Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Ông Charles hút loại thuốc nặng mùi đến nỗi thằng cháu bảo chú nên tận hưởng cái thú hút buổi sáng trong nhà vệ sinh nhỏ cuối vườn.

- Tốt lắm, Simon. Ổn cả mà, Simon. – Ông chú già thong thả bảo – Bất cứ chỗ nào cháu thích. Nhà vệ sinh cũng tốt, ở đó thoáng hơn.

- Chết tiệt. – Bố Stephen thành thực bảo – Nếu cháu biết tại sao chú có thể hút thứ thuốc kinh khủng ấy. Thề có Chúa, nó y như thuốc súng ấy.

- Nó ngon lắm, Simon. – Ông già bảo – Tuyệt vời và thư thái lắm.

Vậy nên mỗi sáng, ông Charles lại ra nhà vệ sinh hút thuốc, sau khi đã tỉ mỉ chải đầu, bôi dầu bóng rồi đội mũ ống. Khi ông hút thuốc, ta chỉ thấy vành mũ và bầu tẩu chìa ra ngoài rầm cửa nhà vệ sinh nhỏ. Ông gọi cái nhà ngập khói mà mình chia sẻ với con mèo và các dụng cụ làm vườn ấy là lùm cây và nó có tác dụng như hộp tăng âm. Mỗi sáng, ông lại vui vẻ ngâm nga một trong những bài hát yêu thích của mình Xin hãy bọc tôi bằng bụi cây, Mắt em xanh, tóc em vàng hay Lùm cây của những lời đường mật trong lúc những cuộn khói xanh xám chầm chậm tỏa ra từ tẩu thuốc và biến mất trong bầu không khí trong lành.

Suốt đầu mùa hè ở Blackrock, ông Charles là bạn đồng hành trung thành của Stephen. Ông là một ông già tráng kiện, có làn da rám nắng, đường nét thô kệch và bộ ria nối tóc mai bạc trắng. Những ngày trong tuần, ông đưa tin từ ngôi nhà trên Đại lộ Carysfort tới mấy cửa hàng ở trung tâm thị trấn có làm ăn buôn bán với gia đình cậu. Stephen rất vui được đi làm việc vặt vì ông cho cậu tha hồ nếm các thứ trong đống thùng hộp để mở ngoài cửa hàng. Ông sẽ chộp một chùm nho còn lẫn mạt cưa hay ba, bốn quả táo Mỹ và rộng rãi dúi vào tay cậu trong khi người bán hàng gượng gạo mỉm cười. Nếu Stephen vờ miễn cưỡng nhận, ông sẽ nhăn nhó bảo:

- Cầm đi ông tướng. Nghe ta nói không? Chúng tốt cho đường ruột lắm đấy.

Nhận danh mục đặt hàng xong, hai ông cháu đi tiếp tới công viên nơi người bạn cũ của bố Stephen, chú Mike Flynn, sẽ ngồi trên băng ghế đợi họ. Rồi Stephen sẽ bắt đầu chạy vòng quanh công viên. Chú Mike sẽ đứng ở cổng gần ga tàu, ngó chừng trong khi Stephen chạy theo kiểu chú thích, đầu ngẩng cao, gối nâng lên, tay giữ thẳng hai bên sườn. Khi buổi tập sáng đã xong, vị huấn luyện viên sẽ có vài lời nhận xét, thỉnh thoảng còn minh họa bằng cách lê bước gần một mét và làm thế thật buồn cười trong đôi giày cũ bằng vải bạt xanh. Một nhóm nhỏ trẻ con và các cô bảo mẫu đầy kinh ngạc tụ lại nhìn chú và lượn lờ xung quanh khi chú và ông Charles ngồi xuống, nói chuyện về điền kinh và chính trị. Dù có nghe bố bảo là chú Mike từng huấn luyện cho vài vận động viên giỏi nhất hiện nay, Stephen vẫn hay liếc nhìn khuôn mặt râu ria lởm chởm mềm nhão của chú, khi chú cúi xuống nhìn những ngón tay dài, cáu bẩn, dùng để quấn thuốc lá của mình. Cậu cũng thương hại đôi mắt xanh xỉn màu, dịu dàng của chú, đôi mắt đột nhiên không dõi theo cậu nữa mà mơ màng nhìn vào khoảng không màu xanh phía trước mặt trong lúc những ngón tay dài, sưng húp ngừng quấn thuốc và những hạt, những sợi thuốc lại rơi xuống cái túi đựng thuốc lá.

Trên đường về, ông Charles sẽ ghé nhà nguyện và vì bình đựng nước thánh cao quá tầm với của Stephen nên ông chấm tay vào bình rồi vảy nước thánh lên quần áo cậu và sàn nhà dưới mái vòm. Rồi ông quỳ lên chiếc khăn tay đỏ, thì thầm đọc một cuốn kinh đã bị ngón tay ám khói thuốc của ông lật giở nhiều, đọc những dòng cuối trang sách. Stephen quỳ cạnh ông, tôn trọng nhưng không chia sẻ lòng mộ đạo ấy. Cậu thường tự hỏi ông cầu nguyện gì mà nghiêm túc vậy. Có lẽ ông cầu nguyện cho những linh hồn nơi luyện ngục hoặc mong mình khi chết sẽ vui vẻ hoặc cầu Chúa cho mình có lại một phần của cải ông đã phung phí ở Cork.

Vào Chủ nhật, Stephen cùng bố và ông Charles hay cuốc bộ một chuyến. Ông Charles đi rất nhanh dù chân bị chai và thường ông đi được mười hay mười hai dặm. Ngôi làng nhỏ Stillorgan nằm ngay ngã ba đường. Họ sẽ rẽ trái tới rặng Dublin hoặc men theo Goatstown tới Dundrum, rồi về nhà qua ngả Sandyford. Lê bước dọc đường đi hoặc dừng chân tại một quán rượu bẩn thỉu nào đó, bố và ông trẻ sẽ nói không ngừng về những chủ đề gần gũi trong lòng họ, về chính trị Ireland, về Munster và những truyền thuyết trong gia đình, còn Stephen háo hức dỏng tai nghe. Cậu sẽ lặp đi lặp lại những từ không hiểu cho tới khi thuộc lòng. Qua những từ ngữ ấy, cậu có cái nhìn thoáng qua về thế giới thực xung quanh mình. Thời khắc cậu dự phần vào cuộc sống ở thế giới đó như đang tới gần và cậu kín đáo sẵn sàng đóng một vai lớn chờ đón mình dù chỉ hiểu lơ mơ bản chất của nó.

Buổi tối, cậu được tự do và miệt mài đọc bản dịch rời rạc cuốn Bá tước Monte Cristo. Hình bóng nhân vật nam chính, kẻ trả thù đen tối nổi lên trong đầu cậu, đại diện cho bất cứ điều gì kỳ lạ, khủng khiếp mà cậu đã nghe thấy hoặc suy đoán khi còn bé. Tối đến, cậu dùng vé chuyển tàu, hoa giấy, khăn giấy nhiều màu và những mẩu giấy gói sô-cô-la màu vàng và bạc, tạo ra hang động trên hòn đảo tuyệt đẹp y như trong truyện kia, đặt lên bàn phòng khách. Khi chán vẻ hào nhoáng của nó, cậu phá vỡ khung cảnh ấy đi thì bức tranh tươi sáng về Marseille, về những hàng rào mắt cáo rực nắng, về nàng Mercedes[1] lại hiện ra trong đầu cậu.

Bên ngoài Blackroad, trên con đường dẫn tới rặng Dublin, có một ngôi nhà nhỏ được quét vôi trắng xóa nằm trong khu vườn toàn bụi hồng. Cậu tự nhủ, trong ngôi nhà ấy, sẽ có một nàng Mercedes khác. Trong chuyến du hành rời khỏi hay trở về nhà, cậu đều đo khoảng cách bằng dấu mốc đó. Cậu tưởng tượng mình sống trên một con tàu phiêu lưu dài, con tàu tuyệt diệu y như những con tàu trong sách, rồi cậu đứng gần nó, già nua, buồn bã hơn, trong khu vườn ngập ánh trăng với nàng Mercedes, người nhiều năm về trước đã coi khinh tình yêu của cậu, và với vẻ mặt chối bỏ buồn bã nhưng ngạo nghễ, cậu bảo:

- Thưa cô, tôi không bao giờ ăn nho xạ[2].

Cậu kết bạn với thằng bé tên Aubrey Mills và cùng nó lập hội những kẻ thích phiêu lưu trên phố. Aubrey đeo một cái còi lủng lẳng ở khuy áo, nhét một chiếc đèn xe đạp vào cạp quần trong khi những đứa khác giắt gậy ngắn như giắt dao găm bên mình. Stephen đã đọc về cách ăn mặc giản dị của Napoleon nên chọn trang phục không màu mè và vì thế tôn thêm niềm vui được bàn bạc với cấp phó của mình trước khi xung trận. Lũ trẻ kéo quân vào vườn của mấy bà cô già hoặc đi về phía lâu đài, đánh trận giả sau những tảng đá giữa đám bụi cây và cỏ dại, rồi mệt mỏi tản về nhà với mùi tanh của bãi bồi đọng nơi mũi và mùi dầu hắc hôi rình của những sợi rong biển bị trôi dạt vào bờ vương nơi tay và tóc.

Nhà Aubrey và Stephen cùng đường với một người giao sữa nên chúng thường leo lên xe chở sữa tới Carrickmines nơi có lũ bò gặm cỏ. Khi người ta vắt sữa, hai cậu bé luân phiên cưỡi một con ngựa cái dễ bảo lượn quanh đồng cỏ. Nhưng mùa thu đến, lũ bò bị lùa về chuồng: cảnh tượng đầu tiên của khu chuồng trại bẩn thỉu ở Stradbrook với những vũng nước xanh lè hôi hám, những bãi phân nhầy nhụa, những máng cám bốc khói khiến tim Stephen đau nhói. Cảnh đàn gia súc gặm cỏ ngoài đồng trong những ngày nắng ráo trước đó mới đẹp làm sao, cảnh đó làm cậu chán ghét và thậm chí chẳng thể nhìn vào số sữa người ta vắt được.

Tháng Chín năm nay sẽ không làm cậu bận tâm vì cậu sẽ không quay lại trường Clongowes. Việc tập chạy ở công viên kết thúc khi chú Mike Flynn phải nhập viện. Aubrey đến trường và buổi tối nó chỉ rảnh một, hai giờ. Hội những kẻ thích phiêu lưu tan rã và không còn những buổi tối xông vào vườn nhà người khác hoặc đánh trận giả sau những tảng đá. Stephen thỉnh thoảng theo xe chở sữa đi giao hàng vào buổi tối, những chuyến đi lòng vòng lạnh lẽo đó làm cậu quên đi cảnh khu chuồng trại bẩn thỉu và không còn ác cảm khi thấy những sợi lông bò, vụn cỏ khô bám trên áo người giao sữa. Mỗi lần chiếc xe dừng lại trước cửa một ngôi nhà, cậu lại trông chờ thấy cảnh tượng thoáng qua của một căn bếp được lau chùi sạch sẽ, một tiền sảnh được thắp sáng dịu nhẹ và một người hầu sẽ ra lấy sữa rồi đóng cửa lại. Cậu nghĩ cứ lái xe đi giao sữa mỗi tối như thế thật dễ chịu, nếu cậu có găng tay ấm và cầm theo một túi bánh gừng. Nhưng cái viễn kiến khiến tim cậu đau nhói và chân cậu nhũn ra khi chạy vòng quanh công viên, cái trực giác khiến cậu hồ nghi liếc nhìn khuôn mặt râu ria lởm chởm mềm nhão của huấn luyện viên khi chú Mike cúi nhìn những ngón tay dài, cáu bẩn của mình, bỗng xóa tan bất cứ tầm nhìn tương lai nào. Cậu mơ hồ hiểu rằng bố đang gặp rắc rối và đó là lý do vì sao mình không quay lại trường. Bởi có lúc cậu nhận ra những thay đổi nhỏ trong nhà thay đổi ở những gì mà cậu nghĩ sẽ không thay đổi là cú sốc lớn đối với thế giới quan còn trẻ con của cậu. Cái tham vọng đôi khi lao xao trong bóng tối mà cậu không có chỗ xả. Buổi hoàng hôn như thế của thế giới bên ngoài che mờ tâm trí cậu khi con ngựa lọc cọc rảo bước dọc đường tàu ở Rock Road, chiếc bình lớn sau lưng cậu đong đưa và kêu lộp bộp.

Cậu quay lại với nàng Mercedes và ngẫm nghĩ về hình ảnh nàng, một nỗi băn khoăn kỳ lạ bò trong máu cậu. Thỉnh thoảng, cậu thấy mình phát sốt. Cơn sốt ấy khiến cậu lại lang thang một mình dọc đại lộ vắng khi màn đêm buông xuống. Sự bình yên của những khu vườn, ánh đèn ấm áp hắt ra từ những cửa sổ khiến trái tim thổn thức của cậu dịu lại. Tiếng trẻ con chơi đùa làm cậu bực bội và giọng nói ngớ ngẩn của chúng làm cậu thấy rõ hơn lúc cậu còn ở trường Clongowes, rằng cậu khác những đứa trẻ khác. Cậu không muốn chơi đùa. Cậu muốn gặp trong thế giới thật hình ảnh không thật mà tâm hồn cậu hằng ấp ủ. Cậu không biết tìm hình ảnh nàng Mercedes ở đâu hay bằng cách nào, nhưng linh cảm dẫn đường và mách bảo cậu rằng nàng sẽ tới tìm cậu, mà không cần cậu có hành động rõ ràng nào. Hai người sẽ lẳng lặng gặp nhau như thể đã quen biết, hẹn hò từ trước, có lẽ tại một trong những cánh cổng vườn hay ở nơi nào bí mật hơn. Hai người sẽ ở một mình, bị bóng tối và thinh lặng vây quanh và trong thời khắc cực kỳ dịu nhẹ ấy, cậu sẽ được biến đổi.

Cậu sẽ biến thành thứ gì đó khó nhận biết được trong mắt nàng rồi thoắt cái, cậu sẽ được biến đổi. Sự yếu đuối, nhút nhát, thiếu kinh nghiệm sẽ trôi tuột khỏi cậu trong thời khắc kỳ diệu ấy.

Một sáng nọ, hai chiếc xe tải lớn màu vàng dừng trước cửa nhà cậu và những người đàn ông loẹt xoẹt bước vào dọn nhà. Đồ gỗ được vội vã chuyển qua khu vườn trước cửa rồi tống vào chiếc xe to đậu ở cổng, làm rơi vãi những túm rơm và mẩu dây thừng. Khi mọi thứ đã được dọn sạch, những chiếc xe tải ầm ĩ đi xuôi đại lộ. Từ cửa sổ tàu hỏa, nơi cậu ngồi với mẹ đang mắt mũi đỏ hoe, Stephen thấy những chiếc xe kềnh càng ấy chạy dọc đường Merrion.

