Chủ nhật là để tưởng nhớ sự màu nhiệm của Chúa Ba ngôi. Thứ Hai tưởng nhớ Chúa Thánh thần. Thứ Ba tưởng nhớ các Thiên thần hộ mệnh. Thứ Tư tưởng nhớ Thánh Joseph. Thứ Năm tưởng nhớ Bí tích chân phúc nhất trên bàn thờ. Thứ Sáu tưởng nhớ Chúa Jesus chịu khổ nạn. Thứ Bảy tưởng nhớ Đức Mẹ đồng trinh Mary.
Mỗi sáng, cậu làm mới mình trước một hình ảnh hay phép màu thần thánh nào đó. Ngày của cậu bắt đầu bằng việc quả cảm dâng từng khoảnh khắc suy nghĩ, hành động của mình theo ý định của Giáo hoàng và tham dự lễ Mi-sa sớm. Không khí ban mai trong lành khuấy động lòng mộ đạo quả quyết ở cậu và khi quỳ giữa những người dự lễ khác tại bàn thờ phụ, dõi theo lời thì thầm của cha xứ xen giữa những lời kinh đọc dở, cậu thường liếc lên dáng cha vận áo lễ, đứng trong bóng tối giữa hai ngọn nến tượng trưng cho Cựu ước và Tân ước, rồi hình dung ra mình đang quỳ ở lễ Mi-sa dưới hầm mộ.
Cuộc sống thường nhật của cậu được đặt trong vòng mộ đạo. Bằng những lời cầu kinh, khấn nguyện ngắn, cậu hào phóng tích trữ cho các linh hồn nơi luyện ngục hàng thế kỷ ngày, tháng, năm, song khi dễ dàng đạt được vô số lần ăn năn theo quy chuẩn, cậu lại thấy chiến thắng tinh thần ấy không hoàn toàn ban thưởng cho lòng nhiệt thành của cậu, bởi cậu không biết mình đã được xóa đi bao nhiêu hình phạt thế tục nhờ cầu nguyện cho các linh hồn đau khổ kia. Cậu sợ rằng trong lửa luyện ngục, thứ lửa chỉ khác lửa địa ngục ở chỗ nó không tồn tại mãi, sự ăn năn của mình chẳng khác gì một giọt nước, nên hàng ngày cậu bắt linh hồn mình tu tập nhiều hơn.
Một ngày của cậu xoay quanh những gì cậu xem là nghĩa vụ mà mình phải làm trong đời, xoay quanh cái lõi năng lượng tinh thần. Cuộc đời cậu dường như tiến gần tới sự vĩnh hằng. Mọi suy nghĩ, lời nói, hành động, mọi khoảnh khắc ý thức đều được ngân lên rực rỡ trên thiên đường. Cũng có lúc, cậu thấy sự vang vọng tức thời ấy quá sống động đến nỗi linh hồn mình khi cầu nguyện giống như những ngón tay ấn xuống bàn phím của một máy tính tiền lớn và thấy ngay số hàng hóa mình mua được trên thiên đường, không biểu hiện thành con số mà thành cột hương mỏng manh hay cành hoa mảnh dẻ.
Tràng hạt mà cậu liên tục dùng để đọc kinh Mân Côi, vì cậu nhét nó trong túi quần để vừa đi vừa đọc trên phố, đã biến thành những vòng hoa có kết cấu vô hình, siêu phàm đến nỗi với cậu, chúng dường như không màu, không mùi lẫn không tên. Cậu dâng lễ bằng cách đọc bộ ba bài kinh thường nhật để linh hồn cậu trở nên lớn mạnh theo ba đức hạnh thần học - tin ở Chúa Cha, Đấng đã tạo ra cậu, hy vọng ở Chúa Con, Đấng đã cứu chuộc cậu và yêu thương Chúa Thánh thần, Đấng đã thánh hóa cậu. Cậu dâng lên Chúa Ba ngôi bộ ba lời cầu nguyện đó, thông qua Đức Mẹ Mary và nhân danh những phép màu đầy vui buồn và vinh quang của Bà.
Bảy ngày trong tuần lễ thánh, ngày nào cậu cũng khấn nguyện rằng một trong bảy món quà của Chúa Thánh thần sẽ được ban cho linh hồn cậu và ngày qua ngày sẽ xua đi những tội lỗi tày trời, những tội lỗi đã làm ô uế linh hồn cậu trong quá khứ rồi cậu cầu xin mỗi món quà vào ngày nó sẽ được ban, tự tin nó sẽ giáng hạ dẫu có lúc cậu thấy lạ khi cho rằng bản chất của sự khôn ngoan, hiểu biết, và tri thức quá khác nhau đến nỗi chúng cần được cầu nguyện riêng rẽ. Song cậu tin rằng với tiến bộ tinh thần mà mình đạt được trong tương lai, khó khăn này sẽ bị loại bỏ khi linh hồn tội lỗi của mình hết yếu ớt và được khai sáng bởi Chúa Thánh thần, là ngôi thứ ba trong Ba ngôi vị thần thánh. Cậu càng tin điều này hơn, và tin trong run sợ, vì bóng tối và sự tĩnh lặng thần thánh mà Chúa Thánh thần vô hình ngự ở đó, Đấng có biểu tượng là chim câu và ngọn gió dũng mãnh nên chống lại Ngài là tội lỗi không thể thứ tha, vì các cha xứ coi Ngài là Chúa, là Đấng huyền bí màu nhiệm vĩnh hằng nên họ tổ chức thánh lễ mỗi năm một lần, vận áo chùng đỏ như lửa.
Hình tượng mà qua đó bản chất và mối quan hệ gần gũi giữa các ngôi trong Ba ngôi vị thần thánh bị che mờ trong sách kinh cậu đọc - Chúa Cha trầm ngâm mãi mãi và giống như trong gương, hiện thân thần thánh của Ngài là Chúa Con vĩnh hằng và Chúa Thánh thần bắt nguồn từ Chúa Cha và Chúa Con cũng trầm ngâm mãi mãi. Hình tượng đó dễ dàng được tâm trí cậu chấp nhận vì lý do không hiểu được sự uy nghiêm của họ, thay cho sự thật giản đơn là Chúa đã yêu thương linh hồn cậu mãi mãi, từ rất lâu trước khi cậu được sinh ra trên thế gian này, từ rất lâu trước khi thế gian này tồn tại.
Cậu đã nghe những cái tên đầy yêu thương và thù ghét đó được xướng lên trang trọng trên điện thờ, trên bục giảng kinh, đã thấy những cái tên đó được trình bày trang trọng trong sách vở và tự hỏi sao chúng không thể lúc nào cũng ẩn náu trong linh hồn mình hoặc mình có thể mở miệng thốt ra chúng một cách thuyết phục. Cậu thường nổi cáu chốc lát chứ không giận mãi và luôn thấy mình vượt qua cơn giận như thể cơ thể cậu dễ dàng cởi bỏ lớp da hay lột bỏ lớp vỏ bên ngoài. Cậu đã cảm thấy một thứ thì thầm, khó thấy, tối tăm thấm vào trong và đốt cháy mình bằng sự dâm dục tội lỗi ngắn ngủi. Nó cũng vuột khỏi tầm với, khiến đầu óc cậu chỉ còn thấy sáng suốt và lãnh đạm. Nó dường như là tình yêu duy nhất, lòng thù ghét duy nhất ẩn náu trong linh hồn cậu.
Nhưng cậu không nghi ngờ thực tại tình yêu nữa, bởi chính Chúa đã yêu thương linh hồn cậu bằng tình yêu vĩnh cửu. Dần dà, khi linh hồn ngày càng trải nghiệm về mặt tinh thần nhiều hơn, cậu thấy cả thế giới tạo ra một biểu hiện bao la, cân xứng về sức mạnh và tình yêu của Chúa. Mỗi khoảnh khắc, xúc cảm cuộc sống là một món quà thần thánh, nên dù chỉ thấy chiếc lá lẻ loi trên cành, cậu cũng thầm ca ngợi và cảm tạ Đấng Trao ban. Thế giới với tất cả thực thể rắn và sự phức tạp của nó không tồn tại trong linh hồn cậu nữa, ngoại trừ giả thiết về sức mạnh, tình yêu và sự phổ quát thần thánh. Cả ý nghĩa thần thánh trong mọi bản chất, ý nghĩa không thể nghi ngờ được trao cho linh hồn cậu, khiến cậu gần như không hiểu tại sao mình phải sống tiếp. Song đó là một phần mục đích của Chúa và khác những kẻ khác, những kẻ đã phạm tội quá sâu sắc, kinh tởm chống lại mục đích của Chúa, cậu không dám hoài nghi ích lợi của việc đó. Ý thức về thực tại hoàn hảo, toàn năng, vĩnh cửu khiến linh hồn cậu nhân từ, hạ mình và đón nhận gánh nặng gồm các hành động mộ đạo, khấn nguyện, hành xác, dự lễ Mi-sa, chầu Thánh thể, và chỉ khi đó, lần đầu tiên từ khi nghiền ngẫm về sự nhiệm màu vĩ đại của tình yêu, cậu mới thực sự cảm thấy một chuyển động ấm áp trong lòng, giống như chuyển động của một sinh mệnh vừa được sinh ra hay của đức hạnh linh hồn vậy. Vẻ mê mẩn trước nghệ thuật tôn giáo, đôi tay giang ra, giơ cao, đôi môi hé mở, cặp mắt nhắm hờ của kẻ sắp ngất, với cậu là hình ảnh một linh hồn đang khấn nguyện, bẽ bàng và ngất đi trước Đấng Sáng tạo của mình.
