Stephen uống cạn tách trà thứ ba, chỉ chừa lại cặn và bắt đầu gặm những mẩu bánh mì nướng vung vãi xung quanh mình, vừa nhìn chằm chằm vào chỗ nước tối đen trong bình trà. Giọt nước màu vàng được hứng lấy trông như vũng lầy, còn chỗ nước tối đen nằm dưới nó làm cậu nhớ tới thứ nước có màu đất cỏ trong nhà tắm của trường Clongowes. Chiếc hộp đựng phiếu cầm đồ ở chỗ khuỷu tay cậu mới được lục lọi và cậu lười nhác dùng những ngón tay nhầy nhụa cầm những tờ phiếu xanh và trắng, hết tờ này tới tờ khác, những tờ phiếu được viết nguệch ngoạc, dính cát, nhàu nhĩ, có tên các chủ tiệm cầm đồ như Daly hay MacEvoy.
Một đôi ủng
Một áo khoác len thô
Ba món hàng và thuốc nhuộm trắng
Một quần nam
Cậu đặt mấy tờ phiếu sang bên rồi trầm ngâm nhìn nắp hộp lốm đốm vết rận cắn, lơ đễnh hỏi:
- Đồng hồ chạy nhanh bao lâu thế?
Mẹ cậu đặt thẳng chiếc đồng hồ báo thức mòn vẹt đang nằm nghiêng trên bệ lò sưởi lên tới khi nó gõ mười hai giờ kém mười lăm phút rồi lại để nó nằm nghiêng.
- Một giờ hai mươi lăm phút. – Bà đáp – Giờ đúng là mười hai giờ hai mươi phút. Con biết mình phải gắng đi học cho đúng giờ mà.
- Xê ra cho anh tắm nào. – Stephen bảo.
- Katey, xê ra cho anh Stephen tắm.
- Boody, xê ra cho anh Stephen tắm.
- Không, em bận lắm. Em ra đi, Maggy.
Khi chậu sứ đã được đặt vào bồn rửa và chiếc găng tay giặt đồ cũ kỹ đã được quẳng sang bên, cậu để mẹ kỳ cọ cổ, lau rửa vành tai và hai bên cánh mũi mình.
- Ôi, thật tội nghiệp, – Mẹ bảo – khi một sinh viên đại học bẩn đến nỗi mẹ cậu ta phải tắm cho.
- Nhưng mẹ vui khi làm thế mà. – Stephen bình thản đáp.
Tiếng huýt sáo chói tai từ trên gác vẳng xuống và mẹ quẳng chiếc quần yếm ẩm vào tay cậu rồi bảo:
- Lau mình đi và vì Chúa, nhanh lên con!
Tiếng huýt sáo chói tai thứ hai, kéo dài đầy giận dữ, khiến một đứa trong đám con gái nhào ra phía chân cầu thang.
- Vâng, thưa bố?
- Anh mày, con chó cái lười chảy thây ấy đi học chưa?
- Rồi, thưa bố.
- Chắc không?
- Chắc, thưa bố.
- Hừm!
Cô bé quay lại, ra hiệu cho Stephen nhanh lên và hãy lẳng lặng đi theo lối cửa sau. Stephen cười rồi bảo:
- Suy nghĩ của bố về giới tính thật kỳ lạ nếu bố nghĩ chó cái là giống đực.
- À, đó là nỗi tủi hổ gây điều tiếng cho con, Stephen ạ, – Mẹ cậu bảo – và con sẽ hối tiếc về ngày con đặt chân tới đó. Mẹ biết học ở đó sẽ thay đổi con thế nào.
- Chào cả nhà. – Stephen nói, vừa mỉm cười vừa hôn đầu ngón tay ra dấu tạm biệt.
Con đường dưới mái hiên ngập đầy nước và khi chầm chậm bước xuống, lựa chỗ đặt chân giữa những đống rác ẩm, cậu nghe tiếng một nữ tu điên loạn rít lên trong nhà thương điên dành cho nữ tu phía bên kia bức tường.
- Chúa Jesus! Ôi Chúa Jesus! Chúa Jesus!
Cậu giũ âm thanh đó ra khỏi tai mình bằng cú lắc đầu đầy giận dữ rồi vội vã dấn bước, suýt ngã khi băng qua đống rác mủn nát, lòng đau đớn vì bị nỗi kinh tởm và cay đắng cắn xé. Tiếng huýt sáo của bố, tiếng càu nhàu của mẹ, tiếng rít lên của kẻ điên loạn không nhìn thấy được kia, với cậu, như thế là quá nhiều giọng nói xúc phạm và đe dọa làm bẽ bàng lòng kiêu hãnh tuổi trẻ của mình. Cậu căm ghét đẩy tiếng vọng của những giọng nói đó ra khỏi tim nhưng khi đi dọc đại lộ, cảm nhận thứ ánh sáng màu xám của buổi sớm mai rơi xung quanh mình, nhỏ xuống qua vòm cây, ngửi thấy mùi hương hoang dã kỳ lạ của lá cây và vỏ cây ẩm ướt, cậu liền thấy linh hồn mình vơi bớt khổ đau.
Đám cây đọng nước dọc đại lộ luôn gợi lên trong cậu ký ức về đám đàn bà con gái trong kịch của Gerhart Hauptmann[1]; và ký ức về nỗi buồn đau nhợt nhạt của họ cùng mùi hương tỏa ra từ những nhành cây ẩm ướt hòa trộn lại thành một niềm vui lặng lẽ. Cuốc đi bộ buổi sáng của cậu dọc thành phố Dublin đã bắt đầu. Cậu biết trước mình sẽ băng qua bãi rác Fairview, sẽ nghĩ tới lối thơ tu viện lấp lánh ánh bạc của Newman; rồi khi đi dọc đường North Strand, vẩn vơ liếc nhìn quầy trưng bày của các cửa tiệm thực phẩm, cậu sẽ nhớ tới sự hóm hỉnh cay độc của Guido Cavalcanti[2] và mỉm cười. Khi đi qua công trình bằng đá của Baird ở Talbot Place, linh hồn Ibsen sẽ thổi qua cậu hệt một luồng gió rét mướt, một tinh thần đẹp đẽ, trẻ con, ương bướng. Và khi băng qua cửa tiệm bán đồ đi biển bên bờ sông Liffey, cậu sẽ lặp lại bài hát mà Ben Jonson đã khởi xướng:
Khi nằm xuống, tôi chẳng còn mệt mỏi nữa.
Khi mệt mỏi vì tìm kiếm cốt lõi cái đẹp giữa một rừng mờ mịt ngôn từ của Aristotle hay Aquinas, tâm trí cậu thường chuyển sự thích thú tới những bài hát hoa mĩ của các thi sĩ thời Elizabeth. Tâm trí cậu, trong trang phục của một tu sĩ đầy hoài nghi, thường đứng trong bóng tối dưới cửa sổ thời đại ấy, lắng nghe tiếng nhạc trang trọng, giễu nhại của gã chơi đàn luýt hay tiếng cười thành thực của những ả gái điếm cho tới khi một tiếng cười quá trầm, một câu thơ bị thời gian làm lu mờ, câu thơ về sự dâm ô buông thả và danh dự giả trá châm chích niềm kiêu hãnh tu hành của cậu và lôi cậu ra khỏi nơi ẩn nấp.
Vốn liếng văn chương mà cậu tin mình đã nghiền ngẫm ngày qua ngày đến nỗi quên đi tình bạn thời trai trẻ chỉ là một kho tàng những câu văn nghèo nàn rút tỉa từ thơ ca, tâm lý học của Aristotle và cuốn Synopsis Philosophiae Scholasticae ad mentem divi Thomae[3]. Suy nghĩ của cậu là buổi hoàng hôn của sự nghi ngờ và không tin tưởng bản thân, thi thoảng lại cháy lên nhờ tia chớp trực giác, nhưng những tia chớp đó quá lộng lẫy rõ ràng đến nỗi những lúc như thế, thế giới lụi tàn quanh cậu như bị lửa thiêu rụi. Thế là lưỡi cậu trở nên nặng trĩu, mắt cậu bắt gặp mắt kẻ khác, những đôi mắt không có câu trả lời, bởi cậu cảm thấy tinh thần cái đẹp đã vây lấy mình như chiếc áo khoác, và trong cơn mơ màng ấy, ít ra cậu cũng đã quen với sự cao quý. Nhưng khi niềm kiêu hãnh lặng lẽ ngắn ngủi đó qua đi, cậu vui mừng thấy mình vẫn ở giữa cuộc đời bình thường, đi trên con đường của mình giữa sự bần cùng, ồn ã, uể oải của thành phố này, không sợ hãi mà chỉ thấy lòng nhẹ nhõm.
Gần các biển quảng cáo đặt trên kênh đào, cậu gặp một người đàn ông bị ho lao có khuôn mặt búp bê, đội mũ không vành tiến về phía cậu, đi chầm chậm xuống dốc cầu, khoác chiếc áo choàng màu sô-cô-la được gài hết nút, tay cầm chiếc ô được xếp lại cách ông ta một, hai gang tay y như cầm que dò mạch nước. Chắc mười một giờ rồi, cậu nghĩ và dòm vào một cửa hàng bơ sữa để xem giờ. Đồng hồ trong cửa hàng cho cậu biết giờ là năm giờ kém năm nhưng khi quay đi, cậu nghe tiếng đồng hồ ở đâu đó gần mình, dù không nhìn thấy, gõ mười một tiếng chính xác, đanh gọn. Cậu cười bởi nó làm cậu nhớ tới McCann, và cậu thấy thằng bạn với thân hình vuông chằn chặn, vận áo vest đi săn, quần ống túm, có chòm râu dê sáng màu, đứng trong gió trước cửa tiệm Hopkins. Cậu nghe nó nói:
- Dedalus, mày là thằng chống đối xã hội, thằng thích trùm chăn. Tao thì không. Tao là đứa dân chủ, tao làm việc vì hành động vì sự tự do xã hội, vì sự công bằng giữa các tầng lớp, các giới tính ở Liên hiệp châu Âu[4] trong tương lai.
Mười một giờ! Vậy là cậu muộn học rồi. Hôm nay là thứ mấy nhỉ? Cậu dừng chân tại quầy báo để đọc dòng tít trên bảng thông báo. Thứ Năm. Mười một giờ kém mười, tiếng Anh, mười hai giờ kém mười một, tiếng Pháp, một giờ kém hai mươi, Vật lý. Cậu hình dung mình trong lớp học tiếng Anh và mới thế, cậu đã thấy bồn chồn, bất lực. Cậu thấy đầu chúng bạn cùng lớp ngoan ngoãn cúi xuống ghi chép những điều được bảo phải ghi vào vở, những định nghĩa chỉ tồn tại trên danh nghĩa, những định nghĩa và ví dụ thiết yếu, hay ngày tháng năm sinh năm mất, những tác phẩm chính, lời phê bình ủng hộ hay phản đối tác giả nằm cạnh nhau. Đầu cậu không cúi xuống vì suy nghĩ còn mải lang thang ngoài cửa lớp và dù cậu có nhìn quanh lớp học ít người hay nhìn ra ngoài cửa sổ, ra vườn cây vắng lặng, thì mùi mục ruỗng ẩm thấp nơi tầng hầm âm u vẫn xộc vào tấn công cậu. Ngoài cậu ra còn một cái đầu khác, ở hàng ghế ngay trước mặt cậu, cũng ngẩng lên, vuông góc với những cái đầu đang cúi xuống kia, giống hệt đầu một tu sĩ ngạo mạn cầu xin hòm thánh vì những kẻ cầu nguyện khiêm nhường xung quanh. Vì sao nghĩ tới Cranly, cậu không bao giờ hình dung ra toàn bộ cơ thể mà chỉ thấy đầu và mặt nó? Giờ ngay cả trước tấm màn xám xịt của buổi sớm mai, cậu cũng thấy nó như bóng ma trong mơ, khuôn mặt của cái đầu đứt lìa hay mặt nạ đắp theo khuôn mặt người chết, mũ miện bằng sắt úp chụp lên cặp chân mày sát mái tóc đen dựng đứng cứng quèo. Mặt nó rất giống tu sĩ, giống ở sắc diện, cánh mũi rộng, bóng tối bên dưới bầu mắt và dọc theo quai hàm, đôi môi dài, nhợt nhạt, khẽ mỉm cười. Stephen nhanh chóng nhớ mình đã kể cho Cranly nghe tất cả những xáo trộn, bất an, khát khao trong lòng mình, hết ngày này tới ngày khác, hết đêm này tới đêm khác, chỉ để nhận lấy sự im lặng lắng nghe, và nhớ mình đã tự nhủ mặt nó là mặt của một tu sĩ có tội, người nghe người khác thú tội, những người mà anh ta không có quyền ân xá nhưng trong tâm tưởng lại cảm nhận cái nhìn chằm chằm của đôi mắt phụ nữ đen tối.
Qua hình ảnh ấy, cậu thoáng thấy một hang động suy ngẫm tối tăm kỳ lạ song cậu lập tức quay đi, thấy chưa phải lúc mình bước vào. Nhưng cái bóng bơ phờ của thằng bạn như lan tỏa trong không khí quanh cậu một luồng hơi lãng đãng chết chóc và cậu thấy mình hết quay trái quay phải, hết nhìn từ ngữ ngẫu nhiên này tới từ ngữ ngẫu nhiên khác với sự kinh ngạc dửng dưng, đến nỗi chúng lặng lẽ mất đi ý nghĩa tức thời, cho tới khi mọi câu văn, lời nói tầm thường xuất hiện trên đường phố cột chặt lấy tâm trí hệt như ngôn từ của một câu thần chú và linh hồn cậu co quắp lại rồi già nua thở dài khi cậu bước tiếp trên con đường đó giữa đống ngôn ngữ chết. Ý thức ngôn ngữ của cậu đang rút khỏi não và nhỏ giọt thành ngôn từ, những ngôn từ sắp sửa tụ lại rồi rã ra theo nhịp điệu thất thường:
Cây thường xuân rền rĩ trên tường,
Rền rĩ và xoắn bện trên tường,
Cây thường xuân màu vàng trên tường,
Thường xuân, thường xuân nằm trên tường.
Ai từng nghe lời nào ngớ ngẩn thế chưa? Chúa Toàn năng! Ai từng nghe về cây thường xuân rền rĩ trên tường chưa? Thường xuân vàng: chuyện đó ổn. Ngà cũng vàng. Thế còn thường xuân ngà thì sao?
Giờ ngôn từ đó chiếu rọi trong não cậu, rõ ràng và bừng sáng hơn bất cứ thứ ngà nào được cưa xẻ từ đống ngà voi ngả vàng. Ivory, ivoire, avorio, ebur[5]. Một trong số ví dụ đầu tiên bằng tiếng La-tinh mà cậu học được là India Mittit ebur[6]; rồi cậu nhớ lại khuôn mặt khôn ngoan miền Bắc của thầy Hiệu trưởng, người đã dạy cậu dịch cuốn Hình thái của Ovid sang tiếng Anh phong nhã, và thật kỳ quái khi thầy cứ nhắc tới lợn thịt, mảnh gốm vỡ và thăn thịt lợn muối. Cậu học được rất ít những gì cần biết về luật thơ La-tinh từ cuốn sách tơi tả của một tu sĩ người Bồ Đào Nha.
Contrhit orator, variant in carmine vates.[7]
Những khủng hoảng, chiến thắng và ly khai trong lịch sử La Mã được truyền cho cậu qua cụm từ sáo mòn “in tanto discrimine”[8] và cậu cố săm soi đời sống xã hội của thành phố của các thành phố[9] qua cụm từ “imolere ollam denariorum”[10] mà thầy Hiệu trưởng đã rổn rảng dùng khi nói về thứ chứa trong bình theo hệ thập phân. Những trang sách sờn cũ của Horace chẳng hề lạnh dù tay cậu chạm vào đó rất lạnh. Đó là những trang sách đầy nhân tính và năm mươi năm trước chúng đã được ngón tay con người lật giở, ngón tay của John Duncan Inverarity và em ông, William Malcolm Inverarity. Đúng, đó là những cái tên cao quý trên trang giấy ố vàng ở đầu cuốn sách và ngay cả khi cậu là nhà nghiên cứu tiếng La-tinh dở tệ, thì những câu thơ ố vàng kia vẫn ngát hương như đã nằm từng ấy năm giữa đám tử vi, oải hương và mã tiên thảo. Song cậu tổn thương khi nghĩ mình chẳng là gì ngoài một vị khách rụt rè tại bàn tiệc văn hóa thế giới, và sự học dành cho các tu sĩ mà cậu cố rèn giũa cho ra một triết lý mỹ học thì chẳng vượt được thời đại cậu đang sống trừ mớ biệt ngữ kỳ lạ, tỉ mỉ về tước hiệu và thuật dùng chim ưng săn mồi.
Khối nhà màu xám của Đại học Trinity nằm bên trái cậu, nằm nặng nề giữa sự ngu dốt của thành phố Dublin như viên đá tẻ ngắt được gắn trên chiếc nhẫn to cộ, kéo tâm trí cậu chùng xuống và trong lúc bằng cách này hay cách khác cố giải thoát đôi chân khỏi gông cùm của lương tâm đã được sửa lỗi, cậu bắt gặp bức tượng buồn cười của nhà thơ dân tộc xứ Ireland[11].
Cậu nhìn bức tượng, chẳng hề giận dữ; bởi dù sự biếng nhác của cơ thể và tâm hồn y như đám sâu bọ vô hình bò lên nó, lên đôi chân loẹt xoẹt, lên những nếp áo khoác và quanh chiếc đầu quỵ lụy, thì bức tượng dường như khiêm tốn hiểu được sự nhục nhã của mình. Đó là gã Firbolg trong chiếc áo đi mượn của người Milesian[12], và cậu nghĩ tới anh bạn Davin, một sinh viên nông dân. Hai đứa bọn cậu hay đem tên gọi ra làm trò đùa, nhưng anh nông dân trẻ tuổi kia coi việc đó nhẹ như không:
- Tiếp tục đi Stevie, mày bảo tao là đứa lì lợm. Cứ gọi tao bằng cái tên mày thích.
Lần đầu nghe tên thánh giản dị của mình thốt ra trên môi bạn, Stephen thấy dễ chịu vì cậu hay nói năng trịnh trọng với người khác khi họ nói thế với mình. Thường những lúc ngồi trong phòng của Davin trên phố Grantham, cậu kinh ngạc nhìn những đôi ủng đẹp của bạn, hết đôi này tới đôi khác đặt sát tường, vừa lặp lại cho đôi tai giản đơn của bạn nghe những câu thơ, điệu nhạc của kẻ khác. Mỗi khi cậu làm thế để che đậy nỗi khát khao, chán ngán của chính mình thì cái tâm trí thô lỗ kiểu Firbolg của Davin lại kéo tâm trí cậu về phía nó rồi đáp trả, kéo bằng cử chỉ bặt thiệp, chăm chú, lặng lẽ bẩm sinh, khả năng kỳ quái về lối nói tiếng Anh cổ xưa hay niềm yêu thích kỹ năng thể chất tráng kiện - vì Davin đã ngồi dưới chân Michael Cusack, gã người Gael[13] - rồi cái tâm trí ấy bỗng nhanh chóng đáp lại bằng trí thông minh kệch cỡm, cảm xúc thẳng thừng, hay cái nhìn chằm chằm đầy kinh hãi tẻ ngắt, vẻ kinh hãi của tâm hồn một ngôi làng Ireland chết đói chết khát mà ở đó lệnh giới nghiêm vẫn là nỗi sợ hằng đêm.
Bên cạnh ký ức về các chiến tích giỏi giang của bác mình, Mat Davin, một vận động viên, anh nông dân trẻ tuổi kia còn tôn thờ huyền thoại đau buồn về Ireland. Đám bạn của Davin khi tán chuyện cũng luôn cố biến cuộc sống đại học bằng phẳng tẻ nhạt thành ra quan trọng, đám bạn đó thích nghĩ Davin là một Fenian[14] trẻ tuổi. Cô bảo mẫu đã dạy Davin tiếng Ireland và nhào nặn trí tưởng tượng thô lỗ của cậu ta bằng tia sáng vụn vỡ về thần thoại Ireland. Cậu ta đứng về phía thần thoại ấy, thứ mà không tâm trí cá nhân nào từng rút ra được một dòng đẹp đẽ, và kiên trì với những câu chuyện thô kệch của nó, thứ tự chúng tách ra khi chuyển động theo chu kỳ thần thoại, bằng thái độ tương tự dành cho Cơ đốc giáo La Mã - thái độ của một nông nô trung thành ngu dốt. Bất cứ suy nghĩ hay cảm xúc nào bắt nguồn từ Anh hay thông qua văn hóa Anh, tâm trí Davin cũng được trang bị để đáp trả bằng cách tuân theo một mật lệnh, còn thế giới bên ngoài Anh, thì cậu ta chỉ biết tới mỗi xứ lê dương Pháp, nơi cậu ta bảo muốn phụng sự.
Kết hợp tham vọng đó với sự hài hước của chàng trai, Stephen thường gọi bạn là một con trong đám ngỗng được thuần hóa[15], dẫu cách gọi đùa cợt ấy cũng có lúc khiến lời nói và hành động của Davin trở nên miễn cưỡng, điều dường như hay đứng giữa tâm trí muốn được tìm hiểu của Stephen và lối sống kín kẽ của người Ireland.
Một tối, bị ngôn từ tráng lệ, gây hấn mà Stephen dùng để thoát khỏi sự thinh lặng lạnh lẽo của sự nổi loạn trí óc châm chích, chàng nông dân trẻ kia đã gợi lên hình ảnh kỳ lạ trong tâm trí Stephen. Hai đứa bọn cậu đang chậm rãi đi về chỗ Davin, qua những con phố tối tăm chật hẹp của một khu Do Thái nghèo khổ hơn.
- Một chuyện đã xảy ra với tao, Stevie ạ, hồi cuối thu đầu đông năm ngoái, tao chưa kể ai nghe và mày là người đầu tiên tao kể. Tao quên mất đó là tháng Mười hay tháng Mười một. Chắc tháng Mười vì chuyện ấy xảy ra trước khi tao tới đây nhập học.
Hướng ánh mắt tươi cười của mình về phía khuôn mặt đầy vẻ tự tin của bạn, Stephen bị giọng điệu giản đơn của Davin thuyết phục, lòng tràn ngập cảm thông.
- Cả ngày hôm ấy tao không ở nhà mà tới Buttevant[16]. Tao không biết mày có biết đó là đâu không - hôm ấy có trận hurling[17] giữa đội Các chàng trai xứ Croke và đội Thurles Can đảm và thề có Chúa, trận cầu đó dữ dội lắm, Stevie ạ. Hôm ấy anh họ tao, Fonsy Davin, bị lột truồng khi giữ cầu môn cho phía Limerick nhưng trong nửa trận, anh ấy đã chơi tấn công, la hét như điên. Tao không bao giờ quên hôm ấy. Một cầu thủ Crokes dùng gậy quật anh ấy một cú trời giáng và thề có Chúa, cú đó chút nữa trúng thái dương anh ấy. Thành thật mà nói, nếu trúng cú đó thì anh ấy chỉ có nước toi đời.
- Tao mừng là anh mày thoát được. – Stephen vừa cười vừa nói – Nhưng chắc đó không phải chuyện kỳ lạ đã xảy ra với mày?
- Ừ, tao nghĩ chuyện này chắc mày chả hứng thú, nhưng ít ra sau trận đấu không khí cũng huyên náo đến nỗi tao lỡ mất chuyến tàu về nhà và không thể đi nhờ xe ai, vì may sao, hôm ấy có lễ Mi-sa ở Castletownroche[18] và xe cộ cả xứ dồn sạch tới đó. Thế là tao chỉ còn cách nán lại hoặc tìm chỗ khác qua đêm. Ừ, tao sửa soạn cuốc bộ và cứ đi, đi mãi. Trời sập tối khi tao tới dãy Ballyhoura, chỗ đó cách Kilmallock hơn mười dặm và sau dãy đồi là cả quãng đường dài đơn độc. Mày chẳng thấy bóng dáng nhà thờ nào dọc đường đi hay nghe thấy gì đâu. Trời tối như hũ nút. Một, hai lần tao dừng lại ven đường dưới một bụi cây để châm tẩu, và nếu sương không xuống nhiều, tao đã nằm lăn ra đó nghỉ ngơi. Cuối cùng, sau ngã rẽ, tao phát hiện một túp lều nhỏ có ánh đèn ở cửa sổ. Tao tiến tới và gõ cửa. Một giọng nói hỏi ai đó và tao đáp là mình mới xem xong trận bóng ở Buttevant, đang cuốc bộ về nhà và rất cảm ơn nếu có một cốc nước để uống. Lát sau, một phụ nữ trẻ ra mở cửa và mang cho tao một ca sữa lớn. Cô ta nửa như không mặc gì, như thể sắp đi ngủ lúc tao gõ cửa ấy, tóc cô ta để xõa, và nhìn thân hình lẫn điều gì đó trong mắt cô ta, tao nghĩ chắc cô ta đang có thai. Cô ta nói chuyện với tao một lúc ở cửa, và tao nghĩ thật kỳ lạ vì ngực và vai cô ta để trần. Cô ta hỏi tao có mệt không và có muốn dừng chân qua đêm ở đó không.
Cô ta bảo mình ở nhà một mình và rằng sáng nay chồng cô ta đã đi Queenstown để tiễn chân em gái. Suốt thời gian trò chuyện, cô ta cứ dán mắt vào tao, Stevie ạ, và cô ta đứng rất gần đến nỗi tao nghe được cả tiếng cô ta thở. Cuối cùng khi tao trả lại cái ca, cô ta kéo tay tao qua ngưỡng cửa rồi bảo: “Vào nhà và ở lại đi. Chẳng có gì làm cậu sợ. Chẳng có ai ở đây ngoại trừ chúng ta…” Tao không vào, Stevie ạ, tao cảm ơn cô ta rồi lại lên đường, cả người phát sốt. Ở ngã rẽ đầu tiên, tao nhìn lại và thấy cô ta vẫn đứng trước cửa nhà.
Những từ cuối trong câu chuyện của Davin ngân lên trong ký ức Stephen và hình ảnh thiếu phụ trong câu chuyện đó nổi lên, phản chiếu hình ảnh những phụ nữ nông dân đứng trước cửa nhà mà cậu từng thấy khi xe trường chạy qua Clane, một chủng loài giống cậu và giống thiếu phụ kia, một linh hồn như loài dơi choàng tỉnh trong bóng tối, bí ẩn và cô đơn, qua ánh mắt, giọng nói, cử chỉ của một phụ nữ thành khẩn mời mọc người lạ lên giường.
Một bàn tay đặt lên tay cậu và một giọng nói trẻ trung kêu lên:
- A, anh ơi, mua hoa cho người yêu nhé! Mở hàng giùm em đi. Mua bó hoa đáng yêu này nhé. Anh mua nhé?
Bó hoa màu xanh mà cô gái giơ về phía cậu và đôi mắt xanh tươi trẻ của cô ta bỗng chốc biến thành hình ảnh xảo trá, khiến cậu dừng lại cho tới khi hình ảnh đó biến mất và cậu chỉ còn thấy bộ váy tơi tả, mái tóc ẩm bù xù và khuôn mặt tí toét của cô ta.
- Mua đi, anh ơi! Đừng quên người yêu mình, anh ơi!
- Tôi không có tiền. – Stephen đáp.
- Mua bó hoa đáng yêu này đi anh. Chỉ mất một xu thôi.
- Cô có nghe tôi nói gì không? – Stephen cúi người về phía cô gái, hỏi lại – Tôi bảo mình không có tiền. Giờ tôi nhắc lại nhé.
- Ừ, chắc rồi, hôm nào đó anh sẽ có tiền, cầu Chúa thế. – Cô gái nhanh nhảu đáp.
- Có thể. – Stephen đáp lại – Nhưng tôi không nghĩ là mình sẽ có.
