Cô Gái Viết Nỗi Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Trong mỗi đời người,

đặc biệt trong buổi bình minh của cuộc đời,

luôn tồn tại một khoảnh khắc sẽ định đoạt hết thảy mọi điều.

- Jean Grenier

Tôi có dự cảm, tác phẩm này sẽ không hẳn là hiện thực cũng chẳng hẳn là hư cấu, mà sẽ nửa nọ nửa kia. Tôi không biết liệu có thể gọi nó là tác phẩm văn học được không. Tôi thử suy ngẫm về chuyện viết lách, về ý nghĩa của việc viết đối với tôi.

Ở đây là đảo.

Bây giờ đang là đêm, ánh sáng từ những con thuyền đánh cá dập dềnh trôi nổi trên biển đêm đổ tràn vào qua khung cửa sổ để mở. Đột ngột, tôi nhận ra mình đang ở đây, giữa chốn tôi chưa một lần đặt chân đến này, lặng lẽ quan sát chính bản thân mình ở độ tuổi mười sáu. Tôi của tuổi mười sáu. Một thiếu nữ có khuôn mặt bầu bĩnh, mờ nhạt như khuôn mặt của bất kỳ cô gái nào khác trên khắp Hàn Quốc. Năm 1978, cuối thời Duy tân, Tổng thống Mỹ vừa nhậm chức Jimmy Carter đã công bố kế hoạch từng bước rút các quân đoàn bộ binh ra khỏi Hàn Quốc và Ngoại trưởng Warren Christopher công khai thừa nhận mối quan tâm sâu sắc của nước Mỹ với việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Triều Tiên và các quốc gia khác, tất cả đều đang khuấy lên nỗi lo âu cho ngài Tổng thống Park Chung Hee, còn tôi, mười sáu tuổi, đang ngồi ngoài hiên gỗ một ngôi nhà nông, cũng mờ nhạt như bất kỳ ngôi nhà nông nào khác trên đất nước này, lắng nghe đài phát thanh, đợi chờ thư. Anh phải làm sao, nếu em đột ngột ra đi... Đài phát thanh đang phát bài hát của nhóm nhạc đạt giải cao trong cuộc thi Tiếng hát Học sinh Sinh viên Toàn quốc, giọng ca chính não nề chẳng khác gì vùng hoang mạc. Không được, thực sự không được, đừng đi.

Trong lúc làn gió mới mang theo niềm hy vọng thay đổi thế giới đang quét ngang thành phố thì ở đâu đó, không, ở ngay chính mái nhà vùng nông thôn này của chúng tôi, tôi, một thiếu nữ mười sáu tuổi, không thể lên cấp ba, đang lắng nghe “Anh phải làm sao”. Mùa xuân chín mọng đã qua và mùa hè đang tới.

Thời nay, nếu so sánh với “Tôi biết”, ca khúc nhạc rap không tài nào hát theo được của Seo Taiji thì bài hát này đã là cổ điển lắm rồi, nhưng khi, lần đầu tiên nghe “Anh phải làm sao” trên đài phát thanh, tôi, mười sáu tuổi, đã co rúm lại vì sốc và phải tắt ngay đài đi. Bởi nó khác hoàn toàn so với những bài hát tôi vẫn thường nghe. Nhưng tôi, khi ấy mười sáu tuổi và đang ở một chốn khác một trời một vực so với thế giới ngoài kia, thế giới của những tiếng nói đang kêu gọi đặt dấu chấm hết cho chính quyền Duy tân cùng chế độ cai trị dưới tình trạng khẩn cấp của Park Chung Hee, chẳng có gì khác để làm ngoài nghe đài phát thanh suốt ngày, đã lại bật đài lên. “Anh phải làm sao” lại vang lên. Có lẽ “Anh phải làm sao” đang chinh phục toàn thành phố rồi. Bất cứ chương trình ca nhạc nào cũng phát “Anh phải làm sao”. Sau vài lần nghe, tôi, mười sáu tuổi, cất giọng hát theo. Sao em có thể, em xưa kia từng âu yếm thế, xưa kia từng dịu dàng đến thế.

Thiếu nữ hát theo, biểu cảm có phần thất thần. Người đưa thư đến tầm mười một giờ. Lúc đó, giấc mơ của thiếu nữ là thế này. Mau chóng rời bỏ nơi ảm đạm này và đến chỗ anh cả trên thành phố. Gặp một người ở đó và được nghe anh ta nói rằng, Anh hạnh phúc vì có cơ hội quen biết em. Nhưng hôm nay, một lần nữa, người đưa thư không dừng lại.

Ở đây là đảo, đảo Jeju.

Đây là lần đầu tiên tôi viết khi ở xa nhà. Nếu nói ai cũng có thói quen khi viết lách thì thói quen của tôi là, dù đang ở bên ngoài nhưng nếu muốn viết sẽ lập tức quay về nhà để viết. Thậm chí sau này, ngay trong những chuyến đi nảy ra từ cơn bốc đồng hòng xoa dịu nhiều giờ đồng hồ cằn cỗi của mình, tôi cũng vẫn thường tiếc than vì không được ở nhà khi cảm hứng viết lách tuôn trào. Về nhà đi, bị thôi thúc bởi những câu chữ đang trồi lên giữa chốn xa lạ, tôi vội vã đóng gói hành lý. Đối với tôi, có lẽ nào viết đồng nghĩa với nhà? Cho dù lúc đó tôi đang ở đâu đi nữa thì những câu chữ đang cuộn trào khắp cơ thể cũng hối thúc tôi nhanh nhanh trở về nhà. Khi viết, tôi phải ở giữa những thứ khiến bàn tay tôi thoải mái và đôi mắt tôi thấy quen thuộc, đôi tai tôi sạch sẽ còn bàn chải đánh răng của tôi ở yên trên giá cạnh bồn rửa mặt. Tôi phải có bên người những thứ mùi không gây cảm giác xa lạ cùng những cái áo cái quần tôi hay mặc, những đôi tất sạch tôi có thể thay bất cứ lúc nào. Mọi thói quen thường nhật của tôi đều ở đúng vị trí của chúng, như lưỡi nằm trong miệng, như chậu nhựa nằm dưới vòi nước.

Thỉnh thoảng có những câu chữ chẳng khác gì quân mai phục, thình lình nhảy bật ra từ sau những bụi rậm trong lòng tôi vào một ngày mùa thu như ngày hôm nay, giữa lúc tôi đang bước trên phố cho kịp giờ hẹn. Trong một thoáng, chúng đã chiến thắng thực tại và lấp kín lòng tôi bằng một cảm giác phấn khích dường như được bao bọc trong ánh sáng. Tôi sẵn lòng bị bắt giữ bởi đám phục binh ấy và quay lưng lại với cuộc hẹn. Tôi thẳng tiến về nhà.

Nhưng lần này tôi đã từ bỏ thói quen của mình. Tôi từ bỏ nhà.

Tôi từ bỏ nhà và đến nơi đây, nghĩ về nhà. Về thời thơ ấu của tôi dưới mái nhà lợp rạ, trước khi phong trào Làng Mới thay thế rơm rạ bằng ngói diễn ra; về gia đình tôi trong ngôi nhà mái rạ; về những mùa xuân hạ thu đông từng tuần hoàn sống động trên mái rạ đó.

Tôi hít thở sâu.

Tôi, mười sáu tuổi, giờ đang nằm sấp trên sàn nhà dán giấy sơn màu vàng, viết thư. Anh trai yêu quý, xin hãy nhanh đến đưa em rời khỏi đây đi. Viết được nửa chừng, tôi xé bức thư ra thành nhiều mảnh. Đã là tháng Sáu rồi. Ngoài đồng đang mùa gieo mạ. Trong đống phân bón, rơm đại mạch đang phân hủy. Ánh mặt trời đậu trên cổ tôi, nóng rát. Hoa mười giờ mọc bên cổng đã thò sẵn mặt ra như thể đang hờn dỗi. Tôi phát ốm vì ánh mặt trời và hoa mười giờ. Tôi lôi cái cào treo trên tường chuồng gia súc xuống. Đầu tiên, tôi lôi cái cào đến đống phân bón và xới đống rơm đại mạch lên. Ánh mặt trời giội xuống trán tôi nóng ran. Hai bàn tay tôi bắt đầu chuyển động hỗn loạn. Có chuyện gì vậy? Cái cào lóe lên dưới ánh mặt trời, rồi nó bổ xuống bàn chân đã vụng về giơ lên khỏi mặt đất của tôi. Tôi, mười sáu tuổi, chết sững. Tôi không dám lôi cái cào đang cắm vào bàn chân mình ra. Bàn chân bị thương của tôi thậm chí còn không chảy máu. Tôi, mười sáu tuổi, ngồi sụp xuống. Tôi không biết là mình đau, nước mắt cũng không chảy. Với cây cào đang cắm vào bàn chân, tôi nằm lên đống rơm đại mạch đang rữa. Bầu trời xanh đổ xuống mặt tôi. Mãi một lúc sau, mẹ ra ngoài về nhìn thấy liền hét to, Chuyện gì vậy? Mẹ. Chỉ khi tôi cảm nhận được sự hiện diện của mẹ, nước mắt mới bắt đầu giàn giụa. Chỉ khi đó, tôi mới thấy sợ, chỉ khi đó tôi mới thấy đau. Tiếng hét hoảng hốt của mẹ. Nhắm mắt lại đi con, nhắm chặt lại. Tôi nhắm mắt, nhắm chặt lại. Từ đôi mắt đang nhắm chặt của tôi, nước mắt chảy xuống thành dòng. Mẹ nắm chặt cái cào rồi lại hét to lần nữa. Đừng có mở mắt trước khi mẹ rút cào ra. Tôi len lén mở hé mắt và bắt gặp đôi mắt mẹ. Mẹ cũng đang nhắm mắt lại trong lúc nắm lấy cán cầm cái cào. Mẹ. Không hề lưỡng lự, mẹ vận sức túm chặt cái cào và nhổ nó khỏi chân tôi. Các dây thần kinh của tôi hẳn đã rất sững sờ, đến nỗi sau khi cái cào được rút ra rồi vẫn chẳng thấy máu chảy. Gan ghê gớm, mẹ ném cái cào sang một bên và nâng tôi lên. Cắm cào vào chân rồi cứ nằm yên đó? Thậm chí còn chẳng la lên nữa! Bàn tay to của mẹ vỗ vào tấm lưng mười sáu tuổi của tôi phát đau. Mẹ đặt tôi, mười sáu tuổi, nằm ngoài hiên nhà và đắp phân bò lên cái lỗ ở bàn chân tôi, lấy nylon quấn lại. Tôi, mười sáu tuổi, nằm úp ở hiên với bàn chân đắp phân bò và lại viết thư. Anh trai yêu quý, xin hãy nhanh đến đưa em rời khỏi đây đi.

Mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông ở đó... Những cánh đồng mùa đông mênh mông, những cơn gió tuyết dữ dội, những trận tuyết dai dẳng suốt bốn ngày liền - thế nhưng tôi hoàn toàn không có chút ký ức nào về sự lạnh giá của mùa đông quê hương. Dù đầu ngón tay tôi luôn lạnh buốt vì đôi găng tay mẹ đan bằng những sợi len tháo từ chiếc áo len lông của anh đã sờn đến độ chẳng thể ngăn gió; dù tôi cứ phải đi đến cóng cả chân đôi tất rách hở gót nhìn như củ khoai tây bởi nhiều khi mẹ chẳng lấy đâu ra thời gian để mạng cho, vậy mà sao tôi lại không lưu giữ chút ký ức nào về sự lạnh giá nhỉ? Mùa đông đuổi hết tất cả mọi người, già trẻ gái trai, từ những cánh đồng mênh mông vào trong các căn phòng. Trong những căn phòng ấy, mùa đông khiến họ nướng hạt dẻ trên lò than, khiến họ lấy những quả hồng ra khỏi thùng gạo, và khiến họ lôi khoai lang từ trong chạn ra ném qua cửa sau vào trong tuyết, đợi đến khi chúng đông cứng lại thì lấy dao gọt vỏ ăn. Giữa một trong những mùa đông như thế, tôi đã thấy chúng. Không biết vì lý do gì, thiếu nữ nhỏ đứng bên cạnh dòng suối, nhìn chằm chằm những cánh đồng mùa đông phía bên kia suối. Những cánh đồng, dưới màn tuyết trắng xa xăm, dưới cơn gió tuyết lại bắt đầu quất lên từ phía đường tàu - con đường duy nhất thông với những miền đất khác, ôm vào trong ngực hàng đàn hàng lũ vịt trời. Đã mất hạt cỏ, trái cây cùng đám côn trùng không xương sống, những con vịt trời giờ quay sang lùng sục trong tuyết tìm bông lúa, một cảnh tượng hiện lên thật đẹp trong mắt thiếu nữ. Những con vịt đói bao phủ những cánh đồng mùa đông mênh mông trải rộng...

Đang nằm sấp viết thư trên sàn với bàn chân đắp phân bò, tôi nhổm người dậy, lê chân đi đến chuồng gia súc. Từ lúc chân bị đâm, dù ở đâu tôi cũng có cảm giác cái cào đang trừng trừng nhìn mình. Tôi lôi cái cào từ trên tường chuồng gia súc xuống, kéo lê trên đất, cảm giác như thể nó vẫn đang nhìn mình chằm chằm, băng qua sân tới bên giếng. Không hề lưỡng lự, tôi ném cái cào xuống giếng sâu. Nước kêu tõm một tiếng, bắn tóe lên. Một lúc lâu sau, tôi vẫn còn đứng nhìn không chớp mắt vào trong giếng. Cái giếng đen ngòm sâu hun hút nuốt chửng cái cào rồi lại trở nên tĩnh lặng, chào đón bầu trời như thể chưa từng xảy ra chuyện gì.

Viết. Có lẽ nào lý do khiến tôi gắn bó với việc viết lách đến thế chính là bởi nghĩ đó là thứ duy nhất cho phép tôi thoát khỏi cái cảm giác bị ghẻ lạnh, cảm giác rằng mình, sự tồn tại của mình, chỉ là con số không.

Một hôm, đứng bên ngoài cung Deoksu, đột nhiên bị quyến rũ bởi câu văn đang cuộn lên trong lồng ngực, tôi bèn bắt taxi về nhà, trước tấm kính chắn gió ô tô dựng một khung ảnh bên trong có câu, “Hôm nay cũng an toàn”. Ngay phía trên câu này, Samuel mặc áo trắng, không biết đón luồng ánh sáng từ đâu tỏa ra, ngồi quỳ gối, hai lòng bàn tay chắp vào nhau. Cạnh bức hình Samuel đang cầu nguyện “Hôm nay cũng an toàn” là bức ảnh gia đình của tài xế taxi - vợ và các con ông. Hiển nhiên đây không phải lần đầu tiên tôi đối diện với một sự sắp đặt như thế, nhưng chẳng hiểu sao, bức hình Samuel cùng bức ảnh gia đình hôm đó đã đè những câu văn siêu thực của tôi xuống và lấp đầy trái tim tôi bằng ý thức về hiện tại. Chỉ đến lúc đó, tôi mới bắt đầu băn khoăn tại sao mình lại vội vã quay về nhà, bỏ lỡ cuộc hẹn với người đang đứng bên ngoài cung Deoksu.

Đánh mất câu văn của mình rồi, tôi bảo taxi quay đầu, trở lại cung Deoksu.

Tháng Tư vừa rồi, một hôm, không lâu sau khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi được xuất bản, đang lơ mơ ngủ trưa thì tôi nhận được một cú điện thoại. Một giọng nữ âm lượng lớn đề nghị được gặp tôi. Một giọng nói xa lạ. Khi đó tôi vẫn đinh ninh đây là lần đầu tiên mình nghe thấy giọng nói ấy. Nhận ra rằng người đang nghe máy chính là người mình cần gặp, cô ấy bỗng mừng rỡ đến đổi cả giọng, hỏi lại tôi không biết cô ấy là ai ư, rồi nói tên mình là Ha Kye Sook.

“Tớ đây mà, cậu không nhớ à? Ha Kye Sook đây.”

“Ha Kye Sook?”

Những lúc khác, ngay cả khi đối phương đã giới thiệu tên mấy lần rồi mà vẫn không mảy may đoán được là ai thì nếu người đó tỏ vẻ chắc chắn quen biết tôi, tôi cũng sẽ lẩm bẩm, À vâng, đúng rồi, cố gắng không để người đó nhận thấy tôi chẳng tài nào nhớ ra anh ta hay cô ta, nhưng hôm nay, tôi nhận điện thoại trong cơn ngái ngủ nên thành ra buột miệng, Ha Kye Sook? Dù lúc ấy hẳn cũng thấy buồn vì tôi không thể nhớ ra cô, nhưng cô ấy vẫn xử sự như không để bụng và ngay lập tức giải thích Ha Kye Sook, người gọi điện cho tôi, là ai.

“Hồi còn đi học cậu và Mi Seo chơi thân với nhau, nhớ không? Tớ thì thân với Mi Seo. Sao? Không nhớ à? Con bé mập ú (Đến đây cô ấy phá ra cười. Chắc là hồi đó cô ấy mập ú nhưng giờ chỉ còn tròn trĩnh thôi.) ngày nào cũng đến trường muộn một tiếng đồng hồ ấy.”

Cảm giác lơ mơ của tôi liền bay biến sạch. Lúc mới nghe cô ấy nói “hồi còn đi học”, tôi đã băn khoăn không biết cô ấy nhắc đến hồi cấp hai hay đại học đây, nhưng khi cô giới thiệu bản thân là người ngày nào cũng đến trường muộn một tiếng thì trong ký ức tôi, một cánh cửa đã dè dặt mở ra, cánh cửa một phòng học nào đó của trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo, nằm sau trường cấp ba Janghun ở Sindaebang-dong, Yeongdeungpo.

Cô gái ấy, Ha Kye Sook.

Tiết học đã bắt đầu. Cô gái mặc đồng phục thắt ruy băng ở cổ, cặp sách màu đỏ tía đặt trên sàn hành lang, hông hơi đẩy về phía sau trong lúc cô dè dặt mở cánh cửa cuối phòng học, cô gái có môi dưới đỏ thắm. Mái tóc xoăn, cặp má bầu bĩnh, đôi mắt dường như luôn nói với chúng tôi, Tớ xin lỗi.

Giờ là năm 1994. Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau là năm 1979. Cô ấy gọi điện cho tôi, như thể để mắng tôi vì tội ngủ ngày, vừa nói rằng, Tớ đây mà, cậu không nhận ra à? vừa khẽ mở cánh cửa phòng học của mười sáu năm trước.

Thời gian biểu hằng ngày của chúng tôi gồm bốn tiết học. Môi dưới của cô ấy dường như lúc nào cũng đỏ hơn môi trên một chút, và khi cô đến muộn một tiếng đồng hồ rồi mở cánh cửa ở cuối phòng học, hơn lúc nào hết, môi dưới của cô lại càng đỏ lựng. Không hiểu sao nó lại đỏ đến thế chứ. Cô gái ấy, đôi mắt, mũi và miệng, tất cả những gì trên khuôn mặt cô đều đã biến mất hết, còn lại với tôi chỉ là môi dưới đỏ thắm. Nhờ bờ môi dưới ấy mà Ha Kye Sook, cô gái ấy đã sống trở lại trong ký ức của tôi. Một hôm nọ, cô ấy lại đi muộn một tiếng như thường lệ, khi cô dè dặt mở cửa bước vào lớp, Mi Seo đã thì thầm vào tai tôi. Công ty chỗ cậu ấy làm việc khắc nghiệt lắm. Mọi công ty khác đều cho công nhân nghỉ đúng giờ để họ đến trường, nhưng cái công ty đó toàn bố trí giờ giấc để học sinh lỡ mất tiết học đầu. Cậu có biết tại sao môi dưới cậu ấy lúc nào cũng đỏ thế không? Tại vì mỗi lần đến lớp muộn một tiếng, cậu ấy đều đứng bên ngoài cửa cắn môi mãi. Khi tôi nhận ra người gọi điện thoại chính là cô gái vẫn thường dè dặt mở cánh cửa cuối phòng học, rằng cô ấy chính là một trong những cô gái đã đi học cùng tôi từ năm 1979 đến năm 1981, lúc đó chính giọng nói của tôi cũng thay đổi. Ôi chao, cậu lại gọi điện cho tớ ư.

Ở đây là đảo, bởi tâm trạng được quay trở về với thiên nhiên, thiên nhiên mà tôi ngỡ đã trở nên xa cách từ sau thời thơ ấu, nên mấy ngày liền tôi đều đi dạo quanh hòn đảo. Ngày đầu tiên đi quanh thị trấn, tôi phát hiện ra một hiệu sách. Mặt tiền khiêm tốn của nó khiến tôi phải dừng chân mỉm cười. Cánh cửa trượt còn mắc cả rèm, tấm rèm với hoa văn hình các bông hoa nhỏ xíu thêu tay rất cẩn thận. Chính vì tấm rèm này mà nếu không nhờ tấm biển hiệu, tôi sẽ chẳng bao giờ cho đây là một hiệu sách. Mừng rỡ khi gặp một hiệu sách giữa chốn xa lạ, tôi nhẹ bước vào trong dù chẳng có ý định tìm kiếm thứ gì, rồi lại mỉm cười lần nữa. Hiệu sách rất nhỏ, nhỏ ngay cả so với một hiệu sách, nhưng ở một góc, người ta bán cả dao cạo và các đồ dùng học tập như bút chì, tẩy, bút kim, ở góc khác còn bày bỏng chiên và bim bim khoai lang. Chủ hiệu sách, khác hẳn với tưởng tượng của tôi, là một phụ nữ trẻ xinh đẹp, điều này khiến tôi thầm nở nụ cười, và ngay sau đó lại buộc phải cười thêm lần nữa, vì giữa hàng trăm cuốn sách trên giá, cuốn tiểu thuyết của tôi, cuốn sách đã khiến Ha Kye Sook gọi cho tôi, nằm đó.

Tôi mua một cuốn thánh ca ở góc giá sách rồi rời khỏi cửa hàng. Tôi không phải người theo đạo nhưng lấy làm tò mò về cấu tứ của các bài thánh ca nên đã từ lâu muốn mua một cuốn. Ở thành phố, trừ những việc nhất thiết phải hoàn thành ngay, chẳng dễ mà làm được việc gì đó khác cả. Ngày của tôi quẩn quanh giữa hết phiền toái này đến rắc rối khác, và tôi lúc nào cũng có cả một danh sách dài dằng dặc những cuốn sách phải mua. Thỉnh thoảng, tôi sẽ bất chợt nhận ra mình muốn mua một cuốn thánh ca, và cứ mỗi lần như thế, tôi lại thầm nhủ với chính mình rằng lần sau ghé qua hiệu sách nhất định phải mua một cuốn, nhưng tôi chỉ quyết tâm thế mà thôi, cuốn sách tôi từng lướt qua suốt mấy năm liền ấy, cuối cùng lại được tôi mua ở chốn này.

Kẹp cuốn thánh ca dưới tay, tôi lại lang thang quanh đảo hàng giờ liền. Quang cảnh tôi quen thuộc là những đồng bằng trên đất liền, cùng những xuân hạ thu đông của chúng, nhưng giờ đây, tôi đang đứng trước những cây chà là, trinh nữ hoàng cung, trúc đào xa lạ của hòn đảo, cùng những dải sóng xanh thăm thẳm trải dài bất tận. Tôi chợt nhận ra rằng đối với tất cả chúng ta, thiên nhiên là một chất dinh dưỡng màu mỡ, rằng chính thiên nhiên là thứ đẩy chúng ta du hành ngược thời gian theo con đường heo hút trong tim. Nếu là ở thành phố, nơi chúng ta cứ sống mà không bao giờ đặt chân trên nền đất, hẳn tôi sẽ lại để hàng bao nhiêu năm trời trôi qua rồi mới mua nổi cuốn thánh ca không nhất thiết phải có ngay lập tức này.

Cuộc điện thoại của Ha Kye Sook là cuộc điện thoại đầu tiên tôi nhận được từ những con người trong quãng đời đó của tôi. Sau khi cô ấy gọi điện, những người thời đó cũng lần lượt gọi đến, hỏi xem liệu tôi có đúng là người đó, học lớp đó, trường đó hay không. Khi tôi xác nhận rằng tôi đúng là người đó, học lớp đó, trường đó, họ nói, Hóa ra là cậu thật, và rồi tiết lộ họ là ai. Hóa ra là cậu thật, tớ là Nam Gil Soon. Tớ là Choi Jung Boon đây. Tớ đã nhìn thấy cậu trong quảng cáo trên báo. Nhìn tên và khuôn mặt thì ngờ ngợ là cậu rồi, nhưng tớ không nghĩ là cậu thật. Cứ lăn tăn mãi nên tớ đã gọi đến nhà xuất bản. Họ định không cho tớ số điện thoại của cậu, nên tớ phải năn nỉ mãi đấy. Phần lớn bọn họ đều nói đã nhìn thấy tôi ở mục quảng cáo trên báo. Và họ nói họ mừng thay cho tôi, như thể đó là chuyện xảy ra với chính họ vậy. Chuyện đó là chuyện tôi xuất bản sách. Một người trong số họ, tự giới thiệu tên là Yi Jong Rye, nói rằng cô ấy đã chỉ cho chồng mình xem ảnh tôi ở mẩu quảng cáo đăng trên báo và bảo với anh ta “Đây chính là bạn của em đấy”, còn nói lúc đấy cảm thấy rõ là hãnh diện, nhưng đến cuối giọng cô lại trở nên đẫm nước mắt. Tớ đã đến trường học thật, thế mà vì chẳng liên lạc được với ai nên có lần chồng tớ còn hỏi, Có đúng là em đã tốt nghiệp trường nữ sinh cấp ba không đấy?... Anh ấy chỉ bâng quơ nói thế thôi, nhưng buồn cười thật, câu ấy đã cho tớ một cú trời giáng... Có lẽ vì tớ đã phải vất vả biết bao nhiêu mới lấy được tấm bằng tốt nghiệp trường đó. Ngực đau thắt vì tổn thương, nhiều ngày liền tớ còn ngủ quay lưng lại với anh ấy cơ. Thế nên khi nhìn thấy cậu trên báo, khi tớ có thể nói với anh ấy rằng, Đây là bạn hồi cấp ba của em đấy, cậu không biết tớ như được cởi tấm lòng thế nào đâu.

Lắng nghe những lời cô ấy nói vọng đến từ đầu dây bên kia, tôi bật cười, nhưng sau khi cúp máy, tôi cũng thấy ngực mình đau thắt và phải ngồi đó một lúc, mân mê cái ống nghe. Chỉ mình cậu mới thế ư, tớ cũng có khác gì đâu. Đúng thế. Tôi cũng từng có một thời cấp ba, nhưng chính tôi cũng không có lấy một người bạn cấp ba nào. Dù chỉ là những bà trung niên trên phim truyền hình nhảm nhí chuyện phiếm với nhau xem có nên đi họp đồng môn cấp ba hay không thôi, tôi cũng nhìn không rời mắt. Thậm chí đến bây giờ, hễ ai đó giới thiệu người bên cạnh mình rằng, Bạn cấp ba của tôi đấy, là tôi lại ngập ngừng dừng bước để nhìn hai người họ thêm lần nữa.

Hờn dỗi khi bạn mình có một người bạn mới; ép khô một chiếc lá rồi viết tên cô ấy lên mặt sau; cùng nhau đạp xe leo núi; viết thư thâu đêm rồi tuồn nó vào giữa cuốn sách của cô ấy... tôi, cũng như những người bạn gọi điện cho tôi, chưa bao giờ được trải nghiệm một thời như thế. Không khoảnh khắc hờn dỗi, không khoảnh khắc ép lá - giữa chúng tôi không hề có những khoảnh khắc ấy.

Thứ tồn tại giữa chúng tôi là những dây chuyền lắp ráp tại các nhà máy may, các nhà máy điện tử, các nhà máy sản xuất quần áo, các nhà máy sản xuất thực phẩm.

Đâu đâu cũng nói số tôi sớm phải xa rời vòng che chở của bố mẹ. Đến cả dịch vụ bói toán trực tuyến tôi thử cho vui cũng nói vậy. Rằng tôi sẽ sớm rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn và trải qua những năm tháng đầu đời vất vả. Đôi lúc tôi cũng thầm băn khoăn, khi nào mới hết những năm tháng đầu đời của một người. Tôi suy nghĩ rất lung, y như lúc tôi tự hỏi, Văn chương là gì? Rồi tôi rút ra kết luận ba mươi tuổi sẽ là đáp án hợp lý. Giờ tôi đã ba mươi hai, như vậy những năm tháng đầu đời vất vả của tôi hẳn đã qua rồi. Hồi mười sáu tuổi, cái hồi mười sáu tuổi đang ngồi ngoài hiên đợi thư của anh trai thì bị cào cắm vào xé toạc bàn chân, trong lòng tôi đã dấy lên một nhận thức mơ hồ rằng cuộc sống được tạo nên từ những vết thương hiểm ác. Rằng để bấu lấy cái sự hiểm ác đó mà sống tiếp, tôi buộc phải gìn giữ trong tâm hồn mình một thứ sáng trong. Rằng tôi phải tin tưởng và dựa vào thứ sáng trong đó mà sống. Nếu không, tôi sẽ rất cô đơn. Và rằng nếu tôi cứ sống mà không có thứ sáng trong đó thì một ngày nào, một lần nữa, tôi sẽ lại cắm cái cào vào bàn chân.

