Cô Gái Viết Nỗi Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Làn da nứt nẻ bởi cơn gió tha phương

Chúng ta thở

Cô đơn, chúng ta ngủ

Chúng ta ngay cả trong giấc mộng cũng không thể gặp gỡ

Chúng ta chỉ nhìn thấy đỉnh đầu của người nào đó

và cho họ thấy đỉnh đầu của chúng ta,

Những bàn chân bỏng rộp va vào nhau

Lại quay đầu về phương khác nằm chúng ta mệt nhọc thở

- Hwang In Sook, “Điệu nhảy vòng tròn”

Con ngõ nơi tuyết không tan. Con ngõ đã bị biến thành con đường băng chỉ sau một đêm tuyết xuống. Trên đời này có biết bao con ngõ đang được giấu vùi. Khung cửa sổ không ánh đèn. Cột điện lạnh ngắt. Đá tường vụn vỡ. Những căn phòng như một mê lộ nhỏ đằng sau bức tường. Mùi nước cống. Mùi bánh quế đường nướng. Hành lang dài hun hút phơi ra của nhà trọ... Mùi dầu hỏa tỏa ra từ bếp dầu. Cậu công nhân mặt nổi mụn, say rượu liêu xiêu bước đi. Nỗi bất an của cuộc đời len lỏi trong tiếng hát nghêu ngao sầu thảm. Những cánh cổng không đóng nổi vì người cứ nối người ra vào. Xỉ than chất chồng. Rác rưởi đông cứng. Cậu công nhân say rượu ôm lấy cột điện mà quỳ xuống. Bãi mửa khô khốc sau khi ngược lục phủ ngũ tạng trào ra ngoài.

... Có lẽ cô gái của anh cả đã ghét cái con ngõ ấy. Ghét cả bộ tóc giả anh cả phải đội lên mái đầu trọc, ghét cả cái đứa tôi bám nhằng nhẵng lấy anh như u bướu.

Có khi là như thế không biết chừng. Tất cả đàn ông và phụ nữ trên đời này đều chỉ làm nhau đau khổ.

Lại thêm mẹ không ưa nổi vòng eo thon của cô gái. Còn cô gái cũng chẳng mê được cái bụng xệ của mẹ. Cô cúi lạy mẹ vừa từ dưới quê lên Seoul. Mẹ quay người ngồi xuống. Trong mắt mẹ, cô gái mảnh mai không giống một người phụ nữ có thể quán xuyến được việc nhà. Lúc tiễn cô về rồi, mẹ đấm thình thịch vào ngực.

“Nó có thường xuyên đến không?”

“... Không.”

Cô gái không thường xuyên đến. Không biết từ bao giờ, nhiều khi cô hẹn nhưng chẳng xuất hiện.

“Cái eo nhỏ xíu đó thì quán xuyến việc nhà ta ra làm sao!”

Việc nhà ta ư? Tôi trầm ngâm nghĩ về quê nhà. Nghĩ mới thấy, quanh nhà tôi dưới quê chẳng người phụ nữ nào lại có vòng eo mảnh mai như thế. Cũng chẳng người phụ nữ nào có những ngón tay mềm mại, mái tóc óng ả, đôi mắt đen và to như thế.

Khi anh cả quay lại, mẹ bảo anh.

“Con là cháu trưởng của dòng họ cơ mà. Với cái eo đấy thì nó có nấu nổi một bữa cơm?”

“Cô ấy nấu ăn ngon lắm.”

Chị họ bật cười khúc khích.

“Chỉ mỗi nấu cơm là xong à?”

Mẹ thậm chí còn chẳng buồn mở hộp quà cô gái mang tới. Khi anh cả bảo mẹ mở ra xem thì mẹ lại đẩy nó ra xa.

“Cô ấy là một cô gái tốt.”

Bình thường, cho dù anh cả có nói gì đi chăng nữa, thậm chí cho dù anh có gọi cái xe buýt là tàu hỏa, mẹ cũng sẽ tin anh, nhưng lần này, mẹ không hề bị lay chuyển.

“Mẹ biết tình cảm của con sâu sắc, vì con đã gặp nó ở đây, giữa chốn đất khách quê người cô quạnh này, nhưng không được con ơi. Kể như con mà là con thứ thì có lẽ mẹ cũng sẽ mặc kệ cho qua, nhưng con lại là con cả. Con bé mà về nhà mình, dễ chừng mẹ sẽ phải thành bảo mẫu cho nó đến cuối đời mất! Mẹ tuyệt đối không cho phép, con rõ chưa.”

... Chang không hồi âm. Tối nào tôi cũng mở hòm thư ra để rồi lại đối diện với nỗi thất vọng.

Ở bất kỳ một thời nào, cũng có những bí mật sâu kín; dù bảo thời đó mình không phải sống mà như chết dần chết mòn từng ngày thì những ký ức vẫn tràn đầy, như đứa trẻ mũm mĩm mắt xanh long lanh vẫn đang lớn lên mặc con ngõ luôn nồng nặc mùi hôi thối, như lồng ngực đã trở nên cứng rắn tựa củ khoai sọ bên dưới bộ đồng phục lao động xanh sờn màu, ở bất kỳ thời nào, cũng có những ký ức sâu kín.

... Em sẽ nhớ chị chứ.

... Rằng chị đã từng bên em.

... Dẫu cho một ngày kia chị đã đi xa, đi xa mãi.

Ở giữa chừng con ngõ đó, trong ngôi nhà với ba mươi bảy phòng tựa mê cung, chị Hee Jae hai mươi hai tuổi, hay hai mươi ba? Ba bốn hôm sau, ngày tôi tròn mười tám, chị họ, hai mươi tuổi, mời chị Hee Jae, hai mươi hai tuổi, hay hai mươi ba, đến rồi cắm que diêm lên miếng bánh gato mật ong và hát. Em gái xinh đẹp chào đời giữa mùa đông... em gái đáng yêu... Chúc mừng sinh nhật. Chúc mừng sinh nhật.

Bộ Giáo dục ra thông báo cho phép học sinh để tóc tự do theo ý thích. Trước đó, chúng tôi ai cũng để tóc tết bím. Sáng nào cũng chải chải tết tết khiến chúng tôi bận rộn biết bao nhiêu. Ngay khi vừa có thông báo được để tóc tự do, chị họ và tôi bèn tới tiệm làm tóc ở chợ Garibong-dong và cắt phăng mớ tóc dài. Chị họ cắt ngắn còn tôi để đầu vuông. Cắt tóc xong trở về nhà, chị họ và tôi nhìn trân trối vào gương. Chúng tôi chỉ làm có độc một việc là cắt tóc thôi, ấy vậy mà cứ như thể chúng tôi đã biến thành những người lạ vậy. Chị họ rầu rĩ hẳn, bảo nhìn mình trông chẳng khác gì một thằng con trai.

Tôi gọi điện cho J.

“Đến chơi không?”

“Viết xong bản thảo rồi hả?”

“... Chưa.”

“Vậy thì không được.”

“Nếu cậu đến, tớ sẽ mua ghẹ chấm về hấp cho.”

“Không được.”

“Thế tớ sẽ rán bánh kếp lá hẹ cho cậu.”

“Khỏi.”

“Hay tớ ra ngoài rồi mình gặp nhau ăn trưa nhé?”

Im lặng.

“Chỉ ăn trưa thôi, xong tớ sẽ quay về luôn.”

Từ trong ống nghe, J phì cười.

“Đừng viện cớ này nọ nữa, ngồi yên mà viết bản thảo đi.”

“Tớ sẽ về ngay sau bữa trưa mà.”

“Tớ có hẹn rồi.”

“Với ai?”

“Cậu không biết đâu.”

“Mấy giờ?”

“Tớ phải đi bây giờ.”

Tôi dập máy, rồi ba mươi phút sau thử gọi lại cho cô ấy. Tôi vừa nói, Tớ đây, J đã quát lên.

“Đừng có gọi nữa!”

Im lặng. Cô ấy đã yếu lòng, và giờ bắt đầu dỗ dành tôi.

“Cứ nộp bản thảo xong xuôi đi rồi gọi cho tớ, nhớ chưa?”

Cô ấy dập máy. J mạnh mẽ.

... 1980.

... Còn đang sống. Dù trong con ngõ đó chúng ta đã sống một cuộc sống ở trọ tạm bợ nhưng điều quan trọng là chúng ta vẫn còn đang sống. Là dù cả năm trời chẳng gọi nổi một cuộc điện thoại nhưng vẫn giữ những số liên lạc cũ trong sổ tay mang theo bên mình. Là tay em vẫn có thể vươn ra nắm lấy bàn tay khác. Dù em không còn nhớ được rằng chị từng tồn tại trên thế gian này, nhưng nếu chị vẫn còn đang sống, vẫn sáng sáng thức dậy, hít thở và cãi cọ giữa một vùng không khí nào đó của thế giới này... thì có lẽ em đã không trốn tránh những quãng thời gian và không gian từ năm em mười sáu đến hai mươi tuổi. Dù em nhớ, dù em có nhớ mãi mãi... dù thế đi nữa... thì cũng ích lợi gì đâu? Ký ức có thể thay đổi được gì cơ chứ?

... Chuyện sau đó thành ra thế nào, tôi chẳng thể biết; cuộc đời vẫn còn lâu nữa mới kết thúc; tôi từng có lần nhìn thấy, chị ấy và ai đó liêu xiêu cùng nhau bước dọc theo tường đá dài hun hút... Chị ấy phải còn sống thì tôi mới có thể dùng những cách diễn đạt ấy được chứ.

Từ thời điểm người đàn ông quyền lực nhất thể chế Duy tân bị ám sát, như những âm mưu trong hoàng cung xưa, rượu và đàn bà, sự trác táng và những mối cừu hận âm thầm giữa những con người quyền thế không ngừng tuôn trào. Những cây hoa của Seoul năm 1980 khi nở hoa hẳn cũng một phen ngỡ ngàng. Uể oải trỗi dậy từ dưới lòng đất lạnh giá để òa mình ra với thế giới, bấy giờ đám hoa mới phát hiện ra rằng mùa xuân chính trị, Mùa xuân Seoul đã bung nở khắp đất trời trước chúng lâu rồi. Cảm giác tự do nảy sinh nhờ cái chết của một nhà độc tài chuyên chế nhanh chóng lan truyền sang người bên cạnh và người bên cạnh nữa. Mặc dù tình trạng thiết quân luật khẩn cấp vẫn đang được áp dụng, mùa xuân năm đó ở Seoul - được ví như Mùa xuân Praha - cùng các loài hoa xuân đang đua nở rực rỡ khắp núi sông, lan tỏa niềm hy vọng khắp bầu không khí. Giữa làn sóng dân chủ đang dâng cao một cách đầy kiêu hãnh như nước sông mùa lũ, Mục sư Moon Ik Hwan đã từ nhà tù quay trở về tổ ấm ở Suyu-ri. Những bông hoa, ngọn gió, cành cây sửng sốt ngạc nhiên.

... Kể cả giữa mùa đông, giữa những ngày tuyết rét mướt, hoa liên kiều vẫn nở, điên cuồng.

Trong con ngõ đó nơi băng giá vẫn không tan chảy dù mùa xuân đã về, cô gái đứng bên cột điện chờ anh cả. Tôi, mười tám tuổi, cầm cái gắp than vừa bước ra khỏi cổng định đi mua than mồi sẵn thì khựng đứng lại. Từ xa xa, anh cả, vẻ mệt mỏi, đầu đội tóc giả, đang tiến lại. Những bước chân của người con trai cả mệt mỏi. Những bước chân của một thanh niên đáng thương, mới hai mươi lăm tuổi đã phải gánh vác cả gia đình. Những bước chân của anh cả dừng lại khi anh nhìn thấy cô gái.

Im lặng.

Một lúc sau, cô tháo sợi dây chuyền ra khỏi cổ và đưa nó cho anh cả, đang đứng đó cúi thấp đầu.

“Em đến đưa anh cái này.”

“Em không cần phải làm thế.”

“Nhưng là quà anh tặng em mà.”

Cô gái cố nhét sợi dây chuyền vào bàn tay anh cả rồi quay người đi. Đứng sau họ, tay cầm cái gắp than, tôi, mười tám tuổi, gập cổ xuống. Anh cả đáng thương. Anh cả đội tóc giả đuổi theo cô gái có vòng eo mảnh mai đã quay người bỏ đi, gót giày gõ lộp cộp, anh xoay người cô lại.

“Em nhất định phải làm thế này sao?”

“Em mệt mỏi rồi.”

Cô gái lại quay lưng bỏ đi. Anh cả dõi mắt nhìn theo cô nhòa dần trong gió đêm. Hai bờ vai anh thõng xuống nhưng khuôn mặt anh vẫn ngẩng cao. Sau khi đứng như thế một hồi lâu, anh cả quay người đi về căn phòng hiu quạnh của chúng tôi, còn tôi, mười tám tuổi, vội nấp vào sau cửa. Bởi lẽ không hiểu sao, tôi có cảm giác anh cả sẽ nổi giận nếu biết rằng tôi, mười tám tuổi, đã đứng sau lưng anh theo dõi hết mọi chuyện.

... Cô gái của anh cả bỏ những bước chân lộp cộp lại con ngõ để rời bỏ anh, nhưng chúng tôi sáng sáng tối tối đều bỏ lại những bước chân mình ở đó, để sống. Cả chị họ, cả chị Hee Jae, cả tôi.

Anh ba, vốn đã thu dọn hành lý rời khỏi căn phòng hiu quạnh của chúng tôi, quay trở lại bằng tàu điện ngầm. Chị họ và tôi, đã là học sinh lớp mười một, sau khi từ trường về nhà giờ đang muối kim chi.

“Các em thế nào hả?”

“Anh!”

Chị họ rút phắt hai tay đang trộn kim chi đỏ lòm ra khỏi chậu kim chi, thảng thốt vui mừng. Tôi đang lau nhà, nghe thấy tiếng kêu mừng rỡ của chị họ bèn ló mặt nhìn ra bếp. Anh ba đứng chắn cửa bếp, đầu trọc lốc.

“Anh đã đi đâu vậy?”

Anh ba không trả lời mà hỏi lại, Anh cả đâu rồi?

“Ở trung tâm!”

“Anh ấy dạy buổi sáng mà.”

“Anh ấy cũng dạy cả các lớp buổi tối nữa. Phải nửa đêm mới về cơ.”

Chị họ đẩy chậu kim chi to tướng sang một bên để anh ba có lối vào phòng. Cho dù đã bước vào tận bên trong phòng, anh ba vẫn chỉ đứng ở đó. Mái đầu cạo trọc lốc của anh sáng bóng lên dưới ánh đèn huỳnh quang. Anh ba không ngồi mà cứ đứng như thế. Mãi một lúc lâu sau anh mới đặt túi đồ xuống. Cứ như lại sắp lên đường đến nơi.

“Anh ăn tối chưa?”

Anh ba vẫn đứng, như thể đang quan sát căn phòng của người khác vậy. Anh đứng cạnh tủ nhựa, nhìn chăm chăm cái bàn viết.

“Em dọn cơm cho anh nhé?”

Anh ba vẫn không trả lời, chỉ xỏ chân vào đôi giày lúc nãy anh đã cởi ra rồi lại ra ngoài.

“Anh đi đâu thế?”

Không lời đáp, chỉ có tiếng chân anh nặng nề bước xuống cầu thang chìm trong bóng tối. Tôi, mười tám tuổi, đứng đó lắng nghe tiếng bước chân anh rồi vội vã chạy đuổi theo. Tôi nhảy cóc hai, ba bậc một lúc. Anh ba nhìn tôi, mười tám tuổi, đang cắm đầu cắm cổ chạy đuổi theo, bằng ánh mắt khó hiểu.

“Em sao thế?”

“Anh định đi đâu?”

“Anh đi đón anh cả.”

“Thật chứ hả?”

“Tất nhiên là thật rồi.”

“...”

“Sao vậy? Em muốn đi cùng à?”

Chúng tôi đang dở tay muối kim chi. Còn cả đống đồ phải rửa sau đó, căn phòng phải lau, anh ba lại vừa về, dù đã muộn nhưng chúng tôi còn phải nấu cơm cho anh nữa.

“Anh sẽ không bỏ đi nữa chứ, phải không?”

“...”

“Anh không biết anh cả đã lo lắng như thế nào đâu...”

“Anh không định đi đâu cả. Chỉ định đi đón anh cả thôi.”

“Anh nhất định phải quay về với anh cả đấy nhé?”

“Anh biết rồi.”

Anh ba xoa mái đầu mười tám tuổi của tôi. Anh sẽ về ngay thôi, em về trước đi, anh bảo. Anh nói thêm rằng anh có chuyện cần nói với anh cả. Phải đến lúc đó mới cảm thấy an tâm, tôi, mười tám tuổi, quay đầu trở về. Một lúc sau, anh cả, com lê tóc giả, và anh ba, đầu cạo trọc lốc, cùng nhau về phòng. Khuôn mặt anh cả nhìn rạng rỡ. Phải đến lúc đó tôi mới thật sự an tâm.

“Muối kim chi à?”

“Vâng ạ.”

“Dậy mùi đấy.”

Lời khen của anh cả khiến chị họ, người muối kim chi, khẽ cười. Anh cả lúc nào cũng khen kim chi chị họ muối ngon. Rằng nó có vị y như kim chi mẹ muối, rằng sau này lấy chồng chị họ sẽ là một người vợ đảm đang.