Cậu mau chóng rời khỏi chỗ cô gái bán hoa, sợ cô ta từ thân tình có thể hóa ra chán ghét và mong mình tránh xa để còn mời mọc kẻ khác, một du khách từ Anh tới hay một sinh viên của Đại học Trinity. Đường Grafton cậu đang đi bỗng kéo dài khoảnh khắc túng bấn chán nản ấy. Đầu đường, người ta dựng các cột đá để tưởng nhớ Wolfe Tone[19] và Stephen nhớ hai bố con cậu đã có mặt lúc các cột đá được dựng lên. Cậu cay đắng nhớ lại cảnh tượng tôn kính hào nhoáng đó. Có bốn đại biểu người Pháp ngồi xe ngựa tới và một người, một anh chàng bụ bẫm tươi cười đã cầm tấm thiếp có dòng chữ “Vive L’Irlande!”[20] rồi dùng gậy nhét vào giữa các cột đá.
Nhưng cây cối trong vườn xuân của Stephen tỏa ra mùi nước mưa và mặt đất đẫm nước mưa dậy lên mùi chết chóc, một mùi thoang thoảng tỏa ra từ nhiều trái tim dưới đất. Linh hồn của thành phố hào hoa, vụ lợi này, linh hồn mà người lớn tuổi kể với cậu là theo thời gian đã teo lại thành mùi chết chóc thoang thoảng dậy lên từ lòng đất và cậu biết rằng trong khoảnh khắc bước chân vào ngôi trường ảm đạm kia, mình sẽ hiểu ra sự băng hoại, biến chất khác hẳn sự băng hoại, biến chất của Buck Egan và Burnchapel Whaley[21].
Cũng đã muộn, Stephen không lên gác học lớp tiếng Pháp nữa. Cậu băng qua sảnh rồi men theo hành lang bên trái dẫn tới giảng đường lớp Vật lý. Hành lang này tối tăm, tĩnh lặng nhưng không hề thiếu cảnh giác. Sao cậu thấy nó không thiếu cảnh giác? Có phải vì cậu đã nghe kể vào thời Buck Whaley, ở đây có một cầu thang bí mật? Hay trường dòng này là lãnh địa xa lạ và cậu đang đi lại giữa đám sinh vật xa lạ? Xứ Ireland của Tone và Parnell như lùi xa trong không gian.
Cậu mở cửa giảng đường và dừng lại trong ánh sáng xám giá lạnh đang cố len qua các ô cửa đầy bụi. Có bóng người lom khom trước tấm chắn lò sưởi và qua dáng vẻ già nua, gầy gò, cậu biết đó là thầy Trưởng khoa phụ trách sinh viên đang nhóm lửa. Stephen khẽ đóng cửa lại rồi tiến tới bên lò sưởi.
- Chào thầy! Em giúp thầy nhé?
Vị tu sĩ mau mắn nhìn lên rồi bảo:
- Đợi chút, trò Dedalus, rồi em sẽ thấy. Nhóm lửa là cả một nghệ thuật đấy. Ta có các môn khai phóng và thực hành. Đây là một môn thực hành.
- Em sẽ thử. – Stephen bảo.
- Bí quyết là đừng cho quá nhiều than. – Thầy Trưởng khoa bảo, vừa nhanh nhẹn làm công việc của mình.
Thầy lôi bốn mẩu nến từ túi áo chùng ra rồi khéo léo đặt chúng giữa đống than và giấy bị vò nát. Stephen im lặng nhìn thầy. Quỳ gối trên nền đá để nhóm lửa, bận bịu xử lý mớ giấy và nến, thầy chưa bao giờ là kẻ phụng sự khiêm nhường hơn, sẵn sàng dâng vật hiến sinh trong đền thờ trống trải, một phụ tế của Chúa. Chiếc áo chùng sờn cũ bạc màu phủ lên thân hình đang quỳ của thầy giống chiếc áo lanh thô mộc của viên phụ tế và thầy sẽ là người mà các giáo sĩ hay thầy tư tế vận đồ lễ đính đầy chuông gây khó dễ, phiền hà. Thân hình của thầy đã hóa già nua khi làm công việc phụng sự hèn mọn - giữ lửa trên bàn thờ, bí mật đưa tin lành, đón chờ đám phàm nhân, mau lẹ chống trả khi được bảo - mà vẫn không rạng rỡ hồng ân bằng bất cứ thứ gì thần thánh hay vẻ đẹp của giám mục. Không, linh hồn thầy đã hóa già nua khi làm công việc đó mà không vươn tới ánh sáng, đạt tới vẻ đẹp hay tỏa ra mùi thơm thánh thiện ngọt ngào nào – một ý chí thối hoại sẽ chẳng đáp lại cơn run rẩy của sự tuân phục, cũng chẳng đáp lại cơn run rẩy của tình yêu hay chống lại cơ thể lão hóa, gầy gò và gân guốc, già nua và héo úa[22].
Thầy Trưởng khoa ngả người về sau, ngồi xổm và nhìn những que củi bắt lửa. Stephen cất lời để lấp đi sự yên lặng đó:
- Em chắc mình sẽ không nhóm nổi lửa.
- Em là nghệ sĩ đúng không, Dedalus? – Thầy Trưởng khoa hỏi, vừa nhìn lên và hấp háy đôi mắt mờ đục – Mục tiêu của nghệ sĩ là sáng tạo cái đẹp. Cái đẹp là gì lại là câu hỏi khác.
Thầy chậm rãi, lạnh nhạt xoa tay trước câu hỏi khó kia.
- Giờ em trả lời câu hỏi đó được không? – Thầy hỏi.
- Aquinas nói: “Pulcra sunt quae visa placent”[23]. – Stephen đáp.
- Ngọn lửa trước mặt – Thầy Trưởng khoa bảo – sẽ làm ta vui mắt. Vậy lửa có đẹp không?
- Trong chừng mực lửa được mắt nhận biết, mà em cho là hiểu biết về mặt thẩm mỹ, thì nó đẹp. Nhưng Aquinas cũng nói: “Bonum est in quod tendit appetitus”[24]. Trong chừng mực lửa thỏa mãn khát khao ấm áp của động vật thì tốt. Song dưới địa ngục, nó lại xấu xa.
- Đúng thế, – Thầy Trưởng khoa đáp – tất nhiên em trả lời trúng phóc.
Thầy nhanh nhẹn đứng lên và đi về phía cửa cái, mở nó ra rồi bảo:
- Gió lùa sẽ giúp lửa cháy đượm hơn.
Khi thầy quay lại lò sưởi, với bước chân hơi khập khiễng nhưng mau lẹ, Stephen thấy linh hồn tĩnh lặng của một giáo sĩ dòng Tên đang nhìn mình bằng đôi mắt mờ đục không tình yêu. Chân thầy thọt giống Thánh Ignatius nhưng mắt thầy không ánh lên ngọn lửa nhiệt tình như vị thánh kia. Thậm chí mưu mẹo huyền thoại của vị thánh kia, mưu mẹo tinh tế và bí mật hơn những cuốn sách ngụ ngôn về trí khôn tinh tế bí mật cũng không làm linh hồn thầy cháy rực thứ năng lượng tông đồ. Dường như thầy dùng những biến đổi thăng trầm, hiểu biết, mánh khóe của thế gian như được bảo, vì sự vinh quang vĩ đại hơn của Chúa, chứ chẳng phải vì niềm vui được dùng tới chúng hay nỗi căm ghét những gì xấu xa ở chúng, và thầy, bằng cử chỉ kiên định tuân phục, khiến chúng tự chống lại mình và bằng việc im lặng phụng sự đó, thầy hình như chẳng yêu thương Đấng Thầy của mình và nếu có, cũng yêu thương rất ít mục đích mà mình phụng sự. Similiter atque senis baculus[25], thầy là thế, giống như người sáng lập ra dòng Tên có thầy, là cây gậy trong tay một ông già để tì vào khi đi đường lúc trời sập tối hay nổi giông gió, để đặt trên chiếc ghế trong vườn cạnh bó hoa thơm của một quý bà, để giơ ra đầy đe dọa.
Thầy Trưởng khoa quay lại phía lò sưởi và bắt đầu xoa cằm.
- Khi nào em có thể nói ta nghe ý gì đó về thẩm mỹ nhỉ? – Thầy hỏi.
- Em ư? – Stephen kinh ngạc hỏi – May ra hai tuần em mới nảy ra một ý.
- Mấy vấn đề này rất sâu sắc, trò Dedalus ạ. – Thầy Trưởng khoa bảo – Giống như ta nhìn từ vách đá Moher xuống vực sâu ấy. Nhiều người lần mò xuống đó rồi chẳng ngoi lên nữa. Chỉ thợ lặn lành nghề mới có thể xuống đó, khám phá các tầng nước sâu rồi trở lại mặt nước.
- Thưa thầy, nếu ý thầy là suy ngẫm, – Stephen đáp – thì em chắc chẳng có gì là suy nghĩ tự do chừng nào mọi suy nghĩ còn bị chính quy luật của nó bó buộc.
- Ha!
- Vì mục đích của mình, hiện em có thể suy ngẫm nhờ ánh sáng từ một, hai tư tưởng của Aristotle và Aquinas.
- Thầy hiểu. Thầy hiểu ý em.
- Em dùng những tư tưởng đó và nhờ chúng soi đường tới khi em nghĩ ra thứ gì đó của riêng mình. Nếu ngọn đèn ấy tỏa khói hay bốc mùi, em sẽ vặn nhỏ bấc đèn. Nếu nó không đủ sáng, em sẽ bán đi và mua ngọn đèn khác.
- Epictetus[26] cũng có một cây đèn. – Thầy Trưởng khoa bảo – Lúc ông ấy mất, người ta bán nó với giá cực đắt. Ông ấy đã dùng nó để viết luận án triết học. Em biết Epictetus không?
- Một quý ông già cả, – Stephen khàn giọng đáp lại – người nói linh hồn ta hệt một thùng nước đầy.
- Ông ấy chất phác kể, – Thầy nói tiếp – rằng mình đặt cây đèn bằng sắt trước mặt tượng thần và kẻ trộm đã lấy đi cây đèn đó. Nhà triết học đã làm gì? Ông ấy nghĩ rằng bản chất kẻ trộm là ăn trộm và hôm sau quyết định mua một cây đèn bằng đất thay cho cây đèn bằng sắt.
Mùi mỡ cháy tỏa ra từ những mẩu nến bị đốt và hóa lỏng trong tâm trí Stephen cùng tiếng xủng xoảng của ngôn từ, thùng nước và cây đèn, cây đèn và thùng nước. Giọng vị tu sĩ cũng vang lên tiếng xủng xoảng khó chịu. Tâm trí Stephen dừng lại theo bản năng, bị giọng nói, hình ảnh kỳ lạ và vẻ mặt của vị tu sĩ ngăn cản, vẻ mặt như ngọn đèn không phát sáng hay vật phản quang bị treo sai tiêu cự. Thứ gì nằm sau vẻ mặt ấy hay bên trong nó? Là tình trạng đờ đẫn tẻ nhạt của linh hồn hay sự tẻ nhạt của mây giông, được hiểu biết tiếp thêm năng lượng và có thể hình dung ra khung cảnh ảm đạm của Chúa?
- Thưa thầy, ý em là loại đèn khác cơ. – Stephen bảo.
- Rõ là thế. – Thầy Trưởng khoa đáp.
- Cái khó khi bàn về thẩm mỹ là không biết ngôn từ được dùng theo cách hiểu văn vẻ hay theo nghĩa thông thường. – Stephen nói tiếp – Em nhớ một câu của Newman trong đó ông bàn về Đức Mẹ đồng trinh rằng Bà bị cầm tù giữa đông đảo các vị thánh. Từ này theo nghĩa thông thường sẽ khác hẳn. Em hi vọng mình không ngăn cản thầy.
- Không chút nào. – Thầy Trưởng khoa lịch sự đáp.
- Không, không, ý em là… – Stephen vừa đáp vừa mỉm cười.
- Ừ, thầy hiểu. – Thầy nhanh nhảu đáp – Thầy theo kịp em mà, là từ “ngăn cản”[27].
Thầy giơ cằm ra và ho một tiếng ngắn, khô khốc.
- Quay lại với ngọn đèn, – Thầy bảo – châm dầu cũng là việc hay ho. Em phải chọn dầu tinh và cẩn thận khi rót để không làm tràn dầu, đừng rót nhiều hơn sức chứa của phễu.
- Phễu nào ạ? – Stephen hỏi.
- Cái phễu mà em dùng để rót dầu vào đèn của mình ấy.
- Cái đó á? – Stephen hỏi lại – Đó là cái phễu à? Không phải gàu à?
- Gàu gì chứ?
- Cái đó ấy. Cái… phễu ấy.
- Thứ đó ở Ireland gọi là gàu à? – Thầy Trưởng khoa hỏi. – Thầy chưa bao giờ nghe từ ấy.
- Ở Hạ Drumcondra, nơi người ta dùng thứ tiếng Anh hay nhất, nó được gọi là gàu. – Stephen vừa cười vừa nói.
- Gàu à? – Thầy trầm ngâm bảo – Một từ thú vị. Thầy phải tra từ điển mới được. Thầy phải tra từ này thôi.
Cử chỉ bặt thiệp của thầy Trưởng khoa hơi giả dối và Stephen nhìn kẻ cải đạo người Anh kia bằng con mắt giống như cậu anh cả trong tích truyện nhìn thằng em hoang đàng[28]. Một môn đồ khiêm nhường tỉnh thức nhờ cuộc trò chuyện rổn rảng, một người Anh kém cỏi ở Ireland, thầy có vẻ đã bước vào lịch sử dòng Tên khi vở kịch kỳ lạ về mưu mô, khổ nạn, ganh ghét, đấu tranh và sỉ nhục suýt được diễn xong - một kẻ đến muộn, một kẻ chậm chạp lề mề. Thầy từ đâu tới? Có lẽ thầy được sinh ra và lớn lên giữa những kẻ ly khai nghiêm túc, chỉ thấy sự cứu rỗi nơi Chúa Jesus và ghê tởm những thứ phù hoa hão huyền của Giáo hội quyền uy. Thầy có cảm thấy nhu cầu về một đức tin ẩn tàng giữa đống lộn xộn của chủ nghĩa bè phái và biệt ngữ về các phe phái ly khai hỗn loạn, phe theo sáu nguyên tắc, phái cá biệt, Baptist hạt mầm và Baptist dùng rắn, những kẻ giáo điều tin vào mệnh trời không? Đột nhiên thầy có tìm ra một Giáo hội đích thực khi đi tới cùng như khi ta lần theo cuộn chỉ và tìm ra một sợi lý lẽ mịn màng trong lúc thổi lên bàn tay cầm cuộn chỉ kia hay đi tới như trong đám rước Chúa Thánh thần không? Hay Chúa Cha đã chạm vào thầy, bảo thầy đi theo, như đã làm với vị tông đồ từng ngồi thu thuế gần cửa một nhà nguyện có mái lợp bằng kẽm, vừa ngáp ngắn ngáp dài vừa lải nhải về số tiền nộp cho Giáo hội[29]?
Thầy Trưởng khoa nhắc lại lần nữa.
- Gàu à! Hay thật đấy!
- Câu hỏi mà thầy đặt ra cho em lúc nãy, với em, có vẻ thú vị hơn. Cái đẹp là gì mà nghệ sĩ cố biểu đạt từ đống đất ấy. – Stephen lạnh lùng bảo.
Ngôn từ nhỏ nhoi đó như xoay lưỡi kiếm nhạy cảm của cậu vào kẻ thù bặt thiệp và cảnh giác kia. Cậu thấy chán nản nhức nhối vì người mà mình trò chuyện là đồng hương của Ben Jonson. Cậu nghĩ:
Ngôn ngữ ta đang nói là ngôn ngữ của thầy ấy trước khi là ngôn ngữ của mình. Những từ như “nhà”, “Chúa Jesus”, “rượu bia”, “Đấng Thầy” trên môi thầy ấy và trên môi mình thật khác xa nhau! Mình không thể nói hay viết ra những từ ấy mà không cảm thấy bất an. Ngôn ngữ của thầy ấy, quá quen thuộc và quá xa lạ, là lối nói mình phải học mới thụ đắc được. Mình không tạo ra hay chấp nhận những từ ấy. Giọng mình giữ chúng ở xa. Tâm hồn mình bứt rứt dưới cái bóng ngôn ngữ của thầy ấy.
- Rồi phân biệt giữa cái đẹp và cái siêu phàm, – Thầy Trưởng khoa nói thêm – phân biệt giữa cái đẹp đạo đức và cái đẹp vật chất. Và tìm hiểu cái đẹp nào phù hợp với mỗi nghệ thuật khác nhau. Ta sẽ bàn tới những điểm thú vị đó.
Stephen đột nhiên thấy chán vì giọng nói khô khốc, đoan chắc của thầy Trưởng khoa, nên lặng thinh và xuyên qua sự yên lặng đó, tiếng ồn ào xa xăm của nhiều đôi ủng và giọng nói hòa trộn từ cầu thang vẳng tới.
- Song để theo đuổi những suy ngẫm này, – Thầy trưởng khoa kết luận – ta có nguy cơ sẽ mất đi sự trống rỗng. Đầu tiên, em phải có tấm bằng Đại học. Hãy coi đó là mục tiêu đầu tiên. Rồi từ từ em sẽ nhìn ra đường đi. Ý thầy là theo mọi nghĩa, cách sống lẫn lối nghĩ. Ban đầu, việc ấy giống như đạp xe lên đồi. Lấy trò Moonan làm ví dụ. Cậu ta mất nhiều thời gian mới lên tới đỉnh đồi. Nhưng cậu ta đã lên tới đó.
- Em không giỏi như bạn ấy. – Stephen khẽ nói.
- Em làm sao biết được. – Thầy Trưởng khoa tươi tắn bảo. – Ta không thể nói mình có những gì. Thầy chắc em sẽ không nản lòng. Per aspera ad astra[30].
Thầy mau chóng rời lò sưởi và đi về phía chiếu nghỉ để ngó chừng lớp Nghệ thuật đầu tiên.
Tựa vào lò sưởi, Stephen nghe tiếng thầy Trưởng khoa lanh lẹ, vô tư chào mọi sinh viên lớp Nghệ thuật và gần như có thể thấy nụ cười thành khẩn của mấy sinh viên lỗ mãng hơn. Lòng thương xót não nề bắt đầu rơi như sương sa lên trái tim dễ cay đắng của cậu vì kẻ phụng sự trung thành của Thánh Ignatius nghĩa hiệp kia, người anh em tu hành cùng cha khác mẹ kia, kẻ vụ lợi trong cách nói năng hơn, có linh hồn vững vàng hơn các anh em tu hành khác, kẻ mà cậu sẽ không bao giờ gọi tên Cha thánh linh của hắn ra rồi cậu nghĩ làm thế nào kẻ ấy và đám bạn hữu của hắn có được thanh danh trần thế không chỉ từ tay thần thánh mà còn từ tay đám phàm nhân vì trong suốt lịch sử của mình, họ đã biện hộ cho linh hồn những kẻ yếu đuối, hờ hững và cẩn trọng trước tòa án phán xử của Chúa.
Thầy Vật lý bước vào và việc đó được báo hiệu bằng tiếng giậm chân sốt ruột từ những đôi ủng nặng nề của đám sinh viên ngồi ở hàng ghế cao nhất trong giảng đường ảm đạm, dưới những ô cửa xám bám đầy mạng nhện. Thầy bắt đầu điểm danh và sinh viên nghe gọi tên bèn đáp lại bằng đủ loại giọng, cho tới cái tên Peter Byrne.
- Có ạ!
Một giọng trầm đục vang lên ở hàng trên, theo sau là tiếng ho phản đối dọc các hàng ghế khác.
Thầy Vật lý tạm dừng rồi lại gọi tiếp.
- Cranly! Không ai đáp.
- Trò Cranly!
Stephen thoáng nở nụ cười khi nghĩ tới các môn bạn mình theo học.
- Thử gọi tới Leopardstown[31] xem sao thầy ơi! – Một giọng nói từ hàng ghế sau vang lên.
Stephen liếc thật nhanh ra sau nhưng khuôn mặt khinh khỉnh của Moynihan, được ánh sáng xám viền quanh, vẫn thản nhiên. Thầy Vật lý ghi một công thức lên bảng. Giữa tiếng lật vở sột soạt, Stephen quay lại bảo:
- Vì Chúa, cho tao xin ít giấy.
- Mày tệ đến thế cơ à? – Moynihan nhăn nhở hỏi.
Nó xé một tờ từ vở ghi của mình ra rồi đưa cho Stephen, thì thào bảo:
- Khi cần kíp thì kẻ ngoại đạo hay đàn bà đều làm thế. Công thức mà Stephen ngoan ngoãn ghi lên tờ giấy, những phép tính thẳng tắp hay loằng ngoằng của thầy giáo, những biểu tượng lực và vận tốc y như bóng ma mê hoặc và làm tâm trí cậu kiệt quệ. Cậu nghe ai đó nói thầy giáo già này là thành viên Hội Tam điểm vô thần. Ôi một ngày xám xịt tẻ ngắt! Một ngày như điệu múa lấp lửng của ý thức kiên trì không đau đớn, qua đó linh hồn của các nhà toán học đi lang thang, vừa chiếu những cấu trúc dài mảnh từ mặt phẳng này tới mặt phẳng khác trên cái nền là ánh chiều nhợt nhạt, hiếm hoi hơn, vừa phóng những xoáy lốc mau lẹ tới rìa cuối của vũ trụ ngày càng bao la, xa xăm, mờ mịt hơn.
- Vậy nên ta phải phân biệt giữa ellip và ellipsoid. Có lẽ vài người trong các trò biết tác phẩm của W. S. Gilbert. Ông ta có bài hát viết về một tay chơi bi-da giỏi, kẻ bị phạt phải chơi môn đó:
Trên nền vải giả trá
Cùng cây cơ xoắn vặn
Và những quả bi-da hình ellip
- Ý tôi là quả bi có hình ellipsoid trên các trục chính mà phút trước tôi vừa nhắc tới ấy.
Moynihan vươn người về trước, thì thào vào tai Stephen:
- Đống bi[32] hình ellipsoid thật đáng giá! Các em ơi, theo anh nào, anh là kị binh đây!
Câu đùa thô tục của cậu bạn như cơn gió thổi qua hành lang tâm trí Stephen, phả sức sống tươi vui vào những tấm áo tu hành ủ rũ treo trên tường, khiến chúng lắc lư và nhảy cỡn lên như trong lễ Sabbath hỗn loạn. Bóng dáng toàn thể trường trỗi dậy từ những tấm áo bị gió thổi tung: thầy Trưởng khoa phụ trách sinh viên; viên thủ quỹ béo tốt hồng hào đội mũ vải trên mái đầu bạc; thầy Hiệu trưởng, vị tu sĩ nhỏ thó có mái tóc tơ hay viết những dòng thơ mộ đạo, thân hình thô lậu béo lùn của thầy dạy Kinh tế; dáng vẻ cao ráo của thầy giáo trẻ dạy Tinh thần học đang bàn luận một trường hợp ý thức với lớp mình ở chỗ chiếu nghỉ, giống một con hươu cao cổ bứt lá trên cành cây cao giữa bầy linh dương, Hội trưởng hội thiện nguyện nghiêm trang bồn chồn; thầy giáo dạy tiếng Ý có cái đầu tròn ủng, cặp mắt đểu giả và thân hình mập mạp. Họ xuất hiện, bước thong thả và vấp ngã, nhào lộn và nhảy cỡn, quấn tà áo lên để nhảy cừu, túm lấy áo người khác, rung người cười giả dối thâm hiểm, vỗ vai nhau rồi cười vang trước ác ý thô lỗ ấy, gọi người này người kia bằng biệt danh quen thuộc, rồi đột nhiên đĩnh đạc phản đối cách gọi thô lỗ nào đó, đứng thành từng cặp rồi che miệng thì thào với nhau.
Thầy Vật lý đã đi tới chỗ tủ kính đặt cạnh tường, lấy trên kệ tủ xuống một cuộn dây, thổi sạch bụi ở nhiều chỗ và cẩn thận đem cuộn dây đó ra bàn, đặt một ngón tay lên rồi tiếp tục giảng bài. Thầy giải thích rằng dây trong các cuộn dây hiện đại đều làm từ hợp chất gọi là platinoid, do F. W. Martino mới khám phá ra.
Thầy phát âm rõ những chữ viết tắt và họ tên của người khám phá. Moynihan thì thào sau lưng Stephen:
- Lão Martin nước lọc ấy hay thật!
- Bảo lão – Stephen thì thào đáp lại, vẻ khôi hài yếu ớt – là nếu muốn có đối tượng bị giật điện thì cứ gọi cho tao.
Moynihan, thấy thầy giáo cúi xuống mấy cuộn dây, bèn nhỏm khỏi ghế, và vừa lẳng lặng bẻ các ngón tay phải kêu lục cục vừa nói bằng giọng của một thằng oắt mồm miệng đầy dớt dãi:
- Thầy ơi! Bạn này nói bậy!
- Platinoid, – Thầy giáo nghiêm trang giảng bài – được ưa thích hơn bạc Đức vì nó có hệ số nhiệt điện trở thấp hơn. Dây platinoid được cách điện và miếng bọc cách điện được quấn trên ống cao su cứng, ngay chỗ ngón tay tôi đây. Nếu ta quấn dây đơn thì dòng điện sẽ được cảm trong cuộn dây. Các ống được ngâm tẩm sáp paraffin nóng…
Một giọng chói lói vùng Ulster vang lên từ hàng ghế phía dưới Stephen:
- Bọn em có được đặt câu hỏi về khoa học ứng dụng không ạ?
Thầy giáo bắt đầu nghiêm nghị tung hứng giữa thuật ngữ khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng. Một sinh viên đậm người, đeo kính gọng vàng, kinh ngạc nhìn đứa vừa hỏi. Moynihan thì thào bằng giọng tự nhiên sau lưng Stephen:
- MacAlister có phải con quỷ vì đống thịt trên người nó không?
Stephen lạnh lùng nhìn khuôn đầu thuôn dài của kẻ ngồi phía dưới mình, kẻ có đầu đầy tóc màu mè xoắn bện. Giọng nói, ngữ điệu, tâm trí của cái đứa vừa hỏi lúc nãy làm cậu bực mình và cậu cho phép nỗi bực dọc biến mình thành ra cố tình độc ác, khi nghĩ cha cậu sinh viên kia tốt hơn nên gửi con trai mình tới Belfast học và làm thế, hẳn đã tiết kiệm được khối tiền tàu xe.
Cái đầu ngồi phía dưới không ngoảnh lại để đón nhận mũi tên suy nghĩ của cậu nên mũi tên quay trở lại dây cung, bởi Stephen chỉ thoáng thấy khuôn mặt xanh xao màu sữa của cậu sinh viên.
- Suy nghĩ đó không phải của mình. – Cậu mau chóng tự nhủ – Mà của gã Ireland hài hước ngồi sau lưng mình. Kiên nhẫn. Mày có chắc linh hồn cùng loại với mày đã bị bán chác và những người được chọn đã bị phản bội, vì cái đứa đặt câu hỏi hay kẻ nhạo báng kia không? Kiên nhẫn. Hãy nhớ tới Epictetus. Có thể bản chất cậu ta là đặt câu hỏi như thế vào thời điểm như thế bằng cái giọng như thế và đánh vần “khoa học” như một từ đơn tiết.
Giọng đều đều của thầy giáo tiếp tục chậm rãi quấn quanh mấy cuộn dây được nhắc tới, nhân đôi, nhân ba, nhân bốn thứ năng lượng gây buồn ngủ hệt như cuộn dây làm tăng đơn vị đo điện trở Ohm lên.
Giọng Moynihan từ phía sau cất lên, như vọng lại tiếng chuông xa xa:
- Anh em ơi, hết giờ rồi[33]!
Sảnh ngoài đông nghẹt người và ồn ào tiếng nói chuyện. Trên chiếc bàn gần cửa giảng đường là hai bức ảnh được lồng khung và giữa chúng là một cuộn giấy dài đầy chữ ký. MacCann nhanh nhẹn đi tới đi lui giữa đám sinh viên, nhanh nhảu đáp lại lời từ chối và dẫn hết người này người kia tới bên bàn. Ở sảnh trong, thầy Trưởng khoa đang đứng nói chuyện với một thầy giáo trẻ, vừa nghiêm nghị xoa cằm vừa gật gù.