Tôi, mười sáu tuổi, vào ngày cuối cùng của kỳ gieo mạ, đã bắt chuyến tàu đêm, rời khỏi ngôi nhà có cái giếng đã nuốt chửng cái cào. Ở cuối làng là đường ray tàu hỏa, bên phía đối diện là chỗ bố mở cửa hàng. Mẹ bảo tôi đến chào bố rồi bắt xe buýt ở đó. Bao giờ xe đi vào làng, mẹ cũng sẽ lên. Trước khi rời nhà, người chị mười sáu tuổi chăm chăm nhìn xuống khuôn mặt của cậu em trai bảy tuổi, đang thiếp ngủ sau bữa tối sớm. Em trai từ lúc mới sinh đã dính vào tấm lưng non nớt của người chị chín tuổi như cái mai rùa và lúc nào cũng cảnh giác, tràn ngập nỗi lo sợ chị sẽ đi đâu mất. Với em trai bện hơi chị và lớn lên trên lưng chị thì chỉ có chị là nhất. Với em trai, trường học là nơi duy nhất khiến cậu buộc phải thả cho chị đi. Khi chị nói, Chị đến trường đây, thì em trai sẽ dặn, Nhớ về nhé. Cho dù có đang đi chơi thì ngay khi mặt trời lặn, em trai vẫn sẽ lớn giọng gọi, Chị ơi, rồi chạy về nhà. Cho dù ở bất cứ nơi đâu, em trai cũng gọi to, Chị ơi. Cho dù là khi đi lấy trứng, khi đi vệ sinh hay khi hái hồng vàng. Một lần nọ, em trai đâm đầu vào xe tải trên con đường mới làm, được đưa đến bệnh viện rồi cậu vẫn còn gọi tìm, Chị ơi, chị ơi, chị ơi. Lúc được khâu đầu cậu cũng cứ gọi đòi chị. Chị ơi, chị ở đâu. Cháu muốn tới chỗ chị. Không còn cách nào khác, chị gái học lớp bốn của cậu phải đeo cặp sách rời trường học đến thẳng bệnh viện. Chị ngủ ở bệnh viện cùng em trai, ăn luôn tại bệnh viện và đi từ bệnh viện đến trường. Cậu em trai ấy hoàn toàn chưa sẵn sàng rời xa chị. Nếu bảo rằng chị sắp lên thành phố có lẽ em trai sẽ òa khóc nức nở, thế nên chị không dám nói gì mà chỉ chăm chăm nhìn xuống khuôn mặt say ngủ của cậu. Em trai mở hé mắt nhìn chị. Hẳn cậu phải lấy làm lạ khi chị mặc quần áo đi đường giữa lúc đêm khuya này, và dù đang trong cơn ngái ngủ cậu vẫn phải hỏi một câu.

“Chị định đi đâu à?”

Chị trả lời, Không phải đâu. Chị không đi đâu hết. Em trai yên tâm nhắm mắt lại. Chị đặt tay lên vết sẹo vẫn còn nhìn thấy rõ trên mái đầu em trai đang ngủ say. Sáng mai khi thức dậy, cậu sẽ náo loạn lên cho xem.

Tôi còn chưa băng qua đường ray thì đã nhìn thấy ánh đèn xe buýt. Tôi đã dành quá nhiều thời gian ngắm nhìn em trai ngủ. Tôi, mười sáu tuổi, nóng ruột khi ánh đèn xe buýt tiến lại mỗi lúc một gần, hét lên, Bố ơi! Bố chạy ra khỏi cửa hàng, đúng lúc xe buýt đến bến. Bố ơi, con đi đây! Tôi, mười sáu tuổi, lên xe buýt mà không thể chào tạm biệt bố cho tử tế. Tôi đi vội xuống cuối xe và nhìn ra ngoài cửa sổ. Bố đứng thất thần, bất động trong bóng tối. Khuôn mặt không lộ rõ, chỉ thấy dáng bố đứng thất thần, bất động.

Từ đó trở đi, tôi không còn cơ hội sống dưới cùng một mái nhà với bố. Ngay cả với mẹ và em trai, tôi cũng không ở được quá năm ngày bên họ dưới cùng một mái nhà.

Lên xe buýt ở giữa làng, mẹ hỏi tôi, đứa con gái mười sáu tuổi.

“Con đã chào tạm biệt bố chưa?”

“Rồi ạ.”

Đó có phải là chào tạm biệt hay không? Đến mặt bố còn chẳng nhìn được mà chỉ kịp hét về phía cửa hàng, Bố ơi, con đi đây! Lẽ ra tôi nên lên đường sớm hơn. Hình dáng sừng sững của bố khi chạy ra khỏi cửa hàng và đứng thất thần bất động trong bóng tối vẫn ẩn hiện mơ hồ trước mắt tôi. Xe buýt đang rời khỏi làng. Chuyện xảy ra năm phút trước đã thành quá khứ.

Mẹ đang mặc bộ hanbok truyền thống màu cam. Mẹ choàng thêm một chiếc áo khoác nhàu nhĩ bên ngoài áo cánh, được thắt chặt bằng cái ghim hình hoa cúc thay vì bằng dây thắt áo. Thấy tôi nhìn chằm chằm cái ghim hoa, mẹ nói, Đây là quà con mua cho mẹ hồi đi dã ngoại cùng trường đó. Cổ áo cánh màu trắng của mẹ lấm lem. Để ý thấy tôi có vẻ đang nhìn cái cổ áo bẩn, mẹ liền bảo, Mẹ đã định may một cái mới rồi, nhưng bận quá.

Ở ga tàu trong thị trấn, tôi gặp chị họ, người sẽ cùng mình lên thành phố. Chị họ với cặp chân dài thon thả, xách một cái túi lớn đứng bên cạnh bác, bác gầy đến mức da bọc xương. Chị họ mảnh mai mười chín tuổi. Từ bàn tay bác đang vuốt má mình, tôi ngửi thấy mùi tanh của cá sống. Bác đưa tay ngang qua má tôi để cầm tay chị họ. Lúc chào tạm biệt, tay hai mẹ con họ đan vào nhau.

“Hai đứa đừng có cãi cọ nhé.”

Lúc thả tay chị họ ra, đôi mắt bác tôi ầng ậng nước. Đến lúc phải soát vé, bác dặn chị họ, Viết thư sớm nhé. Để lại người bác phờ phạc của tôi ở phòng đợi tàu, mẹ, chị họ và tôi vào trong ga. Tôi, mười sáu tuổi, áp sát lòng bàn tay lên cửa sổ toa tàu và nhìn ra ngoài sân ga.

Tạm biệt, ngôi làng quê hương. Tôi đang rời bỏ người để mưu sinh đây.

Ngay cả trên chuyến tàu đêm, mẹ cũng không nói lời nào. Suốt cả ngày đã phải còng lưng để gieo cho xong mạ thế mà giờ mẹ thậm chí còn chẳng hề ngủ gật. Thỉnh thoảng, mẹ liếc nhìn sang tôi ngồi bên cạnh. Sự chia biệt khiến người ta nhìn chăm chú vào mắt đối phương. Và khiến người ta nhận ra nhiều điều mới mẻ. Rằng mắt người kia lại mang hình dáng như thế sao.

Suốt mười ngày, tôi cứ ngồi ăn trưa ở đúng một chỗ, cuối cùng cô chủ quán ăn cũng lên tiếng bắt chuyện với tôi. Hai giờ chiều. Giờ cao điểm của nhà hàng đã qua. Chẳng hiểu sao chiều nào tôi cũng đến nhà hàng vào lúc hai giờ, tôi cảm thấy áy náy, không biết có phải tại mình mà người phụ nữ đã sẵn sàng nghỉ giải lao sau giờ ăn trưa khách khứa tấp nập ấy lại phải quay vào bếp. Cô mang thức ăn ra cho tôi, sau đó rửa mặt rồi vừa bôi kem dưỡng lên mặt vừa trò chuyện với tôi.

“Cháu từ đâu đến?”

“Cháu từ Seoul.”

“Cháu ở đây lâu ghê.”

Thay vì trả lời, tôi mỉm cười. Tôi vừa bỏ một miếng kim chi vào miệng nên dù muốn cũng chẳng thể trả lời được. Cô bảo giá mà ban đầu tôi nói cho cô biết mình sẽ đến đây thường xuyên thì cô đã nấu cho tôi như cho gia đình mình và tính giá rẻ hơn chút rồi. Tôi liếc nhìn thực đơn trên tường. Cô sẽ tính rẻ hơn được bao nhiêu? Giá được ghi dưới mỗi món. Canh hầm kim chi giá bốn nghìn won. Một ttukbaegi canh tương đậu hầm bào ngư, trai hoặc tôm hùm đất giá năm nghìn won. Canh thịt bò cay giá ba nghìn năm trăm won.

“Cháu đi một mình à?”

Thật may cô ấy không nói thêm, Một mình thân gái?

“Vâng.”

“Du lịch hả?”

“Không ạ.”

“Cô cũng đoán thế. Nếu là khách du lịch thì sẽ không lý nào ở đây ngày này sang ngày khác.”

Tôi lại mỉm cười.

“Vậy là cháu đến đây vì công việc à?”

Tôi không khỏi bối rối. Tôi có thể nói tôi tới đây vì công việc không? Có phải tôi đến đây để làm việc không? Không biết trả lời sao, tôi đành nói, Đại loại thế ạ, rồi lại mỉm cười. Có vẻ cô ấy đã cho rằng nụ cười của tôi đồng nghĩa với vâng, rằng tôi đến vì công việc. Sau khi chải xong mái tóc xoăn, cô mang cái đĩa đựng ba quả quýt ra và lại hỏi.

“Cháu làm công việc kiểu gì?”

Tôi không thể tiếp tục ăn cơm được nữa. Tôi đặt thìa xuống và bóc vỏ một quả quýt. Hương quýt tươi rói thấm vào mũi tôi, mát mẻ dễ chịu. Người phụ nữ lấy tờ báo đang được đặt ở bàn khác sang cho tôi. Có vẻ cô vẫn nhớ ngày nào tôi cũng đọc báo sau khi ăn. Chỗ bàn tay cô chạm vào trên tờ báo ngấm mùi kem dưỡng. Sự hiếu khách của cô khiến tôi cảm thấy xấu hổ vì đã không trả lời câu hỏi, thế nên tôi vội nói, Cháu là nhà văn. Ngay lúc đó, khuôn mặt cô ấy, với những đốm đồi mồi lấm tấm trên má như tấm bản đồ, sáng bừng lên.

“Ôi chao, thật à? Vinh dự quá!”

Vinh dự ư? Thẹn thùng không để đâu cho hết, tôi bật ra một tiếng cười khẽ.

... Đây là lần đầu tiên tôi tự nói mình là nhà văn với một người lạ, với một người ở một nơi xa lạ...

Mẹ.

Đôi mắt đen của mẹ. Đôi mắt giống mắt bò. Tôi đã lần đầu tiên nghĩ như thế vào tối hôm đó. Và suy nghĩ ấy vẫn không hề đổi thay, dù là lúc đó hay bây giờ. Làm sao mà, thậm chí ngay cả bây giờ, sau khi đã nuôi dạy sáu đứa con, mẹ vẫn có thể gìn giữ đôi mắt trong sáng như thế... Nhiều khi, đôi mắt mẹ đẩy tôi chìm sâu vào suy nghĩ.

Đầu mùa hè năm tôi mười sáu tuổi, trên chuyến tàu đêm, đôi mắt đen của mẹ giàn giụa nước. Đây là lần thứ hai mẹ đi tàu đến Seoul. Hồi xưa, có lần anh cả tôi cần một số giấy tờ để nhập học đại học, nhưng vì lý do nào đó mà thư anh viết chỉ về trước hôm hết hạn nộp giấy tờ đúng một ngày. Gửi qua đường bưu điện thì sẽ trễ mất. Mẹ trở thành người đưa thư. Mẹ mang theo giấy tờ rồi bắt chuyến tàu đêm. Điều duy nhất hiện diện trong tâm trí mẹ là trong tối đó mẹ phải chuyển bằng được những giấy tờ mà con trai mẹ sẽ cần vào ngày hôm sau. Và điều duy nhất mẹ biết về Seoul là con trai mẹ làm việc tại Ủy ban phường Yongmun, quận Yongsan.

Bất kỳ khi nào kể lại câu chuyện về lần đầu tiên thăm Seoul, mẹ cũng đều nói rằng trên thế giới này có rất nhiều người tốt. Ngồi cạnh mẹ là một anh thanh niên, đấy, cũng trạc tuổi anh trai con đấy, thế là mẹ lôi cái phong bì to từ trong túi ra và bảo, ngày mai con trai tôi cần thứ này để nhập học đại học, nhưng tôi không biết đường, phải làm sao bây giờ? Nghe mẹ nói thế, anh thanh niên ấy xuống ga, lặn lội đưa mẹ tới tận Ủy ban phường Yongmun dù đêm đã khuya lắm. Đến cả tài xế taxi cũng không biết đường, nhưng anh thanh niên ấy hỏi thăm hết chỗ này chỗ kia và đưa mẹ đến đó. Xung quanh tối om om, anh thanh niên ấy bảo, Hẳn là nơi này rồi, thế là mẹ đập mãi đập mãi lên cánh cửa đang khóa rồi anh trai con xuất hiện, thế nhưng anh thanh niên đã không ngại bao nhiêu phiền phức để đưa mẹ đến đó chẳng nhận một lời cảm ơn của mẹ mà cứ thế đi mất.

Người mẹ đã lên Seoul một cách dũng cảm như thế giờ mắt lại đang nhòe lệ trên đường đưa tôi tới chỗ anh trai. Lảng tránh đôi mắt đẫm lệ của mẹ, tôi nhìn chăm chăm ra khoảng không gian tối đen bên ngoài cửa sổ phản chiếu ánh cam bộ hanbok của mẹ. Tôi nhìn chị họ, đang ngồi đó như một bông hoa mười giờ được đem đến trồng bên cửa sổ tàu. Mẹ với tay vuốt tóc tôi. Đã chào tạm biệt bác từ ga tàu, chị họ tránh không nhìn hai mẹ con tôi.

“Con ăn một ít không?”

Mẹ lôi mấy quả trứng luộc từ trong túi ra. Tôi lắc đầu. Lúc nhận quả trứng đã bóc vỏ từ tay mẹ, chị họ lấy trong túi ra một cuốn sách, đưa cho tôi bảo xem thử.

“Sách gì vậy?”

“Sách ảnh.”

Trên môi dính một ít vụn trứng luộc, chị họ thấp giọng nói với tôi.

“Chị muốn thành nhiếp ảnh gia.”

Nhiếp ảnh gia? Tôi, mười sáu tuổi, nhắc lại từ này. Tôi nhớ lại tất cả những người chụp ảnh tôi từng gặp trong hiệu ảnh đều là đàn ông. Tôi quay sang chị họ nói rằng tất cả những nhiếp ảnh gia tôi từng gặp đều là đàn ông. Chị họ bật cười, vừa nói, Không phải người chụp ảnh kiểu đó mà là người chụp những bức ảnh này cơ, vừa lật giở cuốn sách chị đặt trên đầu gối tôi, từ trang này sang trang khác. Mỗi trang sách chị họ lật qua đều lưu giữ một cảnh tượng đẹp đẽ. Sa mạc, cây cối, bầu trời, và biển. Lật đến một trang, chị họ dừng lại, thầm thì với tôi, Nhìn này. Đó là bức ảnh cảnh đêm, ở trong rừng, các vì sao sà xuống ngọn cây, trắng lóa và lấp lánh.

“Chúng là chim đấy.”

Kinh ngạc, tôi gí mặt sát vào cuốn sách dưới đầu gối. Nhìn kỹ thì thứ đang lấp lánh đậu trên các ngọn cây giữa rừng đêm kia hóa ra không phải sao mà là những con cò bạch. Giữa rừng cây chìm khuất trong bóng tối, những con cò chênh vênh đậu rải rác trên những cành cây cao, tỏa ra ánh sáng trắng.

“Chúng đang ngủ đấy. Đẹp nhỉ?”

Tôi gật đầu. Dưới bầu trời đêm xa xăm, những con chim trắng say ngủ dịu dàng, bao phủ cánh rừng một cách tuyệt đẹp.

“Chị muốn chụp ảnh chim, không phải chụp người.”

Khuôn mặt chị họ thần bí quá nên tôi cứ nhìn chị chăm chăm. Lúc nói với tôi rằng chị muốn chụp ảnh chim, má chị ửng hồng, như thể chúng được thấm đẫm mùi hương thanh mát từ những bụi cây, đất và lá cây của cánh rừng nơi những con cò bạch đang say ngủ.

“Khi nào kiếm được tiền, thứ đầu tiên chị làm sẽ là mua một cái máy ảnh.”

Con tàu đêm xình xịch, chở theo giấc mơ của chị họ. Tôi không còn lắng nghe tiếng thì thầm của chị nữa. Lúc này đây, tôi đã trao trái tim mình cho những con cò bạch, trong bóng tối, dưới bầu trời đêm xa xăm, đang say ngủ dịu dàng, bao phủ cánh rừng một cách tuyệt đẹp. Một ngày nào đó, tôi sẽ đi để được tận mắt nhìn những con chim trắng đó đậu trên những cành cao. Tôi sẽ đi để được tận mắt nhìn vẻ đẹp và sự dịu dàng của chúng khi đang say ngủ, khuôn mặt hướng về phía những vì sao.

Tôi không thể quên được tòa nhà Daewoo mình đã nhìn thấy vào sáng sớm hôm đó. Thứ cao nhất tôi từng nhìn thấy kể từ lúc chào đời. Khi đó, tôi không hề biết tòa nhà có tên là Daewoo. Theo chân mẹ ra quảng trường ga Seoul lúc bình minh, tôi, mười sáu tuổi, tất tả chạy lên để bắt kịp mẹ đang bước phía trước tôi vài bước rồi dán sát vào bên sườn bà. Như thể thế vẫn còn chưa đủ, tôi tìm tay mẹ, nắm thật chặt.

“Sao thế?”

“Con sợ.”

Tôi có cảm giác tòa nhà Daewoo nhìn sừng sững như một con thú khổng lồ kia sẽ sầm sập lao về phía chúng tôi, nuốt chửng cả mẹ, cả chị họ, và cả tôi. Chị họ, mười chín tuổi, vẫn toát lên vẻ đường hoàng ngay cả khi đối mặt với con thú khổng lồ ấy. Thấy tôi sợ, mẹ bảo tôi nó chẳng là gì cả.

“Nó chẳng là gì cả đâu. Chẳng là gì cả ngoài những khung thép.”

Bất chấp lời mẹ nói, tôi, mười sáu tuổi, lần đầu tiên đặt chân lên thành phố, vẫn nhìn tòa nhà Daewoo như con thú khổng lồ dưới ánh bình minh, những ánh đèn mới tinh mơ đã lấp lánh tỏa sáng, những chiếc xe hơi lao vun vút về đâu đó, với ánh mắt tràn đầy sợ hãi.

Cho đến lúc đó, anh cả vẫn chưa có phòng riêng. Đó là lý do mà chúng tôi phải đi tàu đêm. Vì ở Seoul, nơi duy nhất chúng tôi có thể kiếm được chỗ ngủ chỉ là nhà trọ. Anh cả không có phòng, nhưng da anh trắng bóc. Móng tay anh sạch sẽ và cái áo sơ mi trắng của anh sáng chói. Mắt, mũi và miệng thanh tú, nằm gọn gàng trên khuôn mặt dài trắng trẻo mịn màng của anh. Nếu anh không tự tiết lộ ban ngày mình làm việc tại ban vệ sinh của Ủy ban phường còn ban đêm học luật tại một trường đại học tại chức thì khó ai có thể đoán ra được. Vì có diện mạo như chẳng hề biết gì đến những vất vả của thế giới, nên từ anh toát ra khí chất của một chàng thanh niên lớn lên trong một nhà giàu có, đầy đủ điều kiện vật chất. Người thanh niên ấy giờ đây đang thết đãi em gái, chị họ và mẹ của mình, những người đã đi tàu đêm lên Seoul, món canh giá đỗ ấm nóng trên phố phía đối diện Ủy ban phường. Chỗ ở của anh là phòng trực đêm của ủy ban. Từ hồi anh bắt đầu làm việc ở Ủy ban phường, nhân viên ở đây đã không còn trực đêm nữa. Vì đêm nào anh cũng ngủ ở đó. Ngay sau đó, anh dẫn chị họ và tôi tới Trung tâm Đào tạo Việc làm. Hôm nay là ngày đầu tiên chúng tôi tham gia khóa đào tạo.

“Công việc sẽ vất vả lắm đấy.”

Anh cả nói nghe còn khó nhọc hơn cả cái tương lai vẫn chưa tới của chúng tôi.

“Nhưng sau khi em kết thúc khóa đào tạo ở đây và kiếm được việc ở khu công nghiệp, em sẽ có thể đi học. Nhiều lớp học đặc biệt đã được thành lập để cho các công nhân khu công nghiệp bắt đầu đến trường vào năm sau.”

Anh nói thêm, nghe như một lời thanh minh.

“Vì là xuất thân nông thôn, nếu em không theo con đường này, em chỉ có thể vào được các trường dạy nghề. Trường dạy nghề thì không phải trường chính quy.”

Trung tâm Đào tạo Việc làm nằm ngay cạnh cổng khu công nghiệp Guro. Chúng tôi rời khỏi nhà hàng, bắt xe buýt tới cổng khu công nghiệp. Tại sân thể thao của Trung tâm Đào tạo Việc làm, tôi, mười sáu tuổi, và chị họ, mười chín tuổi, chào tạm biệt mẹ. Tôi vẫn còn nhớ sân thể thao ngày hôm ấy. Và sắc màu cam, sắc màu cam xa dần. Bàn tay to của mẹ nắm lấy tay tôi. Bàn tay không nắm tay tôi của mẹ đặt một tờ một nghìn won vào lòng bàn tay chị họ.

“Có đói thì cũng đừng cố nhịn nhé, mua lấy sữa chua mà ăn.”

Mắt chị họ nhòe nhoẹt nước. Bỏ lại chúng tôi sau lưng rồi tiến về phía cánh cổng thép của trung tâm đào tạo nhưng những bước chân mẹ tiếp tục vòng trở lại. Mẹ là một vết màu cam trên sân thể thao ấy. Vết màu cam xa dần, rồi lại gần lại, đặt tay chị họ và tay tôi nắm lấy nhau, dặn rằng chúng tôi phải nương tựa vào nhau.

“Giờ chỉ còn hai đứa với nhau thôi. Đừng làm phiền anh cả mà phải nương tựa vào nhau, các con rõ chưa.”

Vết màu cam lại xa dần, cách một bước đằng trước, anh cả cao lớn của tôi cắm mặt bước đi. Đứng giữa đám đông những người tụ tập để tham gia chương trình đào tạo việc làm, tôi, mười sáu tuổi, chăm chăm nhìn vết màu cam và tấm lưng anh cả đang càng lúc càng nhỏ dần. Chăm chăm nhìn mẹ và anh cả, càng lúc càng xa. Hai người cứ xa dần, xa dần, xa dần, rồi hoàn toàn khuất khỏi tầm mắt. Tôi, mười sáu tuổi, thúc thúc mũi giày xuống mặt đất, vô duyên vô cớ.

Cuộc sống ở Seoul của tôi đã bắt đầu như thế. Nhưng phải rất lâu sau, tôi mới gặp Ha Kye Sook, mới gặp những cô gái ấy. Bởi chẳng dễ mà gặp được họ.

Thứ gì nằm giữa tôi và họ, những người tôi vẫn chưa gặp đó?

Ban đầu khó khăn như vậy thôi, nhưng rồi Ha Kye Sook và tôi bắt đầu nói chuyện điện thoại thường xuyên với nhau hơn.

Đến một hôm, cô bảo tôi, “Mà cậu chẳng viết về chúng tớ gì cả.”

Tôi lại thấy thắt lại ở đâu đó.

“Tớ đã tìm đọc hết tất cả các cuốn sách cậu viết, chỉ trừ cuốn đầu tiên. Các hiệu sách trong vùng không nhập cuốn đó mà tớ thì khó có thể thu xếp thời gian đi đến các hiệu sách lớn. Thế nên còn mỗi cuốn đó là tớ chưa đọc được... Có vẻ cậu viết khá nhiều về thời thơ ấu của cậu, cả về trường đại học, về chuyện yêu đương, nhưng chẳng có gì về chúng tớ cả.”

“...”

“Bởi cứ băn khoăn không biết liệu cậu có viết gì về chúng tớ không, nên đã cố tìm sách của cậu để đọc đấy.”

Thấy tôi chìm trong im lặng, Ha Kye Sook gọi tên tôi, giọng cô trầm xuống hẳn.

“Có lẽ nào cậu thấy xấu hổ vì đã có thời quá khứ đó?”

Tôi bồn chồn chuyển ống nghe từ tai này sang tai kia. Ha Kye Sook hiểu nhầm sự bồn chồn của tôi là im lặng, giọng tán gẫu vui vẻ của cô trở nên rầu rĩ.

“Cậu, bây giờ như sống một cuộc đời khác với chúng tớ rồi.”

Nếu ngay lúc đó, tôi trả lời cô ấy rằng, Không phải thế đâu, thì liệu tôi có cảm thấy dễ chịu hơn không? Nhưng tôi đã không thể làm vậy. Tôi đã không thể nói, Không đâu, không phải thế đâu. Tớ chưa bao giờ thấy tự hào, nhưng tớ cũng chưa từng xấu hổ. Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ nhiều khi tôi đã thấy xấu hổ cũng nên. Nhưng đó chưa bao giờ là một suy nghĩ quan trọng đối với tôi. Không, đúng hơn mà nói tôi chưa bao giờ có thời gian để mà tập trung vào những suy nghĩ như thế. Tôi không có cái xa xỉ được nhận thức tình huống của mình là khó khăn hay khổ sở. Bởi từng ngày từng ngày, tôi không thể suy nghĩ mà phải sống. Ngày nào cũng tất bật, sáng đằng sáng, tối đằng tối, chẳng còn thời gian nghĩ về bất cứ điều gì, giải quyết xong những việc khẩn cấp lại phải vội vàng đi ngủ hay thức dậy. Chỉ đến khi bước vào tuổi ba mươi, tôi mới nghĩ được rằng, hồi đó ắt hẳn tôi mệt mỏi kiệt quệ lắm.

Một ngày gần tuổi ba mươi nọ, tôi cảm thấy mệt mỏi tột độ. Và tôi đã nhận ra ngay, rằng sự mệt mỏi ấy chính là sự mệt mỏi của thời đó, rằng ngay từ thời đó tôi đã ba mươi hay ba mươi hai rồi. Chẳng phải nhờ vào gì khác mà chính là việc viết, vốn khiến tôi vừa sợ hãi vừa tôn thờ, đã khiến tôi nhận ra điều này.

Viết, có phải chính là như thế? Chừng nào còn viết thì chừng đó sẽ không bao giờ có thời gian nào là thời gian đã qua? Như cá hồi ngược dòng bơi về nguồn, sẵn lòng toạc vây vượt qua cả thác nước, có lẽ nào đó cũng là số phận được trao cho nhà văn - cái số phận phải theo dòng hiện tại bơi ngược về quá khứ đau thương. Cá hồi luôn quay về. Giữ trong bụng vết thương sâu, bằng mọi giá mạo hiểm cả mạng sống của chính mình để vượt thác quay về. Phải, quay về. Theo con đường mình đã từng qua, dò dẫm từng bước một, chỉ mình con đường ấy.

Trung tâm Đào tạo Việc làm. Tôi, mười sáu tuổi, thức dậy lúc sáu giờ sáng trong phòng ký túc xá. Thỉnh thoảng khi thức dậy tôi lại nghĩ đến cái cào đã bị mình ném xuống giếng, ở dưới đáy sâu đó trông nó đang như thế nào? Nhưng không có thời gian để suy nghĩ viển vông, tôi đã nghe thấy tiếng chuông rung triệu tập chúng tôi tới sân thể thao. Chúng tôi tập bài thể dục nhịp điệu theo một giai điệu vui tươi. Sau khi dọn dẹp khu vực được chỉ định, xếp hàng chờ rửa ráy, chúng tôi đi ăn sáng. Tôi, mười sáu tuổi, lần đầu tiên trong đời nhìn thấy cái khay đồ ăn đựng cùng lúc cả cơm, canh và các món ăn kèm. Cái khay xa lạ và vị kim chi thì thật kỳ cục. Chính vì cái khay hình dạng xa lạ và kim chi mùi vị kỳ cục mà hồi đầu tôi đã không nuốt nổi cơm. Khi chị họ hỏi sao tôi không ăn, tôi đổ lỗi cho món kim chi. Trong kim chi có vị mắm lạ, mẹ em chỉ dùng mắm làm từ cá đù vàng thôi. Không tìm được lời xác đáng nào để trách cứ cái khay nên tôi không đả động gì đến nó cả. Hồi còn ở quê, bát cơm và bát canh của tôi sẽ được nằm úp trên giá bát. Chị họ mua cho tôi một cái bánh ngọt ở quầy bán đồ ăn vặt. Chị họ mười chín dỗ dành tôi mười sáu tuổi.

“Không thể cứ mãi tiêu tiền vào bánh mì như thế này được. Chúng ta chỉ có mỗi tí tiền thôi, từ giờ đến lúc tìm được việc và nhận lương sẽ chẳng có tiền đâu.”