Được cảnh báo trước về hiểm nguy của sự hưng phấn tinh thần, cậu không cho phép mình mảy may ngừng cầu nguyện và vẫn liên tục hành xác để xóa đi quá khứ tội lỗi hơn là để đạt lấy thánh tính hiểm nghèo. Mỗi giác quan của cậu đều chịu kỷ luật hà khắc. Để hành hạ thị giác, cậu đề ra lệ đi ngoài phố nhưng nhìn xuống, không liếc trái liếc phải lẫn liếc ra đằng sau. Mắt cậu tránh nhìn mắt phụ nữ.
Nhiều khi cậu dùng ý chí ngăn mắt mình lại bằng cách đột ngột nhìn lên khi đang đọc dở câu kinh và đóng sách lại. Để hành hạ thính giác, cậu không kiềm chế giọng khi nó vỡ ra, không hát hò cũng chẳng huýt sáo, và không cố thoát khỏi những tiếng ồn khiến cậu đau đớn, bực bội trong đầu như tiếng dao miết trên thớt, tiếng xẻng cào xỉ than, tiếng chổi quét qua thảm. Hành hạ khứu giác khó hơn vì cậu thấy về mặt bản năng, mình không ác cảm với mùi tệ hại nào, dù đó là mùi của thế giới bên ngoài như mùi phân, mùi hắc ín, hay mùi trên người mình, những mùi mà cậu có rất nhiều so sánh và thử nghiệm kỳ lạ. Cuối cùng, cậu thấy mùi duy nhất mà khứu giác mình ghê tởm là mùi tanh hôi y như nước tiểu đọng lâu ngày; và bất cứ khi nào có thể, cậu đều nghĩ đến cái mùi khó chịu ấy. Để hành hạ vị giác, cậu thực hành những thói quen nghiêm khắc khi ăn uống, theo sát từng kỳ nhịn ăn của Giáo hội và khiến tâm trí xao lãng khỏi hương vị các món ăn. Nhưng hành hạ xúc giác mới khiến cậu dụng công sáng tạo nhất. Cậu không bao giờ chủ ý thay đổi tư thế nằm, chọn tư thế ngồi khó chịu nhất, kiên nhẫn chịu đựng từng cơn ngứa, cơn đau, tránh xa lửa, giữ yên đầu gối suốt lễ Mi-sa trừ những buổi nghe giảng Phúc âm, cậu mặc kệ cổ và mặt ướt đầm đến nỗi không khí cũng làm chúng ngứa ngáy, và bất cứ khi nào không lần tràng hạt, cậu lại ép tay sát sườn, cứng đơ như người chạy bộ chứ không đút tay vào túi áo, túi quần hay cắp ra sau mông.
Cậu không ham muốn phạm tội tày trời nữa. Dẫu sao cậu cũng ngạc nhiên khi thấy sau quãng thời gian tự kiềm chế và mộ đạo phức tạp kia, mình lại dễ dàng đầu hàng những sai sót trẻ con, không đáng. Những lời cầu kinh, những kỳ nhịn ăn chẳng giúp cậu kiềm chế cơn giận là mấy khi nghe mẹ hắt hơi hay ai đó làm cậu gián đoạn việc khấn nguyện. Ý chí cậu cần phải nỗ lực nhiều hơn để đạt được xung lực thúc giục cậu trút bỏ sự bực bội ấy. Hình ảnh kìm nén những cơn giận vớ vẩn mà cậu thường ghi nhận được ở các thầy - miệng giật giật, môi mím chặt, gò má đỏ ửng - trở lại trong đầu cậu, làm cậu nản lòng, khi cậu so sánh hình ảnh đó với việc tu tập tính khiêm nhường của mình. Với cậu, nhập đời mình vào dòng chảy chung của những cuộc đời khác còn khó hơn bất cứ kỳ nhịn ăn hay lời cầu kinh nào và cậu cứ thất bại mãi, tự cảm thấy không hài lòng - điều khiến linh hồn cậu cuối cùng có cảm giác khô cạn về mặt tinh thần và tăng thêm nỗi ngờ vực, đắn đo. Linh hồn cậu lang thang trong lẻ loi cô độc, tại đó những Bí tích cũng hóa thành suối nguồn khô cạn. Thú tội trở thành con đường để cậu thoát khỏi những sai sót tủn mủn và không được sám hối. Việc cậu thực sự đón nhận Thánh thể cũng không đem tới cho cậu khoảnh khắc hòa tan của sự tự hiến dâng trinh bạch như những buổi hiệp thông tinh thần mà thỉnh thoảng cậu thực hiện sau khi chầu Thánh thể. Cuốn kinh cậu dùng trong những lần chầu ấy là một cuốn sách cũ, ít người dùng, do Thánh Alphonsus Liguori viết, chữ đã ngả mờ, giấy đã ố vàng. Một thế giới tàn phai của tình yêu nhiệt thành và những lời hồi đáp trinh bạch như được gợi lên trong linh hồn cậu khi đọc những trang sách ấy, trong đó hình ảnh bài Nhã ca vang lên hòa cùng lời khấn nguyện của người dự lễ. Một giọng nói vô thanh như xoa dịu linh hồn cậu, kể ra những cái tên, những vinh quang, vực linh hồn cậu dậy như trong đám cưới rồi bỏ đi, giục giã nó như giục cô dâu nhìn về phía trước, nhìn từ Amana[1]và từ dãy núi của hổ báo và linh hồn tự hiến dâng, như đáp lại bằng một giọng vô thanh: Inter ubera mea commorabitur[2].
Ý nghĩ hiến dâng này có sức hút nguy hiểm với tâm trí cậu vì cậu thấy linh hồn mình lại bị những giọng nói xác thịt nhũng nhiễu vây quanh, những giọng nói bắt đầu thầm thì khi cậu suy ngẫm và cầu nguyện. Ý nghĩ này cho cậu một sức mạnh mãnh liệt để hiểu ra rằng chỉ cần đồng ý, thoáng cái trong suy nghĩ thôi, cậu có thể hủy hoại tất cả những gì mình đã làm. Cậu như thấy một dòng nước lũ chầm chậm tràn tới đôi chân trần và chờ đợi ngọn sóng nhỏ lặng lẽ rụt rè mờ nhạt đầu tiên chạm vào làn da nóng hổi của mình. Rồi khi làn nước đó suýt chạm vào mình và cậu suýt đồng ý với tội lỗi kia, thì cậu lại thấy mình đứng cách xa dòng nước lũ, trên bờ biển khô ráo, nhờ hành động ý chí đột ngột hoặc lời nói đột ngột và khi thấy vạch nước lũ màu bạc lùi xa rồi lại chầm chậm tiến tới chân mình, cậu thấy một luồng sức mạnh và sự hài lòng mới làm linh hồn lại run rẩy khi hiểu rằng mình đã không đầu hàng cũng không hủy hoại tất cả.
Sau nhiều lần vượt qua dòng nước lũ cám dỗ theo cách ấy, cậu càng thêm âu lo và tự hỏi liệu thánh ân mà mình từ chối mất đi kia có bị xà xẻo từng chút một không. Niềm tin rõ ràng về việc được xá tội trở nên mờ nhạt và nỗi sợ mơ hồ đến sau đó, rằng linh hồn mình đã thực sự sa ngã mà cậu không biết. Thật khó để giành lại ý thức xưa cũ về tình trạng ân điển bằng cách tự nhủ mình đã cầu Chúa mỗi khi bị cám dỗ và rằng ân điển mà cậu cầu xin hẳn đã được Chúa ban vì Chúa có bổn phận phải ban cho. Cuối cùng, những cám dỗ xuất hiện thường xuyên và đầy hung bạo cho cậu thấy sự thật những gì mà mình từng nghe về phiên tòa xét xử thần thánh. Những cám dỗ xuất hiện thường xuyên và đầy hung bạo là bằng chứng rằng thành trì linh hồn cậu không sụp đổ và rằng quỷ dữ giận điên lên muốn nó sụp đổ.
Thường thì khi cậu thú nhận xong những nghi ngờ, đắn đo của mình - phút lơ đãng thoáng qua khi cầu nguyện, chút giận dữ vớ vẩn trong tâm hồn, sự ương ngạnh phảng phất trong lời nói hay hành động - thì cha xứ sẽ bảo cậu hãy nêu một tội lỗi đã qua trước khi ban lời xá tội. Cậu khiêm nhường, hổ thẹn nói ra và lại ăn năn vì tội lỗi đó. Cậu bẽ bàng, nhục nhã khi nghĩ mình sẽ không bao giờ hoàn toàn thoát khỏi nó, dù có sống thánh thiện hay đạt được điều tốt đẹp, hoàn hảo. Cảm giác tội lỗi bất an luôn hiện diện nơi cậu. Cậu sẽ thú tội, hối lỗi và được ân xá, rồi lại thú tội, hối lỗi và được ân xá một cách vô ích. Có lẽ lần thú tội vội vã đầu tiên mà cậu cố thực hiện vì sợ xuống địa ngục không tốt lắm? Có lẽ vì lo lắng về bản án sắp tới, cậu đã không thực sự đau buồn vì tội lỗi của mình? Nhưng cậu biết, dấu hiệu chắc chắn nhất rằng lời thú tội là tốt và mình đã thực sự đau buồn vì tội lỗi của bản thân là cậu phải sửa đổi đời mình.
“Mình đã sửa đổi đời mình chưa nhỉ?” Cậu tự hỏi. Viên Giám đốc đứng lọt trong ô cửa sổ, quay lưng về phía ánh sáng, tì khuỷu tay vào tấm mành cửa màu nâu.
