Năm thứ ba ở Sài Gòn, thành phố bắt đầu khoác lên mình lớp áo rực rỡ của những ngày cận Tết, nhưng đối với tôi, cái náo nhiệt ấy chỉ càng làm nỗi cô độc thêm phần mênh mông. Giữa dòng người hối hả ngược xuôi trên đường phố rợp cờ hoa, tôi thấy mình như một mảnh ghép lạc lõng, tâm trí đã sớm vượt hàng trăm cây số để trở về bên hiên nhà cũ. Sài Gòn những ngày này có vị ngọt lịm của mứt gừng, mứt bí bày bán ở khắp các chợ. Tiếng nhạc xuân rộn ràng ồn ào phát ra từ các loa phóng thanh trên phố không làm lòng tôi vui lên, trái lại, nó nghe chát chúa, nhức nhối hệt như tiếng ve sầu mùa hè năm ấy. Tôi nghe tiếng còi, tiếng xe khách gầm rú ở dọc đường, âm thanh ấy thúc giục như tiếng gọi của quê hương đang vẫy gọi đứa con xa xứ. Ngày hai mươi sáu Tết, Sài Gòn cuộn mình trong một cơn lốc của sự náo nhiệt tàn nhẫn, một thứ âm thanh và màu sắc rực rỡ đến mức làm người ta nhức nhối. Giữa dòng người hối hả ngược xuôi, tôi thấy mình như một mảnh đời rách tươm bị ném vào giữa một lễ hội không dành cho mình. Giữa lòng phố thị, tôi thấy vị chát ngắt của khói xe bám đầy trên môi và vị nhạt hoét của những bữa cơm hộp ăn vội nơi góc công xưởng. Sài Gòn những ngày này đầy vị ngọt lịm của mứt Tết, vị nồng nàn của rượu xuân trưng bày trong các cửa tiệm sang trọng, nhưng trong cổ họng tôi chỉ còn vị mặn chát của mồ hôi và nỗi nhớ nhà da diết. Mỗi khi đi ngang qua những quán ăn nghi ngút khói, tôi lại thèm đến cháy lòng vị giòn rụm của miếng cơm cháy chị nhường ngày xưa một thứ vị giờ đây xa xỉ hơn cả vàng ngọc. Không khí sực nức mùi các chậu bông vạn thọ hương thoang thoảng từ những sạp hàng ven đường, nhưng thứ mùi hương ấy không làm tôi thấy ấm áp mà chỉ thấy nhớ nhà, nhớ cái tết đầu tiên của tôi và chị trong căn nhà tường rêu phong đông đúc người tới thăm vào sáng mồng một. Ngày hai mươi sáu nắng Sài Gòn vàng võ đổ xuống những dòng xe kẹt cứng. Tôi đứng bên lề đường, bóng lẻ loi giữa những tà áo dài rực rỡ lướt qua. Nhìn những gia đình chở nhau đi sắm Tết, tôi lại hình dung về căn nhà tường ở quê giờ này chắc đang đóng cửa im lìm, ổ khóa chắc đã rỉ thêm một lớp, và những dây leo đã bò kín lối vào hoang phế. Sài Gòn rực sáng ánh đèn, trong lòng tôi là một khoảng tối mênh mông, nơi tôi vẫn đang đứng đó, giữa bụi đường và hy vọng mong manh, tự hỏi liệu mùa hè buồn bã ấy bao giờ mới chịu kết thúc? Mùa xuân sắp tới, nhưng tôi vẫn bảo thủ, cứ giữ khư khư cái mùa hè ly biệt trong tâm trí của mình. Giữa cái không gian ngột ngạt, của một buổi làm việc cuối năm tại công xưởng, tiếng chuông điện thoại vang lên như một tia chớp rạch ngang bầu trời tĩnh lặng của lòng tôi. Khi mẹ thốt ra cái tên “Thanh”, cả thế giới quanh tôi bỗng chốc đảo lộn, tim tôi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt rồi đột ngột buông ra, khiến lồng ngực run lên bần bật. Mẹ nói:
- Con Thanh nó vừa về với gia đình. Nó ghé đây dọn dẹp cái phòng cho con cả buổi. Rồi xin số điện thoại, nói rằng sẽ lên Sài Gòn tìm con. Mẹ có nói ngày hai mươi tám con nghỉ tết về quê. Cứ ở lại đây sẽ gặp, nhưng nó dứt khoát không chịu. Nó nhờ con Hà chở ra bến xe cách đây năm phút rồi. - Hà là đứa con đầu của dì Hạnh, em cô cậu với chị Thanh.
Cổ họng tôi nghẹn ứ, không thể thốt lên lời, chỉ thấy vị của sự sống đang trào dâng, mạnh mẽ và nồng nàn hơn bao giờ hết. Mẹ tôi không hề biết nói chơi! Như vậy là sự thật. Lời nói của mẹ như mang theo cả mùi nắng mới trên những cánh đồng quê hương. Tôi thấy xao xuyến cảm giác như mùi ẩm mục của mười ba năm cô đơn đang bị một cơn gió xuân gột rửa sạch sẽ, chỉ còn lại mùi của hy vọng đang hừng hực cháy.