Chẳng còn cách nào tôi đành múc một thìa canh từ cái khay lạ lẫm kia đưa lên miệng. Lại nhớ đến cái bát ăn cơm của tôi nằm trên giá bát của mẹ, mắt tôi ứa lệ. Khuôn mặt ngái ngủ của em trai út bảy tuổi hỏi, Chị đi đâu thế? lúc tôi rời khỏi nhà hiện lên trên mặt nước canh đựng trong cái khay lạ lẫm. Tôi xúc một thìa cơm đầy. Tôi húp canh. Tôi nhai rau ráu món kim chi mùi vị kỳ cục rồi nuốt xuống.

Mọi giáo viên đều coi chúng tôi là nguồn lực lao động chính của khu công nghiệp. Thậm chí, giữa những giờ học hàn điện, chúng tôi vẫn được nhắc cho nhớ rằng chúng tôi ở đây với vai trò là nguồn lực lao động chính của khu công nghiệp. Mỗi cửa ra vào phòng ký túc xá của chúng tôi ở trung tâm đào tạo đều được đánh dấu bằng một tấm biển mang tên một loài hoa, y như ở trường mẫu giáo. Tên của phòng tôi là gì nhỉ? Hoa hồng? Hoa bách hợp? Tất cả những gì tôi nhớ được đó là ở mỗi cái giường gỗ đều có gắn một cái tủ cá nhân. Vài năm sau đó, trên ti vi có chiếu một bộ phim hài mang tên “Nghiêm!”. Tôi rất chăm chú đón xem bộ phim đó vì doanh trại trong phim có nhiều phần giống với căn phòng ký túc tôi từng ngủ hồi mười sáu tuổi. Khác biệt duy nhất là các phòng của chúng tôi còn có một tầng nữa, lên xuống nhờ một cái thang. Mỗi tầng có năm người ngủ. Chị họ và tôi, đúng như mẹ dặn, leo thang lên tầng hai nương tựa vào nhau mà sống. Sau khi điểm danh lúc chín giờ, đèn đóm phải tắt hết. Những đêm không ngủ được, nằm trong bóng tối nhìn trân trân lên trần nhà, tôi lại thấy hiện lên cái cào dưới đáy giếng như khi mở mắt tỉnh dậy lúc sáng sớm. Cứ nghĩ đến sự im lặng của cái cào chìm sâu dưới nước, bàn chân tôi lại phát đau khiến tôi không khỏi trở mình, xoay người với tay ra sờ lên trán, lên mắt chị họ. Nếu có vẻ như chị họ đang ngủ, tôi sẽ lay chị.

“Sao thế?”

Tôi định kể chuyện cái cào, nhưng rồi lại thôi. Nhưng tôi không muốn nằm thức một mình, vậy nên tôi cứ sờ trán sờ mắt chị họ mãi. Tận đến khi chị đập lòng bàn tay lên tay tôi.

Chị họ mười chín tuổi. Chị dùng kem bôi tay có mùi thơm. Lúc tôi rửa mặt xong quay về phòng ký túc xá, chị dùng những miếng bông tẩy trang giặm nhẹ nước hoa hồng lên vùng da quanh mũi trên khuôn mặt mười sáu tuổi của tôi. Rồi chị thì thầm nói với tôi.

“Thầy Kim ấy mà, thầy ấy bảnh nhỉ?”

Tôi gật đầu. Thầy Kim dạy các môn đại cương. Chính từ thầy ấy mà lần đầu tiên kể từ khi đến học ở trung tâm đào tạo, tôi đã được nghe từ “cuộc sống” thay vì “nguồn lực lao động chính của khu công nghiệp”. Thầy nói với chúng tôi cuộc sống thật đẹp. Thầy có nói với chúng tôi điều gì đã khiến cuộc sống đẹp thế không nhỉ? Tôi không nhớ nổi. Thầy chỉ nói rằng cuộc sống thật đẹp. Thầy không nói vẻ đẹp của cuộc sống mang lại gì cho chúng tôi hay tước đoạt của chúng tôi cái gì. Thầy chỉ nói là nó đẹp thôi.

Mọi thứ trong đầu tôi nhòa đi. Tôi nghĩ đến lối ra vào khu công nghiệp. Tôi, mười sáu tuổi, đứng ở lối ra vào khu công nghiệp, chị họ bên cạnh tôi. Mọi người đi đâu rồi mà ở đây chỉ còn lại chị họ và tôi? Hồi ấy, hai mươi người cùng ở chung một phòng ký túc, ấy vậy nhưng tôi chẳng nhớ nổi một gương mặt nào. Bất chợt, một cặp mắt kính hiện lên rồi lại biến mất. Lý do duy nhất khiến tôi nhớ đến gương mặt ấy chỉ bởi đó là gương mặt duy nhất đeo kính, không những chỉ trong phòng chúng tôi mà còn trong toàn thể khu ký túc xá. Tôi nhớ đến cái kính chứ không phải nhớ gương mặt đó. Cái kính gọng nhựa màu đen ngự trên gương mặt xanh xao. Và một cái tên, Kim Jeong Rye. Cái tên là thứ duy nhất tôi còn nhớ; khuôn mặt đã bị xóa sạch. Chỉ còn lưu lại trong ký ức tôi một ấn tượng mơ hồ rằng khuôn mặt của cô lớn hơn so với thân hình. Kim Jeong Rye. Cái tên thuộc về một cô gái mồ côi. Thứ Bảy hằng tuần, khi chúng tôi được phép qua đêm bên ngoài ký túc, cái tên đó lại rời khỏi Trung tâm Đào tạo Việc làm, nói rằng sẽ về thăm trại trẻ mồ côi của mình. Vào một trong những thứ Bảy mà Kim Jeong Rye về trại trẻ mồ côi, khu ký túc bỗng náo loạn.

“Bánh mì biến mất rồi.”

“Tớ bị mất ví rồi.”

“Quần áo của tớ!”

Chúng tôi mở tủ của Kim Jeong Rye. Trống rỗng. Kim Jeong Rye liệu có đích thực là trẻ mồ côi? Cho dù có phải hay không thì Kim Jeong Rye cũng đã lấy cả kem dưỡng của chị họ và đến tận giờ điểm danh tối Chủ nhật, cô cũng không quay lại. Cô đã bỏ khóa huấn luyện. Cùng biến mất theo cô là bảy cái quần con mới và ba cái khăn tay mới của tôi, vốn được mẹ ra thị trấn mua và gấp lại cho thành những hình vuông nhỏ nhắn rồi cất chung với những đồ đạc khác.

Cho dù đến kỳ nghỉ cuối tuần, chị họ và tôi cũng chẳng có nơi nào để mà đi. Chúng tôi thậm chí còn chẳng biết ở phía bên kia những bức tường trung tâm, con đường dẫn đến chốn nào. Những người chẳng biết đi đâu thì chơi bóng chuyền trên sân thể thao. Chị họ và tôi nhập hội cùng họ, đuổi theo quả bóng. Khi mệt rồi, chị họ và tôi đến tắm ở phòng tắm công cộng bên trong trung tâm, chà lưng sạch sẽ cho nhau. Bình thường, chúng tôi chỉ được tắm trong một khoảng thời gian cố định, nhưng khi các học viên đã rời ký túc đi nghỉ cuối tuần, chúng tôi có thể tắm một cách thong thả và thoải mái. Tắm xong, chị họ nằm úp sấp trên sàn ký túc với khuôn mặt phủ một lớp dày kem dưỡng da mặt, viết thư cho bác. Tôi nằm bên cạnh, nhìn trân trân lên trần nhà trong lúc lấy chân đùa nghịch. Chân tôi không ngừng chọc vào chị họ. Bực mình, chị họ bảo tôi cũng viết thư đi. Tôi lật người nằm sấp và thì thầm vào tai chị.

“Em không viết thư mà sẽ viết một thứ khác.”

Chị họ nhìn tôi chằm chằm, đầu bút bi vẫn đặt trên giấy viết thư.

“Ý em là thứ gì?”

Tôi, mười sáu tuổi, thì thầm vào tai chị họ bí mật mà tôi chưa từng nói với bất kỳ ai trong suốt mười sáu năm cuộc đời mình.

“Kiểu như một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết ấy.”

Mắt chị họ trợn tròn.

“Ý em là em muốn thành nhà văn hả?”

Tôi, mười sáu tuổi, sợ chị họ đang nằm sấp trên sàn gỗ ký túc phớt lờ lời mình nói nên ra sức giải thích thêm. Rằng đây là chuyện tôi đã ấp ủ từ lâu, và rằng tôi chẳng thích làm gì khác. Chị họ nhấc cây bút từ xấp giấy viết thư đưa lên cằm, nghiêng đầu.

“Chị nghĩ là những người kiểu đó, bẩm sinh họ đã khác rồi ý?”

Sợ có khi chị họ sẽ nói, Bởi vậy em sẽ chẳng bao giờ thành nhà văn được đâu, nên tôi lại nói tiếp.

“Không phải họ bẩm sinh đã khác. Họ nghĩ khác thôi.”

Chị họ không nói gì, miên man suy nghĩ một lúc.

Tôi, mười sáu tuổi, sợ chị họ không hiểu ý mình, dịch lại gần chị hơn, mặt đỏ bừng lên.

“Cũng không khác gì chuyện chị muốn trở thành nhiếp ảnh gia, chụp ảnh những con chim ấy.”

Chị họ gấp lá thư lại cất vào trong tủ, rồi nằm xuống cạnh tôi, lúc này đang nằm duỗi thẳng lưng, mắt hướng lên trần. Chị họ nâng chân lên hướng về phía trần, hai mắt cá chân bắt tréo, mảnh khảnh.

“Em định viết về cái gì?”

Trong một thoáng, cái cào ở đáy giếng lướt qua trước đôi mắt mười sáu tuổi của tôi.

“Em vẫn chưa biết.”

Hôm đó, chị họ dịu dàng với tôi đến không tả nổi. Bị cuốn vào sự dịu dàng ấy, tôi kể lại cho chị họ nghe chuyện tôi bổ cái cào vào chân. Thậm chí tôi còn chỉ cho chị họ xem bàn chân tôi.

“Nhìn mà xem. Giờ nó lành rồi nhưng mỗi khi em đi bộ quá lâu, nó vẫn đau như là gân chân của em bị kéo ra ấy.”

Chị họ nhìn chăm chăm vào chân tôi rồi hỏi lại.

“Cái đó thì có liên quan gì đến việc muốn viết cơ chứ?”

Tôi, mười sáu tuổi, không còn biết nói gì nữa. Phải nói thế nào đây. Phải làm sao mới có thể giải thích với chị họ rằng, nếu không giữ một thứ gì đó sáng trong trong tâm hồn, tôi sẽ không có cách nào ngăn mình bổ cào xuống chân lần nữa? Dù sao đi nữa thì, tôi nói với chị họ.

“Đây là điều duy nhất sẽ bảo vệ em.”

Sau khi nhấn giọng một cách kỳ cục, tôi cảm thấy mình trở nên nực cười nên tìm cách nói thêm, Không cần lo về cái cào nữa đâu, em đã ném nó xuống giếng rồi. Chị họ ngồi dậy.

“Em bảo sao?”

“Cái cào. Em đã ném nó xuống giếng rồi.”

Chị họ nhìn tôi chằm chằm như thể hoàn toàn không hiểu gì.

“Cố ý?”

Tôi gật đầu.

“Sao em làm thế?”

Tôi không trả lời được. Tôi không biết phải giải thích thế nào. Rằng tôi chỉ sợ một ngày nào đó tôi sẽ lại lôi cái cào xuống khỏi tường chuồng gia súc, lại xới tung đống rơm đại mạch và lại bổ nó vào chân. Chị họ vẫn lộ rõ vẻ hoang mang khi nói với tôi bằng giọng nghiêm trang.

“Khi nào chúng ta về thăm nhà, em nên kể cho chú nghe để chú hút cạn giếng đi.”

“...”

“Nước đó chắc đã bị nhiễm bẩn lắm rồi. Em có nghĩ đến chuyện mọi người vẫn uống nước từ giếng không?”

Nước ư? Tôi, kẻ chưa một lần nghĩ đến chuyện cái cào sẽ làm bẩn nước như thế nào, câm lặng. Khi anh cả đến thăm và dẫn chúng tôi đến một hàng bánh gần cổng vào khu công nghiệp, chị họ chỉ tay vào tôi, lớn giọng thông báo.

“Nó bảo sẽ làm nhà văn đấy.”

“Nhà văn? Em á?”

Bởi anh cả cứ nhìn mình chằm chằm đầy nghi hoặc nên tôi quay sang lườm chị họ.

“Thì làm sao? Có phải bí mật gì đâu chứ?”

Anh cả dẫn chúng tôi tới một quán Tàu ăn mì đen rồi đi bộ hộ tống chúng tôi quay về Trung tâm Đào tạo Việc làm, tiễn chúng tôi vào trong với một túi đầy sữa, bánh ngọt và đủ thứ linh tinh. Rồi anh băng qua sân thể thao, mắt dán xuống mặt đất, cái lưng dài gù xuống biến mất qua cánh cổng trung tâm.

Cuối cùng, các câu văn của tôi bắt đầu thành hình. Ngắn. Rất đơn giản. Quá khứ trong thời hiện tại; hiện tại trong thời quá khứ. Rõ ràng. Như chụp ảnh. Để cánh cửa dẫn vào căn phòng hiu quạnh không đóng lại lần nữa. Để truyền tải sự cô độc của anh cả, khi anh mắt dán xuống mặt đất bước về phía cánh cổng trung tâm, vào các câu văn.

Khi tôi nghe Ha Kye Sook nói, rành mạch, Một cuộc đời khác với chúng tớ, tôi nhận ra chỗ thắt lại trong mình chính là trái tim. Trái tim tôi nhức nhối. Từng có một người khác nói điều này với tôi, không y hệt như câu nói của Ha Kye Sook, nhưng cũng cùng một nghĩa tương tự: Con khác với mẹ. Đó là mẹ tôi.

Một ngày nọ, mười sáu năm sau năm tôi mười sáu tuổi, tôi, giờ là một nhà văn, đang gấp rút viết bản thảo. Mẹ lên Seoul thăm tôi và cứ gợi hết chuyện này đến chuyện khác. Tôi bèn lấy từ trên giá xuống một cuốn sách mình viết và đưa nó cho mẹ.

“Mẹ đọc cái này một lát nhé. Con sẽ xong ngay thôi.”

Đến khi tôi xong việc thì đã thấy mẹ đang ngủ, cuốn sách của tôi úp trên mặt.

“Mẹ!”

Mẹ có vẻ áy náy vì đã ngủ thiếp đi thay vì đọc sách của tôi, lúc trả cuốn sách lại cho tôi mẹ có nói, Giờ con đã trở thành người khác mẹ rồi. Lúc đó tôi nghĩ lời mẹ, Con khác với mẹ, là lẽ đương nhiên và chẳng có gì để bàn cãi. Tất nhiên là chúng tôi khác nhau rồi. Mẹ sinh ra hồi thập niên 30 còn tôi sinh năm 1963. Nghĩa của từ “người khác” trong câu nói của mẹ, tôi cho là khoảng cách thế hệ. Nhưng không phải thế. Có một điều tôi đã không hề biết. Những con chữ mẹ có thể đọc được chỉ là những con chữ trong cuốn kinh của mẹ, và thực ra mẹ cũng chỉ mở nó ra để đó thôi, chứ mọi lời cầu nguyện đều đã được mẹ khảm vào trong trí nhớ hết cả. Điều này, mãi đến năm sau đó tôi mới được biết từ em trai tôi. Khi ấy em đang dạy chữ cho mẹ.

Suốt mùa xuân và mùa hạ, các câu văn rời khỏi tôi và chỉ còn lại giọng nói của cô ấy, như những giọt nước tong tong chảy vào ngực tôi.

“Cậu chẳng viết về chúng tớ gì cả.”

“Có lẽ nào cậu thấy xấu hổ vì đã có thời quá khứ đó?”

“Cậu, bây giờ như sống một cuộc đời khác với chúng tớ rồi.”

Mỗi khi tỉnh dậy sau một giấc ngủ trưa ngon lành, giọng nói của cô trăm lần như một lại biến thành nước đá và rơi từng giọt từ trên trần nhà, tong, tong, tong, xuống trán tôi. CẬU. CHẲNG. VIẾT. VỀ. CHÚNG. TỚ. GÌ. CẢ. CÓ. LẼ. NÀO. CẬU. THẤY. XẤU. HỔ. VÌ. ĐÃ. CÓ. THỜI. QUÁ. KHỨ. ĐÓ. CẬU. BÂY. GIỜ. NHƯ. SỐNG. MỘT. CUỘC. ĐỜI. KHÁC. VỚI. CHÚNG. TỚ. RỒI.

Anh cả đến thăm, nhìn chăm chăm vào một mẩu giấy trắng. Trên đó viết tên những công ty chúng tôi có thể vào làm sau khi hoàn thành khóa đào tạo. Sau một lúc lâu nhìn trân trối tên những công ty ấy, anh cả khoanh một vòng tròn vào cái tên Công ty cổ phần Điện tử Dongnam.

“Ít ra thì ở công ty điện tử công việc cũng sạch sẽ.”

Khi anh cả đưa cho tôi mẩu giấy đã được anh khoanh tròn đó, tôi, mười sáu tuổi, ngước mắt nhìn anh.

“Em nghe nói em không đủ tuổi nên sẽ phải kê khai giấy tờ bằng tên người khác.”

“Em bao nhiêu tuổi?”

“Mười sáu.”

Mười sáu, anh cả nhắc lại, vẻ mặt trở nên ủ rũ.

“Đừng lo. Anh sẽ xử lý việc này.”

Anh cả nhổm dậy khỏi cái ghế ở quầy bán đồ ăn nhanh, lấy tay phủi phủi quần áo.

Trong số những học viên ở trung tâm, có khoảng hơn hai mươi người đã chọn Công ty cổ phần Điện tử Dongnam. Đi từ không có bất kỳ mối liên kết nào, rồi cùng được đào tạo và cùng rời đến một nơi để làm việc, giữa chúng tôi đã nảy sinh một cảm giác thân thuộc. Nhóm hai mươi mấy người chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, nghĩ về Công ty cổ phần Điện tử Dongnam. Đó là nơi như thế nào, ở đó rồi sẽ xảy ra những chuyện gì.

Hôm chúng tôi rời khỏi Trung tâm Đào tạo Việc làm, thầy Kim đã viết một bài thơ lên tấm bảng đen trong giảng đường. Đẹp biết bao, bóng lưng của người biết rõ khi nào nên ra đi. Mái tóc xoăn của thầy. Thầy nắm viên phấn bằng bàn tay phải, tay trái đỡ lấy khuỷu tay phải. Một bài thơ buồn làm sao. Chị họ nhòe nhoẹt nước mắt. Thầy Kim đọc bài thơ cho chúng tôi nghe và chào tạm biệt. Các em là niềm hy vọng của nền công nghiệp nước nhà... Mái tóc xoăn, cuối cùng cái từ “công nghiệp” cũng buông ra từ miệng thầy. Niềm hy vọng của nền công nghiệp nước nhà. Giờ đây các em sẽ rời khỏi nơi này và bắt đầu làm việc kiếm sống. Chỗ làm việc của các em sẽ là nền móng cuộc đời các em... Tuy chỉ sống bên nhau chừng một tháng, nhưng các học viên chúng tôi vẫn viết tên mình và tên các công ty mình sẽ đến làm việc rồi trao đổi cho nhau. Chúng tôi chia tay nhau. Thầm nhắc lại trong lòng, Đẹp biết bao, bóng lưng của người biết rõ khi nào nên ra đi.

Công ty cổ phần Điện tử Dongnam nằm trong Khu Liên hiệp Công nghiệp Guro số 1.

Chúng tôi, hơn hai mươi học viên được phân về Công ty cổ phần Điện tử Dongnam, giờ bước chân từ cổng khu công nghiệp vào hẳn bên trong khu công nghiệp. Sau khi được phân vào công ty, chúng tôi được nghỉ phép một tuần. Anh cả dẫn chị họ và tôi tới căn phòng anh thuê trong khu nhà riêng của Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3, gần ga tàu điện ngầm.

Ngôi nhà ấy vẫn còn ở đó chứ? Ngôi nhà tôi chưa từng quay trở lại kể từ khi rời đi. Các căn phòng trong ngôi nhà đó. Không chỉ ngôi nhà đó, không chỉ căn phòng đó, mà thậm chí cả khu vực quanh đó tôi cũng không một lần quay trở lại, nhưng nó vẫn sống động như một bức ảnh được bảo quản cẩn thận, hiển hiện rõ rệt trong tâm trí tôi, căn phòng trong ngôi nhà đó.

Đường tàu hỏa quốc gia hướng Suwon sau khi đi qua ga tàu điện ngầm của khu ấy sẽ chạy vào tỉnh Gyeonggi. Nếu đến Suwon bằng tàu điện ngầm thì ga tàu điện ngầm đó chính là ga cuối cùng của Seoul. Sáu năm trước tôi đã viết thế này. Rằng ga tàu điện ngầm nơi các chuyến tàu hỏa hướng Suwon đi qua là nơi bắt đầu của khu ấy. Rằng từ ga tàu điện ngầm, con đường rẽ thành ba ngả. Rằng mặc dù con đường rẽ thành ba ngả nhưng có đi theo ngả nào, nó cũng sẽ đưa bạn đến với khu công nghiệp. Rằng duy nhất chỉ có con đường bên trái đi qua ngôi nhà đó là còn rẽ vào một con hẻm nằm giữa hiệu ảnh và quán trà Đồng Lúa Mạch, và nằm hai bên con hẻm là nhiều ngôi nhà khác. Rằng tuy vậy, khi rời khỏi con hẻm nằm giữa các ngôi nhà và băng qua cầu đi bộ dẫn tới chợ thì ở phía cuối chợ, sẽ lại là khu công nghiệp. Ngôi nhà gồm ba mươi bảy phòng, những căn phòng nằm trong lòng một mê cung. Căn nhà gạch đỏ ba tầng, nơi mà sau khi leo lên cầu thang bước hết hành lang ngoằn ngoèo đâm sâu vào trong góc, tưởng chừng như đã cùng đường thì hóa ra vẫn còn thêm một phòng nữa, nối sát với một căn bếp nhỏ.

“Đến rồi đây.”

Anh cả dẫn chị họ và tôi đi qua cánh cổng để mở. Đến rồi đây - giọng anh cả giờ đây chảy vào tai tôi, y hệt như hồi đó. Kia rồi. Một trong số ba mươi bảy phòng, căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Ngôi nhà bị chặn trước chặn sau bởi những ngôi nhà khác cũng nhiều phòng chẳng kém, nhưng chỉ cần mở cửa sổ là chúng tôi có thể nhìn thấy cơ man nào là người đang túa ra từ ga tàu điện ngầm. Con hẻm hoặc cầu đi bộ dẫn tới hàng tạp hóa nhỏ hay cổng vào khu chợ lúc nào cũng đông nghịt người, nhưng chẳng hiểu tại sao, cả hồi đó lẫn bây giờ, bất cứ khi nào nghĩ về căn phòng đó, suy nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu tôi luôn là nó quá sức tách biệt, quá cô đơn, chúng tôi, đã sống ở đó đơn độc và hiu quạnh.

Tôi lại viết tiếp. Rằng cách ba mét kể từ cầu thang dẫn lên tầng hai, nhìn từ trên xuống sẽ thấy nằm giữa sân phủ xi măng có một cái vòi nước cắm trực tiếp xuống mặt đất. Bên trái cầu thang là hai cánh cửa gỗ màu vàng. Rằng ô kính của hai cánh của gỗ ấy ken đặc bụi. Rằng, được viết bằng sơn trắng bên dưới lớp bụi đó là hai chữ Nam và Nữ. Rằng mỗi sáng, mọi người trong nhà sẽ qua lại quanh cái vòi nước, lóng ngóng trước mặt nhau, làm vẻ như thể mỗi người đang ở đó chờ một việc nào đấy khác. Rằng đây là khoảng thời gian duy nhất họ có thể nhìn mặt nhau. Họ thậm chí còn không cả giả bộ mỉm cười. Rằng sau cánh cửa thứ hai bên phải cầu thang... là nơi chị Hee Jae sống, một mình.

Hee Jae... cái tên đó, cuối cùng cũng bật ra. Chúng tôi, cùng với chị Hee Jae, tạo thành một bức tranh sinh hoạt của nguồn lao động chính khu công nghiệp những năm cuối thời Duy tân. Họ của chị ấy là gì nhỉ. Tôi đang xem một bộ sưu tập các bức tranh sinh hoạt của Kim Hong Do. Thật thần kỳ biết bao khi Kim Hong Do chỉ cần ngồi hướng ra đường, bến phà, trường làng, quán rượu hay bãi đấu vật, khu giặt giũ bên bờ nước, rồi nhấc cây cọ vẽ lên là những con người của thời ấy được khắc họa trên các bức tranh của ông còn chân thực hơn cả ngoài đời. Sao người ta có thể đạt đến trình độ nghệ thuật như thế nhỉ, không ai là không vỗ tay ca ngợi ông. Không biết ông sẽ phác họa chân dung chị Hee Jae như thế nào?

Các nhân vật trong tranh sinh hoạt hầu hết đều được khắc họa qua dáng dấp cử chỉ, nhưng chị Hee Jae sẽ được khắc họa bằng một nụ cười mơ hồ. Tôi nghĩ đến những bức tranh sinh hoạt từ thời Goguryeo xa xưa. Những bức tranh trên vách mộ vẽ cảnh săn bắn, chiến đấu, nhảy múa, đấu vật, nhào lộn. Và cảnh những máy xay lúa, những cửa hàng thịt, những chuồng ngựa, chuồng bò. Chúng tôi, chị Hee Jae, không thể được đặt vào trong một bầu không khí hoạt động sôi nổi và những nét cọ đầy uy lực. Chúng tôi, chị Hee Jae, đứng trước băng chuyền chuyển động liên tục, hoặc trước cây kim máy khâu luôn được xâu chỉ sẵn, đôi mắt chúng tôi mệt mỏi, không bao giờ tròn xoe hay mở to, không có đời sống tinh thần tràn ngập niềm vui, tiếng cười hay dạt dào những cảm xúc, chúng tôi tồn tại như những cái bóng nhợt nhạt, họa hoằn lắm mới có cơ hội tắm nắng trên mái nhà vào giờ nghỉ trưa. Theo dòng lịch sử thời trang, chúng tôi sẽ mặc bộ đồ lao động màu xanh dương nhăn nhúm sau lưng.

Không thể chịu đựng nổi, tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi.

Xem này, tôi đang bỏ chạy. Tôi tóm lấy chính mình đang chạy. Ngồi xuống đi, ngươi không trốn chạy thêm được nữa đâu. Dù là hồi đó hay bây giờ, hay đến bất cứ khi nào. Ngồi xuống đi.

Giữa những ngày cô độc trong bức tranh sinh hoạt ấy, hình ảnh thường được tôi chật vật khơi dậy trong tâm trí mình chính là những con chim trong cuốn sách ảnh chị họ đã cho tôi xem vào cái đêm lên thành phố, dưới bầu trời đêm xa xăm, những con chim đang say ngủ, mặt hướng lên các vì sao, cao vời và đẹp đẽ. Tôi đã cố sống qua quãng thời gian trong bức tranh sinh hoạt bằng cách nỗ lực hết sức tự hứa với lòng mình rằng, một ngày nào đó, tôi sẽ đi để tận mắt nhìn thấy những con chim ấy. Nhiều năm tháng sau này, ngay cả khi cô đơn giữa những mệt mỏi của việc sống qua ngày và sự thiếu vắng những mối liên hệ với con người, tôi vẫn không bao giờ từ bỏ suy nghĩ rằng một ngày nào đó, tôi sẽ đi để được tận mắt nhìn thấy những con chim trong cuốn sách ảnh của chị họ đêm hôm đó, những con cò bạch. Trong rừng, trong khu rừng đã được phủ tấm màn đêm, đàn cò bạch tựa vào nhau san sát, trùm giấc ngủ lên khắp khu rừng một cách tuyệt đẹp, như thể chúng đã tha thứ cho hết thảy mọi sự trên đời. Một ngày nào đó, với cánh tay rung rung trên bệ cửa sổ toa tàu, tôi sẽ vượt sang phía bên kia ngọn núi đang chặn ngang trước mắt - càng vào những ngày tháng buồn bã và cô độc tôi lại càng thầm nhủ với lòng mình như thế, không để bất kỳ ai hay.

Mười sáu năm đã qua kể từ lời hứa đó.

Tôi vẫn chưa thể thực hiện hành trình đến ngắm nhìn đàn chim ấy. Không phải tôi đã quên. Ngược lại là đằng khác... mỗi một năm qua đi, những con cò bạch hiện lên càng rực rỡ hơn trong trái tim tôi và lại càng có thêm nhiều ngày tôi khắc cốt ghi tâm lời hứa đó. Ngay cả khi đang xoa bóp đôi bàn chân mỏi mệt của mình, tôi cũng sẽ nghĩ đến khu rừng tôi vẫn chưa ghé thăm và đàn cò bạch say ngủ với khuôn mặt hướng lên các vì sao, và như thế, bất cứ điều gì, từ sự kiệt sức mà cơn mệt mỏi mang lại hay cả những niềm vui hiếm hoi tìm đến với tôi cũng đều có thể trở nên yên ả. Ngay cả những bất hạnh đắng cay và nỗi cô độc như mưa rét rơi từ ngày này sang ngày khác - chẳng hiểu sao tôi cũng thấy chỉ còn là phù du, và sức mạnh kia lại giúp tôi đón chào ngày mới và tiếp tục sống.