Khi nói, ông mỉm cười, chầm chậm đong đưa và cài lại sợi dây của mấy tấm mành khác, còn Stephen đứng trước mặt ông, nhìn theo ánh sáng mùa hè đang nhạt dần trên mái nhà hay cử động khéo léo chậm rãi của ngón tay vị tu sĩ một lúc. Gương mặt viên Giám đốc hoàn toàn nằm trong bóng tối, nhưng ánh sáng nhạt dần sau lưng ông chạm vào hai bên thái dương hằn sâu và đường cong của hộp sọ.
Stephen cũng dỏng tai nghe ngữ điệu và những chỗ ngắt nghỉ trong lời ông khi ông thân mật, nghiêm trang nói về các đề tài chẳng liên quan: về kỳ nghỉ vừa qua, các trường dòng Tên ở nước ngoài, việc hoán đổi giáo viên. Giọng nói thân mật, nghiêm trang của ông dễ dàng đi cùng câu chuyện và mỗi khi nó dừng lại, Stephen muốn nó tiếp tục vang lên bằng những câu hỏi đáng kính. Cậu biết câu chuyện là phần mở đầu và tâm trí cậu chờ đợi phần tiếp theo. Từ khi nhận được lời nhắn lên gặp mặt của Giám đốc trường, cậu đã nghĩ rất lâu để tìm ra ý nghĩa lời nhắn ấy. Suốt một thời gian dài bất an, cậu đã ngồi trong phòng khách của trường, đợi Giám đốc tiến vào, mắt cậu hết nhìn bức tranh đứng đắn này tới bức tranh đứng đắn khác treo trên tường còn tâm trí hết suy đoán điều này tới điều nọ cho đến khi ý nghĩa lời nhắn trở nên gần như thông suốt. Rồi ngay khi cậu ước vì một lý do khó đoán nào đó, Giám đốc trường sẽ không đến nữa thì cậu nghe tiếng tay nắm cửa xoay và tiếng sột soạt của vạt áo chùng.
Viên Giám đốc bắt đầu nói về các thầy tu dòng Dominic, dòng Francis và tình bạn giữa Thánh Thomas và Thánh Bonaventure. Ông nghĩ áo chùng dòng Các Thầy Tiểu đệ Capuchin trông khá là…
Stephen đáp lại nụ cười bao dung của vị tu sĩ và không lo lắng về việc nêu ý kiến, cậu khẽ nhếch mép cười đầy hồ nghi:
- Thầy tin là – Viên Giám đốc nói tiếp – các thầy tu dòng Các Thầy Tiểu đệ Capuchin có bảo với nhau rằng sẽ bỏ chiếc áo ấy và theo gương các thầy dòng Francis khác.
- Em tưởng họ mặc nó trong tu viện thôi? – Stephen hỏi.
- Ồ, dĩ nhiên. – Viên giám đốc đáp – Mặc trong tu viện thì đúng rồi nhưng mặc khi ra đường thì thầy nghĩ nên bỏ nó đi, đúng không?
- Em đoán là mặc nó rất phiền hà.
- Dĩ nhiên, dĩ nhiên rồi. Cứ hình dung khi thầy ở Bỉ ấy, thầy từng thấy họ ra ngoài đạp xe, bất chấp trời mưa gió và vận chiếc áo đó, kéo vạt lên tới tận đầu gối! Thật khôi hài. Les jupes[3], ở Bỉ họ gọi thế.
Nguyên âm bị biến đổi nên cậu nghe không rõ.
- Họ gọi nó là gì ạ?
- Les jupes.
- Ôi!
Stephen lại mỉm cười đáp lại nụ cười mà cậu không thể thấy trên khuôn mặt bị che tối của viên Giám đốc, hình ảnh và bóng dáng nụ cười đó lướt nhanh qua đầu cậu khi giọng điệu trầm lắng thận trọng kia rót vào tai. Cậu bình thản nhìn khoảng trời tối dần trước mặt, vui mừng với buổi tối mát mẻ, với ráng chiều vàng vọt giúp giấu đi ngọn lửa nhỏ đang bừng lên trên má cậu.
Tên các loại váy áo phụ nữ hay những thứ mềm mại, tinh tế dùng để làm ra chúng luôn khiến cậu nghĩ tới một mùi hương tinh tế tội lỗi. Hồi bé, cậu hình dung sợi dây cương dùng cho ngựa là những dải lụa mỏng manh và cậu bị sốc khi thấy bộ yên cương bằng da bóng nhẫy ở Stradbrooke. Cậu cũng bị sốc khi lần đầu cảm nhận thứ tất dễ rách của phụ nữ dưới ngón tay rụt rè của mình, vì cậu không còn nhớ những gì đã được học ngoại trừ những tiếng vọng lại hoặc những thứ đóng vai trò như lời tiên đoán về tình trạng của mình, nên chỉ khi ở giữa những từ ngữ êm dịu, nằm giữa những vật liệu mềm mại như hoa hồng, cậu mới dám cảm nhận linh hồn, thể xác của một phụ nữ đang cử động nhẹ nhàng.
Nhưng lời nói kia không thành thật bởi cậu biết một tu sĩ không nên nói năng khinh suất về chủ đề này. Lời nói khinh suất kia đã được cố tình nói ra và cậu thấy cặp mắt trong bóng tối đang dò xét khuôn mặt cậu. Dù đã nghe, đã đọc về mưu mẹo của các tu sĩ dòng Tên, cậu đều thẳng thắn gạt đi cũng như không rút được kinh nghiệm gì. Các thầy giáo, ngay cả khi không thu hút cậu, thì với cậu, họ vẫn luôn là những tu sĩ thông minh, nghiêm túc, những giám quản khỏe mạnh, sôi nổi. Cậu nghĩ về họ với tư cách những người kỳ cọ mình mẩy bằng nước lạnh và mặc đồ vải lanh sạch sẽ. Suốt những năm tháng sống cùng họ ở Clongowes và Belvedere, cậu chỉ ăn đòn có hai lần và dù hai lần đều bị đổ tội sai, cậu biết mình đã thường xuyên thoát tội. Suốt những năm tháng đó, cậu chưa bao giờ nghe thầy giáo nào nói lời khiếm nhã, chính họ đã dạy cậu giáo lý và mong cậu có một cuộc sống tốt đẹp rồi khi cậu mắc lỗi nặng, chính họ đã dẫn cậu quay lại với thánh ân. Sự hiện diện của họ khiến cậu dè dặt khi làm kẻ chơi thể thao dở tệ ở Clongowes và cũng khiến cậu dè dặt khi có được vị trí mập mờ ở Belvedere. Cảm giác bất biến đó vẫn đọng lại trong cậu tới tận năm cuối đời học sinh. Cậu chưa từng cãi lời hay cho phép đám bạn ngỗ nghịch dụ mình từ bỏ thói quen lẳng lặng nghe lời, ngay cả khi nghi ngờ lời thầy giáo nói, cậu cũng không để lộ nghi ngờ đó ra. Gần đây, vài đánh giá của các thầy nghe hơi trẻ con với cậu và khiến cậu thấy thương hại, hối tiếc như thể mình đang từ từ thoát khỏi cái thế giới quen thuộc và lắng nghe nó lần cuối. Hôm nọ, khi đám học trò vây quanh một thầy tu ở nhà kho gần nhà nguyện, cậu đã nghe thầy tu ấy nói:
- Thầy tin Ngài Macaulay[4] là người không thể phạm trọng tội nào trong đời, tức là tội cố tình phạm phải ấy.
Vài đứa khi đó bèn hỏi thầy là Victor Hugo có phải văn hào vĩ đại nhất của Pháp không. Thầy bèn bảo Victor Hugo khi quay lưng lại với Giáo hội thì viết không hay bằng phân nửa hồi ông ta còn theo Cơ đốc giáo.
- Nhưng rất nhiều nhà phê bình nổi tiếng người Pháp, – Thầy nói – cho rằng Victor Hugo dù vĩ đại cũng không có giọng văn thuần Pháp như Louis Veuillot.
Ngọn lửa nhỏ mà lời nói bóng gió của viên Giám đốc đã làm bừng lên trên má Stephen vụt tắt và mắt cậu vẫn bình thản nhìn lên bầu trời không màu. Nhưng nỗi hồ nghi bất an vẫn bay lượn đây đó trong đầu cậu. Những ký ức bị che giấu trôi nhanh trước mắt: cậu nhận ra những khung cảnh, con người mà cậu ý thức được rằng mình đã không hiểu điều kiện sống còn ở họ. Cậu thấy mình đang đi quanh sân tập bóng, nhìn các môn thể thao được chơi ở Clongowes và lôi thanh thịt khô trong mũ bóng chày ra xơi. Vài thầy tu dòng Tên đang đi bộ cạnh đường dành cho xe đạp chạy, có vài quý bà đi cùng. Những lời lẽ được nói ở Clongowes như vọng ra từ hang động sâu nhất trong tâm trí cậu.
Khi đang lắng nghe những tiếng vọng xa xôi đó giữa sự tĩnh lặng của phòng khách Giám đốc thì cậu nhận ra vị tu sĩ đổi giọng khi nói với mình.
- Stephen, hôm nay, thầy gọi em lên đây vì thầy muốn bàn với em một chuyện rất quan trọng.
- Vâng, thưa thầy.
- Có bao giờ em thấy mình có thiên hướng không? Stephen tính mở miệng bảo có, rồi đột nhiên im bặt. Vị tu sĩ vẫn chờ câu trả lời của cậu và nói thêm:
- Ý thầy là, trong lòng em, trong tâm hồn em, em từng có khao khát gia nhập dòng Tên không? Hãy nghĩ xem.
