Sáng ngày hai mươi bảy Tết, tôi thức giấc khi những tia nắng đầu tiên chưa kịp xuyên qua lớp bụi mờ trên cửa sổ căn gác trọ. Sài Gòn sáng nay bỗng trở nên lạ lẫm đến ngỡ ngàng, không gian chẳng còn đặc quánh mùi khói bụi thường nhật mà trở nên trong trẻo, dịu ngọt như một hơi thở dài sau những ngày gồng mình hối hả. Căn phòng trọ vốn dĩ chật hẹp, nham nhở những mảng tường tróc lở, nay bỗng tràn ngập một thứ ánh sáng vàng mơ, sóng sánh như mật. Ngoài kia, nhịp sống xô bồ đã lùi xa, nhường chỗ cho tiếng chim sẻ ríu rít trên mái tôn nghe trong veo như tiếng khánh. Tôi nằm yên, không dám cử động mạnh, sợ làm vỡ vụn cái khoảnh khắc thiêng liêng này. Gió sớm lùa qua khe cửa, mang theo vị thanh khiết của sương đêm và cả mùi hoa vạn thọ nhà ai vừa bày ra ngõ, nồng nàn và thân thuộc đến xé lòng. Bên cạnh tôi, chị Thanh vẫn đang chìm trong giấc ngủ sâu. Gương mặt chị dưới ánh sáng ban mai nhìn thanh thản và nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được gánh nặng của mười ba năm đằng đẵng. Vòng tay vẫn hờ hững đặt trên vai tôi, hơi ấm ấy âm thầm và bền bỉ như ngọn lửa nhỏ sưởi ấm tâm hồn vốn đã nguội lạnh, khô cằn của gã trai quê hai mươi bảy tuổi. Tôi nhìn mái tóc chị xõa trên chiếc gối mới, mùi hương thoang thoảng quyện cùng mùi nắng sớm tạo nên một thứ hương vị của sự che chở, khiến tôi cảm thấy mình không còn là chàng thanh niên lạc loài giữa thế gian mênh mông, lạnh lẽo.

Cả đêm hôm qua chị không ngủ. Cứ nằm trêu chọc, hết xoa đầu đến cù lét, liên tục trở mình, ngồi lên lại nằm xuống. Bật đèn sáng trưng lọ mọ dọn dẹp nấu nướng. Tôi thức dậy đã thấy thức ăn chị chuẩn bị từ đêm qua. Còn nóng hổi, vậy là chị chỉ mới ngủ đây thôi. Hỏi ra mới biết, thì ra chị không quen múi giờ. Khi cánh cửa phòng trọ khép lại tôi bước ra đường. Sài Gòn sáng hai mươi bảy Tết hiện ra lộng lẫy và dịu dàng như một nàng thiếu nữ vừa thức giấc. Không còn cảnh kẹt xe ngột ngạt hay tiếng còi xe chát chúa, phố xá lúc này thênh thang, khoáng đạt dưới vòm trời xanh ngắt, có lẽ họ lần lượt rời khỏi thành phố để về quê. Hít một hơi thật sâu, cảm nhận luồng không khí se lạnh, tinh khôi thấm vào lồng ngực. Nắng vàng sóng sánh như mật đổ tràn trên những vỉa hè đầy hoa vạn thọ và cúc đại đóa, tạo nên một dải màu rực rỡ, sống động. Bước chân tôi trên mặt đường nhựa bỗng trở nên nhẹ bẫng, thanh thoát. Đến chiều từ xí nghiệp trở về, đã thấy chị Thanh nấu nướng xong. Tất cả đồ đạc cũ của tôi chị đã mang đi vứt hết. Chị không cho tôi ở đây nữa, vì vậy những cái không cần thiết sẽ bỏ, chẳng cần mang về quê. Cũng đồng nghĩa với việc, tôi sẽ xa Sài Gòn để về quê sống cùng chị. Những người xung quanh dãy trọ hỏi tôi về chị: “Con bé đó là ai vậy? Sinh viên mới chuyển trọ hả? Em gái à? Làm mai tao được không?”. Đại loại những câu nói nửa đùa nửa thật, nhưng họ hoàn toàn không biết chị Thanh đã ba mươi tám tuổi, cũng chuẩn bị lấy chồng, chẳng ai khác chính là tôi.
Trưa hai mươi tám Tết, nắng Sài Gòn không còn cái vẻ gắt gỏng của những ngày đại hạn, mà trở nên vàng sậm và óng ả như tơ lụa. Tôi dắt chiếc xe máy đã được bảo dưỡng kỹ lưỡng ra khỏi con hẻm nhỏ, chở theo chị Thanh và cả một bầu trời hy vọng phía sau lưng. Chúng tôi rời bỏ khu trọ để lao mình vào cái nắng rực rỡ của con đường thiên lý hướng về quê nhà. Giữa làn khói xe khét lẹt của dòng người hối hả về quê kẹt cứng, mùi mái tóc chị vẫn bền bỉ, nồng nàn tỏa ra ngay sát bên tai tôi. Càng rời xa phố thị, mùi hương ấy hòa quyện với mùi cỏ dại khô nồng, mùi rơm rạ cháy nắng từ những cánh đồng xa xăm vọng lại. Tôi nghe lồng ngực cái mùi nồng hậu, chân chất của đất đai, cảm giác như những phân tử mùi hương ấy đang thẩm thấu vào da thịt, gột rửa đi cái mùi mồ hôi và bụi bặm của kiếp làm thuê lang bạt suốt ba năm. Dưới bầu trời hai mươi tám Tết xanh ngắt không một gợn mây, bóng chiếc xe máy đổ dài trên mặt đường lộ, nhỏ bé nhưng kiêu hãnh. Chị Thanh trong tà áo lịch thiệp, tóc bay trong gió như một nàng tiên vừa xuất hiện từ truyện cổ tích. Tôi, gã tha phương thấp bé, giờ đây đang tựa như một vị thuyền trưởng đưa con tàu chở đầy ký ức về lại bến xưa. Sài Gòn lùi xa sau lưng chỉ còn là một vệt mờ ảo, trước mắt chúng tôi là những hàng dừa xanh, là căn nhà tường trắng rêu phong cũ kỹ, và là cái Tết đầu tiên có đủ đầy hương vị của sự trọn vẹn. Hơn sáu giờ chiều ngày hai mươi tám Tết, mặt trời lặn xuống sau những rặng dừa xa tít tắp, để lại một dải màu tím thẫm pha lẫn ráng vàng phủ lên vạn vật. Chiếc xe máy của tôi dừng khựng lại trước ô cửa gỗ. Căn nhà tường trắng ngày nào giờ đây hiện ra dưới màn chiều chạng vạng như một cổ vật bị thời gian lãng quên, phủ đầy trầm tích và tịch mịch. Giữa cái không khí se lạnh của buổi chiều quê, tôi thấy mùi ẩm thấp của rêu xanh bám chặt vào chân tường, mùi lá khô mục rụng đầy sân sau bao ngày thiếu bàn tay chăm sóc. Thế nhưng, trong cơn gió chiều thổi nhẹ qua hiên nhà, tôi vẫn nghe mùi nhang thơm dìu dịu từ gian thờ tỏa ra, mùi khói bếp nhà ai bên cạnh đang chuẩn bị bữa cơm tối. Những mùi hương ấy quyện chặt lấy nhau, tạo nên một thứ mùi gọi là “nhà”, thứ mùi hương đã ám ảnh tôi suốt thời gian, giờ đây đang vỗ về lồng ngực tôi bằng sự bao dung lặng lẽ. Rồi, thanh âm thiêng liêng nhất vang lên: tiếng chị Thanh ngọt ngào gọi “Mẹ...". Tiếng gọi ấy trong trẻo len lỏi vào từng kẽ gạch, xua tan cái vẻ trầm mặc, u buồn của căn nhà rêu phong. Từ trong nhà, tiếng bước chân của mẹ tôi bước ra. Thì ra mẹ sang nhà thắp nhang trên bàn thờ phật Quan Âm.