Stephen, thấy đám đông ở cửa giảng đường, bèn lưỡng lự dừng lại. Dưới vành mũ mềm rộng rũ xuống, đôi mắt tối tăm của Cranly nhìn cậu.
- Mày ký chưa? – Stephen hỏi.
Cranly ngậm đôi môi dài mỏng dính lại, trầm tư một lúc rồi bảo:
- Ego habeo[34].
- Ký làm gì?
- Quod[35]?
- Ký làm gì?
Cranly quay bộ mặt xanh xao sang Stephen rồi ôn tồn, chua cay bảo:
- Per pax universalis[36].
Stephen chỉ hình Nga hoàng rồi bảo:
- Ông ta có bộ mặt của một vị Chúa ngờ ngệch.
Giọng cậu đầy khinh rẻ, bực tức, khiến Cranly đang bình thản nhìn các bức tường trong sảnh bèn dừng lại nhìn cậu:
- Mày bực à? – Nó hỏi.
- Không. – Stephen đáp.
- Mày không vui à?
- Không.
- Crod ut vos sanguinarius mendax estis, – Cranly bảo – quia facies vostra monstrat ut vos in damno malo humore estis[37].
Moynihan đi tới bên bàn và nói vào tai Stephen:
- MacCann “máu” lắm. Sẵn sàng chiến tới cùng. Một thế giới mới toanh. Không có chất kích thích và phiếu bầu cho bọn khốn.
Stephen mỉm cười vì điệu bộ tự tin đó và khi Moynihan đi khỏi, cậu bèn quay sang Cranly.
- Có lẽ mày nói cho tao biết sao thằng đó cứ thủ thỉ với tao thế. – Cậu bảo – Được không?
Cranly nhăn nhó vẻ đần độn. Nó chằm chằm nhìn cái bàn mà Moynihan vừa cúi xuống ký tên, rồi nhạt nhẽo bảo:
- Đồ hết thuốc chữa!
- Quis est in malo humore, – Stephen bảo – ego aut vos[38]? Cranly không thích câu giễu đó. Nó cau có tìm lời đáp trả rồi nhạt nhẽo nhắc lại những gì đã nói:
- Đồ khốn hết thuốc chữa, thằng đó là thế đấy!
Đó là bản ai điếu cho tất cả tình bạn đã chết. Stephen tự hỏi liệu Cranly có nói câu đó và bằng giọng cái đó khi nói về cậu không. Câu nói trì độn nặng nề ấy từ từ chìm xuống, không còn nghe thấy nữa, hệt như hòn đá chìm xuống vũng lầy. Stephen thấy nó chìm như đã thấy nhiều thứ khác chìm, cảm nhận sức nặng của nó đè lên tim mình. Lối nói của Cranly, khác với Davin, chẳng có các câu tiếng Anh hiếm gặp thời Elizabeth cũng chẳng có những phiên bản thành ngữ đặc dị kiểu Ireland. Lối nói lè nhè đó là tiếng một hải cảng điêu tàn ảm đạm đáp lời các bến cảng ở Dublin, còn năng lượng của nó là tiếng bục giảng kinh ở Wicklow nhạt nhẽo đáp lời hùng biện thần thánh của Dublin.
Vẻ nhăn nhó nặng nề trên mặt Cranly giảm bớt khi MacCann nhanh nhảu từ bên kia sảnh tiến tới.
- Mày đến rồi! – MacCann vui vẻ bảo.
- Ừ, tao đây! – Stephen đáp.
- Vẫn muộn như mọi khi. Bộ mày không thể tỏ ra tiến bộ bằng cách đến đúng giờ hay sao?
- Câu hỏi không hợp lệ. – Stephen bảo – Câu tiếp đi. Cậu dán cặp mắt tươi cười vào thanh sô-cô-la sữa bọc giấy bạc thò ra khỏi ngực áo cậu tuyên truyền viên. Một nhóm nhỏ bu lại để xem cuộc đấu khẩu. Một sinh viên gầy gò, da màu ô-liu, tóc đen phủ mắt, hết nhìn cậu lại nhìn MacCann mỗi lần hai đứa nói như muốn bắt từng lời bay bướm trên cái miệng hé mở ướt át của mỗi đứa. Cranly lôi từ túi quần ra một quả bóng nhỏ màu xám, bắt đầu lật đi lật lại và xem xét nó kỹ càng.
- Câu tiếp à? – MacCann hỏi – Được!
MacCann cười khùng khục, cười ngoác cả mồm và hai lần giật chòm râu dê màu rơm, lủng lẳng trên cái cằm bạnh của nó.
- Câu tiếp là mày hãy ký vào đơn thỉnh nguyện.
- Nếu tao ký, mày cho tao cái gì? – Stephen hỏi.
- Tao tưởng mày là thằng duy tâm. – MacCann đáp. Cậu sinh viên trông như dân di-gan nhìn quanh rồi
bảo đám người đang bu lại bằng giọng nỉ non nho nhỏ.
- Quỷ thật, đó là ý niệm kỳ quặc. Tao cho đó là ý vụ lợi. Giọng cậu sinh viên ấy nhỏ dần. Chẳng ai để ý lời cậu ta nói. Cậu ta quay khuôn mặt màu ô liu, giống mặt ngựa về phía Stephen, mời cậu nói tiếp.
MacCann liền lưu loát nói về chỉ dụ của Nga hoàng, vụ Stead[39], phán quyết giải trừ quân bị trong trường hợp có tranh chấp quốc tế, các dấu hiệu thời đại, tính nhân văn mới, Phúc âm mới về cuộc sống, Phúc âm để cộng đồng làm sao có nhiều người nếm trải hạnh phúc lớn nhất với giá càng rẻ càng tốt.
Cậu sinh viên trông như dân di-gan nghe tới đoạn gần cuối thì sụt sùi:
- Hoan hô ba lần vì tình huynh đệ toàn cầu!
- Nói nữa đi, Temple. – Một sinh viên khỏe mạnh, hồng hào đứng gần cậu ta bảo – Lát nữa, tao sẽ đãi mày bia.
- Tao tin vào tình huynh đệ toàn cầu. – Temple bảo, vừa nhìn quanh bằng đôi mắt đen hình bầu dục – Marx chỉ là gã ngốc chết tiệt.
Cranly giữ chặt tay Temple để ngăn cậu ta nói, vừa khó chịu mỉm cười, vừa nhắc đi nhắc lại:
- Bình tĩnh, bình tĩnh, bình tĩnh.
Temple cố vùng ra rồi nói tiếp, mồm lấm tấm nước bọt:
- Người Ireland sáng lập ra chủ nghĩa xã hội và Collins là người đầu tiên ở châu Âu rao giảng về tự do tư tưởng. Hai trăm năm trước. Ông, triết gia vùng Middlesex, đã tố cáo thủ đoạn của đám thầy tu. Hoan hô John Anthony Collins ba lần!
Một giọng nhỏ nhẻ từ mé ngoài đám đông đáp lại:
- Đúng! Đúng!
Moynihan thì thào bên tai Stephen:
- Thế còn cô em bé nhỏ đáng thương của John Anthony thì sao:
Lottie Collins mất quần lót,
Có ai cho mượn không?
Stephen cười to còn Moynihan, hài lòng vì câu đùa, lại thì thào bảo:
- Bọn mình sẽ nói nước đôi về John Anthony Collins.
- Tao đợi mày trả lời đây. – MacCann nói ngắn gọn.
- Tao chẳng hứng thú gì với chuyện này. – Stephen mệt mỏi đáp – Mày biết rõ mà. Sao mày cứ làm to chuyện thế?
- Tốt! – MacCann chép miệng bảo – Vậy ra mày là thằng phản động?
- Mày nghĩ mình gây ấn tượng với tao khi vung kiếm gỗ lên hả? – Stephen hỏi.
- Đừng dùng phép ẩn dụ nữa! – MacCann thẳng thừng đáp – Nói toạc ra đi.
Stephen đỏ mặt, quay đi. MacCann giữ vững lập trường, nói bằng giọng châm biếm gây hấn:
- Tao đoán, đám nhà thơ trẻ coi thường những vấn đề vớ vẩn kiểu này, như vấn đề hòa bình toàn cầu chẳng hạn.
Cranly ngẩng mặt lên, cầm bóng chen vào giữa Stephen và MacCann, đóng vai trò giảng hòa và bảo:
- Pax super totum sanguinarium[40].
Stephen rời khỏi đám đông đang đứng xem, giận dữ nhún vai với tấm ảnh Nga hoàng rồi bảo:
- Cứ giữ lấy thần tượng của mày. Nếu cần một vị Chúa thì hãy chọn Chúa cho xác đáng.
- Quỷ thật, câu đó hay đấy! – Cậu sinh viên trông như dân di-gan bảo đám người xung quanh – Câu đó hay tuyệt. Tao cực kỳ thích câu đó.
Cậu ta nuốt nước bọt ừng ực như muốn nuốt lấy câu nói, lóng ngóng vò chỏm chiếc mũ vải tuýt và quay sang Stephen bảo:
- Thứ lỗi, mày nói thế là có ý gì?
Thấy mấy sinh viên đứng cạnh xô đẩy mình, cậu ta bèn bảo:
- Tao chỉ tò mò muốn biết nó định nói gì thôi. Temple lại quay sang Stephen, thì thào hỏi:
- Mày có tin Chúa Jesus không? Tao tin con người. Dĩ nhiên, tao không biết liệu mày có tin con người không. Tao ngưỡng mộ mày. Tao ngưỡng mộ tâm trí của người độc lập với mọi tôn giáo. Đó có phải ý mày khi nghĩ về Chúa Jesus không?
- Nói nữa đi, Temple, – Cậu sinh viên khỏe mạnh, hồng hào theo thói quen, nhớ ra ý tưởng ban đầu lại bảo – bia đang chờ mày đấy.
- Thằng đó nghĩ tao đần độn, – Temple giải thích cho Stephen – vì tao tin vào sức mạnh trí óc.
Cranly khoác tay Stephen và anh bạn ngưỡng mộ cậu rồi bảo:
- Nos ad manum ballum jocabimus[41].
Stephen đang bị Cranly dẫn đi, bỗng thấy khuôn mặt thô kệch đỏ bừng của MacCann:
- Tao ký có nghĩa lý gì đâu. – Cậu lịch sự bảo MacCann – Mày cứ đi con đường của mày. Mặc kệ tao đi con đường của tao.
- Dedalus, – MacCann rành rọt đáp – tao tin mày là người tốt nhưng mày chưa học được giá trị của lòng vị tha và trách nhiệm cá nhân đâu.
Một giọng nói chen vào:
- Bọn trí thức dở hơi tốt hơn nên đứng ngoài, khỏi tham gia phong trào làm gì.
Stephen nhận ra giọng khàn khàn của MacAlister nhưng không nhìn về phía nó. Cranly nghiêm trang rẽ đám đông, dẫn Stephen và Temple đi, y hệt viên chủ lễ dẫn giáo sĩ của mình tới bên bàn thờ Chúa.
Temple hào hứng nghiêng người trước mặt Cranly, bảo Stephen:
- Mày có nghe MacAlister nói gì không? Thằng đó ghen với mày đấy. Mày có thấy mặt nó không? Tao cá Cranly không thấy. Quỷ thật, tao thấy ngay.
Cả ba băng qua sảnh trong và thấy thầy Trưởng khoa đang cố thoát khỏi cậu sinh viên mà mình vừa trò chuyện cùng. Thầy đứng ở chân cầu thang, một chân đặt lên bậc thang thấp nhất, tay điệu đà cẩn thận kéo vạt áo sờn lên, liên tục gật gù rồi nhắc đi nhắc lại:
- Rõ là thế, trò Hackett! Rất hay! Rõ là thế!
Giữa sảnh, Hội trưởng hội thiện nguyện của trường đang hào hứng trò chuyện cùng một sinh viên nội trú, giọng than vãn dịu dàng. Khi nói, anh ta hơi nhăn chân mày điểm tàn nhang và lâu lâu lại cắn cây bút bằng xương nhỏ xíu.
- Tớ hi vọng đám sinh viên mới nhập học sẽ đến đông đủ. Lớp Nghệ thuật đầu tiên được rồi. Lớp thứ hai cũng thế. Ta phải chắc về đám lính mới ấy.
Temple lại nghiêng người trước mặt Cranly khi cả ba đang trên đường đi ra cửa, rồi thì thào bảo nhanh Stephen:
- Mày có biết anh ta kết hôn rồi chưa? Anh ta lấy vợ rồi mới cải đạo. Anh ta có vợ con ở đâu đó. Quỷ thật, tao cứ tưởng đó là ý nghĩ kỳ quặc nhất của mình! Đúng không?
Lời thì thào của Temple biến thành tiếng cười khúc khích ma mãnh. Khi cả ba vừa bước ra khỏi cửa, Cranly liền thô lỗ túm lấy Temple, lắc lấy lắc để rồi bảo:
- Đồ hậu đậu đần độn! Tao sẽ nhận cuốn Kinh thánh tàn lụi của mình và mày biết đấy, ở thế giới chết tiệt này, chả có con vượn chết tiệt nào to hơn mày đâu!
Bị túm chặt song Temple vẫn ngọ nguậy, vừa cười to vẻ hài lòng ma mãnh, trong khi Cranly cứ nhạt nhẽo nhắc đi nhắc lại và thô lỗ lúc lắc nó:
- Đồ đần độn thối tha!
Cả bọn băng qua vườn trường đầy cỏ dại. Thầy Hiệu trưởng mặc chiếc áo chùng suôn đuột nặng nề, đang men theo một lối đi tiến tới chỗ chúng, vừa đi vừa tụng kinh. Hết lối đi, tới ngã rẽ thầy dừng lại và ngước lên nhìn. Cả bọn chào thầy, Temple lóng ngóng y như lúc vò chỏm mũ. Cả bọn im lặng đi tiếp. Gần tới sân bóng, Stephen nghe thấy tiếng bắt bóng lịch kịch, tiếng đập bóng bồm bộp và tiếng Davin hào hứng gào to sau mỗi cú đánh.
Cả bọn dừng chân gần chỗ Davin ngồi theo dõi trận bóng. Được một lúc, Temple lẻn sang chỗ Stephen rồi bảo:
- Thứ lỗi, tao hỏi này, mày có tin Jean-Jacques Rousseau là kẻ thành thực không?
Stephen cười phá lên. Cranly, nhặt thanh gỗ của chiếc thùng vỡ nằm trên trảng cỏ dưới chân lên, quay phắt lại rồi nghiêm nghị bảo:
- Temple, mày biết đấy, thề có Chúa nếu mày còn nói từ nào, về ai hay về bất cứ chủ đề gì, tao sẽ giết mày super spottum[42].
- Tao nghĩ, nó cũng giống mày, một đứa dễ xúc động. – Stephen bảo.
- Đồ trời đánh thánh vật, đồ khốn! – Cranly thô bỉ rủa – Đừng nói gì với nó. Chắc mày biết, nói với nó cũng như nói với cái bô ngu ngốc ấy. Temple, về đi. Vì Chúa, về đi.
- Mặc xác mày, Cranly. – Temple lùi khỏi tầm quơ của thanh gỗ, chỉ vào Stephen bảo – Ở trường này, tao thấy mỗi nó là còn có suy nghĩ cá nhân.
- Trường này à! Cá nhân à! – Cranly kêu lên – Đồ khốn, về đi, vì mày là thằng vô vọng chết tiệt.
- Tao là đứa dễ xúc động. – Temple đáp – Nói thế đúng lắm. Và tao tự hào là đứa dễ xúc động.
Temple cười ma mãnh, chuồn khỏi sân bóng. Cranly nhìn nó bằng vẻ mặt vô cảm dửng dưng.
- Nhìn nó kìa! – Cranly bảo – Mày thấy đứa nào khốn khổ khốn nạn thế chưa?
Đáp lời Cranly là tràng cười kỳ lạ của một cậu sinh viên đang nằm ườn cạnh bờ tường bao quanh sân bóng, đầu đội mũ vải nhọn vành che sụp xuống mắt. Tràng cười the thé phát ra từ cơ thể vạm vỡ ấy y như tiếng voi rống. Thân hình cậu sinh viên rung lên, và để xóa đi vẻ đùa cợt, cậu ta thích thú xoa tay lên bẹn.
- Lynch tỉnh rồi. – Cranly bảo.
Đáp lại, Lynch vươn vai, ưỡn ngực.
- Lynch ưỡn ngực như phản bác cuộc đời ấy. – Stephen bảo.
Lynch vỗ ngực bồm bộp rồi bảo:
- Ai so gân với tao nào?
Cranly nhận lời và cả hai xông vào nhau. Được một lúc mặt mũi cả hai đều đỏ ửng, chúng bèn buông nhau ra, thở hổn hển. Stephen cúi xuống Davin, người đang chăm chú theo dõi trận bóng, chẳng để ý kẻ khác làm gì.
- Chú ngỗng nhỏ được thuần hóa của tao thế nào rồi? – Stephen hỏi – Mày ký chưa?
Davin gật đầu rồi hỏi:
- Mày thì sao, Stevie? Stephen lắc đầu.
- Mày là thằng tồi, Stevie. – Davin lôi chiếc tẩu ngắn ra khỏi miệng rồi bảo – Lúc nào mày cũng đơn độc.
- Vì mày đã ký đơn vì hòa bình thế giới, – Stephen bảo – nên tao cho là mày sẽ đốt cuốn vở tao thấy trong phòng mày.
Davin không đáp gì nên Stephen bắt đầu trích dẫn lời trong cuốn vở:
- Bước dài nào, fianna[43]! Bên phải quay, fianna! Fianna, tuần tự điểm danh nào, nghiêm, một hai, một hai!
- Chuyện đó khác. – Davin bảo – Trước tiên, tao là thằng theo chủ nghĩa dân tộc Ireland. Mày cũng thế. Mày sinh ra đã thích đùa cợt mà Stevie.
- Lần tới khi nào mày nổi loạn bằng môn hurling, – Stephen bảo – và muốn có một thằng chỉ điểm đáng tin, cứ bảo tao. Tao có thể tìm giùm vài thằng trong trường.
- Tao không hiểu, – Davin bảo – Có lần tao nghe mày chống đối Văn học Anh. Giờ mày chống đối cả bọn chỉ điểm người Ireland. Danh tính, suy nghĩ của mày bị sao vậy? Rốt cuộc mày có phải người Ireland không?
- Đi với tao sang Sở tước hiệu rồi tao sẽ chỉ cho mày xem cây gia phả nhà tao. – Stephen đáp.
- Vậy mày cũng giống bọn tao. – Davin nói – Sao mày không học tiếng Ireland? Sao mày học được một bữa rồi bỏ, không theo lớp của Hiệp hội Gaelic nữa?
- Mày biết tại sao mà. – Stephen đáp. Davin lắc đầu quầy quậy rồi cười to.
- Thôi nào. – Nó bảo – Có phải tại chuyện con bé mày thích và cha Moran không? Mày toàn nghĩ linh tinh. Họ chỉ nói chuyện, cười đùa thôi.
Stephen im lặng, đặt bàn tay thân thiện lên vai Davin.
- Mày có nhớ lần đầu bọn mình quen nhau không? – Cậu hỏi – Buổi sáng đầu tiên bọn mình gặp nhau, mày đã hỏi tao đường tới lớp dành cho lính mới ấy, mày nói và nhấn âm tiết đầu rất rõ. Mày nhớ không? Rồi mày gọi các thầy tu dòng Tên là Cha, nhớ không? Tao đã tự nhủ: liệu mày có ngây thơ như lời mày nói?
- Tao đơn giản lắm. – Davin bảo – Mày biết mà. Khi mày kể tao nghe chuyện ở phố Harcourt, những chuyện riêng tư của mày, thề có Chúa, Stevie ạ, tao không nuốt nổi bữa tối. Tao đã khá tệ. Đêm đó mãi tao mới ngủ được. Sao mày kể tao nghe mấy chuyện đó vậy?
- Cảm ơn. – Stephen đáp – Ý mày, tao là quái vật.
- Không. – Davin bảo – Nhưng tao ước, giá mày đừng kể tao nghe.
Ẩn dưới vẻ thân thiện điềm tĩnh, lòng Stephen bắt đầu dậy sóng.
- Dân tộc này, đất nước này, cuộc đời này tạo ra tao, – Cậu đáp – nên tao sẽ thể hiện con người thật của mình.
- Hãy cố làm người như bọn tao. – Davin nhắc lại – Tâm can mày vốn là người Ireland nhưng lòng kiêu hãnh của mày quá mạnh.
- Bộ mày tưởng cả đời, tao sẽ đích thân trả món nợ của họ sao? Để làm gì cơ chứ? - Stephen đáp.
- Vì tự do của chúng ta. – Davin nói.
- Không kẻ thành thực, đáng kính trọng nào bỏ cả cuộc đời, tuổi trẻ và tình cảm của mình cho bọn mày từ thời Tone tới thời Parnell, – Stephen nói – để rồi bọn mày bán rẻ hắn cho kẻ thù, bỏ rơi hắn khi hắn cần hoặc xỉ vả hắn, rời bỏ hắn để đi theo kẻ khác. Mày còn kêu tao làm người như bọn mày. Tao thấy mày là thằng khốn hạng nhất đấy.
- Họ chết vì lý tưởng của mình, Stevie ạ. – Davin nói – Chúng ta sẽ giành thắng lợi, tin tao đi.
Stephen mải đuổi theo suy nghĩ của mình, bèn im lặng một lúc.
- Ban đầu tâm hồn được sinh ra vào thời khắc mà tao bảo với mày rồi đấy. – Cậu mơ màng nói – Đó là cuộc sinh nở chậm chạp, tối tăm, bí ẩn hơn cuộc sinh nở thể xác. Khi tâm hồn một người được sinh ra ở đất nước này, có những tấm lưới được quăng ra, chụp lên, không cho nó bay đi. Mày nói với tao về quốc tịch, ngôn ngữ, tôn giáo. Tao sẽ thử bay khỏi những tấm lưới ấy.
Davin vẩy tàn thuốc khỏi tẩu.
- Quá sâu sắc với tao, Stevie ạ. – Nó bảo – Nhưng đất nước phải được đặt lên hàng đầu. Ireland phải được đặt lên hàng đầu, Stevie ạ. Mày có thể làm nhà thơ hay huyền sĩ nhưng chuyện đó tính sau.
- Mày có biết Ireland là gì không? – Stephen lạnh lùng, hung bạo hỏi – Ireland là lợn nái già ăn thịt đàn con mình.
Davin rời khỏi chỗ ngồi và đi về phía các cầu thủ, vừa đi vừa lắc đầu buồn bã. Nhưng loáng cái, cậu ta đã hết buồn, quay ra tranh cãi nảy lửa với Cranly và hai cầu thủ vừa chơi xong. Bốn người sẽ đấu một trận nhưng Cranly đòi dùng bóng của mình. Cranly đập bóng hai, ba lần rồi quăng thật nhanh và mạnh về phía cầu môn, dõi theo tiếng lịch kịch của quả bóng rồi reo lên:
- Vào nhé!
Stephen cùng Lynch đứng xem tới khi điểm số tăng lên. Rồi cậu kéo tay áo Lynch, ra hiệu rời sân bóng. Lynch đồng ý và bảo:
- Đi thôi, Cranly thắng rồi.
Stephen mỉm cười vì vụ lẻn đi này.
Cậu và Lynch quay lại vườn trường rồi trở ra đại sảnh, nơi người gác cổng già đang lập cập dán thông báo lên bảng. Tới chân cầu thang, chúng dừng lại và Stephen lôi trong túi quần ra gói thuốc lá rồi mời cậu bạn cùng đi.
- Tao biết mày nghèo. – Cậu bảo.
- Đồ lếu láo chết giẫm. – Lynch đáp lại.
Đây là bằng chứng thứ hai cho thấy văn hóa của Lynch thế nào, bằng chứng ấy khiến Stephen lại mỉm cười.
- Thật là một ngày tuyệt vời cho văn hóa châu Âu, khi mày quyết định dùng từ “chết giẫm” để chửi[44]. – Cậu bảo.
Chúng đốt thuốc rồi rẽ phải. Đi được một lát, Stephen bảo:
- Aristotle chưa định nghĩa thế nào là thương hại và khiếp sợ. Tao định nghĩa rồi. Tao nói… Lynch ngăn cậu lại, thẳng thừng bảo:
- Thôi đi! Tao không nghe đâu! Mệt lắm. Tối qua tao ra ngoài làm một chầu bí tỉ chết giẫm cùng Horan và Goggins.
Stephen nói tiếp:
- Thương hại là cảm giác tóm lấy tâm trí ta khi có chuyện gì đó khổ đau nghiêm trọng, xảy ra liên tục và gắn với kẻ chịu khổ. Khiếp sợ là cảm giác tóm lấy tâm trí ta khi có chuyện gì đó khổ đau nghiêm trọng, xảy ra liên tục nhưng vì một lý do bí mật.
- Nói lại coi. – Lynch bảo.
Stephen chậm rãi nhắc lại định nghĩa vừa rồi.
- Mấy hôm trước ở London, một cô gái leo lên cỗ xe ngựa hai bánh. – Cậu nói tiếp – Cô ta đang trên đường đến thăm mẹ, người nhiều năm mình không gặp. Tới một góc phố, trục một chiếc xe tải đâm qua cửa kính xe ngựa, tạo thành hình ngôi sao. Một mảnh kính dài và sắc đâm qua tim và cô chết ngay lập tức. Báo chí bảo đấy là cái chết bi kịch. Không phải thế. Theo định nghĩa của tao thì cái chết đó còn lâu mới khiến ta thương hại và khiếp sợ. Thật ra, cảm xúc bi kịch là bộ mặt nhìn hai phía, một hướng tới khiếp sợ, một hướng tới thương hại, cả hai đều là các mặt của bi kịch. Mày thấy tao dùng từ “tóm lấy”. Ý tao là cảm xúc bi kịch thì tĩnh. Đúng hơn là cảm xúc kịch tính thì tĩnh. Còn những cảm xúc được nghệ thuật không phù hợp khơi gợi thì động, như khát khao hay ghê tởm. Khát khao khiến ta muốn chiếm hữu, muốn đến lấy thứ gì đó. Ghê tởm khiến ta bỏ đi, muốn rời bỏ thứ gì đó. Do đó, nghệ thuật khơi gợi chúng, dù có tính khiêu dâm hay giáo huấn, đều không phù hợp. Cảm xúc thẩm mỹ (tao dùng thuật ngữ chung) vì thế tĩnh tại. Tâm trí bị tóm lấy, được nâng lên vượt qua khát khao và ghê tởm.
- Mày nói nghệ thuật không khơi gợi khát khao. – Lynch nói – Tao nói cho mày biết, hôm nọ, tao đã dùng bút chì viết tên mình lên lưng thần Vệ nữ của điêu khắc gia Praxiteles trong bảo tàng đấy. Thế không phải khát khao à?
- Tao đang nói bản chất thông thường. – Stephen đáp – Mày cũng kể cho tao nghe hồi nhỏ, hồi ở trường dòng Carmelite[45], mày đã xơi một mẩu phân bò khô còn gì.
Lynch cười váng lên, lại xoa bẹn mà không rút tay ra khỏi túi quần.
- Ôi, tao có xơi! Có xơi! – Nó kêu lên.
Stephen quay sang cậu bạn cùng đi, táo tợn nhìn vào mắt nó một lúc. Lynch cười xong bèn nhìn lại cậu bằng cặp mắt khiêm nhường. Cái đầu dài bẹt dưới chiếc mũ dài nhọn của Lynch gợi lên trong tâm trí Stephen hình ảnh một loài bò sát phùng mang trợn mắt. Mắt Lynch, từ ánh mắt tới cái nhìn, cũng giống mắt bò sát. Dù trong chốc lát, chúng trông có vẻ dè chừng, khiêm nhường nhưng chỉ cần thấy một điểm nhỏ nhoi thuộc về con người thôi, thì cánh cửa của linh hồn co quắp kia sẽ sáng lên, đầy cay cú, bực dọc.
- Về khoản này, – Stephen lịch sự ngụ ý – chúng ta đều là động vật. Tao cũng là động vật.
- Mày đúng là thế. – Lynch đáp.