“Ướp cái này đi rồi nướng nhé?”

Anh cả chìa ra một gói giấy báo, trong đựng khoảng ba lạng thịt lợn ba chỉ. Anh ba lôi một chai rượu soju từ cái túi vàng trên tay rồi đặt xuống dưới sàn. Trong lúc chị họ ướp thịt, anh cả tháo bộ tóc giả treo vào bên trong cửa gác mái, rửa chân, giặt tất rồi vắt lên dây phơi trong bếp. Tôi định đi tới cửa hàng mua than mồi sẵn nhưng anh ba đã gọi với lại bảo để anh đi thay cho.

“Nếu không phải em hay chị họ đi thì anh sẽ phải xếp hàng lâu lắm đấy!”

Dẫu vậy, anh ba vẫn đi theo tôi. Dưới tầng một, chị Hee Jae vừa rửa mặt xong sau khi đi làm ca đêm về, đang định đóng cửa phòng thì nhìn thấy anh ba và tôi, mười tám tuổi, đi mua than.

“Ai thế?”

“Anh ba của em.”

Chị Hee Jae vừa thì thầm vào tai tôi vừa nhìn theo anh ba trong lúc anh bước ra khỏi cổng đi trước tôi.

“Em có nhiều anh thế.”

“Anh ấy là sinh viên đại học đấy.”

Tôi lấy làm ngạc nhiên với chính mình vì thậm chí chẳng được hỏi mà đã khai. Thích ghê ta, chị Hee Jae vỗ vai tôi sau khi nghe tôi khoe anh ba. Chỉ đến lúc đó, tôi, mười tám tuổi, mới cảm thấy có lỗi và bật cười gượng gạo. Khi nhìn thấy tôi, chú chủ cửa hàng bèn lôi một viên than cháy đã được dành sẵn cho người khác ra. Cảm ơn chú. Nghe giọng chào phấn khởi của tôi, chú vừa liếc nhìn tôi như thể có chuyện gì lạ lắm vừa hỏi, Cô học sinh, hôm nay có chuyện gì vui à?

Lúc anh ba cúi đầu chọc cái gắp than vào viên than đã được chú chủ cửa hàng bỏ sẵn ra ngoài, tôi nhận thấy quai hàm anh đã sắc cạnh hơn xưa nhiều.

“Anh, anh đã đi đâu vậy?”

Cơn gió lạnh tháng Hai quét qua bắp chân tôi, thổi một ngọn lửa đỏ bùng lên trên viên than.

“Anh cả đã lo cho anh lắm đấy, rốt cuộc là anh đã đi đâu mà ở Seoul không thấy, ở dưới quê cũng không?”

Anh ba vẫn không đáp một lời, vụng về cầm cái gắp than bước đi.

“Sao em không lấy than từ sớm hả?”

“Dạo này cũng không lạnh lắm mà, chỉ cần bỏ một viên vào cũng có thể cháy tới tận sáng luôn... Mà anh đã đi đâu vậy?”

Trên đường bước dọc con ngõ, tôi, mười tám tuổi, hỏi lại mấy lần liền xem anh đã đi đâu. Anh ba không trả lời.

Lâu lắm rồi mới có một đêm mà cả bốn chúng tôi cùng ngồi quây quần trong căn phòng hiu quạnh. Thịt lợn nướng, ướp tương ớt kèm hành thái và tỏi băm được bày trên một cái đĩa trang trí hình hoa. Anh cả rót rượu soju cho anh ba vào cái chén nhỏ đặt trước mặt anh. Anh ba uống một hơi cạn chén.

Anh cả gắp một miếng thịt đã chín để trước mặt anh ba khi anh ba vừa uống cạn chén rượu, đang định với gắp kim chi.

“Ăn đi không nguội.”

Mái đầu trọc lốc không tóc giả của anh cả và mái đầu nhẵn nhụi của anh ba trên quai hàm giờ đã sắc cạnh hơn trước nhiều, cả hai mái đầu nhuốm màu xanh dương dưới ánh đèn huỳnh quang.

“Thời đại rồi sẽ khởi sắc. Giờ thì tập trung học đi. Đừng quên em vẫn là sinh viên luật đấy.”

Khi chìa chén rượu soju đã cạn ra cho anh ba, anh cả vừa như đang vui lại vừa như đang sầu não.

“Dù sao đi nữa, được thế này cũng là may rồi.”

Chị họ nhìn tôi bằng ánh mắt hoang mang không hiểu chuyện gì. Tôi cũng không biết. Chuyện gì mà được thế này cũng là may rồi chứ.

... Đầu xuân. Con đường núi thỉnh thoảng tôi vẫn đi bộ đã trở nên mềm xốp hẳn.

Hôm qua, tôi vừa đi một chuyến Chuncheon về. Nhân vật cho chuyên mục đặc biệt của tạp chí văn học Thế giới nhà văn quý tới có vẻ là “cô ấy”, người sống ở Chuncheon. Khi nhận được cuộc gọi đề nghị viết bài cho mục “Đến thăm nhà văn” ấy, mới đầu tôi đã gạt ngay đi.

Tình yêu có muôn vàn bộ mặt.

Vì tôi hâm mộ cô ấy nên dù không biết gì về cô, tôi vẫn hằng ấp ủ một niềm ảo tưởng. Lần đầu tiên đọc tiểu thuyết cô ấy sáng tác, tôi hai mươi tuổi. Cô ấy tựa như vầng hào quang vụt sáng. Bầu không khí bi thảm toát ra từ những sự vật cô ấy thu vào tầm mắt đã thu hút tôi ngay lập tức. Mình rồi cũng sẽ trở nên giống như cô ấy, tôi nghĩ. Để đến bên con người đẹp đẽ ấy tôi cũng sẽ trở nên đẹp đẽ. Niềm luyến mộ dành cho cô ấy càng lúc càng thêm dai dẳng. Tuy nhiên, cả hồi đó lẫn bây giờ, tấm lòng của tôi đã trở thành nguyên nhân khiến tôi không thể sẵn lòng đi gặp cô ấy.

Nhưng cuối cùng, hôm qua, tôi cũng đã ngồi trên chiếc xe hơi do một biên tập viên tạp chí lái.

Lần đầu tiên tôi tới Chuncheon cũng là vào một ngày đầu xuân như ngày hôm qua, như ngày hôm nay. Ấy là khi tôi vừa vào học đại học ở dưới chân núi Namsan nhưng không tài nào thích ứng nổi, chỉ cứ ngồi suốt ở ghế băng dài. Ấy là khi tôi hai mươi tuổi, một mình rời khỏi nơi đó trở thành sinh viên đại học. Chúng tôi đã chuyển tới Dongsung-dong và anh cả cũng đã lập gia đình. Phải chăng là ngẫu nhiên? Nơi anh cả sáng sáng đến làm việc sau khi kết thúc những năm tháng công chức lại chính là tòa nhà Daewoo từng sừng sững trước mặt tôi như một con quái vật khổng lồ vào cái ngày tôi chân ướt chân ráo bước ra khỏi ga Seoul. Chị họ đã nghỉ việc ở Ủy ban phường và đi làm ở văn phòng đại lý thương mại nằm ở tầng trên quán trà Núi Vọng ở Namyeong-dong. Mùa xuân đó, không thể thích nghi với những thay đổi xảy ra xung quanh mình, tôi chỉ biết ngồi yên. Vợ anh cả giặt cả tất rồi phơi dưới nắng cho đến khi khô cong cho tôi. Đột nhiên tôi chẳng còn việc gì để làm. Đến trường thì toàn là những người tôi mới gặp lần đầu tiên trong đời, những người mà trước đó một kẻ như tôi thậm chí còn chưa từng được ngắm qua, những người vận áo quần rực rỡ sắc màu và sôi nổi tự giới thiệu bản thân. Có vẻ như họ sắp đi picnic. Đứng trước họ, tôi không tin nổi rằng ở đâu đó trên thế giới này lại tồn tại các nhà máy, rằng ở đâu đó trên thế giới này lại có ngôi nhà ba mươi bảy căn phòng, và một khu chợ tối tăm, u ám. Đột nhiên, tôi như trở thành kẻ lạc lõng. Sống quá lâu trong căn phòng hiu quạnh, đó đã trở thành nơi duy nhất không khiến tôi cảm thấy lúng túng. Tôi ngượng nghịu ngồi trên chiếc ghế băng của ngôi trường mình đã phải nỗ lực biết bao nhiêu mới vào được, mệt rồi thì tôi đi bộ cả một quãng đường dài tới Namyeong-dong, nơi chị họ làm việc. Rồi tôi sẽ đợi ở quán trà Núi Vọng cho tới khi chị họ tan làm.

Một ngày tháng Ba năm đó. Tôi đi học, ở nhà chỉ còn vợ anh cả. Nhưng chân tôi không bước theo hướng đến trường. Vào giờ này tôi cũng chẳng thể đến quán trà Núi Vọng ngồi đợi chị họ được. Tôi bèn đi bộ loanh quanh. Rồi tôi bắt xe buýt, rồi tôi lên tàu điện ngầm, rồi tôi xuống ở ga Cheongnyangni. Tôi mua một vé đi Chuncheon, một nơi tôi chưa từng đến và lần này đi cũng chẳng theo kế hoạch nào. Đoàn tàu lao vun vút, những núi đồi cùng những dòng sông và những khu nhà lừng lững hiện ra rồi lại dần dần trôi về xa xăm bên ngoài cửa sổ. Tôi bắt đầu thấy nôn nao. Ánh nắng chói chang.

Ngay khi xuống tàu ở ga Chuncheon, tôi bèn ghé vào một hiệu thuốc và dốc nguyên một gói thuốc chống say xe vào miệng. Cảm giác nôn nao vẫn không tan. Sau một lúc lang thang vô định quanh ga Chuncheon, tôi liếc nhìn đồng hồ. Nếu giờ quay về, hẳn là tôi có thể về đúng tầm chị họ tan làm. Tôi mua một vé quay ngược trở lại ga Cheongnyangni, vội vã như thể có chuyện gì khẩn cấp.

Chính là vào ngày hôm đó. Chị họ đã rít lên với tôi ở quán trà Núi Vọng. Giọng chị át cả tiếng hét, What can I do, trong bài hát của nhóm Smokie đang được DJ phát theo yêu cầu. Đừng có đến đây nữa, chị họ nói. Đến trường học hành chăm chỉ đi, chị họ nói. Khi tôi giận dỗi đứng dậy khỏi ghế, chị họ bèn giữ tôi lại và dẫn tôi tới trung tâm thương mại ẩm thực đối diện rạp hát Seongnam ở Nam Myeongdong và đãi tôi một bát mì dai. Trộn nước xốt đỏ tươi vào bát mì cho tôi, chị họ sửa lại những điều vừa nói lúc nãy. Chị họ bảo tôi thỉnh thoảng hãy đến, và rằng tôi thật sự nên tập trung học hành. Và rằng dù chỉ là trong mơ thôi, chị cũng ước sao được bước qua cánh cổng trường đại học một lần.

... Trước khi tôi biết đến cô ấy, cứ nhắc đến Chuncheon là tôi lại nhớ đến cảm giác nôn nao ngày hôm đó. Cả giọng nói rầu rĩ của chị họ rằng dù chỉ là trong mơ thôi, chị cũng ước sao được bước qua cánh cổng trường đại học một lần. Nhưng kể từ khi tôi bắt đầu ghi khắc tên cô ấy vào trong tim, Chuncheon đối với tôi đã từ nơi khiến tôi nôn nao trở thành nơi cô ấy sống. Từ năm tôi hai mươi tuổi, cô ấy đã trở thành viên đá quý màu xanh gắn trên tim tôi. Sau khi dành trọn một đêm thức trắng vùi đầu vào tác phẩm của cô, một đống xác bướm đêm trắng xóa đã chồng chất bên dưới cây đèn của tôi. Chỉ đến lúc đó, cơn mệt mỏi sau cả đêm thức trắng mới ùa tới. Từng có thời tôi liều lĩnh hấp tấp cố gắng tìm cách cướp lấy cô ấy. Giá như có thể, tôi những muốn không chút lưỡng lự mà cướp lấy cô ấy.

... Nếu không tình cờ gặp được cô ấy sau khi rời khỏi khu Yeongdeungpo hoang tàn ấy, chẳng biết tôi sau đó sẽ ra sao, tôi nghĩ ngợi.

... Cô ấy đã vỗ về, gỡ bỏ những cằn cỗi trong nội tâm tôi và vun đắp cho tôi lòng trắc ẩn. Có cô ấy làm ánh đom đóm soi đường, tôi đã băng qua con đường hầm tăm tối của thập niên 80.

Cô ấy, ánh đom đóm của tôi, đã nói trước mặt tôi. Cô ấy nói rằng, từng ngày từng ngày cô ấy đều thấy cô độc, rằng có lẽ khát khao viết lách của cô ấy đã biến mất từ rất lâu rồi; rằng có nhiều ngày cô ấy ngồi thất thần từ sáng tới tối, thầm hỏi lòng mình rằng có lẽ nào cô ấy sẽ phải sống nốt những tháng năm còn lại của cuộc đời chỉ bằng lời hứa hẹn rằng mình sẽ viết.

Sự cô độc của cô ấy.

Vào một bình minh xanh ngắt, tôi đọc truyện ngắn “Giếng cổ” trên tạp chí Văn học Joongang, tác phẩm đầu tiên cô ấy công bố sau năm năm vắng bóng. Quay trở lại sau khi vượt thoát khỏi nỗi cô độc, cô ấy tựa rặng san hô lấm tấm những giọt nước. Nếu nói “Giếng cổ” là tác phẩm ra đời từ nỗi sợ hãi và sự xấu hổ của nhà văn thì tôi nghĩ rằng, một nhà văn không thể nào thiếu nỗi sợ hãi và sự xấu hổ đó. Lại một lần nữa, cô ấy dắt theo những người phụ nữ từng dò dẫm trong cõi nhân gian, dơ dáy và bẩn thỉu tiến vào cõi thần thoại. Những chớp sáng đâm xuyên qua cuộc sống, những tầng tầng lớp lớp hình ảnh biến xanh lướt qua và phản chiếu trên mặt giếng. Cô ấy sôi nổi và nóng rực. Những người phụ nữ vô danh khoác trên người bộ quần áo ngôn từ cô ấy dệt, sinh ra từ giếng, vượt ra bên ngoài cả nữ tính và nhân tính, rắn rồi biến thành cá chép vàng. Mớ cảm xúc rối bòng bong ào ạt cuộn lên trong lòng tôi vào buổi sáng đó khi tôi đọc “Giếng cổ” - tôi gọi đó là sự ghen tị liệu cũng được chăng? Sao cô ấy có thể chẳng hề thay đổi chút nào thế này? Tôi đi đi lại lại trong phòng. Dường như cô ấy đã theo cái gầu đứt dây xuống tận đáy giếng xanh rồi quay trở về.

“Giếng cổ”, cô ấy nói, “Giếng cổ” là kết quả của cuộc vật lộn tuyệt vọng tìm cách quay trở lại con đường viết tiểu thuyết của mình.

... Ảo giác về một con cá chép vàng lắc người giũ những giọt nước xanh, lao vút lên bề mặt cuộc đời từ vết thương mất mát sâu hoắm, từ đầm sâu bóng tối thăm thẳm.

Hôm đó là Chủ nhật. Anh cả gọi tôi.

“Ra chợ mua muối biển về đây. Mua nhiều vào. Mà em biết mấy cái bao đựng gạo đấy chứ? Cũng tìm mua lấy một bao đi.”

“Để làm gì ạ?”

“Cứ đi mua đi.”

Anh cả đi tất rồi chuẩn bị ra ngoài, trước khi đi anh lại gọi tôi lần nữa. Anh lôi một ít tiền từ trong túi quần ra và đặt vào lòng bàn tay mười tám tuổi của tôi.

“Mua cả mấy miếng cao dán nữa.”

“Anh bị đau ở đâu à?”

“Mua về dán lên lưng anh ba ấy. Tối qua nó gần như chẳng chợp mắt được.”

Tôi cùng chị họ, vốn lúc nãy bận phơi quần áo trên sân thượng, băng qua cầu vượt tiến đến chợ. Nghe tôi kể lại lời anh cả, chị họ nghiêng đầu nói, Thảo nào.

“Thảo nào gì?”

“Anh ba ấy. Trước mặt chúng mình nhìn anh ấy vẫn bình thường. Nhưng hôm qua lúc gặp trên sân thượng chị lại thấy anh ấy đi khập khiễng.”

“Khập khiễng?”

“Chị hỏi anh đau ở đâu à thì anh ấy bảo không sao cả, lúc xuống lại đi rất bình thường. Nhưng có vẻ như anh ấy bị đau thật đấy.”

Khi chúng tôi mua miếng cao dán về, anh ba đang ngủ, nằm sấp sát bên cạnh bức tường trong căn phòng hiu quạnh. Anh cả đã đi rồi. Tôi xé vỏ miếng cao dán và kéo áo anh ba lên. Tôi kéo rất nhẹ nhàng nhưng anh ba vẫn giật mình quát, Ai đấy? Đôi đồng tử của anh y hệt đồng tử con nai con bị thợ săn săn đuổi. Cả lưng anh thâm tím. Quá sốc trước những vết bầm tím ấy, chị họ đưa bàn tay lên che mặt. Tôi, mười tám tuổi, vì tiếng quát lớn bất ngờ của anh ba liền phải chống hai tay xuống sàn nhà lùi lại phía sau, đến lúc đó cặp mắt hoảng loạn của anh ba mới định thần lại nhìn tôi, Hóa ra là em.