“Nó đang lên Sài Gòn tìm con…” câu nói ấy vang vọng trong tâm trí tôi như một bản nhạc giao hưởng hùng tráng, át đi mọi tiếng ve sầu thê thảm của những mùa hè cũ. Tim tôi đập thình thịch, liên hồi, mỗi nhịp đập là một tiếng gọi tên chị. Hai giờ đồng hồ sau! Tiếng chuông điện thoại của tôi vang lên, hiển thị một số lạ hoắc, lần này không còn là sự ngỡ ngàng như lúc mẹ báo tin, mà nó là một thực tại sống động, hiện hữu ngay trong lòng Sài Gòn. Giọng chị qua điện thoại vẫn mang theo cái âm hưởng miền Tây ngọt lịm, nhưng giờ đây pha thêm chút run rẩy của một người vừa vượt hàng trăm cây số để tìm lại mảnh linh hồn đã mất. Cái giọng người con gái hai mươi lăm tuổi ngày xưa ấy đây rồi. Chị hỏi tôi nơi ở, địa chỉ, tên đường. Ba tiếng sau chị gọi điện cho biết, chị đã tới nơi, đang ở trong một khách sạn. Khi chị nói tên khách sạn thì tôi quá ngỡ ngàng, vì nơi đó là bên kia đường, đối diện cái hẻm nơi tôi thuê trọ. Tức là từ trong nhà trọ tôi bước ra đường, trước mặt là khách sạn ấy. Bây giờ đã hơn bốn giờ hai mươi chiều. Đúng năm giờ tôi sẽ ra ca trở về nhà trọ. Lúc ấy sẽ gặp được chị. Đã năm giờ chiều tôi lao về căn phòng trọ chật hẹp. Căn phòng vốn ngột ngạt mùi quần áo cũ và bụi đường nay dường như càng trở nên bé nhỏ trước sự nôn nóng đang bùng cháy trong lồng ngực. Tôi không dám mời chị vào đây, vì cái phòng bề bộn, mọi thứ đều ngổn ngang chưa sắp xếp ngăn nắp một cách đầy trật tự. Tôi hẹn chị ra quán cà phê đầu đường, chị bảo cứ ra trước chị sẽ tới sau. Dưới ánh đèn đường vàng vọt và làn khói bụi mịt mù của chiều muộn Sài Gòn, quán cà phê hiện ra với những ngọn đèn màu lấp lánh. Bước chân tôi chậm lại, lòng trào dâng một nỗi xúc động lẫn hồi hộp mênh mông. Tôi đã soạn ra hàng loạt câu hỏi, hàng tá câu trả lời để khi đối diện mà dễ dàng ứng xử, nhưng chẳng đâu vào đâu. Tôi bước vào tìm một vị trí khá yên tĩnh nơi phía trước. Tôi gọi cà phê và chờ đợi, nhưng rồi! Tôi chẳng thấy chị đâu, mười phút, mười lăm phút, hai mươi phút rồi ba mươi phút. Tôi gọi điện cho chị thì hoàn toàn không có bất cứ tín hiệu nào. Tôi đứng chôn chân giữa cửa quán cà phê, đôi mắt đảo liên hồi qua những gương mặt lạ lẫm. Những tà áo lụa rực rỡ, những tiếng cười nói chát chúa, những mùi nước hoa nồng nặc quyện vào nhau tạo nên một bầu không khí náo nhiệt tàn nhẫn. Tôi thấy vị đắng của sự thất vọng tràn lên cuống họng. Nhìn ai tôi cũng thấy lạ, ai cũng mang vẻ phồn hoa, lịch lãm của phố thị, chẳng có ai mang bóng dáng của người con gái miền Tây với chiếc áo bà ba cũ kỹ năm xưa. Tôi đứng đó, bộ quần áo dù đã cố chọn đẹp nhất vẫn không giấu nổi sự tơi tả, mục sờn của kẻ làm thuê, hoàn toàn lạc lõng giữa những người khách sang trọng. Vị của sự tự ti bỗng chốc mặn chát như muối xát vào hồn. Tôi cố gắng lắng mũi, mong tìm thấy mùi bồ kết nồng nàn hay mùi nắng quê hương, nhưng không gian chỉ toàn mùi cà phê hắc nồng và mùi thuốc lá khét lẹt. Cái mùi ẩm mục của mười ba năm đợi chờ trong căn nhà tường bỗng chốc quay lại, bủa vây lấy, khiến tôi cảm thấy mình như một kẻ tâm thần đang đi tìm một bóng ma của quá khứ. Mọi thứ xung quanh đều nham nhở và xa lạ, chẳng có một dấu vết nào của sự gắn kết. Tôi chợt thấy sợ hãi sợ rằng mình sẽ lướt qua chị như hai người dưng ngược lối trên đường đời ngang trái.
- Ngồi yên đó đi. Sao cứ đứng lên rồi đi tới đi lui vậy? Chị muốn nhìn lâu thêm chút. - Chị gửi tin nhắn qua điện thoại cho tôi. Tôi gọi lại thì đã có tín hiệu, nhưng tắt ngang không nghe. Gọi lần thứ hai, vẫn như lần trước không có tín hiệu.
Vậy là chị đang ở đây. Chính xác hơn là trong quán cà phê này thôi. Nhưng ngồi ở đâu, khi bên ngoài và bên trong tấm kính máy lạnh toàn là những gương mặt xa lạ của những bạn trẻ đang say sưa chuyện phiếm. Tôi nhìn một lần nữa, thật kỹ từng người, nhưng chẳng thấy chị trong số đó. Có một người con gái, ngồi một mình bên trong góc khuất của tấm kính, thỉnh thoảng hay nhìn ra tôi, nhưng khi tôi nhìn lại thì người này quay mặt nơi khác. Người này lúc nãy có đi lướt qua tôi để vào quán. Nhưng chắc là không phải chị, vì chị đã ba mươi tám tuổi rồi, còn người này chắc tầm tuổi tôi trở lại. Do cô gái này ngồi nên tôi không thể thấy được vóc dáng và cả tướng đi để nhận diện, lúc đi lướt qua tôi chưa để ý kỹ. Tôi đứng ngẩn ngơ giữa quán cà phê đông đúc, mắt quét qua từng bàn nhưng tuyệt nhiên không thấy ai giống với hình bóng người chị trong trí nhớ dư âm. Mười ba năm trong tâm tưởng tôi, chị Thanh là người phụ nữ lam lũ, mang theo cái vẻ khắc khổ của căn nhà tường cũ kỹ và những trưa hè nắng cháy, những mùa đông rệu rã.