- Kẹt xe hay sao mà về trễ quá vậy? - Mẹ tôi hỏi.
- Dạ, kẹt xe cả mấy tiếng đồng hồ. Còn ghé quán nghỉ ngơi vì mấy đêm qua con không ngủ được. Ba đâu rồi mẹ? - Chị hỏi.
- Ổng với thằng Thuận, thằng Hải, thằng Minh chở nhau lên ông sui uống trà rồi. Thôi! Tắm rửa rồi xuống nhà ăn cơm, mẹ đã có nấu sẵn. Gì đâu mà điện cho hai đứa tới lần thứ tám mà không đứa nào nghe máy. - Mẹ tôi nói.
- Chắc lúc đó tụi con vô quán võng ngủ rồi đó mẹ. - Chị nói.
- Tắm rửa đi rồi sang ăn cơm. Đồ đạc mẹ đã nói đừng mua, thế mà vẫn mua chất lỉnh kỉnh đầy xe. Ăn cơm nghỉ ngơi sớm, đi cả ngày rồi. Tụi con muốn ngủ nhà nào cũng được. Hai nhà như một thôi. - Mẹ nói.
- Dạ, con với chồng nhỏ sẽ ngủ ở đây. - Chị nói.
- Ừ! ngày hai mươi chín anh chị sui xuống thăm nhà. Hai đứa coi dọn dẹp cho kỹ. Thiếu cái gì thì sắm cái đó. Còn nhà bên kia thì không cần, mẹ với mấy đứa dâu chuẩn bị hết rồi. Quan trọng là cái nhà này thôi. - Mẹ tôi nói rồi quay lưng đi về nhà.
- Mẹ ruột thì kêu sắm sửa bên kia. Mẹ chồng thì kêu sắm sửa bên đây để cha mẹ ruột thấy vui mừng, đủ đầy khi về thăm nhà. Ôi! nhức đầu quá. Đi vô nhà thôi. - Chị nói rồi nhìn tôi.
Chúng tôi qua nhà ăn cơm xong thì trở về căn nhà cũ để ngủ. Đêm hai mươi tám Tết, bóng tối trong căn nhà cũ đặc quánh và mang theo cái lạnh se sắt của những ngày giáp Tết. Trên chiếc giường phản gỗ đã lên nước bóng loáng, chị Thanh nằm đó, hơi thở đều đặn và nhẹ bẫng. Có lẽ đi đường xa chị mệt mỏi nên vừa đặt lưng đã ngủ vội. Tôi ngồi tựa lưng vào vách tường rêu, không dám chợp mắt, chỉ để dành trọn khoảnh khắc này để ngắm nhìn người chị đã dành cả thanh xuân để đợi một gã không nghề nghiệp, không học hành tới nơi tới chốn, và hoàn toàn chẳng có một tương lai nào. Đôi bàn tay chị đặt trên ngực, những ngón tay như ngọc ngà, không còn là đôi bàn tay của chị hàng xóm mười ba năm trước tần tảo, vất vả. Nhìn chị, tôi thấy lòng mình vỡ vụn. Tôi khẽ đưa tay định vén một lọn tóc che ngang trán, nhưng rồi dừng lại giữa hư không. Tôi sợ bàn tay chai sạn xấu xí của kẻ làm thuê này sẽ làm bẩn giấc ngủ thanh sạch ấy. Trong sự tịch mịch đến nghẹt thở, tôi nhìn chị, nhìn căn nhà rêu phong này, rồi thốt lên bằng tất cả sự chua xót và yêu thương:
- Ôi, cái chị hàng xóm của tôi... Sao chị lại cam lòng đợi một kẻ chẳng ra gì như tôi suốt bấy nhiêu năm trời.?