- Nhưng giờ ta đang ở thế giới tinh thần. – Stephen nói tiếp – Sự khát khao, ghê tởm được các phương tiện thẩm mỹ không phù hợp khơi gợi sẽ không thực sự là cảm xúc thẩm mỹ, bởi chúng không chỉ động đậy mà còn chả khác gì thể chất. Da thịt ta khi khiếp sợ sẽ co lại và khi khát khao sẽ đáp trả bằng hành động phản ứng của hệ thần kinh. Mí mắt ta khép lại trước khi ta kịp nhận ra con ruồi sắp bay vào mắt.
- Không phải lúc nào cũng thế. – Lynch phản bác.
- Giống như da thịt mày phản ứng khi mày đứng trước một bức tượng lõa thể, – Stephen nói – nhưng thật ra, đó đơn thuần là hành động phản ứng của thần kinh. Cái đẹp do nghệ sĩ biểu đạt không đánh thức bất cứ cảm xúc nào nơi ta, những cảm xúc động năng hay xao xuyến thuần thể chất. Những cảm xúc, xao xuyến ấy đánh thức hay phải đánh thức, xui khiến hay phải xui khiến một trạng thái tĩnh tại, một sự thương hại lý tưởng hay nỗi khiếp sợ lý tưởng, một trạng thái sẽ khêu gợi, kéo dài và cuối cùng hòa tan cái mà tao gọi là nhịp điệu cái đẹp.
- Chính xác đó là gì? – Lynch hỏi.
- Nhịp điệu là quan hệ thẩm mỹ chính thức đầu tiên giữa phần này phần nọ trong bất kì tổng thể thẩm mỹ nào, hay là quan hệ giữa một tổng thể thẩm mỹ với từng phần, hay các phần của nó, hay là quan hệ của bất kì phần nào với tổng thể thẩm mỹ mà nó là một phần trong đó.
- Nếu đó là nhịp điệu, – Lynch đáp – thì hãy nói tao nghe cái mà mày gọi là cái đẹp và hãy nhớ, dù từng xơi phân bò một lần, tao chỉ ngưỡng mộ cái đẹp.
Stephen giở mũ ra, tỏ ý sẵn lòng. Rồi hơi đỏ mặt, cậu đặt tay lên ống tay áo dày bằng vải tuýt của Lynch.
- Ta đúng còn kẻ khác sai. – Cậu nói – Bàn về những điều này, thử hiểu bản chất chúng và một khi đã hiểu thì khiêm nhường, chậm rãi, liên tục thử biểu đạt, thử tuôn ra lần nữa từ quả đất to lớn thô thiển này hay những gì nó sản sinh ra, từ âm thanh, hình dáng, màu sắc là cánh cửa nhà tù của tâm hồn ta, một hình ảnh cái đẹp mà ta đã thông hiểu - đó là nghệ thuật.
Chúng đi đến cây cầu bắc qua kênh, rẽ sang hướng khác, rồi đi tiếp dưới hàng cây. Một tia sáng xám thô mộc, phản chiếu qua dòng nước tù đọng và phả ra mùi của những nhành cây ẩm ướt trên đầu chúng, như chống lại dòng suy nghĩ của Stephen.
- Nhưng mày chưa trả lời câu hỏi của tao, – Lynch bảo – Nghệ thuật là gì? Nó biểu đạt cái đẹp nào?
- Đó là định nghĩa đầu tiên tao vừa nói đấy, đồ gà gật đáng thương. – Stephen đáp – Tao đã bắt đầu thử nghĩ ngợi về vấn đề ấy cho riêng mình. Mày có nhớ đêm đó không?
Cái đêm Cranly nổi cáu và bắt đầu nói về thịt lợn muối Wicklow ấy?
- Nhớ chứ. – Lynch đáp – Nó bảo bọn mình về lũ lợn béo mầm khốn kiếp.
- Nghệ thuật là khuynh hướng ta nghĩ về một vấn đề lý trí hay một vấn đề có thể hiểu được vì mục đích thẩm mỹ. Mày nhớ lũ lợn mà quên chuyện kia. Mày và Cranly, bọn mày là một cặp khốn khổ.
Lynch nhăn mặt nhìn lên bầu trời xám xịt thô kệch rồi bảo:
- Tao sẽ nghe thứ triết học thẩm mỹ của mày, nếu mày cho tao thêm điếu thuốc. Tao không quan tâm tới triết học. Tao thậm chí chẳng quan tâm tới phụ nữ. Tiên sư mày, tiên sư mọi thứ. Tao muốn có công việc kiếm năm trăm bảng một năm. Mày đâu tìm việc cho tao được.
Stephen đưa gói thuốc cho Lynch. Lynch nhón lấy điếu cuối rồi đơn giản bảo:
- Nói tiếp đi!
- Aquinas nói cái đẹp là sự lĩnh hội những gì làm ta hài lòng. – Stephen bảo.
Lynch gật đầu.
- Tao nhớ câu đó. – Nó nói – Pulca sunt quae visa placent[46].
- Ông dùng từ “visa”, – Stephen nói tiếp – để chỉ sự lĩnh hội thẩm mỹ các kiểu, bằng mắt, bằng tai hay bằng bất cứ con đường nào khác. Từ này dẫu mơ hồ nhưng đủ rõ để tránh những thứ tốt đẹp và xấu xa, khơi gợi khát khao và ghê tởm. Dĩ nhiên, nó ở trạng thái tĩnh chứ không động. Còn cái đúng là gì? Cái đúng cũng tạo ra trạng thái tâm trí tĩnh. Mày đâu dùng bút chì viết tên mình lên cạnh huyền của một tam giác vuông.
- Không, tao thích cạnh huyền của thần Vệ nữ cơ. – Lynch bảo.
- Vậy nên cái đẹp thì tĩnh. – Stephen bảo – Tao tin Plato nói cái đẹp là vẻ tráng lệ mỹ miều của cái đúng. Tao không nghĩ câu đó đơn nghĩa, nhưng cái đẹp và cái đúng rất gần nhau. Cái đúng được trí óc để mắt tới mà trí óc lại được mối quan hệ với những thứ có thể hiểu được làm ta hài lòng nhất thỏa mãn. Cái đẹp được trí tưởng tượng để mắt tới mà trí tưởng tượng lại được những mối quan hệ với lý trí làm ta hài lòng nhất thỏa mãn. Bước đầu để tiến tới chân lý là hiểu được cơ cấu và phạm vi của bản thân trí óc, hiểu được chính hành động vận dụng trí óc để thông hiểu. Toàn bộ hệ triết học của Aristotle dựa vào cuốn tâm lý học của ông, và tao nghĩ là dựa vào câu ông nói, rằng cùng một thuộc tính không thể cùng lúc thuộc về hay không thuộc về và cùng có quan hệ với một đối tượng. Bước đầu tiên tiến tới cái đẹp là hiểu cơ cấu và phạm vi của trí tưởng tượng, hiểu được chính hành động lĩnh hội thẩm mỹ. Rõ chưa?
- Nhưng cái đẹp là gì? – Lynch sốt ruột hỏi – Dùng định nghĩa khác đi. Thứ gì ta nhìn thấy và thích ấy! Mày hay Aquinas chỉ nói được thế thôi à?
- Lấy phụ nữ làm ví dụ đi. – Stephen bảo.
- Được đấy! – Lynch nồng nhiệt tán thành.
- Người Hi Lạp, người Thổ, người Trung Quốc, người Copt, người Hottentot, – Stephen nói tiếp – tất cả đều ngưỡng mộ các kiểu sắc đẹp khác nhau của phụ nữ. Dường như đó là mê cung mà ta không thoát ra được. Tuy nhiên, tao thấy có hai cách thoát ra. Một là giả thiết này: mọi đặc tính thể chất mà đàn ông ngưỡng mộ ở phụ nữ đều liên quan trực tiếp tới các chức năng đa dạng về truyền giống. Có thể là thế. Dường như thế gian này khô cằn hơn mày hình dung Lynch ạ. Về phần mình, tao không thích cách này. Nó dẫn tới thuyết ưu sinh hơn là mỹ học. Nó dẫn mày ra khỏi mê cung kia để bước vào một phòng học lòe loẹt mới, nơi MacCann, một tay cầm cuốn Nguồn gốc các loài còn tay kia cầm cuốn Tân Ước, miệng bảo mày ngưỡng mộ phần hông của thần Vệ nữ vì mày thấy nàng ta sẽ hạ sinh cho mày những đứa con to khỏe và ngưỡng một bộ ngực vĩ đại của nàng vì mày thấy nàng ta sẽ cho đàn con của hai người dòng sữa tốt.
- Nếu thế, MacCann là thằng điêu toa chết giẫm. – Lynch hùng hổ bảo.
- Còn cách khác. – Stephen cười to, bảo.
- Là sao? – Lynch hỏi.
- Giả thiết này… – Stephen lên tiếng.
Một cỗ xe chở đầy sắt cũ rẽ vào góc đường nơi có bệnh viện Sir Patrick Dun[47], tiếng ồn ã chói tai của kim loại khua loảng xoảng át đi phần sau lời Stephen nói. Lynch bịt tai rồi chửi ỏm tỏi tới khi cỗ xe đi qua. Rồi cu cậu thô lỗ quay lui. Stephen cũng quay lui và chờ một lúc để bạn nguôi giận.
- Giả thiết này là cách thoát ra khác. – Stephen nhắc lại – Đó là dù một vật thể có thể không đẹp với tất cả mọi người, nhưng những ai ngưỡng mộ một vật thể đẹp thì đều tìm thấy ở nó những mối quan hệ nhất định, những mối quan hệ thỏa mãn và trùng khớp với chính các bước lĩnh hội thẩm mỹ. Vì thế mối quan hệ với lý trí này, mà mày thấy qua hình thức này còn tao thấy qua hình thức khác, là đặc tính cần thiết của cái đẹp. Giờ ta có thể trở lại với ông bạn già, Thánh Aquinas, vì chút thông tuệ khác.
Lynch cười to.
- Tao thích nghe mày hết lần này tới lần khác trích dẫn Thánh Aquinas như một thầy tu béo tốt vui nhộn. – Lynch nói – Mày giấu mặt đi cười đấy à?
- Thằng MacAlister sẽ bảo lý thuyết mỹ học của tao áp dụng tư tưởng của Aquinas. – Stephen đáp – Chừng nào khía cạnh triết học thẩm mỹ này còn phát huy, tao còn dùng tới tư tưởng của Aquinas. Nếu gặp hiện tượng khái niệm nghệ thuật, thai nghén nghệ thuật và tái tạo nghệ thuật, tao mới cần tới thuật ngữ và kinh nghiệm cá nhân mới.
- Dĩ nhiên. – Lynch đáp – Rốt cuộc, Aquinas vẫn là một thầy tu béo tròn tốt bụng, bất kể ông ấy có suy nghĩ ra sao. Nhưng hôm nào, mày bảo tao biết về kinh nghiệm cá nhân và thuật ngữ mới sau nhé. Giờ nói mau lên và kết thúc phần đầu đi.
- Ai mà biết được? – Stephen mỉm cười đáp – Có lẽ Aquinas hiểu tao hơn mày. Bản thân ông ấy là nhà thơ. Ông ấy viết một bài tụng ca cho thứ Năm trước Lễ Phục Sinh. Bài hát bắt đầu bằng cụm từ “Pange lingua gloriosi”[48]. Nó được ca ngợi là đỉnh cao chói lọi của tụng ca. Một bài tụng ca khó hiểu, êm dịu. Tao thích bài đó nhưng không bài nào so được với Vexilla regis[49] của Venantius Fortunatus, bài hát tang thương tráng lệ dùng trong lễ rước.
Lynch liền trang nghiêm, dịu dàng hát bằng giọng trầm bè thấp:
Impleta sunt quae concinit
David fideli carmine Dicendo nationibus Regnavit a lingo deus[50].
- Tuyệt vời! – Lynch hài lòng kêu lên – Âm nhạc tuyệt vời!
Chúng quay lại phố Lower Mount. Cách ngã tư vài bước là một cậu trai to béo, cổ buộc khăn lụa, chào chúng rồi dừng lại bảo.
- Bọn mày biết điểm thi chưa? Griffin trượt cái oạch. Halphin và O’Flynn qua môn Dân chính. Moonan xếp thứ năm ngành Ấn Độ học. O’Shaughnessy xếp thứ mười bốn. Tối qua, bọn Ireland ở Clark’s đã khoản đãi hai đứa nó. Bọn chúng đều xơi cà ri.
Khuôn mặt xanh xao béo phị của cậu sinh viên tỏ vẻ ác ý nhân từ và sau khi truyền xong cái tin tốt lành kia, cậu ta liền nheo cặp mắt bé tí có bọng mỡ bao quanh, giấu đi ánh nhìn, hạ giọng nói yếu ớt khèn khẹt xuống, khiến chẳng ai nghe thấy gì nữa.
Stephen hỏi một câu, khiến mắt và giọng cậu sinh viên lại xuất hiện từ nơi ẩn náu.
- Ừ, MacCullagh và tao. – Cậu ta bảo – MacCullagh theo Toán lý thuyết còn tao theo Lịch sử lập hiến. Có hai mươi môn học. Tao cũng nghiên cứu cả Thực vật học. Mày biết tao là thành viên câu lạc bộ thực địa mà.
Cậu ta oai vệ bước lui rồi đặt chiếc găng len to xụ lên ngực, nơi tiếng cười khèn khẹt khe khẽ lại vỡ ra.
- Lần tới đem cho bọn tao ít hành củ và củ cải, để nấu món hầm. – Stephen khô khốc nói.
Cậu sinh viên béo phị cười khoan dung rồi bảo:
- Bọn tao đều là kẻ đáng kính trong câu lạc bộ thực địa. Thứ Bảy vừa rồi bọn tao tới Glenmalure, bảy đứa cả thảy.
- Cùng đám con gái hả, Donovan? – Lynch hỏi. Donovan lại đặt tay lên ngực và bảo:
- Mục đích của bọn tao là kiến thức. – Rồi nó nói nhanh – Tao nghe nói mày đang viết bài về mỹ học.
Stephen làm cử chỉ phủ nhận mơ hồ.
- Goethe và Lessing viết rất nhiều về đề tài này – Donovan bảo – Trường phái cổ điển, lãng mạn, đủ cả. Tao đọc và rất thích bài về tượng Laocoon. Dĩ nhiên bài đó duy tâm, mang màu sắc mỹ học Đức và quá sâu sắc.
Không ai trong hai đứa còn lại đáp lời. Donovan nhã nhặn cáo lui.
- Tao phải đi rồi. – Nó nhẹ nhàng, khoan dung bảo – Tao nghi, gần như chắc là hôm nay chị tao sẽ làm bánh kếp cho cả nhà vào bữa tối.
- Tạm biệt. – Stephen bừng tỉnh liền bảo – Đừng quên đem ít củ cải cho tao và bạn tao.
Lynch dõi mắt nhìn theo Donovan, môi cong lên từ từ tỏ vẻ khinh bỉ tới khi mặt nó hệt mặt nạ ác quỷ:
- Cứ nghĩ tới cục cứt ăn bánh kếp kia có được việc làm tốt, – Cuối cùng Lynch nói – còn tao phải hút thứ thuốc rẻ tiền này!
Chúng nhìn về hướng quảng trường Merrion rồi im lặng đi một lúc.
- Vì thế để kết thúc những gì cần nói về cái đẹp, – Stephen bảo – thì mối quan hệ với những thứ có thể hiểu làm ta hài lòng nhất phải tương ứng với các giai đoạn lĩnh hội mỹ thuật cần thiết. Hãy tìm chúng và mày sẽ thấy đặc tính của cái đẹp phổ quát. Aquinas nói: “Ad pulcritudinem tria requiruntur integritas, consonantia, claritas”. Tao dịch câu đó ra thành: Ba thứ cần cho cái đẹp là sự toàn vẹn, hòa hợp và sáng rõ. Những thứ này có tương ứng với các giai đoạn lĩnh hội không? Mày theo kịp không?
- Dĩ nhiên tao theo kịp. – Lynch đáp – Nếu mày nghĩ trí thông minh của tao chẳng là gì thì chạy theo Donovan và nói cho nó nghe.
Stephen chỉ vào cái giỏ một thằng bé giao thịt đang đội ngược trên đầu.
- Nhìn cái giỏ kia nhé. – Cậu bảo.
- Tao thấy mà. – Lynch đáp.
- Để thấy cái giỏ, – Stephen bảo – trước tiên tâm trí mày sẽ tách nó khỏi toàn bộ những thứ nhìn thấy được mà không phải nó. Giai đoạn lĩnh hội đầu tiên là vẽ một đường bao quanh vật thể cần tìm hiểu. Ta có một hình ảnh thẩm mỹ được biểu diễn trong không gian hoặc thời gian. Những gì nghe thấy được biểu diễn trong thời gian, những gì nhìn thấy được biểu diễn trong không gian. Nhưng dù là thời gian hay không gian, thì hình ảnh thẩm mỹ đó đầu tiên vẫn được tìm hiểu rõ ràng như một thứ tự túc, tự giới hạn trên cái nền không gian hay thời gian mênh mông không đo đếm được mà không phải nó. Mày hiểu hình ảnh đó như một vật. Mày nhìn nó như một tổng thể. Mày hiểu tổng thể của nó. Đó là “sự toàn vẹn”.
- Trúng phóc! – Lynch cười to và bảo – Nói tiếp đi.
- Rồi mày di chuyển từ điểm này tới điểm khác, theo những đường hình thức; mày hiểu cái giỏ là phần này phần kia được cân bằng trong giới hạn của nó; mày cảm nhận được nhịp điệu cấu trúc của nó. Nói cách khác, sự tổng hợp nhận thức trực tiếp xảy ra trước rồi mới tới sự phân tích lĩnh hội. Khi đã cảm nhận cái giỏ là một vật, mày sẽ cảm nhận nó là vật thể. Mày hiểu nó phức tạp, đa chiều, có thể phân tách, được tạo ra từ nhiều phần, là kết quả, là tổng các phần và hài hòa với nhau. Đó là “sự hòa hợp”.
- Lại trúng phóc! – Lynch dí dỏm đáp – Giờ nói tao nghe “sáng rõ” là gì rồi mày sẽ có một điếu xì gà!
- Hàm ý của từ này khá mơ hồ. – Stephen bảo – Aquinas dùng thuật ngữ này có vẻ không chính xác. Nó làm tao rối trí một dạo. Nó khiến mày tin là Aquinas nghĩ tới chủ nghĩa biểu tượng hoặc thuyết duy tâm, rằng đặc tính tối cao của cái đẹp là ánh sáng chiếu rọi từ thế giới khác, rằng ý niệm vật chất chẳng là gì ngoài cái bóng, còn thực tại vật chất chẳng là gì ngoài biểu tượng. Tao nghĩ ý ông ấy là, “sáng rõ” là sự khám phá nghệ thuật, là biểu trưng cho mục đích thần thánh ở bất cứ thứ gì hay là lực khái quát hóa, thứ sẽ biến hình ảnh thẩm mỹ thành hình ảnh phổ quát, khiến nó sáng rõ hơn điều kiện phù hợp của nó. Nhưng đó là tao nói theo cách hiểu văn vẻ. Tao hiểu thế. Khi đã hiểu cái giỏ là vật thể, đã phân tích nó theo hình thức và hiểu nó là vật thể, thì mày chỉ có một sự tổng hợp duy nhất, một cách logic và chấp nhận được về mặt thẩm mỹ. Mày thấy cái giỏ là nó chứ không phải là thứ gì khác. Aquinas nhắc tới sự sáng rõ của nó qua thuật ngữ “quidditas” hay “yếu tính” của vật thể. Đặc tính tối cao này được nghệ sĩ cảm nhận khi anh ta lần đầu cảm thụ hình ảnh thẩm mỹ trong trí tưởng tượng. Cái tâm trí mà trong khoảnh khắc bí ẩn, Shelley đặc biệt yêu thích hòn than lụi tàn[51]. Khoảnh khắc mà đặc tính tối cao của cái đẹp, sự sáng rõ của hình ảnh thẩm mỹ được hiểu rõ bằng tâm trí, cái tâm trí bị sự toàn thể của vật thể tóm lấy, sự hài hòa của vật thể mê hoặc, khoảnh khắc đó là sự tĩnh tại yên lặng rõ ràng của khoái lạc thẩm mỹ, một trạng thái tinh thần rất giống với điều kiện tim mạch mà Luigi Galvani, nhà sinh lý học người Ý, gọi là sự bỏ bùa của trái tim, cách nói cũng đẹp y như câu của Shelley.
Stephen ngừng nói, và dù cậu bạn cùng đi không nói gì, cậu vẫn thấy ngôn từ mình nói gợi lên sự tĩnh lặng bỏ bùa suy nghĩ bao quanh hai đứa.
- Những gì tao nói về cái đẹp được hiểu theo nghĩa rộng hơn nghĩa từ này, – Cậu nói tiếp – theo cách hiểu văn vẻ. Hiểu theo nghĩa thông thường sẽ khác. Khi nói tới cái đẹp theo nghĩa thứ hai, đánh giá của ta bị ảnh hưởng trước tiên bởi chính nghệ thuật, rồi tới hình thức của nghệ thuật đó. Rõ ràng, hình ảnh phải được đặt trong tâm trí hay giác quan của chính nghệ sĩ và trong tâm trí hay giác quan của người khác. Nếu ghi nhớ điều này, mày sẽ thấy nghệ thuật cần thiết phải tự chia thành ba hình thức, tiến từ hình thức này tới hình thức khác. Ba hình thức đó là: thi ca, trong đó nghệ sĩ thể hiện hình ảnh của mình có quan hệ trực tiếp với bản thân, trường ca, trong đó nghệ sĩ thể hiện hình ảnh của mình có quan hệ gián tiếp với bản thân và với người khác, kịch nghệ, trong đó nghệ sĩ thể hiện hình ảnh của mình có quan hệ trực tiếp với người khác.
- Cái này mày đã nói với tao mấy đêm trước, – Lynch bảo – và bọn mình đã bàn luận sôi nổi.
- Ở nhà tao có cuốn sách, – Stephen bảo – trong đó tao ghi lại những câu hỏi còn thú vị hơn những câu hỏi của mày. Khi tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy, tao tìm ra lý thuyết mỹ học mà mình đang cố giảng giải. Sau đây là vài câu tao tự đặt ra: Một chiếc ghế tốt thì bi đát hay khôi hài?
Chân dung Mona Lisa có đẹp không nếu mình muốn xem nó? Nếu không, tại sao không?
- Thật thế, tại sao không? – Lynch cười to và hỏi.
- Nếu một người vừa bực dọc vừa gọt đẽo khúc gỗ, – Stephen nói tiếp – rồi tạo thành hình một con bò thì đó có phải là tác phẩm nghệ thuật? Nếu không, tại sao không?
- Câu hỏi rất hay. – Lynch lại vừa cười vừa nói – Nghe đầy mùi học thuật đích thực.
- Lessing không nên viết về tượng Laocoon. – Stephen nói – Nghệ thuật hạ cấp không thể hiện những hình thức mà tao nói tới, những hình thức không phân định rõ ràng giữa cái này với cái khác. Ngay cả trong văn chương, thứ nghệ thuật cao cấp, thiêng liêng nhất, các hình thức vẫn thường bị lẫn lộn. Hình thức thi ca thật ra là vỏ bọc ngôn từ giản đơn nhất của một thoáng cảm xúc, một tiếng kêu nhịp nhàng giống như hồi xưa, một người vừa chèo thuyền vừa hát hoặc vừa đẩy tảng đá lên dốc vừa hò vậy. Người thốt lên tiếng kêu đó ý thức được một thoáng cảm xúc hơn là ý thức về mình trong lúc cảm nhận cảm xúc ấy. Ta thấy hình thức trường ca giản đơn nhất xuất hiện từ văn chương thi ca là khi nghệ sĩ kéo dài và nghiền ngẫm về mình, coi mình là trung tâm của sự kiện trường ca và hình thức này phát triển tới khi tâm điểm cảm xúc nằm giữa người nghệ sĩ và người khác. Chuyện kể không thuần túy cá nhân nữa. Cá tính nghệ sĩ chuyển vào chính câu chuyện, chảy quanh các nhân vật và hành động như biển nước tối cần thiết. Mày dễ dàng nhận thấy tiến trình này trong Anh hùng Turpin, một bài ballad tiếng Anh cổ, bắt đầu được kể ở ngôi thứ nhất và kết thúc ở ngôi thứ ba. Hình thức kịch nghệ đạt được khi sức sống đã chảy xuôi chảy ngược quanh mỗi nhân vật, đổ đầy nhân vật bằng cái xung lực tối cần thiết kia đến nỗi nhân vật đó đón nhận một cuộc sống thẩm mỹ vô hình và phù hợp. Cá tính nghệ sĩ, ban đầu là tiếng kêu, giai điệu, tâm trạng rồi là câu chuyện nhẹ nhàng, uyển chuyển, cuối cùng tự tách khỏi sự hiện hữu, mất đi cá tính, có thể nói thế. Hình ảnh thẩm mỹ trong hình thức kịch nghệ là đời sống được thanh tẩy, tái phóng chiếu từ trí tưởng tượng của con người. Bí ẩn của mỹ học, giống bí ẩn của việc sáng tạo vật chất, đã đạt được. Nghệ sĩ, giống Đấng sáng tạo, vẫn ở trong, ở sau, ở trên, ở dưới công trình của mình, vô hình, thoát khỏi sự hiện hữu, lãnh đạm, cắt tỉa móng tay mình.
- Cố tách khỏi sự hiện hữu ư. – Lynch nói.
Mưa từ trời cao mờ tối lác đác rơi nên chúng quay lại bãi cỏ bệnh viện để đi qua thư viện quốc gia trước khi mưa đổ xuống.
- Ý mày là sao, – Lynch gắt gỏng hỏi – khi huyên thuyên nói về cái đẹp và trí tưởng tượng trên hòn đảo khốn khổ chó chết này? Chả trách đám nghệ sĩ rút vào trong hoặc nấp sau công trình của mình sau khi đã hành tội đất nước.
Mưa rơi nhanh hơn. Khi băng qua lối đi cạnh tòa nhà trên phố Kildare, chúng thấy nhiều sinh viên đang trú mưa trong hành lang có kiến trúc cổng vòm của thư viện. Cranly đứng tựa vào cột đá, vừa dùng que diêm nhọn xỉa răng vừa nghe đám bạn tán chuyện. Có mấy cô gái đứng gần cửa ra vào. Lynch thì thầm bảo Stephen:
- Người yêu mày kìa.
Stephen lặng lẽ chọn chỗ đứng ở bậc thang bên dưới đám sinh viên kia, bất chấp mưa rơi nhanh, thỉnh thoảng lại nhìn về hướng cô gái mà cậu thầm yêu trộm nhớ. Cô cũng lặng lẽ đứng giữa chúng bạn. Cô chẳng có thầy tu nào để tán tỉnh, cậu cay đắng nghĩ thầm và nhớ lại lần trước đã thấy cô thế nào. Lynch nói đúng. Tâm trí cậu trống rỗng, chẳng còn lý thuyết lẫn lòng can đảm, mà trở nên bình yên bơ phờ.
Cậu nghe đám sinh viên trò chuyện cùng nhau. Chúng nói về hai đứa đã vượt qua kỳ thi y khoa cuối cùng, về cơ hội có chỗ làm trên tàu biển chở khách, về các chuyên khoa kiếm được hay không kiếm được tiền.
- Tất cả chỉ là bong bóng. Hành nghề ở vùng quê Ireland còn tốt hơn.
- Hynes ở Liverpool hai năm và nó cũng bảo thế. Nó bảo đó là nơi đáng sợ. Chẳng có gì ngoài mấy ca đỡ đẻ.
- Ý mày là làm việc ở quê tốt hơn lên thành phố hoa lệ kia à? Tao biết một thằng…
- Hynes là thằng đần. Nó qua được là do học vẹt, thuần túy học vẹt mà thôi.
- Kệ nó. Ở thành phố thương mại sầm uất thì mới kiếm được nhiều tiền.
- Còn tùy chuyên khoa nữa.
- Ego credo ut vita pauperum est simpliciter atrox, simpliciter sanguinarius atrox, in Liverpoolio[52].