- Thỉnh thoảng, em có nghĩ tới việc đó. – Stephen đáp. Vị tu sĩ buông sợi dây kéo mành cửa ra rồi chắp tay lại, nghiêm trang tì cằm lên đó, hiệp thông với chính mình.
- Ở một trường như vậy, – Một lúc sau ông nói – chỉ có một, hoặc hai, ba em được Chúa gọi sống cuộc đời tu hành. Những cậu bé như thế nổi bật so với chúng bạn nhờ lòng mộ đạo, nhờ gương tốt mà chúng nêu ra trước người khác. Bạn bè ngưỡng mộ chúng, chúng có lẽ được các thành viên hội thiện nguyện chọn với tư cách Hội trưởng. Và em, Stephen ạ, là cậu bé như thế ở trường này, Hội trưởng hội Đức mẹ Chân phúc. Có lẽ em chính là người được Chúa định sẽ đến với Ngài.
Một nốt nhạc mạnh mẽ đầy tự hào làm giọng vị tu sĩ tăng thêm trọng lực, khiến tim Stephen đập nhanh hơn.
- Đón nhận lời kêu gọi ấy, Stephen ạ, – Vị tu sĩ nói tiếp – là vinh dự to lớn nhất mà Chúa Quyền năng có thể ban cho một người. Không vua chúa hay hoàng đế nào trên thế gian này có được sức mạnh của linh mục nhà Chúa. Không thiên thần hay tổng lãnh thiên thần nào trên trời, không vị thánh nào, thậm chí cả Đức Mẹ đồng trinh, có được sức mạnh của linh mục nhà Chúa: sức mạnh chìa khóa, sức mạnh trói buộc và rời xa tội lỗi, sức mạnh trừ tà, sức mạnh xua đuổi các linh hồn xấu xa khỏi các tạo vật của Chúa, những linh hồn có sức mạnh bao phủ họ. Sức mạnh ấy, uy quyền ấy là để khiến Đức Chúa vĩ đại của Thiên đường giáng xuống từ bàn thờ, trong hình hài bánh và rượu. Thật là sức mạnh kinh khủng, Stephen ạ!
Ngọn lửa lại bừng lên trên má Stephen khi cậu nghe trong bài diễn văn đầy kiêu hãnh kia tiếng vọng của những suy ngẫm kiêu hãnh của chính mình. Biết bao lần cậu đã hình dung ra mình là linh mục, bình tĩnh và khiêm nhường sử dụng sức mạnh khủng khiếp ấy, sức mạnh của các thiên thần và các vị thánh đại diện cho lòng tôn kính! Linh hồn cậu thích bí mật suy ngẫm khát khao đó. Cậu đã hình dung mình, một linh mục trẻ tuổi kín kẽ, bước nhanh vào buồng xưng tội, bước tới chỗ bệ thờ, quỳ gối, xông hương và thực hiện những hành động mơ hồ của các linh mục, những hành động khiến cậu hài lòng vì sự nhang nhác lẫn cách xa thực tại của chúng. Trong cuộc sống mập mờ mà cậu có trong suy ngẫm ấy, cậu đã giả định ra giọng nói, cử chỉ của các tu sĩ khác nhau. Cậu từng quỳ dịch sang một bên, lắc nhẹ bình hương y hệt một tu sĩ, áo lễ của cậu cũng tung bay y hệt một tu sĩ khác khi cậu quay lại bệ thờ sau khi ban phúc cho mọi người. Trên hết, cậu thấy hài lòng khi lấp đầy chốn ấy bằng những quang cảnh lờ mờ trong trí tưởng tượng. Cậu chùn bước trước vẻ nghiêm trang của Cha chủ lễ vì không vui khi hình dung mình sẽ kết thúc mọi sự phô trương mơ hồ hay được chỉ định quá rõ phải thực hiện nghi lễ này nọ rồi cuối cùng là có chức vụ. Cậu mong mình ở cấp thấp, mặc áo phó tế trong các lễ trọng, đứng xa bàn thờ, bị mọi người quên đi, vai choàng khăn lễ, dưới nếp khăn là tay cầm đĩa đựng bánh thánh, và khi dâng lễ xong thì đứng như phó tế trong tấm áo thụng màu vàng tại bậc thang dưới Cha chủ lễ, tay chắp lại, mặt hướng về phía người dự lễ, miệng ê a câu “Ite missa est”[5]. Nếu có lần nào cậu hình dung mình là Cha chủ lễ, thì đó là trong các bức tranh vẽ lễ Mi-sa trong sách lễ của cậu, ở một nhà thờ không có người cầu nguyện, trừ thiên thần hiến sinh, tại một bàn thờ trơ trụi và được một thầy tu trẻ hơn cậu chút đỉnh phụng sự. Chỉ riêng trong hành động cúng lễ hay ban thánh thể mơ hồ, ý chí cậu đã chùn lại, không muốn chạm tới hiện thực, một phần đó là do sự thiếu vắng nghi lễ được chỉ định, cái nghi lễ luôn buộc cậu chây ỳ dù cậu đã cho phép sự im lặng che đậy cơn giận dữ hay niềm kiêu hãnh của mình hoặc chịu đựng chỉ một cái ôm mà cậu hằng khao khát.
Giờ cậu im lặng, kính cẩn lắng nghe lời đề nghị của vị tu sĩ kia và qua lời nói của thầy, cậu nghe thấy rành rọt hơn một giọng nói bảo cậu tiến tới, ban cho cậu kiến thức và sức mạnh bí mật. Rồi cậu sẽ biết Simon Magus phạm tội gì[6] và tội nào chống lại Chúa Thánh thần vì tội đó không thể được tha thứ. Cậu sẽ biết những điều khó hiểu mà người khác không biết, từ đám người được thụ thai và sinh ra là con cái của sự thịnh nộ[7]. Cậu sẽ biết về tội lỗi, những khát khao tội lỗi, suy nghĩ tội lỗi, hành động tội lỗi của kẻ khác, nghe các bà các cô tủi hổ thì thầm vào tai cậu trong buồng xưng tội dưới bóng nhà nguyện tối tăm. Nhưng ở lễ thụ phong, để tay mình được bí mật miễn nhiễm với tội lỗi, linh hồn cậu lần nữa phải thanh sạch, vượt qua sự bình yên màu trắng của bàn thờ. Không tội lỗi nào vương trên đôi tay mà cậu sẽ giơ ra bẻ bánh thánh, không tội lỗi nào vương trên đôi môi để cậu ăn và uống sự nguyền rủa bản thân chứ không phải để nhận Thánh thể. Cậu sẽ nắm giữ kiến thức và sức mạnh bí mật của mình, trong sạch như một kẻ vô tội và sẽ làm linh mục đời đời theo phẩm trạch của Melchizedek[8].
- Sáng mai, thầy sẽ tuyên bố trong lễ Mi-sa, – Viên Giám đốc nói – rằng Chúa Toàn năng có thể đã hé lộ cho em thấy ý định thần thánh của Ngài. Và Stephen ạ, hãy để thầy có lời cầu nguyện đặc biệt tới vị thánh bảo hộ cho em, kẻ tử vì đạo đầu tiên, rất có ảnh hưởng với Chúa, để Chúa khai sáng tâm trí em. Nhưng Stephen, em phải chắc rằng mình có thiên hướng vì thật khủng khiếp nếu sau này em phát hiện ra là mình chẳng có. Hãy nhớ, một lần là linh mục, mãi mãi là linh mục. Sách giáo lý dạy rằng Bí tích dòng Tên là một trong những Bí tích chỉ có thể đón nhận một lần vì nó in hằn lên linh hồn ta dấu ấn tinh thần không phai, không thể xóa mờ. Vậy nên em phải cân nhắc kỹ càng trước chứ không phải sau lễ thụ phong. Đây là vấn đề nghiêm túc, Stephen ạ, vì việc cứu rỗi linh hồn bất tử của em phụ thuộc vào nó. Nhưng chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện.
Thầy mở rộng cánh cửa nặng nề rồi đưa tay ra như đưa tay cho bằng hữu cùng sống đời tu hành. Stephen bước ra khoảng thềm rộng phía trên bậc thang và cảm nhận sự mơn man của bầu không khí buổi chiều dịu nhẹ. Về hướng nhà thờ Findlater, một nhóm bốn chàng trai trẻ đang khoác tay sải bước, lúc lắc đầu và bước theo giai điệu sôi nổi của người lĩnh xướng đàn concertina. Thứ nhạc đó chợt trỗi dậy khắp các kết cấu kỳ diệu trong tâm trí cậu, y như những ô nhạc trỗi dậy, nhẹ nhàng yên ả phá hủy các kết cấu đó, y như ngọn sóng bất chợt phá hủy các ụ pháo bằng cát của lũ trẻ. Cười nhạo bầu không khí tầm phào đó, cậu ngước mắt nhìn mặt vị tu sĩ và thấy trên mặt thầy phản chiếu ánh sáng ủ dột của một ngày rầu rĩ, cậu bèn từ từ buông tay thầy ra, bàn tay được yếu ớt đón nhận trong tình bằng hữu.