Tối đó, lửa trong phòng khách ở ngôi nhà mới chẳng bùng lên nổi và ông Dedalus dựa que cời vào thanh chắn lò để hút lửa. Ông Charles gà gật trong góc phòng, cái góc chưa được bày đồ gỗ lẫn trải thảm và cạnh ông là mấy bức chân dung gia đình tựa vào tường. Ngọn đèn trên bàn chiếu ánh sáng yếu ớt lên sàn nhà lót ván còn in những dấu chân lấm bẩn của mấy người giúp dọn nhà. Stephen ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh bố, lắng nghe đoạn độc thoại dài dòng, lan man. Ban đầu, cậu hiểu rất ít hoặc chẳng hiểu nói gì nhưng cậu dần nhận ra rằng bố có kẻ thù và sắp tham gia một trận đánh nào đấy. Cậu cũng cảm thấy mình được ghi danh tham gia trận đánh ấy, rằng cậu sẽ gánh vác một nhiệm vụ nào đó. Chuyến đi đột ngột từ nơi yên ấm và ảo mộng ở Blackrock, chuyến đi xuyên qua thành phố Dublin u ám mù sương, ý nghĩ về ngôi nhà trống trải mà họ sẽ dọn tới khiến lòng cậu nặng trĩu, và cái trực giác, viễn kiến về tương lai lại đến với cậu. Cậu cũng hiểu ra vì sao những người hầu thường thì thầm với nhau trong sảnh đợi và vì sao bố thường đứng trên tấm thảm trải trước lò sưởi, quay lưng về phía ngọn lửa, nói to với ông Charles khi ông giục bố ngồi vào bàn ăn tối.

- Lòng bố như bị roi quất vào ấy, anh bạn già Stephen ạ. – Ông Dedalus vừa chọc mạnh vào ngọn lửa uể oải vừa nói – Nhưng chúng ta chưa chết đâu, con trai. Không, nhờ ơn Chúa (xin Chúa tha tội cho con), chúng ta chưa ngắc ngoải đâu.

Dublin là cảm giác mới mẻ và phức tạp. Ông Charles ngày càng trì độn nên không được cử ra ngoài làm việc vặt nữa và chuyện ổn định nhà cửa chưa đâu vào đâu khiến Stephen rảnh rang hơn lúc còn ở Blackrock. Ban đầu, cậu thấy vui khi rụt rè đi quanh khu phố, cùng lắm là đi nửa đường xuống các con phố gần nhà, nhưng khi đã có bản đồ thành phố sơ lược trong đầu thì cậu mạnh dạn đi theo một trong những trục chính tới hẳn phòng thuế. Cậu dễ dàng băng qua các xưởng tàu, đi dọc bến cảng, kinh ngạc nhìn hàng đống phao bần nổi lềnh bềnh trên mặt nước trong lớp váng dày màu vàng, nhìn đám phu khuân vác, những cỗ xe chạy ầm ầm và chú cảnh sát râu ria xồm xoàm, ăn vận lôi thôi. Những kiện hàng vượt ngoài sức chứa của các con tàu chạy bằng hơi nước chất dọc các bức tường hoặc được bốc dỡ cho cậu thấy sự bao la và kỳ lạ của cuộc sống và lần nữa đánh thức cảm giác bất an từng khiến cậu tối đến lang thang từ vườn này sang vườn khác tìm nàng Mercedes. Giữa cuộc sống mới mẻ chộn rộn này, cậu hẳn hình dung mình đang ở một Marseille khác nhưng lại nhớ tới bầu trời chói lọi và những hàng rào mắt cáo ngập nắng của các tiệm rượu. Sự bất mãn mơ hồ lớn dần trong cậu khi nhìn bến cảng, dòng sông, bầu trời tối sầm rồi tiếp tục lang thang hết ngày này tới ngày khác như thực sự tìm kiếm ai đó đang lẩn tránh mình.

Một, hai lần cậu cùng mẹ đi thăm họ hàng và dù họ băng qua hàng dãy các cửa tiệm tươi vui được thắp đèn và trang hoàng để đón lễ Giáng Sinh thì tâm trạng im lặng cay đắng vẫn không rời bỏ cậu. Nguyên do nỗi cay đắng đó rất nhiều, vừa gần lại vừa xa. Cậu giận vì mình còn nhỏ tuổi và là mồi ngon của những xung lực ngu xuẩn không yên, cũng như giận dữ vì sự thay đổi số phận đã tái định hình thế giới quanh cậu thành cái nhìn về sự bẩn thỉu và giả dối. Song cơn giận của cậu chẳng làm rõ hơn cái nhìn đó. Cậu kiên nhẫn ghi lại những gì mình thấy, tách mình ra khỏi chúng và bí mật nhấm nháp hương vị kìm nén.

Cậu đang ngồi trên chiếc ghế không có lưng tựa trong căn bếp nhà dì. Ngọn đèn với chiếc chụp phản quang treo trên bức tường kiểu Nhật Bản giáp lò sưởi và nhờ ánh sáng phát ra từ ngọn đèn ấy, dì cậu đang đọc tờ báo buổi chiều đặt trên đùi. Dì nhìn hình người tươi cười trên mặt báo một lúc rồi vui vẻ bảo:

- Mabel Hunter đẹp thật!

Một bé gái có mái tóc uốn lọn kiễng chân nhìn vào bức hình và nhỏ nhẹ hỏi:

- Cô ấy làm gì hả mẹ?

- Cô ấy diễn kịch câm, con ạ.

Đứa bé ngả mái tóc uốn lọn của mình vào tay áo mẹ, chăm chăm nhìn bức hình và thì thào đầy mê đắm:

- Mabel Hunter đẹp thật!

Như bị hớp hồn, con bé nhìn rất lâu vào đôi mắt sắc lẹm một cách kín đáo của nữ diễn viên và sốt sắng thì thào:

- Chẳng phải cô ấy là một sinh vật tinh tế đó sao?

Rồi một thằng bé đi từ ngoài phố vào, đứng xiêu vẹo với bao than nặng cả stone[3], nghe con bé nói. Nó mau mắn quẳng bao than ra sàn, vội vã tới bên con bé để nhìn vào tờ báo. Nó túm mép tờ báo bằng bàn tay đen đúa, đỏ ửng của mình, đẩy con bé ra và phàn nàn rằng mình chẳng thấy gì cả.

Stephen ngồi trong phòng ăn chật hẹp, tuốt trên cao trong ngôi nhà cũ kỹ có cửa sổ mờ tối. Ngọn lửa lò sưởi lập lòe ánh lên tường và bóng chiều ngoài cửa sổ đang tụ lại trên sông. Đứng trước lò là một bà già đang bận pha trà, vừa lăng xăng làm việc, bà vừa nói khẽ những gì các tu sĩ và bác sĩ bảo. Bà cũng nói tới những thay đổi nhất định mà họ thấy ở tuổi của bà, trong lời nói và lối cư xử kỳ quặc của bà. Cậu lắng nghe những lời nói đó và dõi theo các cách phiêu lưu diễn ra trên đống than cháy trong lò, dưới những vòng cung, mái vòm, những phòng tranh quanh co uốn lượn và những hang động đầy đá lởm chởm.

Bỗng cậu nhận ra có gì đó ngoài cửa. Một đầu lâu xuất hiện lơ lửng trong bóng tối. Một sinh vật yếu ớt như khỉ ở ngoài đó, bị giọng nói của người ngồi bên lò sưởi thu hút. Một giọng nói rền rĩ từ ngoài vọng vào hỏi:

- Là Josephine hả?

Bà già lăng xăng vui vẻ đứng cạnh lò sưởi đáp:

- Không ạ, là Stephen.

- Ồ, chào buổi tối, Stephen.

Cậu đáp lại câu chào và thấy gương mặt ngoài cửa nở một nụ cười ngớ ngẩn.

- Cô cần gì không, Ellen? – Bà già đứng bên lò sưởi hỏi.

Nhưng Ellen không trả lời trực tiếp câu hỏi mà chỉ bảo:

- Tôi nghĩ đó là Josephine. Tôi nghĩ cậu là Josephine, Stephen ạ.

Cô ta lặp lại câu đó vài lần rồi phá ra cười yếu ớt. Giờ Stephen đang ngồi giữa buổi tiệc trẻ con ở Harold’s Cross. Cậu càng lúc càng im lặng, dè chừng và ít tham gia vào các trò chơi. Bọn trẻ đội những chiếc mũ có được từ pháo giấy, nhảy múa và nô đùa ầm ĩ còn cậu, dù cố chia sẻ niềm vui với chúng, vẫn thấy mình là một kẻ rầu rĩ giữa một rừng mũ vểnh và mũ rộng vành sặc sỡ.

Nhưng khi hát xong bài chúc mừng sinh nhật và rút vào góc phòng ấm cúng, cậu bắt đầu gặm nhấm niềm vui cô độc. Sự đùa giỡn từ đầu buổi tối tới giờ, sự đùa giỡn mà cậu thấy giả dối, vớ vẩn, thì với cậu như một luồng không khí êm dịu, hân hoan trôi qua giác quan của cậu, giấu khỏi những con mắt khác vẻ bối rối bồn chồn trong máu cậu, trong khi đó, xuyên qua vòng tròn những đứa trẻ nhảy nhót, giữa tiếng nhạc và tiếng cười, cái nhìn của Emma lướt tới chỗ cậu ngồi, tâng bốc, trêu chọc, dò xét, làm tim cậu đập rộn lên.

Trong sảnh đợi, những đứa trẻ nán lại muộn nhất đang khoác áo lên người. Bữa tiệc đã kết thúc. Emma quấn khăn rồi cùng Stephen đi về phía chiếc xe ngựa kéo, làn hơi thở tươi mới ấm áp của cô hân hoan bay qua mái đầu trùm khăn, qua đôi chân vô tư bước nhẹ trên con đường trong như thủy tinh.

Đó là chuyến xe ngựa kéo[4] cuối cùng. Đám ngựa màu nâu gầy gò hiểu điều đó và chúng rung chuông với trời đêm trong trẻo để báo hiệu. Người bán vé nói với bác xà ích, cả hai đều gật đầu mỗi khi đèn giao thông chuyển màu xanh. Trên xe, rải rác trên mấy ghế trống là vài chiếc vé đủ màu. Không còn tiếng bước chân đi dọc phố. Không còn âm thanh phá vỡ sự yên bình của buổi đêm khi những con ngựa nâu gầy gò cọ mũi vào nhau và rung chuông.

Hai bạn nhỏ như đang lắng nghe, Stephen đứng ở bậc thang trên còn cô bé đứng ở bậc thang dưới. Nhiều lần giữa lúc trò chuyện, cô bé leo lên chỗ cậu rồi lại xuống chỗ mình ngồi và một, hai lần cô đứng cạnh cậu một lúc ở bậc thang trên, quên đi xuống, mãi mới xuống. Tim cậu nhảy múa theo chuyển động của cô y như chiếc phao bần dập dềnh theo thủy triều. Cậu nghe những gì mắt cô nói với mình bên dưới tấm khăn trùm đầu và biết rằng trong quá khứ mờ mịt nào đó, dù trong đời thực hay mơ, cậu đã nghe thấy câu chuyện của hai đứa từ trước. Cậu thấy nỗi khao khát, vẻ tự cao tự đại, chiếc váy đẹp, khăn choàng, đôi tất đen dài của cô và biết rằng cậu đã chịu thua chúng cả nghìn lần. Song một giọng nói trong lòng cậu cất lên, át đi tiếng tim cậu đang nhảy múa, hỏi rằng cậu có nhận quà của cô bé hay không, món quà chỉ cần cậu giơ tay ra là có. Và cậu cũng nhớ cái ngày khi cậu và Eileen đứng nhìn xuống khu đất khách sạn, nhìn những người bồi bàn chạy lên con đường giăng đầy cờ quạt và một con chó fox terrier chạy tới lui trên bãi cỏ ngập nắng, đột nhiên, Eileen phá ra cười rồi chạy xuống con dốc uốn lượn. Giờ cậu bơ phờ đứng yên tại chỗ, ra vẻ một người trầm tĩnh quan sát cảnh tượng trước mắt.

Cậu nghĩ, Emma cũng muốn mình túm lấy cô bé. Đó là lý do tại sao cô bé lên xe ngựa kéo cùng cậu. Mình có thể dễ dàng túm lấy Emma khi cô bé leo lên chỗ mình ngồi, chẳng ai thấy cả. Mình có thể ôm hôn cô bé.

Nhưng cậu không ôm cũng chẳng hôn cô bé. Khi còn lại một mình trong xe, cậu xé tấm vé thành nhiều mảnh và rầu rĩ nhìn cái bục để chân bằng tôn lượn sóng.

Ngày hôm sau, cậu ngồi tại bàn học trong căn phòng trơ trụi trên gác suốt nhiều giờ liền. Trước mặt cậu là cây bút mới, lọ mực mới và cuốn vở màu ngọc lục bảo mới. Quen tay, cậu viết lên rìa trang vở khẩu hiệu của các tu sĩ dòng Tên: “AMDG”. Dòng đầu trang vở xuất hiện tựa đề bài thơ cậu đang cố viết: “Gửi EC”. Cậu biết viết thế là đúng vì cậu đã thấy những bài thơ tuyển có tựa tương tự của Lord Byron. Khi đã viết xong cái tựa và vẽ một đường trang trí bên dưới, cậu bắt đầu mơ màng và vẽ những hình vẽ đơn giản lên bìa cuốn vở. Cậu thấy mình đang ngồi tại bàn học ở Bray vào buổi sáng sau cuộc thảo luận chính trị tại bàn tiệc Giáng Sinh, cố viết một bài về thủ lĩnh Parnell vào mặt sau của một trong những tờ thông báo mà ngân hàng gửi cho bố[5]. Nhưng đầu óc cậu không nặn ra thơ về đề tài đó nên cậu dừng lại, lấp đầy trang vở bằng tên các bạn học:

Roderick Kickham

John Lawton

Anthony MacSwiney

Simon Moonan

Giờ dường như cậu lại thất bại, không nặn ra thơ nhưng nhờ ngẫm nghĩ về việc kia, cậu thấy mình tự tin hẳn lên. Trong lúc ngẫm nghĩ, tất cả những yếu tố mà cậu cho là bình thường, không quan trọng rơi khỏi khung cảnh. Không còn vết tích nào của chiếc xe ngựa kéo, người lái xe, hay lũ ngựa, cậu và EC. cũng không hiện ra sống động. Các câu thơ chỉ nói về buổi đêm, cơn gió dịu êm, bóng trăng e lệ như thiếu nữ. Nỗi buồn không rõ nào đó được giấu trong lòng nhân vật chính khi hai đứa im lặng đứng dưới đám cây trụi lá và chúng hôn nhau lúc chia tay, nụ hôn được hai bên trao gửi nhưng được một bên giữ lại. Sau khi viết dòng chữ “LDS.”[6] vào cuối trang, cậu giấu cuốn vở đi rồi sang phòng ngủ của mẹ, nhìn chằm chằm mặt mình trong tấm gương bàn phấn của mẹ một lúc.