“Anh cả bảo em dán cái này cho anh.”

Anh ba nằm sấp xuống, giao phó tấm lưng bầm giập cho đôi tay mười tám tuổi của tôi. Anh đã gặp chuyện gì mà ra nông nỗi này? Những vết bầm của anh thâm đen nhất quanh vùng eo. Mắt tôi cay sè. Tôi dán cao dán quanh thắt lưng anh ba rồi xoa bóp cho anh. Tôi cố xoa bóp thật nhẹ nhàng, nhưng có vẻ như vẫn đau nên anh rúm người lại.

“Anh đau à?”

Vùi đầu vào hai cánh tay, anh ba không trả lời. Ai đã làm thế này với anh? Tôi nhớ lại những lời anh cả đã nói vào cái đêm anh ba quay về. Được thế này cũng là may rồi, có phải anh cả muốn ám chỉ những vết bầm giập này? Anh ba, vốn cao ráo và có lồng ngực nở nang, giờ khắp người đầy vết bầm tím, đôi mắt nhuốm sự hoảng sợ nhắm chặt, nằm sấp, rúm ró như một chú đại bàng con trước mặt tôi, mười tám tuổi. Tôi, mười tám tuổi, mắt giàn giụa nước vì hơi cay từ miếng cao dán.

Anh cả nhìn đống muối chúng tôi mua từ chợ về, bảo rang lên cho thật nóng rồi đổ vào bao, đắp lên lưng anh ba.

“Nhưng sao lưng anh ấy lại thành ra như thế?”

Anh cả không trả lời. Chị họ liếc nhìn tôi đầy nghi hoặc. Em cũng không biết, tôi, mười tám tuổi, lắc đầu. Kẻ nào đã làm điều này với anh? Chị họ, hai mươi tuổi, làm theo chỉ dẫn của anh cả, đặt cái chậu rửa bằng thép không gỉ lên bếp dầu rồi bật bếp. Chị họ đổ muối vào trong chậu rồi ngồi xuống bên cạnh bếp, lấy cái vá xới cơm để đảo muối. Muối được rang bật tiếng kêu lách tách.

Anh ba từng là vận động viên điền kinh. Ngày xưa, ở vùng quê mà chúng tôi đã bỏ lại sau lưng, hằng năm cứ đến tháng Năm người ta lại tổ chức lễ hội kỷ niệm cuộc khởi nghĩa nông dân Donghak. Suốt ba năm liên tiếp, anh ba đều được chọn đóng vai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Donghak, Jeon Bong Jun, mang súng hỏa mai, và suốt ba năm liên tiếp anh đều về nhất trong cuộc thi điền kinh ở quê, được thưởng một chồng vở mang về nhà. Anh ba ấy của chúng tôi rốt cuộc đã đi đâu để đến nỗi bầm tím khắp người quay về thế này? Hai mắt cá chân dưới hai bắp chân dài miên man từng chạy như ngựa của anh giờ dính bệt ở ngưỡng cửa.

Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp, vốn trước đây chỉ dành riêng cho chúng tôi, giờ đã có thêm khóa mới. Chúng tôi chuyển lên một phòng học khác ở tầng hai. Các lớp cũng được chia lại, chúng tôi tạm biệt những gương mặt quen và gặp gỡ thêm nhiều gương mặt mới. Mi Seo, người đọc Hegel, Ahn Hyang Sook thuận tay trái và Ha Kye Sook, người luôn đến muộn một tiếng đồng hồ rồi rón rén mở cửa lớp, vẫn học cùng lớp với tôi. Chị họ vẫn học lớp khác. Chị Hee Jae không đến trường nữa. Từ khi sang năm mới, tôi họa hoằn lắm mới gặp chị Hee Jae. Trên chuyến xe buýt từ trường về nhà, hay trên cầu vượt chúng tôi thường đi để ghé qua chợ rồi trở về căn phòng hiu quạnh, chị họ hỏi.

“Em có gặp Hee Jae không?”

Tôi lắc đầu. Định bỏ học sao? Giọng chị họ văng vẳng bám lấy vành tai mười tám tuổi của tôi. Khá nhiều học sinh đã bỏ không học lên lớp mười một. Trước đó cũng đã có không ít người không quay lại trường sau kỳ nghỉ hè năm lớp mười. Đêm, khi lên cầu thang về căn phòng hiu quạnh, chúng tôi thấy phòng chị Hee Jae khóa ngoài.

Thầy giáo Choi Hong Yi. Sang năm học mới, thầy được chỉ định làm chủ nhiệm lớp khác. Sau khi đổi giáo viên chủ nhiệm, tôi, mười tám tuổi, nhanh chóng đánh mất niềm hứng thú đi học, như thể tôi đến trường cốt chỉ vì một mục đích là được gặp thầy thôi vậy.

Tôi, mười tám tuổi, nhận một hộp kẹo từ Ahn Hyang Sook thuận tay trái. Tự dưng cho kẹo là sao? Tôi, mười tám tuổi, liếc nhìn Ahn Hyang Sook với vẻ hoài nghi. Cô thì thầm phân trần với tôi.

“Năm nay lại ngồi cùng bàn đi.”

Ahn Hyang Sook thuận tay trái so với tôi, mười tám tuổi, thì hơn bốn tuổi. Tôi, mười tám tuổi, vốn muốn ngồi với Mi Seo lớn hơn tôi có một tuổi hơn là ngồi với Ahn Hyang Sook, yên lặng không trả lời.

“Tớ sẽ thấy có lỗi lắm. Cậu thì đã quen rồi, nhưng nếu tớ mà phải ngồi chung bàn với người nào khác, lúc chép bài tớ sẽ lại va phải tay người ta, rồi sẽ lại bị nhìn chằm chằm.”

Thầy giáo chủ nhiệm mới của chúng tôi dạy Vật lý. Thầy không sắp xếp chỗ ngồi cho chúng tôi. Thầy bảo chúng tôi thích ngồi chỗ nào thì ngồi, ai thấp ngồi trước, ai cao ngồi sau. Ha Kye Sook chọn chỗ ngồi tận cuối lớp, gần cửa ra vào. Như thế lên lớp mười một, cô ấy sẽ thấy bớt áy náy hơn chút xíu. Cho dù cô ấy có đến lớp muộn, thì chỗ ấy sẽ vẫn chẳng bị ai ngồi. Nhiều lần có người còn mở hé cửa để Ha Kye Sook có thể lẻn vào lớp dễ dàng hơn. Khi tôi chọn ngồi ở hàng ghế cuối lớp xa cửa ra vào nhất và trông ra được thảm hoa, Ahn Hyang Sook ngập ngừng đến ngồi cạnh tôi.

Từ chỗ ngồi nhìn ra cái ô tô của thầy giáo dạy nhạc, cái ghế băng và bức tượng nữ sinh mặc đồng phục mùa hè, tôi nghĩ đến thầy Choi Hong Yi. Giờ tôi chỉ được gặp thầy trong mỗi giờ Ngữ văn. Thỉnh thoảng, vào giờ giải lao, tôi lại tới phòng giáo viên và mở của thật hé. Tôi dõi nhìn thầy Choi, đang ngồi quay lưng lại ở tít đằng xa rồi sau đó lại quay về lớp.

Một hôm, thầy chủ nhiệm của chị Hee Jae tìm gặp tôi. Theo lời mấy học sinh làm cùng nhà máy chị Hee Jae thì cứ năm giờ chiều hằng ngày chị lại bảo mình phải đi học rồi mặc đồng phục học sinh, rời khỏi nhà máy cùng mọi người, thế nhưng bao lâu nay chẳng thấy chị đến trường, thầy giáo giải thích, rồi hỏi tôi xem có chuyện gì. Đã lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy chị. Tôi, mười tám tuổi, cũng rất tò mò muốn biết có chuyện gì.

“Thầy nghe nói các em sống cùng một nhà phải không?”

Thật khó mà hiểu nổi. Chính tôi cũng không biết tại sao mà tuy cùng sống chung một nhà nhưng chúng tôi lại chẳng thể thường xuyên gặp nhau. Tôi hầu như cũng chẳng nhớ nổi đã từng có khi nào mặt đối mặt với những người trọ khác. Những gì lưu lại trong ký ức tôi chỉ là hình ảnh mọi người mở cửa bước ra hay đang khóa cửa. Hay tiếng đài phát thanh vang bập bõm; tiếng đôi ba người tụ tập tán chuyện; mùi mì ăn liền được nấu giữa đêm khuya; cảnh những người sáng sáng xếp hàng bên ngoài nhà vệ sinh, đầu gục xuống trong câm lặng; ánh đèn lặng lẽ hắt ra, hay những ô cửa sổ tắt đèn. Trong số bao nhiêu cửa phòng bếp mở ra ngoài của ngôi nhà đó, cánh cửa phòng chị Hee Jae là cánh cửa duy nhất tôi, mười tám tuổi, từng ra vào, từng quen thuộc. Nhưng cánh cửa ấy, chẳng biết từ bao giờ đã khóa kín. Cả ban đêm khi tôi đi học về nhìn vào lẫn buổi sáng khi tôi đi làm ngó qua cũng thấy cửa phòng chị Hee Jae đang khóa.

“Có vẻ gì là về nhà không?”

Tôi cũng không dám chắc. Thứ duy nhất tôi nhìn thấy là ổ khóa trên cửa nhà chị. Thầy giáo bảo nếu chị ấy cứ tiếp tục nghỉ học không lý do như thế, thầy sẽ phải báo cáo với nhà máy của chị. Theo quy định đối với Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp, học sinh không được phép bỏ việc khi đang đi học. Nói cách khác, người ta chỉ có thể đến trường khi vẫn đang đi làm.

Khi nghe tin tôi đi gặp thầy giáo của chị Hee Jae, chị họ lộ vẻ lo lắng.

“Nghe nói thầy giáo chủ nhiệm của Hee Jae là người nguyên tắc lắm đấy. Thấy bảo thầy ấy đã đuổi học nhiều học sinh theo yêu cầu từ các nhà máy rồi.”

Ba ngày sau, quá nửa đêm, tôi xuống tầng một để kiểm tra. Hy vọng đến giờ này chị ấy đã quay về rồi. Nhưng cửa phòng chị Hee Jae vẫn khóa.

Không ngờ, chính anh cả lại là người cho tôi biết anh đã nhìn thấy chị Hee Jae. Anh cau mày bảo đã nhìn thấy chị ấy mặc đồng phục trở về lúc bình minh. Bảo rằng, nhìn cũng ngoan ngoãn mà không ngờ lại làm những việc như thế sao.

“Không phải đâu.”

Tôi ngay lập tức xua tay.

“Chị ấy không phải người như thế đâu.”

Chị họ liếc mắt lườm tôi trong lúc tôi ra sức bảo vệ chị Hee Jae. Một đêm, tôi cố gắng thức lắng nghe động tĩnh ngoài cổng. Chắc tầm bốn giờ sáng chăng? Tôi nghe thấy tiếng ai đó khẽ đẩy mở cổng. Tôi lặng lẽ dậy rồi đi xuống tầng một. Chị Hee Jae đang tra chìa vào ổ khóa cửa phòng, tôi những tưởng chị sẽ bất ngờ thế nhưng chị lại chỉ nhìn tôi cười mơ hồ. Mái tóc tết bím của chị, bết lại vì quá lâu không gội, dính chặt vào bên dưới hai tai. Nhìn chị dưới ánh đèn, tôi mới thấy khuôn mặt chị phù lên như thể bột mì nở phồng khi trộn với soda. Mấy sợi chỉ lòng thòng bám trên bím tóc chị. Nếu trường học thông báo với nhà máy rằng chị không đến trường thì chị sẽ bị sa thải ư? Gặp chị rồi tôi, mười tám tuổi, lại chẳng biết nói gì với chị, cứ đứng đó nhìn chằm chằm vào lưng chị trong lúc chị rửa mặt.

Sáng hôm sau, chị đứng giữa không khí ban mai. Tóc tết bím, mặc đồng phục và cặp sách trên tay, chị đứng đó đợi chị họ và tôi. Lần đầu tiên sau một thời gian dài, chúng tôi bước cùng nhau trên con ngõ nhỏ. Mãi tới lúc đến chân cầu vượt, tôi mới chuyển lời thầy chủ nhiệm cho chị.

“Trường học các kiểu chẳng còn quan trọng gì nữa rồi.”

Chị hít một hơi sâu không khí buổi sáng rồi bước những bước đầu tiên lên cầu vượt.

“Chị định không đến trường nữa à?”

“Ừ.”

“Tại sao?”

“Chị phải kiếm tiền.”

Chị họ nhắc lại, Tiền? Chị họ hỏi chị Hee Jae vậy tại sao vẫn mặc đồng phục.

“Vì tớ cần phải rời nhà máy vào giờ đó.”

“Cậu đi đâu kiếm tiền thế?”

“Tớ đã tìm được việc rồi.”

Tôi, mười tám tuổi, dừng bước trên những bậc cầu thang dẫn lên cầu vượt. Bầu trời ảm đạm sũng nước. Tìm được việc rồi ư? Nhưng chị đã có sẵn công việc ở nhà máy rồi còn gì. Còn tìm việc gì khác nữa?

“Cậu... không lẽ?”

Chị Hee Jae cắt lời chị họ. Tôi, mười tám tuổi, mãi sau mới đoán được ý của chị họ, bèn thúc vào sườn chị. Ở nhà máy vẫn có vài người như thế. Những người rời bỏ vị trí bên dây chuyền lắp ráp để tìm công việc mới. Họ rời khỏi ghế làm việc ở nhà máy để đến phòng trà hay quán rượu. Chị họ hỏi, Cậu... không lẽ?, chính là hàm chứa ý đó. Chị họ định nói gì thêm nhưng chị Hee Jae đã lại cắt ngang.

“Ở hiệu may Jin Hee gần cổng Khu Liên hiệp Công nghiệp số 2. Họ cho tớ làm từ sáu giờ chiều đến mười một giờ tối nên tớ mới vào làm, nhưng dạo gần đây nhiều việc quá, tớ phải làm thông đêm. Dù xong việc lúc hai giờ sáng, song vướng lệnh giới nghiêm nên tớ không về sớm được.”

... Giọng nói tựa như đang trôi dạt trong giấc ngủ chập chờn của chị.

Tôi không nhớ trường học đã xử lý việc chị Hee Jae như thế nào. Cũng không nhớ tại sao chị lại phải bỏ học đi làm hai công việc cùng lúc. Hình như chị có nói là muốn đón em trai đang ở cùng bố dượng dưới quê lên sống cùng, rằng chị phải tìm một phòng cho hai chị em, nhưng tôi không nhớ chính xác. Chỉ là, hình như tôi từng nghe chị nói chị muốn làm nhân viên trực tổng đài điện thoại hay gì gì đó... Thật buồn cười là tất cả những gì tôi nhớ được về những tháng ngày khó khăn suy sụp của chị chỉ là giọng nói mơ hồ của chị. Tất cả những gì còn lưu lại chỉ là giọng nói của chị, mỏng manh như cánh hoa được vô tình kẹp trong một cuốn sách tôi đọc từ lâu, khô kiệt đến nỗi chỉ chực vỡ tan lúc ta tìm thấy.

Tôi, mười tám tuổi, đột nhiên hạ quyết tâm dậy sớm, tầm lúc anh cả mở cánh cửa gác mái lấy bộ tóc giả, để có chút thời gian tới nhà tắm. Đó là một sớm thứ Ba hay thứ Tư, sau cuối tuần tôi nhỡ nhàng không tắm được vì phải làm thêm giờ. Đúng lúc tôi đang xát xà phòng dưới vòi sen thì chị ấy với tay chạm vào vai tôi. Nụ cười, nụ cười mơ hồ ấy trong miền ký ức mơ hồ của tôi... mơ hồ.

“Chị ngủ gật bị đâm vào tay... lúc sáng sớm nay.”

Chị ngâm bàn tay đỏ bừng, sưng phồng vào trong một cái chậu và lại cười mơ hồ. Tôi, mười tám tuổi, xây xẩm mặt mày. Nhìn mu bàn tay sưng phồng của chị, tôi dường như có thể nghe thấy tiếng lịch xịch của kim máy khâu đâm thành đường dích dắc trên bàn tay chị lẫn giữa tiếng nước chảy róc rách. Những giọt nước rơi xuống cơ thể tôi chẳng khác gì những giọt máu đang bắn lên tung tóe. Tôi, mười tám tuổi, kỳ lưng cho chị và nhìn một vết chàm màu xanh nhạt từ hõm lưng lan rộng xuống phía hông chị. Giống như một hòn đảo hoang vô danh không còn dấu vết con người trên bản đồ, vết chàm tựa vết mực đó chạy dài thành một cái đuôi mờ nhạt, kéo đến tận bụng chị.

“Em có biết hồi nhỏ biệt danh của chị là gì không?”

Chị quay lại hỏi, như thể cảm nhận được cái nhìn chăm chú vào vết chàm của tôi.

“Là gì vậy?”

“... Cô Đốm.”