Khi bước xuống cầu thang, cậu vẫn có ấn tượng tới cái mặt nạ ủ dột phản chiếu một ngày rầu rĩ nơi ngưỡng cửa trường học, cái ấn tượng nổi bật hơn sự tự hiệp thông đầy rắc rối của cậu. Rồi bóng đen cuộc đời tu hành nghiêm nghị trôi qua ý thức cậu. Đó là một cuộc đời tẻ nhạt, trật tự, nghiêm nghị đang chờ cậu, cuộc đời không có các mối quan tâm vật chất. Cậu tự hỏi mình sẽ trải qua đêm đầu tiên của kẻ sơ tu thế nào và sẽ nản lòng ra sao khi thức dậy vào sáng hôm sau trong ký túc xá. Cái mùi khó chịu trong hành lang dài ở trường Clongowes xuất hiện trở lại và cậu nghe thấy tiếng thì thầm kín đáo của ngọn lửa khí đốt đang cháy. Lập tức, mọi ngóc ngách của nỗi bất an trong lòng cậu liền tỏa sáng. Tiếp đó, mạch cậu bồn chồn đập nhanh và tiếng ầm ĩ của vô số từ ngữ vô nghĩa bối rối kéo các suy nghĩ hợp lẽ của cậu đi tứ tán. Phổi cậu phồng lên xẹp xuống như thể cậu hít phải luồng không khí khó chịu ẩm ướt, ấm áp và cậu lại ngửi thấy luồng không khí ấy trong nhà tắm của trường Clongowes, trên thứ nước lầy lội có màu đất cỏ.
Bản năng nào đó, tỉnh thức từ ký ức kia, mạnh hơn cả việc học hành lẫn lòng mộ đạo, ngọ nguậy bên trong cậu sau mỗi bước tiến tới cuộc đời tu hành, một bản năng tinh tế và thù địch, trang bị cho cậu chống lại việc đồng ý sống cuộc đời đó. Cậu khó chịu với sự giá lạnh và trật tự của cuộc đời đó. Cậu thấy mình thức dậy giữa cái lạnh của buổi sớm mai, xếp hàng cùng những người khác dự lễ Mi-sa sáng, vô vọng cố đọc kinh trong khi bụng dạ cứ chộn rộn buồn nôn. Cậu thấy mình ngồi tại bàn ăn tối với cả trường. Khi ấy, cái gì đã biến thành nỗi nhút nhát thâm căn cố đế, khiến cậu kinh tởm khi ăn uống dưới mái nhà xa lạ? Cái gì đã biến thành niềm kiêu ngạo tinh thần, khiến cậu luôn xem mình như thực thể tách biệt khỏi mọi trật tự?
Đức Cha dòng Tên, Stephen Dedalus.
Cái tên trong cuộc đời mới mẻ kia biến thành những kí tự trước mắt cậu và theo sau nó là cảm giác trong đầu cậu về một khuôn mặt hay màu sắc trên mặt không rõ ràng. Màu sắc ấy nhạt dần rồi lại bừng lên y hệt ánh sáng biến đổi của viên gạch đỏ xám xịt. Đó có phải tia sáng đo đỏ sống sượng mà cậu thường thấy vào những buổi sáng mùa đông trên hõm cổ nhẵn nhụi của các thầy tu? Khuôn mặt đó không có mắt, phả mùi chua và toát ra vẻ mộ đạo, hằn những mảng hồng của cơn giận bị bóp nghẹt. Đó chẳng phải bóng dáng khuôn mặt của một thầy tu dòng Tên trong đầu cậu, thầy tu mà vài đứa học trò gọi là Cằm xỉa còn vài đứa khác gọi là thầy Foxy Campbell đó ư?
Lúc này, cậu đang đi qua cửa tu viện trên phố Gardiner và mơ hồ tự hỏi nếu mình gia nhập dòng Tên thì đâu là cửa sổ phòng mình. Rồi cậu tự hỏi về sự mơ hồ trong câu hỏi ấy, sự xa xôi trong linh hồn từ những gì cậu hình dung về thánh đường dòng Tên, về việc yếu ớt nắm giữ trật tự và sự phục tùng của mình suốt bao năm qua, khi một hành động xác định, không thể hủy bỏ đe dọa sẽ chấm dứt đúng lúc, mãi mãi và vĩnh viễn sự tự do của cậu. Giọng nói của viên Giám đốc, giọng nói thúc giục cậu đưa ra lời tuyên bố đáng tự hào về Giáo hội và về bí ẩn, sức mạnh của giới tăng lữ cứ vu vơ lặp lại trong đầu cậu. Linh hồn cậu không ở đó lắng nghe và chào đón nó. Cậu biết lời cổ vũ mà mình đã nghe giờ biến thành câu chuyện trịnh trọng vu vơ. Cậu sẽ không bao giờ lắc bình hương trước hòm thánh với tư cách linh mục. Số phận của cậu lảng tránh các trật tự tôn giáo xã hội. Sự khôn ngoan trong lời đề nghị của viên Giám đốc không chạm tới cốt tủy cậu. Cậu được định sẽ học lấy sự khôn ngoan mà không cần tới kẻ khác hoặc tự học lấy sự khôn ngoan của kẻ khác khi lang thang giữa cạm bẫy thế gian.
Cạm bẫy thế gian chính là các phương thức phạm tội. Cậu sẽ sa ngã. Cậu chưa sa ngã nhưng sẽ lặng lẽ thoáng cái sa ngã luôn. Không sa ngã thật khó, quá khó. Cậu cảm thấy sự sa ngã lặng lẽ đó trong lòng mình, bởi nó sẽ xảy ra trong chốc lát. Sa ngã, nhưng chưa đâu, sắp thôi.
Cậu băng qua cây cầu bắc trên dòng Tolka và lạnh lùng ngước nhìn một lúc đền thờ Đức Mẹ đồng trinh màu xanh đã bạc màu. Đền thờ trông như con gà đứng trên ngọn sào giữa một khu dân cư toàn những mái nhà tranh nghèo nàn hình đùi lợn. Rồi cậu rẽ trái, men theo con đường dẫn về nhà. Bắp cải hỏng tỏa mùi chua thoang thoảng, phả về phía cậu từ các vườn rau trên triền sông. Cậu mỉm cười, nghĩ rằng chính sự mất trật tự, vô tổ chức, hỗn loạn ở nhà mình và sự trì trệ của đời sống thực vật này sắp giành thắng lợi trong lòng cậu. Một tràng cười ngắn bật ra khi cậu nghĩ tới tay thợ cày làm thuê đơn độc trong mấy mảnh vườn rau phía sau nhà mình, kẻ mà cả nhà cậu đặt biệt danh là gã luôn đội mũ. Cậu bật cười lần thứ hai, cười to hơn lần đầu sau phút ngơi nghỉ. Tiếng cười vô tình bật ra khi cậu nghĩ tới gã đội mũ đó đã làm việc thế nào - lần lượt nhìn ngó bốn phương trời rồi mới tiếc rẻ dùng mai cuốc đất.
Cậu mở toang cánh cửa không cài then nơi mái hiên rồi băng qua sảnh đợi trơ trụi, tiến vào bếp. Các em trai, em gái cậu đang ngồi quanh bàn ăn. Trà đã gần hết, chỉ còn lại giọt cuối của thứ nước trà lần hai đọng ở đáy mấy cái bình nhỏ bằng thủy tinh và mấy lọ mứt được dùng làm tách. Những mẩu vụn bánh mì tẩm đường bị bỏ đi, bị dính nước trà nên biến thành màu nâu, nằm rải rác trên bàn. Những vũng nước trà nho nhỏ nằm đây đó trên thớt, và con dao có cán ngà bị rạn nằm kẹt trong ruột một chiếc bánh gối bị gặm nham nhở.
Ánh sáng xanh xám lặng lẽ buồn bã của một ngày tàn chiếu qua cửa sổ và cửa cái để mở, che phủ và lặng lẽ làm dịu đi bản năng ăn năn đột nhiên trỗi dậy trong lòng cậu. Tất cả những gì chối bỏ của các em cậu lại được thoải mái trao cho cậu - đứa lớn nhất, nhưng ánh chiều lặng lẽ cho thấy mặt chúng không lộ vẻ gì ác ý.
Cậu ngồi vào bàn gần chúng và hỏi bố mẹ đâu. Một đứa trả lời:
- Đi xem nhà rồi.
Lại chuyển nhà! Một thằng tên Fallon ở trường Belvedere hay nở nụ cười ngớ ngẩn và hỏi sao cậu hay chuyển nhà thế. Cậu thoáng nhăn mày khinh bỉ rồi tối sầm mặt lại khi nghe giọng cười ngớ ngẩn của nó.
Cậu hỏi:
- Cho anh hỏi tế nhị điều này, sao nhà mình lại chuyển đi?
- Vì chủ nhà sẽ đuổi mình đi.
Cậu em út ngồi ở phía xa lò sưởi bắt đầu cất giọng hát bài Thường trong đêm tĩnh mịch. Từng đứa một bắt đầu cất giọng cho tới khi cả đám biến thành một dàn hợp xướng. Chúng sẽ hát suốt mấy giờ liền, hết giai điệu này tới giai điệu khác, hết bè này tới bè khác, cho tới khi tia sáng nhợt nhạt cuối cùng tắt lịm nơi đường chân trời, mây buổi tối đầu tiên xuất hiện và màn đêm buông xuống.
Cậu đợi một lúc, lắng nghe, trước khi hòa giọng cùng các em. Cậu lắng nghe mà lòng đau đớn vì âm bồi mệt mỏi đằng sau những giọng hát ngây thơ tươi tắn yếu ớt của chúng. Thậm chí trước khi bước chân vào đời, chúng đã tỏ ra mệt mỏi trên bước đường ấy.
Cậu nghe dàn hợp xướng trong nhà bếp kia được vọng lại, nhân lên gấp nhiều lần qua tiếng vọng bất tận của các dàn hợp xướng gồm vô vàn thế hệ trẻ em và nghe trong đó một tiếng vọng cũng là nốt nhạc lặp lại của sự mệt mỏi, đớn đau. Rồi cậu nhớ ra Newman cũng đã nghe thấy nốt nhạc đó trong dòng thơ vụn vỡ của Virgil: Hãy nói đi, như chính Tạo hóa đã nói, với nỗi đau và sự mệt mỏi nhưng hãy hy vọng điều tốt đẹp hơn, những điều lúc nào cũng là kinh nghiệm của con cái Tạo hóa.