Thanh âm ấy thì thầm, nghẹn đắng, tan vào bóng đêm của ngày hai mươi tám. Căn nhà cũ dường như cũng đang thổn thức cùng tôi, tiếng mọt nghiến gỗ nghe da diết, sầu muộn. Đêm hai mươi tám này, tôi chưa ngủ dù mỏi mệt. Tôi thức để nhìn ngắm lúc chị ngủ cho thật kỹ, để khắc ghi gương mặt này vào sâu trong tâm khảm, và tự hứa với lòng mình: Ngày mai, khi nắng lên, tôi ở nhà, sẽ là người nhóm ngọn lửa đầu tiên trong gian bếp cũ, để khói bếp xua đi cái lạnh lẽo của mười ba mùa đông đã qua. Nhưng rồi, khi tôi thức giấc thì đã thấy chị đang ở ngoài dọn dẹp xong xuôi từ bao giờ rồi. Lạ thay! Không còn mùi khói bếp như những năm hồi đó. Hỏi ra mới biết thì ra cái bếp củi đã bỏ, thay thế vào chiếc bếp ga. Đồng nghĩa với việc sẽ không còn nướng khoai lang, không còn uống nước cơm như ngày xưa lúc tôi sang ở cùng chị. Tôi thấy tiếc về chuỗi ngày ấy, nó chỉ còn trong ký ức của hai người mà thôi. Đành chấp nhận theo cuộc sống hiện đại bây giờ.
- Dậy rồi đó hả. Ra đánh răng rửa mặt đi. Bàn chải, kem, khăn lau đã để sẵn. Xong rồi vào ăn sáng rồi đi chợ mua đồ. - Chị nói.
Sáng hai mươi chín Tết, trời trong veo và nắng vàng như rót mật. Tôi dắt chiếc xe máy ra để cùng chị đi chợ. Lòng khấp khởi một niềm vui sướng khó tả mà mười ba năm qua tôi chưa từng nếm trải. Hồi đó chỉ có mười bốn tuổi không hề biết tới xe máy. Nó cũng là thứ xa xỉ khẳng định gia đình có điều kiện kinh tế. Tôi và chị chỉ có một chiếc xe đạp để đi cùng nhau. Cái chợ ngập trong mùi vạn thọ nồng nàn, mùi huệ trắng thanh khiết và mùi bánh tráng nướng thơm lừng khắp các ngõ ngách. Giữa cái rừng hoa rực rỡ ấy, tôi thấy chị là bông hoa đẹp nhất. Những người quen cũ trong chợ, từ bà bán trầu đến mợ bán rau, ai gặp chị cũng dừng tay, trầm trồ:
- Ôi Con Thanh đó sao! Mười ba năm trông vẫn trẻ đẹp, mặn mà thế này? Đúng là nhà có tin vui có khác, sắc mặt hồng hào hẳn ra. - Cũng có người không nhận ra đó là chị.
Chị Thanh chỉ khẽ cười, một nụ cười e ấp, dịu dàng. Tôi thấy đôi má chị đỏ hồng dưới nắng sớm, ánh mắt chị ngời sáng niềm kiêu hãnh. Cái tin gia đình chị “hồi hương”, dường như đã làm sống lại cả một vùng ký ức của bà con lối xóm. Hết người này tới người khác giữ lại hỏi han về chị, về gia đình, về chuyện của chúng tôi, đến mãi trưa mới trở về nhà. Về đến sân nhà, cái nắng trưa hai mươi chín Tết rải lên nền gạch tàu những vệt sáng óng ả. Chiếc xe máy dựng trước sân, lỉnh kỉnh những giỏ mứt, phong bao lì xì và đặc biệt là hai cặp vạn thọ rực rỡ mà chúng tôi vừa kỳ công chọn lựa ở chợ, còn tám chậu khác họ sắp sửa chở sang. Tôi cùng chị bắt đầu bày biện. Khệ nệ bưng hai chậu vạn thọ đặt dọc lối đi vào cửa chính, một màu vàng rực rỡ, no ấm bỗng nổi bật không gian, tương phản mạnh mẽ với những mảng rêu xanh sẫm trên tường. Tôi nghe vị hăng nồng, mạnh mẽ của lá vạn thọ hòa cùng vị ngọt lịm của nắng xuân. Mùi hương của loài hoa này cũng kỳ lạ lắm, nó không thơm dịu nhưng lại mang mùi của sự sum vầy, của đất đai nồng hậu. Tôi, thấy lồng ngực mình căng tràn nhựa sống, như thể màu vàng ấy đang xua tan đi sự u tối của mười ba năm mùa xuân buồn bã, thiếu vắng. Chị khẽ thốt lên vì quá ưng ý.
- Chồng nhỏ coi, có mấy chậu bông vô cái là nhà mình nhìn khác hẳn, sáng trưng liền hà.
Dưới bàn tay sắp xếp của chị, lối vào nhà như một dải lụa vàng rực. Những mảng tường rêu vốn trông cũ kỹ, nay dưới sắc hoa vạn thọ bỗng trở nên cổ kính, thâm trầm như một bức nền hoàn hảo cho mùa xuân khoe sắc. Căn nhà không còn là nơi trú ngụ tạm bợ của thằng bé hàng xóm mười bốn tuổi, mà đã thực sự trở thành một tổ ấm. Nhìn từ cổng vào, màu trắng của bức tường lấp ló sau những cánh hoa vàng, trông kiêu hãnh và đầy hy vọng.
Chị kêu tôi đặt hai trái dưa hấu lên tủ thờ. Cái tủ này cũng mới mua lúc sáng người ta mới chở tới. Tuy nhà chưa có ai mất, nhưng vẫn bày ra các vật dụng cần thiết lên bàn cho những ngày tết, tết này sẽ có nhiều người tới thăm, vì cha mẹ chị đã về. Cái tủ thờ khá lớn, không riêng gì cho ngày tết mà còn chuẩn bị cho lễ dạm hỏi ra mắt vào ngày ba mươi của tôi và chị. Mẹ tôi không cho mua nhiều, vì tết xong thì nhà sẽ sửa lại, lúc đó sẽ mua đầy đủ các vật dụng và nội thất sau.
Xong nhà chị thì lại tới nhà tôi. Chị và mẹ, các chị dâu cũng chuẩn bị đầy đủ để chiều nay cúng tất niên. Mẹ không cho nấu bánh tét, vì đã quá cận ngày. Cái này có thể mua bất kể lúc nào. Chiều hai mươi chín Tết, nắng hanh vàng bắt đầu đổ dài trên mái ngói, biến cả ngôi nhà cũ thành một khối màu hổ phách trầm mặc và ấm áp. Sau một ngày tất bật, tôi ra hiên nhà, kéo chiếc ghế gỗ mộc ngồi xuống cạnh chị. Chị định nói gì đó với tôi, chưa kịp đã reo lên:
- Cha mẹ xuống rồi.