Chẳng có gì buồn cười cả, thế mà tôi và chị đều bật cười khúc khích, ụp cả cái chậu làm nước tràn ra ngoài. Cô Đốm... Cô Đốm... Hai chúng tôi cùng bật cười, hết tôi, mười tám tuổi, cười đuổi theo tiếng cười của chị, lại đến lượt chị cười đuổi theo tiếng cười của tôi. Chúng tôi cứ cười mãi cho đến khi quai hàm cứng đơ, như thể trên đời này chẳng còn gì buồn cười hơn thế nữa. Như thể sắp hết hơi. Không biết có phải chị đi thẳng từ hiệu may Jin Hee đến nhà tắm? Lúc chúng tôi quay về nhà, chị vẫn đang mặc đồng phục học sinh. Trong lúc tôi nấu bữa sáng, chị mặc nguyên đồng phục nằm trong phòng và ngủ thiếp đi. Khi tôi đánh thức chị dậy đi làm, đôi mắt chị đỏ ngầu, chẳng kém gì bàn tay bị kim máy may đâm của chị.

Mùa xuân Seoul. Chủ tịch công đoàn tươi cười rạng rỡ. Cô Lee, người thường ăn trưa cùng anh ta, cũng vậy. Các thành viên công đoàn đeo ruy băng ghi, Hãy ngừng phá hoại công đoàn, và thực hiện biểu tình tại chỗ. Chị họ, khi nhìn thấy cảnh các thành viên công đoàn chỉnh lại những dây ruy băng như thể vừa sực nhớ ra sau khi rửa tay hay chải tóc cạnh vòi nước hay soi gương ở phòng vệ sinh, trở nên rầu rĩ hẳn. Sự kiện Mùa xuân Seoul đã khiến chủ tịch công đoàn phải một lần nữa tổ chức đấu tranh với những kẻ lái ô tô con màu đen, đòi quyền tự do từ chối làm ngoài giờ và làm thêm giờ, đòi được nghỉ phép hưởng lương, làm việc tám tiếng một ngày, được hưởng trợ cấp thôi việc và được nâng lương. Nhìn thấy chúng tôi, mặt cô Lee tối sầm lại. Cô nói có rất nhiều chuyện chúng tôi không biết. Rằng sự thiếu hiểu biết của chúng tôi là điều may mắn với những kẻ lái ô tô con màu đen. Giọng cô Lee rầu rĩ nhưng rõ ràng. Giọng cô vừa mang theo sự tin tưởng lại vừa nhuốm mùi tuyệt vọng. Nếu các cô không bắt đầu tự chăm sóc bản thân thì nhất định bọn họ sẽ lợi dụng biến các cô thành vật hy sinh, cô Lee nói.

Một tiền bối gọi cho tôi.

“Dạo này em ổn chứ?”

“Vâng.”

“Ổn đến mức nào mà cười như thế?”

“Không lẽ em phải khóc sao?”

“Em đang làm gì thế?”

“Em đang trả lời điện thoại.”

Anh cười phá lên. Tôi cũng cười theo. Có vẻ như anh muốn nói gì đó nhưng cứ ngập ngừng mãi, không giống với anh thường ngày chút nào.

“Anh nói đi.”

“Nói gì?”

“Có vẻ như anh đang muốn nói gì đó với em mà?”

“Em hứa là sẽ không giận đi rồi anh mới nói.”

“Chuyện gì thế? Nếu là chuyện đáng giận thì em sẽ giận.”

“Vậy thôi anh chẳng nói nữa.”

“Ở đâu ra cái kiểu đấy chứ. Làm người ta tò mò thế này rồi.”

“Vậy hứa là em sẽ không giận nhé.”

“Em hay giận thế sao?”

“...”

“Anh?”

“Hễ cứ nói chuyện tác phẩm của em là thể nào em cũng giận sưng sỉa còn gì.”

“Chuyện tác phẩm của em á?”

“Phải.”

“Như thế là giận ư? Em xấu hổ nên mới thế chứ.”

“Sao cũng được!”

“Anh nói thử đi, em sẽ kiềm chế, không giận dối hay sưng sỉa gì hết.”

“Anh vừa đọc chương hai cuốn Cô gái viết nỗi cô đơn của em.”

Cảm giác dằn dỗi dâng lên trong lòng tôi. Tôi chưa gì đã sưng sỉa mất rồi. Anh đọc làm gì cơ chứ, tôi những muốn nói thế, nhưng câu đó đã trôi tuột xuống cổ họng làm tôi ú ớ nghẹn giọng.

“Thử nhớ kỹ lại xem nhé. Bộ phim em xem hôm đó có thật là Trò cấm không?”

Bộ phim chúng tôi xem ngày hôm đó không phải là Trò cấm. Mà là Boomerang với diễn viên chính là Alain Delon. Boomerang. Tôi đã quên mất nội dung chính xác của bộ phim là gì. Chỉ nhớ phim kể về hai bố con. Về người bố giải thoát đứa con bị cầm tù do phạm tội hình sự, rồi đưa anh ta vượt biên giới. Alain Delon đóng vai người bố, ông bất chấp nguy hiểm giải cứu đứa con bằng máy bay.

“Là phim Boomerang?”

“Thế tại sao em lại viết là Trò cấm?

“Nó là tiểu thuyết mà!”

Nghe giọng cãi lại của tôi, anh im lặng một lúc. Tất nhiên, làm sao anh có thể không biết cơ chứ. Làm sao anh có thể không biết rằng, những câu văn làm nên một tác phẩm hư cấu không bao giờ có thể vượt trước được những tia sáng sinh ra và biến mất trong đời thực. Làm sao anh có thể không biết đến sự hạn chế của những câu văn chỉ có thể khép kín một cách phóng đại và màu mè một cách khó tiếp cận.

Bộ phim tôi đã xem cùng anh cả và chị họ ngày hôm đó là Boomerang, nhưng tôi không thích nó. Có lẽ đó cũng là một vấn đề đối với tôi của hiện tại. Đó là tôi chẳng buồn ngồi cùng những thứ không khiến tôi thấy thích thú. Là tôi thậm chí còn không có ý muốn nói về chúng hay nhất quyết không để bị chúng thuyết phục. Có lẽ sự khép mình này đang ngăn cản tôi nhìn cuộc đời từ một góc độ khác. Lý do duy nhất khiến tôi đặt bộ phim Trò cấm vào chỗ đáng lẽ ra dành cho bộ phim Boomerang trong câu chuyện của mình chỉ đơn giản vậy. Nhận ra tôi đang nổi giận, tiền bối giờ còn ú ớ hơn cả tôi, anh dỗ dành.

“Phải, anh cũng chỉ nói thế thôi mà. Chỉ là anh biết Trò cấm chỉ được chiếu ở rạp đúng một lần hồi những năm 1960 thôi. Mà không phải hồi đó là trước cả khi em ra đời ư? Thế mà em lại viết bộ phim hôm đó em xem là phim Trò cấm, thế nên cá nhân anh, bỗng dưng thấy hơi cụt hứng. Nếu là tiểu thuyết người khác viết thì anh đã chẳng nói rồi. Khó mà giải thích rõ ràng lắm, nhưng trong cuốn tiểu thuyết em đang viết ấy, anh nghĩ sẽ hay hơn nếu em không viết như vậy, thế nên... ý anh là em hãy chỉ viết đúng như em thấy... nhưng nói thế cũng không có nghĩa là anh đang yêu cầu em phải viết đúng như thực tế nhé. Em hiểu anh muốn nói gì mà, phải không?”

... Anh đang phê bình quan điểm của tôi, rằng cho dù tôi có ám ảnh đến mức nào chăng nữa, tiểu thuyết vẫn chỉ là bám theo những dấu vết của cuộc sống, và rằng viết lách không cách nào có thể vượt trước cuộc sống, không, thậm chí là song hành cùng cuộc sống cũng không. Và phê bình cả những trang trí, những định hướng, những sự phóng đại chứa đầy trong quan điểm đó.

Sau khi cúp máy, tôi luộc một ít rau chân vịt để ăn cùng bữa tối. Rau chân vịt tươi ngon. Để giữ cho rau khi luộc không bị phai mầu, tôi bốc một nhúm muối cho vào trong nước sôi. Tôi rửa rau chân vịt đã luộc chín qua nước lạnh hai lần. Tôi đặt rau trong lòng bàn tay rồi vắt kiệt nước. Phải, tôi chỉ có thể viết được như thế này. Chỉ có thể đặt vào lòng bàn tay rồi vắt cho kiệt nước. Tôi đâu có trách nhiệm phải dùng câu chữ để miêu tả nào chất, nào mùi của rau chân vịt nằm trên lòng bàn tay tôi trước khi bị vắt kiệt nước. Biết đâu chính cái hiện thực của anh lại đang được vùi sâu bên trong cái sự thực rằng tôi không có trách nhiệm phải diễn tả nó. sắc xanh phơn phớt của rau chân vịt xoa dịu cõi lòng râm ran của tôi. Tôi gỡ từng cọng rau cho tơi ra rồi để vào cái bát tôi thường làm mì lạnh ăn. Tôi băm nhỏ hai tép tỏi tươi cho vào. Tôi lôi chai dầu mè cùng với một lọ muối vừng ra, rồi thái vát hành hoa.

... Thái vát?

Vợ anh ba là người gốc Seoul. Nhiều năm làm tiếp viên hàng không sau khi tốt nghiệp khoa thiết kế thời trang từ chính ngôi trường anh trai tôi theo học, chị là người lạc quan và rất hay cười. Chị dịu dàng thân thiện đến mức ban đầu tôi những tưởng đó là bệnh nghề nghiệp mà chị chưa bỏ được. Nhưng sáu năm sau khi sinh con, chị vẫn chẳng hề thay đổi. Đó là lần đầu tiên chị vào bếp giúp mẹ chuẩn bị cho bữa giỗ kể từ sau khi về làm dâu. Mẹ đẩy một rổ hành ra trước mặt chị bảo, Đây thái vát đi nhé. Chị tiến đến gần tôi, lúc này đang xiên khoai sọ luộc thành từng xiên để tẩm bột rán, rồi hỏi khẽ.

“Thái vát nghĩa là như thế nào vậy?”

Chính tôi cũng không biết nó có nghĩa là gì nhưng biết trông nó ra sao, vậy nên tôi đặt một nhánh hành lên trên thớt rồi thái theo đường chéo để làm mẫu cho chị xem, sau đó đẩy thớt về phía chị.

“Đây là vát đấy ạ.”

Trong lúc chị cố gắng thái hành theo đúng hình dạng như tôi đã làm mẫu, cứ mỗi khi mắt chúng tôi chạm nhau chị lại nhoẻn miệng cười. Mắt chị đỏ quạch và ứa nước mắt vì hơi cay của hành.

Làm ngoài giờ. Đương lúc lôi cái đầu vặn dùng khí nén về phía mình, chị họ gục đầu xuống.

“Sao thế?”

“Mắt chị mờ quá.”

Chị họ bảo mấy cái lỗ bé xíu để nhét đinh ốc vào cứ như đang rung rinh. Tôi, mười tám tuổi, bước tới chỗ chị họ đang ngồi với mái đầu cúi gục.

“Để em làm thay một lúc cho, chị vào nhà vệ sinh chợp mắt một lúc đi.”

Chị họ đứng dậy nói, Đành vậy.

Giờ tan ca.

Ở phòng bảo vệ, bảo vệ đang khám người. Khám người nhằm xem xem có ai tìm cách ăn trộm các bộ phận từ dây chuyền lắp ráp hay không. Seo Seon khu đóng gói gạt phắt tay của bảo vệ ra khi anh ta kéo túi áo ngực của cô để lục lọi bên trong. Chúng tôi là nhân viên bậc 1. Nhân viên quản lý được gọi là nhân viên chính thức. Nhân viên chính thức không bị khám người. Họ nhét thẻ tên vào máy chấm công để đánh dấu thời gian rồi ung dung đi qua phòng bảo vệ. Những người bị lục túi khám người là những nhân viên bậc 1. Sau khi không chịu cho bảo vệ khám người, Seo Seon bị đẩy sang một bên khi còn chưa kịp nhét thẻ tên vào máy chấm công. Làm theo Seo Seon, các nhân viên bậc 1 trong hàng đều chìa túi xách ra nhưng không chịu cho khám người.

Quản lý khu vực Ha của phòng tổng vụ chạy đến.

“Các cô giấu cái gì trong người mà có tật giật mình như thế!”

Nhưng, trước Mùa xuân Seoul đang đến, Seo Seon dõng dạc hét lên. Khám túi còn được chứ chúng tôi nhất định không để bảo vệ nam khám người!

Uy lực của Mùa xuân Seoul đã buộc một cô làm việc ở căng tin phải ngày ngày xuống dưới phòng bảo vệ lúc chúng tôi tan ca. Giờ đây nhân viên bậc 1 không còn phải chịu cảnh bị bảo vệ nam khám người nữa. Seo Seon rạng rỡ. Những nhân viên nữ bậc 1 khác, nhờ Seo Seon mà được khám bởi cô làm việc ở căng tin, cũng rạng rỡ không kém.

Anh ba càng ngày càng hay ngủ bên ngoài hơn. Anh không về nhà có khi liên tục hai, ba ngày, thỉnh thoảng nguyên cả tuần. Ngủ lang là một trong những thứ anh cả ghét nhất. Anh bảo con người ta có thể ăn ở nhiều nơi khác nhau nhưng ngủ thì phải ngủ ở một chỗ. Và gia đình là mọi người cùng ngủ dưới một mái nhà. Nhưng anh ba vẫn ngủ ngoài suốt. Mà lưng anh ấy đã khỏi hẳn đâu, chị họ lo lắng cho cái lưng bầm giập của anh ba. Một Chủ nhật nọ. Anh cả hỏi anh ba, vừa phờ phạc trở về sau mấy ngày liền vắng nhà.

“Em đã ngủ ở đâu hả?”

Một luồng gió lạnh lượn quanh phòng.

“Ở công viên Changgyeong.”

Khuôn viên trường của anh ba giáp ngay với công viên Changgyeong, chỉ cách nhau có một bức tường. Lật đổ chế độ độc tài! Bãi bỏ Duy tân! Hễ bị truy đuổi bởi đám cảnh sát dẹp loạn, anh ba lại trèo qua tường chui vào giữa các khóm hoa trong công viên Changgyeong.

Anh cả đứng bật dậy khỏi ghế.

“Mày nhất định phải như thế chứ gì! Tao phải làm thế nào mày mới hiểu ra đây! Giờ là lúc để mày đi biểu tình đấy hả!”

Anh ba, trước giờ chưa từng một lần cưỡng lại anh cả, đột ngột hét to.

“Thế giờ là lúc làm gì?”

“Mày là sinh viên luật!”

“Vậy ý anh bảo em hãy làm một kẻ hèn nhát, bỏ chạy, trốn tránh, chỉ biết học như anh ấy ư.”

Anh cả đột nhiên gầm lên như một con thú, đẩy anh ba áp sát vào tường.

“Thằng khốn nạn!”

Đầu anh ba đập vào tường kêu đánh “cộp”.

“Đánh đi, anh đánh đi, giết em luôn đi!”

Anh ba trợn mắt, gào lên. Giọng nói và cử chỉ của anh tràn ngập giận dữ. Có vẻ như anh muốn bị đánh cho một trận ra trò, dù là bởi anh cả hay bởi bất kỳ ai khác cũng không thành vấn đề. Cái ghế được tay anh cả nhấc bổng lên. Cái ghế bị ném thẳng vào cửa sổ. Tổng tập Sáu Bộ Luật Chính, Luật dân sự, Luật hình sự, sách vở được ném tới tấp vào mặt anh ba.

“Vì sao mà tao phải sống thế này chứ!”

Cơn giận dữ anh cả vốn đã đè nén suốt bao lâu nay cuối cùng đã bùng nổ. Quả thực, sao anh lại phải sống như thế này chứ. Giữa độ tuổi thanh xuân rực rỡ nhất, đôi vai anh đã trĩu nặng trách nhiệm của người con trai cả như thể đấy là một hình phạt thiêng liêng. Cơn giận dữ dồn nén của anh - với tư cách người con trai cả buộc phải chăm lo cho các em thay bố mẹ ở quê nhà xa xôi, phải làm việc kiếm tiền trong lúc thực hiện nghĩa vụ quân sự và phải ngủ rất bất tiện trong cái phòng nhỏ xíu cùng với cô em gái và người chị họ - khiến anh ba đổ cả máu mũi. Anh cả quay ra chị họ và tôi, lúc này đang đứng run lẩy bẩy trong bếp, đuổi chúng tôi ra ngoài.

“Còn không cút ngay đi! Cút hết đi!”

Nghe anh cả đe dọa chị họ bèn chạy lên sân thượng trốn. Nhưng đôi chân mười tám tuổi của tôi không chịu nhúc nhích.

“Em cũng cút đi!”

“...”

“Cút đi nghe không!”

Anh ba, mũi vẫn đang chảy máu, hét lên với anh cả.

“Để cho con bé yên!”

Anh cả tung nắm đấm về phía mang tai anh ba.

“Thằng khốn, mày cút trước đi! Cút!”

Cũng như cơn giận dữ của anh ba không nhắm vào anh cả, cơn giận dữ của anh cả cũng không nhắm vào anh ba. Chỉ là tại thời điểm đó, họ trút giận lên nhau mà thôi. Chỉ là cơn giận đã kìm nén quá lâu giờ không thể kiềm chế nổi mà thôi. Cái tủ nhựa đổ sập xuống. Cánh cửa gác mái như sắp tuột khỏi bản lề. Tôi, mười tám tuổi, ôm lấy hai cẳng chân của anh cả khi anh nhấc cái bàn lên định quăng về phía anh ba.

“Anh ơi, đừng mà!”

... Khi tôi mở mắt, mọi người đều đang say ngủ.

