Mùa hè năm ấy nắng đổ xuống căn nhà tường một thứ ánh sáng vàng rực rỡ, lóng lánh như mật nghệ, hầm hập tựa một chảo lửa đang rang nấu dưới chái bếp của chị. Khiến cho không gian rêu phong cũ kỹ bỗng chốc bừng lên một kỳ ảo nổi bật. Đó là một mùa hè oi ả chứa đầy sự tĩnh lặng, cái âm thầm ngủ quên của một vùng quê nông thôn. Nơi thời gian dường như ngưng đọng trong tiếng ve râm ran. Cái sân gạch phơi dưới cái nắng hạ héo hắt, bốc lên mùi đất sau mỗi trận mưa rào bất chợt. Những khóm hoa vạn thọ còn sót lại từ mùa xuân đã tàn, nhường chỗ cho những bụi hoa mười giờ rực rỡ đủ màu đỏ, tím, vàng, thi nhau bung nở ngay sát bên thềm. Cây xoài ngoài vườn tán lá xanh thẫm, đan dày vào nhau như một chiếc lọng khổng lồ, che chở cho bên hông gian nhà khỏi cái nắng gắt cùng cực. Dưới gốc xoài, mặt đất lúc nào cũng lốm đốm những vệt nắng nhảy múa theo từng cơn gió thoảng qua. Căn nhà tường vốn im lìm bỗng trở nên sống động với những âm hưởng đặc trưng của kỳ nghỉ hè. Tiếng cọt kẹt võng đưa của tôi và chị ngoài vườn nhằm trốn đi những cơn nóng đang chụp xuống nơi này. Thứ âm thanh vang dội, có lúc buồn bã, có lúc lại náo nhiệt lạ lùng. Giữa cái thời tiết oi nồng, chúng tôi như hai mầm cây nhỏ nương tựa vào nhau dưới bóng râm cao thượng. Trên cánh võng, chị nằm một đầu, tôi một đầu, hai chị em nằm nghe tiếng máy cassette rè rè phát ra những bản nhạc trữ tình sâu lắng. Chị vừa quạt cho tôi, vừa khe khẽ hát theo điệu nhạc. Chiều hôm ấy, cái nắng mùa hè đang gay gắt bỗng nhường chỗ cho một cơn mưa rào bất chợt. Từng hạt mưa nặng trĩu rơi xuống mái ngói, tạo nên một bản hòa tấu ồn ào nhưng lại vô cùng an yên. Nước mưa xối xả làm mát rượi cả sân gạch đang hầm hập bốc khói, cuốn đi những lớp bụi, để lại một mùi hương ẩm mục đặc trưng của đất. Chị và tôi cùng ngồi ở hiên nhà, trên chiếc ghế mộc mạc, lặng lẽ nhìn ra màn mưa trắng xóa giăng mắc trước mặt. Hơi nước từ đất bốc lên, quyện với mùi lá ướt, tạo nên một cảm giác vừa dễ chịu, vừa man mác buồn. Chị khẽ tựa đầu vào vai, mái tóc còn vương mùi bồ kết nhẹ nhàng chạm vào má tôi. Giọng chị trầm ấm, hòa lẫn vào tiếng mưa rì rào, nghe như một lời thì thầm từ cõi xa xăm:
- Tí nè! Mai mốt chị đi xa...em phải tự biết lo cho mình. Gặp mưa thì vô nhà liền, đừng như lúc chiều cứ nằm võng ngoài vườn, đợi chị kéo tay lôi mới chịu đi vô. Nói mai mốt chứ còn lâu lắm. - Chị dặn dò tỉ mỉ từng chút một, từng câu từng chữ đều mang theo sự lo lắng đến tột cùng.
Cho tới bây giờ chị vẫn giấu thời điểm chính xác ngày chị đi. Mặc dù nhiều người trong xóm hỏi chị đều trả lời “chưa thấy thông báo kết quả gì”. Chị không muốn nói cho họ một cách cụ thể, chỉ vì sợ tôi sẽ biết rồi buồn. Nhưng chị đã nhầm, tôi đã biết, thậm chí biết luôn chính xác ngày chị đi, kể cả giờ giấc. Đó là những tháng ngày chị thường vắng nhà, cái vắng đó chính là chị và thím Lợi đi Sài Gòn để làm thủ tục sang Mỹ. Đi đi về về đến mấy lần, lần cuối cùng chị trở về hoàn toàn không nói gì, im lặng suốt ngày, chỉ ăn cơm rồi vào buồng nằm. Bữa ấy tôi đã hỏi nhà của thím Lợi, không đề cập ngay tới vấn đề thủ tục vì sợ chị nghe thấy. Hết môn thi cuối học kỳ tôi không về liền mà đạp xe tới nhà chú thím để hỏi về chuyện giấy tờ. Nhờ vậy mà tôi biết chị đã phỏng vấn đậu, đã có visa, còn đúng sáu ngày nữa chị sẽ ra đi. Tôi biết sau này chú thím cũng sẽ nói lại với chị về việc tôi tìm đến nhà để hỏi. Nhưng tôi chẳng sợ, dù sao lúc đó thì chị cũng đã đi rồi. Thím Lợi nói.
- Nó khóc suốt, đi lên cũng khóc, phỏng vấn xong đậu cũng khóc, mà lên xe về cũng khóc. Dò hỏi mãi mới biết thì ra là nó xa cháu không đành.