Nhưng rồi, chính người con gái trẻ trung ấy, đứng dậy tay kéo cửa kính đi về phía bàn nở nụ cười rồi kéo ghế ngồi. Người này đưa tay che miệng cười nghiêng đầu nhìn tôi. Rồi bỗng nhiên lại nấc nghẹn rơi hai hàng nước mắt, nắm lấy tay tôi. Đúng là chị, cái nghiêng đầu cười thì không thể nhầm lẫn. Tôi nhận thấy vị đắng của cà phê, của sự bàng hoàng nơi cổ họng. Chị ngồi đối diện, làn da trắng ngần không một vết nham nhở của nắng gió, đôi mắt trong veo rạng rỡ thay vì vẻ u sầu của ngày cũ. Vị của sự xa lạ bỗng chốc trở nên ngọt lịm nhưng lại đầy hoang mang. Tôi nhìn vào bộ quần áo lịch sự, thời thượng của chị, rồi nhìn lại đôi bàn tay cứng cáp, chai sần như đá và bộ đồ sờn bạc của mình, cảm giác tự ti bỗng chốc dâng lên mặn chát. Chị trẻ quá, trẻ đến mức như thể thời gian đã bỏ quên chị ở một thiên đường nào đó, trong khi lại tàn phá tôi một cách khốc liệt. Chị đẹp và thanh tú đến mức tôi chưa bao giờ dám hình dung đó là người chị mình đang mong đợi. Bàn tay chị mềm mại đang nắm bàn tay chai sần của tôi. Sự tương phản giữa sự mịn màng của chị và vẻ nhám sần khiến tôi muốn rụt tay lại vì sợ làm dơ bẩn chị. Thay vì mùi bồ kết nồng nàn hay mùi khói củi ẩm mục, từ người chị tỏa ra một mùi nước hoa thanh nhã, quý phái. Thứ mùi hương ấy lạ lẫm đến mức khiến tôi lùi lại một bước, cảm giác như mình đang chạm vào một thế giới phù hoa không thuộc về mình. Mọi sự liên tưởng về mùi hương ngày cũ trong tôi bỗng chốc trở nên rách tươm, lạc điệu. Giữa không gian quán cà phê sực nức mùi máy lạnh và hương thơm xa xỉ, tôi thấy mình như một kẻ nhem nhuốc đi lạc vào giấc mơ của người khác.
- Cu Tí. - Tiếng gọi ấy khiến nhịp tim tôi đập thình thịch mãnh liệt, xóa tan mọi sự nghi ngờ về diện mạo trẻ trung của chị. Cái tên này đã từ lâu rồi chẳng ai gọi.
Chị vẫn chưa buông tay tôi ra. Bỗng nhiên chị cầm lấy ngón áp út rồi ngắm nghía thật lâu với đôi mắt đỏ hoe. Đó là chiếc nhẫn mà mười ba năm về trước trong đêm giao thừa chị đã đeo vào cho tôi. Bây giờ không còn sợi chỉ đỏ nào quấn quanh. Chiếc nhẫn ấy đã trầy xước, và có vết nứt. Chị dùng tay kéo lên kéo xuống rồi nói thành lời.
- Mười ba năm nay chẳng lớn được bao nhiêu, vẫn còn rộng một xíu. Chị có nói sẽ quay trở về lấy lại chiếc nhẫn này em có còn nhớ không? Bây giờ chị sẽ chính thức lấy. - Nói xong, chị tháo chiếc nhẫn ra khỏi tay tôi tự đeo vào tay mình.

Tôi hơi hụt hẫng vì hành động của chị. Nhưng thôi, dẫu sao đây là chiếc nhẫn tôi giữ dùm chị, chị trở về sẽ lấy lại như ngày xưa đã nói là lẽ đương nhiên. Chị đưa tay sờ vào má tôi rồi nói khẽ khàng:
- Gọi giúp chị một chai Coca - Cola. Chị sực nhớ ra mình quên một thứ trong khách sạn. Chị tới lấy rồi quay trở lại uống nước. Chờ chị chút nha. - Chị nói rồi mang balo bước đi ngay lập tức.
Tôi thấy chị có quá nhiều thay đổi từ vẻ ngoài đến tính cách. Dẫu biết mười ba năm thì ai cũng sẽ khác, nhưng chị quá khác, khác tới một trời một vực, không như tôi cứ ôm lấy những thứ cũ kỹ. Nhưng thôi! Mỗi con người tính cách khác nhau. Tôi gọi cho chị lon Coca - Cola, đợi chị trở lại. Một lát chị trở lại mỉm cười nghiêng đầu nhìn tôi. Dưới ánh đèn của quán, tôi nhìn sâu vào đôi mắt chị chỉ có đôi mắt ấy là không đổi, vẫn chứa đựng sự bao dung dành cho tôi. Dù chị có trẻ trung, có khác lạ so với căn nhà tường hoang phế ở quê, thì cái nghiêng đầu cười ấy vẫn là chị Thanh độc quyền trong tôi. Hình ảnh hai người ngồi đối diện, một người trẻ trung, rạng ngời và một người sương gió, cũ kỹ tạo nên một bức tranh ngang trái nhưng đầy tình thương. Mọi rào cản về thời gian và nhan sắc bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại sự thật vẹn nguyên: chị đã về thực sự.
- Bộ không có gì nói với chị hay sao mà cứ ngồi im lặng vậy?. - Chị hỏi.
- Chồng con chị đâu? - Tôi hỏi.
- Chồng hả! Chồng thì chị sắp có. Còn con thì về sau sẽ có. - Chị nói.
- Vậy chị về đây để lấy chồng hay chỉ thăm lại quê hương, rồi mới qua Mỹ lấy chồng.
- Chị về lấy chồng rồi ăn tết luôn. Đương nhiên lấy chồng thì gia đình chị phải cùng về hết. - Chị nói.