Giọng của chúng vẳng tới tai Stephen như tiếng đập ngắt quãng từ xa vẳng lại. Cô gái mà cậu thầm yêu trộm nhớ sắp sửa rời đi cùng chúng bạn.
Cơn mưa nhẹ vội vã đến đã tạnh ráo, lưu những giọt nước tựa kim cương trên bụi cây ở sân trong, nơi mặt đất tối đen thở ra làn hơi ẩm. Những đôi ủng gọn ghẽ kêu lép bép khi mấy cô gái đứng trên bậc thang dưới hàng cột đỡ mái vòm, lặng lẽ vui vẻ nói chuyện, liếc nhìn trời, khéo léo giương ô để tránh những hạt mưa cuối, rồi khép ô lại, kín đáo giữ lấy váy.
Biết đâu cậu đã khắc nghiệt phán xét cô thì sao? Biết đâu cuộc đời cô chỉ là những giờ tụng kinh Mân Côi, đơn giản và kỳ lạ như cuộc đời một chú chim, sáng ra vui vẻ, cả ngày hiếu động, tối đến mệt nhoài thì sao? Trái tim cô đơn giản và ương bướng như tim một chú chim thì sao?
Cậu tỉnh dậy lúc bình minh. Ôi âm nhạc mới ngọt ngào làm sao! Linh hồn cậu ướt đẫm. Những làn sóng ánh sáng nhợt nhạt lạnh lẽo quét qua tứ chi cậu trong giấc ngủ đã biến mất. Cậu nằm yên, như thể linh hồn còn nằm trong nước, nhận ra thứ nhạc ngọt ngào yếu ớt kia. Tâm trí cậu còn chậm rãi cuốc bộ trong tri kiến rúng động, trong cảm hứng buổi sáng. Lòng cậu phấn chấn, tràn ngập tinh thần trong trẻo như thứ nước tinh khiết nhất, ngọt ngào như sương mai, lay động lòng người như âm nhạc. Nhưng tinh thần ấy được hít vào mới yếu ớt, lạnh nhạt làm sao, như thể các luyến thần đang hà hơi vào cậu vậy! Linh hồn cậu chậm rãi cuốc bộ, sợ sẽ tỉnh hẳn. Đó là thời khắc bình minh lặng gió, khi cơn điên tỉnh thức và đám cây cối kỳ lạ mở mắt đón ánh sáng còn lũ bướm đêm lặng lẽ vỗ cánh bay đi.
Bùa mê của trái tim! Cả đêm cậu đã bị bỏ bùa. Trong mộng mị hay ảo ảnh, cậu đã biết tới sự đê mê của cuộc sống các luyến thần. Khoảnh khắc bị bỏ bùa ấy chỉ thoáng qua hay kéo dài nhiều giờ, nhiều năm, nhiều thời?
Thoáng cảm hứng ấy giờ như cùng lúc được phản chiếu từ mọi phía, từ vô số hoàn cảnh mù mờ của những gì đã hoặc lẽ ra nên xảy ra. Thoáng chốc ấy lóe lên như điểm sáng và giờ hết hoàn cảnh mơ hồ này tới hoàn cảnh mơ hồ khác, mù mịt như những đám mây chất chồng lên nhau, cái hình thức lộn xộn ấy đang nhẹ nhàng phủ lên ráng hồng của mình. Ôi! Trong lòng trí tưởng tượng trinh bạch, ngôn từ kia đang lớn lên. Thiên thần tối cao Gabriel đã tới cửa phòng trinh nữ. Ráng hồng tô đậm tinh thần cậu, khi ngọn lửa trắng đã chiếu qua, tô đậm thêm đóa hồng và ánh sáng nóng rực. Đóa hồng ấy, ánh sáng ấy là trái tim ương bướng kỳ lạ của cô, kỳ lạ đến nỗi không ai hiểu hoặc sẽ hiểu được, ương bướng từ trước lúc khai thiên lập địa và trái tim ấy bị ánh sáng đỏ rực như đóa hồng kia dụ dỗ, ánh sáng khiến các đoàn luyến thần rơi từ trời cao xuống.
Bộ em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao
Mà cứ để luyến thần sa ngã dụ dỗ?
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Những câu thơ chuyển từ tâm trí sang môi cậu, khiến cậu lẩm nhẩm đọc đi đọc lại và cảm thấy chuyển động nhịp nhàng của thể villanelle[53]. Ánh đỏ rực hồng kia tỏa những tia sáng vần điệu của nó - “phương cách, tháng ngày, đốt cháy, ngợi ca, vươn tới”[54]. Những tia sáng đó đốt trụi thế gian, nuốt lấy trái tim đàn ông và trái tim thiên thần - những tia sáng từ đóa hồng là trái tim ương bướng của cô.
Mắt em đốt cháy tim đàn ông
Tâm trí em nghĩ tới hắn
Mà em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao?
Sao nữa nhỉ?
Nhịp điệu lắng xuống, ngừng lại, rồi lại chuyển động, ngân lên.
Sao nữa nhỉ?
Khói, hương trầm tỏa ra từ bàn thờ thế gian.
Ngọn lửa bốc cao làn khói ngợi ca
Bốc từ rìa bên này tới rìa bên kia đại dương
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Khói bốc lên từ khắp mặt đất, từ đại dương đầy hơi nước, làn khói ngợi ca. Trái Đất hệt như một bình hương lắc la lắc lư, một quả cầu hương trầm, một cú rơi hình ellipsoid. Giai điệu lập tức lắng xuống, tim cậu kêu gào. Môi cậu bắt đầu lẩm nhẩm đọc đi đọc lại những câu thơ đầu tiên. Những câu thơ ấy đi được nửa đường thì vấp ngã, lắp bắp lúng túng, rồi dừng hẳn. Tim cậu kêu gào.
Thời khắc lặng gió mù mịt đó đã qua và phía sau tấm kính của ô cửa sổ trần trụi, ánh sáng ban mai tụ lại. Tiếng chuông từ rất xa vẳng tới. Một chú chim kêu lích chích rồi hai, ba chú chim kêu lích chích. Tiếng chuông và tiếng chim ngừng kêu, thứ ánh sáng màu trắng tẻ ngắt kia trải rộng về phía đông, phía tây, bao phủ khắp thế gian, phủ lên ánh đỏ rực hồng trong tim cậu.
Sợ quên hết, cậu bỗng dưng chống tay bật dậy tìm giấy bút. Trên bàn chẳng có gì, chỉ có đĩa xúp mà cậu đã chén sạch phần gạo từ tối qua và cái giá nến đọng đầy mỡ nến cùng chụp đèn bằng giấy bồi bị cháy sém khi nến tắt. Cậu yếu ớt giơ tay lần ra phía chân giường, mò mẫm tìm trong túi áo khoác treo gần đấy. Tay cậu tìm thấy cây bút chì và gói thuốc lá. Cậu nằm xuống, xé gói thuốc ra, đặt điếu thuốc cuối cùng lên bệ cửa sổ rồi bắt đầu viết những dòng thơ làm theo thể villanelle bằng nét chữ nhỏ gọn lên bề mặt giấy thô ráp.
Viết xong, cậu ngả đầu lên chiếc gối lồi lõm, thì thầm đọc lại bài thơ. Những nùi bông lổn nhổn dưới đầu nhắc cậu nhớ tới những nùi lông ngựa trong chiếc ghế sô pha ở phòng khách nhà cô, chỗ cậu từng ngồi, vừa mỉm cười hoặc làm ra vẻ nghiêm túc, vừa tự hỏi tại sao mình đến đây rồi bất mãn với cô, với chính mình, bối rối vì bức ảnh in hình trái tim linh thiêng đặt trên tủ chén trống trải. Cậu thấy cô tiến về phía mình, giữa lúc cuộc trò chuyện tạm lắng xuống, năn nỉ cậu hãy hát một trong những bài hát kỳ lạ của cậu. Rồi cậu thấy mình ngồi ở chỗ cây đàn dương cầm cũ, vừa nhẹ nhàng rải hợp âm trên những phím đàn lốm đốm vừa hát cho cô, người đang đứng tựa vào bệ lò sưởi, nghe một bài trang nhã thời Elizabeth, một nỗi ghê tởm buồn bã và ngọt ngào vì phải chia xa, một bản thánh ca mừng thắng lợi trận Agincourt, một bầu không khí vui vẻ của điệu Greensleeves[55], giữa lúc cuộc trò chuyện lại nổi lên trong phòng. Cậu hát còn cô lắng nghe, hoặc giả vờ lắng nghe, khi ấy tim cậu nghỉ ngơi, nhưng khi hát xong những bài hát cũ kỳ quặc, cậu lại nghe thấy tiếng nói trong phòng, lại nhớ tới sự mỉa mai châm biếm của mình: ngôi nhà nơi người ta gọi các chàng trai bằng tên thánh hơi sớm.
Có những lúc mắt cô dường như đặt niềm tin vào cậu nhưng cậu đã vô vọng chờ đợi. Giờ cô nhẹ nhàng nhảy nhót, băng qua ký ức của cậu y như tối hôm đó, tại vũ hội hóa trang, chiếc váy trắng hơi vén lên, đóa hoa trắng trên tóc cô rũ xuống. Cô nhẹ nhàng nhảy về phía cậu và khi tiến lại gần, mắt hơi nhìn ra chỗ khác và má thoáng ửng hồng. Trong vòng tròn khiêu vũ, khi đổi bạn nhảy, tay cô đã nằm trong tay cậu một lúc, một món hàng mềm mại.
- Giờ anh là kẻ xa lạ vĩ đại.
- Đúng. Anh sinh ra để đi tu.
- Em sợ anh là kẻ dị giáo.
- Em có sợ nhiều lắm không?
Đáp lại, cô đã theo vòng tròn khiêu vũ rời xa cậu, nhẹ nhàng dè dặt nhảy nhưng chẳng nhảy với ai. Đóa hoa trắng rũ xuống theo bước nhảy của cô và khi ở trong bóng tối, sắc hồng trên má cô càng đậm hơn.
Một thầy tu! Hình ảnh của chính cậu hiện ra, một thầy tu báng bổ, một tu sĩ dòng Francis dị giáo, sẵn sàng không phụng sự, xoay tròn hệt Gerardo thành Borgo San Donnino[56], một mớ ngụy biện uyển chuyển, đang thì thầm vào tai cô.
Không, đó không phải hình ảnh của cậu. Hình ảnh đó giống một thầy tu trẻ mà cậu từng thấy đi cùng cô, cái gã nhìn cậu bằng cặp mắt bồ câu, tay nghịch cuốn thành ngữ Ireland của cô.
- Đúng, đúng, các bà các cô hay tới chỗ bọn tôi chơi.
Ngày nào tôi cũng gặp. Các bà các cô ở cùng bọn tôi. Những người giúp đỡ tốt nhất về mặt ngôn ngữ.
- Còn Giáo hội thì sao, thưa cha Moran?
- Giáo hội cũng thế. Cũng tới chỗ bọn tôi. Công việc được đặt lên trước. Đừng bực bội về Giáo hội.
Xì! Cậu đã làm tốt khi khinh bỉ rời căn phòng đó. Cậu đã làm tốt khi không chào cô lúc đứng trên bậc thang ở cửa thư viện! Cậu đã làm tốt khi bỏ đi, mặc kệ cô tán tỉnh gã thầy tu của mình, đùa bỡn với Giáo hội, vốn là con hầu nấu ăn dọn rửa cho giáo dân.
Cơn giận thô lỗ cục súc phá tan khoảnh khắc đê mê cuối cùng còn sót lại trong lòng cậu. Cơn giận đó hung bạo đập tan hình ảnh đẹp đẽ của cô và ném mảnh vụn ra tứ phía. Hình ảnh phản chiếu méo mó của cô hiện ra khắp nơi, trong ký ức cậu: cô gái bán hoa vận chiếc váy rách rưới, có mái tóc thô kệch ướt át, có vẻ mặt lanh chanh, kẻ tự nhận là người yêu cậu và xin cậu mở hàng, cô phụ bếp nhà bên, người giữa tiếng bát đĩa kêu loảng xoảng, cất giọng ê a kiểu ca sĩ đồng quê, hát ô nhạc đầu tiên của bài Hồ và đầm lầy gần Killarney; một cô gái đã vui vẻ cười phá lên khi thấy cậu vấp ngã vì mắc đế giày rách vào tấm lưới sắt trên lối đi bộ gần đồi Cork; một cô gái có chiếc miệng nhỏ nhắn, đôi môi mọng đỏ, thu hút ánh nhìn của cậu, khi cô băng qua nhà máy sản xuất bánh quy Jacob’s, rồi quay đầu lại bảo:
- Anh có thích những gì anh thấy ở em, tóc thẳng và chân mày cong?
Song cậu cảm thấy, dẫu có xỉ vả, nhạo báng hình ảnh cô thì cơn giận của cậu vẫn là một hình thức sùng bái. Cậu đã khinh bỉ rời khỏi lớp học, hành động đó không hẳn là thành thực, vừa rời đi vừa cảm thấy có lẽ bí ẩn chủng loài của cô nằm sau cặp mắt đen tối, cặp mắt mà với hàng mi dài, cô ném chút bóng tối lên đó. Cậu đã cay đắng tự nhủ khi đi dưới hàng cây rằng cô là hình ảnh phụ nữ của đất nước mình, một linh hồn giống dơi tự bừng tỉnh trong bóng tối, bí mật, cô đơn, nấn ná với người yêu ôn hòa của mình một lúc, không tình yêu, không tội lỗi, rồi bỏ mặc anh ta để thì thầm những lời phạm tội ngây thơ vào đôi tai mắt cáo của một vị thầy tu. Cơn giận của cậu với cô tìm được cửa xả là lời lẽ thô tục nhằm vào gã thầy tu, nhân tình nhân ngãi của cô, kẻ mà tên tuổi, giọng nói, dáng vẻ đều xúc phạm lòng kiêu hãnh bị ngăn cản của cậu: một nông dân làm thầy tu, có anh trai làm cảnh sát Dublin và một anh khác làm bồi bàn ở Moycullen. Cô sẽ khoe sự trần trụi e thẹn của linh hồn mình với hắn, kẻ được học để tiến hành nghi lễ trang trọng hơn là với cậu, một thầy tu của trí tưởng tượng vĩnh hằng, kẻ biến đổi thứ bánh mì kinh nghiệm hằng ngày thành thân thể ngời sáng của đời sống bất diệt.
Hình ảnh ngời sáng của Bí tích Thánh thể thoáng chốc lại hợp nhất những suy nghĩ đắng cay, vô vọng của cậu, những suy nghĩ có tiếng kêu cất lên nguyên vẹn thành bản tụng ca tạ ơn.
Những tiếng kêu vụn vỡ, những lời hát tang thương
Cất lên thành bài tụng ca thánh thể
Bộ em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao?
Trong lúc giơ đôi tay hiến sinh
Nâng ly rượu lễ đầy ăm ắp
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Cậu đọc to những câu thơ từ đầu cho tới khi âm nhạc, giai điệu của chúng tràn ngập tâm trí, khiến tâm trí cậu đầm mình trong tĩnh lặng rồi cậu đau đớn khổ sở ghi lại những câu thơ để cảm nhận chúng tốt hơn và ngả đầu ra gối.
Trời sáng hẳn. Không còn nghe thấy tiếng động nào nữa nhưng cậu biết quanh mình, cuộc sống giờ mới tỉnh thức qua những tiếng động bình thường, những giọng nói khàn đục, những lời cầu nguyện ngái ngủ. Cậu quay mặt vào tường để rũ bỏ cuộc sống ấy, trùm chăn qua đầu, chằm chằm nhìn những đóa hoa to đỏ thẫm bung nở trên giấy dán tường rách tơi tả. Cậu cố sưởi ấm niềm vui đang tàn lụi của mình bằng sắc đỏ của những đóa hoa, tưởng tượng ra con đường hoa hồng từ nơi mình nằm tới tận thiên đường, khắp nơi trải đầy những đóa hoa đỏ thẫm. Mệt mỏi! Mệt mỏi! Cậu quá mệt vì những phương cách nhiệt thành.
Sự ấm áp từ từ, sự mệt mỏi uể oải rồi cũng đến với cậu, chạy từ đỉnh đầu được trùm chăn kín mít xuống dọc sống lưng cậu. Cậu thấy sự ấm áp mệt mỏi ấy chạy xuống, thấy mình mỉm cười khi nằm xuống. Chẳng mấy chốc cậu sẽ ngủ.
Sau mười năm cậu lại làm thơ cho cô. Mười năm trước cô đã trùm khăn quanh đầu, gửi làn hơi ấm áp của mình vào không khí buổi đêm, chân bước nhẹ trên con đường trong như thủy tinh. Đó là chuyến xe ngựa kéo cuối cùng, đám ngựa màu nâu gầy gò biết điều đó và chúng rung chuông với trời đêm trong trẻo để báo hiệu. Người bán vé nói với bác xà ích, cả hai đều gật đầu mỗi khi đèn giao thông chuyển màu xanh. Hai cô cậu đứng trên những bậc thang xe, cậu ở trên, cô ở dưới. Nhiều lần giữa lúc nói chuyện, cô leo lên chỗ cậu rồi lại xuống chỗ cô và một, hai lần cô vẫn đứng cạnh cậu, quên đi xuống rồi mãi mới đi xuống. Hãy cứ thế! Hãy cứ thế!
Mười năm từ khi còn là trí khôn trẻ nít tới khi thành trò rồ dại. Nếu cậu gửi cô những câu thơ này thì sao? Người ta sẽ đọc chúng lên vào bữa sáng giữa tiếng gõ đập vỏ trứng. Quả là trò rồ dại! Anh em cô sẽ cười to, sẽ cố dùng những ngón tay rắn rỏi cứng cáp giành giật tờ giấy ghi bài thơ. Chú cô, một thầy tu dẻo miệng, ngồi nơi ghế bành, sẽ cầm bài thơ lên, vừa đọc vừa mỉm cười và tán dương thể thơ.
Không, không, đó là trò rồ dại. Ngay cả khi cậu gửi cho cô, cô sẽ không khoe những câu thơ này với ai. Không, không, cô không thể làm thế.
Cậu bắt đầu thấy mình đã đối xử sai với cô. Cảm giác về sự vô tội của cô làm cậu xúc động, gần như thương hại cô, sự vô tội mà cậu đã không bao giờ hiểu ra tới khi nhìn nhận nó qua lăng kính tội lỗi, sự vô tội mà cô cũng không hiểu trong khi mình vô tội hoặc trước khi cô lần đầu tiên cảm nhận được sự bẽ bàng kỳ lạ về bản chất của mình. Rồi trước hết linh hồn cô sẽ sống như linh hồn cậu đã sống khi lần đầu phạm tội, sau đó lòng cậu tràn ngập niềm thương cảm dịu dàng khi nhớ tới mắt cô, vẻ xanh xao yếu ớt của cô, những thứ bị nỗi tủi hổ đen tối của phụ nữ hạ nhục và làm cho buồn bã.
Khi linh hồn cậu chuyển từ đê mê sang uể oải, thì cô ở đâu? Có lẽ nào, bằng những phương cách của đời sống tâm linh huyền bí, linh hồn cô đã cùng lúc nhận ra được sự sùng bái của cậu? Có lẽ nào.
Ánh sáng khát khao lại bùng lên trong lòng cậu, hun nóng và lấp đầy thể xác cậu. Nhận ra nỗi khát khao của cậu, cô - người đàn bà khêu gợi trong thể thơ villanelle, đang bừng tỉnh khỏi giấc ngủ thơm tho. Mắt cô, tối đen và đầy uể oải, mở ra nhìn cậu. Sự trần trụi của cô chịu thua cậu, ngời sáng, ấm áp, thơm tho, tứ chi thừa thãi, ôm lấy cậu như đám mây rực rỡ, như dòng nước ôm lấy cuộc sống hóa lỏng và như đám mây hơi nước hay dòng nước chảy quanh không gian, những ký tự hóa lỏng của ngôn từ, những biểu tượng của nguyên tố huyền bí, chảy tràn trong đầu cậu.
Bộ em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao
Mà cứ để luyến thần sa ngã dụ dỗ?
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Mắt em đốt cháy tim đàn ông
Tâm trí em nghĩ tới hắn
Mà em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao?
Ngọn lửa bốc cao làn khói ngợi ca
Bốc từ rìa bên này tới rìa bên kia đại dương
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Những tiếng kêu vụn vỡ, những lời hát tang thương
Cất lên thành bài tụng ca thánh thể
Bộ em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao?
Trong lúc giơ đôi tay hiến sinh
Nâng ly rượu lễ đầy ăm ắp
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Rồi em vẫn giữ ánh nhìn thèm khát của đôi ta
Vẻ uể oải và tứ chi thừa thãi!
Bộ em không mệt mỏi vì phương cách nhiệt thành sao?
Đừng nói về tháng ngày mê muội nữa.
Chim gì vậy nhỉ? Stephen đứng trên bậc thang thư viện nhìn lũ chim, mệt mỏi tựa lên cây gậy bằng gỗ tần bì. Chúng bay lòng vòng quanh gờ tường chìa ra của một ngôi nhà trên phố Molesworth. Không khí buổi chiều cuối tháng Ba làm thông thoáng đường bay của chúng, thân hình tối đen run rẩy của chúng in trên nền trời, rõ như in trên mặt vải mềm rũ có màu xanh khói mỏng manh.
Cậu nhìn lũ chim bay, hết con này tới con khác: xuất hiện tối đen, chao liệng đột ngột, rồi vỗ cánh chấp chới. Cậu thử đếm trước khi tất cả những thân hình run rẩy lao như tên bắn của chúng vọt qua: sáu, mười, mười một con rồi cậu tự hỏi liệu đó là số chẵn hay số lẻ. Mười hai, mười ba con: vì có hai con đang liệng xuống từ tầng cao. Chúng bay cao bay thấp nhưng cứ quay vòng thành đường cong và thẳng, rồi bay từ trái qua phải, liệng quanh một đền thờ không khí.
Cậu lắng nghe tiếng chúng kêu: giống tiếng chuột chin chít đằng sau ván ốp tường, nhưng chói lói gấp đôi. Những nốt nhạc này dài, chói, kêu o o, không giống tiếng sâu bọ, thấp hơn một phần ba hay một phần tư cao độ và rung lên như tiếng mỏ chim đang bay xé toạc không khí. Tiếng kêu của lũ chim chói lói, rõ ràng, mịn màng, rơi xuống như những sợi chỉ ánh sáng bằng tơ bị tháo khỏi cuộn chỉ kêu o o.
Tiếng ồn ào không thuộc về con người đó xoa dịu tai cậu, nơi tiếng khóc và tiếng cằn nhằn của mẹ cậu cứ thầm thì vang lên, và những thân hình tối đen run rẩy đang quay vòng, vỗ cánh chấp chới, chao liệng quanh đền thờ không khí của bầu trời mỏng manh kia xoa dịu mắt cậu, nơi vẫn thấy hình ảnh khuôn mặt mẹ mình.
Sao cậu đứng trên bậc thang ngoài hiên, ngước nhìn trời, lắng nghe tiếng chim kêu chói lói gấp đôi, rồi nhìn chúng bay vậy nhỉ? Để tiên đoán điềm lành dữ à? Câu nói của Cornelius Agrippa bay vụt qua tâm trí cậu và những suy nghĩ không hình thù bay đây đó để đáp lại lũ chim, những suy nghĩ từ Swendenborg tới những điều về tri kiến và cách mà các sinh vật trên trời có được kiến thức, biết được thời gian, mùa màng, vì không giống con người, chúng tuân theo trật tự cuộc đời mình và không vì lý gì lại đi chệch khỏi trật tự đó.
Mà từ lâu lắm rồi con người đã ngước nhìn trời như cậu đang nhìn lũ chim bay. Hàng cột đỡ mái vòm trên đầu khiến cậu mơ hồ nghĩ tới một đền thờ cổ xưa còn cây tần bì làm ra cây gậy cong queo mà cậu đang yếu ớt tựa vào khiến cậu nghĩ tới một điềm báo. Cảm giác sợ hãi cái chưa biết ngọ nguậy ngay giữa nỗi mệt mỏi của cậu, sự sợ hãi những biểu tượng, điềm gở về một người giống chim ó mà cậu trùng tên, kẻ có khả năng vượt trội mà bay lên trời bằng đôi cánh làm từ liễu gai, về Thoth, vị thần của đám văn sĩ, người dùng bút sậy viết lên thẻ bài và có chiếc đầu cò đội mặt trăng.
Cậu mỉm cười khi nghĩ tới hình ảnh vị thần vì hình ảnh đó khiến cậu nghĩ tới viên quan tòa có mũi hình chiếc lọ, cầm văn bản cách mặt cả sải tay và đặt dấu phẩy vào đấy, và cậu biết mình hẳn sẽ không nhớ ra tên vị thần trừ việc cái tên đó giống lời thề của người Ireland. Thật là rồ dại. Nhưng có phải vì trò rồ dại này mà cậu sắp mãi mãi rời bỏ ngôi nhà cầu nguyện và cẩn trọng, nơi cậu được sinh ra, và rời bỏ trật tự cuộc đời mà cậu đã từ đó chui ra?
Lũ chim quay lại với tiếng kêu chói lói trên bờ tường chìa ra của ngôi nhà nọ, ảm đạm bay trên nền trời nhạt màu. Chim gì vậy nhỉ? Cậu nghĩ chắc là chim nhạn, từ phương Nam bay về. Rồi cậu sẽ đi xa bởi lũ chim cũng đến rồi đi, xây tổ tạm bợ dưới chái nhà của con người rồi rời bỏ tổ đã xây để đi lang thang.
Cúi mặt xuống, Oona và Aleel.
Tôi nhìn chúng y như nhìn chim nhạn
Nhìn tổ của chúng dưới chái nhà
Trước khi lang thang vượt qua dòng nước ầm vang[57].
Niềm vui hóa lỏng êm dịu giống tiếng của nhiều dòng nước chảy qua ký ức cậu và cậu cảm thấy trong lòng sự bình yên êm dịu của những khoảng trời mỏng manh nhạt màu lặng lẽ, của sự thinh lặng bao la như đại dương, của cánh chim nhạn bay qua cảnh hoàng hôn trên biển, vượt qua những dòng nước chảy.
Niềm vui hóa lỏng êm dịu chảy qua ngôn từ, nơi những nguyên âm dài êm dịu yên ả va vào nhau rồi rơi xuống, vỗ vào bờ rồi chảy ngược trở ra, rung những chiếc chuông trắng của sóng thành từng hồi, thành tiếng kêu lặng câm, tiếng kêu trầm êm dịu lịm tắt dần và cậu cảm thấy điềm gở mà mình tìm thấy nơi lũ chim đang chao liệng kia, nơi khoảng trời nhợt nhạt trên đầu đều từ tim cậu mà ra giống như chú chim bay từ tháp canh tới, mau lẹ và lặng lẽ.
Đó là biểu tượng của việc ra đi hay của sự cô đơn? Những câu thơ nhẹ nhàng ngân lên trong đôi tai ký ức cậu, chậm rãi tạo ra trước đôi mắt ghi nhớ của cậu cảnh tượng ở đại sảnh, tối hôm khánh thành nhà hát quốc gia. Cậu đứng một mình trên mé ban công, nhìn văn hóa Dublin bằng đôi mắt màu ngọc bích qua hàng ghế, qua mớ trang phục lòe loẹt và những con búp bê hình người được ánh đèn sân khấu sặc sỡ viền quanh. Một viên cảnh sát vạm vỡ đổ mồ hôi phía sau cậu và như sắp hành động tới nơi. Tiếng huýt sáo, xùy xuỵt, la ó chế giễu từ đám sinh viên bạn cậu đứng rải rác quanh sảnh rộ lên ồn ào, thô lỗ.
- Thật là phỉ báng Ireland!
- Đồ Đức cả đấy.
- Báng bổ thật!
- Chúng tôi không bao giờ bán rẻ đức tin của mình!
- Không phụ nữ Ireland nào làm thế!
- Chúng tôi không muốn đám vô thần nghiệp dư.
- Chúng tôi không muốn đám Phật tử mới tu tập.