Rồi thời gian thoải mái an nhàn đó cũng hết. Tối nọ, bố cậu về nhà với rất nhiều tin tức và ông nói liên hồi kỳ trận suốt bữa tối. Stephen đã đợi bố về vì hôm đó có món thịt cừu băm và cậu biết bố sẽ cho cậu chấm bánh mì vào nước thịt. Nhưng cậu không thưởng thức được món ăn vì bố cứ nhắc tới trường Clongowes làm miệng cậu đắng ngắt.

- Anh đã đâm bổ vào thầy ấy ngay góc rẽ sang nhà xí – Ông Dedalus nhắc lại lần thứ tư.

- Em nghĩ thầy ấy có thể thu xếp việc đó. Ý em là tới trường Belvedere ấy. – Bà Dedalus bảo.

- Dĩ nhiên thầy ấy làm được. – Ông Dedalus đáp – Chẳng phải anh bảo em thầy ấy là Giáo sĩ cấp tỉnh sao?

- Em không thích ý tưởng gửi con tới chỗ các sư huynh trường Công giáo[7]. – Bà Dedalus bảo.

- Các sư huynh trường Công giáo chết tiệt! – Ông Dedalus đáp. – Chẳng phải bọn Paddy thối và Micky bùn đó sao? Không, hãy để con học bên trường dòng Tên vì nó đã khởi sự ở đấy. Sau nhiều năm, các thầy sẽ trợ giúp nó. Họ là người có thể giúp em đạt được vị trí nào đó.

- Bên dòng Tên giàu lắm, phải không Simon?

- Khá giàu. Nói em hay, họ sống tốt. Em thấy bàn ăn ở trường Clongowes rồi đấy. Chúa ơi, cứ gọi là đầy ú ụ y như lũ chim rừng béo ngậy.

Ông Dedalus đẩy đĩa thịt về phía Stephen và bảo cậu ăn nốt phần còn lại.

- Giờ thì Stephen, – Ông bảo – con phải chung vai gánh vác gia đình cùng bố, anh bạn ạ. Con đã nghỉ ngơi quá lâu rồi.

- Em chắc con sẽ học hành chăm chỉ, – Bà Dedalus bảo – đặc biệt khi con ở với Maurice.

- Ôi, Thánh Paul ơi, anh quên mất thằng Maurice. – Ông Dedalus đáp – Lại đây nào Maurice! Lại đây, thằng nhóc đầu tóc rậm rì! Con có biết bố sẽ gửi con tới trường nơi họ dạy con cách đánh vần mờ-eo-meo-huyền-mèo không. Rồi bố sẽ mua cho con chiếc khăn tay bé tẹo để lau sạch mũi nữa. Thế có vui không?

Maurice nhăn mặt với bố và anh.

Ông Dedalus ấn tròng kính vào mắt, nhìn thật kỹ hai cậu con trai. Stephen trệu trạo nhai bánh mì, không đáp lại cái nhìn của bố.

- Nhân tiện, – cuối cùng bố nói – thầy Hiệu trưởng, hay Giáo sĩ cấp tỉnh, đã kể cho bố nghe chuyện về con và Cha Dolan. Thầy ấy bảo, các con là lũ trộm xấc láo.

- Ôi, con mình không thế đâu, Simon!

- Không phải con mình! – Ông Dedalus đáp – Nhưng thầy ấy kể gần hết chuyện kia. Bọn anh đang tán chuyện, em biết đấy, hết chuyện nọ lại xọ chuyện kia. Nhân tiện em có biết thầy ấy bảo anh ai sẽ nhận việc trong Hội đồng thành phố không? Nhưng chuyện đó anh sẽ kể em nghe sau. Ừ như anh nói đấy, bọn anh đang tán chuyện khá thân mật và thầy ấy hỏi, anh bạn của chúng ta vẫn đeo kính chứ, rồi thầy ấy kể anh nghe đầu đuôi câu chuyện.

- Thầy ấy khó chịu hả, Simon?

- Khó chịu à? Không phải “gã nhỏ bé nam tính’’ ấy đâu! – Bố đáp.

Ông Dedalus bắt chước giọng mũi eo éo của vị giáo sĩ cấp tỉnh.

- Cha Dolan và tôi, khi tôi kể mọi người nghe chuyện này vào bữa tối, chúng tôi đã cười đã đời. Tôi bảo, “Anh nên cẩn thận đấy, Cha Dolan. Không Dedalus bé sẽ quất anh mười tám roi”. Chúng tôi đã cười ra trò về vụ này. Ha! Ha! Ha!

Ông Dedalus quay qua vợ và nói bằng giọng tự nhiên của mình:

- Cho em thấy tinh thần mà họ dạy dỗ bọn trẻ ở đó. Ôi, hãy theo dòng Tên cả đời, theo để làm ngoại giao!

Bố lại bắt chước giọng thầy Hiệu trưởng rồi nhắc lại:

- TÔI KỂ MỌI NGƯỜI NGHE CHUYỆN NÀY VÀO BỮA TỐI, CHA DOLAN, TÔI VÀ TẤT CẢ CHÚNG TÔI, CHÚNG TÔI ĐÃ CƯỜI RA TRÒ VỀ VỤ NÀY. HA! HA! HA!

Buổi tối diễn kịch nhân lễ Ngũ tuần[8] đã đến và Stephen từ cửa sổ phòng thay đồ nhìn ra khoảnh sân nhỏ chăng đầy đèn lồng Trung Hoa. Cậu nhìn những vị khách đi xuống cầu thang của ngôi nhà, tiến về phía nhà hát. Đám học trò làm công tác đón tiếp diện lễ phục, những cựu học sinh trường Belvedere[9]ấy đứng thành từng nhóm quanh lối vào nhà hát và hướng dẫn khách tới chỗ ngồi. Dưới ánh đèn lồng đột nhiên bừng sáng, Stephen có thể nhận ra khuôn mặt tươi cười của một vị tu sĩ.

Người ta đã lấy Bí tích Thánh thể[10] ra khỏi hòm thánh, đẩy hàng ghế đầu lùi về sau để có chỗ đặt bàn thờ và không gian trước bàn thờ được thoáng đãng. Hàng lô thanh tạ và chày gỗ được đặt sát tường, những quả tạ được chất đống ở góc và giữa đống áo len, áo may-ô, giày thể dục chất cao trong mấy hộp giấy nâu bừa bộn là một thanh nhảy ngựa bọc da vững chãi đang chờ được đem lên sân khấu, đặt giữa đội thắng cuộc sau khi phần trình diễn thể dục kết thúc.

Dù nổi tiếng với tài viết văn và được chọn làm thư ký phụ trách bộ môn thể dục, Stephen không tham gia phần đầu chương trình mà sẽ tham gia diễn kịch trong phần hai và cậu đóng vai chính, một nhà giáo nực cười. Cậu được nhận vai này nhờ dáng vóc và phong thái nghiêm nghị vì giờ cậu sắp học xong năm thứ hai, ở lớp 8-2 trường Belvedere.

Một nhóm các học sinh nhỏ tuổi hơn mặc áo may-ô và quần chẽn trắng đang rầm rập bước xuống sân khấu, qua phòng áo lễ và tiến vào nhà nguyện. Phòng áo lễ và nhà nguyện chật kín các thầy giáo và học trò với tâm trạng háo hức. Một thượng sĩ mập mạp, đầu hói đang thử giậm chân lên tấm giậm nhảy của thanh nhảy ngựa. Một người đàn ông trẻ, gầy guộc, mặc áo bành tô dài, người sắp biểu diễn màn múa chày đặc biệt, đứng gần đó thích thú nhìn ngó, những chiếc chày phủ bạc thò ra khỏi túi áo sâu. Ta nghe thấy tiếng lạch cạch ngân vang của những quả tạ gỗ khi đội thể dục khác sẵn sàng bước lên sân khấu. Có lúc, một thầy Giám quản hứng khởi lùa học trò qua phòng áo lễ, hệt như lùa một bầy ngỗng và thầy bồn chồn phất ống tay áo chùng, kêu gào những đứa chậm chân bước nhanh lên. Cuối nhà nguyện, một nhóm nông dân xứ Naples đang tập các bước nhảy, vài người giơ tay thành hình vòng cung cao quá đầu, vài người đung đưa giỏ hoa violet bằng giấy và nhún gối chào. Trong góc tối nhà nguyện, bên mạn bàn thờ có đặt sách kinh, một quý bà già cả chắc nịch, vận chiếc váy đen rộng đang quỳ gối. Khi bà đứng dậy, mọi người phát hiện ra một nhân vật diện toàn đồ màu hồng, đội mớ tóc giả vàng óng xoăn tít cùng chiếc mũ rộng vành bằng rơm kiểu cũ, lông mày kẻ chì đen và gò má bôi đầy phấn. Tiếng xì xào tò mò nho nhỏ nổi lên khắp nhà nguyện khi mọi người trông thấy nhân vật y như con gái ấy. Một thầy Giám quản, vừa mỉm cười vừa gục gặc đầu, bước tới góc tối kia, cúi chào quý bà già cả chắc nịch và nhã nhặn hỏi:

- Đây là quý cô xinh đẹp hay con búp bê bà dẫn đi cùng vậy hả, bà Tallon?

Rồi thầy cúi xuống nhìn khuôn mặt tươi cười bôi đầy phấn dưới vành mũ kia và kêu lên:

- Ôi không! Tôi thề đây chính là cậu Bertie Tallon! Stephen đứng gần cửa sổ, nghe thấy tiếng quý bà già cả và thầy Giám quản cười vang, tiếng xì xào ngưỡng mộ của đám học trò sau lưng cậu khi chúng đi qua để nhìn mặt thằng bé sẽ đích thân nhảy điệu vũ của cô gái đội mũ rộng vành. Stephen không kiên nhẫn nổi. Cậu buông tấm mành che cửa sổ rồi rời băng ghế đang đứng, bước khỏi nhà nguyện.

Cậu băng qua khu học xá và dừng lại trước nhà kho cạnh vườn trường. Từ nhà hát đối diện vẳng tới tiếng ồn bị bóp nghẹt của khán giả và tiếng kèn đồng rổn rảng của ban nhạc lính. Ánh sáng chiếu lên mái nhà bằng kính khiến nhà hát trông như một con tàu lễ hội, neo đậu giữa những khối nhà và được giữ lại nhờ sợi dây yếu ớt chăng đầy lồng đèn. Cửa cạnh nhà hát bỗng mở ra và một luồng sáng chiếu ngang sân cỏ. Tiếng nhạc từ con tàu bỗng vang lên: khúc dạo đầu của một bản waltz và khi cánh cửa cạnh nhà hát đóng lại, thính giả chỉ còn nghe thấy tiếng nhạc nho nhỏ. Cảm xúc trong các ô nhạc mở đầu, sự tĩnh lặng nặng nề và chuyển động mềm dẻo của các ô nhạc gợi lên thứ tình cảm không lời khiến cậu cả ngày cảm thấy bất an và ban nãy đã có lúc mất kiên nhẫn. Sự bất an trong cậu tuôn ra như làn sóng âm thanh và trên dòng thủy triều âm nhạc ấy, con tàu lễ hội bừng tỉnh, chồm tới, kéo lê sợi dây neo chăng đầy lồng đèn. Rồi tiếng ồn y như pháo nổ phá vỡ chuyển động ấy. Đó là tiếng khán giả vỗ tay chào đón đội tạ bước lên sân khấu biểu diễn.

Ở góc xa nhà kho gần đường cái, có đốm sáng hồng lóe lên trong bóng tối và khi bước lại gần, Stephen ngửi thấy một mùi thơm dịu nhẹ. Hai học trò đứng ở cửa nhà kho đang hút thuốc, và chưa đến nơi, cậu đã nhận ra Heron qua giọng nói của nó.

- Anh chàng Dedalus cao quý kia rồi! – Giọng nam cao khàn khàn bảo – Chào mừng anh bạn đáng tin cậy của chúng ta!

Màn chào đón kết thúc bằng tiếng cười nhạt buồn bã khi Heron cúi thấp người rồi chạm tay lên trán chào cậu và bắt đầu dùng gậy chọc xuống đất.

- Tao đây. – Stephen dừng lại rồi liếc nhìn Heron và bạn nó.

Cậu thấy thằng kia rất lạ nhưng trong bóng tối, nhờ ánh lửa lóe lên ở đầu đót thuốc, cậu có thể thấy một khuôn mặt công tử nhợt nhạt, thoáng nở nụ cười, một thân hình cao ráo khoác áo bành tô và đội mũ bảo hộ lao động. Heron không mất công giới thiệu bạn mà chỉ bảo:

- Tao vừa bảo thằng Wallis là nếu mày bắt chước thầy Hiệu trưởng trong vai diễn nhà giáo của mày thì tối nay sẽ vui lắm. Đó là trò đùa hay tuyệt!

Heron cố nhại giọng trầm mô phạm của thầy cho Wallis nghe nhưng nó nhại dở tệ, thế là nó phá lên cười và bảo Stephen làm thay.

- Làm đi, Dedalus, – Heron thúc giục – mày có thể bắt chước thầy ấy hay lắm mà. NẾU HỘI THÁNH MÀ NÓ CŨNG KHÔNG NGHE THÌ HÃY XEM NÓ NHƯ DÂN NGOẠI ĐẠO HAY ĐÁM THU THUẾ.[11]

Màn nhại giọng của Heron bị ngăn lại vì Wallis thoáng nổi giận khi đầu đót bị lèn thuốc quá chặt.

- Cái đót thuốc chết tiệt. – Wallis bảo, vừa rút đót thuốc ra khỏi miệng vừa mỉm cười, nhăn nhó đầy chịu đựng – Nó luôn tắc tị như thế. Mày có dùng đót thuốc không?

- Tao không hút thuốc. – Stephen đáp.

- Không, – Heron bảo – Dedalus là một học sinh gương mẫu. Nó không hút thuốc, không tới hội chợ từ thiện, không tán gái, không chửi rủa hoặc chửi tất tần tật.