Nhưng bây giờ, cái tên này, chị Hee Jae - có phải đàn cò bạch cũng đã bay vào trong nỗi buồn xa xăm do thiếu vắng chị hồi ấy; và cũng có phải ngay từ hồi ấy, tôi đã kịp khắc cốt ghi tâm lời hứa một ngày nào đó sẽ đến thăm khu rừng?

Tôi, mười sáu tuổi, bước vào trong căn phòng hiu quạnh và mở cửa sổ. Mắt tôi mở to tròn xoe. Có phải con tàu vừa đến đúng lúc tôi mở cửa? Cửa sổ, to cỡ một tấm vải bọc, trông ra ga tàu điện ngầm qua bãi đất trống, và một dòng chảy những người chỉ còn nhìn rõ mái đầu, nhấp nhô tuôn trào ra ngoài. Đến tận khi mọi người leo lên cầu thang ga tàu điện ngầm và ùa ra trước ngã ba đường như một cơn thủy triều đang dâng, cũng chẳng thể nhìn thấy gì khác ngoài những mái đầu của họ. Tuy nhiên, trong vòng chưa đầy năm phút, dòng người đã biến đâu hết và ngã ba đường vắng tanh. Rất nhiều những con người đó, họ đã đi đâu vậy? Tôi vừa lắng nghe tiếng chị họ mở cánh cửa sổ nhỏ trong bếp vừa đứng nhìn dòng người đông nghịt bốc hơi sạch sẽ chỉ sau năm phút, cứ như thể chỉ là một giấc mơ. Chị họ và tôi, mười sáu tuổi, quét dọn lau chùi căn phòng hiu quạnh. Chúng tôi quét hết những dấu vết người trọ cũ để lại cho vào trong thùng rác, nhặt viên gạch đỏ có vẻ như từng được dùng để đôn cái tủ chạn, cùng những mẩu giấy ăn rải rác trên gác mái, và đem những cái bếp dầu cũ bị vứt xó ra ngoài.

Anh cả đặt một ít tiền vào bàn tay mười chín tuổi của chị họ.

“Hỏi bà chủ nhà đường đến chợ rồi đi mua những thứ cần thiết về nấu cơm ăn.”

Sau khi anh cả đi, chị họ và tôi nằm sấp trên sàn viết lên một tờ giấy trắng những thứ cần thiết để nấu cơm ăn như lời anh cả nói. Một cái nồi, một cái lọc, một bát để vo gạo, ba bát nhỏ, ba bộ thìa đũa, năm đĩa, một bếp dầu, ba bát ăn cơm, ba bát đựng canh... Chị họ và tôi men theo con hẻm đến chợ, nghe nói nằm ở phía bên kia cầu vượt, và mua những đồ dùng trong danh sách. Đồ đạc của anh cả đã được chuyển từ phòng trực đêm ở Ủy ban phường Yongmun tới căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Một cái bàn và một cái ghế. Bên trong va li của anh là Tổng tập Sáu Bộ Luật Chính và các sách về luật hình sự. Mở cái túi nhỏ ra thì thấy đống quần áo lót cần mang đi giặt của anh cả được vo tròn nằm trong đó. Sau khi nhìn một lượt quanh phòng và bếp, anh cả rời nhà lần nữa rồi quay trở lại mang theo một bao gạo, một cái chạn bát nhỏ và một tủ quần áo bằng nhựa vinyl. Anh nối các thanh đỡ kim loại để dựng tủ quần áo cạnh bàn và bảo chúng tôi treo quần áo trong túi lên. Chúng tôi lại rời nhà thêm lần nữa để mua bộ chăn đệm. Anh cả đi chợ theo đúng cái kiểu anh đã băng qua sân thể thao để rời Trung tâm Đào tạo Việc làm, vừa đi mắt vừa dán xuống đất. Thỉnh thoảng, một tiếng thở dài, phù, lại buông ra khỏi miệng anh. Chúng tôi mua đệm trải sàn, chăn vải sợi acrylic và ba cái gối, rồi chia mỗi người cầm một cái. Anh cả chỉ nói khi cần và thậm chí còn chẳng mỉm cười. Tối nay ra ngoài ăn nhé. Anh dẫn chị họ và tôi ra con ngõ bên ngoài căn phòng hiu quạnh và đãi chúng tôi món sườn lợn nướng. Anh không ăn. Anh nhìn chị họ và tôi ăn sườn lợn nướng với vẻ mặt vừa như giận dữ tột độ vừa như không còn chút sức lực gì.

Tuổi tác không phải lúc nào cũng tăng theo chuỗi số tuần tự. Người ta có thể một ngày nào đó biến từ mười sáu sang ba mươi hai tuổi. Chính vào cái ngày đó ở nhà hàng đó, tôi, mười sáu tuổi, đã đột ngột thành ba mươi, hay ba mươi hai tuổi. Vào cái ngày tôi nhìn anh cả ngồi rã rời trong khói sườn nướng, đãi chị họ và tôi bữa sườn trong khi chính anh không ăn dù chỉ một miếng, tôi tin rằng tôi đã ba mươi hai, đúng bằng tuổi của tôi bây giờ.

Trong kỳ nghỉ một tuần, chúng tôi dành năm ngày quay về quê. Đây là lần đầu tiên tôi từ Seoul quay trở về quê. Vì chị họ và tôi chỉ biết mỗi đường đi lối lại loanh quanh giữa trung tâm đào tạo và căn phòng hiu quạnh nên anh cả đã đi cùng mua vé cho chúng tôi và dẫn chúng tôi vào chỗ ngồi, mua cho chúng tôi một ôm bánh và nước ngọt để ăn trên tàu.

Bây giờ, bên ngoài những con chữ, tôi cảm thấy một nỗi đau nhức nhối trong tim.

Hồi đó, chuyện ăn uống là cả một vấn đề lớn, thế mà anh cả, vào hồi đó, không ngừng mua đồ ăn cho chúng tôi. Ở nhà hàng đối diện Ủy ban phường, anh đãi chúng tôi món canh giá đỗ; ở quầy bán đồ ăn nhanh của Trung tâm Đào tạo Việc làm, anh đãi chúng tôi bánh ngọt và sữa; còn trước căn nhà chúng tôi thuê trọ, anh đãi chúng tôi món sườn lợn nướng... Anh mới chỉ hai mươi ba tuổi. Một chàng thanh niên luôn tất bật, ban ngày làm việc ở Ủy ban phường, buổi tối đi học. Chị họ lên tàu trước, anh cả đặt một ít tiền vào tay cô em gái mười sáu tuổi của anh. Bảo, Em về nhà mua một tút thuốc lá cho bố, nửa lạng thịt, và quà bánh cho em trai.

Mẹ đang chuẩn bị mang hộp cơm trưa có đựng bát ăn cơm băng qua đường ray tàu hỏa đến cho bố. Lúc nhìn thấy tôi bước vào cổng, hộp cơm trưa rơi khỏi tay mẹ. Từ trong phòng nghe thấy tiếng chị, em trai đẩy cửa mở toang. Chị ơi! Chân trần chạy ra ngoài, em trai bảy tuổi bám lấy cánh tay chị mười sáu tuổi.

“Chị vừa đi đâu về thế?”

Mẹ giàn giụa nước mắt.

“Chị đừng đi nữa, nhé?”

Em trai nhảy phốc bám lên lưng chị.

“Xuống đi, đau lưng chị bây giờ.”

Em trai vẫn ngoan cố không chịu thôi.

“Từ giờ chị đừng đi đâu nữa, nhé?”

Em trai siết chặt vòng tay thơ bé quanh cổ chị. Mẹ nhặt hộp cơm trưa lên.

“Con đi rồi, thằng bé gào khóc thảm thiết, cứ hỏi con đi đâu. Lần này lại phải làm sao để dỗ nó đây?”

Tôi theo mẹ mang hộp cơm trưa cho bố, cõng theo em trai trên lưng.

“Sau khi con đi, ông ấy đóng cửa hàng mất ba ngày, cứ nằm lì trong phòng thôi.”

Bố ư? Dáng bố đứng thất thần trong bóng tối hôm đó hiện lên làm sống mũi tôi không khỏi cay cay. Nhưng bố không bộc lộ chút gì ra ngoài với tôi. Con đấy à, bố chỉ nói có thế. Nghe được câu này, nỗi day dứt trong tim tôi cũng vơi bớt. Buổi tối, bố trở về ngôi nhà ở trong làng. Mẹ đã đến nhà chị dâu mẹ ở thị trấn để làm giỗ bà ngoại. Tuy chẳng mấy khi nấu ăn nhưng bố nấu rất ngon. Mẹ bảo, đồ bố nấu ngon vì bố rất phóng tay, chẳng tiết kiệm gia vị gì hết.

“Hễ bố con mà vào bếp một lần là y như rằng hết sạch gia vị đủ dùng cho mười ngày. Dùng đến bằng ấy gia vị thì làm sao thức ăn ông ấy nấu lại có thể không ngon cơ chứ.”

Bố nhúng những dải thịt thái dài vào trong sốt gia vị màu đỏ được chế biến từ hành, tỏi, bột ớt, muối vừng, dầu vừng rồi bỏ lên vỉ nướng cho chúng tôi. Anh thứ giờ đang học sĩ quan còn anh ba đang ở trọ tại Jeonju. Như những con chim non, em gái, em trai và tôi nhai tem tép thịt lợn tẩm sốt gia vị bố nướng cho. Bố nói mai bố sẽ nấu mì tương đen cho tôi. Tôi vừa đáp, Được đấy ạ, bố liền nói tiếp, Mặt con hốc hác quá.

Anh ấy, người tôi đã gặp vào mười sáu năm sau, sẽ không biết được rằng mỗi khi anh làm cơm rang kim chi trong bếp của tôi, tôi lại nghĩ về bố hồi đó. Anh lấy một ít kim chi chua từ tủ lạnh ra, đặt lên thớt thái thành từng miếng nhỏ, rồi đun một cục bơ tan trên chảo nóng. Áp hai ngón tay lại, anh bảo, Có miếng thịt bò thái nhỏ cỡ này nữa thì tốt. Vừa lấy thịt bò ra khỏi ngăn đá, tôi vừa bật cười rúc rích sau lưng anh, đương rán thịt bò trên chảo, anh bèn dừng lại hỏi tôi cười gì vậy. Tôi trả lời, Cười thế thôi. Chỉ là em thấy hạnh phúc.

Chỉ khi nấu nướng, bố mới thôi nghĩ xem người khác nghĩ thế nào về bố.

Ngay khoảnh khắc này, viết văn khiến tôi hạnh phúc.

Chỉ khi nấu nướng, bố mới thôi nghĩ xem người khác nghĩ thế nào về bố, tôi viết, và cảm thấy hạnh phúc. Vì có lẽ tôi là người duy nhất trong gia đình có thể miêu tả bố thế này. Nếu phát hiện ra tôi viết về bố như thế, chắc mẹ sẽ quắc mắt lườm tôi. Bảo, Nếu nghe nói bố mày vào bếp nấu nướng, khéo người ta lại chẳng coi thường bố mày.

Tôi men theo con đường rất hẹp của lối sống gia đình tôi, một lối sống đậm chất thôn quê có thể thấy ở bất kỳ nơi đâu khắp đất nước này. Trên con đường ấy, tôi bắt gặp một cảm giác kỳ dị. Tôi không bao giờ nghĩ gia đình tôi nghèo khó. Tôi chưa từng cảm thấy chúng tôi sống dư dả, nhưng chúng tôi không hề nghèo. Càng tiến xa hơn trên con đường hẹp này, tôi càng bớt nghèo hơn. Vào các dịp lễ, mẹ luôn lấy ra các bộ quần áo mới đã chuẩn bị sẵn cho chúng tôi (rất nhiều đứa trẻ không được sắm quần áo mới vào dịp lễ tết); mua giày thể thao mới cho chúng tôi (nhiều đứa trẻ đi khắp nơi bằng giày cao su); không để tôi ra đồng (nhiều đứa trẻ phải phơi mặt đen sạm làm việc ngoài đồng), làm tất cả những gì có thể cho chúng tôi tiếp tục được học lên mỗi khi chúng tôi tốt nghiệp (rất nhiều đứa trẻ chỉ được học hết cấp một). Bởi vậy mà nhiều bà mẹ khác trong làng đôi khi vẫn bảo mẹ tôi là người hoang tàn một cách phi lý. Còn bảo rằng mẹ không biết thân biết phận. Thế nhưng, ngọn nguồn hạnh phúc của mẹ chính là nỗ lực chu cấp cho chúng tôi những thứ đó và mẹ không dễ gì từ bỏ nó. Tôi luôn là người gây ưu tư cho mẹ. Nhưng chuyện này chẳng phải lỗi của mẹ hay của tôi. Chỉ là khi tôi học xong cấp một và chuẩn bị tiếp tục học lên cấp hai thì cũng đúng lúc anh thứ sắp vào cấp ba, trong hoàn cảnh gia đình chỉ đủ tiền chi trả học phí cho một đứa con, tôi thành ra lỡ dở. Nhưng ngay cả khi đó, mẹ cũng vẫn để tôi đến trường. Bằng cách bán chiếc nhẫn duy nhất mẹ đeo trên tay. Khi tôi sắp lên cấp ba, đến lượt anh ba chuẩn bị thi đại học và em gái vào cấp hai. Anh cả suy tính mãi, cuối cùng tuyên bố rằng sẽ đưa tôi lên Seoul. Anh bảo, đằng nào chẳng bao lâu nữa những đứa em khác cũng sẽ lên Seoul học đại học, để tôi lên sớm sống cùng anh ổn định trước thì hơn... Mới hai mươi ba tuổi, anh cả đã biết cách làm thế nào để tránh cho nguồn hạnh phúc của mẹ sớm tan tành mây khói.

Suốt mấy ngày nghỉ, bất cứ khi nào có cơ hội, tôi, mười sáu tuổi, lại lởn vởn quanh cái giếng. Tì tay lên miệng giếng, tôi nhìn chằm chằm xuống lòng giếng. Cái giếng sâu, sâu hun hút, tôi không nhìn thấy cái cào đã chìm nghỉm dưới đáy nước. Tôi không thể rũ bỏ khỏi tâm trí lời chị họ đã nói, hẳn nước đã bị nhiễm bẩn rồi, nhưng tôi cũng không thể tự mình nói với bố rằng tôi đã ném cái cào xuống giếng, rằng cần phải hút cạn nước giếng ra.

Theo bản năng, em trai để ý đến mọi dấu hiệu báo trước chuyến quay lại thành phố sắp tới của tôi. Em trai bám theo từng bước chân của chị gái mười sáu tuổi. Để tìm mẹ đang ở trên ruộng núi, tôi dẫn cả em trai lên cùng. Vừa qua một trận mưa, ngọn núi tràn ngập mùi cây. Cây phỉ, cây thông, cây sồi, cây hạt dẻ. Đất vàng bám vào đế giày tôi.

Tôi lớn lên dưới chân ngọn núi này. Đối diện với những cánh đồng kia. Tôi trưởng thành giữa những cơn mưa mùa hè như trút nước và những trận tuyết mùa đông dài dặc. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn chẳng thể nào hiểu được khi nghe ai đó nói rằng đối diện với thiên nhiên giúp tâm hồn người ta trở nên tự do và yên bình. Đối với tôi, thiên nhiên, xét ở một chừng mực nào đó, khiến người ta kiệt sức, và xét ở một chừng mực khác, khiến người ta sợ hãi. Tôi đã thấu hiểu thiên nhiên sâu sắc từ chính máu thịt dưới da. Khi tôi đào khoai tây, giun đất bò ra, còn khi tôi trèo lên cây hạt dẻ, sâu bướm châm chích. Những cây bụi chọc xước cánh tay tôi, nước suối trong thung lũng khiến tôi trượt chân. Tôi thích các hang động và các ngôi mộ, nhưng khi tôi vào trong động, bầy dơi bung cánh đầy hiểm ác, còn nếu tôi nằm quá lâu trên mộ, mặt trời thiêu đốt mặt tôi, đau rát. Dẫu vậy, tôi vẫn thích những lúc ở giữa thiên nhiên hơn là khi ở trên đường phố hay trong nhà. Bởi vì so với ở trong nhà, khi ở giữa thiên nhiên có nhiều thứ khiến trái tim tôi đập rộn rã hơn cả. So với ở nhà, ngoài thiên nhiên có nhiều thứ bị cấm đoán hơn. Ở chốn bị cấm đoán, những đau thương luôn cùng cảm giác mê say ngự trị. Khuỷu tay hay đầu gối có thể dần dạn dày với các vết thương nhưng không bao giờ chai lì với thiên nhiên. Bão táp và mưa lớn chỉ trong nháy mắt đã xói mòn những cánh đồng, mảnh ruộng bố mẹ tôi chăm bón, những trận tuyết dài dễ dàng bẻ răng rắc những cây cao lớn trong núi. Trong khoảnh khắc sức người trở nên bất lực. Mùi mục nát độc địa thấm đẫm trong cái vẻ dương dương tự đắc của thiên nhiên. Trước quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tâm hồn tôi hoàn toàn không thể trở nên tự do và nỗi sợ hãi còn sót lại lôi tôi xuống khi tôi chỉ đang gắng sức phóng lên tìm sự an ủi. Thiên nhiên nhắc tôi nhớ rằng tôi là một con người. Rằng tôi là một con người yếu ớt đang đứng chống lại thiên nhiên đầy hiểm họa. Dẫu vậy, tôi vẫn thích đi bộ trên những con đường mòn hay giữa những vách đá dẫn tới ruộng ngô và thung lũng. Tôi sẽ không bao giờ biết lúc nào mình sẽ đụng phải rắn độc, nhưng cánh tay tôi vẫn nhớ cảm giác khoan khoái trên làn da khi ngọn gió thổi xuyên qua những cánh đồng vừng.

Tôi chìa lưng ra ngỏ ý muốn cõng em trai chân vẫn còn nhỏ, nhưng em lắc đầu. Em chỉ nhất định không chịu thả tay tôi ra. Dường như trong suy nghĩ của em, chỉ cần bám theo đến bất kỳ nơi nào thì em sẽ không bao giờ phải chia xa chị.

Mẹ đứng phía bên kia cơn gió. Mẹ đang gieo mầm hạt tiêu trên cánh đồng dưới chân ngọn núi thoai thoải. Thiên nhiên hẳn phải e sợ mẹ. Ngay cả khi cơn bão đêm phơi trần những gốc mạ non, trời vừa hửng, mẹ lại lôi lại nhấc từng gốc mạ dậy, lấy dây buộc để chúng đứng thẳng trở lại. Cho dù chúng có bốc mùi hôi thối mục rữa kinh khủng đến mức nào đi chăng nữa, mẹ vẫn bổ cái cào xới tung chúng lên, rồi phơi khô chúng làm phân bón. Cho dù mặt trời đổ xuống người mẹ chói chang đến thế nào chăng nữa, mẹ vẫn chịu đựng ánh nắng gay gắt, nhặt những hạt tiêu đã chín đỏ.

Hôm tôi lên đường quay lại thành phố, mẹ đưa em trai cứ nằng nặc không chịu rời tôi đến nhà bác. Ở đây một lát nhé, mẹ sẽ dẫn chị đến. Mẹ để em trai lại nhà bác rồi về tiễn tôi. Đi mau thôi. Tôi, mười sáu tuổi, xách túi hành lý đã được mẹ đóng gói cho, quay trở lại thành phố. Tôi ngoái nhìn về phía ngôi nhà của Chang, gượng gạo.

Có lẽ nguyên nhân khiến tôi hoang mang không phải vì việc đột ngột ra thành phố mà bởi thân phận của chúng tôi ở thành phố. Ở nông thôn, nơi nhiều giỗ chạp, chúng tôi là nhà có đồ ăn dư dả hơn bất kỳ gia đình nào khác, là nhà nằm chính giữa làng và có sân lớn nhất vùng, là nhà có nhiều hũ tương, nhiều gà, nhiều vịt, nhiều xe đạp nhất. Nhưng lên thành phố, chúng tôi thuộc tầng lớp thấp kém. Anh cả đã bị đặt vào giữa sự đối ngược này, và giờ thì tôi, mười sáu tuổi, cũng sắp bước chân vào giữa sự đối ngược ấy.

Nhà máy rộng mênh mông. Dường như có tới hơn một nghìn nhân viên. Nhìn từ cổng chính vào, tòa nhà được xây theo hình chữ ㅠ. Trong khu kiến trúc hình chữ ㅠ ấy, tòa nhà ba tầng lớn cỡ một ngôi trường là khu Ti Vi còn tòa nhà một tầng là khu Stereo. Những nhân công mới đến từ Trung tâm Đào tạo Việc làm được chia làm hai khu. Chị họ và tôi đứng thành một hàng để tránh bị tách nhau ra. Trước khi chúng tôi được phân vị trí công việc, người quản lý vận hành tuyên bố rằng trưởng phòng hành chính sẽ có lời chào mừng. Trưởng phòng hành chính có dáng người bệ vệ, sau màn chào mừng còn nói thêm rằng chúng tôi không được phép gia nhập Công đoàn lao động. Ông ta còn nói rằng nếu có đồng nghiệp nào gia nhập công đoàn chúng tôi cũng phải báo với ông ta. Công đoàn? Tôi chưa bao giờ nghe thấy từ này nhưng có lẽ bởi khẩu khí của ông ta mà trong tôi dấy lên cảm giác sợ hãi. Đó là chỗ làm gì mà chúng tôi không được đăng ký và nếu có người đăng ký cũng phải báo lại cho ông ta?

Như đã hy vọng, chị họ và tôi ở cùng nhau, cả hai đều được phân đến khu Stereo. Ở khu Stereo có ba dây chuyền sản xuất. Dây chuyền A, dây chuyền B, dây chuyền C. Và dây chuyền Chuẩn bị. Chị họ và tôi, quyết tâm không để bị chia vào hai dây chuyền khác nhau, lại nắm tay đứng sát cánh bên nhau. Chúng tôi cùng được phân vào dây chuyền A. Ngay cả khi chúng tôi đứng nắm tay nhau, băng chuyền vẫn quay không ngừng. Tôi được phân vào vị trí số 1 trên dây chuyền A. Chị họ ở số 2. Quản đốc ngồi cạnh ghế của tôi, hướng dẫn những nhiệm vụ mà vị trí số 1 cần phải thực hiện. Công việc của tôi là lấy các tấm bảo vệ phần lõi của dàn stereo từ dây chuyền Chuẩn bị và lắp bảy cái đinh ốc giữ cố định lớp vỏ nhựa PVC bằng đầu vặn dùng khí nén. Vì mỗi lỗ yêu cầu một cái đinh ốc kích cỡ riêng nên tôi phải ghi nhớ vị trí lắp của từng cái đinh ốc một. Mỗi lần đinh ốc được lắp vào, tôi lại giật mình bởi luồng gió phụt ra từ đầu vặn dùng khí nén, khiến cho tốc độ làm việc của tôi vốn đã chậm sẵn lại càng thêm chậm. Chỉ khi tôi đã kết thúc phần việc ở số 1 thì theo băng chuyền, số 2 mới có thể làm phần việc của mình. Tôi và chị họ tôi ở số 2 cách nhau tầm hai mét. Quản đốc nói tôi phải điều chỉnh nhịp độ của mình sao cho các tấm nhựa đã được cố định hết đinh ốc sẽ liên tục trôi không ngừng nghỉ qua khoảng cách này. Hôm đầu tiên, tôi đã quá chú tâm cố gắng duy trì nhịp độ và bỏ đinh ốc vào đúng chỗ đến nỗi thậm chí còn chẳng nghe thấy tiếng chuông báo hết giờ làm. Vì đứa công nhân học việc là tôi đây làm việc quá chậm chạp và thường xuyên bỏ đinh ốc vào nhầm vị trí, nên một trong những công nhân lành nghề thuộc dây chuyền có nhiệm vụ kết nối các bộ phận khác với những đinh ốc tôi lắp đã phải liên tục mang lại những tấm nhựa tôi làm trả cho tôi, chỉ ra chỗ lắp đinh ốc sai. Quản đốc bực mình, thường xuyên đứng ngay sau tôi. Cảm nhận được ánh mắt giám sát của ông ta sau lưng, tay chân tôi càng trở nên rề rà hơn nữa. Sốt ruột, có khi quản đốc còn giằng cái đầu vặn dùng khí nén ra khỏi tay tôi rồi tự mình lắp đinh ốc vào, hoặc mang tấm nhựa từ dây chuyền Chuẩn bị chồng đống lên bên cạnh tôi, nhưng hôm đó, số dàn stereo được khu Kiểm tra duyệt ít hơn ngày thường phải trên mười bộ. Vì sản lượng của chúng tôi ít hơn dây chuyền B và dây chuyền C nên đến cuối ngày, nhóm dây chuyền A chúng tôi bị quản lý vận hành khiển trách một hồi.

Một bức thư được chuyển đến căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Thư của Chang gửi từ quê. Khi thấy tên người gửi là Chang, mặt tôi thoắt đã đỏ bừng. Chang là cậu bạn sống ở ngôi nhà cuối con đường mới lát trong làng chúng tôi. Bên ngoài cổng nhà Chang, mỗi mùa lại có các loài hoa khác nhau đua nở. Hoa đầu xuân, hoa đỗ quyên, hoa phấn, hoa bướm. Chang viết:

Tớ nghe em gái cậu bảo cậu đã chuyển tới Seoul. Đã hơn hai tháng rồi, và cậu cũng đã về thăm nhà một lần. Tớ chỉ nghĩ không hiểu sao chẳng thấy cậu đâu chứ chẳng ngờ là cậu đã lên Seoul. Giá cậu báo cho tớ biết một lời, anh Ik Su và tớ đã sắp xếp tổ chức một bữa tiệc chia tay rồi, tiếc thật. Hẳn là cậu sẽ ngạc nhiên lắm khi bất ngờ nhận được thư tớ. Tớ đã nhờ anh Ik Su tới nhà cậu hỏi địa chỉ của cậu. Mẹ cậu ghét tớ nhưng bác lại thích anh Ik Su mà. Và vì cậu và Ik Su là họ hàng với nhau nên tớ đoán bác sẽ cho anh ấy địa chỉ của cậu thôi. Tớ hy vọng sau này chúng ta có thể trao đổi thư từ qua lại. Chuyện ngày xưa đều là chuyện đã qua cả rồi, tớ mong từ giờ trở đi chúng ta vẫn có thể làm bạn tốt của nhau.

Tôi, mười sáu tuổi, hạnh phúc khi nhận được thư Chang đến nỗi đứng ngồi không yên. Chuyện đã qua mà Chang nhắc đến trong thư là chuyện thế này. Chang và tôi là bạn chơi đồ hàng từ nhỏ, nhưng đến lúc lên cấp hai, cứ mỗi lần gặp nhau là mặt chúng tôi lại vô duyên vô cớ đỏ bừng. Mẹ không thích tôi đánh bạn với Chang. Tôi không biết tại sao lại thế, nhưng vì mẹ không tán thành, tôi càng quyến luyến Chang hơn. Biết mẹ tôi không ưa mình, Chang thậm chí còn không đến nhà lạy chúc Tết bố mẹ tôi. Tôi có thể đến nhà Chang, nhưng Chang không bao giờ đến nhà tôi. Một tối, trên đường về nhà, tôi tình cờ gặp Chang. Chang đang đi xe đạp còn tôi đi bộ. Chang xuống xe, buộc cặp sách của tôi vào sau xe rồi chúng tôi cùng nhau đi bộ. Chang dừng xe lại trên cầu, nơi những ánh đèn trong làng bắt đầu lọt vào tầm mắt, nói, Đứng đây nói chuyện một lát đi. Bảo nói chuyện một lát, nhưng Chang lại lặng thinh trong bóng tối. Những vì sao nhấp nháy trên bầu trời. Tôi bất chợt nghĩ rằng ánh sao có màu xanh.

“Cậu có biết tại sao mẹ cậu ghét tớ không?”

Giọng Chang rầu rĩ.

“Không.”

“Đó là vì...”

Chang định nói gì đó nhưng rồi dừng lại. Cậu im lặng rồi lại bắt đầu.

“Đó là vì bố tớ.”

“Bố cậu làm sao?”

“Bố tớ vẫn còn sống.”

Tôi quay qua nhìn Chang trong bóng tối. Màn đêm dày đặc, tôi không thể nhìn ra biểu cảm trên mặt Chang. Chang chỉ sống cùng mẹ. Tôi chưa từng nghe nói gì về bố cậu nhưng đoán rằng ông hẳn đã qua đời. Vì khi người ta qua đời, người ta mới không thể chung sống cùng nhau.

“Bố cậu ở đâu?”

Chang trả lời, tỉnh Gyeongsang. Tỉnh Gyeongsang ư? Gyeongsang là ở đâu nhỉ?

“Tỉnh Gyeongsang ở đâu?”

“Chuyện đó tớ cũng không biết. Mẹ chẳng chịu nói với tớ. Mẹ chỉ bảo ở Gyeongsang thôi.”

“Sao bố cậu không sống cùng mẹ con cậu?”