Tôi nhìn ra thấy bốn chiếc xe ô tô nối nhau, đang tiến về trước cổng.
- Sắp biết mặt ông đại tá và bà giáo rồi đó. - Chị nhìn sang tôi rồi cười.
Tôi có cảm giác sợ sệt, run rẩy khi sắp giáp mặt với cha mẹ chị mà trước đây tôi chỉ nhìn thấy qua các tấm hình cũ kỹ. Buổi chiều hai mươi chín Tết ấy bỗng trở nên rúng động cả một vùng quê khi bốn chiếc xe hơi bảy chỗ từ từ đỗ lại trước cổng ngôi nhà tường trắng. Mười ba người bước xuống, trong đó có người đã biền biệt nơi xứ cờ hoa suốt mấy chục năm dài đằng đẵng. Cuộc hồi hương bất ngờ này khiến không gian rêu phong của ngôi nhà như vỡ òa trong một cảm xúc nghẹn ngào, choáng ngợp. Tôi chẳng biết ai là cha mẹ của chị. Tôi hỏi khẽ vào tai:
- Ai là cha mẹ. - Tôi hỏi.
- Không biết. Đoán đi. - Chị nhìn sang tôi nói rồi cười.
Mười ba người này, những người trẻ tôi đều loại bỏ. Nhưng người có tuổi quá nhiều nên chẳng nhận ra ai là ai. Hết cách tôi phải chú ý tới biểu cảm của họ khi lần đầu tiên thấy lại căn nhà cũ. Đúng vậy, một người phụ nữ tuổi khoảng bằng mẹ, rưng rưng nước mắt, đứng bất động mắt nhìn chăm chăm vào căn nhà. Bà có cái dáng thanh tao đài các, cốt cách của người trí thức, nhã nhặn, trông phong thái đỉnh đạc, giáo dưỡng và đức hạnh. Bên cạnh là người đàn ông áo sơ mi xanh, mái tóc đã bạc trắng nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp như một cây tùng. Tôi nhìn thấy ở ông sự uy nghiêm của một vị sĩ quan quân lực chế độ cũ, người từng dạn dày trong khói lửa nhưng vẫn giữ được nét hào hoa, mực thước. Đôi mắt ông sâu thẳm, ánh nhìn vừa sắc sảo, quyết đoán lại vừa chứa chan sự bao dung khi nhìn lại bức tường trắng của kỷ niệm. Đây! thím Lã và bác Vượng. Tôi lại nhớ đến các tấm ảnh đã từng xem qua. Người phụ nữ trong chiếc áo dài ngồi trên một chiếc xe cub và nụ cười như sáng bừng không gian. Đó là thím Lã, một giảng viên đại học văn khoa. Ảnh người đàn ông trong bộ quân phục, cạnh chiếc xe Jeep, và một ảnh ngồi bên bàn làm việc trong một văn phòng của quân đội, chính là bác Vượng. Bây giờ họ đang hiện diện trước mặt tôi, bằng xương, bằng thịt, hai người mà sau này tôi phải gọi là cha mẹ vợ. Căn nhà cũ dường như cũng phải nghiêng mình đón chào những người chủ cũ mang đầy khí chất này. Sự hiện diện của họ làm cho những mảng tường rêu không còn vẻ hoang phế, mà trở thành một nhân chứng lịch sử với niềm kiêu hãnh. Tôi nhận ra, chị Thanh có được sự mạnh mẽ và dịu dàng như hôm nay, chính là nhờ được thừa hưởng trọn vẹn sự cương trực của cha và lòng nhân hậu của mẹ. Bất ngờ! Ông quỵ xuống, hai người đàn ông ngay lập tức giữ nách không cho ngã. Giọng của một người phụ nữ nào đó vang lên:
- Lấy ghế cho ba ngồi.
Lại một giọng của một người phụ nữ khác vang lên:
- Út! Mau vô nhà pha nước chanh cho ba uống.
Tôi chạy vô lấy cái ghế. Chạy ra thấy một người phụ nữ vuốt ngực cho ông, miệng khẽ khàng.
- Bình tĩnh đi ba…bình tĩnh lại. Đừng quá xúc động.
Tôi đã biết đây là vợ anh Thịnh. Ngay sau đó chị Thanh mang ra ly nước chanh chìa vào tay tôi, ý nói đưa cho ông. Tôi đưa, ông đón lấy nhẹ nhàng uống nhưng mắt vẫn không rời căn nhà. Giọng của một người đàn ông đeo mắt kính, áo sơ mi trắng vang lên:
- Ra bớt phía sau để thoáng cho ba dễ thở.
À! thì ra đây là anh Thịnh. Như vậy là tôi đã biết hết gia đình. Giọng của một ai đó vang lên, nghe rất quen.
- Già cái đầu rồi mà còn bày đặt nhõng nhẽo. - Thì ra là giọng của cha tôi, cũng chẳng biết ông tới đây từ khi nào. Sau câu nói của cha, tiếng cười của những người xung quanh vang lên.
Thêm một giọng khác lại vang lên:
- Cho cục kẹo để nó nín đi mày. Má! lính tráng, nhà binh mà kiểu này thì chết rồi. - Một người đàn ông trông lớn hơn cả cha tôi và bác Vượng. Hỏi ra mới biết, đó là bác Bình. Một viên chức cấp cao của chế độ cũ. Ông làm tới chức Phó Tỉnh Trưởng.
- Thôi! Mời xuống nhà ăn tất niên. Còn ông Vượng, để lát ổng xuống sau. - Cha tôi nói.
Những người lớn lần lượt đi khỏi. Chỉ còn một số người ở lại. Bác Vượng lấy ra một tấm ảnh trong túi, vừa nhìn tôi đã tái mặt. Đó là hình ảnh của tôi và chị Thanh, chụp cách đây 13 năm, tại vị trí góc sân hướng vào căn nhà, đúng sáng mồng một của mùa xuân năm ấy.
- Quang với Thanh đâu. Hai đứa lại đây. - Tôi nghe xong giật mình. Chị Thanh khều tôi rồi ra dấu bảo rằng cha gọi hãy bước tới.
Tôi khép nép đi tới, đứng bên trái, chị Thanh đứng bên phải. Ông dang hai tay ôm tôi và chị Thanh vào người rồi nói khẽ.