- Chúc mừng chị. - Tôi nói
Tin báo sắp lấy chồng của chị rơi xuống giữa quán cà phê đang rộn rã nhạc xuân đêm hai mươi sáu Tết như một nhát búa nện thẳng vào lồng ngực tôi. Vị của sự đoàn viên vừa mới chớm nở đã bị thay thế bởi vị của sự mất mát. Tôi thấy mình như đứa trẻ bị bỏ rơi lần thứ hai, nhưng lần này nỗi đau nhức nhối hơn vì nó mang vị của sự trưởng thành đầy cay đắng. Ly cà phê trên bàn bỗng chốc trở nên nhạt nhẽo, trôi tuột vào cổ họng nghẹn ứ. Mùi nước hoa thanh nhã trên người chị lúc nãy còn làm tôi ngỡ ngàng, giờ đây lại trở nên xa lạ, lạnh lùng. Nó nhắc nhở tôi rằng chị đã thuộc về một thế giới khác, một mái ấm khác không có tên tôi trong đó. Cái mùi ẩm mục của căn nhà hoang phế ở quê bỗng hiện về, nồng nặc và u tối. Tôi cảm thấy mình vẫn chỉ là gã nhem nhuốc, đứng bên lề cuộc đời rực rỡ và tươi mới của chị. Mọi mùi hương của hy vọng bỗng chốc trở nên khét lẹt, tàn tro.
Dưới ánh sáng muôn màu, hình ảnh chị Thanh hiện lên quá đỗi xinh đẹp và hạnh phúc, nhưng trong mắt tôi, hình ảnh ấy lại nhòe đi vì một nỗi tủi thân ghê gớm. Tôi hình dung ra cái căn nhà tường rêu phong ở quê, tôi vẫn sẽ là kẻ đứng bên cửa sổ nhìn vào hạnh phúc của người khác. Một nỗi buồn mênh mông, hoang hoải xâm chiếm lấy tâm hồn. Mùa xuân này, tôi sẽ gặp chị, nhưng lại dường như mất chị thêm một lần nữa theo một cách khác, đau đớn và thầm lặng hơn.
- Hút thuốc từ bao giờ vậy? - Chị hỏi, cách nói chuyện của chị cũng không như xưa, gọi trống không.
- Lâu lắm rồi. - Tôi đáp.
- Đừng hút nữa. Bỏ đi, chẳng có lợi ích gì cho mình. - Chị nói.
- Ừ! Em biết. Cảm ơn chị. - Tôi nói.
- Chị biết em đang nghĩ gì về chị. Chắc chắn em cũng biết, chị đang nói tới vấn đề gì. - Chị nói.
Chị tới đây tìm em chỉ để báo cho biết sắp lấy chồng thôi hả? - Tôi hỏi với gương mặt buồn bã, tuyệt vọng.
- Báo cho em biết việc chị sắp lấy chồng là phụ thôi. Cái chính chị lấy lại chiếc nhẫn năm ấy. - Chị nói một cách đầy vô tư thản nhiên.
- Sao chị không ở quê đợi em về rồi lấy. Bộ sợ em không trả hay sao mà phải lên tận đây. - Tôi nói.
Chị không trả lời mà chỉ khe khẽ cười.
- Cái này không thể nói tại đây. Phải có không gian riêng tư chỉ hai người. Thôi đi về nè. Mình không có quá nhiều thời gian lắm đâu. - Chị nói, thúc giục tôi phải về.
- Chị về trước. Lát em về sau. Em muốn ngồi đây một lát. - Tôi nói.
- Ai đã nói thương chị, không bỏ chị một mình, luôn che chở, bảo vệ chị. Thế mà bây giờ…- Chị bỏ ngang câu nói.
- Chị về khách sạn, còn em về cái phòng trọ thì có liên quan gì nhau mà bỏ một mình với hai mình. - Tôi nói.
- Khách sạn chị đã trả phòng từ lúc nãy. Chị về cùng em là cái nơi em đang ở đó. - Chị nói.
- Ủa! Trả phòng khách sạn, chị qua trọ em chơi. Thế thì ông chồng sắp cưới của chị ở đâu?.
- Ổng ở đây nè. Đi lẹ lên. - Nói rồi chị lấy tay vỗ nhẹ vào má tôi.
- Phòng chật hẹp, với lại bề bộn lắm. Chị đến bây giờ e rằng không tiện, hay để ngày mai. - Tôi nói.
- Bề bộn thì không cần nói chị cũng biết. Hồi sáng đã dọn sạch cái phòng nhà ở quê rồi. Nhanh lên, còn đi ăn nữa. Đi từ sáng tới giờ chưa ăn gì luôn đó. Bộ có nhốt cô nào trong đó hay sao mà sợ dữ vậy. - Chị nói.
- Cái này thì không có. Chỉ là quá bề bộn, với lại, nó không phù hợp với con người chị hiện tại. - Tôi nói rồi nhìn chị từ đầu tới chân.
- Như vậy! Từ Mỹ chị về quê, rồi từ quê lên đây để làm gì? Đúng là để lấy lại chiếc nhẫn. Nhưng nó có lý do, không phải tự nhiên. - Chị nói.
Tôi đứng bên lề đường thẫn thờ suy nghĩ một lát giữa những tiếng còi xe inh ỏi của đêm hai mươi sáu tết Sài Gòn. Chẳng biết chị đến đây gặp tôi ngoài lấy nhẫn ra, còn có lý do gì khác mà không phải ở quê. Giấy tờ nhà mà chị đã nhờ tôi đứng tên ư? Không đúng, đó là thủ tục liên quan đến vấn đề hành chính. Muốn sang tên cũng phải về địa phương chứ?. Với lại tôi đi làm thì mang giấy tờ nhà theo để làm gì. Còn đang suy nghĩ thì chị lay người nói to.
- Về nhanh lên. Không có quá nhiều thời gian đâu. - Chị hối thúc.
Tôi đi trước chị lặng lẽ theo sau, hoàn toàn chẳng ai nói lời nào. Khi tôi đưa chiếc chìa khóa vào ổ để mở cửa phòng, đèn bật sáng lên, chị thở dài nhìn tôi lắc đầu. Tôi đứng ngoài vì ngại ngần với những gì bề bộn trước mắt. Chị bước vào nhìn một lượt khắp căn phòng. Hình như chị không chú tâm tới diện tích của nó, chỉ nhìn chằm chằm vào các vật dụng cá nhân của tôi.