Một tiếng xuỵt nhanh gọn cất lên từ cửa sổ phía trên đầu cậu và cậu biết đèn điện ở phòng đọc đã được bật lên. Cậu quay ra đại sảnh có cột đỡ, giờ đã được bình thản thắp sáng, đi lên cầu thang và băng qua cánh cửa quay kêu lích kích.
Cranly đang ngồi gần đống từ điển. Một cuốn sách dày, để mở trang đầu, nằm trước mặt nó trên cái giá đỡ bằng gỗ. Nó ngả người ra ghế, ghé tai y như cha xứ nghe xưng tội sát mặt một sinh viên y khoa, người đang đọc cho nó nghe một thế cờ trong tờ tạp chí. Stephen ngồi xuống bên phải Cranly nhưng vị thầy tu phía bên kia bàn giận dữ gập tờ Bài vị[58] lại rồi đứng dậy.
Cranly tỉnh bơ, mơ màng nhìn theo vị thầy tu ấy. Cậu sinh viên y khoa đọc tiếp bằng giọng nhỏ hơn:
- Tốt trước mặt vua lên ô số bốn.
- Bọn mình đi thôi, Dixon – Stephen cảnh báo – Ông ta bỏ đi để than phiền kìa.
Dixon gập cuốn tạp chí lại rồi đĩnh đạc đứng dậy, bảo:
- Ta rút quân nào.
- Mang theo súng ống, gia súc nữa chứ. – Stephen nói thêm, vừa chỉ vào trang đề tựa trong cuốn sách của Cranly, cuốn sách ghi Các bệnh của bò.
Khi chúng băng qua một dãy bàn, Stephen bảo:
- Cranly, tao muốn nói chuyện với mày.
Cranly không đáp. Nó đặt cuốn sách của mình lên kệ rồi đi ra, đôi chân diện giày đẹp của nó giậm thẳng xuống sàn. Tới cầu thang, nó dừng lại, lơ đễnh nhìn Dixon rồi nhắc lại:
- Tốt trước mặt vua lên ô số bốn chết tiệt.
- Nếu thích, mày cứ đi thế. – Dixon đáp.
Dixon có giọng nói khẽ khàng thiếu âm sắc, cung cách tao nhã, và trên ngón tay của bàn tay sạch sẽ mũm mĩm, đôi lúc nó còn đeo một chiếc nhẫn gắn con dấu.
Lúc chúng băng qua đại sảnh thì một người thấp lùn tiến tới. Dưới chiếc mũ bé xíu, khuôn mặt không cạo của hắn nở nụ cười thích thú và chúng nghe thấy tiếng hắn lẩm bẩm. Mắt hắn buồn như mắt khỉ.
- Chào các cậu. – Khuôn mặt giống khỉ, lởm chởm râu ria kia bảo.
- Tiết trời tháng Ba ấm áp quá. – Cranly nói – Trên gác họ để cửa sổ mở.
Dixon mỉm cười và xoay nhẫn. Khuôn mặt hơi đen, giống khỉ kia chu cái mỏ người của hắn ra, vẻ thích thú dịu dàng rồi gừ gừ bảo:
- Tiết trời tháng Ba thật đẹp. Đơn giản là đẹp.
- Có hai cô nàng xinh xắn đang chán phải đợi cậu trên gác đấy, đội trưởng. – Dixon bảo.
Cranly mỉm cười và tử tế bảo:
- Đội trưởng chỉ yêu một người, là Ngài Walter Scott. Đúng không?
- Đội trưởng đọc gì thế? – Dixon hỏi – Cô dâu vùng Lammermoor[59] à?
- Tao thích già Scott. – Cái mỏ dẻo kia đáp – Tao nghĩ ông ấy viết điều gì đó hay ho. Không ai sánh được với Ngài Walter Scott.
Gã đội trưởng khẽ vung cánh tay màu nâu, gầy guộc, teo tóp đúng lúc thốt ra lời khen ngợi, mí mắt nhanh nhẹn mỏng manh của hắn chớp lấy chớp để trên đôi mắt buồn.
Tai Stephen chán phải nghe hắn nói: một giọng nói trưởng giả, thấp tè, ướt át, hay mắc lỗi. Khi nghe giọng nói đó, cậu tự hỏi liệu chuyện kia có thực hay không, liệu dòng máu mỏng mảnh chảy trong thân hình quắt queo của gã lùn kia có cao quý và dòng máu đó có phải do tình yêu loạn luân mà ra hay không?
Cây cối trong công viên sũng nước, mưa vẫn rơi, rơi mãi trên mặt hồ, cái hồ tuyền một màu xám như tấm khiên. Bầy thiên nga bay đến và dòng nước, bờ hồ bị chất nhớt trắng xanh của chúng vấy bẩn. Hai người nhẹ nhàng ôm nhau, thứ ánh sáng mưa màu xám, cây cối lặng im ẩm ướt, hồ nước giống tấm khiên làm chứng và bầy thiên nga đã buộc họ làm thế. Hai người ôm nhau mà không cần niềm vui hay nỗi si mê, chàng trai choàng tay qua cổ cô em gái. Cô khoác ngang người chiếc áo len màu xám, vắt từ vai xuống eo, cái đầu xinh đẹp của cô cúi xuống tỏ vẻ xấu hổ bằng lòng. Chàng trai có mái tóc nâu đỏ suôn mềm, bàn tay chắc khỏe, cân đối, dịu dàng, lốm đốm tàn nhang. Mặt ư? Không ai thấy mặt họ. Mặt chàng trai cúi xuống mái tóc đẹp thơm mùi nước mưa của cô gái. Bàn tay chắc khỏe, lốm đốm tàn nhang, cân đối, đang vuốt ve kia là tay của Davin.
Cậu nhăn mặt giận dữ vì suy nghĩ của mình và vì con ma-nơ-canh quắt queo kia đã gợi ra suy nghĩ ấy. Lời giễu nhại của bố về đám Bộ sậu[60] nhảy khỏi đầu cậu. Cậu giữ những lời đó ở xa và khó chịu nghiền ngẫm về suy nghĩ của mình lần nữa. Sao không phải là tay Cranly? Sao sự đơn giản, ngây thơ của Davin lại bí mật châm chích cậu vậy?
Stephen cùng Dixon đi dọc sảnh, bỏ Cranly lại để khéo léo tách khỏi gã lùn kia.
Dưới hàng cột đỡ mái vòm, Temple đang đứng giữa một nhóm nhỏ sinh viên. Một người trong số đó kêu lên:
- Dixon, nghe tao gọi thì lại đây. Temple đang bàn chuyện đại sự.
Temple nhìn Dixon bằng cặp mắt di-gan đen tối.
- O’Keeffe, mày là thằng đạo đức giả. Còn Dixon là thằng cười mỉa. Quỷ thật, tao nghĩ đó là cách nói văn hoa hay ho.
Nó ranh mãnh cười to, rồi vừa nhìn Stephen vừa nhắc lại:
- Quỷ thật, tao thích tên đó. Một thằng cười mỉa.
Một sinh viên đậm người đứng ở bậc thang bên dưới chúng liền bảo:
- Quay lại chuyện bồ bịch đi, Temple. Bọn tao muốn nghe chuyện đó.
- Hắn có đức tin. – Temple bảo – Hắn có vợ rồi. Mà đám thầy tu đã quen ăn tối ở đó. Quỷ thật, tao nghĩ họ sờ soạng nhau.
- Đó gọi là ghìm cương ngựa thường để ngựa giỏi bứt lên đoạt giải. – Dixon nói.
- Temple, nói cho bọn tao biết, – O’Keeffe bảo – mày nốc bao nhiêu quart[61] bia đen rồi?
- O’Keeffe, toàn bộ linh hồn học thuật của bọn mày nằm cả trong câu đó đấy. – Temple khinh bỉ đáp.
Nó lóng ngóng di chuyển quanh nhóm rồi bảo Stephen.
- Mày có biết nhà Forster làm vua nước Bỉ không? – Temple hỏi.
Cranly xuất hiện ở cửa ra vào đại sảnh, mũ hất ra sau gáy, đang cẩn thận xỉa răng.
- Còn kia là kẻ hợm hĩnh. – Temple bảo – Mày có biết nhà Forster không?
Temple dừng lại đợi câu trả lời. Cranly dùng cái tăm thô kệch xỉa hạt phỉ ra rồi chăm chú ngắm nhìn.
- Nhà Forster là từ Balwin đệ nhất, vua xứ Flanders, mà ra – Temple bảo – Người ta gọi ông là Forester. Forester với Forster giống nhau cả. Thuyền trưởng Francis Forster, hậu duệ của Balwin đệ nhất, định cư ở Ireland và cưới con gái vị tù trưởng cuối cùng của vùng Clanbrassil. Thế là có các Blake Forster. Đó là một chi khác.
- Từ Baldhead[62], vua xứ Flanders cơ đấy. – Cranly nhắc lại lời Temple, vừa cố tình xỉa tiếp hàm răng lấp lóa đang nhe ra.
- Mấy thông tin lịch sử đó mày nhặt được ở đâu vậy?
– O’Keeffe hỏi.
- Tao cũng biết hết lịch sử gia đình mày, – Temple quay sang Stephen, bảo – Mày có biết Giraldus Cambrensis nói gì về gia đình mày không?
- Nó cũng là hậu duệ của vua Baldwin hả? – Một sinh viên cao ráo, có cặp mắt đen, bị ho lao hỏi.
- Baldhead. – Cranly nhắc lại, vừa rít nước bọt qua kẽ răng.
- Pernobilis et pervetusta familia[63]. – Temple bảo Stephen.
Cậu sinh viên đậm người đứng ở bậc thang phía dưới bọn chúng đánh rắm. Dixon quay sang nó, nhẹ nhàng bảo:
- Thiên thần mở miệng hả?
Cranly cũng quay sang, hùng hổ nói nhưng không giận dữ gì:
- Goggins, mày có biết mày là thằng quỷ đáng ghét nhất mà tao từng biết không?
- Tao vẫn luôn nghĩ tới chuyện này. – Goggins quả quyết đáp – Đánh rắm đâu có gây hại gì, đúng không?
- Bọn tao hi vọng đó không phải cái mà khoa học vẫn gọi là “paulo post futurum”[64].
- Chẳng phải tao đã bảo nó là thằng cười mỉa sao? – Temple quay trái quay phải rồi bảo – Chẳng phải tao đã gọi nó bằng cái tên đó sao?
- Đúng là mày, còn ai vào đây nữa. Bọn tao đâu có điếc. – Cậu sinh viên cao ráo, bị ho lao nói.
Cranly vẫn nhăn mặt với cậu sinh viên đậm người đứng phía dưới. Rồi nó khịt mũi khinh bỉ, hung bạo xô cậu ta xuống bậc thang.
- Xuống đó đi. – Cranly thô lỗ bảo – Cút đi, đồ cứt thối. Mày là đồ cứt thối.
Goggins nhảy xuống lối đi rải sỏi rồi khôi hài quay lại chỗ cũ. Temple quay sang Stephen:
- Mày có tin định luật di truyền không?
- Mày say hay bị làm sao thế? Mày muốn nói gì hả? – Cranly quay bộ mặt kinh ngạc qua hỏi Temple.
- Câu nói sâu sắc nhất từng được viết ra, – Temple nồng nhiệt bảo – là câu cuối cùng trong môn Động vật học. Tái tạo là khởi đầu của cái chết.
Temple rụt rè chạm khuỷu tay Stephen rồi hào hứng nói:
- Mày có thấy câu đó sâu sắc vì mày là nhà thơ không?
Cranly dùng ngón trỏ dài ngoằng của mình chỉ vào Temple.
- Nhìn nó xem! – Cranly khinh bỉ bảo những đứa khác – Nhìn niềm hy vọng của Ireland mà xem!
Cả bọn cười ầm trước ngôn từ, cử chỉ của Cranly. Temple mạnh dạn quay sang Cranly bảo:
- Cranly, mày lúc nào cũng cười nhạo tao. Tao có thể thấy điều đó. Nhưng tao luôn tốt đẹp như mày. Mày có biết tao nghĩ gì về mày khi so với bản thân tao không?
- Chàng trai yêu quý, – Cranly nhã nhặn bảo – mày có biết mày là đứa bất tài, chả biết nghĩ ngợi gì không?
- Còn mày biết tao nghĩ gì về mày khi so với bản thân tao không? – Temple hỏi lại.
- Nói đi, Temple! – Cậu sinh viên đậm người hét lên – Nói toẹt ra đi!
Temple quay trái quay phải, vừa nói vừa làm cử chỉ yếu ớt đột ngột.
- Tao là thằng khốn. – Temple bảo, vừa lắc đầu tuyệt vọng – Tao là thằng khốn và tao biết mình là thế. Tao thừa nhận mình là thế.
Dixon vỗ nhẹ lên vai Temple, ôn tồn bảo:
- Mày rất đáng được khen khi thừa nhận thế.
- Nhưng nó, – Temple vừa nói vừa chỉ vào Cranly – nó là thằng bìu dái y hệt tao. Có điều nó không biết đấy thôi.
Đó là điểm khác biệt mà tao thấy.
Một tràng cười nổ ra át lời Temple. Nhưng nó vẫn quay sang Stephen, háo hức bảo:
- Từ “thằng bìu dái” thú vị nhất đấy. Trong tiếng Anh có mỗi từ đó vừa có số ít vừa có số nhiều[65]. Mày biết không?
- Thật thế à? – Stephen mơ hồ hỏi lại.
Cậu nhìn khuôn mặt chịu đựng, đanh lại của Cranly, giờ đang nở một nụ cười nhẫn nhịn giả tạo. Cái tên tục tĩu kia lướt qua mặt nó hệt như nước bẩn đổ xuống một bức tượng bằng đá cũ kỹ, một bệnh nhân thương tích đầy mình. Trong khi nhìn Cranly, cậu thấy nó giở mũ ra chào, để lộ mớ tóc đen dựng đứng trước trán y như mũ miện bằng sắt.
Từ mái hiên thư viện, cô băng qua chỗ cậu và cúi đầu đáp lại cái chào của Cranly. Lại nó à? Có phải má nó hơi đỏ không? Hay tại lời Temple nói mà Cranly đỏ mặt? Sắc đỏ nhạt dần. Cậu không thấy nữa.
Liệu chuyện đó có giải thích cho sự im lặng vô tận của bạn cậu, những lời nhận xét khó nghe, những câu nói thô lỗ đột ngột chen ngang xua đi những lời thú nhận nồng nhiệt thất thường của cậu? Stephen đã thoải mái tha thứ cho Cranly vì cậu thấy bản thân mình cũng thô lỗ. Rồi cậu nhớ buổi chiều mình đã rời chiếc xe đạp cọc cạch đi mượn, quỳ xuống cầu Chúa trong khu rừng gần Malahide. Cậu đã giơ tay lên trời, đắm đuối cầu nguyện trong gian chính điện của khu rừng, biết mình đang đứng trên đất thánh và ở trong thời khắc thần thánh. Khi hai viên cảnh sát xuất hiện ở ngã rẽ vào con đường ảm đạm, cậu mới dừng cầu nguyện, vờ huýt sáo ầm ĩ tạo không khí cho vở kịch câm vừa diễn.
Cậu bắt đầu gõ đầu gậy mòn vẹt lên chân cột đá. Cranly không nghe tiếng cậu gõ à? Song cậu vẫn đợi. Cuộc nói chuyện nổ ra quanh cậu dừng lại một lúc và tiếng xùy xuỵt khe khẽ từ cửa sổ phía trên đầu cậu lại lắng xuống. Không còn âm thanh nào nữa, đàn nhạn đang bay mà cậu dõi theo bằng đôi mắt lười nhác đã ngủ cả.
Cô băng qua trong ánh hoàng hôn. Thế nên không khí tĩnh mịch trừ một tiếng xùy xuỵt khẽ đang lắng xuống. Bóng tối đổ xuống.
Bóng tối rơi từ trời cao xuống[66]
Một niềm vui run rẩy, dịu nhẹ như tia sáng yếu ớt, đùa giỡn như đoàn tiên nữ vây quanh cậu. Sao vậy nhỉ? Là sự di chuyển của cô qua bầu không khí tối tăm, hay câu thơ cùng những nguyên âm và phần mở đầu tối tăm mà nghe diễm lệ, du dương như đàn luýt vậy?
Cậu chầm chậm đi về phía bóng tối sâu hơn ở cuối hàng cột, dùng gậy gõ nhẹ lên chân cột đá để che giấu sự tỉnh thức khỏi đám sinh viên mà mình đã bỏ lại, và cho phép đầu óc quay lại với thời đại của Dowland, Byrd và Nard[67].
Đôi mắt mở ra từ bóng tối khát khao, đôi mắt làm mờ đi phương đông hừng sáng. Ân sủng uể oải của chúng là gì nếu chẳng phải sự mềm mại của buồng ngủ? Ánh mờ ảo lung linh của chúng là gì nếu chẳng phải ánh mờ ảo của lớp váng bẩn phủ lên hầm cầu của triều đình Stuart ủy mị? Rồi cậu nếm trong ngôn ngữ ký ức kia thứ rượu màu hổ phách, những giọt nước chết chóc của bầu không khí ngọt ngào, điệu pavan kiêu hãnh, và bằng đôi mắt ký ức cậu cứ loang loáng thấy các bà các cô từ ban công trong Vườn Covent chu mỏ ra ve vãn, đám gái điếm mắc bệnh giang mai trong các quán rượu, những cô vợ trẻ, những người vui vẻ đầu hàng kẻ cưỡng đoạt mình.
Những hình ảnh nhìn thấy không làm cậu thỏa mãn. Chúng bí mật, kích động nhưng không gắn với hình ảnh cô. Đó không phải cách cậu nghĩ về cô. Thậm chí đó cũng không phải cách cậu đã nghĩ về cô. Vậy tâm trí cậu không đáng tin sao? Những câu nói cũ, chỉ ngọt ngào bằng vẻ ngọt ngào lãnh đạm giống hạt phỉ mà Cranly xỉa ra khỏi hàm răng lấp lóa.
Đó chẳng phải suy nghĩ hay ảo ảnh dù cậu mơ hồ biết rằng bóng cô đang băng qua thành phố, đi về nhà. Cậu ngửi thấy mùi cơ thể cô, ban đầu mơ hồ nhưng sau rõ ràng hơn.
Máu cậu sôi lên, bất an một cách tỉnh táo. Đúng, cậu ngửi thấy mùi cơ thể cô, một mùi hương hoang dã, uể oải, ngửi thấy tứ chi hơi ấm áp của cô mà âm nhạc của cậu đã khát khao chảy trên đó, mảnh vải lanh mềm mại bí mật mà da thịt cô đã rỉ ra mùi hương và giọt sương trên đó.
Một con rận bò lên gáy cậu và cậu khéo léo dùng ngón cái và ngón trỏ lần dưới cổ áo lỏng lẻo bắt nó ra. Cậu dùng hai ngón tay vo viên cơ thể mềm nhưng giòn như hạt gạo của nó một lúc trước khi vứt đi, tự hỏi liệu nó sẽ sống hay chết. Cậu bỗng nhớ tới câu nói kỳ lạ của Cornelius a Lapide[68] rằng chấy rận sinh ra từ mồ hôi người không phải do Chúa tạo ra cùng những sinh vật khác vào ngày thứ Sáu trong tuần. Nhưng cảm giác ngứa ngáy trên cổ khiến tâm trí cậu sần lên, đỏ ửng. Sự sống của cơ thể cậu, thứ được ăn vận tồi tàn, được chăm sóc kém cỏi, bị chấy rận cắn, khiến cậu nhắm mắt lại trong cơn tuyệt vọng tuôn trào và trong bóng tối, cậu thấy những cơ thể chấy rận bừng sáng và giòn rơi trong không trung, thường xuyên xoay trở khi rơi. Đúng, không phải bóng tối rơi từ trời cao xuống. Mà là ánh sáng.
Ánh sáng rơi từ trời cao xuống.
Cậu thậm chí còn chẳng nhớ đúng câu thơ của Nash. Tất cả hình ảnh mà câu thơ gợi lên đều sai. Tâm trí cậu chỉ sinh ra chấy rận. Suy nghĩ cậu là chấy rận được sinh ra từ mồ hôi của sự biếng nhác[69].
Cậu mau chóng quay lại hành lang có hàng cột đỡ mái vòm, đi về phía đám sinh viên. Thôi được, cứ để cô đi, cô thật khốn kiếp! Cô có thể yêu gã vận động viên sạch sẽ nào đó, cái gã mỗi sáng sẽ lau rửa tới thắt lưng và có lông đen trên ngực. Mặc kệ cô!
Cranly lại lấy quả phỉ khô khác từ trong túi áo ra và nhai thật ồn ào, chậm rãi. Temple ngồi trên gờ tường giữa hai hàng cột, ngả người về sau, mũ sụp xuống cặp mắt buồn ngủ. Một cậu trai trẻ, người vuông chằn chặn xuất hiện nơi mái hiên, cắp nách một cặp hồ sơ bằng da. Cậu ta hùng dũng tiến về phía nhóm sinh viên, dùng gót giày và mũi ô gõ lên nền đá. Rồi cậu giơ ô lên, chào cả bọn:
- Buổi tối tốt lành.
Cậu lại gõ ô lên nền đá và cười khúc khích trong khi đầu rung lên vì hơi hồi hộp. Cậu sinh viên cao ráo bị bệnh ho lao đang trò chuyện bằng tiếng Ireland với Dixon và O’Keeffe không đáp lời cậu ta. Cậu ta bèn quay sang Cranly bảo:
- Buổi tối tốt lành, nhất là với mày.
Cậu ta lại dùng ô ra hiệu và cười khúc khích. Cranly đang nhai quả phỉ, bèn nhồm nhoàm đáp.
- Tốt lành á? Ừ. Tối nay tốt mà.
Cậu sinh viên người vuông chằn chặn nghiêm túc nhìn Cranly, khẽ lắc chiếc ô, vẻ chỉ trích.
- Tao thấy mày sắp sửa đưa ra lời nhận xét rõ ràng. – Cậu ta bảo.
- Ừm. – Cranly đáp, cắn nửa quả phỉ rồi phun về phía cậu sinh viên kia, ra hiệu bảo cậu ta ăn nốt.
Cậu sinh viên kia không ăn nhưng thích thú với kiểu khôi hài đặc biệt của Cranly, bèn vừa cười khúc khích vừa dùng ô chỉ trỏ trong lúc nghiêm trang bảo:
- Mày có định…?
Cậu ta ngừng nói, chỉ thẳng ô về phía nửa quả phỉ đã cắn, rồi nói to:
- Tao ám chỉ cái đó đó.
- Ừm, – Cranly vẫn ừm à như cũ.
- Giờ mày có định, – cậu sinh viên người vuông chằn chặn bảo, – nói một cách ipso facto[70] hay không, hay cứ thế hả?
Dixon ngừng nói với nhóm của mình, quay sang bảo:
- Goggins đang đợi mày đấy, Glynn. Nó đã tìm mày và Moynihan khắp Adelphi. Mày đã ở đâu? – Dixon vừa hỏi vừa chỉ vào cặp hồ sơ dưới nách Glynn.
- Bài thi cả đấy. – Glynn đáp – Tao đem cho học trò bài thi tháng để chúng học kèm khá hơn.
Glynn vừa vỗ vào cặp hồ sơ, khẽ ho rồi mỉm cười.
- Học kèm á! – Cranly thô lỗ bảo – Tao chắc ý mày nói tới bọn trẻ đi chân đất được con khỉ chết tiệt là mày dạy dỗ. Chúa cứu giúp chúng!
Cranly ăn nốt nửa quả phỉ còn lại, bỏ phần cuống đi.
- Tao chịu đựng bọn trẻ con đến với mình. – Glynn hòa nhã đáp.
- Một con khỉ chết tiệt. – Cranly lặp lại với ý nhấn mạnh – Một con khỉ báng bổ chết tiệt!
Temple đứng dậy, gạt Cranly ra, rồi bảo Glynn:
- Câu mày mới nói về bọn trẻ đến với mình là trích từ Tân Ước. – Temple nói.
- Ngủ lại đi Temple. – O’Keeffe bảo.
- Được thôi, – Temple nói tiếp với Glynn – vậy nếu Chúa Jesus chịu đựng bọn trẻ đến với Ngài, sao Giáo hội lại gửi hết chúng xuống địa ngục, để chúng chết mà chưa được rửa tội? Sao lại thế?
- Mày có tự rửa tội cho mình không hả Temple? – Cậu sinh viên bị ho lao hỏi.
- Nhưng sao chúng xuống địa ngục nếu Chúa Jesus bảo chúng sẽ đến hết với Ngài? – Temple hỏi, dòm vào mắt Glynn.
Glynn ho rồi nói khẽ, khó khăn lắm mới kìm được tiếng cười khúc khích đầy hồi hộp và vừa nói vừa vung vẩy cái ô:
- Như mày nhận xét đó, nếu là thế, tao sẽ hỏi khi nào chuyện đó sẽ là thế.
- Vì Giáo hội cũng độc ác như đám tội đồ già nua cả thôi. – Temple bảo.
- Về chuyện này, mày có giữ quan điểm chính thống không, Temple? – Dixon ngọt ngào hỏi.
- Thánh Augustine bảo, những đứa trẻ chưa được rửa tội sẽ xuống địa ngục, – Temple đáp – vì ông ta cũng là một tội đồ già nua độc ác.
- Tao cúi đầu trước mày, – Dixon bảo – nhưng trong trường hợp này, tao có ấn tượng là có chốn lãng quên.
- Đừng tranh cãi với nó, Dixon. – Cranly thô bạo nói – Đừng nói hay nhìn nó. Cứ lấy dây thừng bằng rơm dẫn nó đi y như dẫn một con dê kêu be be ấy.
- Chốn lãng quên! – Temple kêu lên – Đó cũng là ý hay tuyệt. Y như địa ngục ấy[71].
- Nhưng mọi hàm ý khó chịu đều bị loại bỏ. – Dixon bảo.
Nói rồi nó quay sang những đứa khác, mỉm cười bảo:
- Tao nghĩ mình nói ra ý kiến của tất cả mọi người ở đây.
- Đúng thế. – Glynn đáp chắc nịch – Về điểm này thì Ireland thống nhất.
Glynn gõ mũi ô lên nền hành lang.
- Địa ngục. – Temple bảo – Tao có thể tôn trọng cái ý đó về cô vợ màu xám của quỷ Satan. Địa ngục là của người La Mã, giống như bức tường của người La Mã, vững chãi và xấu xí. Nhưng chốn quên lãng là gì?
- Cho nó vào xe nôi đi Cranly. – O’Keeffe kêu lên. Cranly tiến một bước thật nhanh tới chỗ Temple, dừng lại, giậm chân, rồi hét như hét với chim chóc:
- Xùy!
Temple nhanh nhẹn tránh ra.
- Mày biết chốn quên lãng là gì không? – Temple kêu lên – Mày có biết ở Roscommon, người ta gọi khái niệm đó là gì không?
- Xùy! Đồ trời đánh thánh vật! – Cranly vừa vỗ tay vừa kêu.
- Cả cùi chỏ lẫn đít tao cũng không biết! – Temple khinh bỉ nói – Tao gọi đó là chốn quên lãng.
- Cho bọn tao mượn cây gậy đó nào. – Cranly bảo.
Cranly cộc cằn vồ lấy cây gậy bằng gỗ tần bì trong tay Stephen rồi phóng xuống bậc thang nhưng Temple, nghe tiếng Cranly đuổi theo, liền ba giò bốn cẳng phóng qua ánh hoàng hôn như một sinh vật hoang dã, mau chân lẹ mắt. Tiếng ủng nặng nề của Cranly ầm ĩ vang lên trong sân trong rồi nặng nề quay trở lại, mỗi bước đi đều bị sỏi cản đường nên Cranly giơ chân đá tung sỏi.
Cranly bước đi giận dữ và bằng cử chỉ thô lỗ giận dữ, nó ấn trả cây gậy vào tay Stephen. Stephen cảm thấy cơn giận của Cranly có nguyên do khác, nhưng cậu vờ kiên nhẫn, chạm nhẹ vào tay nó và khẽ bảo:
- Cranly, tao muốn nói chuyện với mày. Ra chỗ khác đi. Cranly nhìn cậu một lúc rồi hỏi:
- Bây giờ à?