Tôi buồn bã chào thím rồi ra về. Chị cứ giấu tôi, khi hỏi thì cứ nói còn lâu lắm mới đi, cũng có thể không đi. Lúc thì phỏng vấn rớt, khi thì sức khỏe không đạt nên để năm sau. Buổi chiều hôm ấy, cái nắng đổ xuống mái ngói âm dương của căn nhà tường một màu vàng rực, oi nồng và tĩnh mịch. Tôi đi thi về trễ hơn mọi khi, bước chân trần trên nền gạch tàu không gây ra một tiếng động nhỏ. Ngay từ bậu cửa gỗ cũ kỹ, tôi khựng lại, hơi thở bỗng thắt nghẹn khi nhìn thấy bóng dáng chị bên khung cửa sổ. Chị ngồi đó, nghiêng mình đón lấy chút ánh sáng cuối cùng của buổi chiều. Khung cảnh đẹp và buồn đến mức tôi không nỡ bước tới để phá vỡ sự tĩnh lặng ấy. Chị mặc chiếc áo bà ba màu nâu nhạt đã cũ, mái tóc đen dài được bới gọn ra sau gáy, để lộ bờ vai gầy guộc và chiếc cổ cao thanh tú. Ánh nắng rọi nghiêng qua khung cửa gỗ, dát một lớp viền sáng lấp lánh lên làn da trắng xanh, khiến chị trông như một nhân vật bước ra từ những trang cổ tích sầu muộn. Đôi tay chị uyển chuyển, đưa từng đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng trên nền vải lụa trắng. Chị đang tỉ mẩn thêu hai chữ cái “T Q” nằm cạnh nhau bằng chỉ đỏ. Màu đỏ của chỉ nổi bật trên nền trắng như những giọt máu nhỏ xuống tâm hồn người đứng xem. Chị thêu chậm lắm, cứ mỗi mũi kim hạ xuống, chị lại dừng lại một nhịp, mắt nhìn xa xăm ra phía vườn như đang gửi gắm một lời cầu nguyện vào từng thớ vải. Tôi đứng lặng nơi bậu cửa, nép mình để nhìn chị. Từ góc độ này, tôi thấy rõ sự u sầu hằn trên hàng mi dài khép hờ của chị. Chị không biết có người đang quan sát, nên bao nhiêu nỗi niềm chị đều để lộ ra hết. Thỉnh thoảng, chị dừng tay, đưa chiếc khăn tay lên mũi hít hà thật sâu, rồi lại khẽ mỉm cười một mình. Một nụ cười buồn bã, chứa đựng sự lưu luyến khôn nguôi. Có lẽ chị đang tưởng tượng đến ngày không còn ở đây, và chiếc khăn này sẽ là thứ duy nhất thay chị ở lại lau mồ hôi cho đứa em nhỏ. Tôi biết chiếc khăn này là chị dành cho tôi, bởi mấy ngày trước chị có nói, sẽ thêu cho tôi một chiếc khăn tay, để lau mồ hôi khi đi học, lau lên áo sẽ dơ, vết ố giặt rất khó ra. Đứng nép ở bậu cửa, bỗng thấy chị xa xôi quá. Dù chị chỉ ngồi đó, ngay trước mắt tôi thôi, nhưng có một linh cảm vô hình mách bảo rằng chị đang thuộc về một thế giới khác, một hành trình khác mà tôi không thể theo cùng. Lòng tôi nhói lên một cơn. Tôi muốn chạy tới ôm chầm lấy chị, nhưng đôi chân như bị đóng đinh xuống sàn gạch. Tôi sợ nếu mình bước vào, sự dịu dàng này sẽ tan biến, và chị sẽ lại khoác lên mình vẻ ngoài cứng cỏi để che giấu cuộc chia ly. Trong không gian chỉ có một vài tiếng ve sầu ran ran từ xa và tiếng vải sột soạt mỗi khi kim xuyên qua. Bóng nắng trên vai chị dịch chuyển dần, nhưng chị vẫn ngồi đó, kiên nhẫn và lặng lẽ như một bức tượng của lòng thủy chung.
Chị thêu không chỉ là hai chữ cái, mà đang thêu cả nỗi nhớ và niềm tin vào chiếc khăn tay ấy. Tôi cứ đứng đó, nhìn chị thật lâu, ghi tạc hình ảnh chị bên khung cửa sổ vào sâu thẳm tâm trí mình. Đó là hình ảnh đẹp nhất, dịu dàng nhất và cũng đau đớn nhất về chị mà tôi mang theo suốt cả cuộc đời này. Tôi làm ngã cây chổi tạo ra tiếng động, chị nhìn ra cửa giật mình khi thấy tôi.
- Sao không vô nhà mà đứng đó. Thi thế nào rồi, có làm bài được không? Mà sao hôm nay về trễ quá vậy? Còn xe đạp đâu? - Chị hỏi quá nhiều câu khi bất ngờ thấy tôi.
Tôi không dám nói việc về trễ là do lên nhà thím Lợi để hỏi về thủ tục của chị. Tôi đổ lỗi là do xe hư.
- Xe sao không đem vô mà lại để ngoài cổng? Ra dắt vào rồi đi tắm, chuẩn bị ăn cơm. Quần áo chị đã lấy sẵn trong nhà tắm. Mà khoan đã! Trở lại đây. - Tôi đi được ba bước để ra cổng lấy xe thì chị gọi lại. Tôi lầm lũi bước lại không nhìn chị mà đưa mắt dõi ra ngoài cổng, nơi chiếc xe đạp đang đứng chơ vơ dưới vạt nắng chiều. Chị bỏ chiếc bàn căng khung thêu xuống rồi bước tới đối diện với tôi.
- Nhìn vào mắt chị. Nói cho chị biết có chuyện gì? - Hai tay chị giữ lấy đôi vai. Rồi xoay đầu tôi lại để bốn mắt nhìn trực diện.
- Không có gì. - Tôi đáp.
- Không có gì thì tại sao buồn. - Chị hỏi.
- Em nghĩ chắc làm bài thi không được. - Tôi nói vậy, không thể cho chị biết về sự thật tôi đến nhà thím Lợi.
- Sao lại không được. Suốt thời gian qua chị đã ôn thi cho em rất kỹ. Thậm chí mỗi đêm hai chị em thức đến quá khuya chỉ để ôn bài. Chưa nói chị thường xuyên kiểm tra kết quả học lực, thấy môn Văn Học em có thành tích cao nhất so với các môn còn lại. Hôm nay ngày thi cuối cùng là môn Văn Học mà lại nói không làm bài được. Em đang nói dối, nhưng lại quên, ngay từ thuở em còn nhỏ chị đã trông giữ. - Chị nói.
- Thì chị cũng nói dối đó thôi. - Tôi nói rồi quay lưng bỏ đi ra phía trước lấy xe đạp vào.
Chị ngồi ngẫm nghĩ gì đó khá lâu, rồi đi vô trong buồng xem lại cái vali chứa đồ đạc đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi. Thấy cái ngăn đựng giấy tờ đã khóa, chị hiểu tôi không thể nào mở ra được mà xem để biết chị sắp rời đi. Đợi tôi vô nhà chị lặng lẽ theo sau rồi hỏi khẽ khàng, cái giọng không còn gắt gỏng như mới đây.
- Ai nói cho em biết là chị sắp đi. - Chị nói.
Tôi không trả lời chỉ im lặng quay lưng. Chị chỉ nói vọng xuống rồi tiếp tục ngồi lại thêu thùa.
- Tắm xong lột bộ đồ ra để đó lát chị giặt, cất giữ nhằm mai mốt đi tổng kết cuối năm học.