- Ba là lính, ba hiểu giá trị của sự trung thành. Hai con đã ở đây, chăm sóc và giữ lấy ngôi nhà này, đó là một hành động dũng cảm hơn bất cứ cuộc chiến nào ba từng đi qua. - Ông nói. Tôi cũng mới biết ông có tiền sử bệnh tim, vừa rồi đã mổ. Đó cũng là lý do nội chị Thanh mất mà gia đình không dám cho ông biết, giấu mãi tới giờ này.
Ông ngưng lại một nhịp rồi nói tiếp:
- Hai con sửa lại, mở rộng căn nhà này như thế nào ba không cần biết. Nhưng với điều kiện cái màu thì phải làm y chang như ngày xưa. - Ông nói.
Tôi và chị Thanh nhìn nhau chưa biết trả lời thế nào thì một người đứng sau lên tiếng.
- Vấn đề này thì cứ để con. Cậu, mợ, anh, chị, cứ yên tâm. Con là dân kiến trúc sẽ làm giống y hệt như mong muốn của cậu. - Đó là thằng Dũng, con của dì Hường, gọi bác Vượng là cậu ruột. Dì Hường cũng là người từng đi thăm nuôi bác Vượng rất nhiều lần kể từ lúc thím Lã vượt biên.
Ông khẽ gật đầu, có vẻ an lòng. Trước khi xuống nhà tôi để dùng tiệc tất niên, hai ông bà đã vào nhà nhìn ngắm kỹ từng ngóc ngách, hai người nói với nhau về những kỷ niệm xưa. Tôi còn hiểu thêm một điều quan trọng nữa, từ lâu hai ông bà đã có tâm nguyện, được ngủ lại căn nhà cũ một lần rồi chết cũng yên lòng. Tâm nguyện ấy, sẽ hoàn thành trong nay mai. Tất cả cùng rời khỏi căn nhà để xuống nhà tôi tham dự bữa tiệc tất niên. Tiệc tất niên chiều hai mươi chín tết gồm ba bàn: đàn ông - phụ nữ - đám trẻ. Chiều nay nhà tôi bùng nổ như một khúc hoan ca, xua tan hoàn toàn cái tĩnh mịch, u uẩn. Chưa bao giờ cái sân nhà lại xôn xao, náo nức và tràn ngập sinh khí đến thế. Ánh chiều soi rõ những gương mặt đang rạng ngời hạnh phúc. Cái mùi của sự đoàn viên đầy ấm áp, niềm vui lớn nhất không nằm ở món ngon vật lạ, mà nằm ở sự hợp nhất của hai gia đình. Khi bữa tiệc lên đến đỉnh điểm của niềm vui, bóng của những người hiện diện đổ xuống sân như một lễ hội hạnh phúc, một hình ảnh vững chãi, gắn kết. Tiếng cười nói từ nhà tôi bay xa ra tận ngõ, khiến bà con hàng xóm đi ngang qua cũng phải dừng lại, trầm trồ về sự hồi sinh kỳ diệu này. Nó đã trở thành một thánh đường của tình thâm, nơi khởi đầu cho một hành trình mới rực rỡ nắng xuân. Chị Thanh ngồi giữa mẹ tôi và thím Lã. Bác Vượng ngồi cạnh cha và bác Bình. Tôi ngồi bên bàn trẻ cạnh thằng Dũng, anh hai, và anh Thịnh. Bàn phụ nữ vang lên tiếng nói của thím Lã:
- Mới qua được một tháng nó đã khóc nhảy dựng đòi về. Nó nói: con qua đây biết mặt cha mẹ là đủ rồi, cho con về Việt Nam. Dò hỏi: Thế con có thương ai ở đó không mà dứt khoát đòi về không chịu ở lại với ba mẹ. - Thím Lã nói.
- Đâu mà một tháng mẹ. Có mười chín ngày à. - Vợ anh Thịnh nói.
- Ừ, mười chín ngày. Hỏi có thương ai không mẹ gả mà im lặng không nói gì. Rồi! con cháu của mấy người bạn ở gần đó cũng thích nó, cũng hỏi cưới mà nó trả lời: đã có chồng ở quê nhà rồi. Nhưng hỏi là ai thì không chịu nói. Đến khi thấy nó cầm tấm hình của thằng Lợi chụp lúc về Việt Nam ăn tết, rồi khóc. Hỏi vợ chồng thằng Lợi mới hết hồn. Nó đặt cọc thằng bé trong ảnh từ lúc thằng nhỏ mới có mười bốn tuổi tới giờ.
Những tiếng cười vang lên, thím Lã tiếp tục nói.
- Con thương thằng bé này phải không? Nó là con ai? Không chừng bây giờ nó đã có vợ rồi. Biết nó trả lời sao không: Có đâu mà có, một tháng con điện về mấy lần hỏi cô út mà. - thím Lã nói.
- Gọi về toàn hỏi thằng Cu Tí nó có vợ chưa? Một tháng mấy lần, cũng chỉ một câu đó. - Dì Hạnh cười rồi nói.
- Cu Tí là cu nhỏ đó phải không. Còn mấy thằng tù cải tạo như bọn già mình áo có chữ CT, là cu to. - Bác Bình nói. Một tràng cười lại vang lên. Tôi nhìn thấy chị Thanh ngượng ngùng gục mặt xuống. Bác Bình tiếp tục nói vui:
- Hồi đó có một thằng thiếu úy nhảy dù. Sau khi được thông cáo của quân quản trình diện đi học cải tạo. Nghe từ “học” xung phong liền trời, ảnh nói phải để ảnh ưu tiên vì xếp hàng từ sáng tới giờ. Đến khi ảnh vô trại A20, mấy người trong đó chọc: Ê cái thằng giành Cu to. Má! Đi tù mà cũng giành, cũng ưu tiên. - Bác Bình nói làm xung quanh ai cũng cười.
Thím Lã tiếp tục nói vui cười với những người phụ nữ trong bàn.