- Sao không vào đóng cửa lại mà còn đứng đó. - Chị nhìn ra ngoài cửa rồi nói cùng tôi.
Chị lột chiếc balo trên lưng ra đặt xuống nền, ngồi trên chiếc nệm tựa lưng vào bức tường nhìn ra cửa.
- Bộ không muốn cho chị ở đây hay sao mà cứ đứng đó. Vào đây rồi đóng cửa lại. - Chị nói.
Tôi đi vào rồi bật quạt lên cho chị mát. Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng trọ nhỏ hẹp, đặc quánh và nặng nề đến mức tôi nghe rõ cả tiếng tim mình đập loạn nhịp. Người phụ nữ đang ngồi tựa lưng vào bức tường vôi tróc lở kia, dưới ánh đèn sáng chói chính là chị Thanh, người mà tôi đã gọi tên trong từng hơi thở suốt mười ba năm ròng rã. Vậy mà lúc này, khi chị bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt, miệng tôi lại cứng đờ, như thể đã hóa đá. Chị cũng không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm tôi. Tôi muốn trốn chạy khỏi ánh mắt ấy, không dám nhìn trực diện, cứ như một kẻ hèn nhát đang làm điều gì đó quá tội lỗi bị phát hiện và chờ phán xét.
- Cu Tí…lại đây. - Chị nói! Giọng phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng.
Tôi làm theo như một sự máy móc bị lập trình và điều khiển theo ý chị. Tôi bước tới ngồi xuống khoảng cách giữa tôi và chị chỉ cũng một cánh tay.
- Lại sát đây, làm gì mà sợ chị dữ vậy. - Chị nói. Tôi chưa kịp phản ứng đã bị tay chị nắm lấy rồi kéo vào lòng.
Chị ôm chặt tôi từ phía sau xoa đầu, sờ má. Chị siết chặt hơn, im lặng giữ mãi như thế thật lâu.
- Cái gì mà run rẩy dữ vậy. Ngực thì đập như trống trận. Đâu phải lần đầu tiên chị ôm. - Chị nói.
Đúng vậy, không phải lần đầu tiên chị ôm tôi. Ngay từ thuở ấu thơ lúc mới đi chập chững, cho tới khi mười bốn tuổi. Nhưng đó là chuyện hồi nhỏ, bây giờ tôi đã hai mươi bảy tuổi. Từ lúc trưởng thành, tôi cũng có yêu đơn phương vài người, nhưng chưa bao giờ họ chạm vào người tôi, và tôi cũng vậy.
- Tại sao năm đó lại nghỉ học. - Bất ngờ chị hỏi, cái giọng phía sau đầu tôi nhưng nghe sao nặng nề quá.
- Tại em chán học, nghỉ để đi làm phụ giúp gia đình. - Tôi nói.
- Nếu hồi đó chị ở lại. Chắc chắn sẽ không để em nghỉ học. - Chị nói rồi vươn người tới nhìn tôi với đôi mắt đỏ hoe. Chị tiếp tục hỏi:
- Ba năm qua ở Sài Gòn, sống như thế này đây hả. - Chị hỏi.
- Phải. Nhưng em thấy thoải mái. - Tôi đáp.
- Thời gian tới không cần phải ở đây nữa. - Chị nói.
- Không ở đây thì ở đâu. Em đã quen với cuộc sống một mình từ trước tới nay như thế này rồi. - Tôi nói.
- Trước khác với bây giờ. Bây giờ đã không còn một mình. Không cần phải hàng ngày ra các hàng quán ăn uống qua loa cho hết ngày đặng tháng nữa. - Chị nói.
- Chị nói gì em không hiểu. - Tôi hỏi lại.
- Em không cần hiểu, chỉ cần trả lời cho chị một câu. Chị muốn biết câu trả lời ngay bây giờ. Đó cũng là lý do chị lên đây để gặp em. - Chị nói.
- Câu gì? - Tôi đáp.
- Ngày xưa em đã từng nói. Muốn sống cùng chị suốt đời trong chính căn nhà đó. Nhưng lúc đó em còn nhỏ quá, có thể đó chỉ là lời nói của một cậu bé chưa đủ chín chắn thấu đáo. Bây giờ đã lớn rồi hãy trả lời bằng cái suy nghĩ của người lớn. Quay người lại nhìn vào mắt chị mà trả lời: Có muốn sống cùng chị suốt đời trong chính cái căn nhà ấy không? - Chị hỏi, một sự nghiêm túc đến đáng sợ.
- Có vậy thôi mà phải lên tận đây đó hả? Đương nhiên là muốn rồi. Nhưng chồng chị có cho em ở đó không? - Tôi hỏi.
- Chồng nào? Người mà lúc nãy chị nói sắp lấy là em đấy.
Tôi lặng người, nhìn kỹ vào mắt chị để tìm một sự cợt nhả, nhưng hoàn toàn chẳng có. Chị nói tiếp.
- Bây giờ đã hiểu vì sao ngày xưa chị để em đứng tên nhà chưa? Đó không phải là giữ dùm, vì nếu giữ dùm thì chị có thể đưa cho người trong họ hàng đứng tên. Nhưng cái này nó là của riêng hai chúng ta. - Chị nói rồi nghiêng đầu nhìn tôi nở nụ cười.
- Ví dụ trong thời gian qua em đã có vợ thì sao? - Tôi hỏi.
- Đơn giản vậy mà cũng hỏi. Thì chị sẽ không về nữa, cái nhà và mảnh vườn ấy xem như tặng cho em làm quà cưới. Nhưng chị biết chắc chắn em chưa có. Chị có cài cắm ăng ten tình báo nên bất cứ cái gì về em chị cũng biết rất rõ. Thậm chí chuyện nghỉ học rồi lên Sài Gòn đi làm. - Chị nói.
- Thế suốt thời gian qua Mỹ, chị không lấy chồng hay sao? - Tôi hỏi.