Cậu không đợi được nữa.
Từ cửa quán Byron sang cổng nhà nguyện Clontarf, từ cổng nhà nguyện Clontarf đến cửa quán Byron, rồi trở lại nhà nguyện, trở lại quán rượu, ban đầu cậu còn chậm rãi rảo bước, tỉ mỉ đặt chân vào các khoảng trống trên lối đi lát đá xen kẽ, sau cậu vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc thơ. Một giờ đã trôi qua kể từ lúc bố cậu vào gặp Dan Crosby, viên Trợ giáo, để tìm cho cậu thứ gì đó về trường Đại học nọ. Suốt một giờ, cậu đã đi tới đi lui, chờ đợi. Nhưng cậu không đợi được nữa.
Cậu đột ngột rảo bước về phía con đê chắn biển, bước vội vã vì sợ bị tiếng huýt sáo chói tai của bố sẽ gọi giật lại. Chẳng mấy chốc, cậu đã an toàn rẽ vào khúc quanh chỗ trại quân cảnh.
Đúng, mẹ cậu chống đối ý tưởng ấy, vì cậu đọc được sự im lặng bơ phờ nơi bà. Sự thiếu tin tưởng của mẹ khiến cậu cắn rứt sâu sắc hơn lòng hãnh diện của bố. Cậu lạnh lùng nghĩ mình đã thấy đức tin đang phai nhạt trong lòng lại già đi và mạnh lên trong mắt mẹ thế nào. Lòng cậu tích tụ một sự phản kháng mờ nhạt, làm tối tăm đầu óc cậu hệt như đám mây che đi sự bất trung của mẹ. Khi nó trôi đi, như một đám mây, khiến đầu óc cậu trong trẻo, dễ bảo trở lại, thì cậu mơ hồ hiểu ra và không hề nuối tiếc việc lần đầu lặng lẽ tách khỏi cuộc sống của cả nhà.
Trường Đại học! Thế là cậu đã vượt qua thử thách của đám lính gác, đám giám hộ thời niên thiếu, của những người tìm cách giữ cậu lại để cậu phụ thuộc vào họ và phụng sự mục đích của họ. Niềm tự hào sau sự mãn nguyện nâng cậu lên hệt những con sóng dài, chậm rãi. Mục đích mà cậu sinh ra để phụng sự chưa nhìn thấy đâu, thì đã dẫn cậu trốn thoát bằng con đường vô hình, giờ nó lại ra hiệu cho cậu và một chuyến phiêu lưu mới sắp sửa xảy đến. Dường như cậu nghe thấy các nốt của thứ âm nhạc tuôn trào từng đợt, tăng lên một tông rồi hạ xuống một quãng bốn giảm, tăng lên một tông rồi hạ xuống một quãng ba trưởng, y như ngọn lửa chẻ ba bốc lên từng đợt, hết ngọn này tới ngọn khác, từ khu rừng nửa đêm. Đó là màn dạo đầu ranh ma, bất tận, không hình dạng. Và khi nó càng cuồng loạn, dồn dập hơn, những ngọn lửa bốc lên bất chợt hơn, thì cậu như nghe thấy từ dưới cành cây, bụi cỏ tiếng các sinh vật hoang dã chạy đua, chân chúng nện như mưa rơi trên lá. Chân chúng chạy qua tạo ra tiếng lộp độp trong tâm trí cậu, tiếng chân của thỏ to, thỏ nhỏ, tiếng chân của hươu đực, hươu cái, của linh dương, tới khi cậu không nghe thấy nữa và chỉ còn nhớ tới giai điệu kiêu hãnh trong thơ Newman:
Tiếng ai như tiếng chân hươu đực, bên dưới những cánh tay đời đời[9].
Sự kiêu hãnh của hình ảnh mơ màng đó đưa tâm trí cậu trở lại với vẻ đạo mạo của căn phòng tu hành mà cậu đã từ chối. Suốt thời niên thiếu, cậu đã nghiền ngẫm chuyện này, chuyện cậu cho là số mệnh đời mình nhưng khi thời khắc đó tới, thay vì nghe theo lời Chúa gọi, cậu lại gạt đi, nghe theo bản năng thất thường của mình. Giờ thời gian nằm giữa: dầu dùng trong lễ thụ phong sẽ không bao giờ xức lên người cậu. Cậu đã chối từ. Vì sao?
Cậu nhìn ra biển từ con đường ở Dollymount rồi đi tiếp, băng qua cây cầu gỗ mỏng manh. Cậu thấy những tấm ván rung lên dưới bước giậm chắc nịch của mình. Một nhóm các sư huynh trường Công giáo đang quay về từ phía con đê chắn biển và bắt đầu sóng đôi bước qua cầu. Chẳng mấy chốc cây cầu rung lên và rền vang. Những khuôn mặt thô kệch băng qua cậu, những khuôn mặt do biển nên có màu vàng, đỏ hoặc màu chì ố bẩn. Khi cậu cố thoải mái, lãnh đạm nhìn họ, một vết bẩn mờ nhạt của sự tủi hổ và thương hại cá nhân hiện ra trên mặt cậu. Tự giận mình, cậu tránh ánh mắt họ bằng cách nhìn sang hai bên, nhìn vào chỗ nước cạn cuộn xoáy dưới chân cầu nhưng vẫn thấy hình ảnh phản chiếu của những chiếc mũ lụa có phần chóp nặng nề, những cổ áo khiêm nhường giống thước dây và những bộ quần áo thầy tu buông rủ.
- Sư huynh Hickey.
- Sư huynh Quaid.
- Sư huynh MacArdle.
- Sư huynh Keogh.
Lòng mộ đạo của họ cũng giống như danh tính, khuôn mặt, quần áo họ mặc. Cậu thấy thật vẩn vơ khi tự nhủ có thể trái tim của họ khiêm nhường, ăn năn, bày tỏ sự tận hiến còn hơn tim cậu, món quà sẽ được chấp nhận gấp mười lần sự sùng bái cầu kỳ phức tạp của cậu. Cậu thật vẩn vơ khi tỏ ra độ lượng với họ khi tự nhủ nếu mình từng tới cửa nhà họ, dẹp đi lòng kiêu ngạo, chịu đòn và ăn vận như ăn mày, thì họ sẽ độ lượng với cậu, yêu thương cậu như yêu chính mình vậy. Cuối cùng, cậu thấy thật vẩn vơ, cay đắng khi cãi lại sự đoan chắc vô tư của mình, rằng điều răn yêu thương bảo ta đừng yêu hàng xóm nhiều và sâu đậm như yêu chính mình, mà hãy dành cho họ thứ tình yêu ta dành cho chính mình.
Cậu rút một câu từ kho tàng văn chương của mình ra rồi khẽ lẩm nhẩm:
- Một ngày của những cụm mây lốm đốm sinh ra từ biển. Câu ấy, ngày ấy, khung cảnh ấy hòa thành một hợp âm. Ngôn từ. Đó có phải màu sắc của chúng? Cậu cho phép chúng bừng lên rồi nhạt đi, hết sắc độ này tới sắc độ khác: màu vàng của ánh bình minh, màu nâu đỏ nhạt và xanh lục của vườn táo, màu xanh ngắt của sóng biển, màu xám viền quanh các cụm mây xốp nhẹ. Không, đó không phải màu sắc của chúng, đó là tư thế và sự bình ổn của chính quãng thời gian này. Lẽ nào lúc ấy cậu yêu sự lên xuống nhịp nhàng của ngôn từ hơn những liên tưởng tới câu văn kia và màu sắc ngôn từ ư? Hay do tầm nhìn yếu ớt và tâm trí nhút nhát, nên cậu kém vui khi nhìn hình ảnh phản chiếu của thế giới lý trí bừng sáng qua lăng kính của thứ ngôn ngữ đa sắc, giàu ngữ nghĩa hơn là ngẫm nghĩ về thế giới tình cảm cá nhân bên trong, cái thế giới được soi rọi hoàn hảo bằng thứ văn xuôi tuần hoàn, mềm dẻo và sáng sủa?
Cậu băng qua cây cầu rung rinh để về với đất liền vững chãi. Thoáng chốc, không khí bỗng trở nên lạnh lẽo với cậu và khi nhìn xéo xuống nước, cậu thấy một ngọn gió thổi qua, đột ngột làm tối đen và đông cứng dòng thủy triều. Tim cậu khẽ nhói buốt, cổ họng khẽ rung lên, một lần nữa mách bảo cậu rằng da thịt mình sợ hãi cái mùi lạnh lẽo hạ đẳng của biển cả tới mức nào, song cậu không bước xuống triền đất bên trái mà đi thẳng dọc theo những tảng đá ngược cửa sông.
Ánh mặt trời bị mây che phủ khẽ chiếu lên mặt nước xám xịt, nơi con sông biến thành vịnh. Đằng xa, dọc sông Liffey nước chảy lững lờ, những cột buồm mảnh dẻ điểm xuyết bầu trời và xa hơn nữa là kết cấu mờ nhạt của thành phố Dublin nằm sõng soài trong sương mù. Giống khung cảnh trên một tấm thảm lờ mờ, cũ kỹ hệt như sự mệt mỏi của con người, hình ảnh thành phố Cơ đốc thứ bảy này[10] hiện ra trước mắt cậu xuyên qua bầu không khí vô tận, không mệt mỏi, già nua hơn cũng chẳng bớt đi sự phục tùng nhẫn nại của thời xưa cũ[11].