Xuyên qua ô cửa sổ vỡ toang của căn phòng hiu quạnh, vầng mặt trời mùa xuân ấm áp tỏa nắng lên các anh tôi. Và lên cả tấm lưng chị họ đang nằm sấp. Cảnh tượng ấy bình yên đến độ không khỏi khiến tôi tự hỏi, Những giận dữ cuồng nộ đêm qua có lẽ nào chỉ là một giấc mơ? Bàn tay anh cả đang quấn băng còn môi anh ba thì rách toạc, sưng vều đỏ ối. Trên trán tôi đắp một cái khăn ướt mát lạnh. Tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc vương trên môi mình. Cửa ra vào hé mở và chị Hee Jae nhòm vào trong. Ánh mắt chị Hee Jae lướt qua các anh trai và chị họ tôi đang say ngủ rồi dừng lại ở tôi. Tôi, mười tám tuổi, khẽ nhắm mắt lại. Đến tận khi cảm thấy ánh nhìn của chị Hea Jae đã rời khỏi đôi mắt mình đang nhắm chặt, tôi vẫn không mở mắt. Chị Hee Jae rón rén đóng cửa lại rồi khẽ khàng bước xuống cầu thang. Mãi sau khi đã nghe thấy tiếng chân chị dưới chân cầu thang, tiếng chị mở cửa phòng chị và bước vào, tôi mới ngồi dậy. Chị họ nghe tiếng tôi cử động bèn ngồi dậy theo.

“Em ổn chứ?”

“...”

“Đáng sợ thật, phải không?”

“...”

“Nhưng ai mà nghĩ được em lại ngất đi chứ?”

... Tháng Năm.

... Mùa xuân Seoul đã kết thúc. Mùa xuân Seoul đă kéo dài hai trăm lẻ ba ngày.

Tôi dẫn cháu trai bảy tuổi ra ngoài ăn trưa. Thằng bé vẫn đến bể bơi bơi suốt cả mùa đông và giờ so với nó, mùa xuân thật xanh xao nhợt nhạt. Tôi nghe nói dạo này thằng bé đang khiến cả gia đình hết sức đau đầu. Hễ bắt gặp ánh mắt thằng bé là sẽ bị nó hỏi han đủ điều, bới lông tìm vết, tra hỏi tỉ mỉ, khiến không ít lần dở khóc dở cười. Có đợt thằng bé đi đến đâu cũng xì hơi bum bum, mẹ nó bảo, Con đừng có đi đến đâu là lại xì hơi ra đến đấy nữa, thì một hôm, mẹ thằng bé đang ngủ trưa bị nó lay dậy, hỏi với vẻ vô cùng nghiêm túc, Mẹ ơi, bây giờ con xì hơi được không? Mẹ nó trả lời, Được, rồi đang định nhắm mắt lại thì thằng bé lại kéo mí mắt mẹ lên hỏi, Mẹ ơi, nhưng sao xì hơi xong con lại buồn ị thế nhỉ?

Giờ thằng bé đang bắt đầu tập đọc, có lần đi leo núi với bố, giữa đường nó bỗng nhiên hỏi, Thịt Chân Sườn là gì ạ? Thịt Chân Sườn? Bố thằng bé, anh ba của tôi, còn đang ngỡ ngàng thì được thằng bé chỉ, Thịt Chân Sườn ấy, ở kia kìa. Nó chỉ về phía một tấm biển quảng cáo ghi thực đơn bên ngoài một nhà hàng cạnh đường leo núi.

Thịt Luộc

Chân Giò Heo

Sườn Nướng

Thằng bé đã đọc cái thực đơn theo chiều dọc thành từ Thịt Chân Sườn vô nghĩa. Thậm chí, sau này lúc tôi nghe anh ba kể lại câu chuyện và cười phá lên, khuôn mặt thằng bé vẫn toát lên vẻ tò mò muốn biết đích xác cái Thịt Chân Sườn đó là cái gì.

Bàn tay cậu cháu nhỏ nắm lấy tay tôi túa mồ hôi mùa xuân. Những cây liễu đứng xếp hàng dọc con phố mảnh mai và mềm mại, còn những dãy núi xa xa đã ngả sang một sắc xanh lục dịu nhẹ. Thằng bé ngước nhìn tôi trong lúc chúng tôi đang đi dưới một tán cây ngân hạnh chi chít chồi non.

“Cô ơi?”

“Ừ?”

“Lá là quần áo của cây ạ?”

Lơ đễnh nắm tay thằng bé, tôi còn đang mải vẩn vơ ngó đám hoa đã rụng mất một nửa sau cơn mưa đêm qua nên không khỏi ngơ ngác khi nhận được câu hỏi ấy của nó. Có vẻ cuối cùng cũng bắt đầu rồi đây. Thấy tôi không trả lời, thằng bé vùng quăng tay tôi lên không trung rồi lại hỏi, Cô! Lá là quần áo của cây ạ? Lá? Quần áo? Hẳn vậy, vì lá cây là quần áo đầu tiên của loài người mà. Tôi lúng búng đáp như vậy. Cười toe hớn hở, thằng bé nhìn chẳng khác gì một bong bóng xà phòng. Chúng tôi đi bộ thêm lúc nữa. Có vẻ như câu, Nào tắt đèn đi ngủ thôi - là câu nói quen thuộc của bố mẹ thằng bé mỗi tối ở nhà. Dường như câu “tắt đèn” đó đã in sâu trong tâm trí thằng bé. Một hôm, tôi đang nhắm mắt tựa lưng ngồi ở xô pha thì thằng bé đưa tay lay người tôi.

“Cô! Sao cô lại tắt mắt đi vậy?”

Nhớ lại chuyện hồi trước, tôi bật cười khe khẽ trong lúc thằng bé lại tìm nắm lấy bàn tay tôi và lại bắt đầu hỏi như một nhà triết học.

“Nhưng tại sao đến mùa đông cây lại cởi áo ra?”

Thằng nhóc con, còn bé tí mà đã nôn nóng. Tôi không biết trả lời sao nên đành, À thì là, rồi ấp a ấp úng, nhưng thằng bé nhất định dồn ép tôi với câu hỏi tại sao trời lạnh thế mà đám cây lại cởi quần áo ra. Để xem, thì là vì... Tôi đang luống cuống không biết tìm câu trả lời ở đâu thì thằng bé đã tự tìm được câu trả lời cho mình, giọng nó lanh lảnh.

“Đó là vì chúng định đi bể bơi, phải không ạ?”

Bể bơi? Vì lá là quần áo của cây, và vì thằng bé cởi quần áo ra khi đi bơi, nên có lẽ nó đã tìm ra lý do cây cởi quần áo như thế đấy. Thấy tôi chỉ cười, không thể đáp liệu nó có đúng hay không, thằng bé lại hỏi tiếp, Cháu đúng rồi, phải không ạ? Đó là bởi vì chúng định đi bơi, phải không ạ?

Đột nhiên trong đầu tôi có một cái cây trồng cây chuối.

Tôi buông tay thằng bé, vừa cười hắt ra vừa bỏ chạy. Thằng bé cũng không vừa, cứ lẽo đẽo bám theo sau tôi hỏi lại, Phải không ạ? Phải không ạ? Ôi chao, cố chấp thế kia chứ! Tôi quay người lại hét tướng lên. Này! Đồ Thịt Chân Sườn! Cô không biết... Cô cũng không biết đâu.

... Năm nào tháng Năm cũng về. Từ cái thời nhà thơ Yeong Rang than khóc suốt ba trăm sáu mươi ngày tiếc thương những bông mẫu đơn rụng. Đến cái năm 1980, năm tôi mười tám tuổi.

... Tháng Năm, cái tên của vết thương kinh hoàng.

Tháng Năm năm đó, bị gột sạch sự tươi mới vốn có của mình, tìm về với chúng tôi dưới hình hài của thương tổn. Bất kể hồi đó chúng tôi đang ở đâu, đang làm gì, chừng nào chúng tôi vẫn còn sống trên mảnh đất này, tháng Năm mãi mãi là tháng Năm năm đó.

Tháng Năm năm đó. Một cuối tuần nọ, Ahn Hyang Sook thuận tay trái bắt tàu tới Gwangju để về thăm quê ở Hwasun, nơi nổi tiếng với bức tượng Phật nằm. Cô nói đến thứ Hai sẽ quay lại, nhưng cô không quay lại. Một ngày, hai ngày, ba ngày... Mãi đến ngày thứ bảy cô mới quay lại trường, không mặc đồng phục.

“Sao lại không mặc đồng phục hả?”

Lúc điểm danh, cô giáo đã để ý đến quần áo của Ahn Hyang Sook.

“Lên phòng giáo viên gặp tôi!”

Từ phòng giáo viên trở lại, Ahn Hyang Sook tái mét mặt. Nhìn kỹ thì cả khuôn mặt lẫn thân hình chị đều gầy rạc đi. Đang trong giờ toán bàn tính. Cô giáo hướng dẫn chúng tôi giải mười bài cấp độ 3 trong sách bài tập rồi chắp tay sau lưng đi đi lại lại giữa các dãy bàn. Lớp học lặng như tờ, chỉ có tiếng hạt bàn tính kêu lách cách. Lúc cô giáo đi qua chỗ chúng tôi ngồi, Ahn Hyang Sook thì thầm với tôi.

“Loạn rồi, loạn thật rồi.”

“...”

“Người chết vô số!”

“...?”

“Điện thoại không thông, tàu hỏa ngừng chạy, súng nổ... loạn lắm rồi.”

“Ở đâu cơ?”

“Ở Gwangju. Chẳng ai tin tớ cả. Ngay cả cô giáo cũng không. Đồng phục của tớ bị co kéo tơi tả cả rồi... Suýt thì không thoát ra mà lên Seoul được đấy.”

Cô giáo toán bàn tính quay lại bàn giáo viên rồi lại đi vòng xuống lối đi giữa các dãy bàn học sinh chúng tôi. Ahn Hyang Sook im thin thít, bắt đầu dùng tay trái tính bàn tính. Khi cô giáo đã đi qua chỗ chúng tôi, Ahn Hyang Sook lại thầm thì.

“Tớ sợ lắm.”

“Cậu bảo tàu hỏa không chạy mà. Thế sao cậu quay lên đây được?”

“Bằng máy cày.”

“Máy cày?”

“Bác tớ lấy máy cày chở tớ qua đường nhánh men theo đường cao tốc tới ga tàu hỏa ở Iri.”

“...?”

“Gwangju bị phong tỏa hoàn toàn rồi. Nó đã biến thành một biển máu. Nội bất xuất ngoại bất nhập.”

“Ai giết ai mà lại thế?”

“Quân đội giết thường dân.”

“Quân đội á, sao lại thế?”

“... Tớ không biết. Bác tớ bảo phải giữ mồm giữ miệng... Cậu nhớ giữ bí mật nhé.”

Ahn Hyang Sook nhìn sâu vào đôi mắt tôi đang hấp háy lắng nghe cô kể chuyện.

“Sao ở Seoul lại có thể im ắng thế này chứ.”

... Mùa xuân Seoul, hoa liên kiều bỗng nhiên nở rộ hồi giữa đông giờ bị giày xéo bởi những chiếc xe thiết giáp của Nhóm Quân đội Mới. Có lẽ nào những chiếc xe vũ trang được phát minh ra để giày xéo mùa xuân chăng. Bởi cũng chính những chiếc xe thiết giáp Xô viết đã càn quét Mùa xuân Praha. Hay hồi đó là xe tăng nhỉ.

Đoàn tàu điện ngầm sầm sầm lao qua căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Mọi người sợ hãi tỏa ra các hướng khác nhau, giơ ngón tay lên môi ra dấu, Suỵt. Anh cả đi tiễn anh ba, để anh ba rời thành phố về một nông trang trên vùng núi, vai đeo cả một túi đầy ních sách luật.

Băng chuyền chạy chậm dần. Sau khi Mùa xuân Seoul bị đàn áp, chúng tôi không còn làm việc quá giờ nữa và công việc ở bộ phận chuẩn bị khu Stereo chậm lại rõ rệt. Có khi công việc bị ngưng lại hai tiếng liền. Ngay cả quản đốc cũng chậm bước hẳn mỗi khi đi đi lại lại giữa các dây chuyền. Thỉnh thoảng lại dấy lên tin đồn rằng khu Stereo có thể bị đóng cửa. Rằng, các hợp đồng xuất khẩu đã bị cắt. Cậu học sinh trường dạy nghề thực tập ở khu Kiểm tra ngồi ở dây chuyền đối diện chúng tôi, viết nguệch ngoạc lên băng chuyền. Chị họ liếc trộm gáy cậu. Chỉ đến khi cậu ngẩng đầu lên, chán nản ngáp dài, chị họ mới dời ánh mắt sang chỗ khác và vội vàng cúi đầu xuống. Ánh mắt cậu thực tập từ bao giờ đã dán chặt vào chị Yoon Soon Im. Chị họ cũng nhìn chị Yoon Soon Im. Lúc chăm chăm nhìn những lọn tóc lượn sóng của chị Yoon Soon Im, đôi mắt chị họ đượm nỗi u sầu.

Mỗi khi tình cờ bắt gặp một phụ nữ trung niên đeo nhẫn thạch anh trên ngón tay mũm mĩm, tôi lại nhớ đến bà chủ nhà của chúng tôi, chủ ngôi nhà có ba mươi bảy phòng. Bà ta không sống trong ngôi nhà đó. Chúng tôi chỉ gặp bà ta ở đó vào ba ngày cuối tuần cuối mỗi tháng. Bà ta tạt qua thu tiền thuê nhà và hóa đơn dịch vụ. Chiếc ô tô con màu đen đậu trong ngõ là dấu hiệu cho thấy bà ta đã đến. Lái xe của bà ta luôn gà gật trong xe. Bởi thế mà cứ lúc nào đi lại, chúng tôi đều phải nghiêng người để lách qua chiếc xe. Sống mũi trát phấn trắng xóa của bà ta nhìn trơn bóng y như chiếc nhẫn thạch anh trên ngón tay bà. Người phụ nữ luôn đặt cái lợi của mình lên trước nhất mỗi khi động đến chuyên tính toán tiền bạc. Hóa đơn các dịch vụ ngoài tiền thuê nhà hằng tháng được bà ta chia chính xác chi li đến từng won.

Chị Hee Jae. Duy nhất một lần, tôi đã thấy chị nổi giận.

Cơn giận của chị nhắm vào bà chủ nhà đeo nhẫn đá quý trên ba ngón tay, tính cả chiếc nhẫn thạch anh. Hay chị xì hết hơi bánh xe của bà ta đi nhỉ, chị Hee Jae trút cơn giận dữ lên chiếc xe của bà chủ nhà đậu trong ngỗ.

“Để chị kể cho mà nghe. Bà ta bảo chị hóa đơn tiền điện của chị là hai nghìn hai mươi won. Chị đưa cho bà ta hai nghìn won thì bà ta hỏi còn hai mươi won nữa đâu. Thế là chị đưa thêm cho bà ta một trăm won nữa. Nhưng bà ta không thèm trả lại chị tám mươi won chứ.”

Tôi, mười tám tuổi, bật cười khúc khích. Hai má chị Hee Jae đang giận dữ đỏ phừng phừng.

“Tháng trước đã thế, mà tháng trước nữa cũng thế.”

Chị họ, rắn như đá, không bao giờ để chuyện này xảy ra. Chị họ luôn đảm bảo chắc chắn đã có đủ tiền lẻ và đưa cho bà chủ nhà chính xác số tiền phải đóng.

Chủ tịch công đoàn. Tôi vẫn nhớ lời anh ta. Tôi muốn các cô nhận thức được rằng trong khi các cô đang làm việc ca đêm thì đâu đó trên trái đất này, trong căn phòng có sẵn phòng tắm, có những người đang ngâm mình trong những bồn tắm đầy ắp nước ấm. Tôi muốn các cô ít nhất cũng nhận thức được rằng các cô đang bị đưa ra làm vật hy sinh, rằng các cô hãy biết yêu quý lấy bản thân mình và đòi hỏi quyền lợi cho chính mình. Chủ tịch công đoàn, anh ta không khỏi chua xót trước sự im lặng của chúng tôi. Chúng tôi, không biết giành lấy quyền lợi cho mình. Chúng tôi, sợ hãi không dám đấu tranh phản đối mức lương và mức phụ cấp thấp. Chúng tôi, hơn hết là lo lắng nếu mất các ca làm thêm và làm ngoài giờ thì sẽ không được nhận phụ cấp nữa. Chúng tôi không biết tự yêu quý lấy bản thân. Như anh ta đã nói đấy, chúng tôi không nghĩ được rằng những người đang bị đưa ra làm vật hy sinh chẳng phải ai khác mà là chính chúng tôi.

Khuôn mặt cô Lee vàng vọt.

“Thế là hết rồi.”

Seo Seon, người đã từ chối khám người hồi Mùa xuân Seoul, vừa viết đơn nghỉ việc vừa nói.

“Bọn họ là những người nếu cần cũng không ngại mà nghiền giun đất trộn vào kim chi muối chua cho chúng ta đâu.”

Chị họ thì thầm với tôi. Người ta bảo, thế giới đã trở nên đáng sợ rồi. Chỉ hơi hé miệng thôi cũng sẽ bị lôi đi. Rồi bị gửi đến đâu đó để cải tạo. Chính họ cũng đã lôi cổ chủ tịch công đoàn đi đấy.