Stephen lắc đầu và mỉm cười với khuôn mặt đỏ bừng và dễ biến đổi của Heron, khuôn mặt khoằm khoặm như chim. Cậu thường nghĩ thật kỳ lạ khi Vincent Heron có khuôn mặt chim và cái tên chim[12]. Mớ tóc sáng màu trên trán nó trông như cái mào chim rối xù: trán nó hẹp, xương xẩu, mũi nó khoằm, mỏng nhô ra giữa cặp mắt sát rạt, nhạt màu, không thần sắc. Hai đứa học cùng trường. Chúng ngồi cạnh nhau trong lớp, quỳ cạnh nhau trong nhà nguyện, trò chuyện cùng nhau sau buổi cầu kinh, sau giờ ăn trưa. Vì bọn lớp bảy là một lũ ngu đần nên suốt năm lớp Bảy, Stephen và Heron là thủ lĩnh thực sự của trường. Chính chúng đã lên gặp thầy Hiệu trưởng xin nghỉ học một ngày hoặc xin cho đứa nào đó nghỉ.

- À nhân tiện, – Heron đột nhiên bảo – tao thấy ông già mày đến đấy.

Nụ cười trên mặt Stephen tắt lịm. Bạn bè hay thầy giáo nói bóng gió lời nào về bố cậu đều khiến cậu câm lặng một lúc. Cậu chờ đợi trong im lặng, sợ sệt để nghe Heron nói gì tiếp theo. Tuy nhiên, Heron dùng khuỷu tay huých cậu đầy ngụ ý rồi bảo:

- Mày là đồ láu cá.

- Sao mày nói thế? – Stephen hỏi.

- Đừng có giả nai. – Heron bảo – Tao e mày là đồ láu cá.

- Tao có thể hỏi mày đang nói về chuyện gì không? – Stephen hòa nhã hỏi.

- Thực ra mày có thể hỏi. – Heron đáp – Bọn tao thấy con bé rồi, đúng không Wallis? Con bé đẹp lắm. Lại tò mò nữa! “Stephen diễn phần nào hả, ông Dedalus? Stephen không hát sao, ông Dedalus?” Ông già mày căng mắt nhìn nó qua tròng kính nên tao nghĩ ông ấy cũng biết tỏng lòng dạ mày rồi. Thề có Chúa, tao chả quan tâm. Con bé hay lắm, đúng không Wallis?

- Không tệ chút nào – Wallis lẳng lặng đáp rồi nhét đót thuốc vào khóe miệng.

Đầu Stephen bỗng bừng bừng lửa giận khi nghe lời bóng gió đó từ miệng một người lạ. Với cậu, chuyện một cô gái để ý hay quan tâm chẳng có gì buồn cười. Suốt ngày cậu không nghĩ gì ngoài chuyện cậu và Emma Clary từ biệt nhau trên bậc thang chiếc xe ngựa kéo ở Harold’s Cross, dòng cảm xúc buồn bực vì chuyện đó chảy qua người cậu và bài thơ cậu đã viết về chuyện đó. Suốt ngày, cậu hình dung ra cuộc gặp gỡ mới với cô bé bởi cậu biết cô sẽ tới xem kịch. Cảm giác buồn bực bất an cũ lại dâng lên trong ngực cậu y như cái đêm ở bữa tiệc, nhưng không thể xả ra bằng thơ. Hai năm trưởng thành và hiểu biết của thời niên thiếu thỉnh thoảng lại chen vào, chặn cửa xả đó lại. Dòng cảm xúc dịu dàng rầu rĩ trong lòng cậu cứ chồm tới, trở lui trong những dòng chảy và xoáy nước thẫm đen, cuối cùng làm cậu mệt nhoài tới khi câu pha trò của thầy Giám quản và thằng bé có khuôn mặt bôi son trét phấn làm cậu mất kiên nhẫn.

- Vậy là mày thú nhận rồi nhé, – Heron nói tiếp – rằng bọn tao đã biết khá rõ lòng dạ mày. Mày không thể đóng vai thánh tăng với bọn tao nữa, chắc chắn là thế.

Một tiếng cười buồn khẽ thoát ra từ môi Heron và nó lại cúi người như trước, dùng gậy vụt nhẹ vào bắp chân Stephen, như vờ mắng mỏ cậu.

Cơn giận chốc lát của Stephen bỗng tiêu tan. Cậu không thấy được tâng bốc cũng chẳng thấy bối rối, chỉ mong trò đùa này chấm dứt. Cậu gần như không bực những gì mà với cậu chỉ là hành vi khiếm nhã, bởi cậu biết cuộc phiêu lưu trong tâm trí mình chẳng bị những lời đó ảnh hưởng và mặt cậu còn đang phản chiếu nụ cười giả tạo của thằng bạn.

- Thú nhận đi! – Heron dùng gậy chọc vào bắp chân cậu lần nữa.

Cú chọc chỉ giả vờ nhưng không nhẹ như cú đầu. Stephen thấy da mình ngứa ran, hơi nóng và gần như không đau. Và khi ngoan ngoãn khom người, như muốn hòa cùng tâm trạng đùa cợt của bạn, cậu bắt đầu lẩm nhẩm đọc kinh Thú tội. Trò đùa kết thúc vui vẻ vì cả Heron lẫn Wallis đều phá ra cười rũ rượi trước màn bất kính ấy.

Chỉ có Stephen nói lời thú tội và lúc nói những lời này, như có phép thuật, cậu đột nhiên nhớ ra khung cảnh khác, khi cậu bỗng để ý hai đồng điếu lờ mờ tàn nhẫn nơi khóe miệng Heron, cảm nhận cú đánh quen thuộc vào bắp chân mình và nghe thấy cụm từ bêu riếu quen thuộc:

- Thú nhận đi.

Khung cảnh đó là khi cậu sắp kết thúc học kỳ đầu tiên ở lớp 7-6 trường Belvedere. Bản tính nhạy cảm của cậu vẫn đau nhức dưới ngọn roi của lối sống phàm tục, bần cùng. Tâm hồn cậu vẫn đầy lo âu, buồn rầu do hoàn cảnh sống trì trệ ở Dublin. Cậu đã ngoi lên sau hai năm mơ màng để thấy mình ở giữa một khung cảnh mới, mọi sự kiện và con người trong khung cảnh đó đều ảnh hưởng mật thiết tới cậu, làm cậu nản lòng hoặc mê mẩn, và dù mê mẩn hay nản lòng thì cậu vẫn luôn cảm thấy bất an và đầy suy nghĩ cay đắng. Ở trường có chút rỗi rãi nào là cậu lại dành thời gian cho những nhà văn có tính lật đổ, những người mà sự nhạo báng và bài diễn văn đầy bạo lực của họ làm não cậu dậy sóng trước khi chúng dịu đi trong các bài văn thô lậu của cậu.

Làm văn là công việc chính trong tuần của cậu và thứ Ba nào, trên con đường từ nhà tới trường, cậu cũng đọc số mệnh mình qua các sự việc diễn ra trên đường, hình dung mình đọ sức với ai đó ở trước mặt rồi đi nhanh hơn để vượt qua kẻ ấy trước khi cán cái đích nhất định hoặc cậu sẽ cẩn thận đặt chân lên ô trống trên phần đường kẻ ô, tự nhủ bài văn của mình sẽ đạt hay không đạt điểm cao nhất lớp.

Thứ Ba nọ, chuỗi chiến thắng của cậu bị phá vỡ một cách thô bạo. Thầy Tate dạy tiếng Anh chỉ tay vào cậu và thẳng thừng bảo:

- Bài của em có chỗ thô tục.

Cả lớp lặng đi. Thầy Tate không phá vỡ sự yên lặng đó mà thọc tay vào giữa hai đùi trong lúc lớp vải lanh được hồ kêu sột soạt quanh cổ tay thầy. Stephen không nhìn lên.

Đó là một buổi sáng mùa xuân tươi tắn và mắt cậu vẫn đau nhức, yếu ớt. Cậu ý thức được sự thất bại và phát hiện ra nó, ý thức được sự bần cùng của tâm trí và của gia đình mình, và cảm thấy mép cổ áo để dựng nhòn nhọn đang cọ vào cổ mình.

Một tiếng cười to và ngắn của thầy Tate làm cả lớp thấy thoải mái hơn.

- Có lẽ em không biết điều đó. – Thầy bảo.

- Chỗ nào ạ? – Stephen hỏi.

Thầy Tate rụt bàn tay đang thọc sâu giữa hai đùi rồi mở bài văn ra.

- Chỗ này này. Viết về Đấng Sáng tạo và linh hồn. Hừm… À! “Không thể tiến lại gần hơn”. Chỗ này thô tục đấy.

Stephen thì thào bảo:

- Ý em là “không thể với tới được”[13].

Thế là Stephen thừa nhận sai sót và thầy Tate nhượng bộ, gấp bài văn lại, đưa cho cậu rồi bảo:

- Ồ… À! “Không với tới được”. Đó lại là chuyện khác. Nhưng cả lớp không dễ nhượng bộ thế. Dù hết giờ học, không ai bàn tán chuyện đó với cậu nhưng cậu cảm thấy một niềm vui xấu xa mơ hồ vây quanh mình.

Vài tối sau vụ bêu riếu công khai nọ, cậu đang đi dọc đường Drumcondra, tay cầm một lá thư thì nghe có tiếng kêu:

- Đứng lại!

Cậu quay lại và thấy ba đứa bạn học cùng lớp đi về phía mình trong bóng chiều nhập nhoạng. Heron là đứa đã kêu cậu đứng lại, và khi cùng hai thằng bạn tiến về phía cậu, nó vung vẩy một cây gậy mỏng rẽ không khí theo từng bước đi. Boland, bạn Heron, đi bên cạnh, nở nụ cười nhăn nhở, trong khi Nash bước vài bước theo sau, vừa đi vừa thở và lúc lắc mái đầu tóc đỏ to tướng.

Ngay khi rẽ vào đường Clonliffe, cả bọn bắt đầu bàn về sách vở và đám văn sĩ, nói về các sách chúng đang đọc và có bao nhiêu sách trong tủ sách của bố chúng ở nhà. Stephen lắng nghe với vẻ ngạc nhiên thích thú bởi Boland là thằng đần còn Nash là đứa lười biếng trong lớp. Thật ra, sau một hồi bàn về các nhà văn yêu thích, Nash tuyên bố ủng hộ Đại tá Marryat, người nó cho là nhà văn vĩ đại nhất.

- Vớ vẩn! – Heron nói – Hỏi Dedalus đi. Ai là nhà văn vĩ đại nhất hả Dedalus?

Stephen nhận ra sự giễu cợt trong câu hỏi và trả lời:

- Ý mày là văn xuôi hả?

- Ừ.

- Tao nghĩ là Newman.

- Là Hồng y Newman hả? – Boland hỏi lại.

- Đúng rồi. – Stephen đáp.

Nụ cười toe toét nở trên khuôn mặt đầy tàn nhang của Nash khi nó quay qua Stephen và bảo:

- Mày thích Hồng y Newman hả Dedalus?

- Ồ, nhiều người bảo Newman có giọng văn hay nhất, – Heron giảng giải cho hai đứa kia – dĩ nhiên ông ấy không phải nhà thơ.

- Vậy ai là nhà thơ giỏi nhất, Heron? – Boland hỏi.

- Dĩ nhiên là Nam tước Tennyson. – Heron đáp.

- Ừ đúng, Nam tước Tennyson. – Nash bảo – Tao có hết thơ ông ấy trong cuốn sách để ở nhà.

Đến đây, Stephen quên mất lời hứa giữ mồm giữ miệng nên buột miệng bảo:

- Tennyson là nhà thơ ư? Ông ta chỉ là kẻ biết gieo vần thôi!

- Thôi nào. – Heron bảo – Ai cũng biết Tennyson là nhà thơ vĩ đại nhất mà.

- Vậy mày nghĩ ai là nhà thơ vĩ đại nhất? – Bolan huých nhẹ Stephen và hỏi.

- Dĩ nhiên là Byron. – Stephen đáp.

Heron cười trước rồi cả ba thằng đều phá ra cười khinh bỉ.

- Bọn mày cười cái gì chứ? – Stephen hỏi.

- Cười mày đấy. – Heron bảo – Byron là nhà thơ vĩ đại nhất ư? Ông ta chỉ là nhà thơ của đám vô học thôi.

- Chắc ông ta là một nhà thơ khá! – Boland bảo.

- Câm miệng mày lại. – Stephen táo tợn đáp trả – Tất cả những gì mày biết về thơ ca là thứ mày viết ra trên mấy tấm đá ngoài sân và sẽ bị quẳng lên gác xép.

Thật ra, Stephen nghe đồn Boland từng viết hai câu thơ về thằng bạn học cùng lớp, cái thằng thường cưỡi ngựa lùn đi từ nhà tới trường, trên mấy tấm đá lát ngoài sân trường:

Khi Tyson cưỡi ngựa tiến vào Jerusalem

Nó ngã và làm đau nàng Alec Kafoozelum[14] của mình.

Cú đáp trả này khiến hai thằng dưới trướng Heron im re nhưng Heron vẫn nói:

- Dù sao Byron cũng là kẻ dị giáo, bất luân.

- Tao không quan tâm ông ấy là người thế nào. – Stephen nóng nảy hét lên.

- Mày không quan tâm liệu ông ta có dị giáo hay không à? – Nash hỏi.

- Mày biết gì về chuyện đó chứ? – Stephen quát – Mày hay thằng Boland có đọc dòng nào trong đời đâu, trừ bản dịch ra.

- Tao biết Byron là người xấu. – Boland bảo.

- Lại đây, bắt thằng dị giáo này lại. – Heron kêu to, Stephen chẳng mấy chốc liền bị bắt giữ.

- Hôm nọ, thầy Tate động viên mày, – Heron nói tiếp – về cái lỗi dị giáo trong bài mày viết.

- Mai tao sẽ mách thầy. – Boland bảo.

- Dám không? – Stephen hỏi – Mày sợ mở mồm lắm mà.

- Sợ á?

- Phải. Sợ quá ấy chứ.

- Cư xử cho đàng hoàng vào! – Heron kêu và dùng gậy quất vào chân Stephen.

Đó là dấu hiệu mở màn một cuộc tấn công. Nash quặp chặt tay Stephen trong khi Boland vớ lấy gốc bắp cải dài nằm trong rãnh nước. Stephen giãy giụa, đá loạn cả lên dưới những cú đánh bằng gậy, những cú nện bằng gốc bắp cải đầy mấu và bị dồn tới chân hàng rào kẽm gai.