Tôi từ nhà tắm trở ra thì thấy cơm chị đã dọn sẵn trên bàn. Chúng tôi không nói với nhau lời nào. Bữa cơm chiều hôm ấy diễn ra trong một sự im lặng lạ lùng, thứ im lặng không phải vì không có gì để nói, mà vì cả hai đều sợ rằng chỉ cần một tiếng động nhỏ, cái màn ngăn mỏng manh che giấu sự thật sẽ vỡ vụn. Tôi cúi gằm mặt xuống chén cơm, cố nuốt từng miếng thật nhanh để che giấu sự nghẹn ngào. Tôi thấy bóng chị in trên nền gạch tàu, đôi vai gầy ấy như đang gánh cả một bầu trời tâm sự, có luôn cả giận hờn. Thỉnh thoảng, tiếng đũa chạm vào chén vang vọng trong gian nhà trống như tiếng gõ nhịp của đồng hồ đếm ngược. Bên ngoài sân, nắng chiều đã tắt hẳn, chỉ còn lại màu tím sẫm của hoàng hôn đang bao trùm lấy căn nhà. Tiếng ve sầu cũng đã lịm đi, nhường chỗ cho tiếng gió xào xạc luồn qua khe cửa. Tôi buông đũa xuống rồi nói ngắn gọn: “em no rồi”. Chị nhìn theo rồi hét lên: “Trở lại đây”. Tôi quay người đối diện với chị rồi nhìn ra màn đêm đang sập xuống ngoài cửa sổ. Chị không nói “sắp đi”, tôi cũng không nói “biết rồi”. Chị vẫn ngồi nhìn tôi chăm chăm, sự im lặng lúc đó giống như một sợi dây đàn đã căng hết mức, chỉ cần một cái chạm nhẹ cũng đủ để khiến mọi thứ tan tành.
- Ăn uống kiểu gì vậy? Ngồi xuống tiếp tục ăn. - Chị nói trong nỗi tức giận, đôi mắt đỏ hoe. Thấy tôi còn đứng đó. Chị tiếp tục tháo quát:
- Có nghe nói gì không? Từ trước tới giờ ăn bao nhiêu, thì bây giờ phải ăn y chang vậy. - Chị nói rồi không nhìn tôi nữa, gục mặt xuống chén cơm của mình dùng đũa lùa tới lùa lui.
Tôi đành ngồi vào bàn tiếp tục ăn cơm, lúc này chị mới cùng ăn, tuy nhiên chẳng ai nói gì. Bữa cơm kết thúc, bóng tối bắt đầu bò vào từ những góc tường rêu phong, lấn át chút ánh sáng tà huy còn sót lại. Chị không thắp đèn măng xông như mọi khi, chỉ thắp một ngọn đèn dầu nhỏ đặt trên chiếc kệ gỗ. Ánh lửa leo lét khiến những chiếc bóng của hai chị em đổ dài trên vách, chập chờn và méo mó. Chị dọn dẹp, tiếng nước chảy trong lu dội xuống sàn xi măng nghe róc rách, buồn bã. Sự im lặng của bữa cơm chiều muộn vẫn còn ám ảnh tôi tới giờ, nó là khúc nhạc dạo đầu cho một cuộc chia ly mà cả hai đều biết nhưng không ai đủ can đảm để gọi tên. Tôi lấy cuốn truyện cũ, ngồi xuống chiếc ghế cạnh ngọn đèn dầu, chị kêu ra rửa tay, rửa mặt, để lát vào ngủ. Tôi nghe tiếng khua chén ngoài sàn nước, chắc chị đang rửa và chuẩn bị giặt giũ. Chị luôn là người chu toàn như vậy, dù tôi đã mười bốn tuổi biết tự lo cho mình, nhưng chị vẫn không để làm bất cứ việc gì. Nếu là những ngày qua, chị đã thắp đèn măng xông bắt tôi phải ngồi vào bàn học, chị sẽ ôn bài để đi thi, nhưng nay chị biết là ngày thi cuối cùng không cần ôn nữa. Chị đi lên thấy tôi ngồi đó cầm cuốn sách đọc chăm chú, chị xoa đầu, ôm lấy tôi, nở nụ cười giọng nhẹ nhàng như mọi khi.
- Hôm nay thi thế nào? - Chị hỏi.
- Được! Mà em nghỉ hè rồi đó. - Tôi đáp.
- Ừ, chị biết rồi. Chị không cần thành tích với kết quả cao. Miễn em đã cố gắng thì được rồi. - Nói xong chị tiến về góc bàn nơi cửa sổ lấy cái bàn căng khung thêu, rồi trở lại phía tôi tiếp tục công việc còn dang dở. Tôi hỏi:
- Chị thêu cái gì đó.?
- Chị thấy em càng ngày càng lớn, càng không nghe lời nên chị thêu hai chữ “TQ”? - Chị nói.
- Là chữ gì.? - Tôi tiếp tục hỏi.
- Hai chữ cái “TQ” nghĩa là “tức quá”. Vì em luôn làm chị tức giận. - Chị nói. Nhưng ngẫm nghĩ một lát lại nói khác:
- Chị nói giỡn thôi: TQ là tên của em đó: Thành Quang.
Thì ra chị thêu tên tôi trong chiếc khăn tay. Chị nói về sau giữ chiếc khăn tay này cho thật kỹ. Xong xuôi, chị bảo đi vào ngủ, tôi nói chưa buồn ngủ vì muốn đọc cho hết truyện. Chị nhất quyết kéo tay đi, còn nói vào buồng sẽ kể cho tôi nghe về nội dung trong cuốn truyện. Chị lấy chiếc máy cassette đặt cạnh đầu nằm. Đưa cuốn băng vào, chậm rãi như thể đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng. Tiếng rít nhẹ của cuộn băng chạy qua đầu từ vang lên trước khi âm nhạc trỗi dậy. Một bản nhạc vàng của những năm tháng cũ, giọng ca sĩ trầm buồn, da diết cất lên giữa không gian tĩnh mịch: “Người đi có biết chăng trong chiều nay bơ vơ. Nghe lá thu vàng rơi bâng khuâng. Bước chân ai về từng thời gian ngừng trôi. Như quên đêm khuya để gió sương thêu thùa thầm làm ướt áo vai gầy”. Rõ ràng, từng câu, từng chữ, tôi nghe như một bản cáo trạng chuẩn bị tuyên án. Tiếng máy cassette thỉnh thoảng lại có những đoạn rè nhẹ, khiến giai điệu càng thêm sầu muộn. Tôi ngồi bật dậy, chị cũng vậy, hai chị em cùng bó gối trên chiếc giường gỗ lạnh ngắt. Âm nhạc lúc này không còn là giải trí, nó là ngôn ngữ thay cho những lời biệt ly mà không thể nói ra. Chị nhắm mắt lại, đầu hơi nghiêng, như thể đang để mình tan chảy vào từng nốt nhạc. Trong ánh đèn dầu mờ ảo, tôi thấy một giọt nước mắt lăn dài trên gò má chị, bắt lấy ánh lửa rồi vụt tắt khi rơi xuống vạt áo bà ba. Chị không lau, cứ để nó trôi như cái hoàn cảnh sắp sửa hiện thành. Tôi cảm nhận được hơi ấm từ cánh tay chị chạm vào tôi, nhưng cảm giác ấy sao mong manh quá. Giữa đoạn nhạc dạo, chị khẽ nói, giọng chị gần như hòa vào tiếng máy rè:
- Sau này chị đi, những lúc buồn em cứ bật máy lên mà nghe. Nghe cho đỡ trống vắng.