Chang không nói gì. Tôi cũng không nói gì. Khi sự im lặng bắt đầu khơi dậy cảm giác gượng gạo, Chang lại mở lời.

“Bố không sống cùng mẹ con tớ được.”

“Sao lại không?”

“Bố tớ mắc phải một căn bệnh khiến bố không thể sống chung với mẹ con tớ.”

Bệnh? Tôi càng lúc càng bối rối hơn nên ngồi lặng thinh. Đột nhiên, tôi nhớ ra mẹ có lần từng nói không tán thành tình bạn giữa tôi và Chang vì đó là căn bệnh di truyền. Chang lôi từ trong túi quần ra một cái phong bì trắng.

“Cậu giữ cái này hộ tớ được không?”

“Cái gì vậy?”

“Thư bố gửi cho tớ... Dạo này kỳ lắm. Tớ cứ nghĩ mãi về bố, không thể tập trung học hành được. Cứ thế này có khi tớ trượt kỳ thi đầu vào cấp ba mất. Cậu giữ nó hộ tớ, bao giờ tớ vào cấp ba rồi thì trả lại tớ được không?”

“...”

“Mẹ tớ đã hứa rồi. Nếu tớ đỗ cấp ba, mẹ sẽ cho tớ biết bố đang ở đâu và sẽ cho tớ tiền để đến gặp bố.”

Khi tôi chìa tay ra đón lá thư, Chang lại nói.

“Cậu phải giữ cẩn thận nhé. Không được để mất đâu đấy. Nó rất quan trọng với tớ.”

Tôi gật đầu.

“Tớ đọc được không?”

Chang nói được. Chúng tôi lại chậm rãi đi bộ về làng. Mẹ đang đợi tôi cạnh con đường mới lát và khi nhìn thấy tôi đang đi bộ cùng Chang, mẹ vồ lấy tay tôi, cứ như thể Chang không hiện diện ở đó vậy. Khi chúng tôi về đến nhà, mẹ bèn truy hỏi về Chang, hỏi xem chúng tôi đã bắt đầu đi bộ cùng nhau từ chỗ nào.

“Bọn con gặp nhau trên cầu.”

“Hai đứa hẹn gặp nhau ở đấy hả?”

“Không, con đã bảo là bọn con tình cờ gặp nhau thôi mà. Lúc đấy cậu ấy đang đạp xe còn con đang đi bộ về nhà.”

Mẹ thở dài nói, Đừng chơi với Chang nữa. Sao tự dưng mẹ lại thế... Lúc mẹ chộp lấy tay tôi lôi đi liệu cậu ấy đã xấu hổ đến thế nào chứ. Tôi thấy áy náy và buồn thay cho Chang. Thấy tôi không trả lời, mẹ cao giọng, Đồ cứng đầu cứng cổ! Thế nhưng tôi, mười sáu tuổi, vẫn kiên quyết không trả lời đến cùng.

Đến tối muộn hôm đó, tôi mở lá thư Chang đã đưa. Cậu ấy hẳn đã để nó trong túi từ rất lâu nên lá thư mới nhàu nhĩ thế này. Tôi thấy những vết lấm trên giấy thật ấm áp, thầm nghĩ hẳn chúng đều từ tay Chang mà ra. Trên tờ giấy cũ kỹ là những dòng chữ được viết đã từ lâu và những vệt nước mắt không biết là của người viết thư hay người đọc thư. Những dấu lem khiến cho bức thư trở nên khó hiểu, chỉ trừ một câu. Đó là câu, Hãy cố gắng kiếm thật nhiều tiền để cùng sống hạnh phúc bên nhau. Tôi gấp thư lại, kẹp nó vào giữa những trang sách Những nỗi đau của chàng Werther rồi đặt cuốn sách vào trong ngăn tủ cuối cùng. Không biết gì về lá thư kẹp bên trong, em gái tôi đem cho bạn mượn cuốn sách và người bạn kia đã đánh mất nó. Từ sau khi bức thư bị mất, mỗi lần tình cờ gặp Chang trên đường tôi lại giật thót. Giọng Chang bám theo tôi khắp nơi, dặn tôi hãy giữ bức thư cẩn thận, đừng làm mất nó, bảo tôi rằng nó là vật quan trọng đối với cậu. Ngay cả sau kỳ thi vào cấp ba, tôi vẫn tránh mặt Chang, rồi cuối cùng, một tối ở đường ray tàu hỏa, tôi thú nhận với cậu tôi đã làm mất lá thư. Tôi vừa nói xong, Chang đã sải chân bước đi, bỏ mặc tôi ở đường ray. Cậu ấy sẽ quay lại thôi, tôi nghĩ, nhưng Chang không quay lại. Mọi chuyện giữa chúng tôi dần trở nên khó xử và ngay cả khi tình cờ gặp nhau trên con đường mới lát, chúng tôi cũng nhìn đi chỗ khác. Chính giữa hoàn cảnh đó, tôi chuyển lên thành phố.

Trong bức tranh sinh hoạt, cái đầu vặn dùng khí nén được treo trên không trung trước mặt tôi. Sau khi cầm con đinh ốc sẽ được gắn vào tấm nhựa PVC bằng tay trái, tôi kéo cái đầu vặn dùng khí nén và ấn xuống, con đinh ốc cắm vào kèm theo tiếng hơi gió phì ra, xììììììììììì. Chị họ, ở số 2, cũng phải gắn mười mấy đinh ốc nữa. Khác biệt duy nhất là cái đầu vặn dùng khí nén của tôi được treo lơ lửng trước mặt trong khi cái của chị họ được treo ở bên cạnh. Nói cách khác, tôi gắn đinh ốc vào chính giữa còn chị họ gắn đinh ốc vào mặt trước. Ban đầu, chị họ mím chặt môi và chỉ nhìn chằm chằm xuống băng chuyền. Chị họ không vui, vì chị cảm thấy công việc kéo cái đầu vặn dùng khí nén treo trên không trung xuống rồi gắn đinh ốc vào thật tầm thường.

“Chị thà đi hàn còn hơn. Cái này là việc của cánh đàn ông còn gì.”

Tôi, mười sáu tuổi, không trả lời. Vì tôi cũng căm ghét khói hàn chẳng kém. Khi chị họ và tôi trở thành công nhân lành nghề, tên của chúng tôi biến mất. Tôi là số 1 trên dây chuyền A khu Stereo, còn chị họ được gọi là số 2. Quản đốc hét lớn.

“Số 1 và số 2, các cô đang làm gì đấy hả? Các cô đang làm chậm tiến độ kia kìa.”

Dẫu không bị gọi là số 1, tôi cũng chẳng có tên. Cái tên tôi đã được đặt và gọi suốt mười sáu năm qua không thể theo tôi vào công ty, vì độ tuổi mười sáu khiến tôi không đủ tư cách làm nhân viên ở Công ty cổ phần Điện tử Dongnam. Theo quy định về công nhân của công ty cổ phần Điện tử Dongnam, mười sáu tuổi là không hợp lệ. Tôi không biết anh cả xoay xở ra sao, nhưng bằng cách nào đó, anh đã làm và mang đến cho tôi giấy tờ điền tên của một cô Lee Yeon Mi mười tám tuổi, vậy nên ở công ty, cho dù có không bị gọi là Số 1, tôi cũng là Lee Yeon Mi. Cô Lee Yeon Mi! Nếu có ai gọi như vậy tôi thường không nhận ra họ đang gọi mình và không trả lời ngay. Chỉ khi chị họ chọc chọc vào sườn tôi thì tôi mới ngẩng đầu lên, kèm theo một tiếng V-vâng chậm chạp.

Cho dù nó được treo lơ lửng hay gắn ở bên cạnh, chị họ và tôi vẫn chẳng tài nào dẻo tay xử lý cái đầu vặn dùng khí nén được, thế nên cho dù chúng tôi có tất bật đến chừng nào đi nữa thì trên băng chuyền số 3 vẫn trống không. Buổi tối khi từ Khu Công nghiệp 1 về đến phòng mình ở Khu Công nghiệp 3, chúng tôi xoa bóp vai cho nhau.

“Chị cảm giác cơ căng cứng hết rồi.”

Chị họ trông như thể sắp khóc đến nơi.

Mỗi ngày, chị họ và tôi kiếm được khoảng bảy trăm mấy won tiền công... Theo lời quản đốc, sau ba tháng làm việc, chúng tôi sẽ được tăng thêm năm trăm won thành một nghìn hai trăm mấy won. Sau ba tháng nữa sẽ được tăng hai trăm won nữa, rồi tiếp tục ba tháng sau...

Rõ ràng chúng tôi đã kiếm được như thế, nhưng giờ ngẫm lại, tôi không thể tin nổi điều này và thậm chí còn có phần hoài nghi trí nhớ của mình. Các công việc sản xuất được trả theo ngày, vậy trừ đi Chủ nhật và nửa ngày thứ Bảy thì tính ra sẽ là bao nhiêu nhỉ, 1280 nhân với 25 hoặc 24, rồi trừ tiền ăn trưa thì tôi đã kiếm được bao nhiêu? Không phải là tôi đã nhớ nhầm đấy chứ? Nhận số tiền đó rồi, các công nhân còn trả tiền thuê trọ, gửi về nhà, và thậm chí đón em lên sống cùng... Không khỏi hoài nghi, tôi thử tìm hiểu cóp nhặt chỗ này chỗ kia về tình hình lao động năm 1978... Bộ Lao động đưa ra mức lương tối thiểu cho vị trí học việc tại các nhà máy, phần lớn là nữ, là hai mươi tư nghìn won, nhưng trên thực tế, sau khi khấu trừ chi phí ăn trưa và đi lại, lương mỗi ngày chỉ còn năm trăm sáu mươi won và lương tháng trung bình không quá mười chín nghìn bốn trăm won. Chúng tôi đi bộ từ Khu Công nghiệp 3 tới Khu Công nghiệp 1 nên không tốn tiền đi lại; ngoài lương cứng cho mười hai giờ làm việc mỗi ngày chúng tôi còn được nhận phụ cấp khi làm việc ngoài giờ, làm đêm và làm vào Chủ nhật; như thế đâu có lẽ nào chúng tôi chỉ nhận được mười chín nghìn bốn trăm won?

Suốt mùa xuân và mùa hè, hình như là kể từ ngày giọng nói biến thành nước đá của Ha Kye Sook tong tong nhỏ xuống trán tôi, cơ thể tôi bắt đầu trở nên đau yếu vô duyên vô cớ. Đầu tiên, tôi cảm thấy như có những cục than nóng hừng hực đang thiêu đốt giữa lồng ngực, rồi những cục than ấy phừng phừng bắn lên đến tận cuống lưỡi, như sắp lăn ra ngoài miệng đến nơi nhưng rồi lại chui ngược xuống. Ruột gan tôi cháy bừng bừng nhưng trán tôi lại túa mồ hôi lạnh. Ngày nọ, sau cả đêm phải vật lộn với bốn năm đợt tấn công này, sáng ra tôi không thể chịu nổi nữa đành phải đến bệnh viện. Bác sĩ giơ tấm phim chụp X-quang của tôi lên, nói rằng chẳng có vấn đề gì hết. Chẳng có vấn đề gì hết, nhưng dần dà thay vì cảm giác thiêu đốt, tôi bắt đầu khạc ra đờm. Tôi cầu cứu hiệu thuốc thì được kê cho một tuần thuốc uống nhưng đờm vẫn không dứt. Mang đờm theo cùng, tôi rời khỏi nhà và đến đây.

Trong túi của tôi có một gói thuốc bột khác đủ dùng cho bốn ngày do cô em gái dược sĩ kê cho. Mỗi lần gọi điện đến đều thấy tôi ho rũ rượi, khạc đờm đau đớn nên em gái đã hỏi có vấn đề gì. Thấy tôi ngập ngừng không biết trả lời sao, em bèn đợi đến chín giờ tối, đóng cửa hiệu thuốc rồi cõng theo đứa con một tuổi trên lưng, đến đưa cho tôi một gói thuốc bảo tôi rằng các triệu chứng của tôi là do căng thẳng thần kinh.

“Có gì đang làm khổ chị à? Nói theo người xưa thì chị đang mắc tâm bệnh đấy. Phải buông bỏ hết đi thì mới khá hơn được.”

Để tránh giọng nói của Ha Kye Sook, tôi khăn gói rời khỏi nhà. Nghĩ tới nơi xa nhà nhất trên đất nước này mà tôi có thể đến được. Tôi bắt chuyến bay. Nhưng cuối cùng, tôi lại ngồi thế này, ngắm nhìn ánh sáng từ những con thuyền đánh cá đang dập dềnh trôi nổi trên biển đêm. Và tôi có dự cảm tác phẩm này sẽ không hẳn là hiện thực cũng chẳng hẳn là hư cấu, mà sẽ nửa nọ nửa kia. Tôi không biết liệu có thể gọi nó là tác phẩm văn học được không. Tôi thử suy ngẫm về chuyện viết lách, về ý nghĩa của việc viết đối với tôi. Tôi đang viết như thế. Liệu rằng, bằng câu chữ, tôi có thể mở lối vào năm tôi mười sáu tuổi, mở cánh cửa đã bị khép kín từ bấy lâu nay. Nhất là ở đây, nơi tôi đã ngoảnh mặt, chạy trốn những câu văn, tránh xa thói quen quay về nhà ngay khi có câu văn nào tìm đến, bất kể lúc đó đang ở đâu. Ở đây, nơi mọi thói quen thường nhật đều không như lưỡi nằm trong miệng, nơi hết mực xa lạ, nơi tôi chưa từng đến bao giờ, trước biển đêm cuồn cuộn sóng vỗ, nơi ngoài cửa là hành lang tối tăm, nơi đến chiếc khăn mặt cũng không phải là của tôi.

Tôi không ngừng thu thập các thời khắc qua những con chữ, cố gắng cất giữ chúng như từng bức ảnh, nhưng càng cố gắng bao nhiêu tôi lại càng tuyệt vọng bấy nhiêu, cảm thấy cuộc sống, vốn không thể được tiếp cận thông qua văn chương, đang cứ thế trôi ra ngoài các câu chữ. Càng viết tôi càng cảm nhận được nỗi đau khổ khi không thể kết luận được rằng văn học là thứ hướng tới hy vọng và điều đúng đắn. Nếu hy vọng tuôn trào từ bên trong tôi, và tôi có thể nói về hy vọng một cách chân thành, thì bản thân tôi cũng sẽ hạnh phúc. Nhưng văn học lại ăn sâu bén rễ từ các vấn đề của cuộc sống, và các vấn đề của cuộc sống đâu chỉ có mình hy vọng và điều đúng, mà còn có nhiều hơn cả là những bất hạnh và cái sai. Xét cho cùng, chẳng phải cuộc sống chính là việc phải sống tiếp ngay cả khi bị giam cầm trong nỗi bất hạnh không niềm hy vọng? Thỉnh thoảng, nhận thức này lại khiến tôi từ bỏ con dao phẫu thuật của mình. Rốt cuộc tôi đã chọn mạng lưới ý nghĩa tầng tầng lớp lớp thay vì một điểm ý nghĩa duy nhất. Cố hết sức tiến lại gần, gỡ từng lớp từng lớp để xem có thể thấy gì bên trong - ấy không phải là nhiệm vụ của người viết, mà là của người đọc, tôi ước có thể khiến mười người đọc thì cả mười người đều chìm trong những dòng suy tưởng khác nhau, không phải cuộc sống là muôn màu muôn vẻ như thế ư, không phải thậm chí còn có những cuộc sống mà văn chương không thể chen vào đấy ư.

Ngày hôm đó, nếu tôi nói với Ha Kye Sook, người từng nói với tôi, Cậu, bây giờ như sống một cuộc đời khác với chúng tớ rồi, nếu tôi nói với cô ấy rằng, Lý do tớ không thể viết về các cậu là bởi tớ đau lòng, liệu đó có thành một lời bao biện chăng? Rằng chỉ nghĩ đến thôi trái tim tớ đã đau lắm rồi không thể viết nổi nữa. Rằng tớ xin lỗi, hồi đó tớ mới chỉ mười sáu tuổi thôi. Không phải tôi thấy xấu hổ về họ. Mà là vì tôi đã không thể bước ra khỏi chốn đó một cách tự nhiên. Tôi là kẻ đã trốn chạy khỏi nơi đó, kinh hoàng trước hình hài của số phận. Tôi là kẻ đã bỏ chạy và chưa từng một lần quay lại, dù chỉ là gần quanh đó. Chưa kịp ý thức gì, tôi đã bước qua những tảng đá kê chân dẫn sang bờ bên kia, nhưng tôi vẫn chưa qua hẳn. Cho dù tôi ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ khi nào, căn phòng hiu quạnh vẫn sống trong tôi, chiếm lấy một khoảng không gian lớn tương đương ngôi làng nơi tôi đã sinh ra và lớn lên, nhưng theo nghĩa đối ngược. Lý do duy nhất khiến tôi không thể đối diện với các cậu qua văn chương là bởi nghĩ về những ngày tháng ấy, tôi không thể thấy ở bất cứ chỗ nào niềm hạnh phúc tôi có được như khi nhớ lại ngôi làng mình sinh ra, hiện lên trong tâm trí tôi chỉ là căn phòng chật hẹp phải chia sẻ cùng anh trai và chị họ, nỗi cô quạnh như khi bị nhốt trên gác mái, hay tiếng chân bước nặng nề trước suy nghĩ cứ phải tiếp tục sống - và cuối cùng, còn có bóng hình chị Hee Jae chắn ngang đường tôi. Chừng nào chị Hee Jae còn ở đó với dáng hình ấy, thì tôi không biết phải quay lại đó như thế nào, phải lại gần những cô gái từng là bạn bè tôi ấy ra sao.

Tôi bước chân vào căn phòng hiu quạnh khi mười sáu tuổi và chạy ra khỏi đó ở tuổi mười chín.

Tôi không thể tìm ra cách nào để làm lành với bốn năm cuộc đời đó.

Tôi không biết phải làm sao để chấp nhận cái thành phố này nơi hơi thở của thiên nhiên không còn phả tới được nữa, cùng những gông cùm mà cuộc sống đặt ra trước mặt tôi - kẻ đã phải đột ngột đi thẳng một mạch từ giữa thiên nhiên đến nhà máy không qua bất kỳ cây cầu nối nào, và những cô gái tầm tuổi tôi hay hơn tôi năm sáu tuổi mà tôi đã gặp ở đó.

Tôi vẫn nhớ bữa trưa ngày đầu tiên chúng tôi làm việc. Quản đốc chia cho mỗi người một phiếu ăn có đóng dấu, ghi “Bữa trưa”. Căng tin nằm trên sân thượng. Chị họ và tôi kề vai nhau đi lên cầu thang. Một dòng người mặc đồng phục màu xanh dương xếp hàng suốt từ bên trong căng tin ra đến tận ngoài sân thượng, mùi cay nồng tràn ra từ trong bếp. Sau khi đợi một lúc lâu, tôi nhận được khay thức ăn có một tảng cơm, bên trên phủ một thứ quái lạ nào đó.

“Cái gì đây?”

“Cà ri đấy.”

Chị họ phát âm rành rọt từ cà ri rồi liếc nhìn tôi bằng ánh mắt như muốn hỏi, Em sao thế? Cà ri? Tôi chưa từng nhìn thấy món này bao giờ. Đồ ăn gì mà lại trông như thế này chứ? Tôi lấy làm ngờ vực trước cái màu vàng xỉn của nó. Tôi xúc một thìa nhỏ đưa lên miệng. Kinh quá.

“Em không ăn nổi đâu.”

Tôi bỏ thìa xuống.

“Lúc đầu kinh nhưng ăn mãi rồi sẽ thấy ngon, em cố ăn thử đi.”

Tôi định thử thêm miếng nữa nhưng có cảm giác đến cả bữa sáng như cũng sắp trào ngược ra ngoài.

“Chị họ ăn một mình đi rồi ra.”

Không thể ngồi được hết bữa bởi thứ mùi này, tôi trút hết thức ăn vào trong thùng đựng thức ăn thừa rồi trả lại khay và rời căng tin. Tôi đứng ngoài sân thượng một lúc rồi quay lại dây chuyền lắp ráp. Tại ghế số 1, tôi ngả đầu, tựa lên băng chuyền lúc này đã ngừng chạy do đang giờ nghỉ trưa, chị họ lay vai tôi.

“Vậy ăn tạm cái này đi.”

Là bánh bao đậu đỏ.

“Chị họ lấy cái này ở đâu vậy?”

“Ra ngoài mua về chứ ở đâu ra.”

Chị họ bóc giấy gói và đặt cái bánh bao vào tay tôi.

“Em lạ thật đấy. Chuyện chẳng có gì mà cũng nhặng xị cả lên.”

Một cuộc đời khác với chúng tớ. Một người khác với mẹ. Khi tôi nghe Ha Kye Sook nói những lời ấy, Cậu, bây giờ như sống một cuộc đời khác với chúng tớ rồi, tôi ngây ra nhớ đến mẹ. Liệu có phải, đúng như Ha Kye Sook nói, tôi thấy xấu hổ về những năm tháng cấp ba của mình, xấu hổ về người mẹ mù chữ của mình? Có lẽ tôi đã biết mẹ không biết đọc từ mãi trước đó rồi. Có lẽ chỉ vì tôi không muốn biết nên cứ vờ như không biết vậy thôi. Tự nhủ lòng, chẳng phải mẹ đang mở Kinh Thánh đặt ngay trước mặt đó sao, chẳng phải mẹ đang đọc Kinh Thánh đó sao. Rồi biến những bà mẹ xuất hiện dưới ngòi bút của mình thành ra tội nghiệp hoặc giấu nhẹm họ đi. Để rồi trong đời thực, trút lên mẹ một tình cảm âu yếm vô vàn đủ khiến mẹ hoang mang, coi đấy như cách tạ lỗi. Với mẹ, ít ra tôi cũng đang cố gắng không ngừng mở ra rồi đóng lại trái tim, nhưng còn với những năm tháng cấp ba thì sao? Thái độ được tôi dùng để ứng phó với những tháng năm quá khứ ấy trong hiện thực thật kỳ quái. Thực ra, tôi thậm chí còn chẳng nhận ra thái độ ấy của mình kỳ quái cho tới tận khi có những khoảnh khắc lại gần đánh thức tôi, Ngươi thật kỳ quái. Một tiền bối là nhà thơ, sau khi đọc phần tiểu sử trong cuốn sách đầu tay của tôi, đã bảo với tôi rằng, Này, chị không biết em tốt nghiệp trường Nữ sinh Yeongdeungpo đấy. Chị cũng học ở đó đấy, vui quá lại gặp được hậu bối thế này, trong khi chị thành thật vui mừng thì tôi lại lo lắng, sợ chị sẽ bắt đầu hỏi tôi học lớp nào, ai dạy tôi Ngữ văn. Và ngay khi có cơ hội, tôi bèn bỏ đi chỗ khác. Những năm cấp ba đã biến tôi thành một người có bí mật cần giữ kín, và đã khiến tôi từ một người lạc quan bẩm sinh thành kẻ nhút nhát giấu mình trong vỏ ốc. Cái lệnh im miệng không nhắc tới chuyện đó nếu không phải là với người thân thiết, cái lệnh tôi tự áp đặt cho bản thân đã bị Ha Kye Sook trách cứ chỉ bằng một câu nói. Nói với tôi rằng, Cậu chẳng viết về chúng tớ gì cả, rằng Cậu, bây giờ như sống một cuộc đời khác với chúng tớ rồi. Sau khi cúp máy, tôi đi đi lại lại trong phòng, để mặc cho cơn giận dữ bùng phát. Sao cô ấy lại dám coi tôi không khác gì kẻ vứt bỏ mối tình đầu thuần khiết ngoài hiên rồi đóng sập cửa lại để sống một cuộc đời khác vậy chứ. Thế nhưng, lời Ha Kye Sook là sự thật. Tôi đã không viết về họ. Chỉ duy nhất một lần tôi đã cố thử. Đó là truyện ngắn cuối cùng trong tuyển tập đầu tiên của tôi, cuốn sách mà Ha Kye Sook vẫn chưa đọc. Nhưng cho dù có đọc, chắc cô cũng sẽ không nghĩ rằng nó viết về chúng tôi những ngày xưa ấy. Vì tôi đã không thể chân thành mà chỉ cố hết sức giả vờ ngây thơ. Về tuổi trẻ của tôi, về sự tồn tại của tôi, một sự rời rạc thiếu vắng cái tôi và chỉ có mình nỗi đau sâu sắc chiếm ưu thế. Đây là hư cấu, tôi tự nhủ, nhưng trái tim vẫn luôn nhức nhối tưởng như chết đi được. Để giấu kín trái tim nhức nhối đó đi, tôi đã vội vàng chuyển sang chuyện xảy ra mười năm sau và kết thúc câu chuyện. Tôi cảm giác như vì không có đủ tự tin để đối diện thẳng thắn với những ngày ấy nên tôi đã liền vội vã đóng nắp lại. Rằng với tôi, những năm tháng ấy chẳng thể là thời gian đã qua, rằng tôi đang chất những năm tháng ấy trên lưng như cái bướu lạc đà, rằng suốt một thời gian dài, có lẽ chừng nào tôi còn lưu lại đây, những năm tháng ấy sẽ vẫn là hiện tại của tôi.

Giờ, mười sáu năm đã trôi qua và trong suốt thời gian đó, bất cứ khi nào những chuyện ngày ấy định nhảy ra ngoài qua các câu văn của tôi, tôi lại hít thật sâu, đẩy ngược chúng trở vào trong và đóng nắp lại. Không phải vì bây giờ tôi đang sống một cuộc đời khác với họ. Mà bởi tôi thậm chí còn chẳng biết họ đang sống như thế nào. Dẫu có bằng cách nào đó mà các cô gái ấy được kéo cả ra đây, tôi cũng chẳng rõ mình nên đứng ở đâu giữa họ nữa. Dù là bất cứ chuyện gì, một khi đã đánh mất bản thân thì sẽ khó mà phục hồi lại được.

Chỉ đóng cái nắp lại là chưa đủ, tôi còn trốn chạy khỏi nhà mình, nhưng Ha Kye Sook vẫn dai dẳng bám theo tôi đến tận đây, nhỏ nước đá lên trán tôi, tong, tong, tong, và thầm thì, Cho dù cậu có lấy cớ gì đi chăng nữa, thật tâm vẫn là cậu xấu hổ, cậu xấu hổ vì chúng tớ. Ngay cả bây giờ, khi tôi chăm chăm nhìn những con thuyền đánh cá ngoài biển đêm và mở cái nắp đậy ra, sự tự tin cũng không quay trở lại. Sau khi viết xong, tác phẩm này sẽ có hình dạng ra sao, chính tôi cũng không biết nữa. Mặc dù đang ngồi đối diện chuyện xưa và viết nhưng tôi vẫn cảm giác có lẽ mình sẽ tiếp tục chạy trốn mãi. Chỉ cần cơ hội đến, có lẽ tôi sẽ lại cố nhảy sang chuyện khác. Có phải tôi đã sớm thả cho hình thức đề-khai-luận-kết rơi khỏi tay? Từ bỏ hình thức dễ tiếp cận nhất đó rồi tôi định sẽ thế nào? Sự thực là, tôi chẳng có ý định nào hết. Thứ duy nhất tôi có thể đoán định chỉ là, có lẽ tác phẩm này sẽ được hoàn thiện khi tôi cứ không ngừng định chạy trốn rồi quay về, chạy trốn rồi lại quay về với nguyện ý của chính mình. Chuyện này đã được tôi ấp ủ quá lâu đến nỗi tôi chẳng có gì để thêm hay bớt từ nó hết, vì thế trong thời gian tôi ngồi lại không trốn chạy, hẳn những sợi ngang sợi dọc sẽ tự dệt lại với nhau.

Suốt một thời gian dài, tôi suy nghĩ về hiện tại. Ngày nay là thời các bài hát có tốc độ quá nhanh đến nỗi tôi chẳng hát theo được dù chỉ một bài, vậy thì hiện tại mà tôi đang nắm chặt là gì? Tôi chỉ muốn để cho mọi chuyện trôi vào quá khứ, nhưng rốt cuộc, tôi có thể để những chuyện nào trôi qua? Trừ phi ngay từ lúc bắt đầu đã xác định viết tiểu thuyết viễn tưởng hay giả tưởng, còn không thì chẳng phải viết, cuối cùng, đều là quay nhìn lại phía sau hay sao? Ít nhiều, trong văn chương, chẳng phải mọi ký ức trước thời điểm hiện tại này đều là đối tượng để tự ngẫm, để đào bới dòng chảy quá khứ đang trôi về hiện tại đó ư? Để khám phá ra tại sao tôi lại ở đây ngay lúc này; để khám phá ra tôi đang cố gắng làm gì ở đây ngay lúc này. Ngày hôm nay sẽ lại trở thành ngày hôm qua và chảy xuyên qua ngày mai. Chẳng phải đó chính là lý do khiến văn học có thể không ngừng trôi mãi? Sắp xếp là nhiệm vụ của lịch sử còn định nghĩa là nhiệm vụ của xã hội. Càng có nhiều thứ được sắp xếp theo đúng trật tự thì càng có thêm nhiều sự thật được ẩn giấu dưới bề mặt gọn gàng đó. Tôi đoán rằng phần lớn các sự thật đang sống trong những điều đã được định nghĩa. Và tôi tin rằng văn học đang chảy đâu đó đằng sau trật tự và định nghĩa. Giữa tất cả những thứ bí ẩn còn lại. Biết đâu văn chương lại là thứ làm xáo trộn những điều đã được sắp xếp và định nghĩa, khiến chúng chảy theo hướng mới, cho những người yếu ớt phía sau, cho những người còn lưỡng lự. Ý tôi muốn nói văn chương chính là thứ làm đảo lộn lại tất cả. Phải chăng, cuối cùng, đây cũng là một cách sắp xếp? Liệu có phải bây giờ, tôi phải nhìn lại cái đằng sau mà tôi đã nhắc tới?