- Chị phải đi học rồi lấy bằng, xong rồi lại đi làm kiếm tiền. Cũng có vài người ngỏ ý, nhưng chị chưa chấp nhận. Vì sao thì chắc em đã hiểu…
- Chị đã ba mươi tám tuổi rồi mà trông trẻ quá. Thậm chí em cố tìm hình ảnh ngày xưa mà vẫn không ra. - Tôi nói.
- Chị phải chăm chút thật kỹ càng, để tương xứng với em. Tránh mọi sự đánh giá từ người đời mặc dù không có gì sai. Nhưng chị không muốn em buồn. - Nói rồi chị mở dây kéo balo lấy cái gì đó trong tay. Rồi nói khẽ với tôi.
- Chị có nói khi trở về sẽ lấy lại chiếc nhẫn đúng chưa? - Chị hỏi.
- Đúng, nhưng sao? - Tôi hỏi.
- Nó cũng giống như căn nhà, được quy đổi bằng hai chiếc nhẫn cưới này. Đưa tay trái, ngón áp út ra, chị đeo vào cho. Rồi đó! Đẹp hết biết. Còn chiếc này em đeo vào cho chị. Xong rồi nhé. Lúc đó em còn nhỏ nên không thể đeo nhẫn trơn. Mà nè! Mười ba năm mới gặp lại, bộ không nhớ hay sao mà chẳng chịu ôm tôi cái nào hết vậy.? - Chị nói.
- Trông chị hiện tại khác xa quá. Không giống như chị Thanh ngày xưa. - Tôi nói.
- Dù vẻ ngoài có giống ngày xưa thì chị biết em cũng sẽ không dám ôm. - Chị nói.
- Ủa sao chị biết kích thước ngón áp út của em mà đi chọn nhẫn. - Tôi hỏi.
- Chiếc nhẫn cũ mà chị lấy lại, chính là mẫu đo. - Chị nói.
- Như vậy là chị đã tính trước cách đây hơn mười ba năm rồi hả? - Tôi hỏi.
- Đúng là như vậy. - Chị nói.
Chị mở chiếc balo nhỏ, lấy ra một xấp ảnh được bọc kỹ trong lớp vải lụa mềm mại. Khi chị trao chúng vào đôi bàn tay của tôi, cảm giác như mình đang đón nhận cả một gia tài ký ức vừa được khai quật từ dưới lớp tro tàn của mười ba năm đằng đẵng. Tôi cầm những tấm ảnh lên, đôi mắt nhòe đi vì nước mắt. Những tấm ảnh đã mang màu của thời gian được chị bọc nhựa gìn giữ cẩn thận. Hình ảnh trong đó lại hiện lên vẹn nguyên, sống động đến xé lòng. Vị của sự hối tiếc và vị ngọt ngào của tuổi thơ trộn lẫn, tạo thành một cảm giác nghẹn ứ. Tôi thấy vị mặn chát của nước mắt mình rơi xuống mặt phim bóng loáng, nơi đứa bé là tôi với gương mặt hồn nhiên bên cạnh một chị Thanh tóc dài xanh mướt trước căn nhà cũ kỹ được chú Lợi chụp khi lần đầu tiên đến nhà báo tin vui cho chị. Hàng loạt ảnh sau của tôi và chị được chụp quanh căn nhà trong sáng mồng một. Chị mặc một chiếc áo dài màu thiên thanh, bên cạnh là tôi ở ngưỡng cửa mười bốn tuổi. Xấp ảnh cũ nằm gọn trong tay tôi như một lời khẳng định: mười ba năm qua chị chưa bao giờ quên, và tôi chưa bao giờ bị bỏ lại hoàn toàn. Hình ảnh hai chị em trong ảnh và hai chị em hiện tại hòa quyện vào nhau, xóa bỏ mọi ranh giới của thời gian. Căn phòng trọ tạm bợ này giờ đây bỗng chốc trở nên ấm áp như một tổ ấm thực sự. Tôi nhìn chị, nhìn xấp ảnh, rồi nhìn ra phía cửa nơi bầu trời Sài Gòn đang rực rỡ ánh đèn, và biết rằng mai mốt, chúng tôi sẽ mang theo xấp ảnh này trở về, để lấp đầy những khoảng trống mục sờn trong căn nhà tường cũ kỹ bấy lâu nay. Chị ôm lấy tôi, vén tay áo lau nước mắt cho cả tôi và chị.
- Chị vẫn là chị. Mang hồn của một cô gái ngày xưa bên cạnh một cậu bé mười bốn tuổi trong căn nhà của chúng mình. - Chị nói trong những tiếng nấc nghẹn ngào.
Tôi đứng im lặng tay cầm xấp ảnh. Nhìn khoảng thời gian năm ấy của tôi và chị. Chị xoa đầu tôi và nói:
- Tóc dài rồi, ngày mai đi cắt thôi. - Chị nói.
Nghe qua câu này tôi giật mình sững sờ khi nhớ lại ngày xưa. Hồi đó chị cũng kêu đi cắt tóc, xong rồi chị giặt chiếc áo lần cuối cùng cho tôi. Lần đó chị đuổi tôi về nhà ngủ để sáng mai ra đi. Nhưng đọc được tâm trạng của tôi. Chị cười rồi nói:
- Không đi nữa. Thôi! Dẹp mấy cái ảnh này đi. Giữ cho thật kỹ để khi chúng mình về già cùng nhìn lại. Luôn cả chiếc khăn tay có thêu chữ TQ và chiếc máy Cassette. - Chị nói rồi đưa ngón tay chỉ về chiếc bàn nhỏ, nơi ấy đang đặt hai kỷ vật mà tôi luôn trân quý.
Chị buông tôi ra. Đi tới chiếc balo mở ra lấy quần áo, sữa tắm, một chiếc khăn tắm, cùng một cuốn nhật ký. Tôi nhìn thấy rồi sững sờ! Đây là cuốn nhật ký của tôi, đã viết trong khoảng thời gian chị đi. Tại sao chị lại có nó?. Chị lật ra vài trang nhìn tôi rồi cười:
- Có muốn nghe chị đọc truyện không? - Chị hỏi.