- Thôi! Nghe càng buồn thêm. - Tôi nói.
- Thì đừng nghe băng, nghe đài thôi.
Đêm ấy, chiếc máy cassette cứ quay đều, quay đều, như vòng quay của số phận sắp đẩy chị về phía bên kia đại dương, để lại tôi một mình với những giai điệu buồn bã này trong suốt mười mấy năm dài đằng đẵng về sau. Tôi buột miệng nói:
- Nhạc gì mà nghe y chang đưa đám ma. Ai hát vậy chị? - Tôi hỏi.
- Đó là bài “Hai vì sao lạc” ca sĩ Tuấn Vũ hát.
- Thôi tắt đi. - Tôi nói.
Chị đưa tay nhấn nút, xung quanh bỗng im bặt. Trong cơn xúc động tột cùng, chị thầm thì vào tai tôi, giọng nói méo mó vì những tiếng nấc:
- Chị thương em nhất trên đời này, em biết mà phải không? - Chị hỏi.
- Em biết. - Tôi trả lời.
- Vậy thì đừng có buồn nữa. - Chị nói.
- Em đâu có buồn. Đúng hơn là chị buồn, vừa khóc đó thôi. - Tôi nói.
- Thôi, chị không buồn nữa. Em cũng vậy nha. Mà sao em biết chị sắp đi? - Chị hỏi.
- Em thi xong thì chạy lên nhà chú Lợi để hỏi về chị. - Tôi nói.
- Sao em biết nhà chú thím mà lên?
- Thì bữa đi Sài Gòn thím đưa chị về. Khi chị đã vô nhà. Em chạy ra phía trước đón đường thím để hỏi. - Tôi nói.
- Hèn gì hôm nay về trễ. Sau này không được đi như vậy nữa, học xong phải một mạch về nhà ngay. Hoặc đi phải nói cho người lớn biết. Lúc chiều không có xe, nếu có thì chị đã đi tìm em rồi đó. Thôi nằm xuống.
Tôi nằm bên chị, chị ôm tôi rồi gác chân ngang bụng. Nói khẽ bên tai.
- Mai tắm sớm, chị dẫn đi chơi.
- Thôi, ban đêm muỗi lắm. Ở nhà chui vô mùng nằm, nghe chị đọc truyện còn thấy vui hơn. - Tôi nói.
- Cái truyện nào chị đọc em cũng chê. Mà bây giờ kêu nghe còn thấy vui hơn. Tối mai đi chơi một lát rồi về. Thời gian qua chị ép học quá nhiều rồi. Bây giờ phải nghỉ ngơi, vui chơi cho nhiều để tinh thần co lại không giãn quá mức nữa.
Trước khi những cơn bão lòng ập đến, mùa hè của tôi và chị là những chuỗi ngày cuối tuần vàng rực như bông cúc. Khi đó, căn nhà tường không phải là nơi của những tiếng thở dài, mà là “đại bản doanh” của những chuyến phiêu lưu nhỏ bé nhưng lấp lánh niềm vui. Chị dẫn tôi đi chơi bằng chiếc xe đạp cũ. Tôi ngồi vắt vẻo sau lưng im lặng, còn chị thì gò lưng đạp qua những con đường gồ ghề. Gió từ ngoài rạch thổi vào làm tung bay mái tóc dài của chị, những sợi tóc thơm mùi bồ kết thỉnh thoảng lại quẹt qua mặt tôi, nhồn nhột và ấm áp. Chị thường dẫn tôi ra gò cao hái trái trâm. Chị khéo léo leo lên những cành thấp, hái cho tôi những chùm trâm tím thẫm, ngọt lịm và chát nhẹ. Hai chị em cứ thế ăn đến nỗi môi và lưỡi tím ngắt, rồi nhìn nhau cười nắc nẻ giữa cánh đồng lộng gió. Thỉnh thoảng, chị mượn xe máy để dẫn tôi lên huyện. Với tôi ngày đó, huyện là một thế giới thần tiên đầy màu sắc. Khi nắng đã nhạt màu, hai chị em lại dắt nhau về ven rạch dừa. Chị dạy tôi cách thắt những con cào cào, con chim bằng lá dừa. Ngón tay chị nhỏ nhắn, uyển chuyển tết từng lá xanh mướt thành những món đồ chơi kỳ diệu. Chị ngồi đó, dưới bóng dừa mát rượi, đôi mắt xa xăm nhìn theo dòng nước trôi lững lờ. Có lẽ trong những ngày cuối cùng êm đềm ấy, chị đã bắt đầu hình dung về cuộc chia ly. Mỗi bước chân chị đi cùng tôi, mỗi món quà nhỏ chị mua, mỗi nụ cười chị trao... đều là cách chị “tích trữ” tình yêu để tôi có đủ vốn liếng mà sống qua những ngày vắng bóng chị. Mùa hè năm ấy, những chuyến đi chơi cuối tuần là mảnh ghép tươi sáng nhất trong bức tranh ký ức của tôi. Để rồi sau này, mỗi khi đi qua những nơi chốn cũ, tôi vẫn như thấy bóng dáng một người con gái gầy gò, gò lưng đạp xe, chở theo cả một mùa tuổi thơ bình yên của đứa em nhỏ trên đôi vai gầy.
Có một lần, đó là một buổi chiều thứ Tư, còn hai ngày nữa chị sẽ đi, trời lụi nắng mây đen kéo đến ùn ùn, nhanh đến mức hai chị em không kịp đạp xe về tới nhà. Cơn mưa rào miền quê ập xuống, trắng xóa cả cánh đồng, những hạt mưa to và nặng quất rát rạt vào da thịt. Chị vội vàng kéo tôi lao vào bụi chuối cạnh một cái ao rau muống. Rồi nhanh tay nhặt vỏ ốc đã vỡ khứa một tàu lá chuối thật to, tán lá rộng xanh mướt và còn nguyên vẹn chưa bị gió đánh rách. Chị kêu tôi ngồi thụp xuống, rồi cầm tàu lá che lên đầu cả hai. Tàu lá chuối không đủ rộng, chị cứ nghiêng hẳn sang phía tôi, mặc cho một bên vai áo bà ba của chị đã thấm đẫm nước mưa, dán chặt vào làn da trắng xanh gầy guộc. Dưới tán lá xanh rì, không gian bỗng trở nên chật hẹp và riêng tư lạ kỳ. Tôi nghe rõ tiếng mưa rơi “lộp bộp, lộp bộp” trên mặt lá chuối ngay sát đỉnh đầu. Mùi nhựa lá ngái nồng quyện với mùi đất bốc hơi và mùi tóc ướt của chị tạo nên một phong vị mà sau này, mỗi khi ngửi thấy mùi mưa, tôi lại thấy lòng mình thắt lại vì nhớ chị. Chị ôm lấy vai tôi, kéo sát vào người cho đỡ lạnh. Chị nhìn ra màn mưa trắng xóa trước mặt, giọng trầm xuống, tan vào tiếng nước đổ:
- Sau này nếu có lúc nào em thấy đời mình như trận mưa này, không có chỗ trú, thì cứ nhớ về cái nhà tường của mình. Phải tìm cho mình một “tàu lá”, hoặc bất cứ nơi nào để che chắn, đừng bất chấp đi, để mình bị ướt lạnh, nghe chưa? - Chị nói.