Nản lòng, cậu ngước mắt nhìn lên những đám mây chầm chậm trôi, tạo thành dải lốm đốm và được sinh ra từ biển cả. Chúng du hành qua bầu trời dài rộng như sa mạc, như đám dân du mục đổ bộ về phía tây, dạo bước qua đất nước Ireland. Chúng đến từ châu Âu, xứ sở nằm bên kia bờ biển Ireland, nơi có những ngôn ngữ, những chủng tộc kỳ lạ với thung lũng, rừng rậm, thành quách, hào sâu và các vị thống soái. Cậu nghe thấy tiếng nhạc bối rối trỗi lên trong lòng như tiếng nhạc của ký ức và danh tính, thứ cậu gần như ý thức nhưng không nắm bắt được, dẫu chỉ trong chốc lát. Rồi tiếng nhạc kia mờ dần, mờ dần và từ từng vệt mờ của thứ tinh vân ấy luôn rơi ra một nốt nhạc réo gọi kéo dài, bay vụt qua, hệt như một vì sao bay vụt qua hoàng hôn yên tĩnh. Nữa đi! Nữa đi! Nữa đi! Một giọng nói trên tầng không đang réo gọi.
- Chào Stephanos[12]!
- Anh chàng Dedalus đến rồi kìa!
- Ối! Ê, thôi nào, Dwyer, tao nói rồi, nếu không tao sẽ tẩn mày một cú vào mồm đấy… Ối!
- Giỏi lắm, Towser! Né đi!
- Lại đây nào, Dedalus! Bous Stephanoumenos! Bous Stephaeforos[13]!
- Né đi! Giờ thì xử nó đi, Towser!
- Cứu với! Cứu với!... Ối!
Cậu nghe thấy những lời kia trước khi nhìn rõ mặt người. Riêng cảnh tượng tạp nham của đám bạn trần truồng đang tắm cũng làm cậu ớn lạnh tới tận xương tủy. Thân hình chúng, trắng nhợt như xác chết và ngập một màu vàng xám xịt hoặc rám nâu thô kệch vì ánh mặt trời, lóng lánh vì nước biển. Tảng đá chúng dùng làm bệ nhảy được đặt trên những tảng đá chống đỡ xù xì khác và nó lắc lư khi chúng nhảy ùm xuống nước, còn đám đá thô kệch của con đê dốc mà chúng đang trườn lên trong trò đùa ầm ĩ của mình thì lóng lánh thứ ánh sáng ẩm ướt lạnh lẽo. Những chiếc khăn tắm chúng dùng để quật vào nhau nặng trĩu thứ nước biển lạnh lẽo, còn mái tóc bết bệt của chúng ướt sũng thứ nước muối lạnh lẽo.
Cậu nghe đám bạn gọi nhưng vẫn đứng yên và làm ngơ trò đùa bằng ngôn từ dễ dãi kia. Đám bạn cậu trông thật nhạt nhẽo: Shuley không có cái cổ áo hở sâu không cài khuy, Ennis không có chiếc thắt lưng màu đỏ với móc khóa hình con rắn, Connolly không có chiếc áo khoác Norfolk với túi bên không nắp! Thật đau lòng khi nhìn chúng, và đau như gươm cắt khi thấy những dấu hiệu của tuổi thanh niên khiến sự trần truồng đáng thương của chúng thành ra kinh tởm. Có lẽ chúng nhờ vào quân số và tiếng ồn mà đã tìm ra chỗ trú ẩn cho nỗi sợ hãi trong linh hồn mình. Còn cậu, tách khỏi đám bạn và đứng trong im lặng, nhớ lại mình đã kinh sợ bí ẩn của cơ thể mình thế nào.
- Stephanos Dedalos! Bous Stephanoumenos! Bous Stephaneforos!
Trò đùa của chúng không mới đối với cậu và giờ nó càng tôn thêm quyền tự chủ kiêu hãnh hòa nhã của cậu. Trước đây chưa từng nhưng giờ cái tên như là lời tiên tri với cậu. Bầu không khí ấm áp màu xám dường như kéo dài ra vô tận, tâm trạng cậu dường như biến đổi liên tục và vô cảm, đến nỗi với cậu, tuổi tác nào cũng như nhau. Vừa nãy bóng hình vương quốc cổ xưa của người Đan Mạch còn được nhìn thấy qua trang phục của thành phố Dublin bị mây mù che phủ, giờ với cái tên của người thợ nổi danh, cậu như nghe thấy tiếng ồn của những con sóng mờ mịt và thấy một hình hài có cánh bay trên mặt nước, chậm rãi trèo vào không trung. Điều này có ý nghĩa gì? Đó có phải phương cách kỳ lạ mở ra một trang của cuốn sách trung cổ nào đó, cuốn sách đầy những lời tiên tri, biểu tượng, một người đàn ông giống chim ó bay về phía mặt trời, một lời tiên tri về cái kết mà cậu sinh ra đã phụng sự và theo đuổi xuyên qua màn sương mù thời thơ ấu và thời niên thiếu, một biểu tượng về người nghệ sĩ rèn giũa trong xưởng thứ vật chất chậm chạp lề mề của thế gian thành một sinh thể bất tử, tinh tế, mới mẻ và cất cánh bay cao?
Tim cậu đập rộn rã, hơi thở cậu dồn dập và tinh thần cuồng loạn tràn khắp tứ chi như thể cậu đang bay về phía mặt trời. Tim cậu run lên trong nỗi đê mê kinh sợ và linh hồn cậu chìm trong chuyến bay ấy. Linh hồn cậu bay lên không trung, trên thế gian và cái cơ thể mà cậu biết thoắt cái được thanh tẩy, thoát khỏi sự do dự, rực sáng và hòa lẫn với yếu tố tinh thần. Chuyến bay đê mê ấy khiến mắt cậu rực sáng, hơi thở cuồng loạn, run rẩy, còn tứ chi bị gió thổi tràn qua của cậu cũng cuồng loạn, rực sáng.
- Một! Hai!... Coi chừng!
- Ôi, Cripes, tao chìm rồi!
- Một! Hai! Ba! Tránh ra nào!
- Thằng tiếp theo! Thằng tiếp theo!
- Một!... Vương quốc Anh!
- Stephaneforos!
Cổ họng cậu đau đớn vì khát khao muốn kêu lên thật to, tiếng kêu của chim ó hay chim ưng trên tầng cao, tiếng kêu lảnh lót giúp cậu thoát khỏi các ngọn gió. Đó là tiếng gọi của sự sống tới linh hồn cậu chứ không phải giọng nói về nghĩa vụ và sự tuyệt vọng hay giọng nói thô tục tẻ ngắt của thế gian, lại không phải giọng nói phi nhân kêu gọi cậu làm công việc phụng sự bàn thờ nhạt nhẽo. Thoáng chốc của chuyến bay cuồng dại kia đã giải thoát cậu và tiếng kêu đắc thắng mà môi cậu kìm nén liền lướt qua tâm trí.
- Stephaneforos!
Giờ chúng là gì ngoài mớ quần áo liệm bị giũ khỏi cơ thể của cái chết - nỗi sợ mà cậu đã mang cả ngày lẫn đêm, sự do dự đã bó riết lấy cậu, sự tủi hổ đã làm cậu nhục nhã cả trong lòng lẫn ngoài mặt - quần áo liệm, những mảnh vải của hầm mộ ư?
Linh hồn cậu đã thoát khỏi hầm mộ thời niên thiếu, vất bỏ mớ quần áo liệm. Đúng rồi! Đúng rồi! Đúng rồi! Cậu sẽ hãnh diện sáng tạo nhờ sự tự do và sức mạnh của linh hồn mình, như người nghệ sĩ mà cậu mang tên, là một sinh thể mới mẻ, đẹp đẽ, bay cao, tinh tế, bất tử.
Cậu bồn chồn nhỏm dậy khỏi tảng đá chắn biển vì không thể dập tắt ngọn lửa trong máu mình. Cậu thấy gò má mình nóng bừng, cổ họng rộn rã muốn hát. Chân cậu ngứa ngáy muốn đi lang thang, đến cùng trời cuối đất. Nữa đi! Nữa đi! Tim cậu như muốn hét lên. Ánh chiều sẽ sậm màu trên mặt biển, màn đêm sẽ buông xuống trên các đồng bằng, hoàng hôn sẽ lấp lóe trước mặt kẻ lang thang và cho cậu thấy những cánh đồng, ngọn đồi, khuôn mặt lạ lẫm. Ở đâu cơ chứ?
Cậu nhìn về phương bắc, về hướng mũi Howth. Nước biển hạ xuống dưới dải rong rêu bị đánh dạt vào bờ, mé đê cạn nước và thủy triều đã mau chóng lùi xa bãi bồi. Một dải cát dài hình bầu dục nằm ấm áp, khô ráo giữa những con sóng nhỏ. Đây đó là các hòn đảo cát nhỏ ấm áp, lấp lóe trên dòng thủy triều thấp và quanh các hòn đảo, quanh dải cát dài, giữa dòng nước nông trên bãi biển là những bóng người mặc đồ mỏng nhẹ đang lội nước, xúc cát.
Thoắt cái, cậu đã lột tất ra cho vào túi, cột dây và vắt đôi giày vải bạt lủng lẳng lên vai, đi chân trần ra nhặt một cây gậy có đầu nhọn bị cát vùi, nằm trong đống rác giữa những tảng đá rồi trèo xuống mặt đê dốc.