- Thôi đừng đọc. - Tôi nói.
- Lúc ngồi trên xe từ quê lên đây chị đã đọc hết rồi. Bây giờ chị đang hiện diện sao không ôm như đã viết trong nhật ký. - Chị nói.
- Để lát đi ngủ. Mà sao trong suốt thời gian hơn mười năm đó chị không viết thư cho em. Chị không nhớ em hay sao? - Tôi nói.
- Ai nói chị không viết thư cho em. - Nói rồi chị tiếp tục lấy trong balo một xấp thư cũ, đã được dán tem, dán luôn cả bìa, muốn đọc phải xé ra. Chị đưa cho tôi. Tất cả mười tám lá thư.
Tôi nhìn những cái phông thư ấy, cái tem dán có để ngày tháng năm. Như vậy là đã từ rất lâu.
- Nhìn đi. Kể từ khi chị qua Mỹ. Vài tháng lại viết thư cho em. Gửi mãi mà đều bị trả lại. Kể từ khi nhà út Hạnh gắn điện thoại bàn, chị không viết thư nữa, mà gọi về nhờ chuyển lời tới em.
- Cái địa chỉ này đã không còn cách đây lâu lắm rồi. Bây giờ nó là một trường tiểu học, còn bưu cục dời đi đã mười mấy năm. - Tôi nói.
- Ôi! thảo nào. Thư cứ bị trả lại. Mà thôi, không quan trọng nữa. Chị đang ở đây rồi. - Chị nói.
- Để em đọc thử xem chị viết gì. - Tôi nói chuẩn bị xé lá thư đầu tiên thì bị chị giành lại.
- Không được. Đọc ra ngại lắm. Cũng như nhật ký của em. Khi nào không có chị rồi hãy đọc.
- Nhật ký ấy chị đã đọc rồi còn gì. Còn thư của chị em chưa đọc. Ủa mà sao chị có những cuốn nhật ký của em vậy?
- Chị dọn dẹp phòng cho em. Dẹp luôn cái tủ sách rồi vô tình thấy. Cái tủ ấy cũ mục, chị đem bỏ rồi. Gọn gàng để chuẩn bị ăn tết. - Chị nói.
- Thôi tắm đi rồi đi ăn. - Tôi nói.
- Đi mua thêm cái nón bảo hiểm. - Chị trong nhà tắm nói vọng ra.
- Trước hẻm có bán. - Tôi nói.
- Lát đi ăn. Chị mua một ít vật dụng để về nấu nướng.
- Còn có hai ngày nữa về quê thì mua làm gì.
- Một ngày cũng phải mua. Đừng ăn ở ngoài nữa. Ngoài ra còn mua thêm quần áo, mứt tết, gối, mền để tối nay ngủ.
Chị tắm xong bước ra trong bộ đồ Pijama màu trắng. Ngồi trước cái quạt gió giũ tóc cho khô rồi nói cùng tôi.
- Cái buồng của mình trong căn nhà cũ. Ai ngủ mà có máy quạt để đó vậy?
- Em chứ ai. Những lần về quê đều qua ngủ.
- Tìm hơi ấm của chị hả? Ai trồng hàng mai ngoài vườn mà giờ vàng rực hết. - Chị hỏi.
- Ba trồng. - Tôi đáp
- Bàn thờ phật bà Quan Thế Âm treo đó lâu chưa?
- Cái này không biết, có lẽ dì Hạnh thỉnh ở chùa về rồi treo. Hàng ngày cái đèn nhỏ mở xuyên suốt để không bị cắt điện.
- Cái giường đó là của hai đứa mình. Tuyệt đối không được để ai nằm lên đó ngủ nha. Chỉ duy nhất hai đứa mình mà thôi. - Chị nói
- Nhà khóa cửa thì ai mà vô.
- Ngày hai mươi chín đầu giờ chiều cha mẹ sẽ xuống thăm lại nhà cũ. Vì vậy sáng đó mình phải dọn dẹp thêm lần nữa.
- Bây giờ bác Vượng và thím Lã ở đâu? - Tôi hỏi.
- Bác nào? thím nào? Từ đó không dành cho con cái trong nhà. Bây giờ phải kêu là ba mẹ. - Chị nói rồi đưa mắt nhìn tôi một cái sắc lẹm.
- Vậy bây giờ ba mẹ đang ở đâu? - Tôi hỏi.
- Ba mẹ, vợ chồng anh Thịnh, đang ở nhà nội. Ngay bây giờ đang ăn tất niên đó. Có luôn cả cha mẹ chồng. - Chị nói rồi quay sang nhìn tôi cười.
Vì cha mẹ chị và cha mẹ tôi là bạn từ thời trẻ cho tới giờ. Ngày đó cả tôi và chị đều không biết mặt hai người. Chỉ biết thông qua các kỷ vật, các tấm ảnh trong căn nhà cũ còn sót lại. Sau khi học tập cải tạo xong cha mẹ chị vượt biên qua Mỹ cho tới bây giờ mới trở về lần đầu tiên. Ngày ấy, nếu chị không bị sốt xuất huyết, có lẽ cũng theo gia đình thì chúng tôi sẽ không có như ngày hôm nay.
- Ngày hai mươi chín phải ở nhà dọn dẹp, không được la cà quán xá. Vì đó là ngày ba mẹ xuống thăm lại căn nhà, đồng thời ăn tất niên. Ba giờ chiều cúng. Ba mẹ sẽ tới sớm để thăm nhà. Vì thế lát nữa sẽ mua đồ cần thiết để chuẩn bị. - Chị nhìn sang tôi rồi nói. Bỗng nhiên điện thoại của chị reo lên. Do hai tay đang lau tóc nên chị bật loa ngoài, đặt điện thoại lên đùi.
- Con tới chưa? - Thím Lã hỏi.
- Con tới lúc chiều. - Chị đáp
- Vậy khi nào hai đứa về?.