- Hỏi ra mới biết thì ra cái thằng bé trong ảnh là sau lưng nhà mình. Tại mấy đứa đẻ sau này nên không biết. Phải nói: nếu con đã ưng thì mẹ gả, nhà nó với nhà mình thì đâu có xa lạ, nhưng phải ở đây học hành, vì lúc con ở lại cha mẹ chưa bù đắp được gì cho con. Phải hứa vậy nó mới chịu ở mà không khóc đòi về Việt Nam đó.
- Tính ra hai đứa này có duyên. Nếu lúc đó con Thanh không bị sốt xuất huyết, thì đã đi Mỹ rồi. Nếu vậy thì hai đứa đâu có gặp nhau rồi sống chung một nhà. Hồi đó con Thanh nó ôm ổng đi khắp xóm. - Dì Hạnh nói.
- Bây giờ nó ôm dính luôn rồi. Hồi đó ôm nó, bây giờ nó ôm lại. - Cha tôi nói.
- Ngày bỏ nó lại, thằng Thịnh nó khóc chết điếng. Cứ mẹ ơi, em con…em con… Hồi đó tính đợi anh Vượng ra, nhưng lần đi thăm thứ tư ảnh nói: Em cứ dẫn hai con đi trước, đừng lo cho anh, anh không có ngày ra đâu. Anh sẽ qua sau nếu có cơ hội, cuối cùng cũng bỏ một đứa lại. - Thím Lã nói.
- Nghe con nói. Út lớn hơn thằng Cu Tí tới mười một tuổi lận đó. Nó trẻ nên sẽ không chịu Út đâu. Từ đó về sau chăm chút nhan sắc thường xuyên. Dưa leo đắt giá lắm, nhưng phải mua thường xuyên để đắp mặt mỗi ngày. Sợ thằng Cu Tí nó chê già. - Vợ anh Thịnh nói rồi cười.
- Anh Vượng trình diện đi hơn một tháng. Gần hai tháng mà chưa thấy về. Ông cha chồng kêu tôi dẫn ra để hỏi. Thì được họ trả lời rằng: Ai nói học cải tạo một tháng. Một tháng là chuẩn bị đồ ăn. Con ông có nợ máu với nhân dân. Ông cha chồng quay sang tôi hỏi: Ủa thằng Vượng nó bịnh gì mà thiếu máu để nhân dân phải hiến nhằm cứu trị. Sao bây không cho tao biết. - Thím Lã cười rồi nói với những người xung quanh.
- Một trăm thằng nói đều như một. Nói dài, nói dở, nói dai, nóc dóc. - Bác Bình nói.
Thấy tôi ngồi nhậu bên bàn trẻ. Tôi có thói quen uống vào thì hút thuốc liên tục. Chị Thanh từ bên bàn kia đi qua giành lấy bao thuốc lá. Thím Lã khều mẹ tôi rồi chỉ tay về phía hai đứa cùng cười. Nãy giờ mãi liếc mắt sang tôi, rồi lấy điện thoại ra gục đầu bấm. Chị đi tới vỗ vai tôi rồi nói.
- Ai gọi điện trong kia kìa. Vào nghe đi.
Tôi lật đật chạy vô lấy cái điện thoại thì thấy cuộc gọi nhỡ chính là của chị. Chị đi theo sau lưng tôi rồi nói.
- Uống bấy nhiêu đó đủ rồi. Để người lớn nói chuyện. Ngồi đó nghe họ nói mắc cỡ muốn chết. Đi qua nhà.
- Qua làm gì. Ngồi đây chơi cho vui. - Tôi nói.
- Qua vợ nói cái này. Không ngồi nữa. Đi…
Tôi lững thững đi theo chị qua nhà. Qua tới nơi chị bàn bạc tới chuyện sửa nhà, và xây thêm. Mở rộng phòng, vì qua tết cha mẹ vợ sang Mỹ để bàn giao nhà cửa và các thủ tục khác liên quan đến tài sản, xong xuôi sẽ về đây sống đến hết đời còn lại. Tôi gật đầu đồng ý. Sáng ba mươi tết lễ dạm hỏi của tôi và Thanh diễn ra khá long trọng và suôn sẻ với sự đồng thuận của hai nhà cùng lối xóm xung quanh. Tối đó cha mẹ vợ đã ngủ lại căn nhà cũ đúng như ý nguyện mà hai người đã mong muốn. Việc cha mẹ vợ chia tài sản, vợ chồng anh Thịnh đã từ chối nhận để nhường lại cho em, vì theo vợ chồng anh, Thanh đã không được chăm lo đầy đủ, chưa thừa hưởng cuộc sống ấm no, thiếu tình cảm gia đình. Với lại kinh tế của vợ chồng anh rất khá giả với ngành nghề bác sĩ. Ngoài ra kinh phí sửa nhà, xây mở rộng, anh chị sẽ lo trọn bộ.
Sáng mùng Một Tết, bầu trời quê hương trong vắt như một tờ giấy quyến mới, nắng xuân rót xuống sân nhà những giọt vàng tinh khôi và ấm áp. Trong gian nhà chính, khói nụ trầm lan tỏa nghi ngút, tạo nên một không gian linh thiêng và đài các. Tôi và Thanh, lần đầu tiên đứng cạnh nhau trong tư cách một gia đình để thực hiện nghi lễ mừng tuổi cha mẹ sau khi vợ chồng anh Thịnh vừa hoàn tất. Cha ngồi ở chiếc ghế cao, tư thế nghiêm cẩn, đĩnh đạc của một vị sĩ quan cũ, mái tóc bạc trắng được chải chuốt gọn gàng. Cạnh cha là mẹ với bộ áo dài nhung màu tím huế, vẻ mặt phúc hậu, tao nhã của một giảng viên đại học tỏa ra một khí chất sang trọng khó tả. Tôi bưng khay trà và rót mời cha mẹ, Thanh đứng lễ phép khoanh tay, giọng lanh lảnh, ngọt ngào:
- Dạ thưa ba mẹ, đầu năm mới, vợ chồng con xin kính chúc ba mẹ sức khỏe dồi dào, sống đời với chúng con dưới mái nhà này.