- Hãy thú nhận Byron dở ẹc đi.

- Không.

- Thú nhận đi.

- Không.

- Thú nhận đi.

- Không. Không.

Cuối cùng trong lúc giãy giụa dữ dội, Stephen vùng thoát được. Những kẻ hành hung cậu bỏ chạy về phía đường Jones’s, vừa cười vừa chế nhạo cậu, trong khi cậu, mắt mũi nhạt nhòa, vấp ngã liên tục, điên cuồng nắm chặt tay và thút thít khóc.

Giờ trong lúc cậu lặp lại kinh Thú tội giữa tràng cười khoan dung của hai thính giả và khung cảnh của câu chuyện xấu xa kia vẫn mau mắn, rõ nét trôi qua đầu, cậu tự hỏi sao mình không hận những kẻ đã hành hung mình. Cậu không quên chút nào sự hèn nhát và độc ác của chúng nhưng ký ức về vụ hành hung ấy không khiến cậu giận dữ nữa. Thế nên tất cả mô tả về tình yêu và sự thù ghét dữ dội mà cậu đọc trong sách vở đã trở nên không thực với cậu. Thậm chí tối đó, khi về nhà và cứ vấp ngã trên đường Jones’s, cậu cảm thấy sức mạnh nào đó đã tách cậu khỏi cơn giận chỉ chực bùng nổ kia, dễ như tách phần thịt quả ra khỏi cái vỏ mỏng chín rục của nó vậy.

Cậu vẫn đứng giữa hai đứa bạn ở cuối nhà kho, lười nhác lắng nghe chúng nói chuyện hoặc nghe những tràng vỗ tay vẳng ra từ nhà hát. Emma có lẽ đang ngồi đó, giữa những người khác, chờ cậu xuất hiện. Cậu cố nhớ lại diện mạo cô bé nhưng không thể. Cậu chỉ có thể nhớ cô đã choàng khăn quanh đầu y như đội mũ trùm và đôi mắt tối đen của cô mời gọi, làm cậu bối rối. Cậu tự hỏi cô có nghĩ tới cậu như cậu nghĩ tới cô hay không. Rồi trong bóng tối, không bị hai đứa kia nhìn thấy, cậu chụm đầu ngón tay bàn tay này chạm nhẹ vào lòng bàn tay kia. Nhưng áp lực của ngón tay Emma nhẹ nhàng bền bỉ hơn, rồi bỗng nhiên ký ức về sự đụng chạm giữa hai người lướt qua đầu óc, cơ thể cậu như một làn sóng vô hình.

Một học sinh chạy về phía nhà kho, tiến tới chỗ bọn cậu. Nó rất kích động, thở không ra hơi.

- Ôi, Dedalus, – Nó kêu – Doyle đang tức điên lên đấy. Mày phải thay quần áo chuẩn bị cho vở diễn ngay. Nhanh lên.

- Khi nào muốn là nó tới liền à. – Heron bảo thằng đưa tin, giọng lè nhè ngạo mạn.

Thằng đưa tin quay qua Heron, nhắc lại:

- Nhưng Doyle đang tức điên lên đấy.

- Mày bảo với Doyle rằng tao có lời khen là nó có cặp mắt khốn kiếp nhé! – Heron đáp.

- Thôi, tao phải đi đây. – Stephen chẳng mấy quan tâm đến vấn đề danh dự kiểu đó, liền bảo.

- Tao không đi. – Heron nói – Quỷ tha ma bắt nếu tao đi. Chẳng có cách nào nhắn tin cho một trong những thằng lớp lớn cả. Tức điên lên cơ đấy! Tao nghĩ chuyện mày nhận một vai trong vở kịch cũ rích chết tiệt của Doyle cũng đủ lắm rồi.

Tinh thần đồng chí ưa cãi cọ mà Stephen quan sát được nơi bạn mình không khiến cậu từ bỏ thói quen lẳng lặng nghe lời. Cậu không tin vào sự hỗn loạn và nghi ngờ sự chân thành của tình đồng chí kia, thứ tinh thần với cậu dường như là sự dự báo đáng tiếc cho tuổi trưởng thành. Vấn đề danh dự được nêu ra đây, giống như các vấn đề tương tự khác, đều vớ vẩn đối với cậu. Trong lúc tâm trí cậu theo đuổi những ảo ảnh vô hình rồi quay sang do dự có nên theo đuổi chúng nữa hay không thì cậu nhớ tới giọng nói liên tục của bố và các thầy, thúc giục cậu, trên hết, hãy trở thành một quý ông và một Cơ đốc nhân tốt. Những giọng nói đó giờ nghe trống rỗng trong tai cậu. Khi phòng thể dục mở cửa trở lại, cậu đã nghe một giọng nói khác thúc giục mình trở nên rắn rỏi, khỏe mạnh, nam tính. Còn khi phong trào phục quốc nổ ra, một giọng nói khác lại bảo cậu hãy thành thực với đất nước, giúp nâng cao ngôn ngữ và truyền thống Ireland. Ở thế giới phàm tục, như cậu tiên đoán, một giọng nói phàm tục bảo cậu hãy lao tâm khổ tứ nâng cao vị thế đã sa sút của bố mình, trong khi giọng nói của đám bạn lại thúc giục cậu trở thành một học sinh tử tế, bảo vệ chúng khỏi bị giáng tội, tha lỗi cho chúng và cố hết sức kiếm vài ngày nghỉ cho cả trường. Tiếng ồn ã của tất cả những giọng nói nghe trống rỗng này khiến cậu do dự dừng lại trong hành trình theo đuổi ảo ảnh. Cậu lắng nghe những giọng nói đó một lúc nhưng chỉ khi xa chúng, không nghe thấy chúng nữa, lúc ở một mình hoặc có những người bạn ảo ảnh bên cạnh, cậu mới hạnh phúc.

Trong phòng áo lễ, một thầy tu dòng Tên tươi tắn, béo tốt và một người đàn ông lớn tuổi, vận quần áo màu xanh tồi tàn, đang bận rộn với thuốc vẽ và phấn màu. Đám con trai đã được hóa trang đi lòng vòng hoặc lúng túng đứng yên, rón rén dùng đầu ngón tay khẽ chạm lên mặt. Giữa phòng áo lễ là một thầy tu trẻ đến thăm trường dịp này, đang đứng đung đưa nhịp nhàng, từ đầu ngón chân tới gót chân, tay thọc sâu vào túi áo. Cái đầu nhỏ của thầy ta nổi bật nhờ những lọn tóc đỏ bóng lộn và khuôn mặt mới được cạo rửa cực kỳ hợp với sự đứng đắn của chiếc áo chùng và đôi giày sạch bong.

Stephen ngó thân hình đang đung đưa ấy và cố lẩm bẩm câu chuyện về nụ cười chế giễu của linh mục thì ký ức cậu bỗng hiện ra câu nói nghe được từ bố trước khi bố gửi cậu đến trường Clongowes, rằng bạn luôn có thể nhận ra một thầy tu dòng Tên qua trang phục của ông ta. Đồng thời, cậu nghĩ mình nhận ra điểm giống nhau giữa tâm trí của bố và tâm trí của vị linh mục ăn diện đẹp đẽ đang mỉm cười kia: cậu ý thức được sự báng bổ trong phòng vị thầy tu ấy, trong chính phòng áo lễ nơi sự im lặng giờ bị tiếng nói chuyện, cười đùa, bầu không khí nồng nặc mùi lửa khí đốt và dầu mỡ phá tan tành.

Trong lúc người đàn ông lớn tuổi vẽ nếp nhăn lên trán và bôi màu xanh, đen lên miệng cậu thì Stephen lơ đễnh lắng nghe giọng vị thầy tu trẻ béo tốt, giọng nói bảo cậu hãy mở miệng và nói rõ quan điểm của mình. Cậu có thể nghe thấy tiếng ban nhạc chơi bài Huệ tây vùng Killarney và biết rằng tấm màn sân khấu lát nữa sẽ được kéo lên. Cậu không sợ sân khấu nhưng nghĩ tới vai diễn là cậu bẽ mặt. Khuôn mặt được hóa trang của cậu đột nhiên đỏ bừng khi cậu nhớ tới vài lời thoại. Cậu thấy ánh mắt quyến rũ nghiêm túc của Emma nhìn cậu từ hàng ghế khán giả và hình ảnh hai đứa bên nhau một lần nữa lại quét sạch những đắn đo do dự, khiến cậu vững tâm. Cậu dường như có thêm bản tính khác: sự phấn khích và tươi trẻ xung quanh đã thấm vào cậu và biến đổi sự hồ nghi buồn bã của cậu. Trong khoảnh khắc hiếm hoi ấy, cậu như vận trang phục của tuổi thiếu niên thực sự, nên khi đứng sau cánh gà, giữa các diễn viên khác, cậu chia sẻ niềm vui chung khi tấm màn được hai thầy tu to khỏe kéo lên bằng những cú giật mạnh xiên xẹo.

Vài phút sau, cậu thấy mình đứng trên sân khấu giữa luồng khí chói mắt và khung cảnh lờ mờ, biểu diễn trước một khoảng không đầy những khuôn mặt. Cậu ngạc nhiên khi thấy vở kịch mà mình biết khi tập thử là thứ tẻ nhạt rời rạc thì nay đột nhiên có sự sống của riêng nó. Vở kịch như tự diễn, cậu và những diễn viên khác chỉ hỗ trợ nó mà thôi. Khi tấm màn sân khấu hạ xuống ở phân cảnh cuối, cậu nghe từ khoảng không rộ lên tiếng vỗ tay, và qua kẽ hở của cảnh dựng, cậu thấy một hình thể giản đơn biến đổi kỳ diệu, cái hình thể mà cậu đã biểu diễn trước mặt nó - một khoảng không đầy những khuôn mặt vỡ vụn ra, rơi xuống thành các nhóm nhỏ bận rộn.

Cậu nhanh chóng rời sân khấu, rũ mình khỏi vai diễn và băng qua nhà nguyện đi tới vườn trường. Giờ đây, khi vở kịch đã xong, đầu óc cậu kêu gào đòi chuyến phiêu lưu tiếp theo. Cậu chạy dấn lên như muốn bắt kịp nó. Cửa nhà hát mở toang và khán giả tràn ra ngoài. Trên những sợi dây mà cậu tưởng tượng là dây neo của con tàu lễ hội, mấy chiếc đèn lồng đong đưa trong gió đêm, buồn bã lóe sáng. Cậu vội vã bước lên những bậc thang hướng về phía vườn trường, háo hức vì con mồi nào đó sẽ không lảng tránh cậu, rồi len qua đám đông trong sảnh đợi, băng qua hai thầy tu đang đứng nhìn đám đông đổ ra, cúi đầu chào và bắt tay các vị khách. Cậu bồn chồn len tới trước, vờ muốn len nhanh hơn nữa và mơ hồ nhận ra những nụ cười, cái nhìn, cái huých nhẹ mà khuôn mặt đầy phấn của cậu bỏ lại sau khi đã nhận ra.

Đi hết mấy bậc thang, cậu thấy gia đình mình đang đứng đợi ở ngọn đèn đầu tiên. Liếc nhìn, cậu nhận ra hình dáng quen thuộc của mọi người và giận dữ bỏ chạy.

- Con phải đưa tin tới đường George’s. – Cậu vội bảo bố. – Con sẽ về sau mọi người.

Không đợi bố hỏi han, cậu chạy đi và bắt đầu bước nhanh xuống đồi. Cậu gần như không nhận ra mình đang đi bộ. Lòng kiêu hãnh, niềm hy vọng, nỗi khát khao giống như thảo mộc bị vò nát trong tim bốc lên thành làn khói điên cuồng bao phủ đôi mắt tâm trí cậu. Cậu phóng xuống đồi trong lúc lòng kiêu hãnh bị nghiền nát, niềm hy vọng bị sụp đổ, nỗi khát khao bị bóp nghẹt và đột ngột dâng lên thành luồng hơi. Luồng hơi ấy chảy ngược lên đôi mắt đau khổ đang bị làn khói điên cuồng bao phủ của cậu rồi trôi đi khi không khí cuối cùng cũng trong lành và lạnh lẽo trở lại.

Mắt cậu vẫn phủ một màn sương mỏng nhưng không cháy bỏng nữa. Một sức mạnh, gần với sức mạnh tạo ra cơn giận dữ và oán hận trôi tuột khỏi cậu, khiến cậu đi chậm lại. Cậu đứng yên, nhìn lên cổng vòm u ám của nhà xác và nhìn ra con đường rải đá cuội tối tăm nằm cạnh đó. Cậu thấy từ “Lotts” trên bức tường hai bên đường và chầm chậm hít thở thứ không khí nặng mùi hôi.

Cậu nghĩ đó là mùi nước đái ngựa và rơm rạ thối rữa. Mùi đó thật dễ chịu. Nó làm tim mình dịu lại. Tim mình giờ đã dịu đi nhiều. Mình sẽ quay về.

Stephen lại ngồi cạnh bố trong góc toa tàu ở Kingsbridge. Cậu đang cùng bố đi du lịch bằng chuyến tàu chở thư đêm tới Cork. Khi tàu rời ga, cậu nhớ lại quãng thời gian kỳ diệu nhiều năm về trước và mọi sự kiện diễn ra vào ngày đầu tiên ở trường Clongowes. Nhưng giờ cậu không còn thấy kỳ diệu nữa. Cậu thấy những vùng đất tối tăm lướt qua trước mắt, những cột điện tín lặng im cứ bốn giây lại trôi vèo ngoài cửa sổ, những sân ga nhỏ bé le lói ánh đèn, lèo tèo vài người im lặng đứng gác, bị con tàu ném lại đằng sau và lấp lóe một lúc trong bóng tối y như những hạt thóc nóng bỏng bị cối xay bột bỏ lại.

Cậu lắng nghe mà không hề tỏ lòng thương cảm với lời kể của bố về Cork và những cảnh tượng thời trai trẻ của ông, một câu chuyện cứ chốc chốc lại xen lẫn tiếng thở dài hoặc tiếng ông nhấp một ngụm rượu từ chiếc bình để trong túi, bất cứ khi nào hình ảnh của một người bạn đã mất hiện ra hoặc người kể bỗng nhớ ra mục đích chuyến đi thực sự của mình là gì. Stephen nghe nhưng không tỏ lòng thương cảm. Hình ảnh những người đã mất đều lạ lẫm với cậu trừ ông Charles, người gần đây đã phai nhạt trong ký ức cậu. Tuy nhiên cậu biết, tài sản của bố sắp bị bán đấu giá, và qua cách mình bị tước đi quyền sở hữu ấy, cậu thấy thế gian này đã trắng trợn lừa dối óc mơ tưởng của cậu.

