nước mắt. Nước mắt nhòe cùng những vệt màu hồng. Gương mặt anh trở nên hết sức kỳ cục.

Ngài Cử Nhân chớm dừng bước, nhưng rồi anh quyết chí tiến về phía trước. Anh bước qua hành lang, qua tiền sảnh, ra bên ngoài.

Ba người chúng tôi đi theo anh ra đường.

Phố xá lúc tảng sáng vẫn còn yên tĩnh. Sương sớm bảng lảng. Khung cảnh bên kia đường mênh mông không thấy rõ.

Trên lòng đường, chiếc Lapin màu trắng đậu cô đơn trong màn sương.

"Lúc nào anh quay về cũng được. Gian Cúc Dại nhất định luôn mở rộng cửa đón anh." Tôi hét lên.

Tôi còn chưa xin phép chủ nhà. Nhưng cũng chẳng quan trọng. Đã vẽ đầy hoa Anh Đào lên tường căn nhà cho thuê rồi, giờ còn sợ gì nữa chứ?

Trước khi leo lên xe, Ngài Cử Nhân quay nhìn chúng tôi.

Anh khóc.

Những giọt nước mắt của đấng nam nhi.

Đây là lần đầu tôi thấy Ngài Cử Nhân khóc nhiều đến vậy.

"... Nhất định rồi..."

Giọng nói của anh nghẹn lại trong tiếng thổn thức, vang lên đứt quãng trên con đường buổi sớm mai.

Những hạt màu trắng dịu dàng rơi xuống

Là tuyết!

"Tuyết kìa!" Nam Tước kêu lên.

"Nhìn xem! Đến cả bầu trời cũng đang chúc phúc cho cậu đó. Một hành trình mới cùng hoa Anh Đào và tuyết nhé!" Nam Tước chẳng còn biết lý lẽ chi nữa. Anh hét lên với khuôn mặt nhòe nhoẹt nước.

Ngài Cử Nhân bước lên xe. Xe khởi động. Tôi thoáng thấy chị gái anh cúi đầu chào.

Đột nhiên vợ tôi gạt nước mắt, kêu vang bằng giọng trong trẻo.

"Em sẽ hoan hô!"

Nói là làm, nàng đột ngột giơ hai tay lên và la lớn: "Hoan hô!"

Trong khoảnh khắc, tôi thấu hiểu được sự bốc đồng ấy.

Chúng tôi có thể làm gì khác đây? Chúng tôi chỉ muốn gửi gắm điều gì đó tới người bạn sắp ra đi mà thôi.

Rằng anh hãy giữ sức khỏe, hãy sống, hãy trở về!

Dù bước tiến của anh có muộn màng, chúng tôi cũng sẽ cất cao giọng mà gửi đến anh niềm hân hoan.

Nam Tước kêu lên:

"Hoan hô!"

Tôi cũng giơ cao hai tay.

"Hoan hô!"

Một cô gái trẻ đang dắt chó đi dạo ngạc nhiên quay lại nhìn chúng tôi.

Ai quan tâm chứ?

"Hoan hô!"

Sáng sớm, trên con đường tuyết rơi, ba người chúng tôi đồng thanh hô vang vì người bạn đặt chân lên hành trình mới.

"Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!"

Chiếc xe trắng chở Ngài Nhân dần khuất bóng, như tan vào trong tuyết.

❀ ❀ ❀

[1] Shimazaki Touson (1872-1942) là nhà thơ, tiểu thuyết gia nổi tiếng của Nhật Bản.

[2] Thời kỳ Mạc Phủ Tokugawa thống trị Nhật Bản (1603-1868)

[3] Một loài yêu quái sống trên núi cao, có hình dạng nửa người nửa chim, đôi khi cũng được tôn thờ như một vị thần.

[4] Bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu, một thi sĩ thời nhà Đường.

[5] Tên hai tác phẩm của Nietzsche.

ch giả: Quỳnh Quỳnh —★— BỆNH ÁN CỦA THẦN LINH ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Hà Nội
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.