Có một lạch nước nhỏ trên bờ biển và khi chậm rãi lội theo dòng chảy của nó, cậu tự hỏi về sự trôi dạt không ngừng của rong rêu. Có màu ngọc lục bảo, màu đen, nâu đỏ nhạt và xanh ô liu, đám rong ấy chuyển động bên dưới dòng nước, lắc lư xoay trở. Nước của con lạch đen ngòm vì trôi chảy không ngừng và soi rọi những đám mây lững lờ trên cao. Những đám mây lặng lẽ trôi dạt trên đầu cậu, đám rong rêu lặng lẽ trôi dạt dưới chân cậu, bầu không khí ấm áp màu xám vẫn yên tĩnh và một cuộc đời cuồng loạn mới đang hát ca trong huyết quản cậu.
Giờ thời niên thiếu của cậu ở đâu? Cái linh hồn chối bỏ số phận của mình, cô độc nghiền ngẫm về nỗi tủi hổ của những vết thương và trong ngôi nhà bần cùng, giả dối lại vênh vang với mớ quần áo liệm bạc màu, những vòng hoa héo úa trước ánh đuốc? Hay cậu ở đâu?
Cậu cô độc. Cậu không được ai để ý. Cậu vui vẻ và ở gần trái tim cuộc sống cuồng loạn. Cậu cô độc, trẻ trung, ngang ngạnh, ngông cuồng. Cậu một mình giữa đống rác không khí cuồng loạn và dòng nước mặn mòi, giữa vô số vỏ sò và rong rêu, giữa ánh nắng xám xịt bị mây che phủ và những bóng lũ trẻ cùng các cô gái mặc đồ mỏng nhẹ, tươi vui, giữa giọng nói của trẻ con và nữ tính vang trong không trung.
Một cô gái đứng trước mặt cậu giữa dòng nước, yên lặng một mình, nhìn chăm chăm ra biển. Cô như người bị phép thuật biến thành thứ gì đó giống một con chim biển kỳ lạ và xinh đẹp. Cặp chân trần gầy dài của cô mảnh như chân cò và thanh khiết trừ chỗ vệt rong màu ngọc lục bảo đã tự biến thành dấu hiệu trên da thịt. Cặp đùi cô, đầy đặn hơn và sáng màu hơn như ngà voi, gần như trần trụi tới hông, nơi những dải tua trắng của chiếc quần cộc trông như lông chim trắng mềm mịn. Chiếc váy màu lam đá phiến của cô được táo tợn vắt lên tận eo, buộc túm ra đằng sau. Ngực cô mềm mại và mỏng mảnh như ngực con chim câu có bộ lông sẫm màu nào đó. Mái tóc dài vàng nhạt cùng khuôn mặt với vẻ đẹp trần thế đáng kinh ngạc của cô rất nữ tính.
Cô đứng yên, một mình, nhìn chăm chăm ra biển. Khi cảm nhận được sự hiện diện và sự ngưỡng mộ trong mắt cậu, cô quay lại nhìn, lặng lẽ chịu đựng ánh nhìn của cậu, không thẹn thùng cũng chẳng thất thố. Cô chịu đựng ánh nhìn của cậu lâu thật lâu, rồi lẳng lặng không nhìn nữa, cúi xuống nhìn dòng nước, dùng chân khẽ khuấy đảo nó. Tiếng động khe khẽ đầu tiên của dòng nước nhẹ nhàng chuyển động phá vỡ sự thinh lặng. Tiếng động trầm, thì thầm, khẽ như tiếng chuông rung trong giấc ngủ đây đó, và một ngọn lửa mờ run rẩy trên má cô.
- Chúa ơi! – Linh hồn Stephen reo lên, trong sự vỡ òa của niềm vui thế tục.
Cậu đột nhiên quay đi, không nhìn cô nữa và băng qua lạch nước. Gò má cậu đỏ ửng, cơ thể cậu bừng sáng, tứ chi cậu run rẩy. Cậu cứ sải bước đi tiếp, đi tiếp, xa khỏi bãi cát, cuồng loạn hát với biển cả, hét lên chào đón sự khởi đầu của cuộc sống đã vang vọng tới cậu.
Hình ảnh cô gái đã nhập vào linh hồn cậu mãi mãi và không ngôn từ nào phá vỡ sự đê mê lặng lẽ thần thánh ấy. Mắt cô đã gọi cậu và linh hồn cậu nhảy lên vì tiếng gọi ấy. Sống, lầm lỗi, sa ngã, chiến thắng, tái tạo cuộc sống từ cuộc sống! Một thiên thần cuồng loạn, thiên thần của tuổi trẻ và sắc đẹp trần tục, hóa ra với cậu là phái viên từ những màn ve vãn khéo léo của cuộc sống, để mở toang trước mắt cậu, trong thoáng chốc đê mê, những cánh cửa của mọi lỗi lầm và vinh quang. Đi tiếp, đi tiếp, đi nữa, đi nữa!
Cậu đột ngột dừng lại, nghe tim mình đập trong thinh lặng. Cậu đã đi được bao xa? Mấy giờ rồi nhỉ?
Không bóng người nào ở gần cậu hay âm thanh nào vẳng tới tai cậu từ tầng không. Nhưng dòng thủy triều đang ở gần chỗ rẽ và ngày hôm ấy sắp tàn. Cậu quay lưng về phía đất liền, chạy xuống bờ biển rồi chạy lên bãi cát dốc, bất chấp đá sỏi sắc lẹm, và tìm thấy một bờ cát giữa chuỗi đồi phủ cỏ, cậu nằm xuống đó, để sự yên bình tĩnh lặng của buổi chiều vẫn râm ran trong máu mình.
Cậu thấy phía trên mình là mái vòm bao la lãnh đạm và các thiên thể bình thản chuyển động. Trái Đất nằm phía dưới cậu, Trái Đất đã sinh ra cậu, đã đem cậu đặt lên ngực nó.
Cậu nhắm mắt vì mệt mỏi và buồn ngủ. Mí mắt cậu rung rung như thể cảm nhận được chuyển động tuần hoàn bao la của Trái Đất và những kẻ ngắm nó, rung lên như thể chúng cảm nhận được tia sáng kỳ lạ của thế giới mới mẻ nào đó. Linh hồn cậu ngây ngất chìm vào cái thế giới kỳ ảo, mờ mịt, không chắc chắn như ở dưới biển ấy, bị những hình thù, sinh thể như mây che ngang. Là thế giới, là ánh sáng lấp lóa hay đóa hoa? Lấp lóa và run rẩy, run rẩy và xòe ra, như tia sáng vỡ òa, như đóa hoa hé nở, cái thế giới ấy liên tục tự trải rộng, bung tỏa với màu đỏ trọn vẹn rồi xòe ra và nhạt đi thành màu hồng mờ nhạt nhất, thành từng chiếc lá, từng con sóng ánh sáng, làm ngập cả bầu trời bằng luồng chảy mềm mại của nó, mỗi luồng chảy càng lúc càng sâu hơn.
Khi cậu tỉnh lại thì màn đêm đã buông xuống và bờ cát, mớ cỏ khô làm giường cho cậu nằm không còn tỏa sáng nữa. Cậu từ từ nhỏm dậy, nhớ lại niềm sung sướng vô ngần trong giấc ngủ và thở dài với niềm vui ấy.
Cậu leo lên đỉnh đồi cát rồi nhìn quanh quất. Màn đêm đã buông xuống. Rìa mảnh trăng non, rìa cái vòng bạc được gắn vào bờ cát xám kia đã xé bỏ phần thừa thãi nhợt nhạt nơi đường chân trời, dòng thủy triều vẫn chảy nhanh về phía đất liền với tiếng thầm thì thâm trầm của sóng, cô lập vài bóng người cuối cùng nơi những vũng nước xa xa.
❀ ❀ ❀
[1] Ngọn núi phía Bắc Hermon (Lebanon), đầu nguồn sông Amana chảy về phía Damacus.
[2] Tiếng La-tinh, nghĩa là “nằm gọn trên ngực tôi”, trích Kinh Thánh, Song of Salomon (Nhã ca) 1:13, “Với tôi, người yêu tôi như hoa mộc dược/Nằm gọn trên ngực tôi”. Câu này hàm ý chỉ mối liên hệ quý giá giữa Chúa và Giáo hội Cơ đốc.
[3] Tiếng Pháp, nghĩa là váy phụ nữ.
[4] Thomas Babington Macaulay hay Nam tước Macaulay (1800-1859) là một chính trị gia người Anh.
[5] Tiếng La-tinh nghĩa là “Hãy về đi, xong lễ rồi.”
[6] Một thầy phù thủy cố dụ Thánh Peter và Thánh John bán cho mình sức mạnh ban Thánh thể.
[7] Trích Kinh Thánh, Ephesians 2:3-5.
[8] Nhân vật bí ẩn xuất hiện trong kinh Cựu ước, Sáng thế ký, chương mười bốn, là vua của Salem và linh mục của El Elyon. Theo các tác giả Thư Do Thái thì đó chính là Chúa hiển linh.
[9] Mượn từ trong Kinh Thánh, Deuteronomy (Phục truyền Luật lệ ký) 33: 27.
[10] Tức thành phố Dublin.
[11] Nguyên văn: “thingmote”, tức thời người Đan Mạch cổ chiếm vùng Đông Bắc nước Anh và lập ra khu vực gồm mười bốn hạt gọi là Danelaw.
[12] Tiếng Hi Lạp, nghĩa là vòng hoa đội đầu.
[13] Tiếng Hi Lạp, nói khác nhau nhưng đều có nghĩa là con bò đội vòng hoa (để được dẫn đi hiến tế).