Trên tấm bảng tin công ty có đăng danh sách cắt giảm công nhân. Phần lớn là thành viên công đoàn khu Stereo. Tên cô Lee Tất Tả nằm ở hàng đầu tiên của danh sách. Không còn thấy cả giám sát sản xuất lẫn trưởng phòng giám sát sản xuất đầu nữa. Quản đốc được thăng chức lên làm giám sát sản xuất. Sau khi lên chức, quản đốc tiếp quản vai trò giám sát. Ông ta giải thích rằng vì hợp đồng xuất khẩu đã cắt, ba dây chuyền sản xuất sẽ sáp nhập làm một, nên không thể tránh khỏi việc cắt giảm và thuyên chuyển công nhân. Các công nhân số 1 từ dây chuyện B và Số 2 từ dây chuyền C đến ngồi ở vị trí của tôi và của chị họ. Theo kế hoạch thuyên chuyển, các học sinh và các thành viên công đoàn đã bị mất chỗ. Chúng tôi sáng sáng vẫn đi làm, nhưng không còn chỗ để ngồi làm việc nữa. Quản đốc, giờ là giám sát, tập hợp những công nhân mất chỗ đang lượn lờ giữa các băng chuyền lại và giải thích một lần nữa. Rằng hằng sáng chúng tôi sẽ được phân công công việc tùy theo tiến triển sản xuất. Chị họ và tôi, hai mươi và mười tám tuổi, từng giữ các vị trí số 1 và số 2 ở dây chuyền A, không còn được ngồi cạnh nhau nữa. Có hôm, chị họ ngồi ở đây chuyền Chuẩn bị còn tôi ngồi cạnh một nhân viên Khu Giám sát nhận nhiệm vụ dùng một mảnh vải flannel bôi sáp vào vỏ dàn stereo. Hôm khác, chị họ phải ngồi hàn, cử chỉ vụng về. Khói hàn cuộn lên phía trên đầu chị họ. Một hôm khác nữa, cả hai chúng tôi đều bị chuyển tới khu Ti Vi ở một tòa nhà khác để hỗ trợ nhân lực. Theo lời họ là thế. Nhưng khi chúng tôi đến đó thì chẳng có việc gì để làm hết. Không dưng bị người khác để ý, chúng tôi vẩn vơ đứng hết chỗ này sang chỗ kia.

Mỗi lần đi qua băng chuyền ở dây chuyền A tim tôi lại nhức nhối. Dù tôi có cúi đầu khi đi vệ sinh qua đó, cái ghế tôi từng ngồi vẫn lọt vào trong tầm mắt. Chỗ ngồi làm việc của tôi. Chỗ ngồi nơi tôi từng viết thư cho Chang mỗi lần băng chuyền dừng lại. Nơi tôi từng đặt cuốn Quả bóng tí hon người lùn ném có bìa được bọc bằng giấy vẽ. Từ lúc bị mất chỗ, chị họ và tôi trở nên rầu rĩ hẳn. Chúng tôi thường xuyên lòng vòng quanh Khu Công nghiệp trên đường đi làm. Lẽ đương nhiên chúng tôi thường xuyên đến muộn. Những cử chỉ vụng về loay hoay của chúng tôi không khác gì những người cửu vạn già đứng sưởi bên đống lửa ở một công trường đã hoàn thiện. Cứ như cái hồi chúng tôi phàn nàn tại sao băng chuyền chạy nhanh quá hay phản đối rằng chúng tôi không phải những cỗ máy còn dễ chịu hơn bây giờ. Hồi đó, nếu cơ bắp căng cứng đau nhức, chúng tôi chỉ cần xoa bóp là xong, vẩn vơ đi qua đi lại sau khi mất chỗ làm việc, cái nhận thức rằng, Làm người thật nhục nhã, ngày một ngấm sâu vào trong tôi. Lúc phải ngồi ở ghế làm việc lôi đầu vặn dùng khí nén xuống gắn đinh ốc suốt cả ngày không ngơi tay, tôi không có cơ hội nào để mà sao nhãng. Giờ đây, trong đầu tôi chỉ còn duy nhất một suy nghĩ. Mong sao mai đi làm sẽ có chỗ để yên tâm ngồi làm việc.

Vết thương lòng do cái sự vụng về loay hoay không biết đi đâu ngồi đâu để lại. Thậm chí rất nhiều năm sau, mỗi khi bị buộc phải đến một nơi đông đúc nào đó, điều đầu tiên tôi nghĩ đến luôn là thế này. Đến đó, liệu có chỗ nào cho tôi không? Nếu đến mà trở nên vụng về loay hoay thì thôi chẳng buồn đi nữa - cái tiềm thức đã ngừng trưởng thành của tôi bảo thế.

Chị họ của tôi, băng mắc giữa kẽ chân, bàn tay đỏ ửng, nhát u sầu rầu rĩ nhát rạng rỡ tươi vui, lúc gắt gỏng như giận dữ với ai, lúc lại ủ rũ cúi gằm đầu xuống, nhìn chăm chăm cái lỗ dưới chân cột điện, lõm sâu và vàng ệch bởi bãi nước tiểu của ai đó. Chị họ của tôi, như thể đột nhiên mất hết ý thức về phương hướng, lôi cái máy ảnh vẫn được khắc sâu trong tìm ra, ném xuống cái hố tiểu rồi thì thầm với tôi.

“Chị sẽ thành nhân viên trực tổng đài điện thoại.”

“Nhân viên tổng đài điện thoại? Đó là mơ ước của chị Hee Jae mà, có phải của chị đâu. Chị quên rồi ư? Cái đêm chúng ta rồi nhà ấy, cái đêm tạm biệt bác gái người nồng mùi cá ở ga tàu ấy, chị đã bảo sẽ đi chụp ảnh những con chim trắng ngủ trong rừng cơ mà.”

“Chẳng khác gì hái sao trên trời. Muốn theo đuổi những thứ như thế người ta sinh ra đã phải có cơ rồi.”

“Đâu phải thế. Chỉ cần không bao giờ quên thì sẽ có ngày chị thực hiện được thôi. Nếu chị quên ước mơ là mọi chuyện sẽ chấm dứt đấy. Nếu luôn giữ khao khát muốn tiến gần tới ước mơ rồi sẽ có ngày chị làm được mà. Cứ đi cứ đi rồi cũng sẽ có ngày đến được khu rừng đó. Thậm chí, dù không thể đến nơi cũng đã gần hơn ban đầu rất nhiều rồi.”

Giận dữ, chị họ hét lên với tôi.

“Đừng có ra vẻ ta đây, con nhỏ này. Tưởng mình thông minh đọc nhiều lắm đấy à? Nhìn ngứa cả mắt, con nhỏ xấu xa!”

Chị họ của tôi. Ngay cả khi mặc áo sát nách dưới cái nóng mùa hè, cánh tay chị vẫn nổi đầy da gà. Cánh tay nhìn lúc nào cũng có vẻ lạnh của chị họ hai mươi mốt tuổi. Cánh tay tưởng như giơ lên cao nhưng rồi buông xuống tát vào má tôi.

“Em thì biết cái gì!”

Tôi cũng hét trả lại.

“Nếu chị nghỉ học, em sẽ mách anh cả!”

“Mách đi, cứ mách đi! Anh trai em chứ có phải anh trai chị đâu!”

“Anh cả sẽ đánh gãy chân chị cho mà xem.”

Chị họ vừa nhìn tôi trừng trừng vừa thở hổn hển.

“Anh cả sẽ bắt chị đóng gói đồ đạc rồi tống chị về quê đấy.”

Chị họ của tôi, tựa lưng vào tường, oà khóc.

“Cậu ấy không thích chị vì chị là công nhân nhà máy.”

“...!”

Tôi, nãy còn gân cổ lên cãi giờ thất thần đứng đó.

“Cậu ấy bảo, chị Yoon Soon Im dù là công nhân nhưng ít ra khuôn mặt còn xinh đẹp, chị thì vừa là công nhân, mặt mũi lại vừa đáng ghét.”

Gã thực tập sinh khốn nạn.

“Thế hắn cũng chẳng phải là công nhân nhà máy đấy à?

“Cậu ấy nói cậu ấy chỉ đang thực tập thôi. Cậu ấy sẽ học đại học. Thế nên chị sẽ làm nhân viên trực tổng đài điện thoại. Rồi sẽ đi thi tuyển và sẽ vào đại học giống như cậu ấy.”

Chị họ cắn môi, quệt nước mắt.

“Em sẽ không kể với anh cả chứ?”

Tôi lắc đầu. Chị họ đã đăng ký học ở Trung tâm Đào tạo Nhân viên trực Tổng đài Điện thoại Jongno rồi.

“Thi xong sẽ lấy được bằng chứng nhận nữa mà. Có bằng cấp rồi chị có thể kiếm được một công việc ở ngân hàng. Hay cả những chỗ như bưu điện nữa.”

... À, những chỗ như ngân hàng hay bưu điện.

Cô Lee và những công nhân bị sa thải khác vẫn tiếp tục đi làm. Họ đã nộp đơn đề nghị được quay lại làm việc với lý do đây là hành động sa thải trái phép, đồng thời tổ chức nhiều cuộc biểu tình. Sáng sáng lại xảy ra ẩu đả giữa những công nhân bị sa thải đang cố gắng xông qua cửa chính vào trong với những nhân viên bảo vệ cố gắng chặn họ lại bên ngoài.

“Đến thẻ chấm công còn không có thì các cô đòi làm việc kiểu gì hả!”

Ai tỏ thái độ thông cảm với những người nộp đơn đòi được quay lại làm việc do bị sa thải trái phép cũng bị sa thải theo. Từ phía bên trong cổng chính nhà máy, cô Myeong khoanh tay trước ngực trừng mắt nhìn cô Lee. Trên đường đi làm, chị họ liếc xéo cô Myeong để khỏi phải nhìn những người đòi trả lại việc làm do bị sa thải trái phép.

Giờ tôi chỉ còn một mình. Cả chị Hee Jae và chị họ đều đã xa rời trường học. Cùng rời nhà máy lúc năm giờ chiều nhưng tôi đến trường còn chị họ tới trung tâm đào tạo nhân viên trực tổng đài điện thoại. Tôi một mình băng qua con đường đêm quay trở về căn phòng hiu quạnh. Giữa chừng tạt qua chợ.

Anh cả không biết chị họ đang học ở trung tâm để kiếm tấm bằng chứng nhận nhân viên trực tổng đài điện thoại thay vì đi học. Vẫn không khác gì trước kia, sáng sáng anh cả đội bộ tóc giả rời nhà đến trung tâm dạy học, nhưng anh càng ngày càng trở nên hốc hác. Bên trong ngăn kéo bàn của anh lấp lánh nằm yên sợi dây chuyền vàng cô gái kia tháo ra bỏ lại.

“Sợi dây chuyền này là của chị Mi Yeong phải không?”

Một hôm, chị họ mở ngăn kéo, cầm sợi dây chuyền lên, đung đưa. Dù là trong căn phòng hiu quạnh, sợi dây chuyền vàng vẫn tỏa sáng lấp lánh.

“Sao nó lại ở đây nhỉ?”

Chị họ đeo sợi dây chuyền lên cổ mình rồi soi gương.

“Cất lại chỗ cũ đi!”

Nhớ lại cô gái đã tháo sợi dây chuyền ra trả cho anh cả đêm ấy, tôi, mười tám tuổi, cảm thấy khó chịu. Trong lòng tôi dấy lên toàn những suy nghĩ ghét bỏ cô ấy. Khuôn mặt trắng bóc. Sống mũi xinh xắn. Đôi mắt long lanh. Tôi không thể ngăn mình nghĩ rằng chính sự xinh đẹp của cô ấy đã mang đau khổ đến cho anh cả. Tôi thấy thương thay cho anh khi hình dung ra những hứa hẹn tương lai hẳn đã le lói trong trái tim khi anh tặng sợi dây chuyền cho cô ấy. Anh đâu phải người dễ dàng tặng dây chuyền cho bất cứ ai. Anh đâu phải người dễ dàng hứa hẹn trao tặng trái tim mình cho bất cứ ai.

Chị họ mỉm cười rạng rỡ y như sợi dây chuyền lấp lánh.

“Chị đeo cái này ra ngoài được không, chỉ một lần thôi?”

Tôi, mười tám tuổi, trừng mắt lườm chị họ, lúc này vẫn đang tươi cười. Chị họ có vẻ như thật lòng muốn đeo sợi dây chuyền đó, cứ nì nèo đòi tôi nhắm mắt cho qua, Chỉ một lần thôi mà. Nói thế rồi cởi dây chuyền trả lại mà bỏ đi. Đồ xấu xa. Giữ lại cũng được hay ném xuống sông cũng được, đưa cho anh cả để làm gì cơ chứ. Và anh cả đã làm gì nào, cất giữ nó ở đây. Ngay tại cái ngăn tủ mà chỉ cần mở ra là thấy. Tôi, mười tám tuổi, vô cớ nổi giận đùng đùng, chộp lấy sợi dây chuyền trong tay chị họ và ném nó trở lại chỗ cũ, rồi đóng sầm ngăn kéo lại.

Từ khi sợi dây chuyền bị bỏ vào trong ngăn bàn, anh cả chẳng ngày nào ngủ ngon giấc. Anh cứ hết quay ngang lại quay ngửa. Đôi khi anh mở của phòng lẻn ra ngoài giữa đêm hôm. Tiếng bước chân anh tiến lên sân thượng. Một lần, tôi bám theo anh. Anh len qua đám quần áo ai đó quên không rút vẫn còn phơi trên mắc rồi ngồi lên lan can, cứ thế ngồi ở đó.

Anh cả, người thậm chí còn chẳng biết hút thuốc. Anh đã nghĩ gì khi ngồi ở đó? Anh đã dõi nhìn gì khi ngồi ở đó? Tôi bất an sợ rằng ống khói nhà máy Trung tâm Bao bì và Thiết kế sẽ vươn lên sừng sững giữa trời đêm rồi đổ sụp trước mặt anh. Giá như có thể, tôi những muốn đến gặp cô gái kia và kể cho cô ấy biết về nỗi đau khổ của anh cả.

Giữa đêm khuya, chị họ và tôi giật mình tỉnh giấc bởi tiếng hét thất thanh của anh cả. Anh đang ngồi ngây ra trong bóng tối. Lúc tôi định bật đèn, anh bảo, Đừng.

“Sao vậy anh?”

Anh nói anh bị đau ngực, rằng anh thấy khó thở. Anh vẫn ngồi ngây người trong căn phòng tối đen, tay xoa ngực. Dường như cảm thấy nên làm gì đó, chị họ bật đèn rồi dậy vào bếp lấy một bát nước lạnh cho anh cả. Anh cả chỉ nhấp môi rồi đặt cái bát xuống, như thể ngay cả uống nước cũng là một việc quá khó khăn với anh. Tay vẫn liên tục xoa ngực, nhưng anh bảo chúng tôi giờ anh ổn rồi, rằng chúng tôi ngủ lại đi thôi.

Từ chiếc đài phát thanh đang bật trong khu Kiểm tra, người ta đang nói đến chuyện ăn rau diếp cuộn. Đó là chương trình Bài ca hy vọng giữa trưa. Họ trò chuyện cứ như thể đang hiện lên ngay trước mắt cảnh tượng người ta đi hái rau diếp tươi ngoài ruộng về, làm tương chấm rồi gói với rau ăn. Khi làm tương, thái thêm chút ớt xanh rắc vào thì mùi vị rau diếp sẽ càng đậm đà hơn nhờ hương ớt thơm, người dẫn chương trình nói. Nghe vậy chị họ nói thêm, tỏi tươi cũng thế! Điều thu hút sự chú ý của tôi không phải là ớt xanh hay tỏi tươi. Người dẫn chương trình đã nói, Nhưng các bạn hãy nhớ đừng ăn quá nhiều rau diếp cuộn nhé. Sẽ bị buồn ngủ đấy! Buồn ngủ ư? Ăn nhiều rau diếp sẽ buồn ngủ ư!

Một hôm, anh cả ngây người nhìn xuống bàn cơm. Cái bàn không khác gì một ruộng rau diếp. Rau diếp muối xổi, rau diếp cuộn, canh rau diếp.

“Sao mà dạo này em toàn cho anh ăn rau diếp thế?”

Anh lấy thìa nếm một ngụm canh rồi hỏi là canh gì.

“Canh rau diếp!”

“Lần đầu tiên anh thấy canh rau diếp đấy.”

“...”

“Hết tiền sinh hoạt rồi à?”

Mãi đến lúc đó, chị họ mới bật cười.

“Không đâu, tại bọn em nghe nói ăn nhiều rau diếp sẽ dễ ngủ đấy... Anh đang bị khó ngủ mà.”

“Vì thế mà các em nấu canh rau diếp hả?”

“Vâng.”

Anh cả phá lên cười sảng khoái. Dứt tiếng cười, anh đang định nhét miếng rau diếp cuộn vào miệng thì quay sang hỏi chị họ, như thể vừa chợt nhớ ra điều gì.

“Mà hôm qua em đi đâu vậy?”

“Em á?”

“Anh thấy em xuống tàu điện ngầm... gọi mãi nhưng hình như em không nghe thấy nên cứ đi thẳng.”

Trung tâm đào tạo nhân viên trực tổng đài điện thoại mà chị họ đang theo học thay vì đến trường học nằm ở Jonggak. Lúc đi, chị họ bắt xe buýt từ nhà máy đi, lúc về thì đi tàu điện ngầm về.