Trời tạnh mưa, hai chị em về. Chị nấu cơm, và nấu thêm nước ấm cho tôi tắm. Khi đã xong chị kêu lại bên bếp lửa ngồi cạnh, rồi chạy đi lấy chiếc lược bằng gỗ chải tóc cho tôi. Chị nói.
- Tóc đã dài rồi, ngày mai phải đi cắt thôi.
Chiều đó hai chị em ăn cơm khá muộn rồi vào buồng ngủ. Khi tôi thức dậy đã là sáng thứ năm, nghe tiếng chị lọ mọ dọn dẹp, tiếng chổi quét, tiếng lục đục thu xếp, tôi bước ra khỏi mùng thấy chị đang soạn quần áo cho tôi bỏ vào một cái bọc lớn, cùng thùng giấy bên cạnh đựng đầy sách vở.
- Dậy rồi hả. Đi ra đánh răng, rửa mặt. Bàn chải và kem chị đã để sẵn ngoài nhà tắm. - Tôi đứng nhìn chị thật lâu, chẳng biết lý do gì chị lại thu dọn quần áo của tôi. Tôi bỏ đi, chị nói vọng xuống.
- Lát nữa chị chiên cơm cho ăn. Ăn xong rồi đi cắt tóc.
Tôi đi cắt tóc trở về thì đồ đạc của tôi đã biến đâu hết rồi. Khi hỏi thì chị bảo đã mang hết sang nhà, vì bắt đầu tối nay tôi sẽ không ngủ ở đây nữa. Đúng hơn từ giờ đến chiều là thời khắc cuối cùng tôi được ở cạnh chị.
- Trời! Cắt tóc xong giống tài tử hết biết. Ra tắm đi, đồ chị đã để sẵn trên sào. Lột bộ này ra lát chị giặt luôn, tóc không à. - Chị nói.
Tôi bước ra nhà tắm thì gặp một bộ đồ của tôi và chị đang treo trên sào. Tôi tắm xong trở vào gặp chị ngồi bên bếp lửa với gương mặt buồn hiu. Chị khe khẽ gọi tôi:
- Lại đây ngồi với chị.
Chị kéo tôi vào lòng, tôi nhìn vào bếp những ngọn lửa đang nhảy múa tinh nghịch trong tiếng nổ lách tách.
- Chị nấu gì đó? - Tôi hỏi.
- Chị nấu vịt kho gừng, để lát mình ăn cơm trưa và cả cơm chiều. Món này em rất thích ăn còn gì nữa. - Chị nói rồi nghiêng đầu nhìn tôi cười.
- Sao chị không cho em ngủ ở đây đêm cuối cùng rồi sáng mai chị đi.? - Tôi hỏi. Chị bỗng nhiên khựng lại, quay sang nhìn tôi với đôi mắt đỏ hoe, sắp rưng rưng.
- Không được. Bởi vì thấy em, chị sẽ đi chẳng nỡ. Ở đây chơi với chị tới chiều, rồi tối về nhà mà ngủ. Ngoan lên! Hãy nghe lời chị. Thôi lên nhà trên đi, ở đây nóng lắm, mới tắm xong đừng để mồ hôi ra. - Chị nói rồi đưa tay sờ vào đầu tôi.
Nấu xong, chị đứng dậy đi ra nhà tắm, tôi cũng lặng lẽ đi sau lưng. Chị vào giặt bộ đồ lúc nãy của tôi, chị giũ thật kỹ cho tóc rơi ra hết. Tôi đứng sau lặng người nhìn dáng chị ngồi xổm bên thau nhôm. Nâng niu chiếc áo cũ sờn, những động tác rất chậm, chậm tới mức tôi thấy khoảnh khắc như ngừng lại. Đôi vai chị run lên bần bật! Chị khóc. Không phải tiếng khóc gào lên đau đớn, mà là những tiếng nấc nghẹn bị nén chặt nơi lồng ngực. Nước mắt chị rơi xuống lã chã, hòa vào dòng nước xà bông trắng xóa. Tôi thấy chị đưa bàn tay gầy guộc lên quẹt ngang mắt, nhưng càng lau, nước mắt càng chảy, mặn chát và đắng cay như chính định mệnh đang chia cắt hai chị em. Trong làn khói bếp bảng lảng, mùi hương bồ kết từ mái tóc chị quyện với mùi xà bông, tạo nên một thứ vừa quen thuộc vừa xa lạ. Đó là mùi của sự sạch sẽ, của sự chăm sóc cuối cùng mà chị có thể dành cho đứa em nhỏ. Mỗi lần chị vò áo, bọt xà bông trắng muốt lại trào ra, vỡ tan lách tách như những bong bóng kỷ niệm. Mùi vải ướt át, mùi của nắng sớm và mùi của sự lao lực trên đôi vai chị tỏa ra, khiến tôi cảm thấy lồng ngực mình như có ai bóp nghẹt. Tôi biết, đó là lần cuối cùng chị giặt áo cho tôi.
- Chị lại khóc nữa rồi. - Tôi nói.
- Không phải, tại khói bếp bay ra cay quá. Bộ này lát chị đem phơi, trưa nay sẽ khô. Chiều nay em tắm rồi mặc. Riêng bộ đồ đang trên người đừng để cho dơ bẩn, vì ngày mai chị không còn ở nhà để giặt nữa.
Tiếng vò áo của chị vang lên giữa không gian tĩnh mịch. Tiếng nước xối xuống thau nhôm ào ào như tiếng lòng chị đang đổ vỡ. Chị vừa giặt vừa thầm thì điều gì đó, tiếng chị nhỏ như hơi thở, lẫn vào tiếng nước, nghe như một lời khấn nguyện dành cho tôi:
- Phải học giỏi... phải ngoan... chị đi rồi đừng có ham chơi…quan trọng hơn phải luôn đợi chị trở về.