Tới Maryborough, cậu ngủ thiếp đi. Khi cậu tỉnh dậy, con tàu đã ra khỏi Mallow và bố cậu đang nằm ngủ trên băng ghế khác. Ánh bình minh lạnh lẽo bao trùm cả vùng đất, phủ lên những khoảnh ruộng chưa có người ra đồng và những túp lều còn đóng cửa im ỉm. Nỗi sợ ngủ khiến cậu thích thú khi ngắm nhìn vùng đất im lặng này hoặc hết lần này tới lần khác, lắng nghe tiếng thở sâu và những cử động đột ngột trong lúc ngủ của bố. Những người ngủ vô hình ở các toa bên cạnh khiến cậu thấy sợ hãi kỳ lạ, như thể họ có thể làm hại cậu. Cậu mong ngày mới chóng đến. Lời cầu nguyện của cậu không hướng tới Chúa hay thần thánh nào, mà bắt đầu bằng cơn rùng mình, khi ngọn gió lạnh buổi sáng bò qua khe cửa tới chân cậu và kết thúc bằng một tràng những từ ngữ ngu xuẩn mà cậu nói cho khớp với nhịp điệu day đi day lại của con tàu, rồi cứ bốn giây, những cột điện tín lại lặng lẽ vẽ một nốt nhạc vội vã lên ô nhịp đều đặn. Thứ âm nhạc khó chịu này làm cậu bớt sợ, nên cậu tựa đầu vào bệ cửa sổ, nhắm mắt lại lần nữa.

Hai cha con đón xe ngựa đến thành phố Cork khi trời còn mờ tối và Stephen ngủ tiếp trong phòng trọ khách sạn Victoria. Ánh mặt trời rực rỡ ấm áp chiếu qua cửa sổ và cậu có thể nghe thấy tiếng xe cộ ồn ã bên ngoài. Bố cậu đang đứng trước bàn phấn, săm soi mái tóc, khuôn mặt, bộ ria, vươn cổ qua bình nước đặt trên bàn rồi rụt đầu xoay ngang xoay dọc để nhìn rõ hơn. Trong lúc nhìn, ông khẽ hát bằng giọng điệu và ca từ kỳ quặc:

Niềm vui và sự tươi trẻ này

Làm bao gã trai cưới vợ,

Nên em yêu ơi, anh sẽ

Không ở lại đây đâu.

Thứ gì không chữa được

Chắc đã bị tổn thương

Vậy nên anh sẽ sang Châu Mỹ.

Tình yêu của tôi ơi, nàng đẹp lắm

Tình yêu của tôi ơi, nàng khỏe lắm

Nàng giống rượu whisky ngon

Vừa khui xong, còn mới;

Nhưng khi rượu cũ rồi

Và trở nên lạnh lẽo

Thì nó nhạt dần, tan đi

Như sương sa trên núi.

Nhận ra thành phố ấm áp ngập nắng bên ngoài cửa sổ và những rung động nhẹ nhàng mà giọng ca của bố điểm xuyết cho bầu không khí vui vẻ buồn bã kỳ lạ của bài hát, Stephen thấy đầu óc mình không còn chút khó chịu nào của buổi đêm. Cậu mau chóng dậy thay quần áo và khi bài hát kết thúc, cậu bảo:

- Bài này hay hơn mấy bài bắt đầu bằng câu “Lại-đây- nào”[15] của bố đấy.

- Con nghĩ thế à? – Ông Dedalus hỏi.

- Con thích bài này. – Stephen đáp.

- Không khí bài này cũ lắm rồi. – Ông Dedalus bảo và vân vê ria mép – À, nhưng chắc con đã nghe Mick Lacy hát. Tội nghiệp Mick Lacy! Cậu ta ít thay đổi bài hát và thường thêm vào những nốt nhạc rất hay mà bố không làm nổi. Nếu con thích, đó là người có thể hát một bài bắt đầu bằng câu “Lại-đây-nào”.

Ông Dedalus gọi món drisheen[16] cho bữa sáng và suốt bữa ăn, ông hỏi han anh bồi về tin tức trong vùng. Phần lớn cuộc trò chuyện làm họ bực bội khi một cái tên được nhắc tới, anh bồi chỉ nhớ tên người chủ hiện tại còn ông Dedalus thì nhớ tên cha ông của người đó.

- Dù sao tôi hi vọng trường Queen’s College vẫn ở chỗ cũ, – Ông Dedalus bảo – vì tôi muốn dẫn con đi thăm quan trường đó.

Dọc đại lộ Mardyke, cây cối đã đâm chồi nảy lộc. Hai cha con tiến vào trường Queen’s College và được người gác cổng ba hoa dẫn qua khoảnh sân vuông. Nhưng đi được chục bước trên con đường rải sỏi, họ lại dừng chân, lắng nghe câu trả lời của người gác cổng.

- À, anh bảo tôi là Pottlebelly tội nghiệp mất rồi à?

- Vâng, thưa ông. Ông ấy mất rồi.

Suốt những lần dừng chân ấy, Stephen lúng túng đứng sau lưng hai người đàn ông, mệt mỏi với đề tài họ nói và sốt ruột đợi họ chậm chạp cất bước trở lại. Khi băng hết khoảnh sân vuông thì sự sốt ruột của cậu biến thành cơn sốt. Cậu tự hỏi sao bố mình, người mà cậu biết rất sắc sảo, đa nghi, lại bị cử chỉ quỵ lụy của người gác cổng lừa bịp và lối nói chuyện sinh động kiểu miền Nam đã khiến cậu vui thích sáng nay giờ làm cậu ngứa tai.

Họ đi tới phòng giải phẫu, nơi với sự giúp đỡ của người gác cổng, ông Dedalus tìm ra bàn học có ghi tên viết tắt của mình. Stephen vẫn đứng sau lưng họ, buồn bã hơn bao giờ hết vì bóng tối và sự tĩnh lặng của căn phòng và vì bầu không khí mà môn học chán ngấy cùng hình thức này đem lại. Cậu đọc chữ “bào thai” được khắc vài lần vào lớp gỗ tối màu, ố bẩn trên bàn học. Một ảo ảnh hiện ra làm cậu giật mình: cậu như cảm nhận được những sinh viên vắng mặt của ngôi trường này đang vây quanh cậu, tách khỏi đám bạn họ. Hình ảnh sống động của họ, mà lời nói của bố không hề gợi lên, bật dậy trước mặt cậu từ dòng chữ được khắc trên bàn. Một sinh viên vai rộng, miệng có ria mép đang nghiêm túc dùng dao nhíp khắc dòng chữ đó. Các sinh viên khác đứng hoặc ngồi cạnh anh cười nhạo việc anh đang làm. Một sinh viên dùng khuỷu tay huých nhẹ anh. Một sinh viên to lớn quay về phía anh, cười nhăn nhở. Anh sinh viên vai rộng mặc bộ quần áo rộng màu xám, đi đôi ủng màu vàng nâu.

Bố gọi Stephen. Cậu vừa vội vã đi xuống các bậc thang của phòng giải phẫu, càng xa khỏi ảo ảnh mà mình có thể là nó càng tốt, vừa nhìn kỹ những chữ viết tắt tên bố, giấu đi khuôn mặt đỏ bừng.

Nhưng cụm từ và ảo ảnh kia cứ nhảy chồm lên trước mặt cậu khi cậu băng qua khoảnh sân vuông và đi về phía cổng trường. Cậu thảng thốt khi tìm thấy ở thế giới bên ngoài vết tích những gì mà khi đó cậu vẫn coi là căn bệnh loạn trí hung bạo và chỉ mình mới có. Những mộng tưởng ma quái kéo đến chật ních trong ký ức cậu. Chúng cũng bật dậy trước mắt cậu, đột ngột và đầy giận dữ, từ những câu chữ. Chẳng mấy chốc cậu chịu thua chúng, để mặc chúng quét qua, làm nhục đầu óc mình, rồi cậu tự hỏi chúng từ đâu tới, từ hang ổ ma quái nào tới, mà khi chúng quét qua, cậu lại thấy mình yếu đuối, khiêm nhường với kẻ khác, và bất an, phát bệnh với chính mình.

- Ôi trời! Kia chắc là quán Groceries! – Ông Dedalus kêu lên – Con thường nghe bố nói về quán Groceries, đúng không Stephen? Nhiều lần bọn bố đã xuống đó khi mọi người còn biết tên tuổi bọn bố, một đám đông ấy chứ, nào là Harry Peard, Jack Mountain nhỏ thó, Bob Dyas rồi Maucie Moriaty, anh chàng người Pháp, rồi Tom O’Grady và cả Mick Lacy, cái anh chàng sáng nay bố kể cho con nghe đấy, rồi Joey Corbet, anh chàng Johnny Keevers nhà Tantiles tốt bụng bé nhỏ đáng thương.

Lá cây dọc đại lộ Mardyke lay động và xào xạc trong nắng. Một đội bóng chày đi ngang qua, những chàng trai trẻ nhanh nhẹn mặc áo cộc tay, quần flannel, một người trong số họ cầm chiếc túi xanh dài dùng để đựng thanh chắn bóng. Trong một ngõ nhỏ yên tĩnh, một ban nhạc có năm thành viên người Đức, mặc đồng phục bạc màu, đang chơi nhạc cho khán giả là đám trẻ vô gia cư và mấy cậu bé đưa tin rảnh rỗi. Một cô hầu đội mũ trắng, đeo tạp dề đang tưới đám cây đặt trên bệ cửa sổ, đám cây chiếu sáng y như tảng đá vôi đặt trong ngọn lửa ấm áp. Có tiếng dương cầm vẳng ra từ khung cửa sổ khác đang mở, gam nọ chuyển dần sang gam kia thành bè cao.

Stephen đi cạnh bố, lắng nghe những câu chuyện cậu đã nghe trước đó, nghe lại tên tuổi những gã say sưa sống rải rác và đã mất, những gã là bạn của bố hồi trẻ. Một cảm giác buồn nôn thoảng qua cậu.

Cậu nhớ lại vị thế mập mờ của mình ở trường Belvedere, một đứa được cấp học bổng, một thủ lĩnh e sợ quyền lực của chính mình, kiêu ngạo, nhạy cảm, đa nghi, chống lại sự bần cùng của cuộc sống và sự nổi loạn của tâm trí. Dòng chữ khắc trên mặt bàn gỗ ố bẩn nhìn cậu soi mói, cười nhạo sự yếu đuối thể chất và vẻ nhiệt tình vô ích của cậu, khiến cậu ghê tởm bản thân vì những cuộc truy hoan điên rồ và bẩn thỉu của mình. Nước bọt trong cổ họng cậu trở nên đắng nghét, không nuốt nổi và cảm giác buồn nôn bao trùm tâm trí khiến cậu phải nhắm mắt và đi trong bóng tối một lúc.

Cậu vẫn nghe giọng bố nói.

- Khi con tranh đấu cho bản thân, Stephen ạ, như bố dám nói một ngày nào đó con sẽ làm thế, thì nhớ rằng dù làm gì, con cũng hãy nhập bọn với các quý ông. Khi còn trẻ, bố bảo con hay, bố rất vui vẻ. Bố nhập bọn với đám bạn hay ho tử tế. Ai trong bọn bố cũng làm được việc gì đó. Một gã có chất giọng tốt, một gã diễn rất giỏi, gã khác có thể hát một bài hài hước rất hay, gã khác nữa chèo thuyền giỏi hoặc chơi cầu lông giỏi, gã khác lại có tài kể chuyện, vân vân và vân vân. Dù sao bọn bố cũng khiến cuộc đời trôi chảy, còn mình thì vui vẻ, hiểu đời một chút và không bị dòng đời tổn hại. Nhưng bọn bố đều là quý ông, Stephen ạ, ít ra bố hy vọng thế, những gã Ireland trung thực tử tế dữ dằn. Đó là kiểu người bố muốn con kết giao, những kẻ có khí chất. Bố nói chuyện với tư cách một người bạn, Stephen ạ. Bố không tin con trai lại đi sợ bố mình. Không, bố cư xử với con y như ông đã cư xử với bố khi bố còn trẻ. Chúng ta giống anh em hơn cha con. Bố sẽ không quên ngày ông bắt gặp bố hút thuốc. Hôm đó, bố đang đứng ở cuối khu South Terrace cùng mấy gã nhỏ thó láu cá giống mình và nghĩ chắc bọn bố hay ho vì có tẩu nhét nơi khóe miệng. Đột nhiên, ông đi ngang qua. Ông chẳng nói gì, thậm chí cũng chẳng dừng lại. Nhưng hôm sau, vào Chủ nhật, khi hai bố con cùng đi dạo, trên đường về, ông rút hộp xì gà ra rồi bảo, nhân tiện bố không biết con hút thuốc hay chuyện gì đại loại thế. Dĩ nhiên, bố cố không tỏ ra nao núng. Nếu con muốn hút thuốc ngon, ông nói tiếp, thì hãy thử những điếu xì gà này. Tối qua, một thuyền trưởng người Mỹ đã tặng bố ở Queenstown.

Stephen nghe giọng bố vỡ ra thành tiếng cười gần như nức nở.

- Hồi đó, thề có Chúa, ông là người đẹp trai nhất vùng! Phụ nữ thường đứng nhìn theo ông trên phố.

Cậu nghe thấy tiếng nức nở nấc nghẹn trong cổ họng bố nên mở mắt ra vì lo lắng. Ánh nắng đột nhiên phá vỡ cái nhìn của cậu, biến bầu trời, các đám mây thành một thế giới kỳ dị của những khoảng không u ám đầy thứ ánh sáng màu đỏ sẫm, trông giống như hồ nước. Chính đầu óc cậu mới bệnh hoạn và bất lực. Cậu hầu như không thể giải nghĩa các ký tự hiện ra trên bảng hiệu cửa hàng. Bằng lối sống quái dị, cậu dường như đặt bản thân cao hơn giới hạn hiện thực. Không gì lay động hay nói với cậu từ thế giới thật trừ phi cậu nghe thấy tiếng kêu gào giận dữ trong lòng mình vọng lại ngoài đó. Cậu không đáp lại sự hấp dẫn của con người và các sự vật trần tục, cậu lặng câm, vô cảm với tiếng gọi mùa hè, với niềm vui và tình bằng hữu, cậu mệt mỏi chán chường với giọng nói của bố. Cậu hầu như không nhận ra suy nghĩ của chính mình, bèn chậm rãi lẩm bẩm:

- Mình là Stephen Dedalus. Mình đang đi cạnh bố, tên ông là Simon Dedalus. Bọn mình đang ở Cork, Ireland. Cork là một thành phố. Bọn mình trọ ở khách sạn Victoria. Victoria và Stephen và Simon. Simon và Stephen và Victoria. Đó là những cái tên.