Cha mẹ đưa tay nhận trà. Tôi thấy mắt mẹ long lanh, bà khẽ gật đầu, nụ cười hiền từ như một sự xoa dịu tuyệt vời cho những năm tháng nhọc nhằn đã qua. Cha lấy ra hai phong bao lì xì đỏ chót. Rồi lột chiếc đồng hồ dây vàng đeo vào tay cho tôi. Đó cũng là kỷ vật ông giữ suốt đời lính, trải qua các trại cải tạo vẫn còn cho tới giờ.
- Hai đứa con hãy cùng nhau đi hết quãng đời còn lại thật hạnh phúc. Ngôi nhà này từ nay cậy nhờ vào các con. - Cha nói rồi nhìn mẹ cùng cười thật vui.
Nắng mùng Một đã lên cao, rọi sáng bức tường trắng của căn nhà. Những mảng rêu phong cũ kỹ bỗng chốc trở nên mềm mại, hòa hợp một cách lạ lùng, tình thân đang nở hoa trong sắc xuân của ngày đầu năm mới.
- Thôi! Các con ở nhà có khách tới thì tiếp. Cha mẹ xuống chúc tết anh chị sui, rồi về nội. - Cha nói.
- Để con lái xe đưa cha mẹ đi. - Anh Thịnh nói.
- Thôi! Tuổi trẻ bây giờ nhậu nhẹt lái xe tao ớn lắm. Chưa nói cảnh sát công lộ thường xuyên kiểm tra an toàn. Để cha mẹ tự lái xe đi.
Nói rồi, hai ông bà vào ô tô rời đi. Đợi chiếc xe đi khuất. Anh Thịnh lên tiếng.
- Mình ngồi không làm gì. Nhậu cho rồi. Để gọi anh hai qua, kêu thêm mấy đứa em mang đàn guitar lại chơi cho vui nhà vui cửa.
- Bác sĩ mà cái kiểu này thì xong bệnh nhân rồi. - Tôi nói.
- Anh bên đó làm tối ngày không có rảnh. Bây giờ có dịp thì phải tận hưởng. - Anh Thịnh nói rồi cười khề khà.
Anh hai tôi sang, đem theo dĩa gỏi khô cá lóc. Anh Thịnh nói thích cái món này. Ban đầu chỉ có ba người nhậu, dần dần mấy đứa em qua mang theo cây đàn. Ngồi nói chuyện vui vẻ bên nhau Thanh kể về những tháng ngày sống cùng tôi trong chính căn nhà này, kể về ngày mồng một năm ấy hai đứa uống mấy chai bia của chú Lợi mang sang mà say quất cần câu. Rồi anh Thịnh nhắc tới gã cán bộ xã tên Giám. Thì ra lúc sang Mỹ, Thanh đã nhắc tới tôi rất nhiều lần, không thiếu bất cứ chi tiết nào, vì thế anh Thịnh biết rõ tận tường.
- Út! Từ nay về sau có khóc đòi về nữa không?. - Vợ anh Thịnh trêu Thanh.
- Em đòi về là do em nhớ nhà, chứ đâu phải nhớ nó. - Thanh trả lời.
- Không nhớ sao nằm mơ gọi. Rồi coi hình khóc.
- Không phải đâu. Em nhớ nhà. Nó có chút xíu, thì nhớ làm gì. Em cũng đâu có chịu ưng, cái này là do cha mẹ ép. - Thanh nói. Mọi người cười òa lên.
Tôi uống chỉ mới đúng hai ly Thanh không cho uống nữa. Giục tôi phải đi cùng sang nhà để chúc Tết cha mẹ. Hình thức chúc cũng y chang cha mẹ vợ bên này. Khi trở về nhà vợ, Thanh nói với tôi.
- Nhớ mồng một tết năm ấy ghê. Đừng uống nữa, để tối nay hai đứa mình uống y chang năm ấy.
- Tối cha mẹ có về đây ngủ không? - Tôi hỏi.
- Chắc không đâu. Vì tối ba mươi cha mẹ đã ngủ rồi. Với lại đâu thấy cha mẹ mang đồ gì sang đâu. Chắc là ngủ nhà nội. Ngày hai mươi mốt này cha mẹ với vợ chồng anh Thịnh về Mỹ rồi đó. - Thanh nói.
- Vậy có theo cha mẹ qua Mỹ luôn không? - Tôi hỏi.
- Có chứ. Cho đi không? - Thanh hỏi.
- Cho. Đi đi.
- Thôi chán rồi! Không đi nữa. Ngày mai mồng hai tới nhà ông cán bộ xã. Mười ba năm trước ổng mời mà chưa có dịp đi. - Thanh nói đùa. Tôi hiểu nên không nói gì.
- À quên! Sao tết này không thấy ổng ghé vậy ta? Hay là chưa nghe tin hồi hương. - Tôi hỏi.
- Ai biết đâu. Mà lo gì, vài ngày ra xã đăng ký giấy kết hôn là gặp liền. Vô nhà không uống nữa nha. Để tối nay mình uống. Không biết có say giống như ngày xưa không? - Thanh nói.
- Có say thì lôi vào buồng dùm. - Tôi nói.
- Hồi đó mười bốn tuổi lôi được. Bây giờ thì để nằm đó luôn. Mè nè! Thấy cha mẹ vợ thế nào?
- Ban đầu thì sợ, rồi lại thấy gần gũi. Mà ai khó hơn vậy? Chắc là cha. Vì không thấy nói chơi như mẹ. - Tôi hỏi.
- Cái này thì sai. Mẹ gia giáo hơn. Khó hơn cha. Cha là lính nên cũng có nhiều cái thoáng hơn.
- Cha mẹ đi học cải tạo bao lâu vậy? - Tôi hỏi.
- Nghe người lớn nói. Mẹ thì nhanh lắm. Còn cha mười hai năm. Người ta ra thông cáo đi trình diện học cải tạo. Đem theo quần áo, tiền ăn cho ba mươi ngày. Nhưng không phải là một tháng đâu. Cha là sĩ quan với cấp bậc đại tá nên đi rất lâu. - Thanh nói.
- Ừ thôi, đã là quá khứ. Lát nấu tô mì dùm. Thấy đói rồi. - Tôi nói.
- Sao không ăn cơm?. - Thanh hỏi.
- Ngán thịt lắm. Mấy ngày đầu thôi, Bây giờ sợ rồi. Mà còn chuyện này nữa. Sau này làm cái nơi cho cha ngồi uống trà ngoài vườn. Còn phía sau thì dựng cái chái để nấu bếp củi. - Tôi nói.