Chị nâng chiếc áo lên, nhìn nó thật lâu qua làn nước mắt nhòa lệ. Ánh nắng hắt vào, soi rõ những đường chỉ sờn cũ và gương mặt hốc hác của chị. Chiều hôm ấy, chiếc áo được chị phơi lên sào, gió thổi làm nó bay phấp phới như một cánh chim lẻ bạn. Đó là lần cuối cùng tôi được giữ chiếc áo có mùi hương của đôi tay chị, một thứ tình yêu được giặt giũ bằng nước mắt, vắt kiệt bằng nỗi đau và phơi khô bằng tất cả sự hy sinh thầm lặng của một người chị sắp sửa lìa xa. Chiều hôm đó, chị bảo tôi đi tắm rồi mặc vào bộ đồ lúc sáng đã giặt được phơi khô. Chị lấy nó vào để sẵn trong nhà tắm. Xong rồi thì vào ăn cơm! Tôi không muốn đi, tôi muốn thời gian đừng trôi qua. Tôi ước gì có thể dùng đôi bàn tay bé nhỏ của mình để ghì chặt lấy vòng quay của kim đồng hồ, hay níu lấy vạt áo của hoàng hôn để nó đừng tan vào bóng tối. Thời gian lúc đó không còn chảy trôi bình thường nữa, mà nó cứ nhừa nhựa, đặc quánh lại như mật rỉ đường, mỗi giây phút trôi qua đều nặng nề và đau đớn tới xé lòng. Cái nắng chiều ấy có vị chát đắng như trái khổ qua đang nhai sống. Tôi nhìn bóng chị đổ dài trên tường, cái bóng gầy guộc ấy cứ nhạt dần, nhạt dần theo sự lụi tàn của ánh ngày. Tôi cố tình ăn thật chậm, nhai kỹ từng hạt cơm cho đến khi nó nát vụn thành nước, chỉ để kéo dài thêm vài phút được ngồi đối diện với chị. Mỗi miếng nuốt vào đều nghẹn đắng trong cổ, cảm giác như thời gian đang bị tôi nhấm nháp trong sự tuyệt vọng, nhưng càng cố giữ, nó lại càng trôi đi nhanh hơn qua kẽ tay. Tiếng loa phát thanh vang lên rõ mồn một, nghe như tiếng búa gõ vào đầu. Tôi sợ thứ âm thanh ấy, sợ cái nhịp điệu đều đặn tàn nhẫn báo hiệu bóng đêm sắp sập xuống. Chị vẫn im lặng, tiếng va chạm khua khoắng của chén muỗng dưới tay chị nghe như thúc giục, không còn cái âm thanh rộn ràng của những buổi chiều sum vầy cũ.
- Giả bộ ăn lâu bấy nhiêu đó đủ rồi. Ăn nhanh rồi còn về bên nhà, tối nay đừng ngủ lại đây với chị nữa. - Giọng chị lạnh lùng một cách lạ thường, nhưng cái giọng ấy mỏng manh lắm, như thể chỉ cần một hơi gió mạnh là sẽ vỡ tan.
- Em ở chơi một lát. - Tôi nói.
- Nói về là về! Chị muốn yên tĩnh. - Chị to tiếng quát tháo.
Tôi đi chầm chậm ra cửa rồi dừng lại. Chị tiếp tục xua đuổi.
- Về đi! Còn đứng đó làm gì nữa.
Từng lời nói của chị như những nhát roi quất vào người. Tôi lủi thủi bước ra cửa, tiếng dép lê trên nền gạch tàu nghe lẹt xẹt cô độc. Khi vừa bước xuống bậc thềm, nghe thấy tiếng chị đóng sầm cửa lại, tiếng then cài kêu lên một cách dứt khoát. Nhưng ngay sau tiếng động ấy, là một sự im lặng chết chóc, rồi đến tiếng nấc cụt nghẹn ngào mà chị không thể kìm nén thêm được nữa ở phía sau cánh cửa gỗ. Tôi biết chị đang đứng ngay sau cánh cửa đó, chỉ cách tôi một lớp gỗ mỏng thôi nhưng lại xa xôi như hai đầu thế giới! Tôi lầm lũi đi về nhà. Trở lại nơi chỗ ngủ cũ mà tôi đã xa cách bấy lâu, thấy quần áo đã được treo thẳng tắp, sách vở cũng được xếp ngay ngắn gọn gàng trên chiếc bàn học. Tôi hỏi mẹ mới biết, thì ra hồi sáng lúc tôi đi cắt tóc, chị Thanh đã mang đồ sang rồi sắp xếp lại tất cả cho tôi. Mẹ nói:
- Cứ để cho nó đi. Đừng níu giữ khiến nó thêm tủi buồn. Đời nó đã quá khổ rồi. Trong cái xóm này chẳng có đứa con gái nào mà khổ như vậy. Mặt mũi cha mẹ ra sao tới giờ vẫn chưa biết. Cũng mong rằng nó qua Mỹ, cuộc sống tốt hơn, đỡ khổ hơn. Từ nay về sau không cần phải ở lại đó.

Đêm ấy, trời không chỉ mưa, mà là một trận cuồng phong như muốn xé toạc bầu không khí vốn đã căng thẳng giữa hai chị em. Tiếng mưa đổ xuống mái tôn của nhà tôi nghe chát chúa, rầm rập như tiếng trống trận, át đi cả tiếng lòng đang gào thét của đứa em bị xua đuổi. Chẳng ngủ được, tôi lấy chiếc nón lá của mẹ rồi chạy ra sân băng qua hàng rào râm bụt, những hạt mưa to bản đập vào mặt rát buốt, mang theo vị tanh nồng của đất cát bị xới tung. Nước mưa tràn vào miệng, nhạt nhẽo và lạnh lẽo, thấm vào từng thớ thịt khiến tôi run lên bần bật. Cái lạnh của cơn mưa đầu mùa không thấm thía gì so với cái lạnh phát ra từ cánh cửa gỗ đang đóng then cài chặt chẽ kia, nơi chị đang nhốt mình trong sự cô độc để chuẩn bị cho một cuộc ra đi chưa hẹn ngày về. Tôi nép mình bên ngoài cửa sổ gỗ đã mục sờn đưa mắt vào nhìn chị y chang một tên trộm đang rình rập. Trong căn buồng nhỏ, ánh đèn dầu chao đảo theo từng cơn gió lùa, tỏa ra một mùi hương cũ kỹ, ám ảnh. Đó là mùi của sự kết thúc. Tôi thấy bóng chị in trên vách tường rêu phong, đôi vai gầy rung lên theo từng nhịp nấc bên chiếc vali. Chị ngồi bó gối quay lưng lại phía cửa sổ. Chị không ngủ, chị đang ngồi khóc. Dưới ánh sáng vàng vọt, mờ ảo, dáng chị hiện lên nhòe nhòa sau màn nước mắt và màn mưa trắng xóa. Chị Thanh lúc này trông thật nhỏ bé giữa căn nhà tường rộng lớn. Chị tắt đèn, bóng tối sập xuống nhanh như một nhát dao chém đứt sợi dây liên kết duy nhất giữa hai chị em. Tôi đứng đó, giữa đêm mưa tầm tã, lặng người nhìn căn buồng chìm vào hư không, hiểu rằng kể từ đêm nay, tiếng mưa sẽ không bao giờ còn bình yên nữa. Tôi vẫn đứng đó nhìn vào bên trong căn buồng tối đen như mực. Rồi bỗng nhiên, một tiếng cạch vang lên giữa màn mưa gào thét. Cánh cửa sau mở toang nhanh vội vàng, nhanh tới mức tôi không kịp phản ứng, chỉ đứng chết trân. Chị đội nón lá bước ra, trên tay với một luồng ánh sáng vàng vọt, yếu ớt của ngọn đèn dầu. Chị đứng đó, sững sờ, còn tôi thì chôn chân giữa đất trời tầm tã. Hai chị em nhìn nhau, ngăn cách bởi một màn mưa trắng xóa và một nỗi đau không thể gọi tên. Tôi đứng dưới làn mưa, những giọt nước đổ xuống mặt cay xè. Chị nhìn tôi đầy đầy rẫy sự bàng hoàng và xót xa. Chị không mắng, không đuổi tôi về như lúc chiều. Giây phút ấy, vị đắng của sự xua đuổi nhường chỗ cho vị ngọt đắng của tình thâm, khi cả hai đều hiểu lớp vỏ bọc tàn nhẫn của việc xua đuổi đã hoàn toàn tan nát dưới sức nặng của cơn mưa định mệnh này. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu trên tay chị, gương mặt hai chị em hiện lên nhòe nhoẹt, nửa sáng nửa tối. Nước mưa chảy dài trên trán chị, hòa vào những giọt nước mắt mới nhất vừa kịp trào ra. Hình bóng chị trong bộ đồ bà ba sờn cũ, đứng giữa màn đêm bao la, trông tàn tạ và nhỏ bé vô cùng. Chị bước tới ôm chầm lấy tôi, hai bóng người hòa vào làm một trên nền tường rêu phong nham nhở, một hình ảnh của sự gắn kết tuyệt vọng trước khi bóng tối của cuộc biệt ly nuốt chửng lấy tất cả vào mờ sáng mai.