“À, hôm qua... tại em có chút việc.”

“Đêm hôm hai đứa đừng đi riêng một mình. Dù một người phải về muộn một chút thì cũng hãy đợi nhau để cùng về. Có việc gì ra ngoài thì cũng đi cùng nhau.”

Chị họ vội đáp là em biết rồi. Ngồi đó cạnh chị họ, tôi, mười tám tuổi, tim đập thình thịch.

Nơi thầy giáo tôi đang ở là Mureung, tít sâu trong núi. Mureung. Tôi đến đó thăm thầy hồi tháng Tư vừa rồi, sau khi xuất bản cuốn tiểu thuyết dài đầu tay của mình. Người bạn đi cùng tôi luôn tay bận rộn, hết nhổ cỏ ngoài sân lại làm các món ăn kèm chất đầy vào trong tủ lạnh cho thầy, vốn luôn phải tự xoay xở nấu nướng, trong khi tất cả những gì tôi làm ở Mureung chỉ là gà gật ngủ chỗ này chỗ kia. Tôi bị bắt quả tang đang lơ mơ ngủ lúc ngồi trên chiếc ghế trông ra sông, lúc ngồi xổm trước cái chuồng chó có một chú chó giống đảo Jin nằm biếng nhác, và thậm chí, cả lúc đang nói chuyện với thầy.

Theo chân họ đi xuống ngọn đồi bên sông, tôi nằm lăn ra bãi cỏ và lại mơ màng ngủ, rồi chỉ tỉnh dậy khi có một con dê con đến ị một bãi ngay bên cạnh. Cơn buồn ngủ choáng trọn người tôi. Cuối cùng, thầy giáo tôi bảo, Chính em mới là người cần nghỉ ngơi chứ không phải thầy. Thành phố này, nơi tôi đã quay trở lại, gật gù chợp ngủ lơ mơ.

Cũng chính thầy đã gọi điện cho tôi.

Thầy, một tiếng kêu buột ra khỏi miệng tôi. Khi đó tôi đang gội đầu. Từ mái tóc được quấn vội bằng một cái khăn tắm của tôi, nước nhỏ tong tong lên ống nghe. Có chuyện gì mà thầy lại trực tiếp gọi cho tôi? Tôi nhớ ra mình đã không hề gọi điện hay trở lại thăm thầy kể từ sau chuyến đi Mureung đó. Bệnh tràn khí phổi. Thầy giáo tôi đã thuê nhà trong núi cốt để phục hồi sức khỏe sau khi mắc phải bệnh tràn khí phổi.

“Thầy lên Seoul rồi ạ?”

“Không, thầy đang gọi từ Mureung. Hôm kia thầy cũng gọi mà không thấy em nhận điện.”

Hóa ra hôm kia thầy cũng đã gọi cho tôi. Có chuyện gì đây nhỉ, tôi thấp thỏm lo lắng.

“Em mới ghé về thăm thú vùng nông thôn.”

“À, thế à. Tốt đấy. Em ở lại bao lâu?”

“Khoảng mười ngày ạ.”

“Ờ cũng được đấy chứ?”

“Cũng cố được qua ngày ạ.”

“Tốt đấy. Thầy cũng đang định bảo em về đây nghỉ ngơi vài ngày, giờ chắc là không cần nữa rồi nhỉ.”

“...?”

Một lát sau thầy tiếp tục.

“Dạo này em có vẻ viết nhiều.”

“...”

“Có dạo thầy cũng như thế. Viết như thể cược cả sinh mệnh mình vào nó.”

“Em viết nhiều đến thế sao ạ?”

Tôi không hề nhận ra mình đang nói với thầy bằng giọng hơi khó chịu. ở đầy dây bên kia, thầy giáo của tôi ngừng nói. Thầy đã nhận thấy giọng nói khó chịu của tôi.

“Làm nhà văn thì đúng là phải viết nhiều rồi, nhưng với em thì không. Với em, viết là rứt ruột của mình. Nếu liền một lúc rứt quá nhiều, em sẽ đổ bệnh cho xem.”

Những giọt nước vẫn tiếp tục nhỏ tong, tong, tong, từ mái tóc ướt nhẹp của tôi.

“Đây là nghề lâu dài. Viết chậm lại chút đi.”

“...”

“Tự ái đấy à?”

“...”

Giữa đêm, những tiếng bước chân bất an vọng vào từ con ngõ. Khắp chỗ này chỗ kia, cổng ra vào vội vã đóng. Chị họ là người đầu tiên bị tiếng ồn đánh thức.

“Tiếng gì thế nhỉ?”

Chị họ lay tôi dậy.

“Sao thế?”

“Có tiếng gì kìa.”

Anh cả cũng dậy theo.

Tiếng bà cụ chủ cửa hàng tạp hóa nài nỉ van xin, chuyện gì thế này. Tiếng gào lên tuyệt vọng, Buông ra. Tiếng cửa nhà vệ sinh bị long ra. Tiếng cửa cuốn kéo xuống vội vã.

“Làm sao thế!”

Tiếng ồn ào. Tiếng hét hoảng sợ vang lên lác đác. Không ai dám nhìn ra ngoài ngõ. Trong căn phòng hiu quạnh, chị họ và tôi dán sát vào nhau. Có chuyện gì vậy? Nỗi kinh sợ. Khi tiếng giày quân đội sầm sập đã xa dần, sự im lặng ngay lập tức bao trùm con ngõ vừa nãy còn như sẵn sàng nổ tung bất cứ lúc nào.

Buổi sáng, chị họ ra ngoài mua đậu phụ, nhưng quay về tay trắng. Nghe nói chú chủ cửa hàng tạp hóa, sáng sáng vẫn đạp xe đi lấy đậu phụ, đã bị bắt đêm qua.

“Tại sao?”

“Chẳng ai biết cả.”

“Nhưng hẳn chú ấy phải làm gì sai trái thì mới bị bắt đi chứ.”

“Mọi người bảo bọn họ không chỉ bắt chủ cửa hàng tạp hóa mà còn bắt cả một người đang đi tiểu trong ngõ nữa.”

“Bắt đi đâu?”

“Không biết nữa. Còn nhớ chú ấy có một vết sẹo dưới mắt không? Cả hình xăm trên cánh tay nữa. Dù gì cũng hơi đáng sợ thật mà.”

“Đáng sợ gì chứ? Chính chú ấy lần nào cũng cho mình lấy than trước còn gì.”

“Cũng phải.”

Chú chủ cửa hàng tạp hóa mà mẹ từng căn dặn chúng tôi đừng có thân thiết quá, đã biến mất đêm đó và không quay trở về. Bà cụ chủ hàng tạp hóa ngồi mất hồn suốt mấy ngày liền, rồi sau đó đóng cửa hàng. Giữa đêm lạnh, bà xỏ giày chạy loạn lên đến khắp nơi hỏi han, tìm kiếm những kẻ đã sầm sập xông vào và bắt mất con trai bà. Cửa hàng tạp hóa mở cửa trở lại và bên trong, những bức tượng Đức mẹ Đồng trinh Maria, vốn được chú chủ cửa hàng làm bằng cách nhào thạch cao rồi đổ khuôn mỗi khi có thời gian, nằm trên kệ, đổ vỡ la liệt.

“Còn chú ấy thì sao?”

“Nghe bảo là đi giáo dục cải tạo rồi, người ta bảo cứ chờ, rồi nó sẽ quay về thôi.”

Chỉ còn lại một thân một mình, bà cụ không bán than bánh mồi sẵn nữa, kể cả khi đông về. Bà bỏ cái lò than chất đống tro trắng xóa ra ngõ rồi cứ ngồi đó, ngây người nhìn về cuối ngõ.

... Những nghi thức máu, được gọi dậy bởi sự thiếu tính hợp pháp.

Một hôm tôi đang đi bộ... lúc đó là tám giờ tối, ngày 9 tháng Tám, năm 1980. Trên đường đi làm, ở đầu đường gần bãi biển Dadaepo, Buýtan, tôi đã bị bắt giữ bởi sáu cảnh sát có vũ trang mang theo súng cạc-bin. Bị đánh đập bởi dùi cui, gậy tre và bị đá bằng giày quân đội, mãi tới khi chỉ còn chút hơi tàn, vẹo cột sống lưng nghiêm trọng tôi mới được đưa tới Trại Huấn luyện Samcheong thuộc một sư đoàn đóng đâu đó ở Changwon... Hồi ký của một người từng bị bắt tham gia chương trình thanh lọc xã hội thời đó và giờ đang là mục sư mở đầu bằng một đoạn giới thiệu, trước hết là câu, Một hôm tôi đang đi bộ...

... Một hôm tôi đang đi bộ thì tình cờ lướt qua một tấm poster thông báo chương trình “Trình chiếu những video về sự kiện Gwangju”. Tôi siết chặt lồng ngực đang đập thình thịch, tiến tới Nhà thờ Ngoài Trại Quân ở Yeongdeungpo.

Tôi không biết mình đã khóc dữ dội đến mức nào khi theo dõi trên màn hình những hành động tàn bạo trong sự kiện Gwangju mà trước đây tôi mới chỉ nghe nói đến. Những khuôn mặt biến dạng của vô số các xác chết, đã ngã xuống dưới sự đàn áp tàn nhẫn gợi nhớ đến những trận ẩu đả trên đường phố của quân lính thực hiện thiết quân luật...

Tôi bị bắt giam không phải vì đang phạm tội mà chỉ đơn giản là vì từng có tiền án tiền sự, và những nơi tôi bị giam giữ trong suốt hai năm sáu tháng - Trại Huấn luyện Samcheong, Trại Dịch vụ Lao động Samcheong, những trại cải huấn quân sự, Trại Cải huấn Phòng ngừa Cheongsong số 3 - không phải gì khác mà chính là những lò sát nhân, không thể tưởng tượng lại có thể tồn tại ở một xã hội dân chủ.

Nam Hong Yi, mới mười bảy tuổi đã bị bắt tới một thung lũng nào đó nằm gần mặt trận tỉnh Gangwon và ở đó, chỉ vì phản đối sự giam cầm kéo dài của mình mà đã bị bắn vào sườn bằng một khẩu súng trường tự động MI 6, đón nhận một cái chết cay đắng đầy nuối tiếc trong lúc kêu gào gọi mẹ, ruột xổ ra khỏi cơ thể; tù nhân Kim, bị một viên đạn bay chỉ cách đó vài mét găm thẳng vào đầu, mãi mãi rời bỏ thế giới này mà không kịp kêu lên một tiếng; những tiếng van cầu tuyệt vọng của tù nhân xin được tha mạng vì còn bố mẹ anh em và vợ con nơi quê nhà giữa lúc họ lẫn lộn trong biển máu, bị nào giày ống, nào cán búa, nào gậy bóng chày tàn nhẫn nện xuống không chút kiềm chế, không một lý do. Những ký ức hung tàn...

Khi tôi nhờ ơn Chúa được rời khỏi thung lũng tử thần khủng khiếp tựa địa ngục trần gian ấy, tôi đã cố gắng xóa sạch khỏi ký ức quá khứ ác mộng không muốn nhớ lại đến lần thứ hai, cầu xin tha thứ và lãng quên tất cả trong tình yêu của Chúa.

...Ông viết. Thế nhưng, thế nhưng, ông viết.

... Những hình ảnh từ cuốn băng video ghi lại sự kiện Gwangju tôi ngẫu nhiên được xem vào ngày hôm đó đã khiến tôi sốc nặng và giúp tôi nhận ra, tại khúc quanh mở ra con đường tiến lên dân chủ hóa của thời đại này, trước dân tộc và lịch sử, mình cần phải làm gì. Dưới chiêu bài thanh lọc xã hội, Trại Huấn luyện Samcheong - nơi biết bao người không được xét xử phân minh mà đã bị bắt đi, vật lộn chiến đấu với tử thần suốt từ ba đến năm năm, chính là một hiện trường đẫm máu phát sinh từ thứ luật pháp bất công, thứ luật pháp người ta lợi dụng để khơi dậy trong xã hội một bầu không khí sợ hãi trước sự ra đời của chế độ mới. Từ tận đáy lòng, tôi cầu nguyện rằng một chương trình kinh khủng như chương trình Huấn luyện Samcheong của năm 1980, cái năm đã thủ tiêu hết thảy nhân tính, đạo đức, và tự do dân chủ sẽ không bao giờ xảy ra lần nữa trên mảnh đất này. Tôi thật lòng hy vọng sẽ có nhiều người trên đất nước này đọc cuốn sách của ông, để sẽ không bao giờ còn tái hiện cảnh quá nhiều người phải hy sinh một cách phi lý cho vinh quang của một cá nhân. Tôi cũng thiết tha hy vọng rằng cuốn sách này sẽ đóng góp một phần nào đó vào công cuộc khôi phục danh dự cho những đồng loại của tôi, những người đã bị bắt đi mà không được xét xử, bị kết tội vô lý và đã không thể vượt qua được nỗi đau đớn mà bỏ mạng ở thung lũng nơi chiến tuyến; những người đã gục xuống bởi những viên đạn lạc trong khi đang kiên cường đấu tranh đổ máu; và mười nghìn người mang danh từ Trại Huấn luyện Samcheong ra, đã buộc phải hy sinh phẩm giá trong lúc câm lặng chịu đựng khổ đau một cách oan uổng.

... Sinh viên Kim của trường đại học Kyungnam, bị lôi đi xềnh xệch như một con chó giữa lúc đang kêu đòi dân chủ; nhân viên văn phòng Shin, bị bắt giữ đang khi chè chén huyên náo tại nhà riêng chỉ một tháng sau khi cưới; học sinh Lee đang ôn thi lại đại học, bị kết tội là thành viên xã hội đen đương lúc ra ngoài hóng gió; công nhân Song, bị cảnh sát bắt giữ lúc đang đòi được thanh toán tiền lương quá hạn; học sinh cấp ba mười bảy tuổi Ham, đang trên đường đi đón mẹ thì bị bắt mà không hiểu sự tình ra sao; Lee, một đầu bếp bị bắt trên đường đi làm về chỉ vì trên cánh tay có một vết xăm; người bán hàng rong Park bị bắt lúc đang bán hàng ở chợ; phóng viên Yi mất việc bị lôi đi như một con chó, bị đánh đập máu me đầm đìa; ông chú độc thân Hwang bị lôi đi trong khi đang rên rỉ sao bố mẹ không tìm cho ông ta một người vợ; ông Kim sáu mươi tuổi...

Chú chủ của hàng tạp hóa bị bắt khi đang nhấc các bức tượng gốm Đức mẹ Đồng trinh ra khỏi khuôn liệu có quay trở về không? Mãi đến tận khi rời khỏi con ngõ ấy tôi vẫn không thể gặp lại chú ấy.

Tôi lấy giẻ lau sàn căn phòng hiu quạnh. Trong lúc lau bàn của anh cả, tôi khẽ khàng mở ngăn kéo ra. Cuối cùng, anh ấy đã bỏ nó đi rồi. Chiếc dây chuyền của cô gái ấy không còn ở đó nữa. Giờ tôi mới thấy nhẹ cả lòng.

Sắp đến kỳ nghỉ hè, anh cả vạch ra một thời gian biểu mới. Số học viên đăng ký học ở trung tâm học thêm đã tăng, vậy nên trong kỳ nghỉ hè anh sẽ có cơ hội kiếm bộn tiền, anh bảo. Nghe nói giám đốc còn hứa trong hè sẽ giao thêm cho anh một lớp học dài một tiếng nữa, anh cả có vẻ rất vui. Nhưng anh lấy đâu ra thời gian nữa khi cả sáng lẫn tối anh đều kín lịch rồi?

“Lớp này sẽ học từ sáu rưỡi đến tám giờ nên sau ca nghĩa vụ quân sự anh có thể đi thẳng đến đó luôn.”

“Còn bữa tối thì sao?”

“Lớp tiếp theo anh dạy bắt đầu vào lúc chín giờ, anh có thể ăn vào lúc nghỉ giữa hai lớp.”

Anh cả nói rằng sau hè anh sẽ kết thúc nghĩa vụ quân sự và có thể tìm được một công việc tử tế, khi đó chúng tôi sẽ có thể thuê thêm một phòng nữa.

Tiền lương của chúng tôi bị trả chậm.

Đến tận ngày trả lương tháng sau chúng tôi mới được nhận lương của tháng trước. Tôi nhớ chủ tịch công đoàn, cô Lee và Seo Seon. Những người lúc nào cũng vừa trộn cơm với canh giá đỗ đã nguội đựng trong khay thức ăn bằng thép không gỉ rồi ăn kèm với kim chi chua vừa bàn bạc sôi nổi. Những người nhắc tới giám đốc, rằng cho dù ông ta có chết cũng không ai được khóc. Giá như họ có ở đây, tiền lương của chúng tôi đã không bị khất lần như thế này.

Đột nhiên bầu không khí ở nhà máy bỗng trở nên yên ắng. Có tin khu Stereo sẽ bị đóng cửa, cũng có tin giám đốc sẽ gán công ty cho ngân hàng. Như để xác thực các tin đồn này, băng chuyền của dây chuyền A, dây chuyền lắp ráp duy nhất vẫn sản xuất từ đấy đến giờ, dừng hoạt động. Giờ có đến nhà máy cũng chẳng còn việc gì để làm nữa. Chúng tôi dọn dẹp rồi ngồi túm tụm chuyện phiếm với nhau. Chúng tôi không phải xếp hàng chờ khi lên căng tin ăn trưa nữa. Từng người từng người một lần lượt bỏ nhà máy, những người còn ở lại hầu hết đều thuộc khu Ti Vi.