Ký ức về tuổi thơ cậu đột nhiên mờ dần. Cậu cố gọi ra vài khoảnh khắc sống động nhưng không thể. Cậu chỉ nhớ những cái tên. Dante, Parnell, Clane, Clongowes. Một cậu bé được một phụ nữ già nua có hai cây cọ trong chiếc tủ đựng đồ dạy kèm môn Địa lý. Rồi cậu được bố mẹ gửi đi học xa nhà. Lần đầu cậu được ban thánh thể, cậu lôi thanh thịt khô trong mũ bóng chày ra ăn và ngắm ánh lửa bập bùng nhảy múa trên tường căn phòng nhỏ bé ở bệnh xá. Cậu mơ mình chết đi, mơ tới lễ tang do thầy Hiệu trưởng mặc áo chùng đen ánh vàng cử hành, việc cậu được chôn cất trong nghĩa trang nhỏ của thị trấn cạnh đại lộ chính trồng toàn chanh. Nhưng hồi đó cậu không chết. Parnell chết. Không có lễ tang nào diễn ra trong nhà nguyện và không có đám rước linh cữu nào. Cậu không chết nhưng tàn lụi đi như màn sương trước nắng. Cậu đã lạc lối hoặc lang thang vất vưởng vì cậu không còn tồn tại. Thật kỳ lạ khi nghĩ tới việc tàn lụi đi theo cách ấy, không phải chết mà là tàn lụi đi dưới nắng hoặc bị lạc lối, bị lãng quên ở nơi nào đó trong vũ trụ này! Thật kỳ lạ khi thấy cơ thể nhỏ bé của cậu xuất hiện trở lại một lúc: một cậu bé nhỏ thó trong bộ quần áo màu xám có dây thắt. Tay cậu nhét trong túi, còn ống quần được nhét gọn vào tấm bảo vệ chân ở chỗ đầu gối nhờ những dải thun buộc.

Tối hôm tài sản gia đình cậu bị rao bán, Stephen theo bố đi khắp thành phố, lượn hết quán rượu này tới quán rượu khác. Từ chỗ những người bán hàng trong chợ, đến chỗ mấy gã, mấy ả phục vụ ở quán rượu, đến chỗ đám ăn xin vòi vĩnh tiền bạc, ông Dedalus đều kể cùng một câu chuyện - rằng ông là dân Cork kỳ cựu, rằng suốt ba mươi năm ở Dublin ông đã cố bỏ giọng Cork đi và rằng cái thằng Peter Pickackafax đứng cạnh ông đây là con trai cả của ông nhưng chỉ là kẻ hạ tiện vênh váo lớn lên ở Dublin.

Sáng ra, hai bố con ra khỏi quán Newcombe’s, nơi cốc của ông Dedalus đã va vào đĩa rổn rảng, còn Stephen cố che đi biểu hiện đáng xấu hổ do trận say xỉn hôm trước của ông bằng cách di chuyển ghế mình ngồi rồi húng hắng ho. Hết lần này tới lần khác cậu đã bị bẽ mặt - những người bán hàng ở chợ nở nụ cười giả tạo, mấy ả phục vụ ở quán rượu mà bố cậu tán tỉnh hết cười cợt lại đưa mắt thèm thuồng, đám bạn nhậu của bố thì khen ngợi rồi cổ súy. Họ bảo cậu trông rất giống ông nội và bố đồng tình nói rằng cậu cũng xấu y chang ông. Họ phát hiện ra giọng cậu vẫn mang âm hưởng Cork và bắt cậu thừa nhận rằng sông Lee đẹp hơn sông Liffey nhiều. Một người trong số họ muốn kiểm tra trình độ tiếng La-tinh đã bảo cậu dịch mấy đoạn ngắn trong tác phẩm Dilectus và hỏi cậu “Tempora mutantur nos et mutamur in illis” hay “Tempora mutantur et nos mutamur in illis”, câu nào đúng[17]. Một người khác, một ông già nhanh nhẹn mà bố gọi là Johnny Cashman, đã khiến cậu bối rối khi hỏi cậu xem gái Dublin hay gái Cork đẹp hơn.

- Nó không phải loại người đó. – Ông Dedalus bảo – Hãy để nó yên. Nó là thằng nhóc có suy nghĩ điềm đạm, chẳng để đầu óc tơ vương tới mấy thứ vớ vẩn ấy đâu.

- Thế thì nó không phải con trai bố nó rồi. – Ông già nhỏ thó đáp.

- Tôi chả biết, chắc luôn đấy. – Ông Dedalus mỉm cười mãn nguyện.

- Hồi trước bố cậu là kẻ tán tỉnh táo tợn nhất vùng. – Ông già nhỏ thó bảo Stephen – Cậu biết chuyện đó không?

Stephen nhìn xuống đất và ngắm sàn nhà lát gạch chỗ quầy rượu, nơi họ đã lượn lờ cả đêm.

- Giờ đừng nhồi ý nghĩ đó vào đầu nó. – Ông Dedalus bảo. – Hãy để mặc nó cho Đấng Sáng tạo.

- Được rồi, ta chắc sẽ không nhồi ý nghĩ nào vào đầu nó. Ta đủ già làm ông nó. Mà ta làm ông rồi đấy. – Ông già nhỏ thó bảo Stephen – Cậu biết chuyện đó không?

- Có đúng là bác làm ông rồi không? – Stephen hỏi lại.

- Thề có Chúa, đúng thế. – Ông già nhỏ thó đáp. – Ta có hai đứa cháu khỏe mạnh sống ở Sunday’s Well. Xem nào! Cậu nghĩ ta bao nhiêu tuổi? Ta còn nhớ mình từng thấy ông nội cậu mặc áo khoác đỏ đi săn cùng bầy chó. Hồi đó, cậu còn chưa ra đời.

- Ừ, hoặc chưa được nghĩ tới cơ. – Ông Dedalus bảo.

- Thề có Chúa, tôi có nghĩ tới đấy. – Ông già nhỏ thó bảo – Hơn thế, tôi còn nhớ cụ nội cậu, John Stephen Dedalus già khú đế, một lão già hung hăng dữ dằn. Xem nào! Đó là ký ức dành cho cậu!

- Thế là ba, bốn thế hệ rồi. – Một người trong đám bạn nhậu của bố bảo – Trời, Jonny Cashman, ông chắc đã gần một trăm tuổi.

- Ồ, nói thật nhé, – Ông già nhỏ thó đáp – tôi mới hai mươi bảy thôi.

- Chúng ta cảm thấy già chừng nào thì mình già chừng nấy, Johnny ạ. – Ông Dedalus bảo – Uống cho xong cữ của ông đi rồi ta làm cữ khác. Ở đây, ông có là Tim, Tom hay tên gì đi nữa thì với chúng tôi, cũng thế cả thôi. Ơn Chúa, tôi không thấy mình hơn mười tám tuổi là mấy. Con tôi đây chưa bằng nửa tuổi tôi và bất cứ ngày nào trong tuần, tôi cũng là người hay ho hơn nó.

- Đừng to mồm, Dedalus. Tôi nghĩ anh nên bớt mồm bớt miệng lại thì hơn. – Một quý ông trước đó đã lên tiếng liền bảo.

- Không, thề có Chúa! – Ông Dedalus khẳng định – Thi thố với con, tôi sẽ hát một bài nam cao hoặc nhảy qua cổng rào gồm năm thanh gỗ ghép lại hoặc chạy theo lũ chó săn rong ruổi khắp vùng như ba mươi năm về trước tôi từng làm thế, như ca sĩ chính hiệu của ban nhạc Kerry Boys hay người nào làm trò đó hay nhất ấy.

- Nhưng nó hơn anh ở chỗ này. – Ông già nhỏ thó vừa nói vừa vỗ vào trán, rồi nâng cốc uống cạn.

- Ôi, tôi chỉ mong nó thành người tốt như bố nó thôi. Đó là tất cả những gì tôi cần nói. – Ông Dedalus bảo.

- Nếu là con bố nó, nó sẽ là thế. – Ông già nhỏ thó đáp.

- Mà Johnny à, tạ ơn Chúa, – Ông Dedalus nói – vì chúng ta đã sống quá lâu và gây hại quá ít.

- Và làm nhiều điều tốt nữa chứ Simon. – Ông già nhỏ thó nghiêm nghị đáp – Tạ ơn Chúa vì chúng ta đã sống quá lâu và làm quá nhiều điều tốt.

Stephen ngó ba cốc bia được nâng lên khỏi quầy khi bố và hai ông bạn nối khố uống mừng ký ức xưa. Khí chất lẫn số phận của cậu khác họ một trời một vực. Tâm trí cậu dường như già nua hơn họ: nó lạnh lẽo chiếu rọi lên những cự cãi, niềm vui và nỗi tiếc nuối của họ như mặt trăng chiếu rọi lên Trái Đất non trẻ. Không sự sống hay sức trẻ nào lay động trong lòng cậu như nó đã lay động trong lòng họ. Cậu không biết đến niềm vui của tình bằng hữu cũng như sức mạnh thể chất thô lỗ của nam giới lẫn lòng hiếu thảo. Không gì lay động trong hồn cậu, trừ lòng thèm khát phi tình yêu, độc địa và lạnh lẽo. Tuổi thơ của cậu đã chết hoặc lạc lối, cùng với nó là tâm hồn có thể cảm nhận những niềm vui đơn giản và cậu trôi dạt giữa dòng đời như trôi trên bề mặt khô cằn của mặt trăng.

Trèo lên thiên đường và nhìn xuống Trái Đất,

Ngươi có xanh xao vì mỏi mệt

Khi lang thang không có bạn đồng hành?

Cậu lẩm nhẩm lời bài thơ Gửi mặt trăng của Shelly. Sự bất lực buồn bã của con người xen kẽ chu kỳ hoạt động bao la của vạn vật làm cậu rùng mình và quên đi nỗi buồn đau bất lực của chính mình.

Mẹ, em trai và một đứa em họ của Stephen đứng đợi ở góc khu Foster Place yên tĩnh trong khi cậu và bố bước lên bậc thang, đi dọc theo hàng cột đỡ mái vòm nơi các chú lính Scotland đang diễu qua. Khi họ vào tới đại sảnh rộng rãi và đứng ở quầy giao dịch, Stephen đưa tờ chi theo lệnh Thống đốc Ngân hàng Ireland để rút ba mươi ba bảng Anh. Giao dịch viên nhanh chóng trao những tờ tiền giấy và đồng xu tương ứng với số tiền mà cậu có được nhờ đoạt giải viết văn. Cậu cho số tiền vào túi, giả vờ điềm tĩnh và gượng gạo bắt tay anh giao dịch viên thân thiện mà bố đang tán chuyện, người chìa tay qua quầy giao dịch rộng thênh thang và chúc cậu sau này sẽ có một sự nghiệp rực rỡ. Cậu sốt ruột với giọng hai người họ nói chuyện và không thể đứng yên. Nhưng anh giao dịch viên cứ cù cưa, không giao dịch tiếp với khách hàng khác mà lo nói nốt rằng cậu đang sống trong giai đoạn đổi thay và không gì sánh được việc dùng tiền để giúp một cậu bé được học hành tốt nhất. Ông Dedalus lượn lờ trong đại sảnh, nhìn ngó xung quanh, nhìn lên trần nhà rồi bảo Stephen, người đang thúc ông mau ra ngoài, rằng họ đang đứng trong tòa nhà từng là Hạ viện Quốc hội Ireland cũ.

- Chúa giúp chúng con! – Ông Dedalus thốt lên vẻ mộ đạo. – Stephen à, cứ nghĩ tới những người hồi xưa như Hely Hutchinson, Flood, Henry Grattan, Charles Kendal Bushe, rồi đám quý tộc thời nay mà ta có, lãnh đạo của dân Ireland ở trong và ngoài nước ấy. Trời ơi, thề có Chúa, những người cũ không thể chết trên cánh đồng rộng bốn mẫu cạnh đám ấy. Không, anh bạn già Stephen ơi, bố xin lỗi vì họ chỉ xuất hiện khi bố đi dạo vào một buổi sáng tháng Năm đẹp đẽ trong tiết trời tháng Bảy ngọt ngào.

Một ngọn gió rét buốt tháng Mười thổi quanh ngân hàng. Gò má ba người đứng đợi ở góc đường lầy lội đỏ ửng cả lên còn mắt họ thì giàn giụa nước. Stephen nhìn mẹ ăn mặc phong phanh và nhớ ra vài ngày trước, cậu đã thấy cái áo măng tô giá hai mươi đồng ghi-nê trưng trong tiệm Barnardo’s.

- Thế là xong. – ông Dedalus bảo.

- Ta đi ăn tối đi. – Stephen nói – Ăn ở đâu bây giờ?

- Ăn tối à? – Ông Dedalus đáp – Ồ, bố nghĩ mình sẽ ăn món gì thật ngon, ăn gì nhỉ?

- Ăn chỗ nào đừng đắt quá đấy. – Bà Dedalus nói.

- Quán Underdone’s nhé?

- Ừ. Nơi nào yên tĩnh ấy.

- Đi nào. – Stephen nói nhanh – Đắt đỏ không quan trọng.

Cậu bước lên trước bằng những bước ngắn, bồn chồn, vừa bước vừa mỉm cười. Cả nhà cố đuổi theo, cũng vừa đi vừa mỉm cười vì sự háo hức của cậu.

- Hãy cứ từ từ như một gã trai trẻ tử tế. – Bố bảo – Chúng ta đâu có ra khỏi nhà chỉ nửa dặm đường, phải không nào?

Sau một mùa hội hè đình đám, số tiền thưởng nhanh chóng bị Stephen tiêu phí. Những thùng lớn hoa quả, bánh kẹo, trái cây khô được các tiệm trong thành phố gửi đến. Mỗi ngày cậu thanh toán hóa đơn cho cả nhà, còn mỗi đêm cậu lại rủ ba bốn người ra nhà hát xem vở Ingomar hoặc vở Phu nhân thành Lyons. Trong túi áo khoác, cậu đem cho khách mời những thanh kẹo sô-cô-la thành Vienna, còn trong túi quần, cậu ních đầy những đồng xu bạc và đồng. Cậu mua quà cho mọi người, trùng tu phòng mình, viết cam kết, xào xáo lại sách vở trên kệ, nghiền ngẫm danh mục giá cả, đề ra hình thức khối thịnh vượng chung cho cả nhà trong đó mỗi thành viên đều có một vị trí, mở ngân hàng cho vay lấy lãi và ai trong nhà muốn mượn tiền sẽ phải gánh nợ để cậu vui vẻ ghi biên nhận và tính toán lời lãi từ các khoản cho vay. Khi hết việc để làm, cậu leo lên xe ngựa đi khắp thành phố. Rồi mùa phung phí ấy cũng qua. Hộp sơn tráng men màu hồng cạn láng mà tấm ván ốp tường phòng ngủ của cậu vẫn chưa sơn xong, lớp vữa thạch cao vẫn còn nham nhở.