- Chị đã nói đừng qua đây rồi mà! Sao em không nghe lời vậy? Ướt hết rồi. Về nhà thay đồ rồi ngủ đi. - Giọng chị nhẹ nhàng, có vẻ như an ủi lẫn trách móc.
- Chị đi đâu mà cầm theo đèn dầu vậy. - Tôi hỏi.
- Chị tính sang nhà em, để xem em ngủ như thế nào. Nào ngờ, vừa mở cửa nhà sau ra đã nhìn thấy em. Thôi về đi. Chị cũng vào thay đồ rồi ngủ để mai đi sớm. Ngày mai thức dậy nếu không thấy chị thì đừng đi tìm.
Nói xong chị nắm tay dắt tôi đi về nhà, còn chị trở lại căn nhà của mình. Bóng tối đã bao phủ hoàn toàn. Tiếng mưa vẫn đang thét gào như ông trời cũng đang khóc cho cuộc chia ly của nhân sinh đầy đau thương. Hơn mười giờ đêm cơn mưa đã tạnh. Tôi vẫn không thể nhắm mắt được, giống lần đầu, tôi đến nhà chị đưa mắt nhìn vào cửa sổ. Tôi thấy ngọn đèn còn sáng, có nghĩa là chị vẫn đang thức, bởi chị có thói quen ngủ là sẽ tắt đèn. Nhưng lần này, chị đã dùng chiếc mền để che cửa sổ lại từ bên trong vì sợ tôi nhìn thấy rồi buồn tủi. Tôi nhìn vào chỉ thấy cái bóng. Lúc thì nằm, lúc thì ngồi, khi thì trở mình, rồi gác tay lên trán. Tôi lủi thủi trở về nhà, khi mình mẩy đã bị muỗi chích sưng đỏ và ngứa ngáy.
Sáng đó, hơn bảy giờ tôi choàng tỉnh giữa một cơn ác mộng hay một thực tại còn đáng sợ hơn cả ác mộng. Ánh nắng sớm mai không rực rỡ mà nhợt nhạt như gương mặt kẻ mất hồn, xuyên qua khe liếp rọi thẳng vào mắt. Tôi bật dậy, tim đập loạn xạ như tiếng trống chầu, đôi chân trần cuống cuồng chạy về phía căn nhà tường, băng qua khoảng sân vẫn còn sũng nước và dấu chân chị hôm qua đã bị mưa đêm bôi xóa nham nhở. Tôi đẩy cửa, cánh cửa khép hờ mở toang, hơ hớ đón gió buổi sáng thổi vào lạnh toát. Bước vào trong, đầu tiên tôi nếm được là vị đắng nghét của sự bỏ rơi. Không còn mùi khói bếp nồng nàn, không còn mùi cơm mới. Chỉ còn lại vị của không khí tĩnh mịch, nhạt nhẽo và hanh hao đến lạ lùng. Tôi gọi: “Chị Thanh ơi!”, nhưng tiếng gọi va vào bốn bức tường rêu phong rồi dội ngược lại, vỡ vụn thành những mảnh âm thanh cô độc. Căn nhà tường vốn dĩ là pháo đài của sự chở che, nay chỉ còn lại những âm thanh vô hồn. Tiếng gió lùa qua khe cửa sổ nghe u u, thê thiết như tiếng hú của một hồn ma bóng quế. Không còn tiếng dép lẹt xẹt, không còn tiếng chổi quét, không còn tiếng chị gọi đi học. Sự im lặng lúc này không phải là bình yên, mà là một sự tàn nhẫn tột cùng, báo hiệu rằng thế giới của tôi đã vĩnh viễn mất đi một nửa. Chị đã đi! Chị đã ra đi thật rồi.