- Nhớ mùi khói bếp hả? - Thanh hỏi.
- Phải. Gọi giữ hồn quê cho đúng. - Tôi đáp.
- Cái này được, vợ cũng đã quen với khói bếp than đen, nhọ nồi từ lúc còn bé xíu. Thôi vô nhà vợ nấu mì cho ăn để đói.
Đêm mồng Một, khi thanh âm náo nhiệt của ngày Tết đã lùi xa, nhường chỗ cho hơi thở tĩnh mịch của thôn quê, tôi và Thanh ngồi lại bên nhau. Dưới ánh đèn vàng vọt hắt ra từ ô cửa sổ đã tróc sơn, không gian bỗng chốc trở nên hư ảo, như một thước phim điện ảnh chậm rãi quay về những năm hồi đó. Tiếng sủi bọt nhẹ của bia trong ly thủy tinh đưa chúng tôi ngược dòng thời gian về cái Tết đầu tiên ấy, mùa xuân của những vụng dại và cơn say bất tận. Thanh nhìn tôi, đôi gò má ửng hồng không biết vì hơi men hay vì ngọn lửa kỷ niệm đang bùng cháy trong lòng. Tôi thấy mình nhỏ bé trước người con gái ấy, không phải vì vóc dáng, mà vì sự bao dung và tình yêu nồng hậu mà chị hàng xóm dành cho một kẻ lãng tử như tôi. Trong cái bảng lảng của hơi men, câu chuyện về những ngày xưa cũ cứ thế tuôn trào. Chúng tôi cười về những lần giận hờn, về những lần tôi chạy thục mạng khi bị cô ấy rượt đuổi, và về cả cái lần cả hai say khướt đến mức nhìn đâu cũng thấy màu hồng của mùa xuân. Hơi bia đêm nay đắng nồng nhưng hậu vị lại ngọt lịm, len lỏi vào từng nhịp thở, làm mờ đi những nếp nhăn của thời gian trên căn nhà cổ, chỉ còn lại hai tâm hồn đang hòa quyện vào nhau. Giữa mùi hương vạn thọ thoang thoảng trong sương đêm, chúng tôi uống không phải để say bia, mà để cùng nhau say lại cái tình đầu giữa không gian hoài niệm đầy dư vị này. Nhưng rồi, Thanh say thật. Trong chiếc phản gỗ bên trong căn buồng. Thanh hỏi khẽ:
- Sao chồng không say? Hồi đó uống có mấy chai đã say rồi mà.
- Uống có bấy nhiêu đó mà say sưa gì. Hồi đó mới mười bốn tuổi chưa từng biết tới rượu bia. Nhưng từ lúc mười chín tuổi tới giờ thì uống quá nhiều lần, thành ra quen. - Tôi nói.
- Thôi ngủ, mồng ba mình đi chùa. - Thanh nói.
- Ừ ngủ đi, nói cái gì mà cười nói suốt không ngừng. - Tôi nói.
- Còn chưa nói hết. Có biết bí mật của đêm say vào mùa xuân năm ấy, đã nói gì không?
- Biết rồi! Khỏi nói. - Tôi đáp.
- Tại sao chồng biết?
- Tối hai mươi tám tôi không ngủ đã lén lấy những lá thư ra đọc.
- Sao lại tùy tiện đọc thư vậy?
- Thì cũng tùy tiện đọc nhật ký đó thôi. Ngủ đi - Tôi nói.
Mùa xuân này, giữa tôi và Thanh không còn là khoảng cách của một bờ rào hay mười ba năm đằng đẵng đợi chờ, mà là sự giao hòa tuyệt đẹp của hai tâm hồn đã tìm thấy nhau dưới một mái nhà. Không còn là một khối gạch đá câm lặng gánh chịu mười ba năm cô độc, mà đã thực sự hóa thành một thánh đường của sự tái sinh. Dưới ánh nắng vàng như rót mật của những ngày đầu năm, căn nhà ấy bừng lên một vẻ đẹp tinh khôi, kiêu hãnh, nơi mà mọi vết rêu phong cũ kỹ đã bị xóa nhòa bởi hơi ấm của một đôi tình nhân vừa tìm thấy bến đỗ đời mình. Chúng tôi đã cùng nhau đi qua những ngày mưa phùn lạnh giá, để rồi nhận ra rằng sự ấm áp nhất không đến từ nắng mặt trời, mà đến từ nhịp tim bình ổn của người bên cạnh. Có những tình yêu nồng cháy như mùa hạ, có những tình yêu u buồn như mùa thu, nhưng tình yêu của chúng tôi lại giống như một bản giao hưởng mùa xuân vĩnh cửu luôn tràn đầy hy vọng, tươi mới và bao dung. Thời gian có thể lấy đi tuổi trẻ, nhưng không thể chạm vào sự dịu dàng vun vén dành cho nhau. Khi nhìn lại chặng đường đã qua, điều tuyệt vời nhất không phải là đã đi được bao xa, mà là trong mọi khung hình của cuộc đời, ta luôn có nhau giữa sắc xuân ngập tràn. Mùa xuân năm ấy, năm nay, hay mãi mãi về sau, vẫn luôn là mùa của sự bắt đầu, vì mỗi ngày có nhau đều là sự khởi đầu đẹp đẽ. Trong mùi hương trầm mặc ký ức xen lẫn vị thanh tân của cỏ non, ta nhận ra rằng hạnh phúc sau cùng không phải là những lời thề nguyền văn vẻ, mà là cái nắm tay siết nhẹ khi tóc đã pha sương. Mùa xuân không còn là một khái niệm của đất trời, mà chính là người kia. Khi ta có nhau, mỗi hơi thở đều mang vị ngọt của hoa nở, mỗi bước chân đi qua đều để lại một dấu ấn vàng son của tình yêu đã vượt thoát khỏi sự hữu hạn nơi kiếp người. Đỉnh cao của sự lãng mạn yêu thương không hẳn phải cùng nhau đi đến tận cùng thế giới, mà là sau bao thăng trầm, vẫn có một mái nhà xưa để cùng nhau đợi một mùa xuân ghé qua.