Tôi nhớ rằng khoản thù lao đầu tiên chúng tôi nhận được sau khi vào làm chưa đầy một tháng là mười mấy nghìn won. Tôi nhớ rằng chị họ và tôi đã tới chợ mua quần áo trong giữ nhiệt cho bố mẹ rồi gửi qua đường bưu điện về quê.

Khi đó là tháng Chín. Chị họ và tôi giờ đã sử dụng đầu vặn dùng khí nén nhoay nhoáy. Thỉnh thoảng, sau khi nhanh chóng làm xong phần việc của mình, chúng tôi thậm chí còn dư dả thời gian tán chuyện đến tận khi Số 3 hoàn thành công việc. Chúng tôi đã trở thành những công nhân lành nghề. Chị họ thầm thì vào tai tôi.

“May mà chị em mình không bị phân vào vị trí hàn.”

Tôi, mười sáu tuổi, không hiểu chị họ có ý gì bèn hỏi lại, Sao lại thế?

“Cứ nhìn mặt Số 13 mà xem.”

Tôi rướn cổ liếc nhìn Số 13, vốn được phân vào công ty Điện tử Dongnam cùng chúng tôi từ Trung tâm Đào tạo Việc làm. Khói xèo xèo bốc lên phía trên đầu Số 13. Sau ba tháng làm việc, khuôn mặt Số 13 đã trở nên vàng vọt xám xịt.

“Chẳng biết có phải nhiễm độc chì không nữa.”

Tôi, mười sáu tuổi, săm soi khuôn mặt mình trong gương nhà vệ sinh. Uống nước máy vào da dẻ các cô trắng trẻo hẳn lên, chủ nhà của chúng tôi từng nói thế. Khuôn mặt vàng vọt xám xịt của Số 13 sượt qua trên khuôn mặt trắng trẻo của tôi. Tôi phải thừa nhận chị họ nói đúng, thật may là chúng tôi đã không bị phân đi hàn chì.

Sau giờ làm, chị họ và tôi ghé vào chợ mua hàng tạp phẩm rồi quay về căn phòng hiu quạnh, nấu bữa tối trên bếp dầu. Hôm nay đến lượt tôi nấu còn ngày mai là phiên của chị họ. Người nào không phải nấu cơm sẽ nhận nhiệm vụ giặt giũ và dọn phòng. Bữa sáng là bữa duy nhất trong ngày chúng tôi ăn cùng anh cả. Trước khi rời nhà đi làm buổi sáng, chị họ và tôi rửa bát đũa ăn sáng rồi lại dọn bàn sẵn đấy cho bữa tối. Hết giờ làm, anh cả sẽ đi thẳng từ Ủy ban phường tới trường và mãi đến khuya mới về ăn tối. Cho dù mệt mỏi đến mức nào đi chăng nữa, anh cũng chỉ vào phòng sau khi đã rửa mặt rửa chân trong căn bếp nhỏ chật chội, sau đó dùng chính nước đó để giặt tất rồi treo tất lên dây phơi. Ngay cả khi tôi đề nghị giặt tất hộ anh, anh vẫn vừa nói, Anh quen rồi, vừa xát xà phòng vào tất. Thói quen. Giặt tất rồi phơi khô hằng đêm là một thói quen mà anh cả học được sau khi lên thành phố, còn tuyệt đối không ăn cơm nếu không có canh là thói quen mẹ đã luyện cho anh hồi còn ở nông thôn. Bữa ăn của mẹ luôn luôn bao gồm một món hầm và một món canh. Giữa món hầm và món canh, thói quen của anh là không thể từ bỏ món canh. Anh sẽ vẫn ăn nếu thiếu món hầm nhưng sẽ bỏ bữa nếu không có canh. Dù có làm món hầm, chị họ và tôi cũng nhất định phải nấu thêm cả canh cho anh cả. Đôi lúc bực mình vì chuyện này có vẻ quá phiền phức, chị họ lầm bầm, Anh của em là đồ nghiện canh.

Buổi tối, chị họ nằm ngủ gần của sổ, anh cả nằm sát tường, còn tôi ở giữa. Chị họ và tôi thường ngủ thiếp đi trước, trong khi anh cả còn ngồi thật lâu bên bàn, rồi mãi đến lúc nào chính tôi cũng không hay anh mới nằm xuống ngủ. Anh cả trả tiền thuê trọ, tiền thuê mỗi tháng của căn phòng có giá đặt cọc hai trăm nghìn won là hai mươi nghìn, anh còn đưa cho chúng tôi tiền sinh hoạt nữa. Dù chúng tôi cố gắng tằn tiện hết mức, tiền sinh hoạt lúc nào cũng thiếu. Chị họ và tôi thường trích một ít tiền lương của cả hai để góp thêm vào.

Ngày càng có thêm nhiều công nhân bỏ việc vì lương thấp, thành ra ngày càng có thêm nhiều nhân viên mới, việc thay đổi người ngồi cạnh băng chuyền diễn ra thường xuyên. Mọi người đi ngay khi tôi vừa mới bắt đầu quen với gương mặt họ, và những gương mặt mới lại được thuê vào làm. Cứ khi nào có nhân viên mới bắt đầu công việc là trưởng phòng hành chính lại răn dạy họ một hồi. Nhớ đừng có mà gia nhập công đoàn công điếc gì hết, phí công đoàn chỉ được sử dụng cho độc một mục đích là giữ các bánh xe không ngừng quay dưới chân ghế của những cán bộ công đoàn thôi, ông ta nói.

Từ “lương thấp” thường khiến ngực tôi thắt lại. Lương thấp. Lương thấp... Liệu những thông tin liên quan đến tiền lương của chúng tôi mà tôi nhớ có đúng là sự thật?

Sau khi biết tôi là nhà văn, cô chủ quán ăn bảo sẽ hỏi tôi hai câu hỏi. Chỉ hai thôi, câu nói ấy làm trái tim tôi chùng xuống. Cô muốn hỏi điều gì và tại sao lại còn thêm điều kiện, Chỉ hai thôi?

“Câu hỏi đầu tiên...”

Trong hai câu hỏi của cô chủ quán ăn, câu đầu tiên là tôi viết ở trình độ nào. Trình độ nào? Không sao hiểu được nên tôi phải hỏi lại, Ý cô là...? Cô nghiêng đầu sang bên, hăm hở cố gắng giải thích.

“Thì thế này, hồi xưa cô từng được tặng một cuốn sách, đúng một lần duy nhất. Quà của một người họ hàng. Vì là sách người khác mua cho nên cô đã cố hết sức để đọc từ đầu đến cuối. Chỉ có điều cô không thể đọc được. Cô chẳng hiểu cuốn sách viết về cái gì cả. Nhận quà đã hơn bốn năm nay rồi mà đến tận bây giờ cô vẫn chưa đọc xong. Hẳn là trên đời này có loại sách chỉ dành riêng cho những người trí thức. Chính vì vậy nên cô mới băn khoăn không biết cháu viết ở trình độ nào. Không biết liệu cháu có viết những thứ mà một người như cô cũng có thể đọc được không, hay cháu viết những thứ ở trình độ cao hơn.”

Cô nhìn tôi, chờ đợi câu trả lời. Lẽ ra tôi nên trả lời cô ngay lập tức, nhưng tôi lại chỉ lắp bắp, Dạ thì, dạ thì... Trong lúc tôi cứ nhắc đi nhắc lại Dạ thì, cô ấy lại tiếp tục, Một câu nữa là, câu còn lại trong số hai câu mình muốn hỏi. Giờ tôi bồn chồn lo lắng. Lần này tôi buộc phải trả lời, tôi hy vọng cô sẽ hỏi tôi một câu đơn giản nào đó, một câu mà tôi có thể trả lời.

“Cháu đặt tên truyện trước, hay viết trước?”

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Có lúc cháu đặt tên truyện rồi mới bắt đầu viết, cũng có lúc viết xong rồi mà cháu vẫn không thể nghĩ ra được tên truyện và cứ phải trăn trở mãi một thời gian dài, tôi đáp. Cô gật gù, À, hóa ra cũng có lúc không nghĩ ra được tên truyện vậy hả.

“Tiểu thuyết bây giờ ngày càng khó đọc hơn thì phải. Cô chẳng thể hiểu chúng viết về cái gì nữa. Cô chỉ mong sao các nhà văn viết đơn giản thôi, để những người như cô cũng có thể đọc được.”

Đơn giản? Lại một đề nghị khó khăn biết chừng nào.

Yoo Chae Ok. Cô là nữ quản đốc dây chuyền Chuẩn bị và sẽ được phác họa trong một bức tranh sinh hoạt theo phong cách sôi nổi. Bằng những nhát cọ mạnh mẽ. Một hôm, cô Choi ở dây chuyền C bị chặn lại không cho làm việc. Lý do là vì tối hôm trước cô ấy đã về nhà luôn chứ không chịu làm thêm giờ. Trưởng phòng sản xuất yêu cầu cô Choi viết đơn xin nghỉ việc. Yoo Chae Ok đứng lên bảo vệ cô Choi, bảo rằng chẳng có cái lý nào lại đòi người ta xin nghỉ việc chỉ vì không chịu làm thêm giờ. Làm thêm giờ và làm ngoài giờ là nằm ngoài giờ làm việc quy định. Chẳng phải chính vì vậy nên chúng tôi mới được nhận lương làm thêm đó sao? Công nhân có thể vì những lý do cá nhân mà nghỉ làm thêm giờ được chứ. Chỉ vì không làm thêm giờ mà bắt cô ấy viết đơn xin nghỉ việc thì thật là vô lý. Yoo Chae Ok và trưởng phòng sản xuất bắt đầu cao giọng về chuyện cô Choi. Trưởng phòng sản xuất ném vào Yoo Chae Ok những lời lẽ xúc phạm.

“Cô tưởng mình đầu bò đầu bướu gì chứ hả? Đây là dây chuyền sản xuất. Mọi chuyện xảy ra ở đây đều nằm dưới quyền xử lý của tôi. Cô nghĩ cô là ai mà dám bảo tôi làm này làm nọ?”

Yoo Chae Ok hét đáp trả ông ta bằng tông giọng tương tự. Chúng tôi là cái máy đấy à? Sao lại ngược đãi chúng tôi như thế này? Bắt cô Choi xin nghỉ việc vì cô ấy đã về nhà do bị chảy máu cam sau năm ngày làm việc thêm giờ? Nói thế mà nghe được à? Cô ấy tiếp tục hét lên.

“Chúng tôi là công đoàn được thành lập để bảo vệ quyền lợi của chính mình theo đúng như luật lao động. Ban quản lý có ngăn cản thế nào chúng tôi cũng sẽ tiến tới tổ chức lễ thành lập.”

Giữa lúc trưởng phòng sản xuất và Yoo Chae Ok tranh cãi, vung tay chỉ vào mặt nhau, cô Choi òa khóc. Trưởng phòng hành chính nhảy vào quát Yoo Chae Ok thay cho trưởng phòng sản xuất, Đồ khốn vô ơn bội nghĩa. Yoo Chae Ok trừng mắt nhìn ông ta.

“Tôi chẳng nợ nần bất kỳ ân huệ nào từ các ông hết!”

Cô Lee ở dây chuyền Chuẩn bị gọi chị họ và tôi ra một góc. Cô Lee, chiều cao không phải thấp bình thường mà là cực thấp, có mái tóc cắt ngắn kiểu đầu vuông. Những bước chân luôn lũn chũn vội vàng. Dáng đi tất tả ấy lúc nào cũng thu hút sự chú ý. Bộ dạng tất tả khiến cho cô có vẻ như đang mang theo một thông điệp nào đó, làm tất cả mọi người phải dõi mắt nhìn theo đến tận lúc cô dừng chân. Thậm chí cả khi cô chỉ đơn giản là đang tất tả tiến đến nhà vệ sinh. Cô Lee vừa cười thân thiện với chúng tôi vừa lôi một văn bản ra, nói:

“Đây là đơn xin gia nhập công đoàn.”

Tôi, mười sáu tuổi, nhận lấy tờ giấy cô Lee đưa.

“Đã có 227 người dự định gia nhập với chúng tôi rồi.”

Cô Lee tiếp tục.

“Công ty lúc nào cũng nói rằng họ đang nợ nần chồng chất, nhưng đây là một công ty sản xuất hàng xuất khẩu lớn cơ mà. Chúng ta phải chung sức, đòi hỏi quyền lợi cho chính mình chứ. Phải đòi được tăng lương ngày và yêu cầu có trợ cấp khi chúng ta nghỉ phép vì đến tháng. Họ đã xếp nó vào dạng nghỉ phép không được hưởng lương. Nhưng theo luật lao động đó là thời gian nghỉ phép chính đáng của chúng ta. Lẽ ra chúng ta vẫn phải được hưởng lương nếu nghỉ những ngày đó. Chúng ta chỉ cần đi làm muộn một phút thôi là đã bị lĩnh một dấu đi muộn lên thẻ chấm công và bị cắt một giờ lương rồi. Cứ cắt hết chỗ này chỗ kia thế thì chẳng trách lương chúng ta còn ít tẹo. Những chuyện như thế xảy ra chính là vì chúng ta cứ mặc cho công ty muốn làm gì thì làm không chịu phản kháng gì hết.”

Thấy chị họ và tôi không nói gì, cô Lee lại tiếp tục.

“Công đoàn này là vì tất cả chúng ta. Các cô tưởng Yoo Chae Ok lên tiếng chỉ vì quyền lợi của cô ấy hay sao? Chúng ta cần sức mạnh của tổ chức. Chúng ta phải gia nhập công đoàn và giúp Yoo Chae Ok.”

Ngồi bên bàn ăn tối lúc đêm khuya, chị họ đem chuyện Yoo Chae Ok và cô Lee kể cho anh cả nghe. Nghe chị họ kể xong, anh cả bật ra một tiếng thở dài gần như rền rĩ.

“Bọn em nên làm gì bây giờ, gia nhập à?”

Anh cả hỏi ban quản lý phản ứng thế nào.

“Họ đang cáu điên. Chỉ cần có ai gia nhập là họ sẽ sa thải người đó ngay.”

Anh cả nhìn chằm chằm tờ đơn gia nhập công đoàn.

“Bọn em nên làm gì bây giờ?”

Mãi một lúc lâu sau, anh cả mới nói.

“Hai đứa còn phải đi học nữa, nếu để ban quản lý có ác cảm thì mọi chuyện sẽ phức tạp đấy.”

Hôm sau, chúng tôi cảm nhận được bầu không khí bất an lan khắp nhà máy. Chúng tôi thầm thì với nhau.

“Yoo Chae Ok bị giám đốc công ty gọi lên rồi đấy.”

“Vì sao vậy?”

“Nghe nói giám đốc bảo ông ta có mối quan hệ ở khắp mọi nơi, Bộ Lao động, Tòa thị chính, Cơ quan Tình báo Trung ương, Văn phòng Giám sát Lao động, Sở An ninh Quốc gia, cho dù chúng ta có cố gắng vùng vẫy thế nào đi nữa thì cũng khó có thể thành lập công đoàn được, ông ta bảo chúng ta nên từ bỏ đi thôi.”

“Sau đó thì sao?”

“Yoo Chae Ok không chịu nhượng bộ nên giám đốc đã ném cái gạt tàn vào cô ấy và hét lên, Công ty và công đoàn không thể cùng tồn tại được. Ông ta còn bảo, nếu chúng ta cứ cứng đầu nhất định thành lập công đoàn, ông ta sẽ đóng cửa công ty đấy.”

Cô Lee tất tả tiến đến chỗ chị họ và tôi.

“Các cô đã suy nghĩ về chuyện đó chưa?”

Chị họ và tôi không sao trả lời được.

“Gần như tất cả mọi người ở dây chuyền A đều đã điền đơn xin gia nhập công đoàn rồi đấy. Chỉ mình hai cô định không gia nhập hay sao?”

“...”

“Chúng tôi đã báo ngày thành lập với công ty rồi. Chính vì những công nhân như các cô mà ban quản lý mới càng hành xử theo kiểu đó. Chúng ta phải đoàn kết một lòng. Phải đồng lòng thì mới đường đường chính chính tổ chức lễ thành lập ngay tại sân công ty được, và còn đặt cả biển tên công đoàn của chúng ta lên trên cổng chính nữa.”

Sau khi cô Lee bảo chúng tôi hãy suy nghĩ thêm lần nữa và quay lưng đi, quản đốc liền bước đến trước mặt chúng tôi.

“Cô Lee vừa nói gì đấy?”

Tim tôi đập thình thịch như thể tôi đã làm điều gì sai trái, còn chị họ ấp úng mãi mới trả lời được rằng cô ấy chẳng nói gì với chúng tôi hết. Quản đốc khoanh tay nhìn chằm chằm chị họ bằng ánh mắt chết người trong lúc chị họ giả vờ ngây thơ nói, Thật đấy, cô ấy chẳng nói gì cả.

“Hai cô vừa nói chuyện với cô Lee xong, thế mà lại bảo cô ta không nói gì là sao?”

Chị họ lại lắp bắp.

“Chị ấy chỉ hỏi chúng tôi có thấy công việc vất vả quá hay không thôi...”

“Ái chà, vất vả thì cô ta sẽ khiến công việc của các cô dễ thở hơn à? Hay rút tiền túi của cô ta ra để trả lương cho các cô chắc?”

Quản đốc quay sang đe dọa.

“Công đoàn hả? Bảo cô ta đừng có mà nực cười. Công đoàn sẽ chẳng đời nào được phép thành lập đâu. Giám đốc đã nói chuyện với nhiều nhà chức trách rồi. Cho dù Yoo Chae Ok có cố chạy khắp nơi cũng chẳng ăn thua đâu. Nếu hai cô không muốn bị ban quản lý để ý thì tốt nhất đừng có bao giờ mơ đến chuyện gia nhập công đoàn! Giám đốc đã nói rồi, các thành viên công đoàn sẽ không được tăng lương dù chỉ một xu.”

Quản đốc đi rồi, cô Lee lại đến lần nữa, rồi khi cô ấy bỏ đi, quản đốc lại quay lại. Sau cả một buổi sáng bị hai bên vần qua vần lại, đến bữa trưa, chị họ thì thầm vào tai tôi.

“Chị sẽ gia nhập công đoàn. Em định thế nào?”

Tôi nhìn chị họ không chớp mắt.

“Nếu chị họ gia nhập thì em cũng vậy.”

“Em bảo sẽ đi học mà?”

“Còn chị họ thì không à?”

“Chị không đi.”

Tôi, mười sáu tuổi, điền đơn gia nhập công đoàn cùng chị họ. Chị họ đưa đơn của chúng tôi cho cô Lee. Rồi chị họ bật ra một hơi thở, Phù.

Tôi trằn trọc suốt mấy ngày, bỏ đó những dòng chữ đang dang dở của mình. Trái tim tôi đau đớn như bị một mảnh gốm vỡ cứa vào. Trong tôi thường trực mối hoài nghi, Liệu tôi có thể kết thúc được tác phẩm này hay không? Bây giờ mọi người đang ở đâu, đang sống như thế nào? Yoo Chae Ok, cô Lee, quản đốc, trưởng phòng hành chính. Công ty có hơn nghìn nhân viên, hẳn đã có những người vì tai nạn nào đó mà rời bỏ thế giới này.

Đến hòn đảo này, tôi chỉ ăn mỗi ngày một bữa tử tế. Ngay lúc này đây, tôi đang ngồi ở một nhà hàng bên bờ biển, gọi một bát cháo bào ngư sau chuyến đi dạo. Nửa chừng, một người đàn ông dáng vẻ tiều tụy có lẽ tầm sáu mươi tuổi bước vào. Người đàn ông tiều tụy hỏi món canh thịt cay trên thực đơn được nấu bằng thịt lợn hay thịt bò. Khi bà chủ quán ăn đáp món đó nấu bằng thịt bò, người đàn ông bèn gọi canh đó. Lúc canh được mang ra, người đàn ông tiều tụy lôi từ trong áo khoác ra một chai rượu soju. Thấy bà chủ liếc nhìn, ông ta hỏi, Tôi uống được chứ? Bà chủ trả lời, Chúng tôi cũng có rượu, nhưng có vẻ anh đã tự mang rượu của mình đến rồi. Người đàn ông tiều tụy đáp lại, Tôi tưởng chỗ bà không có. Lại có nhà hàng không bán rượu soju ư? Bà chủ đốp lại người đàn ông tiều tụy.

Không biết ông ấy có phải là thủy thủ không?

Cho dù bị bà chủ đốp lại như thế, người đàn ông tiều tụy vẫn chuyện trò với bà ấy về thuyền bè, về những con thuyền từng rời đảo Jeju, dong buồm ra khơi từ rất lâu, trước cả thời của các con phà hiện đại, có lẽ thậm chí còn trước cả khi tôi chào đời. Rằng vào những ngày lộng gió như hôm nay, những con thuyền tàn tạ, nguy hiểm ấy sẽ bị lật nhào giữa biển khơi, mang theo rất nhiều mạng sống. Quên sạch những con phà mới hiện đang dập dềnh trên biển, quên cả cái thực tại rằng mình đang ngồi trong một nhà hàng, họ chỉ tập trung trò chuyện về những con tàu tàn tạ, nguy hiểm thời xưa. Họ quá chú tâm vào cuộc trò chuyện về những con tàu tàn tạ, nguy hiểm đã biến mất từ lâu trong quá khứ, đến nỗi tôi có cảm giác như thể họ đang ngồi trên một hòn đảo xa xăm nào đó mà tôi không thể tới gần được, dẫu rằng tôi chỉ ngồi cách họ có mấy bàn.

Trong khoảnh khắc, tôi chợt thấy rối bời. Có lẽ nào căn phòng hiu quạnh giờ đã biến thành một hòn đảo xa xôi mà tôi không còn có thể đến gần được nữa?

Khi ngồi đó trong một nhà hàng xa lạ, ăn một bữa ăn xa lạ và nghe cuộc trò chuyện xa lạ từ những người xa lạ, tôi đã nghĩ, Đến lúc mình phải về rồi. Không, ý tôi là muốn về nhà. Rằng đây không phải việc tôi nên trốn chạy. Rằng lẽ ra tôi không nên tự coi phần cuộc đời của tôi ở căn phòng hiu quạnh ấy là quá khác lạ.

Từ hồi công đoàn được thành lập... công ty không có lấy một ngày bình yên. Ban quản lý hứa hẹn sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, chỉ cần các công nhân rời khỏi công đoàn. Nhưng phút trước phút sau, họ lại đe dọa sẽ không để cho các thành viên công đoàn yên nếu những hoạt động của công đoàn không được chấm dứt. Họ đề nghị cất nhắc Yoo Chae Ok lên làm giám sát sản xuất nếu cô rút khỏi vị trí lãnh đạo công đoàn. Họ còn hứa sau này sẽ cho Yoo Chae Ok quản lý quầy thức ăn nhanh của công ty.

Chúng tôi nhất loạt hướng về phía Yoo Chae Ok.

Giờ đến cả chị họ và tôi cũng lo Yoo Chae Ok sẽ thay đổi suy nghĩ. Yoo Chae Ok. Bất chấp tất cả những sỉ nhục và đánh đập, bất chấp mọi đề nghị hòa giải, cô vẫn chính thức nhận từ Tòa thị chính giấy phép đăng ký Công đoàn Lao động cơ sở Công ty cổ phần Điện tử Dongnam. Đến lúc này, phía công ty bèn chỉ trích cô là kẻ mù quáng theo đuổi chức quyền và yêu cầu cô nhường ghế chủ tịch công đoàn cho trưởng phòng sản xuất hoặc giám sát sản xuất. Công đoàn đề nghị thành lập hội nghị giữa người lao động và công ty, nhưng ban quản lý từ chối. Quản đốc chắp tay sau lưng đi đi lại lại giữa dây chuyền sản xuất.

“Nghe nói hai cô cũng gia nhập công đoàn rồi hả?” ông ta lạnh lùng hỏi.

Quản đốc lạnh lùng ra các mệnh lệnh yêu cầu chúng tôi nhanh tay xử lý công việc. Các cô chẳng biết thân biết phận gì hết, ông ta phun ra như vậy. Rồi một hôm, công đoàn phát động chiến dịch gia tăng sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và sản lượng. Yoo Chae Ok phát cho mỗi thành viên một cái ruy băng đề “Gia tăng sản xuất” và bảo mọi người đeo nó lên ngực. Chị họ bị trưởng phòng hành chính tát vào má vì dám đeo cái ruy băng đó.

“Tại sao ông ta lại đánh chị chứ?”

Vừa xoa cái má bị tát, chị họ vừa đứng đơ người dõi theo bóng lưng trưởng phòng hành chính. Suốt ngày hôm đó, những người mang ruy băng Gia tăng sản xuất đều bị mắng chửi hoặc bị đá. Sợ cũng bị ăn đánh, tôi vội tháo ruy băng ra cầm trong tay. Các lãnh đạo công đoàn nói việc tháo ruy băng đồng nghĩa với sự đầu hàng ban quản lý công ty và thuyết phục các thành viên cứ để yên ruy băng trên ngực, nhưng ngày hôm sau, chỉ có mỗi các lãnh đạo công đoàn là vẫn còn đeo ruy băng trên ngực mà thôi. Tuy đã tháo ruy băng xuống, nhưng mọi người vẫn đoàn kết với nhau. Hễ bị bức bách là họ tụ tập lại. Bởi nếu không làm thế, họ sẽ cảm thấy bất an.

Đã đến ngày huấn luyện dân phòng. Trưởng phòng sản xuất nắm trong tay danh sách các thành viên công đoàn nằm trong số những công nhân ngủ gật trong buổi huấn luyện. Ông ta bức họ đưa đơn xin nghỉ việc. Nghỉ việc? Vì tội ngủ gật trong giờ huấn luyện dân phòng? Khi các thành viên này không đồng ý, ban quản lý bèn chuyển họ tới nhiều bộ phận khác nhau để tách họ ra.

Phí công đoàn là ba trăm won. Chuyện này lại gây thêm một vụ om sòm nữa. Công đoàn đề nghị ban quản lý công ty khấu trừ trực tiếp khoản phí này vào lương của công nhân nhưng không được chấp thuận. Vào ngày trả lương, công đoàn cố gắng thu phí ngay tại chỗ nhưng không thành vì bị ban quản lý gây trở ngại. Cuối cùng đã dẫn đến một cuộc ẩu đả giữa Yoo Chae Ok cùng các lãnh đạo công đoàn khác đang tìm cách thu phí với thành viên ban quản lý của công ty. Ngày hôm sau, một nhân viên quản lý phải nằm trong bệnh viện. Trưởng phòng hành chính lại thuyết phục Yoo Chae Ok rời khỏi công đoàn. Thấy Yoo Chae Ok từ chối, trưởng phòng hành chính hét lên.

“Nếu thế thì ngay từ giây phút này, cô bị sa thải.”

Tranh cãi nổ ra giữa trưởng phòng hành chính và Yoo Chae Ok, vì cô khăng khăng cho rằng làm thế là bất công, thành ra lại một lần nữa ban quản lý và công đoàn lao vào ẩu đả, người này túm cổ áo người kia. Giữa vụ lùm xùm, trưởng phòng hành chính bị ai đó túm cổ áo, sau đó ông ta tự mình nhập viện, kêu rằng mình bị Yoo Chae Ok và các thành viên công đoàn tấn công. Giờ thì giám đốc điều hành bèn đứng ra. Ông ta đề nghị sẽ hủy lệnh sa thải và thăng chức cho Yoo Chae Ok lên làm quản lý nếu cô chịu rời khỏi công đoàn. Khi Yoo Chae Ok từ chối, công ty bèn lấy những nhân viên quản lý đang nằm trên giường bệnh làm cái cớ để tuyên bố sa thải chủ tịch công đoàn Yoo Chae Ok và khoảng năm mươi thành viên công đoàn khác.

Tôi, mười sáu tuổi, viết thư cho Chang. Tôi viết, Hôm nay ban quản lý đã đột ngột cho dừng sản xuất, thông báo rằng cần phải có một công đoàn mới do công ty đứng ra thành lập, và đã phát đơn đăng ký gia nhập cho chúng tớ. Tuy nhiên, chỉ có vài người điền đơn. Những người không điền đều bị mắng chửi. Họ bảo chúng tớ sẽ hối hận cho xem. Họ cũng bảo các thành viên của công đoàn mới sẽ được tăng lương một trăm won một ngày. Tôi, mười sáu tuổi, miêu tả tỉ mỉ cho Chang về Yoo Chae Ok. Về việc cô ấy dũng cảm ra sao, đáng tin cậy như thế nào. Cô ấy là người đáng tin cậy cỡ như anh cả tớ vậy, tôi viết. Nhưng tớ nghĩ, cô ấy đã bị ban quản lý đánh bại rồi, tôi viết thêm.