Tôi quỵ xuống giữa gian nhà, bàn tay run rẩy chạm vào mặt phản gỗ chiếc giường ngủ của tôi và chị giờ đây lạnh ngắt và khô khốc, không còn hơi ấm, chẳng còn mùi bồ kết. Chỉ có một lá thư với những đoạn chữ nhòe vì nước mắt của chị rơi xuống, một chiếc cassette, một chiếc khăn tay có chữ TQ, hai tờ tiền, một tờ có màu tím, và một tờ màu xanh, gồm một trăm năm mươi nghìn chị để lại cho tôi nhắc nhở rằng phải tự mình vá víu lấy tương lai. Căn nhà tường rêu phong, nham nhở dấu vết của thời gian, giờ đây chỉ còn là một cái lồng trống rỗng, giam giữ một đứa trẻ đang ôm lấy bộ những kỷ vật mà gào khóc trong sự bất lực đến tận cùng của kiếp người. Tôi run rẩy nhặt lá thư đang nằm lạc lõng trên chiếc giường gỗ. Tờ giấy tập cũ của tôi đã nhăn nheo, bốn góc quăn lại như thể vừa trải qua một trận giông bão. Những dòng chữ nghiêng nghiêng, vốn dĩ rất nắn nót của chị, giờ đây nhòe nhoẹt, xô lệch bởi những vệt nước khô đi để lại những quầng ố vàng xót xa. Mỗi nét chữ như một lời từ biệt được rút ra từ máu thịt:
“gửi Quang của chị
Chị sẽ không gọi em là Cu Tí nữa! Bởi chị biết thời gian tới em sẽ lớn. Khi em cầm tờ giấy này trên tay, chắc trời đã sáng và chị đã đi xa lắm rồi. Đừng trách chị vì đã đuổi em về chiều qua, cũng đừng trách chị vì đã lén ra đi trong lúc em còn say ngủ. Chị sợ chỉ cần nhìn thấy đôi mắt buồn của em, chị sẽ vứt bỏ tất cả để ở lại. Căn nhà tường này từ nay vắng bóng chị, em phải tự mình làm người lớn. Phải tự học, chị sẽ không có bên em để nhắc nhở nữa. Cái nhà này sẽ là của chúng mình về sau, vì vậy phải thường xuyên quét dọn, khu vườn thì đừng để cỏ dại mọc um tùm, nó sẽ hoang tàn thì trông buồn quạnh quẽ lắm. Chị sẽ trở về, nhất định em phải đợi chị, nhất định phải như vậy. Chị để lại tiền và chiếc khăn tay thêu chữ TQ. Hồi đó chị nói vui TQ nghĩa là “tức quá” vì em chẳng chịu nghe lời, vì thế chị thêu hai chữ này, mà không phải đâu, cũng chẳng phải chỉ duy nhất tên em là Thành Quang. Chữ T là tên chị, chữ Q là tên em. Hai chị em mình như hai sợi chỉ thêu cạnh nhau trên một nền vải trắng, dù cách trở nghìn trùng cũng không bao giờ đứt đoạn. Những lúc buồn quá, em hãy bật chiếc máy cassette lên nghe, chị đã thu âm sẵn một đoạn tâm sự cho em rồi đó...Chiếc xe đạp hãy mang về mà đi học. Đừng khóc, cũng đừng buồn. Chị đi là để quay trở về như mình đã cam kết với nhau rất nhiều lần. Tất cả những gì chị làm đều có nguyên nhân, ngay cả việc để em đứng tên nhà. Đợi chị, nhất định phải đợi chị. Chị thương em hơn tất cả những gì chị có trên đời này. Hãy cố học hành cho thật tốt. Hãy nhớ chị, hãy đợi chị, nhưng đừng bao giờ đi tìm chị. Tạm biệt em, chúng mình sẽ gặp lại dù có bao lâu đi chăng nữa”.
Tôi quỳ rạp xuống nền gạch tàu lạnh ngắt, đôi tay run rẩy chạm vào chiếc máy cassette cuộn băng đã để sẵn. Nhấn nút Play vang lên khô khốc giữa gian nhà trống. Sau vài giây rè rè của cuộn băng chạy qua đầu từ, giọng chị Thanh bỗng cất lên không phải là giọng nói lạnh lùng xua đuổi lúc chiều, mà là giọng thủ thỉ, nghẹn ngào như đang rót thẳng vào tim tôi. Khào khào, méo mó vì tiếng nấc, mang theo vị mặn chát của một người đang khóc đến cạn nước mắt. Tôi nhắm mắt lại, tưởng như mùi bồ kết trên tóc chị đang thoảng qua đâu đây, ngay sát bên tai, dìu dắt tôi vào một cõi mộng mị giữa ban ngày.
“Chắc giờ này em đang buồn chị lắm đúng không? Đừng tủi... Chị đi lần này không biết bao giờ mới được nắm lấy đôi bàn tay nhỏ xíu, thô ráp của em lần nữa. Nhưng em phải nghe chị, phải sống cho thật tốt. Căn nhà mình tuy cũ kỹ, màu vôi có tróc, tường có thấm, nhưng nó là hơi ấm còn sót lại của cha mẹ chị, cũng của chị em mình”. Tiếng chị dừng lại một nhịp, chỉ còn tiếng gió rít và tiếng mưa đêm qua được thu lại, nghe ầm ào và thê thiết. Rồi giọng chị cao lên, đầy quyết tâm nhưng cũng đầy đau đớn:
“Đợi chị nghe Quang! Dù mười năm, hai mươi năm, hay cả một đời, chị cũng sẽ tìm đường trở về với em. Mỗi khi thấy nhớ chị, em hãy lấy chiếc khăn tay thêu chữ TQ ra mà nhìn. Chị gửi hồn mình vào từng đường kim mũi chỉ đó rồi. Đợi chị... nhất định phải đợi chị”
Hình ảnh chị Thanh hiện ra nhòe nhoẹt trong tâm trí tôi, một người con gái gầy gò đứng giữa trùng khơi, mắt hướng về phía xóm nhỏ. Tôi gào lên trong căn nhà trống: “Em sẽ đợi chị”. Tiếng hét của tôi tan vào bóng tối của gian buồng, chỉ còn lại những vệt nắng sớm soi rõ những hạt bụi đang nhảy múa trên chiếc máy cassette kỷ vật duy nhất còn lưu giữ hơi thở của một người đã đi vào cõi nhớ. Tôi đứng dậy, đôi chân tê dại vì quỳ quá lâu trên nền gạch tàu lạnh lẽo. Ôm chiếc máy cassette và lá thư, chiếc khăn tay vào lòng, chậm rãi bước ra khỏi gian buồng, bỏ lại sau lưng một khoảng trống hoác mà mười ba năm sau cũng chẳng thể lấp đầy. Khi tôi bước ra đến ngưỡng cửa, vị của sự mất mát lan tỏa trong tâm trí, nhạt nhẽo và hanh hao như màu nắng sáng đang hấp hối. Tôi đưa tay nắm lấy cánh cửa gỗ đã nhám sần vôi vữa để khép lại. Cảm giác thô ráp ấy len lỏi vào da thịt, khiến tôi chợt nhận ra rằng từ giây phút này, sự che chở ấm áp của chị đã thực sự lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại mình tôi đối diện với thực tại nghiệt ngã. Tôi bóp ổ khóa và rút chìa ra. Quay đầu nhìn lại gian nhà rêu phong mùi dầu lửa khét lẹt còn sót lại từ đêm qua tạo nên một bầu không khí đặc quánh sự u uất. Tôi không ngoảnh đầu lại nữa. Lầm lũi đi về phía nhà, mang theo giọng nói khàn đặc trong cuốn băng và lời hứa “đợi chị” khắc sâu vào tâm khảm. Sau lưng tôi, căn nhà tường chìm dần vào im ắng và u trầm, ôm giữ lấy những ký ức rách nát của hai chị em, bắt đầu một giấc ngủ dài cho đến ngày người con gái ấy thực sự trở về.