Gia đình cậu quay lại nếp sống cũ. Mẹ hết dịp cằn nhằn về sự hoang phí tiền bạc của cậu. Cậu cũng trở lại học hành, dẹp hết mọi hình thức kinh doanh mới lạ. Khối thịnh vượng chung tan vỡ, ngân hàng cho vay đóng cửa, sổ ghi nợ thua lỗ nặng, các quy tắc sống mà cậu đề ra cho mình trở nên lỗi thời.

Mục đích sống của cậu mới ngu ngốc làm sao! Ngoài mặt, cậu cố xây một con đê chắn sóng gồm sự trật tự và thanh lịch để chống lại dòng thủy triều nhớp nhúa của cuộc đời và bằng các quy tắc ứng xử, mối quan tâm tích cực, quan hệ cha mẹ - con cái mới mẻ, cậu những mong sẽ chặn được dòng thủy triều mạnh mẽ cứ trỗi dậy trong lòng. Vô ích. Ngoài mặt lẫn trong lòng cậu, dòng nước kia vẫn vượt qua kè chắn, những dòng thủy triều lại hung bạo tràn qua con đê vỡ nát.

Cậu cũng thấy rõ sự cách biệt phù phiếm của mình.

Cậu không bước lại gần hơn những cuộc đời mà cậu tìm kiếm, cũng không vượt qua được nỗi tủi hổ và thù hằn liên tục, thứ đã chia cách cậu với mẹ và các em trai em gái. Cậu thấy mình gần như chẳng có quan hệ ruột rà gì mà chỉ có quan hệ giáo dưỡng bí ẩn với họ, là con nuôi, anh nuôi của họ.

Cậu quay sang nhượng bộ những khao khát cháy bỏng trong tim, những khao khát mà với chúng, mọi thứ khác đều vu vơ, xa lạ. Cậu chẳng mấy quan tâm mình có phạm trọng tội, rằng cuộc đời cậu có trở nên đầy rẫy gian trá và giả dối. Ngoài ham muốn man rợ nhận diện những thứ hiểm ác mà cậu nghiền ngẫm trong đầu ra, chẳng có gì đáng sợ cả. Cậu hồ nghi chịu đựng các chi tiết đáng xấu hổ của cuộc nổi loạn bí mật trong lòng và trong cuộc nổi loạn ấy, cậu nhẫn nại hân hoan làm vẩn đục bất cứ hình ảnh nào thu hút mắt mình. Hết ngày rồi tới đêm cậu di chuyển giữa những hình ảnh về thế giới bên ngoài bị bóp méo. Một người ban ngày có vẻ kín đáo, ngây thơ thì đêm đến lại tới với cậu trong giấc ngủ đen tối lộng gió, khuôn mặt cô ta ngời lên nét ranh ma dâm đãng, mắt cô ta sáng rực niềm hoan lạc bạo tàn. Sáng ra, cậu mới đau đớn lờ mờ nhớ lại cuộc nổi loạn truy hoan đen tối đó, khía cạnh tội lỗi đầy xấu xa bẽ bàng nhói buốt của nó.

Cậu quay lại với những suy nghĩ vẩn vơ. Buổi tối mùa thu u ám khiến cậu lang thang hết con phố này tới con phố khác như đã khiến cậu lang thang trên những đại lộ tĩnh lặng ở Blackrock nhiều năm về trước. Nhưng giờ không còn hình ảnh những khu vườn gọn ghẽ trước cửa nhà hay ánh đèn ấm áp tỏa ra từ cửa sổ tạo ảnh hưởng dịu dàng với cậu nữa. Chỉ đôi lúc, khi nỗi khát khao của cậu tạm lắng xuống, khi sự xa hoa làm hao tổn tâm trí nhường chỗ cho vẻ kiệt quệ dịu nhẹ hơn, hình ảnh nàng Mercedes liền lướt qua tâm trí cậu. Cậu lại thấy ngôi nhà nhỏ màu trắng, khu vườn đầy bụi hồng trên con đường dẫn lên núi và nhớ tới cử chỉ từ chối đầy kiêu ngạo buồn bã của mình khi đứng cùng nàng trong khu vườn ngập ánh trăng sau nhiều năm xa cách và ghẻ lạnh. Khi đó lời nói êm dịu của chàng Claude Melnotte[18]dâng lên môi cậu, làm dịu đi nỗi bất an của cậu. Một điềm báo mong manh dễ vỡ chạm vào cậu, điềm báo về cuộc hẹn hò cậu đã trông đợi hồi ấy, bất chấp hiện thực khủng khiếp nằm chắn giữa hy vọng của cậu hồi ấy và bây giờ, bất chấp cuộc gặp gỡ thần thánh mà cậu tưởng tượng ra, cuộc gặp gỡ mà sự yếu đuối, nhút nhát và thiếu kinh nghiệm trong cậu sẽ trôi đi.

Những khoảnh khắc đó qua đi và ngọn lửa dâm dật làm hao tổn tâm trí cậu lại bùng lên. Những dòng thơ lướt qua môi cậu và những tiếng kêu không thốt lên lời, những từ ngữ cục súc không nói ra được tuôn chảy trong đầu cậu thành thơ. Máu cậu sục sôi. Cậu lang thang dọc các con phố tối tăm nhầy nhụa, săm soi bóng tối trong các ngõ ngách, lối đi, háo hức lắng nghe bất cứ âm thanh nào. Cậu rên rỉ với chính mình y như con thú đi săn bị lạc đường. Cậu muốn phạm tội với kẻ khác mình, muốn buộc kẻ ấy phạm tội cùng mình và hoan hỉ cùng cô ta trong tội lỗi. Cậu thấy một hình ảnh đen tối từ bóng đêm chiếm lấy mình mà không cưỡng lại được, hình ảnh dịu dàng, rù rì y như cơn lũ tràn qua cậu. Tiếng thì thầm của nó rủ rỉ bên tai cậu y như tiếng thì thầm của đám đông đang ngủ, những dòng chảy dịu dàng của nó chảy khắp người cậu. Cậu nắm chặt tay đến run lên, nghiến chặt răng khi chịu đựng nỗi đau mà dòng chảy ấy chảy qua người. Cậu giang tay ra trên phố để ôm nhanh lấy hình bóng mong manh dần tan biến kia, đang lảng tránh và kích động cậu, rồi cậu cất tiếng kêu đã kìm nén quá lâu trong họng. Tiếng kêu phát ra y hệt tiếng than khóc vô vọng của vô số kẻ chịu đau đớn khổ sở rồi tắt lịm thành tiếng rền rĩ ai oán, tiếng kêu của sự ruồng rẫy trái đạo lý, tiếng kêu không khác tiếng vọng của câu chữ loằng ngoằng tục tĩu mà cậu đã đọc được trên bức tường ri rỉ nước tiểu.

Cậu đã lang thang đến mê cung các con phố bẩn thỉu, chật hẹp. Từ các lối đi hôi hám, cậu nghe thấy tiếng gào khản đặc của những kẻ quá chén và tiếng lè nhè, cự nự của đám ca sĩ say xỉn. Cậu đi tiếp, thối chí, tự hỏi liệu mình có lạc vào khu người Do Thái[19]. Đám đàn bà con gái mặc váy áo dài sặc sỡ đi lại trên phố, lượn từ nhà này sang nhà khác. Họ ung dung nhàn nhã, sực nức mùi nước hoa. Cậu khẽ rùng mình, mắt mờ đi. Ngọn lửa khí đốt màu vàng bùng lên trước đôi mắt mờ ảo của cậu, trên nền trời đầy hơi nước, cháy như cháy trước bàn thờ Chúa. Trước cửa cái và trong các sảnh đợi sáng đèn, những nhóm người tụ tập tề chỉnh như đang tham dự nghi lễ nào đó. Cậu ở trong một thế giới khác: cậu đã bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ suốt nhiều thế kỷ qua.

Cậu đứng im giữa đường, tim đập loạn lên trong lồng ngực. Một phụ nữ trẻ mặc chiếc váy dài màu hồng giữ tay cậu lại và nhìn chằm chằm vào mặt cậu. Cô ta vui vẻ nói:

- Chúc ngủ ngon, Willie thân yêu!

Căn phòng của cô ta ấm áp, tao nhã. Một con búp bê to, dạng chân, ngồi trên chiếc ghế bành rộng cạnh giường. Cậu cố mở miệng bảo mình thấy thoải mái, vừa nhìn cô ta cởi váy áo ra vừa để ý những cử chỉ đầy kiêu ngạo, tỉnh táo của chiếc đầu sực nức mùi nước hoa kia.

Khi cậu còn đang im lặng đứng giữa phòng thì cô ta đã tới bên cậu, vui vẻ, nghiêm trang ôm lấy cậu. Cánh tay tròn lẳn của cô ta ôm ghì và kéo cậu về phía mình, còn cậu, nhìn khuôn mặt nghiêm túc bình tĩnh của cô ta ngước lên nhìn mình, cảm thấy sự bình tĩnh ấm áp ấy nhấp nhô trên khuôn ngực cô ta, bèn điên cuồng òa khóc. Những giọt nước mắt hân hoan, nhẹ nhõm long lanh trong đôi mắt vui sướng của cậu và môi cậu hé mở dù không nói lời nào.

Cô ta dùng bàn tay kêu lục cục vò tóc cậu, gọi cậu là thằng ranh con.

- Hôn tôi đi. – Cô ta bảo.

Cậu không cúi xuống hôn cô ta. Cậu muốn được ôm chặt trong vòng tay cô ta, được vuốt ve thật từ từ, chậm rãi. Trong vòng tay ấy, cậu đột nhiên thấy mình mạnh mẽ, không sợ hãi và chắc chắn về bản thân mình. Nhưng cậu không cúi xuống hôn cô ta.

Đột nhiên, cô ta kéo đầu cậu xuống rồi dán môi mình vào môi cậu và cậu đọc được ý nghĩa của cử chỉ ấy trong đôi mắt chân thật ngước lên nhìn của cô ta. Điều này thật quá sức đối với cậu. Cậu nhắm mắt, đầu hàng cô ta, cả thể xác lẫn tâm trí, không biết gì trên đời ngoại trừ áp lực đen tối của đôi môi mềm mại đang hé mở kia. Đôi môi ấy dán vào tâm trí cậu cũng như đang dán vào môi cậu như thể chúng là phương tiện truyền đạt một bài diễn văn mơ hồ; và giữa làn môi ấy, cậu cảm thấy một áp lực rụt rè, chưa được biết tới, đen tối hơn niềm sung sướng ngất ngây khi phạm tội, êm dịu hơn thanh âm hay mùi vị nào.

❀ ❀ ❀

[1] Là hôn thê của Dantes, bị những kẻ xấu xa bắt đi và mười lăm năm sau khi hai người gặp lại thì nàng đã lấy một trong số những kẻ ấy.

[2] Câu của Dantes nói với Mercedes trong truyện Bá tước Monte Cristo, hàm ý mình không thể ăn uống gì trong nhà kẻ thù.

[3] Đơn vị đo lường của Ireland, bằng 14 lbs tức khoảng 6,4 kg.

[4] Nguyên văn: “tram”. Thời tác giả, người ta vẫn dùng ngựa để kéo xe, sau này mới thay bằng điện.

[5] Thông báo phá sản.

[6] Viết tắt của cụm từ tiếng La-tinh “Laus Deo Semper” nghĩa là “Luôn ngợi ca Chúa”, là cụm từ thường được viết cuối bài văn ở trường dòng.

[7] Christian Brothers hay dòng các Sư huynh trường Công giáo, là dòng tu có nhiệm vụ giáo dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em nghèo, do á thánh Edmund Rice sáng lập ở Ireland. Ở Việt Nam có dòng La San cũng là dòng các Sư huynh trường Công giáo, nhưng do á thánh De la Salle sáng lập ở Pháp truyền qua.

[8] Lễ Ngũ tuần là dịp kỷ niệm Chúa giáng trần và cũng là ngày thành lập Giáo hội Cơ đốc.

[9] Belvedere College là trường nội trú cấp 2-3 của dòng Tên dành cho học sinh là dân lương hay dân ngoại đạo. Trường được thành lập năm 1832, là trường cổ thứ hai ở Ireland sau Clongowes. Cách phân chia bậc học giống hệt trường Clongowes.

[10] Bí tích Thánh thể hay Thánh tích là hiện thân cho Thịt và Máu Chúa trong hình hài bánh và rượu, được cất giữ trong hòm thánh và ban cho giáo dân trong Tiệc Thánh. Thánh lễ này có rất nhiều ý nghĩa: là sự hoài niệm, tái hiện sự đóng đinh và phục sinh của Chúa Jesus, là sự hiệp thông với Chúa và giữa các giáo dân với nhau, là việc dâng lên lời tạ ơn Thánh lễ…

[11] Kinh Thánh, Mathew 18:17.

[12] Heron nghĩa là con diệc.

[13] Thầy giáo bắt bẻ từ “approach” (tiến lại) và Stephen sửa lại thành “reach” (với tới).

[14] Kafoozelum hay Kathusalem là tên một bài thơ của S.Oxon, kể về cô gái điếm thành Jerusalem có quan hệ với thầy tu. Boland gieo vần như thế thô tục và dị giáo hơn Stephen nhiều.

[15] Nguyên văn: “come-all-yous”, là những bản ballad đường phố của Ireland, thường bắt đầu bằng câu “O come all you…”

[16] Drisheen là món xúc xích làm từ tiết cừu, sữa và các gia vị, hương liệu vùng Cork.

[17] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Hoàn cảnh thay đổi và ta thay đổi theo.” Cả hai câu đều đúng ngữ pháp, câu thứ hai ăn vần hơn.

[18] Nhân vật trong vở Phu nhân thành Lyons, là con trai người làm vườn và thầm yêu trộm nhớ Pauline Deschapelles. Hầu tước Beauséant bị Pauline phụ bạc nên thuyết phục Melnotte giả làm Hoàng tử ngoại quốc lừa tình Pauline.

[19] Đây là câu đánh lừa người đọc. Thực tế Stephen đã đi lạc vào khu nhà thổ ở Dublin.

ật: Nguyễn Văn Hà —★— CHÂN DUNG CHÀNG NGHỆ SĨ ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Dân Trí
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.