- Ừ, bây giờ. – Stephen đáp – Ở đây bọn mình không nói chuyện được. Ra chỗ khác đi.
Chúng cùng nhau băng qua sân trong, chẳng nói năng gì. Tiếng huýt sáo khe khẽ giả tiếng chim hót trong vở Siegfried[72] vẳng theo chúng từ bậc thềm dưới mái hiên. Cranly quay đầu lại, và Dixon, kẻ vừa huýt sáo, gọi với theo:
- Bọn mày đi đâu thế? Còn ván bi-da thì sao, Cranly?
Trong bầu không khí tĩnh mịch, Dixon và Cranly gào lên thương lượng về ván bi-da sẽ chơi ở khách sạn Adelphi. Stephen một mình đi tiếp, tới phố Kildare yên tĩnh đối diện khách sạn Maple’s thì dừng lại, kiên nhẫn chờ đợi. Bảng hiệu khách sạn, một tấm gỗ không màu được chà bóng và mặt tiền không màu châm chích cậu hệt như cái nhìn khinh bỉ lịch sự. Cậu trừng mắt giận dữ nhìn lại phòng khách chiếu đèn êm dịu của khách sạn, nơi cậu hình dung ra cuộc sống hào nhoáng của đám quý tộc Ireland, những kẻ trú ngụ yên ả ở đó. Họ nghĩ tới Ủy ban quân sự và đám nhân viên nhà đất, nông dân chào họ trên các nẻo đường quê. Họ biết tên các món ăn Pháp và ra lệnh cho xà ích bằng giọng tỉnh lẻ cao vút, giọng nói xuyên qua thứ thổ âm rít rịt.
Làm thế nào cậu có thể đánh động lương tâm họ hoặc có thể phủ bóng lên trí tưởng tượng của đám con gái họ, trước khi bọn điền chủ gây ảnh hưởng và để chúng có thể sinh ra một chủng loài bớt đê tiện hơn? Dưới ánh hoàng hôn sẫm màu, cậu cảm nhận được suy nghĩ và khát khao của chủng loài ấy, chủng loài mà cậu thuộc về, như lũ dơi băng qua các nẻo đường quê tối tăm, dưới hàng cây bên rìa dòng suối và gần những đầm lầy vằn vện nước. Một tối nọ, một phụ nữ đã chờ ở cửa nhà khi Davin đi ngang qua và cô ta đã mang cho cậu ta một ca sữa, ve vãn cậu ta lên giường cùng mình vì Davin có cặp mắt dịu dàng của kẻ biết giữ bí mật.
Còn cậu, không phụ nữ nào để mắt ve vãn.
Bỗng đâu, tay cậu bị túm lấy và giọng Cranly cất lên:
- Ta đi thôi.
Chúng im lặng đi về hướng nam. Rồi Cranly bảo:
- Cái thằng ngu Temple ấy, đúng là đồ ba hoa vớ vẩn! Mày biết không, thề có Moses là thế nào cũng có ngày tao tẩn nó một trận thừa sống thiếu chết.
Nhưng giọng Cranly không còn giận nữa và Stephen tự hỏi liệu mình có đang nghĩ tới việc cô chào hỏi Cranly dưới mái hiên thư viện hay không.
Họ rẽ trái rồi đi tiếp. Khi đã đi được một quãng xa, Stephen bảo:
- Cranly, tối qua tao có trận cãi vã khó chịu.
- Với người nhà mày à? – Cranly hỏi.
- Với mẹ tao.
- Về tôn giáo?
- Ừ. – Stephen đáp.
Im lặng một lúc, Cranly bảo:
- Mẹ mày bao nhiêu tuổi?
- Chưa già lắm. – Stephen đáp – Bà muốn tao dự lễ Phục Sinh.
- Rồi mày có dự không?
- Tao sẽ không dự. – Stephen thành thật.
- Sao lại không? – Cranly hỏi.
- Tao sẽ không phụng sự Chúa nữa. – Stephen đáp.
- Câu này mày nói rồi. – Cranly bình thản bảo.
- Giờ nó được nhắc lại đấy. – Stephen nóng nảy. Cranly bóp tay Stephen rồi bảo:
- Bình tĩnh, anh bạn. Mày có biết mày là đứa dễ kích động chết tiệt không hả?
Vừa nói nó vừa cười lo lắng, nhìn Stephen bằng đôi mắt thân thiện, xúc động rồi bảo:
- Mày có biết mày là đứa dễ kích động không hả?
- Tao dám chắc mình là thế. – Stephen vừa cười to vừa trả lời.
Tâm trí chúng trước đó xa lạ, giờ đột nhiên xích lại gần nhau, cái này ở cạnh cái kia.
- Mày có tin vào Bí tích Thánh thể không? – Cranly hỏi.
- Tao không tin. – Stephen đáp.
- Vậy mày hoài nghi à?
- Tao không tin cũng chẳng hoài nghi. – Stephen thật thà đáp lại.
- Nhiều người nghi ngờ lắm, kể cả người sùng đạo, song họ vẫn vượt qua được nỗi nghi ngờ đó, đặt nó sang một bên. – Cranly bảo – Nghi ngờ của mày về điểm này có mạnh quá hay không?
- Tao không mong mình vượt qua nỗi nghi ngờ đó. – Stephen trả lời.
Cranly bối rối một lúc, bèn lấy quả phỉ khác ra khỏi túi, sắp sửa nhai thì Stephen bảo:
- Đừng ăn. Mày không thể thảo luận vấn đề này mà mồm đầy quả phỉ.
Cranly xem xét quả phỉ dưới ánh đèn đường mà mình đang dừng chân dưới đó. Rồi nó hít hà quả phỉ, cắn một miếng nhỏ, nhổ ra rồi thô lỗ quăng xuống cống.
Nhằm quả phỉ nằm dưới cống, Cranly nói:
- Hãy tránh xa ta, đồ đáng bị nguyền rủa, mà rơi vào ngọn lửa bất diệt!
Túm lấy tay Stephen, nó đi tiếp và bảo:
- Mày có sợ những ngôn từ có thể được phán ra với mày vào ngày Tận thế hay không?
- Nếu không thì tao được trao ban cái gì chứ? – Stephen hỏi lại – Phúc ân đời đời bên cạnh thầy Trưởng khoa phụ trách sinh viên à?
- Hãy nhớ là thầy ấy sẽ được ngợi ca. – Cranly nói.
- Đúng. – Stephen lầm bầm điều gì đó một cách cay đắng. – Thầy ấy thông minh sáng láng, nhanh nhẹn, bình thản và trên hết là tế nhị.
- Mày biết không, cái cách mà tâm trí mày quá bão hòa với tôn giáo ấy, cái lối mày bảo mày hoài nghi ấy, thật kỳ lạ.
Hồi còn đi học, mày có tin vào Bí tích Thánh thể không? Tao cá là mày có.
- Tao có tin. – Stephen đáp.
- Khi đó mày có vui không? – Cranly nhẹ nhàng hỏi – Ví dụ như mày có vui hơn bây giờ không?
- Thường thì tao vui, cũng có khi thì không. – Stephen đáp lại – Khi đó tao là người khác.
- Người khác thế nào? Ý mày là sao khi nói thế?
- Ý tao là, tao không phải là mình, không như tao bây giờ, không như tao đáng ra phải thế.
- Không như mày bây giờ, không như mày đáng ra phải thế. – Cranly lặp lại – Vậy để tao hỏi mày một câu. Mày có yêu mẹ không?
Stephen chậm rãi lắc đầu.
- Tao không hiểu ý mày là sao. – Cậu đơn giản đáp.
- Mày chưa từng yêu ai à? – Cranly hỏi.
- Ý mày là phụ nữ hả?
- Tao không nói chuyện đó. – Cranly nói bằng giọng lạnh lùng hơn – Tao hỏi là liệu mày từng yêu ai hay yêu thứ gì chưa?
Stephen bước tiếp cạnh bạn, u sầu nhìn lối đi dưới chân.
- Tao thử yêu Chúa, – Cuối cùng cậu cũng nói – hình như giờ tao đã thất bại. Việc đó khó quá. Tao cố thống nhất ý mình với ý Chúa hết lúc này tới lúc khác.
Bằng cách đó tao không phải lúc nào cũng luôn thất bại. Có lẽ tao vẫn làm thế được…
Cranly cắt lời cậu bằng câu hỏi:
- Mẹ mày có vui sống không?
- Sao tao biết được. – Stephen gắt.
- Bà có bao nhiêu người con?
- Chín hay mười đứa. – Stephen đáp – Vài đứa đã mất.
- Còn bố mày… – Cranly tự ngắt lời một tẹo rồi nói tiếp – Tao không muốn soi mói chuyện gia đình mày. Nhưng bố mày có phải hạng khá giả không? Ý tao là lúc mày lớn lên ấy?
- Có.
- Ông làm gì? – Cranly hỏi sau một giây im lặng. Stephen bắt đầu liến thoắng kể về bố.
- Là sinh viên y khoa, tay chèo thuyền, ca sĩ có giọng nam trầm, diễn viên nghiệp dư, chính trị gia la lối, điền chủ nhỏ, nhà đầu tư nhỏ, là tay rượu chè, một gã tốt bụng, người kể chuyện, thư ký của ai đó, làm chân gì đó trong xưởng rượu, là kẻ thu thuế, kẻ vỡ nợ ngân hàng và hiện là kẻ ca tụng quá khứ của chính mình.
Cranly cười to, nắm chặt tay Stephen rồi bảo:
- Xưởng rượu nghe hay nhỉ.
- Còn thứ nào khác mày muốn biết không? – Stephen hỏi.
- Hiện tại mày sống trong hoàn cảnh tốt chứ?
- Trông tao có tốt không? – Stephen thẳng thừng hỏi.
- Vậy là, – Cranly đăm chiêu nói tiếp – mày được sinh ra trong xa hoa.
Cranly dùng câu chữ to tát, choang choang y như thường dùng thuật ngữ, như nó muốn người nghe hiểu rằng nó dùng thế không nhằm buộc tội gì.
- Mẹ mày chắc phải chịu nhiều khổ sở lắm. – Rồi nó lại nói – Bộ mày không cố cứu bà ấy khỏi khổ sở ngay cả khi… hay mày sẽ cố?
- Nếu trả giá ít thì tao sẽ cố. – Stephen đáp.
- Vậy làm thế đi. – Cranly bảo – Làm như bà ấy muốn mày làm. Dự lễ có nghĩa lý gì với mày đâu? Mày hoài nghi điều đó. Nó chỉ là hình thức, chả là cái gì khác. Mày sẽ khiến tâm trí bà ấy yên ổn.
Cranly dừng lại, vì thấy Stephen cứ lặng im, không đáp. Rồi, như nói ra suy nghĩ đang chảy trong đầu, nó nói tiếp:
- Thứ gì khác trên thế gian thối như cứt thì không chắc, chứ tình mẹ thì chắc chắn. Mẹ mày đã đem mày tới thế gian này, là người đầu tiên mang mày trong bụng. Ta có biết bà ấy cảm thấy gì không? Nhưng dù bà ấy có cảm thấy gì, thì điều đó ít ra cũng thật. Tư tưởng, tham vọng của ta là gì?
Chơi bời chứ còn gì nữa. Tư tưởng á? Ôi, Temple, con dê kêu be be chết tiệt kia cũng có tư tưởng. MacCann cũng có tư tưởng. Mọi thằng ngu ra đường đều nghĩ hắn có tư tưởng.
Stephen nãy giờ lắng nghe phát ngôn ẩn sau câu chữ của bạn, bèn nói bằng giọng giả vờ hờ hững:
- Nếu tao nhớ đúng thì Pascal không cho mẹ hôn vì ông ta sợ sự đụng chạm của phụ nữ.
- Pascal là con lợn. – Cranly đáp.
- Tao nghĩ Aloysius Gonzaga cũng có cùng não trạng.
– Stephen lại nói.
- Vậy hắn là một con lợn khác. – Cranly đáp.
- Giáo hội gọi ông ta là thánh đấy. – Stephen phản đối.
- Tao đếch thèm quan tâm người khác gọi hắn là gì. – Cranly thô lỗ, thẳng thừng bảo – Tao gọi hắn là lợn.
Stephen chuẩn bị câu chữ gọn ghẽ trong đầu xong bèn nói tiếp:
- Chúa Jesus cũng đối xử kém nhã nhặn với mẹ mình ở nơi công cộng nhưng Suarez, nhà thần học dòng Tên và quý ông người Tây Ban Nha, đã tạ lỗi thay Ngài.
- Có phải mày nghĩ Chúa Jesus không phải người mà
Ngài tỏ ra hay không? – Cranly hỏi.
- Người đầu tiên có ý nghĩ đó chính là Chúa Jesus – Stephen đáp.
- Ý tao là, – Cranly sửa câu chữ cho sắc gọn hơn – có phải mày nghĩ Chúa Jesus là giả dối, điều mà Ngài gọi người Do Thái thời ấy, cái đám giả nhân giả nghĩa ấy?
- Tao chưa bao giờ nghĩ thế. – Stephen đáp – Nhưng tao tò mò muốn biết, có phải mày đang cố biến tao thành kẻ cải đạo hoặc chứng tỏ mình là kẻ bỏ đạo hay không?
Nói rồi cậu quay lại nhìn bạn mình và thấy trên mặt Cranly một nụ cười sống sượng, được cố làm ra vẻ quan trọng.
Cranly bỗng nhiên hỏi cậu bằng giọng thành thật dễ hiểu:
- Nói thật đi. Mày có bị sốc với những gì tao nói không?
- Có một chút. – Stephen đáp.
- Sao bị sốc chứ? – Cranly nhấn mạnh, vẫn bằng giọng ấy – Nếu mày chắc tôn giáo của chúng ta là sai trái và Jesus không phải con Chúa trời?
- Tao chẳng chắc gì cả. – Stephen trả lời – Jesus là con Chúa trời còn hơn là con của Mary.
- Có phải mày không hiệp thông vì không chắc về điều đó, vì mày cảm thấy bánh thánh có thể là cơ thể và máu huyết của con Chúa trời chứ không chỉ là mẩu bánh thông thường? – Cranly hỏi – Và vì mày sợ có thể đó chỉ là mẩu bánh thông thường?
- Đúng. – Stephen lặng lẽ đáp – Tao cảm thấy thế và cũng sợ thế.
- Tao hiểu rồi. – Cranly nói.
Stephen kinh ngạc trước giọng kết luận của bạn, nên cậu nói tiếp:
- Tao sợ nhiều thứ: chó, ngựa, súng cầm tay, biển cả, bão sét, máy móc, đường làng ban đêm.
- Nhưng sao mày sợ một mẩu bánh mì?
- Tao hình dung ra có một hiện thực tàn ác đằng sau những thứ mình nói là mình sợ.
- Mày có sợ Chúa của Giáo hội Cơ đốc La Mã sẽ đánh chết mày, nguyền rủa mày nếu mày hiệp thông bất kính hay không? – Cranly hỏi.
- Giờ Chúa của Giáo hội Cơ đốc La Mã có thể làm thế. – Stephen đáp – Cái tao sợ hơn là phản ứng hóa học được tạo ra trong lòng vì sự chiêm bái giả dối của mình với một biểu tượng mà tích tụ sau nó là hai mươi thế kỷ đầy uy quyền và sự tôn kính cơ.
- Liệu mày có phạm cái tội bất kính cụ thể đó hay không? – Cranly cực kỳ giận dữ hỏi – Ví dụ như, nếu mày sống trong thời buổi hở ra là tù đày ấy[73]?
- Tao không thể trả lời cho quá khứ. – Stephen nói – Có thể là không.
- Vậy mày không định theo Tin Lành đấy chứ? – Cranly hỏi.
- Tao bảo mình đã mất đức tin, – Stephen đáp – chứ có bảo mất lòng tự trọng đâu. Tự do kiểu gì khi từ bỏ một thứ ngớ ngẩn nhưng logic, chặt chẽ rồi ôm lấy một thứ phi logic, thiếu chặt chẽ chứ?
Họ đi tiếp về phía thị trấn Pembroke rồi chậm rãi đi dưới hàng cây, dọc đại lộ, và ánh sáng rải rác từ các căn biệt thự xoa dịu tâm trí chúng. Không khí giàu sang, thư thái tràn ngập xung quanh như an ủi cảnh túng thiếu của họ. Sau dậu nguyệt quế, một tia sáng lấp lóe ở cửa sổ bếp và giọng một cô hầu vừa hát vừa mài dao vẳng tới. Cô ta hát những ô nhạc ngắn, vụn vỡ:
Nàng Rosie O’Grady.
Cranly dừng lại nghe rồi bảo:
- Mulier cantat[74].
Vẻ đẹp dịu dàng của cụm từ La-tinh đó được bóng đêm mê hoặc chạm vào, một sự đụng chạm yếu ớt, thuyết phục hơn sự đụng chạm của âm nhạc hay của bàn tay phụ nữ. Cuộc tranh luận trong đầu họ bị dẹp bỏ. Bóng người phụ nữ xuất hiện trong nghi thức tế lễ của nhà thờ im lặng băng qua bóng tối. Cô ta vận áo thụng trắng, nhỏ nhắn, mảnh khảnh như một cậu bé, thắt lưng buông thõng. Giọng cô ta yếu ớt, cao như giọng một cậu bé, được dàn đồng ca ở xa nghe thấy, ngân lên ngôn từ đầu tiên về đàn bà, chọc thủng vẻ u buồn, ồn ã của bản thánh ca đầu tiên về sự cám dỗ:
- Et tu cum Jesu Galilaeo eras[75].
Giọng cô ta chạm tới, làm đảo lộn mọi trái tim, những trái tim chiếu rọi như vì sao non trẻ, chiếu rõ hơn khi giọng cô nhấn vào âm áp cuối và dịu đi khi ngữ điệu nhỏ dần.
Tiếng hát ngừng lại. Stephen và Cranly cùng nhau đi tiếp, Cranly nhắc lại nhịp điệu được nhấn mạnh ở cuối điệp khúc:
Khi kết hôn,
Chúng tôi vui mừng khôn tả
Vì tôi yêu nàng Rosie O’Grady ngọt ngào của mình
Và Rosie O’Grady yêu tôi
- Đó mới là thơ ca đích thực dành cho mày. – Cranly bảo – Đó mới là tình yêu đích thực…
Nó liếc sang Stephen, vừa cười kỳ lạ vừa nói:
- Mày không coi đó là thơ ca à? Mày có biết những từ đó nghĩa là gì không?
- Tao muốn thấy nàng Rosie trước. – Stephen đáp lại.
- Rất dễ tìm ra nàng. – Cranly nói.
Mũ của Cranly trượt khỏi trán. Nó hất mũ lên và dưới bóng cây, Stephen thấy khuôn mặt nhợt nhạt của Cranly bị bóng tối viền quanh và đôi mắt to đen của nó. Đúng, nó có khuôn mặt đẹp, thân hình chắc khỏe. Nó đã nói về tình mẹ. Lúc đó, cậu cảm nhận được nỗi khổ của phụ nữ, sự yếu ớt của cơ thể và linh hồn họ, và cậu sẽ giang cánh tay khỏe khoắn, quả quyết ra che chở cho họ, để đầu óc mình chịu thua họ.
Rồi cậu sẽ ra đi: đã tới lúc phải ra đi. Một giọng khẽ nói với trái tim cô đơn của Stephen, bảo cậu hãy đi đi, bảo rằng tình bạn của cậu đã hết. Đúng, cậu sẽ ra đi. Cậu có thể tranh đấu với kẻ khác. Cậu biết vai trò của mình.
- Có lẽ tao sẽ đi xa. – Stephen nói.
- Đi đâu? – Cranly hỏi.
- Nơi tao có thể đến. – Stephen đáp.
- Ừ. – Cranly nói – Sống ở đây giờ sẽ khó cho mày lắm. Nhưng có phải vì thế mà mày ra đi?
- Tao phải đi.
- Vì mày không cần coi mình là kẻ buộc phải đi nếu mày không muốn hay coi mình là kẻ dị giáo, kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Rất nhiều giáo dân tốt đẹp cũng nghĩ như mày. Chuyện đó có làm mày ngạc nhiên không? Giáo hội không phải công trình bằng đá, thậm chí đám giáo sĩ và giáo điều của họ cũng thế. Giáo hội là toàn bộ những ai được sinh ra trong đó. Tao không biết mày muốn làm gì trong đời. Có phải những gì mày kể cho tao nghe cái tối bọn mình đứng trên sân ga phố Harcourt không?
- Đúng. – Stephen mỉm cười trước cách Cranly nghĩ gắn liền với nơi chốn – Cái đêm mày mất nửa tiếng cãi nhau với Doherty về con đường ngắn nhất đi từ Sallygap tới Larras ấy.
- Đồ đầu đất! – Cranly nói với vẻ khinh bỉ bình thản – Nó biết gì về đường đi từ Sallygap tới Larras chứ? Nó biết gì về chuyện đó chứ? Nó là đồ đầu bò đầu đất, ngu đần đầy dớt dãi!
Cranly cười một tràng to và dài.
- Được rồi. – Stephen bảo – Vậy phần còn lại mày có nhớ không?
- Phần mày nói, đúng không? – Cranly hỏi – Có, tao có nhớ. Là khám phá phương thức sống hay phương thức nghệ thuật mà nhờ đó tinh thần mày có thể tự do biểu đạt mà không bị xiềng xích.
Stephen giở mũ ra để thừa nhận.
- Tự do ư? – Cranly nhắc lại – Nhưng mày không đủ tự do để phạm tội bất kính. Nói tao nghe xem mày có ăn cắp ăn trộm không?
- Tao sẽ hỏi xin trước. – Stephen đáp.
- Nếu chả có gì, mày có ăn cắp ăn trộm không?
- Mày muốn tao nói – Stephen đáp lại – rằng quyền sở hữu chỉ là tạm thời, rằng trong hoàn cảnh nhất định, ăn cắp ăn trộm thì không phạm luật. Mọi người sẽ hành động dựa trên niềm tin ấy. Nên tao sẽ không cho mày câu trả lời đó. Áp dụng với nhà thần học dòng Tên, Juan Marian de Talavera, người cũng lý giải với mày là trong hoàn cảnh nào thì giết vua không phạm luật và tốt hơn mày nên đưa cho ông ta ly thuốc độc hay bôi nó lên áo choàng ông ta mặc, chỏm yên ngựa ông ta ngồi. Thà mày hỏi, tao có chịu để kẻ khác ăn trộm ăn cắp đồ của mình, hoặc nếu kẻ khác ăn trộm ăn cắp đồ của tao thì tao có giáng xuống họ cái mà tao tin là đòn trừng phạt của bàn tay trần tục hay không?
- Mày có làm thế không?
- Tao nghĩ, – Stephen trả lời – làm thế tao sẽ đau đớn y như mình bị ăn trộm ăn cắp vậy.
- Tao hiểu rồi. – Cranly nói.
Cranly bẻ một que diêm làm tăm rồi bắt đầu làm sạch kẽ răng. Xong nó hờ hững hỏi:
- Chẳng hạn nói tao nghe xem, mày sẽ phá trinh một cô gái chứ?
- Xin lỗi, – Stephen lịch sự đáp – đó chả phải tham vọng của hầu hết đám con trai sao?
- Nhưng quan điểm của mày thế nào? – Cranly hỏi. Câu cuối của Cranly tỏa mùi chua y như khói than củi và làm nản lòng, nhưng lại kích thích não Stephen nghiền ngẫm về làn khói lan tỏa đó.
- Nghe này, Cranly. – Stephen bảo – Mày hỏi tao những gì tao sẽ làm và không làm. Tao sẽ nói mày nghe những gì tao sẽ làm và không làm. Tao không phụng sự điều gì mình không còn tin tưởng, dù đó là tổ ấm, quê hương, Giáo hội của mình. Và tao sẽ cố tự biểu đạt bằng phương thức sống hay phương thức nghệ thuật nào đó càng tự do càng tốt, càng trọn vẹn càng tốt, đồng thời dùng thứ vũ khí duy nhất tao cho phép mình dùng để tự vệ - sự im lặng, lưu vong và khôn khéo.
Cranly tóm lấy tay Stephen rồi xoay cậu ra phía công viên Leeson. Nó cười gần như ranh mãnh, rồi bóp tay Stephen bằng cảm xúc của một đàn anh.
- Thật sự khôn khéo à? – Nó hỏi – Phải mày không đó? Một nhà thơ tội nghiệp, mày á?
- Mày khiến tao bộc bạch nỗi lòng, – Stephen vừa nói vừa run lên vì sự đụng chạm của Cranly – như tao từng bộc bạch rất nhiều thứ khác với mày, đúng không?
- Đúng thế, cậu bé ạ. – Cranly vui vẻ trả lời.
- Mày khiến tao bộc bạch những nỗi sợ tao có. Nhưng tao cũng nói cho mày biết những thứ tao không sợ. Tao không sợ ở một mình, bị kẻ khác hắt hủi hay rời bỏ bất cứ thứ gì mình phải rời bỏ. Tao không sợ mắc lỗi, dù là lỗi lớn, lỗi cả đời, có lẽ cả lỗi đời đời.
Cranly giờ lại tỏ ra nghiêm trang, đi chậm lại rồi bảo:
- Một mình, chỉ một mình. Mày không sợ điều đó. Mà mày biết nghĩa từ đó chứ? Không chỉ tách khỏi mọi người mà còn chả có ai làm bạn.
- Tao chấp nhận rủi ro ấy. – Stephen đáp.
- Không có ai làm bạn, – Cranly nói – ai đó còn hơn cả bạn, hơn cả một người bạn đích thực, cao quý nhất mà một người từng có.
Lời Cranly gõ một hợp âm trầm lên bản chất nó. Nó đã nói về bản thân như nó vốn thế hay mong là sẽ thế? Stephen im lặng nhìn bạn một lúc. Một nỗi buồn lạnh lẽo đọng trên mặt Cranly. Nó đã nói về nó, về sự cô đơn của bản thân mà nó sợ hãi.
- Mày nói ai vậy? – Cuối cùng, Stephen hỏi. Cranly không trả lời.
20 THÁNG 3. Trò chuyện lâu với Cranly về cuộc nổi loạn của mình.
Nó hành xử cao thượng. Mình nói năng vừa đủ, khôn khéo. Nó tấn công mình ở điểm liên quan tới tình mẹ. Mình cố hình dung ra mẹ nó nhưng không thể. Lúc bất cẩn, nó đã kể mình nghe là khi nó được sinh ra, bố nó đã sáu mươi mốt tuổi. Mình có thể hình dung ra ông ta. Kiểu nông dân to khỏe. Mặc comple màu muối tiêu. Chân to bè. Râu tóc hoa râm, bù xù. Có thể tham gia vài cuộc săn thú. Thường xuyên đóng thuế cho Cha Dwyer xứ Larras nhưng không nhiều. Lúc tối trời, thi thoảng có tán chuyện với đám đàn bà con gái. Còn mẹ nó? Rất trẻ hay rất già? Chắc chả còn trẻ nữa. Nếu bà còn trẻ, Cranly đã không nói năng như thế.
Chắc bà già rồi. Có khi còn lơ đễnh nữa. Vậy nên Cranly mới tuyệt vọng: nó là con của đám cơ quan sinh dục kiệt sức.
SÁNG 21 THÁNG 3. Mình nghĩ ra điều này khi nằm trên giường tối qua nhưng lười quá, tự do quá nên không thèm bổ sung gì thêm. Tự do, đúng thế. Đám cơ quan kiệt sức kia là của Elizabeth và Zacchary. Cranly chỉ là điềm báo. Món ăn: Cranly chủ yếu ăn thịt bụng lợn muối và quả phỉ khô. Mình đọc sách về châu chấu và mật ong rừng. Ngoài ra, nghĩ tới Cranly thì mình luôn thấy một cái đầu nghiêm nghị khắc khổ hay cái mặt nạ người chết như được viền trong tấm rèm màu xám hay mảnh khăn lau mặt của Chúa. Người ta gọi đó là cái đầu bị chặt lấp lánh ánh vàng. Mình bối rối một lúc trước cảnh xử Thánh John trước cổng La-tinh[76]. Mình thấy gì? Một điềm báo bị chặt đầu đang cạy khóa.