Tuy nhiên, cho dù không có Yoo Chae Ok, công đoàn vẫn thành lập một ủy ban ứng phó cho cơ sở Công ty cổ phần Điện tử Dongnam thuộc Liên đoàn Công nhân Cơ khí Hàn Quốc, khởi động bằng một cuộc họp toàn thể với sự tham dự của các nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực. Một bức thư kêu gọi đã được gửi tới nhiều hội nhóm. Bức thư đưa ra bốn yêu cầu sau.

1. Ngay lập tức cho phép chủ tịch công đoàn, vốn đã bị sa thải một cách bất công, quay trở lại làm việc.

2. Đưa các thành viên đã bị sa thải hàng loạt trở lại làm việc và chấm dứt các hành động đàn áp những hoạt động chính đáng của công đoàn.

3. Chuyển mọi công nhân, vốn đã bị thuyên chuyển vì tham gia hoạt động công đoàn, trở về vị trí cũ.

4. Ban quản lý cần nhanh chóng chấp nhận công đoàn và đảm bảo mọi thành viên đều được tham gia hoạt động.

Cô Lee lại đến xin chữ ký chúng tôi. Đơn kiến nghị, mà hầu như tất cả nhân viên khu sản xuất đều đã ký, yêu cầu tăng 50% lương. Triển khai vận động gây quỹ trợ giúp các công nhân bị sa thải. Đặt dấu chấm hết cho sự áp bức công nhân. Yêu cầu trả lương cho những công nhân làm việc vào các ngày nghỉ, ngày lễ theo luật định và các kỳ nghỉ phép thường niên. Chấm dứt phân biệt đối xử giữa nhân viên quản lý và công nhân nhà máy. Sau khi trình đơn kiến nghị lên ban quản lý công ty, các công nhân bày tỏ thái độ phản kháng bằng cách đồng loạt từ chối làm việc quá giờ. Khi vấn đề bắt đầu gây nên những xáo động bên ngoài công ty, ban quản lý, vốn cho đến thời điểm này vẫn chưa từng chấp nhận sự tồn tại của công đoàn, cuối cùng cũng phải đồng ý nâng mức lương tối thiểu hằng ngày lên thành tám trăm ba mươi won tại Hội nghị liên hiệp người lao động và công ty. Họ nhất trí cho phép treo tấm biển của công đoàn trong công ty; đồng ý thưởng 200% một năm; cung cấp một văn phòng cho công đoàn với hai công nhân trực toàn thời gian; và tuân theo phán quyết đang chờ xử lý từ Hội đồng Lao động Quốc gia về việc phục chức cho chủ tịch công đoàn đã bị sa thải.

Tuy nhiên sau đó, chị họ và tôi không còn gặp lại Yoo Chae Ok nữa. Cô đã không được quay lại làm việc.

Trên bảng tin từng dán danh sách các công nhân bị sa thải, một thông báo mới được đưa ra, cho biết sẽ chọn các công nhân khu công nghiệp để cho đi học các lớp cấp ba đặc biệt. Theo thông báo, những công nhân nào quan tâm có thể lấy mẫu đơn từ phòng hành chính, điền đầy đủ thông tin rồi nộp lại đơn cho nhân viên hành chính tại bộ phận mình làm việc. Chị họ đến phòng hành chính lấy đơn cho tôi. Anh cả khuyên chị họ cũng nộp đơn đi. Chị họ nói không muốn.

“Sao lại không muốn?”

Chị họ không nói gì.

“Sao em lại không muốn đi học?”

“Em bao nhiêu tuổi rồi mà giờ còn đi học cơ chứ?”

“Thế em bao nhiêu tuổi rồi?”

“Mười chín.”

“Mười chín thì có gì mà già?”

“Già chứ sao không. Bạn bè em đều tốt nghiệp hết rồi.”

Anh cả lẳng lặng nhìn chị họ. Phát hoảng trước ánh mắt chằm chằm của anh cả, chị họ mất hết tinh thần.

“Em định sống đời công nhân đến tận khi nào đây?”

Chị họ ngậm chặt miệng.

“Thích nghe người khác gọi là gái công xưởng lắm à?”

Chị họ càng ngậm miệng chặt hơn, kín như bưng.

“Không đi học thì không thoát được cái kiếp đó đâu.”

Miệng chị họ vẫn không chịu mở ra.

“Thế cũng được hả?”

Chị họ cúi gằm đầu xuống.

“Hả?”

“Thì ai cũng đang sống như thế còn gì!”

Chị họ đáp lại câu hỏi của anh cả, nhưng không có tác dụng.

“Ai đang sống như thế? Ai nào? Chỉ có hai đứa là sống vậy thôi. Tất cả mọi người ai cũng đang đi học rồi vào đại học, theo đuổi những thứ mình muốn làm kia kìa.”

Bị anh cả dồn ép, chị họ giờ chực khóc đến nơi. Tuy nhiên, anh cả vẫn tiếp tục mà không hề mủi lòng.

“Thế ý em là muốn cứ sống ở đây thế này cả đời sao?”

“Cả đời cái gì mà cả đời chứ? Em còn tiết kiệm tiền mua máy ảnh, rồi còn lấy chồng nữa chứ.”

Anh cả dịu giọng, khẽ bật cười.

“Máy ảnh làm gì?”

Tôi trả lời, sau khi chỉ ngồi im theo dõi hai người nói chuyện.

“Chị họ muốn làm nhiếp ảnh gia.”

Anh cả nói, Ước mơ lớn đấy, rồi thêm, dường như thấy hơi có lỗi, nhưng vẫn kiên quyết, Chuyện kết hôn cũng tương tự vậy. Nếu làm việc ở nhà máy thì em chỉ gặp được người ở trình độ đấy mà thôi. Ở cái nước này, muốn sống cho tử tế thì trước hết phải đi học cái đã. Thấy chị họ vẫn không chịu nói sẽ đi học, anh cả lại cao giọng.

“Thế thì lặn lội lên tận đây sống để mà làm gì? Sao không đi làm ở ngay nhà máy nào gần nhà ấy? Nếu em không định đi học thì thu dọn đồ đạc quay về nhà đi.”

Chị họ sưng sỉa mặt mày, nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác, đành phải đi lấy đơn đăng ký từ phòng hành chính về, vừa điền vừa hỏi tôi.

“Sao em lại đi học?”

Tôi, mười sáu tuổi, sững người trước câu hỏi của chị họ. Tôi chỉ đơn giản cho rằng đó là việc cần phải làm. Chị họ là người đầu tiên hỏi tôi tại sao. Chẳng thể trả lời được tại sao mình lại đi học, tôi bảo với chị họ rằng nếu chúng tôi có thể đến trường cùng nhau thì sẽ rất hay mà. Thêm nữa, nếu chúng tôi được tuyển, công ty sẽ chi trả học phí cho. Chị họ khịt mũi.

“Em tưởng công ty yêu quý gì chúng ta nên làm thế chắc? Họ làm thế vì lợi thuế cả đấy. Nếu đi học chúng ta sẽ không thể làm việc thêm giờ được còn gì. Thực ra, chúng ta còn phải nghỉ làm trước giờ một tiếng đồng hồ nữa cơ, chẳng lẽ công ty lại không cắt tiền lương một giờ đấy? Vậy thì đến khi nào chị mới để dành đủ tiền mua máy ảnh chứ.”

Sau khi điền xong đơn đăng ký, thuần túy chỉ vì bị anh cả hối thúc, chị họ lại càng trở nên bực bội hơn về chuyện xét tuyển. Họ ra chỉ tiêu tuyển mười lăm học sinh, nhưng có tới một trăm sáu mươi người đã đăng ký. Một thông báo nữa được đưa ra, cho biết việc tuyển chọn sẽ cơ bản dựa trên quá trình lao động và kinh nghiệm làm việc của các ứng viên tại nhà máy, cùng một bài thi nữa. Bài thi sẽ được giám sát bởi chủ tịch công đoàn.

Ngay cả bây giờ tôi vẫn không sao hiểu nổi chuyện này. Vì cần cớ gì mà ban quản lý lại nảy ra ý tưởng giao cho công đoàn xử lý cuộc tuyển chọn học sinh cho lớp học đặc biệt dành cho các công nhân khu công nghiệp? Không biết liệu đây có phải chiêu hòa giải của họ trước thái độ chống đối cứng rắn yêu cầu để Yoo Chae Ok quay lại với công việc?

Dù ban đầu khăng khăng không định đi học nhưng khi ngày thi được quyết định và có thông báo cho hay, do số người đăng ký quá đông nên công ty sẽ ưu tiên những ứng cử viên có kinh nghiệm làm việc lâu năm, thì chị họ lại có vẻ lo lắng.

“Làm thế nào bây giờ? Tính đến nay chúng ta mới làm việc chưa được đầy sáu tháng.”

“Làm bài tốt là được mà.”

Chị họ trở nên ủ rũ hẳn. Nói mình không đủ tự tin xong chị họ lại quay ra hỏi tôi, Làm thế nào bây giờ? Tôi thì có cách gì đây. Tuy nói “làm bài tốt là được” nhưng chúng tôi thậm chí còn chẳng thể học hành tử tế để mà chuẩn bị cho kỳ thi. Chúng tôi cũng không có sách để học.

“Nếu chúng ta trượt thì sao?”

“Chúng ta sẽ không trượt đâu.”

“Nhưng từ lúc chị tốt nghiệp cấp hai đến giờ đã ba năm rồi. Chị làm sao giống em được!”

Tôi cố gắng xoa dịu nỗi bất an của chị họ.

“Nghe nói những người khác đã tốt nghiệp năm năm, sáu năm rồi đấy thôi. Dù gì chị em ta cũng là hai người đăng ký nhỏ tuổi nhất. Tất cả bọn họ đều đã hai ba, hai tư, thậm chí hai lăm ấy chứ.”

Vẫn không bị thuyết phục, chị họ lẩm bẩm, Nhưng nếu mà trượt thì xấu hổ lắm, rồi sau đó ngẫm nghĩ thế nào bèn đề nghị tôi cùng viết một bức thư.

“Cho ai cơ?”

“Cho chủ tịch công đoàn!”

Chủ tịch công đoàn? Để đền bù cho việc sa thải Yoo Chae Ok, ban quản lý đã bố trí một văn phòng cho công đoàn ở trên sân thượng ngay cạnh căng tin và chủ tịch mới được bầu giờ làm việc ở đó toàn thời gian.

“Chúng ta nói gì mới được chứ?”

“Thì viết là chúng ta tha thiết muốn được đi học chứ còn gì nữa.”

“Cứ như thể những người khác thì không ấy.”

“Người khác là người khác, còn chúng ta là chúng ta. Nếu kết quả thi tương đương nhau, người ta sẽ dựa vào bức thư mà chọn chúng ta.”

Ngẫm nghĩ một hồi, tôi thấy có vẻ như chị họ cũng có lý. Chị họ dường như bị thuyết phục bởi chính suy nghĩ của mình, đôi mắt vừa mới rầu rĩ giờ sáng lên lấp lánh.

“Em viết đi. Em chẳng bảo em muốn thành nhà văn còn gì.”

“Mỗi người tự viết của mình chứ. Viết chung thế nào được.”

“Thì em viết thư, tên thì cả hai chúng ta cùng ký, thế là được chứ gì.”

Hôm trước ngày thi, tôi, mười sáu tuổi, ngồi bò ra bàn anh cả và viết chúng tôi khao khát được đến trường tới mức nào. Ban đầu tôi thấy mông lung không biết phải viết gì, nhưng cuối cùng bức thư lại hóa dài. Tôi viết rằng đối với chúng tôi, được mặc đồng phục chính là một ước mơ lớn lao, và rằng nếu được học hành đến nơi đến chốn, tôi hy vọng sẽ trở thành nhà văn còn chị họ sẽ thành nhiếp ảnh gia. Rằng nếu được trao cho cơ hội này, chúng tôi sẽ không bao giờ quên ơn của chủ tịch công đoàn. Cuối thư, chúng tôi đề ngày, tên của hai chị em rồi sau đó dán bì thư lại. Chị họ nhận nhiệm vụ đem lá thư tới để trên bàn chủ tịch công đoàn tại văn phòng vào sáng hôm sau.

Đến tối, anh cả về nhà mang theo mấy thỏi kẹo kéo phủ bột trắng, để chúc may mắn.

“Chúc hai đứa thi tốt.”

Kẹo kéo anh cả mua cho chúng tôi thật ngọt. Chúng tôi nhìn bột kẹo dính trên má nhau cười rồi đưa tay chùi cho nhau. Anh cả bảo chúng tôi ăn xong kẹo thì đánh răng và đi ngủ sớm, nhưng cả đêm chúng tôi chẳng tài nào ngủ được, cứ vừa trằn trọc vừa lắng nghe tiếng thở mệt mỏi của anh cả. Để đi thi chúng tôi phải đến công ty sớm hơn thường lệ một tiếng. Chị họ và tôi còn phải đến sớm hơn nữa vì phải đặt bức thư lên bàn của chủ tịch công đoàn. Trong lúc chúng tôi làm bài thi, chủ tịch công đoàn nhìn tôi chằm chằm. Anh ta nhìn tên tôi được viết trên tờ điền đáp án và toét miệng cười. Anh ta nhắc tên chị họ và hỏi chị họ đang ngồi ở đâu. Tôi chỉ tay về phía chỗ chị họ đang ngồi, ở một hàng khác phía bên kia. Chủ tịch công đoàn vỗ vỗ vai tôi rồi đi tiếp sang chỗ khác. Danh sách các học sinh trúng tuyển được dán ở căng tin. Tôi xếp hạng nhất còn chị họ hạng nhì. Lúc đến văn phòng công đoàn để nhận giấy báo trúng tuyển, chúng tôi có cảm ơn chủ tịch công đoàn nhưng anh ta đáp, Các cô không cần cảm ơn tôi làm gì, hai cô đạt điểm cao nhất mà, rồi nói thêm, Tôi đánh giá cao bức thư đấy.

Một hôm, tôi, mười sáu tuổi, được chủ tịch công đoàn gọi vào văn phòng. Anh ta đang ngồi ở bàn làm việc trong bộ đồng phục xám, khi tôi bước vào, anh ta bảo tôi tiến gần lại bàn.

“Tại sao hồ sơ của cô ở công ty và giấy tờ nhập học lại không giống nhau?”

Tôi, mười sáu tuổi, lúng túng không thể trả lời.

“Nói tôi nghe xem nào, sao lại thế?”

Anh ta mềm giọng.

“Thực ra thì...”

Tôi lắp bắp nói cho anh ta biết thực ra tôi mười sáu chứ không phải mười tám tuổi, và rằng tên tôi không phải là Lee Yeon Mi.

“Mười sáu?”

Chủ tịch công đoàn liếc nhìn tôi rồi hỏi vẻ không tin. Từ hồi mười bốn tuổi, tôi đã phát triển đến chiều cao trưởng thành. Chiều cao của tôi bây giờ cũng y hệt hồi đó.

“Vậy Lee Yeon Mi là ai?”

Chuyện đó tôi cũng chẳng biết. Điều duy nhất tôi biết là phải ít nhất mười tám tuổi mới được vào làm công nhân Công ty cổ phần Điện tử Dongnam, tôi, mười sáu tuổi, không đủ điều kiện nên đã nộp các giấy tờ anh cả chuẩn bị cho. Anh cả hẳn sẽ biết Lee Yeon Mi là ai. Tôi chỉ đơn thuần nhận giấy tờ từ anh cả chứ cũng chẳng hỏi xem Lee Yeon Mi là người nào. Chủ tịch công đoàn lại lên tiếng sau một lúc lâu im lặng.

“Hiện giờ chúng ta đang thiếu nhân viên nên chắc sẽ chẳng có vấn đề gì đâu. Không những thế, cô còn đã làm việc ở đây được bảy tháng rồi. Nhưng cô không thể nhập học bằng cái tên Lee Yeon Mi được, vậy nên hãy mang giấy tờ thật đến đây.”

Anh ta nói với thái độ tử tế, nhưng tôi cứ có cảm giác mình đang bị tra hỏi. Có lẽ nhận ra cảm giác của tôi nên anh ta nói thêm, Học hành chăm chỉ đấy nhé, đời người chẳng có mấy cơ hội học hành đâu. Nhờ chủ tịch công đoàn, tôi cũng đã lấy lại được tên của mình trên hồ sơ của công ty. Nhờ anh ta, phong bì trả lương của tôi đã mang tên tôi thay vì Lee Yeon Mi, cái tên tôi chẳng hề hay biết. Nhờ anh ta, tôi không còn ngơ người ra khi ai đó gọi tôi, Cô Lee Yeon Mi? đến nỗi mãi sau mới trả lời lại, Vâng, vâng!

Bây giờ mọi người gọi tôi bằng tên của chính tôi, cái tên thuộc về tôi mười sáu tuổi.

Chủ tịch công đoàn. Nếu không phải vì đã quên mất tên anh ta thì tôi cũng muốn tự tay mình viết lại cái tên ấy, dù chỉ một lần. Tên anh ta đã chìm vào quên lãng, nhưng dáng vẻ của anh ta thì không. Thấp người, giọng nhẹ nhàng, bàn tay thô ráp.

Anh ta đi làm hằng ngày bằng xe đạp. Chiếc xe đạp anh ta đi vẫn thường lướt qua con đường chị họ và tôi cùng nhau đi bộ trở về căn phòng hiu quạnh, mỗi khi gặp nhau trên con đường đó, anh ta sẽ xuống xe dắt bộ bên cạnh chúng tôi. Thỉnh thoảng, anh ta dẫn chị họ và tôi về căn phòng trọ ở ngôi nhà hai tầng nằm trên con đường sau chợ, nơi anh ta từng sống cùng vợ và cậu con trai ba tuổi, mời chúng tôi ăn hoa quả hoặc pha trà thanh yên nóng cho chúng tôi uống. Đôi lần, dù rất hiếm hoi, anh ta còn để chị họ ngồi phía trước còn tôi ngồi phía sau rồi đạp xe đèo chúng tôi giúp phần thu ngắn quãng đường về căn phòng hiu quạnh của hai chị em. Trong giờ làm việc, khi cảm thấy có ai đó đang bóp bóp vai cho mình, tôi quay lại phía sau và sẽ thấy anh ta đang đứng ngay đó, nhìn thấy đôi mí mắt mệt mỏi của tôi, anh ta sẽ vô thức với tay ra định xoa mắt cho tôi rồi đột ngột dừng lại, bỏ đi.

Một con người ấm áp, nhưng cũng là người đã bị tôi phản bội.

Mùa đông đó, sau khi trượt kỳ thi tuyển vào các trường đại học hàng đầu, anh ba lên Seoul để thi vào các trường hạng hai. Ngồi dựa lưng vào tường căn phòng chật chội nơi ba chúng tôi đang sống, anh ba liếc nhìn tôi rồi trở nên ủ rũ. Anh cả thuyết phục anh ba đăng ký học chương trình tại chức buổi tối ở một trường đại học hạng hai rồi thi vào làm công chức giống như mình. Anh ba, mái tóc vẫn để nguyên kiểu húi cua như hồi cấp ba, không trả lời. Anh chỉ làm bài thi vào các trường đại học hạng hai rồi lẳng lặng quay về nhà, chẳng buồn chào tạm biệt. Dù anh ba không hề trả lời rõ ràng rằng mình sẽ làm theo lời khuyên của anh cả, nhưng tên anh vẫn nằm trong danh sách các thí sinh trúng tuyển vào lớp luật tại chức. Lúc lên lại Seoul để kiểm tra sức khỏe, anh ba cũng vẫn không mỉm cười. Ngồi trước bàn ăn tối, anh ba không đụng đũa mà chỉ phàn nàn về chuyện bốn người sẽ sống ra sao trong căn phòng này, cục cằn như thể mọi chuyện đều do lỗi của anh cả.

“Em sẽ ngủ trên gác xép.”

Chị họ đề xuất.

“Em cũng vậy.”

Tôi nói theo. Anh cả bảo không nhất thiết phải làm thế. Rằng khi nào căn phòng bên cạnh trống người, chúng tôi sẽ thuê thêm phòng nữa. Nhưng chị họ và tôi biết quá rõ, rằng tiền chúng tôi kiếm được sẽ chẳng thể nào đủ để thuê hai phòng. Đến mùa xuân, khi chị họ và tôi bắt đầu đi học, chúng tôi sẽ không thể làm thêm giờ được nữa và thu nhập của chúng tôi sẽ giảm đi nhiều. Nghe chúng tôi đề nghị lên ngủ trên gác mái, anh ba dường như càng tức giận hơn, anh trừng mắt nhìn anh cả. Trái tim tôi chùng xuống. Chẳng phải vì bị người nào ngăn cấm, nhưng trong số mấy anh chị em tôi chưa từng có ai dám trừng trừng nhìn anh cả với vẻ thách thức như thế bao giờ. Từ bé đến lớn chúng tôi đã thế rồi, dù thực sự là chẳng vì nghe lời ai. Đến cả anh hai, vốn chỉ nhỏ hơn anh cả ba tuổi, cũng chưa bao giờ, dù chỉ một lần chống đối lại anh cả. Từ nhỏ đã không, hồi đó không, bây giờ cũng không, ở anh cả có cái ấn tượng đó. Tuy không phải một người giỏi đánh nhau, cũng chẳng phải người sẵn sàng sử dụng bạo lực mọi nơi mọi lúc, nhưng ở anh vẫn có một điều gì đó khiến chúng tôi không thể nhõng nhẽo hay cố tình gây sự. Anh quá mức chỉn chu, đến độ làm người khác cảm thấy dường như sự chỉn chu ấy chính là một khiếm khuyết. Từ nhỏ, anh đã luôn lễ phép với bố mẹ, thân thiện với mọi người và luôn dành hết tâm trí cho việc học, lại cộng thêm vẻ ngoài gọn gàng sáng sủa ai nhìn cũng phải quý mến, vậy nên khi bị bố hoặc mẹ rầy la, Tại sao không cố mà học theo anh cả đi, mấy đứa em chúng tôi chỉ đơn giản cảm thấy mình thật tầm thường, không thể bác bẻ hay biện hộ. Anh là người luôn nỗ lực hết sức mình. Không chỉ trong việc học mà còn ở cả thái độ lễ phép với bố mẹ và cách cư xử của bậc làm anh đối với đàn em, anh luôn luôn cố gắng hết khả năng của mình.

Ấy vậy mà bây giờ, anh ba đang trừng mắt nhìn anh cả.

Anh cả điềm nhiên đón nhận ánh nhìn của anh ba và nói, Ăn cơm đi. Rồi anh nói thêm, Em gái em sẽ vừa đi làm ở nhà máy vừa đi học các lớp học buổi tối đấy. Thậm chí anh còn nói thêm, Con bé nói nó muốn thành nhà văn nữa, phải không? Chỉ đến khi đó anh ba mới tránh mắt đi chỗ khác và cầm thìa lên ăn. Một bóng mây u ám phủ lên khuôn mặt anh. Chúng tôi im lặng ăn cho xong bữa. Sau khi rửa bát đũa xong xuôi, tôi ngại ngần không muốn quay trở vào phòng nên đi thẳng lên sân thượng và thấy anh ba đang đứng cạnh lan can trên đó, nhìn chăm chăm xuống những ống khói nhà máy lô nhô. Anh ba là người có lòng tự tôn vô cùng lớn. Anh không chịu thua bất cứ ai. Thực ra, nói cho đúng hơn thì anh là người đa tài. Ở quê, chẳng đứa trẻ nào không sợ anh. Anh là một vận động viên xuất sắc, rất có uy và rất ham đọc sách, thành ra anh rất hiểu biết. Đi đến đâu anh cũng là người đứng đầu. Nhưng anh đã trượt kỳ thi vào các trường đại học hàng đầu và sắp trở thành sinh viên của một trường tại chức. Khi tôi quay người định trở xuống vì không muốn quấy rầy dòng suy tưởng của anh trong lúc chăm chăm nhìn xuống những ống khói nhà máy thì anh gọi tên tôi. Tôi bước đến, anh ba xoa đầu tôi.

“Chuyện anh cả nói có thật không?”

“Chuyện gì ạ?”

“Chuyện em muốn làm nhà văn ấy?”

Vì người hỏi câu này là anh ba nên tôi chẳng còn tự tin chút nào. Bởi chính anh mới là người nên thành nhà văn chứ không phải tôi. Bởi anh mới là người chăm đọc sách đến phát sợ, còn tôi chỉ đọc lỏm được vài cuốn sách anh đọc dở mà thôi. Bởi cho đến tận lúc ấy, những nhà văn tôi biết hay những cuốn sách tôi đã đọc, tất cả đều là nhờ anh. Đương nhiên, anh không chỉ là người ham đọc sách mà còn là một học sinh giỏi chẳng kém cạnh gì anh cả, nhưng nhờ tính cách hướng ngoại hơn anh cả nên anh có nhiều bạn bè hơn. Anh luôn đứng đầu tại các cuộc thi điền kinh của trường, từng chơi trống trong ban nhạc, là vận động viên xuất sắc của đội tuyển bóng ném trường, và được chọn làm chủ tịch hội học sinh hết năm này qua năm khác. Nếu ở anh có khía cạnh nào đó khác với anh cả, thì đó chính là anh không phải một học sinh gương mẫu điển hình. Anh đồng thời còn là một kẻ gây rối ranh mãnh. Anh ba là người bị bố cho ăn roi nhiều nhất, dù bố chưa từng giơ roi lên với chúng tôi bao giờ. Vì anh đã lấy nguyên cả thùng mì ăn liền từ cửa hàng hoặc cùng đám bạn thân ăn trộm gà nhà hàng xóm. Thế nhưng, bất cứ khi nào có cơ hội là anh lại không ngừng viết viết xóa xóa vào cuốn sổ tay của mình. Mở bất kỳ trang nào trong cuốn số tay của anh ra cũng thấy kín đặc những con chữ mảnh, nhỏ, tựa như sương mù giăng. Tình yêu viết lách của anh mãnh liệt đến độ tôi không khỏi băn khoăn tại sao anh lại chọn chuyên ngành luật thay vì văn học. Trước một người như anh, tôi không đủ tự tin để nói rằng tôi muốn thành nhà văn.

“Em có sự điềm tĩnh.”

Thấy tôi không trả lời, anh ba đã cất lời như vậy, Em có sự điềm tĩnh.

“Vậy nên em sẽ là một nhà văn xuất sắc, em hãy viết cả phần của anh nữa.”

Anh ba tiếp tục.

“Anh sẽ thành công tố viên và vực dậy gia đình mình.”

Một Chủ nhật, chị họ và tôi tới hiệu may gần ngồi trường hai chị em sắp học để may đồng phục. Chị họ đúng kiểu người thắt đáy lưng ong. Tôi đang liếc trộm vòng eo mảnh mai của chị họ thì bị chị bắt quả tang. Chị họ lườm làm tôi không khỏi luống cuống, rồi sau đó cả hai chị em cùng phá lên cười. Rất ra dáng một người chị lớn, chị họ dẫn tôi tới chợ Garibong-dong và đãi tôi một bát mì ê hề bánh gạo để ăn mừng việc may đồng phục mới. Tôi vốn háo hức muốn đến trường là vậy, nhưng giờ đây, chính tôi lại thấy bình tĩnh trong khi chị họ, lúc trước hoàn toàn thờ ơ với việc đi học, giờ lại phấn khích không sao tả xiết trước vụ đặt may đồng phục mới, chị họ xì xụp húp nước mì, hai gò má chị họ đỏ bừng. Chị họ nói.

“Sau lễ khai giảng, chị em mình cùng mặc đồng phục về thăm nhà một chuyến đi.”

Thấy tôi không trả lời, chị họ hỏi lại, Được không? Chị họ cứ thúc ép mãi nên tôi đành đồng ý. Chỉ có điều, tôi cũng chẳng biết liệu chúng tôi có thu xếp được thời gian hay không.

Tôi lên mười bảy còn chị họ hai mươi tuổi. Giờ là tháng Một năm 1979, bước sang năm mới cuộc sống cũng trở nên tất bật hơn. Anh cả đã tốt nghiệp đại học còn anh ba bắt đầu năm thứ nhất. Anh ba đã tham gia kỳ thi tuyển công chức, đúng theo lời anh cả khuyên, nhưng sau đó lại không đến khám sức khỏe và bị hủy kết quả thi. Thay vào đó, anh hứa với anh cả. Rằng anh sẽ chỉ tập trung vào việc học tập, để lấy được học bổng và đỗ kỳ thi hành nghề luật. Anh cả, chẳng mấy nữa sẽ tham gia nghĩa vụ quân sự, giương đôi mắt mệt mỏi nhìn anh ba, người đã không đi kiểm tra sức khỏe, đang quyết tâm sẽ chỉ tập trung vào việc học.

“Giờ anh sắp đi nghĩa vụ quân sự làm lính phòng vệ rồi. Anh sẽ không thể trả tiền thuê nhà được nữa. Cũng không cần lâu dài gì, chỉ mong em gánh vác trách nhiệm đó giùm anh cho đến khi anh xuất ngũ thôi.”

Công đoàn và ban quản lý có vẻ hòa hợp được một thời gian, nhưng sang năm mới lại mỗi bên một phách. Cô Lee bảo chúng tôi.

“Xem quảng cáo của công ty chúng ta trên ti vi đi. Ná thở lắm đó.”