- Ngày hai mươi tám phải không. - Chị nhìn sang tôi rồi hỏi. Tôi gật đầu và nói thêm.
- Mười một giờ trưa ngày hai mươi tám. Ngày đó được về sớm.
- Mười một giờ trưa ngày hai mươi tám đó mẹ. Vì ngày đó ông chồng nhỏ của con mới tan sở làm.
- Ừ, hai con đi cho cẩn thận. Ngày cận tết cảnh sát công lộ nhiều lắm đó. Chồng của con có ở gần phi trường Tân Sơn Nhứt không? - Thím Lã hỏi.
- Chỗ này có gần sân bay không chồng. - Chị nhìn sang tôi rồi hỏi.
- Khoảng hai mươi phút. - Tôi trả lời.
- Cũng hai mươi phút đi xe. Ba đâu rồi mẹ? - Chị trả lời thím Lã đồng thời hỏi lại.
Đang uống trà với ông sui, cùng mấy ông bạn ngày xưa. Mẹ với mẹ chồng con ngồi ở bên trong.
- Chồng nào? Nó nhỏ xíu à? Con không chịu. Tự nhiên ba mẹ ép con làm dâu nhà bạn của ba mẹ. - Chị nói rồi nhìn sang tôi cười.
- Ừ, không chịu thì mẹ khỏi gả. Để lát chị sui lên mẹ nói. - Thím Lã nói.
- Mà thôi. Lỡ ép rồi. Ép luôn cũng được. - Chị nói.
- Thôi, tôi mệt cô quá. Còn bày đặt làm giá. Vừa về tới đã mang chạy lên Sài Gòn gặp chồng rồi. Còn giả bộ nói không chịu. Tôi đẻ cô ra kia mà. Ngày hai mươi chín lo nấu nướng, dọn dẹp phụ giúp chị sui. Coi thiếu cái gì thì sắm sửa chuẩn bị nghen con. Bữa đó đông người xuống lắm đó. - Thím Lã nói.
- Dạ, con biết rồi. Mẹ chồng thì dặn con đừng mua gì hết, vì mẹ đã chuẩn bị sẵn. Mẹ ruột thì kêu mua chuẩn bị đầy đủ.
Thím Lã cười rồi tắt máy. Chị Thanh nhìn sang tôi rồi nói.
- Thôi đi ăn rồi mua sắm đồ đạc. Bỏ cái gối với mền ấy đi, cũ lắm rồi. Lát mua cái mới.
- Sao lúc trong quán cà phê em gọi cho chị mãi mà không được. - Tôi hỏi.
- Chị cố tình làm vậy. bật chế độ máy bay. Đổi cách xưng hô lại đi. Chị muốn nhìn thấy cách người mình thương nôn nóng đợi chờ. Phụ nữ họ lạ lắm. - Chị nói.
Đêm hai mươi sáu Tết, Sài Gòn không ngủ, nó cuộn mình trong một cơn lốc của ánh sáng và sự hối hả đến điên cuồng. Tôi chở chị trên chiếc xe máy cũ kỹ, lách qua những dòng người ngược xuôi đông đúc, cảm giác như mình đang chở cả một gia tài ký ức vừa tìm lại được giữa bộn bề phố thị. Tiếng nhạc xuân vang dội từ những loa phóng thanh, tiếng còi xe chát chúa và tiếng người gọi nhau í ới bỗng chốc trở nên mờ nhạt, xa xăm. Trong tai tôi chỉ còn vang lên tiếng chị thỏ thẻ sau lưng, âm thanh trong trẻo, ấm áp kể về những dự định cho ngày trở về quê. Không còn là tiếng băng cassette rè rè, méo mó, giọng nói của chị đêm nay sống động và thực tế đến từng nhịp điệu. Nhịp tim tôi đập thình thịch hòa cùng tiếng động cơ xè xè của chiếc xe cũ, tạo thành một bản nhạc của sự hồi sinh. Chính thức khép lại mùa hè buồn bã, mở ra một mùa xuân của sự đoàn viên dưới mái nhà tường rêu phong cũ kỹ.
Tối đó tôi nằm cạnh. Chị ôm tôi ngủ y chang cái thời gian chị chưa rời đi trong căn nhà cũ. Đêm hai mươi sáu Tết, Sài Gòn ngoài kia như một con thú lồng lộn trong ánh sáng và tiếng ồn, nhưng bên trong căn phòng trọ nhỏ hẹp này, thời gian bỗng ngưng đọng lại thành một khối pha lê trong suốt. Tôi nằm im lìm như một pho tượng đá, để chị Thanh ôm lấy mình từ phía sau. Cái ôm ấy vừa lạ lẫm như một giấc mơ, vừa quen thuộc như hơi thở, khiến lồng ngực tôi rung lên từng nhịp thổn thức.
Mười năm, tôi đã sống như một cái cây khô cằn giữa sa mạc, rồi ba năm đơn điệu nơi phố thị, nhưng đêm nay, vòng tay chị giống như một cơn mưa rào tưới xuống mảnh đất tâm hồn đang nứt nẻ, hoang tàn. Tôi thấy vị ngọt lịm của tình yêu, tình thân, tình thương len lỏi qua từng thớ thịt, một thứ vị êm đềm như dòng sữa mẹ, xóa tan cái vị đắng mùi cô độc. Căn phòng trọ này dù rách tươm, tạm bợ, nhưng đêm nay nó lãng mạn và thiêng liêng hơn bất cứ tòa lâu đài nào. Bởi vì ở đây, mười ba năm xa cách đã được gói gọn trong một cái ôm; mọi nỗi đau mục sờn đã được khâu vá lại bằng sự hiện diện bằng xương bằng thịt. Tôi nhắm mắt lại, cảm nhận hơi ấm từ lưng chị lan tỏa, và hiểu rằng: Hóa ra, nhà không phải là một địa danh trên bản đồ, nơi có người yêu ta đến tận cùng bão tố thì đâu cũng sẽ là nhà.