ĐÊM 21 THÁNG 3. Tự do. Tự do tâm hồn và tự do tưởng tượng. Hãy để người chết chôn người chết. Đúng thế. Hãy để người chết cưới người chết.
22 THÁNG 3. Đi cùng Lynch, theo sau là y tá của một bệnh viện cỡ lớn. Lynch nảy ra một ý. Mình không thích ý đó. Thấy hai con chó săn đói khát gầy gò theo đuôi một con bò cái tơ.
23 THÁNG 3. Từ tối hôm ấy tới giờ, mình chưa thấy nàng đâu. Nàng không khỏe ư? Có lẽ nàng đang ngồi cạnh lò sưởi, choàng trên vai chiếc khăn của mẹ. Nhưng nàng không cáu. Một bát nước thịt bò hầm thật ngon nhé? Sao lại không nhỉ?
24 THÁNG 3. Bắt đầu thảo luận với mẹ. Chủ đề: BVM[77]. Bất lợi vì giới tính và tuổi trẻ của mình. Để thoát ra, mình nêu mối quan hệ giữa Chúa Jesus và Chúa Cha so với quan hệ giữa Đức mẹ và con trai Bà. Mình nói tôn giáo không phải bệnh viện cho ta vào đó nằm. Mẹ nhường mình. Bà bảo mình có ý nghĩ kỳ quặc và đọc nhiều sách quá. Không đúng. Mình đọc rất ít và hiểu còn ít hơn. Rồi bà bảo mình sẽ quay lại với đức tin vì tâm trí mình bất an. Làm thế nghĩa là rời Giáo hội bằng tội lỗi, đi qua cửa sau và quay lại bằng sự hối lỗi, đi qua cửa sổ áp mái. Mình không hối lỗi được. Mình bảo mẹ thế và hỏi xin bà sáu xu. Bà cho mình ba xu.
Rồi mình đến trường. Có cuộc tranh cãi khác với Ghezzi nhỏ thó đầu tròn mặt đểu. Lần này về Bruno xứ Nola. Bắt đầu bằng tiếng Ý và kết thúc bằng tiếng Anh thổ ngữ. Ghezzi nói Bruno là kẻ dị giáo kinh khủng. Mình bảo ông ấy đã bị thiêu cháy kinh khủng. Nó buồn bã đồng ý ở điểm này.
Rồi nó cho mình công thức món risotto alla bergamasca[78]. Khi phát âm âm “o” nhẹ, nó dẩu đôi môi dày, phàm tục ra như thể hôn cái nguyên âm ấy. Nó làm thế à? Nó có hối lỗi được không? Có, nó có thể hối lỗi và nặn ra hai giọt nước mắt tròn đều, mỗi mắt một giọt.
Băng qua cây cối trong vườn xuân của Stephen, tức tuổi thanh xuân của mình ấy, mình nhớ đám người ở quê cậu ta, không phải quê mình, họ đã nghĩ ra thứ mà một tối, Cranly gọi đó là tôn giáo. Một nhóm bốn người, là lính trong trung đoàn bộ binh 97, ngồi dưới chân thập giá, tung xúc xắc lên để giành lấy tấm áo bành tô của kẻ bị đóng đinh.
Mình đến thư viện. Cố đọc ba bài điểm sách. Vô ích. Không thấy nàng đâu. Mình có lo lắng không? Lo gì chứ? Lo nàng sẽ chẳng bao giờ xuất hiện nữa.
Blake viết:
Tôi tự hỏi liệu William Bond có chết
Vì chắc chắn cậu ấy bệnh nặng lắm rồi
Rốt cuộc, tội nghiệp William!
Có lần mình xem tranh lập thể ở Rotunda. Cuối phòng là mấy bức tranh vẽ đám tai to mặt lớn. Trong số đó có William Ewart Gladstone, lúc ấy vừa mới mất. Dàn nhạc giao hưởng chơi bài O Willie, chúng tôi nhớ anh lắm.
Một đám quê mùa cục mịch!
SÁNG 25 THÁNG 3. Một đêm trằn trọc mộng mị.
Muốn vứt bỏ hết những giấc mơ ấy ra khỏi lồng ngực.
Thấy một phòng tranh dài, uốn lượn. Từ dưới sàn mọc lên những hàng cột hơi nước tối đen. Phòng tranh đầy hình ảnh các vị vua giỏi giang, tạc bằng đá. Tay họ xếp lại, để trên đầu gối, biểu lộ sự mệt mỏi còn mắt họ thẫm đen vì lỗi lầm của con người đến trước mặt họ, thẫm đen mãi như cột hơi nước tối đen.
Những hình thù kỳ lạ tiến tới như bước ra từ hang động. Họ không cao như con người. Một người như đứng tách khỏi những kẻ khác. Mặt họ sáng ánh lân tinh, với những vệt sẫm màu hơn. Họ nhìn mình chòng chọc, mắt họ như hỏi mình điều gì đó. Họ không nói.
30 THÁNG 3. Tối nay, Cranly đứng dưới mái hiên thư viện, hỏi Dixon và em trai nó một câu. Một bà mẹ để con rơi xuống sông Nile. Nó lải nhải về bà mẹ. Một con cá sấu bắt được đứa trẻ. Bà mẹ đòi cá sấu trả lại con. Cá sấu bảo được, nếu bà nói cho nó hay nó sẽ làm gì, có hay không ăn thịt đứa trẻ[79].
Lepidus sẽ bảo, tâm lý này là do mặt trời chiếu xuống vũng bùn của ta mà ra.
Còn vũng bùn của mình? Không thế sao? Thế thì trát xuống sông Nile cho rồi!
1 THÁNG 4. Bỏ câu cuối hôm qua mình viết.
2 THÁNG 4. Thấy nàng dùng trà bánh trong tiệm Johnston’s, Mooney và O’Brien’s. Thực ra, Lynch mặt đểu thấy nàng khi bọn mình đi ngang qua. Nó bảo mình là Cranly được anh trai nó mời tới đó. Cranly có đem theo cá sấu của nó không? Giờ nó có làm tia sáng chiếu rọi không? Ừ, mình biết tỏng nó. Cam đoan mình biết. Nó lặng lẽ chiếu rọi sau đống cám Wicklow.
3 THÁNG 4. Gặp Davin ở tiệm bán xì gà đối diện nhà thờ Findlater. Davin mặc áo len màu đen, cầm gậy hurling. Nó hỏi có thật mình sẽ đi xa và tại sao mình làm thế. Mình bảo nó đường ngắn nhất tới Tara là đi qua Holyhead. Đúng lúc ấy bố mình xuất hiện. Màn làm quen diễn ra. Bố lịch sự, hay để ý. Bố hỏi Davin liệu nó có đi uống chút gì với ông được không. Davin bảo không, vì nó còn phải họp nhóm. Khi cả bọn rời đi, bố bảo mình là Davin có con mắt tốt đẹp thực thà. Bố hỏi mình sao không tham gia câu lạc bộ đua thuyền. Mình vờ bảo sẽ nghĩ về việc đó. Rồi bố kể mình từng làm Pennyfeather tan nát cõi lòng thế nào. Bố muốn mình học Luật. Bố bảo mình được chọn để làm thế. Thêm bùn, thêm cá sấu.
5 THÁNG 4. Xuân cuồng dại. Mây lướt nhanh. Ôi cuộc đời! Dòng nước tù đọng xoay tròn tối đen còn bên trên là những cây táo thả đám hoa mỏng manh của chúng xuống.
Mắt các cô gái lấp ló qua kẽ lá. Các cô e lệ, tinh nghịch. Tóc các cô đều vàng nâu hoặc vàng hoe: không có ai tóc đen. Mặt họ đỏ ửng. Ố là la!
6 THÁNG 4. Dĩ nhiên nàng nhớ quá khứ. Lynch bảo phụ nữ ai cũng thế. Rồi nàng nhớ thời thơ ấu của nàng và cả của mình nữa, nếu mình từng là một đứa trẻ. Quá khứ bị hiện tại nuốt mất, còn hiện tại đang sống chỉ vì nó đem tới tương lai. Nếu Lynch đúng thì tượng phụ nữ phải luôn ăn vận kín đáo, một tay để ra đằng sau đầy hối tiếc.
CUỐI NGÀY 6 THÁNG 4. Michael Robartes[80] nhớ tới vẻ đẹp bị quên lãng, và khi tay chàng ôm lấy nàng, chàng ôm trong vòng tay vẻ đáng yêu đã tàn lụi khỏi thế gian này từ rất lâu. Không phải vẻ đẹp này. Hoàn toàn không phải. Mình khao khát ôm trong vòng tay mình vẻ đáng yêu chưa xuất hiện ở thế gian này cơ.
10 THÁNG 4. Giữa buổi đêm nặng nề, xuyên qua sự tĩnh lặng của thành phố Dublin, sự tĩnh lặng đã biến giấc mơ thành giấc ngủ không mộng mị, y hệt một tình nhân mỏi mệt, không động đậy âu yếm gì nữa, tiếng vó ngựa khe khẽ gõ trên đường. Khi tới cầu thì âm thanh đó không còn khe khẽ nữa và thoắt cái, khi lũ ngựa băng qua những ô cửa sổ tối đen, sự tĩnh lặng bị nỗi lo sợ, dè chừng y như mũi tên bay tới chẻ làm đôi. Tiếng vó ngựa giờ xa dần, những chiếc móng chiếu rọi giữa buổi đêm nặng nề y như ngọc, vội vã vượt qua các cánh đồng đang ngủ tới đích của cuộc hành trình nào thế? Trái tim nào thế? Chứa đựng thông tin gì thế?
11 THÁNG 4. Đọc những gì tối qua mình viết. Từ ngữ mơ hồ dành cho thứ tình cảm mơ hồ. Nàng liệu có thích thế không? Mình nghĩ là có. Thế thì mình cũng nên thích.
13 THÁNG 4. Cái gàu ấy đã ở trong đầu mình rất lâu. Mình tra từ đó và tìm ra nó trong tiếng Anh, mà là tiếng Anh cổ lỗ cộc cằn hay hớm nữa chứ. Thầy Trưởng khoa và cái phễu khốn kiếp! Thầy đến đây làm gì, để dạy bọn mình ngôn ngữ của thầy hay học từ bọn mình? Kiểu gì thì kiểu, thầy thật khốn kiếp!
14 THÁNG 4. John Alphonsus Mulrennan mới trở về từ phía tây Ireland. Báo chí châu Âu, châu Á đây, làm ơn chép đi. Nó kể đã gặp một cụ già ở đó, trong căn nhà nhỏ trên núi. Cụ già có cặp mắt đỏ quạch, ngậm tẩu thuốc ngắn. Cụ già nói tiếng Ireland. Mulrennan nói tiếng Ireland. Rồi cụ già và Mulrennan nói tiếng Anh. Mulrennan kể cho cụ nghe về vũ trụ và các vì sao. Cụ già ngồi nghe, hút tẩu, khạc nhổ. Rồi cụ bảo:
- À, chắc ở đầu kia, tận cùng thế giới, có những sinh vật kỳ quái khủng khiếp.
Mình sợ cụ ta. Mình sợ cặp mắt dâm dê vằn đỏ của cụ ta. Chính cụ ta là kẻ mình phải tranh đấu suốt từ đêm tới sáng, cho tới khi cụ ta hoặc mình nằm xuống chết, mà mình vẫn tóm lấy yết hầu gân guốc của cụ ta cho tới khi…
Tới khi nào? Tới khi cụ ta chịu thua mình à? Không. Ý mình là không có gì.
15 THÁNG 4. Gặp nàng trên phố Grafton mà chả biết nói gì. Đám đông đem bọn mình lại với nhau. Cả hai dừng lại. Nàng hỏi mình sao mình chẳng bao giờ xuất hiện và bảo rằng nàng đã nghe đủ thứ chuyện về mình. Nói thế để câu giờ. Nàng hỏi mình làm thơ à? Mình hỏi lại, làm thơ về ai mới được chứ? Câu đó làm nàng bối rối hơn và mình lấy làm tiếc, thấy mình thật nhỏ mọn. Bỏ ngay thái độ đó và mở công cụ làm lạnh đầy chất anh hùng, tâm linh ra, công cụ do Dante Alighieri chế tạo và được cấp bằng sáng chế. Nói nhanh về bản thân và kế hoạch của mình. Giữa cuộc trò chuyện, mình chẳng may có một động tác đột ngột, bộc lộ bản tính nổi loạn. Mình chắc trông giống một thằng đang tung cả nắm đậu lên trời. Mọi người liền nhìn hai đứa. Lát sau, nàng bắt tay mình rồi rời đi, trước đó còn bảo nàng hy vọng mình sẽ làm những gì mình nói.
Giờ mình gọi đó là thân thiện, đúng không?
Đúng, mình thích nàng hôm nay. Hơi thích hay thích nhiều nhỉ? Không biết nữa. Mình thích nàng và đó dường như là cảm xúc mới mẻ đối với mình. Rồi trong trường hợp này, tất cả những thứ khác, tất cả những gì mình nghĩ thế này thế nọ, tất cả những gì mình cảm nhận thế này thế nọ, tất cả những thứ trước giờ, thật ra… Ôi, bỏ cuộc đi ông tướng! Ngủ thôi!
16 THÁNG 4. Đi xa! Đi xa!
Bùa phép của đôi tay và giọng nói: đôi tay trắng của những nẻo đường, lời hứa về vòng tay ôm chặt và đôi tay đen của những con tàu cao vút chạy ngang qua mặt trăng, câu chuyện chúng kể về các quốc gia xa xôi. Chúng xuất hiện và nói: chúng tôi chỉ có một mình, hãy đến đây. Những giọng nói cất lên cùng chúng: chúng tôi là bà con thân thuộc của anh. Chúng xuất hiện dày đặc trong không trung khi gọi mình, người bà con thân thuộc của chúng, và chúng lúc lắc cặp cánh của tuổi trẻ sôi nổi khủng khiếp, sẵn sàng ra đi.
26 THÁNG 4. Mẹ đang xếp gọn chiếc quần hàng thùng mới cho mình. Bà bảo, giờ bà cầu nguyện mình có thể học được từ chính cuộc đời mình, lúc ở xa gia đình, xa bạn bè, học được trái tim là gì và mình cảm thấy gì. Amen. Cứ thế đi. Ôi cuộc sống, xin chào đón ngươi, ta ra đi để gặp cả triệu lần hiện thực kinh nghiệm và rèn giũa trong lò rèn tâm hồn cái lương tâm chưa được sáng tạo về chủng loài của mình.
27 THÁNG 4. Hỡi ông bố già nua, hỡi người thợ khéo già nua, hãy phục vụ con bây giờ và mãi mãi[81].
Dublin,
1904 – Trieste, 1914.
❀ ❀ ❀
[1] G. Hauptmann (1862-1946) tiểu thuyết gia, biên kịch gia người Đức, viết theo lối tự nhiên chủ nghĩa và xử lý các vấn đề nghiêm túc một cách thực tế, sống sượng. Ông đoạt giải Nobel Văn chương năm 1912.
[2] G. Cavalcanti (giữa 1250 và 1259-1300) nhà thơ, kẻ hát rong người Ý, là bạn thân và có ảnh hưởng tới Dante Alighieri.
[3] Tiếng La-tinh, nghĩa là Bản tóm tắt triết học kinh viện để hiểu về Thánh Thomas (Aquinas). Thomas Aquinas (1225-1274) là linh mục Công giáo, tu sĩ dòng Dominic, tiến sĩ Giáo hội, là triết gia, nhà thần học người Ý có nhiều ảnh hưởng tới truyền thống kinh viện. Stephen phát triển lý thuyết mỹ học của mình từ ý tưởng của Aquinas và Aristotle.
[4] Dùng từ dựa theo cuốn The United State of Europe on the Eve of the Parliament của William Thomas Stead, một phóng viên người Anh.
[5] Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng La-tinh, đều để chỉ ngà.
[6] Tiếng La-tinh, nghĩa là Ấn Độ sản xuất ngà.
[7] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Nhà hùng biện tóm ý; nhà thơ/nhà tiên tri cường điệu.”
[8] Tiếng La-tinh, nghĩa là “trong cuộc khủng hoảng như thế.”
[9] Ý tác giả chỉ Dublin.
[10] Tiếng La-tinh, nghĩa là “cho đầy xu bạc vào bình.”
[11] Tức Thomas Moore (1779-1852) - người viết những bài hát lãng mạn, bạn của Byron. Tượng ông được đặt trước Đại học Trinity, đại học chỉ dành cho người theo Tin lành thời đó.
[12] Firbolg, Milesain là những tộc người theo truyền thuyết ở Ireland. Người Firbolg thấp lùn, thô kệch còn người Milesian cao ráo, đẹp đẽ.
[13] Michael Cusack (1847-1906) là giáo viên và người sáng lập Hiệp hội thể thao Gaelic (GAA). Gael hay Celt là danh từ chỉ người Ireland và Scotland cổ.
[14] Người theo phong trào đấu tranh của Hội Huynh đệ Cộng hòa Ireland.
[15] Ngôn từ đùa cợt, ngược với ngỗng hoang, ý chỉ những người Ireland bị bắt đi lưu đày.
[16] Một thị trấn cổ ở phía bắc hạt Cork, nằm giữa hai thành phố Limerick và Cork.
[17] Môn thể thao gồm hai đội, mỗi đội có mười lăm người chơi, giống khúc côn cầu trên sân cỏ. Bóng đánh trúng cột cầu môn được một điểm. Bóng vào lưới được ba điểm.
[18] Xứ đạo thuộc hạt Cork, Ireland, cách Mallow mười ba kilomet.
[19] Theobald Wolfe Tone (1763-1798), nhà ái quốc, người sáng lập Liên hiệp Ireland và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 1798. Các cột đá làm thành hàng rào sau lưng bức tượng.
[20] Tiếng Pháp, nghĩa là “Ireland muôn năm!”
[21] Buck Egan tức John Egan (1785-1810) một chính trị gia thích thách đấu tay đôi. Burnchapel Whaley (1766-1800) tức Richard Whaley, người mà Stephen nhầm với con ông là Thomas hay Jerusalem Whaley. Richard Whaley có biệt danh “Burnchapel” vì ông có vai trò trong vụ đốt các nhà thờ sau cuộc nổi dậy của Liên minh Người Ireland (United Irishmen) năm 1798.
[22] Nguyên văn: “greyed with a silver pointed down”, dịch sát là “xám xịt với sợi lông nhọn màu bạc.”
[23] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Cái đẹp làm ta vui mắt.”
[24] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Cái gì tốt cũng làm ta thèm thuồng.”
[25] Tiếng La-tinh, nghĩa là “gậy đi bộ của người già.” Câu này của Thánh Ignatius, người sáng lập ra dòng Tên.
[26] Epictetus (khoảng 50-135 sau Công nguyên), nhà triết học theo trường phái Khắc kỷ, tên có nghĩa là “sở đắc, đạt được” (tức ông vốn là nô lệ) và cũng bị thọt.
[27] Nguyên văn: “detain”. Nghĩa là câu lưu, cầm tù, ngăn cản, làm chậm trễ.
[28] Xem Kinh thánh, Luke 15: 11-32.
[29] Xem Kinh thánh, Mathew 9: 9.
[30] Tiếng La-tinh, nghĩa là “đường gập ghềnh mới tới được các vì sao.”
[31] Quận ngoại thành của Dublin, Ireland, nơi có trường đua ngựa nổi tiếng.
[32] Moynihan nói bậy vì “ball” vừa có nghĩa là quả bi vừa có nghĩa là tinh hoàn.
[33] Nguyên văn: “Closing time, gents!” là lời chủ quán rượu thường nói khi tới giờ đóng cửa.
[34] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Tao ký rồi.”
[35] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Gì cơ?”
[36] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Vì hòa bình thế giới.”
[37] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Tao nghĩ mày nói dối vì mặt mày cho thấy mày chả vui gì cả.”
[38] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Giờ đứa nào đang khó chịu, là mày hay tao?”
[39] Tức William Thomas Stead (1849-1912) biên tập viên báo chí, nhà cải cách, nhân vật gây tranh cãi nổi tiếng dưới thời Victoria. Trong văn cảnh này, ông phản ứng với chỉ dụ của Nga hoàng và phản đối việc nước Anh gây hấn với người Boer (người Hà Lan định cư ở Nam Phi), dẫn tới cuộc chiến Boer (1899-1902).
[40] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Hòa bình cho toàn thế giới chết tiệt.”
[41] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Đi chơi bóng ném đi.”
[42] Tiếng La-tinh, nghĩa là “ngay tại đây.”
[43] Tiếng Ireland (Gaelic) để chỉ các Fenian - Hội Huynh đệ Cộng hòa Ireland nhằm giành quyền độc lập cho Ireland
[44] Giống Cranly, Lynch cũng dùng từ nhấn mạnh khi chửi. Cranly dùng từ “bloody” trong khi Lynch dùng từ “yellow.”
[45] Dòng Cát Minh hay dòng Anh em Đức Trinh nữ Mary Diễm phúc núi Cát Minh.
[46] Tiếng La-tinh, nghĩa là cái đẹp làm ta vui mắt.
[47] Bệnh viện đồng thời là trường y nằm trên phố Grand Canal, Dublin, được lập theo di chúc của Sir Patrick Dun, là người mua lại đất của James Butler, Huân tước xứ Ormonde.
[48] Tiếng La-tinh, nghĩa là, “Lưỡi ta ơi, hãy nói lời ngợi ca [Thánh thể] huy hoàng…”
[49] Tức Vexilla Regis Prodeunt, tên tiếng Anh là “The Royal Banners Forward Go”, nghĩa là “Vương kỳ tiến lên.”
[50] Tiếng La-tinh, nghĩa là “David đã làm như được bảo/Hát bài hát tiên tri mà rằng: Hỡi các nước, Chúa trời đã tới/ Ngài chiến thắng và cai trị từ cây gỗ.”
[51] Percy Bysshe Shelley (1792-1822) nhà thơ nổi tiếng theo trường phái Lãng mạn người Anh từng nói, “Tâm trí sáng tạo y như hòn than lụi tàn, chỉ cần một ảnh hưởng nhìn thấy được, giống như cơn gió thoảng thổi qua, đánh thức sự rực rỡ chớp nhoáng của nó…” (trích trong A Defense of Poetry)
[52] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Tao tin đời của kẻ nghèo ở Liverpool đơn giản là tồi tệ, tồi tệ khủng khiếp.”
[53] Một thể thơ khó của Pháp, gồm mười chín dòng, hai vần gieo, các dòng và vần được lặp lại theo khuôn mẫu đã định.
[54] Nguyên văn: “ways, days, blaze, praise, raise”.
[55] Greensleeves là giai điệu dân ca truyền thống của Anh, dựa trên nền nhạc romanesca. Màu xanh lá cũng có hàm ý tình dục vào thời Henry và Elizabeth, vì gợi nhắc tới vết bẩn của cỏ trên váy áo phụ nữ khi họ ân ái ngoài trời.
[56] Gerard of Borgo San Donnino (không rõ – 1276) là thầy tu dòng Francis người Ý, theo thuyết dị giáo do Joachim đề xướng, có viết tác phẩm nhan đề An Introductorium in Evangelium Aeternum (Dẫn nhập về Phúc âm vĩnh hằng), sau bị Giáo hội buộc tội dị giáo, sách bị đốt còn ông chịu án tù chung thân.
[57] Trích lời nữ Bá tước trong vở kịch Nữ bá tước Cathleen của W.B.Yeats, người bán linh hồn cho quỷ để cứu nông nô của mình.
[58] Nguyên văn: “The Tablet”, là Tuần tin Cơ đốc giáo quốc tế.
[59] Một tác phẩm của Sir Walter Scott. Lammermoor là phiên âm tiếng Anh của từ Lammermuir trong tiếng Gaelic. Đây là rặng đồi kéo dài từ Lothian tới biên giới giữa Scotland và Anh.
[60] Nguyên văn: ‘‘the Bantry Gang hay Band”, những thành viên trong Đảng của Parnell đã đứng lên tiếm quyền ông.
[61] Đơn vị đo thể tích của Anh, bằng 1,14 lít.
[62] Cranly nhại chữ Baldwin thành Baldhead, nghĩa là “đầu hói.”
[63] Tiếng La-tinh, nghĩa là “một dòng họ cổ xưa, quyền quý.”
[64] Thuật ngữ văn phạm, chỉ động từ được chia ở thì tương lai. Ý Dixon bảo Goggins đừng có đánh rắm nữa.
[65] Nguyên văn: “a ballocks”, có mạo từ số ít “a” lượng từ số nhiều “s,” còn có nghĩa là tinh hoàn.
[66] Trích sai câu thơ trong bài “Kinh cầu trong Đại dịch” của Thomas Nash (1593 – 1647). Bài thơ như sau: “Sắc đẹp chẳng qua là đóa hoa/Héo tàn thì sẽ nghiến ngấu/Ánh sáng rơi từ trời cao xuống;/Hoàng hậu trẻ đẹp nhưng chết rồi;/Bụi đất phủ lên mắt nàng Helen./Con ốm, con phải chết./Chúa ơi, hãy bao dung với chúng con!” Lưu ý Lucifer, kẻ đem ánh sáng tới, cũng sa ngã và rơi từ trời cao xuống.
[67] Ba nhà thơ tình thời Elizabeth.
[68] Cornelius Cornelii a Lapide (1567 – 1637) là tu sĩ dòng Tên và nhà chú giải Kinh Thánh, người xứ Flander.
[69] Lưu ý theo Kinh Thánh, biếng nhác là một trong bảy mối tội đầu, là nhóm những tội lỗi mà con người dễ mắc phải. Đó là các tội: kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, thù hằn, tham ăn, đố kỵ, và lười nhác. Có bảy con quỷ ở địa ngục tương ứng với bảy tội ấy – Lucifer, Mammon, Asmodeus, Amon hay Satan, Beelzebulb, Leviathan, và Belphegor.
[70] Tiếng La-tinh, nghĩa là “rõ ràng.”
[71] Nguyên văn: “limbo”, tiếng Việt phiên âm là lâm-bô. Theo nghĩa thần học, đây là vùng đất ở rìa địa ngục, dành cho những linh hồn chết mà chưa được rửa tội.
[72] Vở opera của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nhà lý luận âm nhạc và đạo diễn kịch nổi tiếng người Đức Wilhelm Richard Wagner (1813 – 1883). Siegfried là một trong bốn vở opera nằm trong chuỗi tác phẩm tiêu biểu của ông mang tên Der Ring des Nibelungen.
[73] Nguyên văn: “penal days”. Ý nói tới thế kỷ XVIII, khi ai chống lại Giáo hội Ireland đều sẽ bị phạt tù.
[74] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Một phụ nữ hát.”
[75] Tiếng La-tinh, nghĩa là “Và các con đã ở cùng Chúa của Galilee.”
[76] Xem thêm tích về Thánh John, người sống sót sau khi bị Hoàng đế La Mã Domitian bắt chịu hình phạt dìm trong vạc dầu sôi vào năm 92. Nơi diễn ra hình phạt là ở cổng La-tinh (Latin Gate), phía Nam bức tường La Mã (Roman wall). Về sau dưới thời Giáo hoàng Gelasius I (492 – 496), nhà thờ San Giovanni a Porta Latina (tức Thánh John trước cửa La-tinh) đã được dựng lên tại đây.
[77] Viết tắt của từ “Blessed Virgin Mary”, Đức mẹ Đồng trinh Chân phúc.
[78] Món cơm trộn của thành Bergamo, Ý.
[79] Một câu hỏi triết học, vì bà mẹ chỉ nhận lại con khi bảo cá sấu sẽ ăn thịt đứa trẻ. Nếu bà bảo nó không ăn còn nó sẽ ăn để chứng tỏ bà sai, thì cá sấu sẽ giữ con bà lại. Nếu bà bảo nó ăn thì nó sẽ trả con cho bà, vì nếu không trả, nó sẽ làm trái lời hứa trả lại con cho bà khi bà đoán đúng ý định của nó.
[80] Nhân vật trong bài thơ “Michael Robartes và nữ vũ công”của W.B.Yeats.
[81] Ý tác giả nhắc nhở mình phải để mắt tới cái họ Dedalus khi rời Ireland, bước chân ra thế giới.