Đến đài chúng tôi còn chẳng có, nói gì đến ti vi. Vào Chủ nhật, giữa lúc hai chị em tôi đang ở cửa hàng mua bột giặt thì chị họ đột nhiên kéo cánh tay tôi rồi kêu lên, Kia kìa! Trên màn hình ti vi của cửa hàng, một cô gái xinh đẹp tóc dài mặc áo khoác da và đeo tai nghe đang say sưa hát theo một bài hát nước ngoài. Rồi cô vừa mỉm cười vừa nhắc đi nhắc lại, Dongnam Stereo, Dongnam Stereo. Khi từ Dongnam Stereo vang vọng dội ngược lại, dàn stereo mà chúng tôi đã hàn và lắp ráp bao nhiêu ốc vít đó huy hoàng hiện ra, choán hết màn hình. Lúc mở gói bột giặt, chị họ bảo, Cái bài hát lúc nãy ấy.

“Bài hát nào?”

“Bài hát mà cái cô đeo tai nghe hát theo trong quảng cáo sản phẩm của chúng ta ấy.”

Giờ, chúng tôi đã quên hẳn từ “dàn stereo” mà chỉ nói “sản phẩm của chúng ta”.

“Bài hát ấy thì sao?”

“Đó là bài What can I do của Smokie!”

“Smokie là ai?”

“Nhóm nhạc chị thích đấy. Họ còn có bài hát tên là ‘Living next door to Alice’ nữa cơ, em biết buồn đến mức nào không? Có chàng trai yêu thầm cô gái tên Alice sống ở nhà bên suốt hai mươi tư năm. Anh ta không dám thổ lộ tình cảm mà chỉ dõi theo cô ấy từ đằng xa, nhưng rồi một ngày một chiếc limousine hào nhoáng đã đến đưa Alice đi.”

Chị họ bỏ gói bột giặt xuống sàn và hét to, y như cô gái trong chương trình quảng cáo đã hét Dongnam Stereo. What can I do!

Lương của chúng tôi thường xuyên bị trả chậm. Ban đầu bị chậm mất hai ngày, tháng tiếp theo là năm ngày, rồi tháng tiếp theo nữa là mười ngày. Ban quản lý đổ cho tình hình sản xuất đi xuống. Cô Lee nổi giận.

“Sản xuất đi xuống ư, các cô cũng nghĩ như vậy hả?”

Chúng tôi không nghĩ như vậy. Sáng sáng, giám sát sản xuất đều cho công nhân xếp hàng ở khu sản xuất để ấn định chỉ tiêu sản xuất trong ngày, và ngày nào lượng chỉ tiêu cũng chỉ tăng chứ không có giảm. Để đạt được chỉ tiêu, tốc độ của dây chuyền sản xuất cũng tăng lên và chúng tôi phải giảm một nửa tiêu chuẩn nghỉ mười phút buổi sáng và buổi chiều xuống còn năm phút mỗi buổi. Tôi, giờ đã là một công nhân lành nghề, miệt mài cầm cái đầu vặn dùng khí nén và lắp ráp các ốc vít, chẳng ngẩng mặt lên được một giây nào. Ấy vậy mà họ lại nói tình hình sản xuất đang đi xuống ư.

“Lý do không phải vì tình hình sản xuất đi xuống, mà bởi ban quản lý đang mở một chi nhánh mới. Thế nên mới chậm trả lương cho chúng ta. Mở chi nhánh thì cũng được thôi, nhưng tại sao họ lại phải giữ lương của chúng ta để phục vụ cho mục đích đó chứ?”

Chẳng ai biết tại sao. Điều duy nhất chúng tôi biết là lương bị chậm, cuộc sống của tất cả mọi người đều biến thành một mớ bòng bong. Bởi vì tiền lương là toàn bộ chi phí sinh hoạt của chúng tôi. Nếu lương bị chậm, tiền thuê nhà cũng bị chậm và chúng tôi chẳng còn tiền để gửi về nhà, chẳng ky cóp được tiền để dành cho quỹ tiết kiệm tương hỗ của chúng tôi.

Công đoàn bắt đầu bàn tới khả năng phản đối tập thể việc làm thêm giờ.

Cô Myeong ở phòng hành chính. Đối tượng chị họ ghen tị nhất trong toàn công ty. Thay vì hàn, thay vì lôi những đầu vặn dùng khí nén xuống, cô Myeong luôn chỉ kẹp tài liệu dưới cánh tay, bận bịu đi tới lui quanh nhà máy hoặc kiểm tra thẻ chấm công của chúng tôi. Bên trong ngăn kéo bàn làm việc của cô là chìa khóa kho dự trữ của chúng tôi. Cô có mái tóc đen, xoăn nhẹ nhàng buông xuống hai vai, đôi mắt trong trẻo và làn da láng mịn. Khi cô Myeong nhướn hai hàng lông mày rõ nét và nhoẻn cười dưới ánh mặt trời, hàm răng cô trắng lóa. Khi cô Myeong kẹp tập tài liệu màu vàng đựng các giấy tờ dưới cánh tay, bước qua luống hoa, đôi bắp chân bóng láng của cô chuyển động đầy sức sống bên dưới gấu váy. Chị họ ngưỡng mộ mọi thứ ở cô Myeong. Đặc biệt ở điểm cô là một nhân viên quản lý chứ không phải công nhân thuộc bộ phận sản xuất.

Cũng chính cô Myeong một ngày nọ đã đề nghị gặp tôi và chị họ. Được một người mà bấy lâu nay mình mới chỉ dám quan sát từ xa chứ chưa từng một lần bắt chuyện gọi đến gặp, dù không biết lý do là gì nhưng trái tim tôi vẫn đập thình thịch.

“Chúng ta cũng có gây ra tội lỗi gì đâu mà.”

Chị họ cố hết sức ra vẻ bình thản.

“Chúng ta chưa đi làm muộn bao giờ, cũng chưa một lần nào nghỉ việc sớm.”

Cô Myeong nở nụ cười ngọt ngào hỏi hai chị em tôi có nộp đơn gia nhập công đoàn không. Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu ra tại sao trái tim tôi lại tự dưng đập thình thịch khi cô Myeong yêu cầu gặp chúng tôi.

“Các cô là thành viên công đoàn ư?”

Cô Myeong lại trưng nụ cười ngọt ngào đó ra. Chị họ và tôi lúng túng mãi không trả lời nổi.

“Các cô vẫn định đi học chứ?”

Cô Myeong hỏi tiếp. Không hiểu câu hỏi đó có ý gì, chị họ và tôi đứng nhìn cô ta chằm chằm. Các cô vẫn định đi học chứ? Chuyện đó chẳng phải đã được quyết định rồi sao? Chúng tôi còn may cả đồng phục nữa rồi. Cô Myeong thấp giọng nói trong lúc lật giở đống hồ sơ.

“Giám đốc cho rằng công ty không thể chu cấp học phí cho các thành viên công đoàn được.”

Chúng tôi chỉ biết đứng đó nhìn cô Myeong. Mãi một lúc sau cô Myeong mới nói tiếp.

“Điều đó có nghĩa là, nếu muốn được đi học thì các cô phải rời khỏi công đoàn.”

Chị họ và tôi rời khỏi phòng hành chính cất bước về khu sản xuất, đầu cúi gằm. Ngay khi chúng tôi bước vào khu của mình, nhiều người đang ngồi bên dây chuyền sản xuất nhất loạt ngước lên nhìn chúng tôi. Đột ngột, chị họ và tôi trở thành đối tượng bị săm soi dưới ánh mắt nghi ngờ của những công nhân ở dây chuyền sản xuất. Cô Lee, người có những bước chạy luôn tất tả, người đã đến thuyết phục chúng tôi viết đơn gia nhập công đoàn, giờ lại tất tả chạy tới hỏi chị họ và tôi, mười bảy tuổi, Cô Myeong nói gì vậy? Chị họ và tôi lúng búng. Trong lúc lúng búng đó, cả chị họ và tôi đều cùng nghĩ đến chủ tịch công đoàn, đến người chúng tôi đã từng viết thư cho. Sau khi gia nhập công đoàn, chị họ và tôi chưa làm được gì hết. Chúng tôi chỉ đơn thuần viết tên và địa chỉ của mình lên các giấy tờ. Cho đến tận lúc ấy, chúng tôi vẫn chưa vỡ vạc ra công đoàn là gì và công đoàn đang cố gắng làm gì, nhưng sâu thẳm trong tâm, chúng tôi biết việc rời bỏ công đoàn cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi phản bội lại chủ tịch. Bằng việc bất thình lình gọi chúng tôi đến gặp như thế, cô Myeong đã khiến chúng tôi không khỏi mặc cảm tội lỗi trước cô Lee tất tả và chủ tịch công đoàn có giọng nói dịu dàng.

Con đường về nhà sau khi tan làm lạnh khủng khiếp. Nhà máy của chúng tôi nằm ở Khu Liên hiệp Công nghiệp số 1, vậy nên nhiều công nhân thuê phòng ngay gần khu số 1, nhưng căn phòng hiu quạnh của chúng tôi lại nằm gần Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3. Bởi ở đó có ga tàu điện ngầm. Bởi anh cả và anh ba phải bắt tàu điện ngầm ở ga đó để tới Ủy ban phường, tới trường đại học. Hôm ấy, con đường trở về căn phòng hiu quạnh của chúng tôi dài hơn và lạnh giá hơn. Ngày mai các thành viên công đoàn sẽ bắt đầu từ chối làm thêm giờ, chúng tôi sẽ phải làm thế nào đây, chị họ và tôi run rẩy. Câu cô Myeong hỏi chúng tôi, Các cô vẫn định đi học chứ, quất vào tai chúng tôi như cơn gió lạnh đập vào cột điện. Nếu chúng tôi cùng với các thành viên công đoàn từ chối làm thêm giờ thì có phải chúng tôi sẽ không được tới trường không? Chỉ còn một tháng nữa là khai giảng rồi. Đầu óc tôi rối tung như mớ bòng bong còn trái tim tôi trĩu nặng. Chị họ rút bàn tay đang thọc sâu trong túi áo ra và nắm lấy tay tôi. Rồi chị họ lại buông tay tôi ra để tháo chiếc khăn quàng từ trên cổ mình xuống và quấn quanh cổ tôi, sau đó chị họ lại cầm lấy một tay tôi nhét vào trong túi áo to rộng của mình, nắm thật chặt.

“Găng tay của em đâu rồi?”

Tôi không trả lời. Lúc này, găng tay thì có liên quan gì cơ chứ, tôi nghĩ.

“Em làm mất rồi à?”

Tôi gật đầu khó nhọc.

“Đầu óc em để đi đâu thế? Đã làm mất khăn quàng cổ rồi, giờ lại đến găng tay nữa hả?”

Tôi nhìn chị họ không chớp mắt giữa cơn gió buốt giá, như thể sắp khóc đến nơi.

“Em, động một tí là khóc.”

Chị họ cũng thế đấy thôi, tôi những muốn đáp trả lại chị họ như thế nhưng cố nhịn. Chị họ nắm chặt bàn tay tôi bên trong túi áo mình thất thểu bước đi, chị dẫn tôi tới chợ, mua cho tôi một đôi găng tay mới và đeo vào tay tôi.

“Giờ thì đừng làm mất nữa đấy. Khi nào đi học, chắc chúng mình sẽ phải chịu lạnh đến tận tháng Ba. Vì ngày nào cũng tối muộn mới về mà. Có khi chị em ta còn phải đeo găng tay suốt cả tháng Tư ấy chứ.”

Trên cây cầu vượt mà chúng tôi buộc phải băng qua để về với căn phòng hiu quạnh của mình nằm ở Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3, chị họ, người run bần bật, cuối cùng cũng hỏi tôi. Rằng hôm sau chúng tôi nên làm gì. Tôi, mười bảy tuổi, thở vào chiếc khăn quàng cổ của chị họ hai mươi tuổi và lần đầu tiên, gọi “chị họ” là “chị”, danh xưng trước đó tôi chưa bao giờ dùng.

“Chị làm thế nào thì em sẽ làm theo như thế.”

Chị họ, vẫn run rẩy trong cơn gió buốt da, nói.

“Chị cũng chẳng biết phải làm thế nào đâu.”

Suốt cả buổi sáng hôm sau, chị họ và tôi bồn chồn lo lắng không yên. Cô Lee đến tìm chúng tôi để truyền đạt lời nhắn nhủ kiên quyết.

“Hôm nay bắt đầu không làm thêm giờ nhé.”

Buổi trưa lúc đến căng tin, chúng tôi nhận ra không phải chỉ mình hai chị em tôi mới lo lắng bồn chồn. Tất cả mười lăm người được cho đi học đều mang vẻ mặt bất an. Chúng tôi hỏi nhau xem nên làm gì. Tôi và chị họ lần lượt nắm giữ vị trí số 1 và số 2. Nếu chị họ và tôi không bắt đầu công việc, băng chuyền sẽ trống trơn. Nếu chị họ và tôi từ chối làm việc thêm giờ, mọi người sẽ để ý ngay lập tức. Nhân viên quản lý từ phòng hành chính và khu sản xuất, vốn đã đánh hơi được kế hoạch của công đoàn, lảng vảng quanh dây chuyền sản xuất suốt cả buổi chiều y như một bầy diều hâu đen. Quản đốc, thân thiện hơn rất nhiều so với bình thường, đứng từ đằng sau bảo với chị họ và tôi rằng ngày hôm sau chúng tôi sẽ được trả lương. Rằng nếu không làm thêm giờ thì chúng tôi sẽ không thể hoàn thành đủ lượng sản phẩm cho khách hàng kiểm tra vào cuối tuần, và rằng nếu thế thì hàng dự trù xuất khẩu cho đến tháng Ba sẽ thành đồ bỏ đi. Rằng trong trường hợp đó, không những công ty phải chịu tổn thất nghiêm trọng mà ngay cả tiền lương trả cho công nhân từ tháng tiếp theo cũng sẽ bị ảnh hưởng. Rằng đằng nào từ tháng sau chúng tôi cũng sẽ bắt đầu đi học, sẽ phải nghỉ làm từ lúc năm giờ, sớm hơn một tiếng đồng hồ so với giờ kết thúc công việc bình thường, đến lúc đó dù có muốn chúng tôi cũng chẳng thể làm thêm giờ được nữa.

Nếu làm thêm giờ thì đáng ra chị họ và tôi phải đang ăn tối rồi, nhưng giờ chúng tôi vừa chẳng thể tham gia từ chối làm thêm giờ vừa chẳng thể đi ăn tối. Khi tiếng chuông vang lên báo kết thúc giờ làm việc, các thành viên công đoàn không đến căng tin mà đi thẳng tới phòng thay đồ để thay đồng phục và rời nhà máy. Không thể ra về cùng họ, chị họ và tôi đứng trên sân thượng. Các thành viên công đoàn liếc nhìn chúng tôi và hỏi, Các cô không về đi à? Khi chị họ và tôi quay lại dây chuyền sản xuất, ở dưới đó vắng hoe. Vài người thưa thớt còn ngồi lại là những người sắp đi học hoặc những người thân thiết với quản đốc. Tuy nhiên, dẫu rằng băng chuyền vẫn chạy, dẫu rằng tôi và chị họ chiếm giữ vị trí số 1 và số 2, thì vẫn không đủ người để dây chuyền lắp ráp hoạt động. Những người ở lại chẳng có việc gì để làm ngoài lặng lẽ quan sát băng chuyền chuyển động.

“Nhục nhã chính là thế này đây.”

Chị họ, vẫn đường hoàng ngay cả trong cơn gió buốt giá, ứa nước mắt nói, Nhục nhã chính là thế này đây.

Buổi sáng hôm sau, trên con đường đi làm, chị họ và tôi cảm giác như thể mỗi bước chân đều nặng tựa ngàn cân. Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu làm việc ở đây, thẻ chấm công của chúng tôi bị đánh dấu chữ Muộn đỏ chói. Lúc chúng tôi đến chỗ dây chuyền sản xuất, những người đã từ chối làm thêm giờ nhất loạt quay ra nhìn chị họ và tôi. Tôi cũng đã cảm thấy nhục nhã. Phải, nhục nhã chính là thế này đây. Không chịu được những tia nhìn nhức nhối đó, chị họ và tôi không thể ngồi ở vị trí làm việc mà phải vào đứng trong phòng vệ sinh. Tấm gương bên trên vòi nước phản chiếu gương mặt đau khổ của chúng tôi. Đột nhiên, tôi bật thốt với chị họ.

“Em sẽ thành nhà văn.”

Chuông reo vang báo ngày làm việc đã bắt đầu, nhưng chúng tôi vẫn đứng đó, chằm chằm nhìn nhau trong gương. Tôi lại nói tiếp.

“Em chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì khác ngoài chuyện viết lách. Ngay cả bây giờ, em cũng chẳng thấy nhục nhã, chẳng thấy xấu hổ một chút nào. Không một chút nào!”

Chị họ nhìn tôi bảo, Đừng cắn môi, em không đau à? rồi bước tới gần vòi nước, vặn nước chảy ra và khum tay hứng nước hất tung tóe lên tấm gương. Sau đó chị họ lấy hai bàn tay chùi gương, làm vang lên những tiếng rin rít. Mãi cho tới khi quản đốc đứng bên ngoài gọi Số 1! Số 2! để lôi chúng tôi ra khỏi phòng vệ sinh, chị họ vẫn khum tay hứng nước hất lên tung tóe rồi lại chùi gương, hết lần này đến lần khác.

Đến tham dự lễ tốt nghiệp của anh cả đồng thời mang theo khoản tiền học phí đã phải chật vật gom góp mãi cho anh ba, bố tôi ngồi ở một góc căn phòng của chúng tôi, đầy phiền muộn. Bố hỏi anh cả về nhiều chuyện. Chúng tôi trả tiền thuê nhà trọn gói hay trả theo từng tháng? Tiền thuê nhà hằng tháng là bao nhiêu? Sau một lúc lâu ngồi đó với bộ mặt lo lắng muộn phiền, bố rời đi Cheongju để hỏi vay tiền người bác của bố, tìm cách để cho dù không thể kiếm được cho chúng tôi căn phòng khác thì ít nhất cũng thanh toán được tiền thuê trọn gói căn phòng hiện tại xóa bỏ gánh nặng đè lên người anh cả sắp tới không có khả năng kiếm tiền. Đến gần tối bố mới quay về. Đây là lần đầu tiên đối với bố. Quay về mà vẫn không vay được tiền, nhìn bố càng thêm phiền muộn. Mẹ ngồi cạnh bố, trách cứ người bác ở Cheongju đã từ chối cho vay tiền. Kể rằng ngày xưa mẹ bác ấy góa chồng, hồi bác đi học xa nhà bố cũng đã phải bán gạo bố trồng để gửi tiền học phí cho bác ấy, rằng bởi thế người ta mới nói lòng tốt là thứ hoàn toàn vô dụng. Anh cả bảo mẹ đừng lo. Rằng chẳng lẽ lại không có cách nào xoay xở. Anh ba, nãy giờ vẫn đang nhìn chăm chăm lên trần nhà bỗng đứng phắt dậy bỏ ra khỏi phòng. Bố nằm xuống vắt tay lên trán, bật ra một tiếng rên rỉ, còn anh cả ngồi bên bàn viết gần cái tủ nhựa, lưng dựng thẳng đơ, nhìn như muốn xuyên thủng những trang sách giáo khoa luật hình sự.

Mẹ đau lòng òa khóc, tôi ngồi xổm bên cạnh khóc cùng mẹ. Chị họ cũng khóc.

Đến tận bây giờ mẹ vẫn không thể nào quên được chuyện ngày hôm đó, cứ mỗi lần bác của bố từ Cheongju về thăm mộ tổ, mỗi lần mẹ phải nấu cỗ thay cho vợ bác ấy, mẹ lại đùng đùng nhắc lại chuyện mười sáu năm trước.

“Bố con ấy à, tính tình như thế mà xuống tận Cheongju để hỏi vay tiền thì có phải chuyện thường đâu. Chỉ cần nghĩ đến ngày hôm đó thôi là mẹ đã thấy cứng đờ cả gáy rồi.”

Cho tới tận khi trường khai giảng, mỗi lần công đoàn quyết định từ chối làm thêm giờ, tôi và chị họ lại ngồi ở vị trí số 1 và số 2 tại dây chuyền lắp ráp, đầu cúi gằm.

Lần thứ ba cô Myeong gọi chúng tôi vào phòng hành chính. Toàn bộ những người sắp đi học đều được tập trung ở đó. Giám đốc điều hành nói, Vì công đoàn mà công ty đang trên bờ phá sản rồi. Ông ta bật dậy khỏi cái ghế xoay, tư thế như muốn nói ông ta không thể chịu đựng thêm được nữa.

“Tôi không thể tin nổi giữa lúc như thế này mà các cô, những kẻ sắp được đi học bằng tiền trợ cấp của công ty lại vẫn còn là thành viên công đoàn! Nếu ngay bây giờ các cô không viết đơn xin rút khỏi công đoàn thì các cô sẽ không được đi học nữa đâu!”

Chúng tôi ngồi đấu lưng lại với nhau viết đơn xin rút khỏi công đoàn. Đơn xin rút khỏi công đoàn của chúng tôi được dán lên bảng tin của công ty. Bên cạnh đó là một danh sách các ưu đãi dành cho những người đã rời khỏi công đoàn. Nào là sẽ được nhận lương trước, nào là sẽ được tăng lương...

Chị họ và tôi giờ tránh mặt chủ tịch công đoàn. Chúng tôi chẳng cách nào có thể nhìn thẳng mặt anh ta được nữa. Khi trong lòng tràn ngập nỗi hổ thẹn vì tránh mặt anh ta, tôi thường nhớ tới đàn vịt trời đói lùng sục các bông lúa trên cánh đồng tuyết mùa đông. Tôi nhắc nhở mình nhớ đến lời tự hứa rằng một ngày nào đó sẽ đến ngắm những con cò bạch say ngủ, mặt hướng về phía các vì sao... Tôi, mười bảy tuổi, không có quyền từ chối làm thêm giờ, lôi một tờ giấy ra đặt lên băng chuyền và viết thư cho Chang.

Tớ không quan tâm đến chuyện mình có ở trong công đoàn hay không. Tớ không quan tâm tờ đơn xin rút khỏi công đoàn sẽ kéo theo những chuyện gì. Nếu có thể cùng những người khác từ chối làm thêm giờ, tớ nghĩ tớ cũng sẽ mãn nguyện lắm. Tớ không thể đối diện với chủ tịch công đoàn, người đã đối xử vởi tớ tử tế đến thế. Nếu nhìn thấy anh ta đứng ở xa, chị họ và tớ đang bước đi sẽ dừng lại hoặc rẽ sang hướng khác, đang định làm gì cũng phải bỏ đấy. Khi nhìn thấy xe đạp của anh ta ở chợ, chúng tớ vội rẽ sang phố khác. Giờ ăn trưa, đang đi lên căng tin mà bắt gặp anh ta đứng xếp hàng, chị họ và tớ cũng bỏ bữa quay trở xuống dưới...

Tôi, mười bảy tuổi, dồn sức lên trên ngòi bút và dằn mạnh bút xuống để viết.

Một ngày nào đó, tớ sẽ đi ngắm nhìn những con chim xinh đẹp say ngủ, mặt hướng về phía các vì sao. Cho dù người ta có coi thường chúng tớ như thế nào đi chăng nữa, tớ cũng sẽ không bao giờ từ bỏ hy vọng này. Tớ sẽ tiếp tục sống với niềm tin rằng một ngày nào đó tớ sẽ đi để tận mắt ngắm nhìn chúng. Những con chim say ngủ trong rừng, mặt hướng về phía các vì sao hẳn sẽ tha thứ cho tớ thôi nhỉ? Chúng sẽ tha thứ cho tất cả mọi sự trên đời này. Tớ sẽ đi để tận mắt ngắm nhìn đàn cò bạch trùm giấc ngủ thanh bình lên khắp khu rừng, tuyệt đẹp. Cậu sẽ đi cùng tớ chứ?

Cho dù tôi hứa hẹn gì với Chang trên băng chuyền ấy thì việc đi học, việc gặp gỡ Ha Kye Sook cùng những cô gái ấy cũng đã khiến tôi, mười bảy tuổi, buộc phải phản bội mọi người, đồng thời phải quay mặt đi trong nỗi hổ thẹn, chẳng biết làm gì khác ngoài bám theo chân chị họ lê bước về căn phòng hiu quạnh.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về thành phố là, ở nông thôn, thiên nhiên làm người ta bị thương nhưng ở thành phố, thương tổn lại được gây ra bởi chính con người. Giống như ở thiên nhiên có nhiều vùng cấm, giữa người với người trong thành phố cũng vậy. Người khinh thường chúng tôi, người quá đáng sợ chẳng thể lại gần, người mà nếu gặp sẽ trở thành độc dược... nhưng cũng là người ta mãi nhớ nhung.

Tôi rời hòn đảo quay trở về nhà. Hai mươi ngày đã qua kể từ khi tôi về nhà.

Sau khi đặt vé máy bay khởi hành sáng hôm sau, trên đường đi ăn bữa trưa cuối cùng của mình trên đảo, tôi dừng chân ở hiệu sách từng khiến tôi mỉm cười khi khám phá ra hồi mới đến đây. Nếu cuốn sách của tôi vẫn còn nằm trên giá, tôi muốn gửi tặng nó cho cô chủ quán ăn suốt hai mươi lăm ngày qua đã phục vụ tôi những bữa trưa chưa từng khiến tôi chán ngấy. Cuốn sách vẫn ở nguyên vị trí cũ. Thật kỳ cục biết bao khi trả tiền mua một cuốn sách chính mình đã viết. Sau khi ăn xong món kim chi hầm do cô chủ quán ăn nấu, lúc cô mang cà phê ra, tôi trao cho cô cuốn sách, khiến khuôn mặt cô sáng bừng lên.

“Trời ơi...”

Cô thốt lên từ cảm thán, Trời ơi, đến ba lần liền.

“Cô nhận cuốn sách đắt tiền thế này cũng được chăng?”

Tôi đã lo rằng cô sẽ để mặc nó trên giá sách suốt bốn năm trời không đọc hết được. Thấy tôi bảo giờ mình sẽ rời khỏi đây, cô hỏi tôi đã hoàn thành tác phẩm đang viết rồi à. Tôi đáp là vẫn chưa. Rằng tôi rời khỏi đây vì tôi không thể kiểm soát được tâm trí của mình. Cô tỏ ra thực sự tiếc nuối vì tôi rời đi và mời tôi tối quay lại ăn cơm. Cô bảo rằng sẽ nấu một bữa thật ngon, dặn tôi nhất định phải đến. Từ lúc đặt chân lên đảo, tôi chỉ ăn tử tế mỗi bữa trưa, còn thì tôi vẫn thường ăn tạm mì ăn liền, xúp hay các món quà vặt như hoa quả, bánh mỳ trừ bữa, dẫu không có ý định ra ngoài ăn tối nhưng tôi vẫn đáp, Vâng, cháu sẽ đến. Đến buổi tối, tôi nhớ ra lời mời nồng nhiệt chân thành của cô chủ quán ăn và trong một thoáng đã định đi, nhưng rồi lại thôi. Thay vào đó, tôi lôi cuốn thánh ca, cuốn sách tôi đã mua rồi để đó chưa thèm lật giở đến một trang, mở ra đọc. Trên mép gấp của bìa sách màu đen in dòng Kinh Lạy Cha. Tôi nhìn chăm chăm một lúc lâu vào một câu. Ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Người mẹ trẻ của tôi, người mẹ từng đưa tôi mười sáu tuổi lên Seoul, không hề hào hứng với chuyện học những thứ kiểu như thánh ca hay gì đó đại loại thế. Mẹ lúc nào cũng có cả núi công việc đang chờ sẵn. Mẹ có hạt tía tô cần gieo, có các buổi giỗ chạp cần chuẩn bị, có cỏ lồng vực cần nhổ, có canh cần nấu cho các anh trai tôi ăn, có đàn con nhỏ cần nuôi dạy, có bữa nửa buổi cần mang ra ngoài đồng, có sàn nhà cần lau dọn. Người mẹ già của tôi giờ đã thuộc lòng hết từ Kinh cầu của Lạy Cha cho tới Kinh Tín Kính. Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Tôi lật sang trang tiếp theo, có lẽ cuốn sách này là ấn bản quà tặng nên mới có dòng ghi: Tặng........... và có cả ô trống để đề ngày tháng. Không kịp suy nghĩ, tôi cầm bút viết, Tặng chị Hee Jae, rồi sau đó viết lại thành Tặng mẹ. Tôi cũng viết thêm, Ngày 3 tháng Mười, 1994.

Từ trên chiếc máy bay quay về, tôi ngắm nhìn thế giới qua ô cửa kính và thấy một dòng nước. Dòng nước chảy vào sông, và dòng sông trôi ra biển. Điều này quả thực đang diễn ra. Tôi nghĩ, Giá như thời gian của ngày hôm nay có thể chảy về ngày hôm qua, và ngày hôm qua trôi về ngày hôm kia, giá thời gian có thể cứ mãi trôi ngược về trước giống như thế, ngược mãi, ngược mãi trở về với căn phòng hiu quạnh năm 1979 để tôi có thể đặt cuốn thánh ca này lên đầu gối chị Hee Jae. Giá mà có thể làm thế thì có lẽ với tôi, việc sống trên đời này sẽ bớt cô đơn hơn.

ười dịch: Huyền Vũ —★— CÔ GÁI VIẾT NỖI CÔ ĐƠN ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: NXB Hà Nội 06/2016
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.