Trước kỳ nghỉ hè. Tôi từ trường về nhà, thấy anh cả đang ngồi bên bàn.

“Anh, sao anh về sớm thế?”

Thay vì trả lời câu hỏi của tôi, anh cả bảo tôi ngồi xuống đúng lúc tôi đang định lên gác mái thay đồ.

“Thế này là sao hả?”

Anh chia ra tờ giấy chứng nhận đăng ký học trung tâm mà đáng ra chị họ phải giữ. Có vẻ chị họ làm rơi nên anh cả nhặt được.

“Cái này là gì hả?”

Tôi, mười tám tuổi, mân mê nút áo đồng phục.

“Sao em lại về nhà một mình?”

“... Thì...”

Nghe tôi lắp bắp, anh cả cao giọng.

“Sao các em lại làm thế này hả? Cả hai cứ thích làm gì thì làm hả?”

“...”

“Rốt cuộc là sao hả?”

“Điện thoại... làm nhân viên trực tổng đài điện thoại...”

“Nó nghỉ học từ bao giờ hả?”

“Khoảng... một tháng trước.”

“Ít nhất em cũng phải nói cho anh biết chứ, không phải sao?”

“Chị ấy dặn em đừng...”

“Nó dặn em không làm thì em không làm hả? Em vẫn không biết chuyện gì mới là quan trọng sao?”

Tôi, mười tám tuổi, bị dồn vào đường cùng, ròng ròng nước mắt. Không mảy may hay biết chuyện gì, chị họ vui vẻ mở cửa, nhưng lúc để cặp sách xuống, bắt gặp ánh nhìn giận dữ của anh cả, chị họ giật mình hoảng hốt, vội cụp mắt xuống. Tôi, mười tám tuổi, vừa bị anh cả mắng, giờ nhìn thấy chị họ, nước mắt đã cố nuốt vào lại giàn giụa tuôn ra.

“Nín ngay!”

Tôi cố nín nhưng không nín được. Chị họ cũng lã chã nước mắt. Anh cả điếng người nhìn cả hai chúng tôi cùng khóc.

“Ai nhìn lại tưởng anh đánh hai đứa không biết chừng.”

Chúng tôi những tưởng thể nào cũng lớn chuyện, ai ngờ anh cả chỉ đi về bàn ngồi, quay lưng lại phía chúng tôi. Nhưng tấm lưng anh toát lên vẻ kiên quyết.

“Nếu không định đi học thì thu dọn hành lý về đi.”

Những giọt nước mắt của chị họ rơi ngày một nặng.

“Có đi học hay là không?”

“...”

Chị họ chỉ khóc, không trả lời. Anh cả quay lại nhìn với vẻ mặt lạnh lùng.

“Có đi học hay là không?”

“Có.”

Giọng anh cả cứng rắn đến nỗi chặn đứng hai dòng nước mắt của chị họ. Cứ như thể nếu chị họ từ chối quay trở lại trường, anh cả sẽ dẫn chị họ ra thẳng ga tàu, mua vé nhét vào tay chị rồi tiễn chị về quê luôn vậy. Nước mắt đã cạn, chị họ leo lên gác mái để cởi đồng phục.

Chúng tôi rửa mặt mũi chân tay trong câm lặng rồi nằm ngủ. Chị họ nằm co người, úp mặt vào tường. Từ đầu bên kia phòng, anh cả gọi tên chị họ. Vẫn nằm co ro, chị họ yếu ớt đáp lại.

“Em thích trở thành nhân viên trực tổng đài điện thoại đến thế ư?”

“Không.”

Có vẻ hoang mang trước câu trả lời của chị họ, anh cả hỏi, “Thế tại sao em lại đi học ở trung tâm đó?”

“Em ghét làm việc ở nhà máy, anh à.”

Giọng nói của chị họ không vương chút lưỡng lự nào. Anh cả có vẻ sửng sốt.

“Ghét đến thế ư?”

“Vâng.”

Anh cả hỏi lại, như thể nảy ra ý nghĩ nào đó.

“Thế làm việc ở Ủy ban phường thì sao?”

“Được, anh!”

Chị họ đang nằm co ro liền ngồi bật dậy.

“Chẳng có gì được đâu. Theo anh thấy thì làm việc ở nhà máy còn tốt hơn.”

“Ở Ủy ban phường đang có chỗ trống ạ?”

“Chỉ là chân chạy việc vặt thôi. Đưa giấy tờ đến Văn phòng Quận rồi lại lấy giấy tờ về, trả lời điện thoại, những việc kiểu như thế.”

“Được ạ, miễn là không phải làm ở nhà máy thì với em thế nào cũng được hết.”

Chị họ nài nỉ anh cả nhất định phải giúp chị được nhận vào làm việc ở Ủy ban phường. Bảo rằng dạo này đến nhà máy không còn việc gì làm nữa rồi. Chẳng có chỗ nào để ngồi, cũng không được trả lương, và ai cũng bảo công ty chẳng mấy chốc sẽ phá sản thôi.

Chị họ tôi, chị họ hai mươi tuổi được bỏ việc ở nhà máy của tôi, vui mừng hớn hở. Bây giờ, sáng sáng chị bắt tàu điện ngầm đến Ủy ban phường ở quận Yongsan. Trên con đường dẫn tới Khu Liên hiệp Công nghiệp Số 1, ở cổng chợ, trên cầu vượt, tôi, mười tám tuổi, định kéo tay chị họ khoác vào, và rồi thấy trong lòng tràn ngập nỗi trống trải.

Lần đầu tiên tôi nghe thấy từ bế xưởng. Bế xưởng? So với bây giờ, cái hồi ngày nào chúng tôi cũng phải làm việc quá giờ và làm việc thêm giờ vẫn còn dễ chịu hơn. Cái hồi băng chuyền chạy rầm rập khiến đầu óc quay cuồng. Ai đó sau lưng tôi đã nổi cơn tam bành.

“Thế quái nào mà tôi cứ vào công ty nào là công ty đấy phá sản chứ! Thật khốn nạn mà.”

Buổi tối, tôi gặp chị họ ở trường.

“Họ đã trả tiền trợ cấp thôi việc cho chị chưa?”

Tôi, mười tám tuổi, lắc đầu.

“Đã làm việc đến rục cả xương cho thì cũng phải trả người ta trợ cấp thôi việc chứ.”

“Hình như công ty sắp phá sản rồi.”

“Gì cơ?”

“Họ bảo sẽ cho bế xưởng.”

Chị họ cũng không cất nổi nên lời trước trọng lượng của từ bế xưởng. Mi Seo viết thư đưa cho tôi trong lúc đang đọc Hegel. Thư viết, Nhà máy của cậu còn chỗ nào trống không? Không. Ngay cả vị trí của tớ cũng đi tong rồi. Ahn Hyang Sook liếc nhìn thư của Mi Seo.

“Nhà máy của Mi Seo đang gặp vấn đề à?”

“Không chắc nữa.”

Ahn Hyang Sook bước tới chỗ Mi Seo.

“Muốn sang nhà máy tớ làm việc không? Họ đang tuyển người đấy.”

Mi Seo, thường ngày luôn tỏ thái độ khinh thường Ahn Hyang Sook, giờ cắm mặt vào cuốn Hegel, như thể đó là một đề nghị lố bịch lắm vậy.

“Lại còn ra vẻ nữa kìa!”

Ahn Hyang Sook lẩm bẩm, quay trở về chỗ. Mi Seo vùi mặt vào sách, không nhúc nhích.

“Nhưng cậu cứ để ý hộ Mi Seo đi nhé. Có vẻ như ở lớp mình chỉ mỗi công ty cậu là có ký túc xá thôi.”

“Sao vậy? Mi Seo cần vào ký túc xá ở à? Không phải nó đang ở nhà chị gái đấy à?”

“Mi Seo không thích ông anh rể.”

“Tại sao?”

“Anh ta suốt ngày cãi nhau với chị của Mi Seo thôi.”

“Nhưng chẳng phải được sống ở bên ngoài khu công nghiệp là chuyện thích thú lắm sao? Sau khi hết giờ học, hễ cứ khi nào nhìn thấy Mi Seo một mình băng sang bên kia đường để bắt xe buýt đi hướng ngược lại với tất cả chúng ta, tớ lại thấy ghen tị. Ít ra mỗi sáng mỗi tối, nó còn được nhìn thấy một khu khác.”

“Nhưng cậu sẽ để ý hộ Mi Seo chứ?”

“Mà sao cậu cứ khăng khăng chuyện này thế?”

“Cậu sẽ làm thế chứ?”

“Được rồi!”

Hôm sau khi tôi hỏi tình hình thế nào rồi, Ahn Hyang Sook lắc đầu.

“Họ bảo học sinh thì không được.”

Tôi nhận được một bức thư từ nhà xuất bản gửi đến. Tôi mở phong bì ra thì thấy bên trong còn một cái phong bì nữa. Hẳn nhà xuất bản đã chuyển tiếp một bức thư được gửi cho tôi qua địa chỉ của họ. Phong bì dày cộp, có vẻ như chứa một lá thư dài. Tôi xem tên người gửi. Han Kyung Shin, Giảng viên, Trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo, Singil-dong, Yeongdeungpo-gu, Seoul. Han Kyung Shin? À! Thầy Choi Hong Yi, à không, là cô giáo Han Kyung Shin chứ. Trái tim tôi chùng xuống. Tôi đã không những không nhận lời mời đến thăm các học sinh ở trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo mà còn trích dẫn nguyên cả bức thư của cô vào trong tiểu thuyết của mình dù chưa được cô cho phép. Bên cạnh mã vùng bưu điện có dòng tái bút được viết bằng nét chữ gọn gàng, đề nghị chuyển tiếp bức thư tới cho tôi. Người có nét chữ thế này hẳn sẽ không trách móc gì tôi đâu, tôi thầm nhủ, cố gắng xoa dịu trái tim đang chùng xuống.

Chào cô.

Mấy ngày trước, tôi đã đọc hết chương thứ hai cuốn tiểu thuyết Cô gái viết nỗi cô đơn của cô. So với chương trước thì chương này có nhiều sự kiện hơn, tôi thấy rất thú vị nên đã đọc liền một mạch từ đầu đến cuối.

... Thú vị ư?

Nói “thú vị” hẳn có thể sẽ khiến cô hiểu nhầm. Ý tôi muốn diễn đạt rằng, văn chương của cô không chỉ đơn thuần khiến tôi thấy thích thú mà còn rất cuốn hút và khiến tôi suy ngẫm về nhiều điều.

Sau khi xuất bản Quả bóng tí hon người lùn ném, Cho Se Hee cũng đã vài lần thử viết thêm những truyện nhiều kỳ như vậy cho tạp chí Văn học Joongang, nhưng rồi sau đó đã gác bút không viết thêm gì nữa. Trong số các lý do ông đưa ra, có một câu mà tôi nhớ mãi. “Nhiều người gặp tôi có nói với tôi rằng cuốn sách của tôi đã khiến họ xúc động sâu sắc. Nhưng người nói ra câu đó thì không thể nào mang biểu cảm hạnh phúc và rạng rỡ nhường kia được.”

Tôi bất chợt nghĩ rằng có lẽ cô cũng sẽ có cảm giác tương tự khi người ta nói với cô rằng họ đã đọc Cô gái viết nỗi cô đơn của cô một cách vô cùng thích thú.

Tôi chỉ mới bắt đầu dạy ở Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp được hai năm, nhưng khi đọc Cô gái viết nỗi cô đơn, tôi có rất nhiều điều muốn nói với cô. Tôi muốn kể với cô về những khác biệt giữa bối cảnh khu công nghiệp hồi đầu thập niên 80 với bây giờ, cả sự khác biệt giữa quang cảnh lớp học thời ấy và thời nay; cảm giác tự ti vẫn bám chặt lấy các học sinh bất chấp những thay đổi; mối quan hệ thận trọng giữa các học sinh chương trình đặc biệt với các học sinh chính quy; môi trường làm việc của các học sinh mà tôi từng có dịp quan sát; cách thức quản lý học sinh của các công ty; và rất nhiều điều khác nữa.

Tháng Ba, năm 1979, khi cô Shin tham gia Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp ở Trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo ở tuổi mười bảy, cũng là khoảng thời gian quan trọng đối với tôi. Vào thời điểm đó, tôi đã được bổ nhiệm làm giáo viên tại trường nữ sinh cấp hai Jangchung ngay khi vừa tốt nghiệp đại học. Ở đó cũng đã có một, hai lớp được bố trí cho các công nhân khu công nghiệp. Nhưng những học sinh này thường đến trường khi tôi đã tan ca, vậy nên lần duy nhất tôi gặp họ là vào Ngày hội thể thao diễn ra mỗi năm một Iần. Các học sinh công nhân nhìn có vẻ lớn hơn đám học sinh chính quy hai ha tuổi, và cũng cao hơn nữa, họ đã xin nghỉ nguyên ngày để tham gia thi đấu các môn thể thao, nhìn ai cũng có vẻ rất hào hứng.

Điều khiến tôi nhớ tới họ chính là trò thi chạy “hai người ba chân” diễn ra vào Ngày hội thể thao. Cô vẫn nhớ chứ, cái trò cứ hai người lại buộc một chân vào nhau rồi chạy thi ấy. Cũng khá đơn giản, chỉ cần hai người bước đều theo nhịp, một, hai, một, hai là được, ấy vậy mà các học sinh công nhân, nhiều tuổi hơn và cao hơn, cứ liên tục móc chân vào với nhau và tụt lại phía sau các học sinh chính quy. Bởi vậy mà cánh giáo viên, tất cả đều ngạc nhiên thốt lên, “Sức mạnh của giáo dục là đó đó. Học hỏi từ sinh hoạt cùng tập thể. Chẳng liên quan gì đến tuổi tác hết, phải không?”. Ngoại trừ chuyện đó, tồi thậm chí còn chẳng ý thức được đến sự tồn tại của những học sinh công nhân ấy, về sau tôi dạy qua nhiều trường và rồi ba năm trước thì được phân về trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo. Lúc dó, tôi đang trong giai đoạn khó khăn, vừa bắt đầu chương trình tiến sĩ muộn màng và đang dự định xin nghỉ phép một năm, nhưng vì còn thiếu giáo viên dạy tiếng Anh cho các lớp của Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân nên thầy hiệu phó đã đề nghị tôi vừa dạy vừa học tiến sĩ. Và tôi đã bắt đầu gắn bó với các học sinh công nhân một cách đầy ngẫu nhiên như thế.

Khi nhận dạy các lớp học đặc biệt này, tôi mang theo trong lòng định kiến rằng đây là những học sinh “tội nghiệp và nhiều khó khăn”, hẳn sẽ cần rất nhiều sự quan tâm từ mình. Chỉ cần nghĩ đến chuyện họ đã làm việc cả ngày rồi sau đó lại phải học suốt buổi tối, trái tim tôi không khỏi nhức nhối. Thế nhưng, khi đọc các bài luận tự giới thiệu bản thân của họ, suy nghĩ của tôi đã thay đổi. Trong câu chữ họ viết chất chứa những niềm hy vọng và tuyệt vọng, những hoài bão và những niềm vui nhỏ bé thường ngày, không khác bất kỳ học sinh chính quy nào. Trước đó tôi từng công tác ở một trường nữ sinh cấp ba được coi là khá danh tiếng, sau đó lại có một năm dạy chính quy ở trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo, vậy nên tôi cũng có thể so sánh phần nào ba nhóm học sinh này. Và tôi đã dần dần nhận ra một sự thật rất đỗi bình thường rằng, dù sống trong các môi trường khác nhau nhưng số lượng và chất lượng của ước mơ, hy vọng cũng như tuyệt vọng ở mỗi học sinh rốt cuộc đều như nhau cả.

Hiển nhiên, những học sinh ở khu khá giả thì có nhiều lợi thế hơn về mặt kinh tế và vật chất. Nhưng tôi tin rằng những ước mơ được các học sinh ấy viết ra, ví như “Em muốn thành nhà thiết kế hàng đầu” hoặc “Em muốn làm bác sĩ”, xét về mặt chất lượng, cũng không khác những ước mơ “Em muốn học kỹ thuật làm tóc”, “Em muốn tiết kiệm tiền để mở một cửa hàng lưu niệm nhỏ”, “Em muốn đi học đại học, dù chỉ là trường dạy nghề thôi cũng được” của những học sinh thuộc Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp. Có nhiều học sinh dẫu được sinh ra trong nhung lụa nhưng đã hỏng cả người bởi sự chểnh mảng của phụ huynh, trong khi đó lại có những học sinh là công nhân khu công nghiệp biết nói rằng, “Em không thể chịu đựng nổi ông bố nát rượu nên đã trốn lên Seoul. Nhưng dạo gần đây bố em đã đỡ hơn rồi nên đến lễ Trung thu, em lại mang quà về thăm nhà.”

Tôi nhớ lại những khuôn mặt của các học sinh đến từ các khu khá giả, cho dù cuộc sống sung túc nhưng không lúc nào không mệt mỏi vì sức ép phải thi đỗ đại học. Có học sinh nhìn mặt y như búp bê với đôi mắt tròn xoe long lanh, ấy mà lại luôn mang vẻ lo lắng, bất an rất đáng thương. Em nói rằng cả bố lẫn mẹ em đều đã theo học những trường danh giá, nhưng em sẽ chẳng bao giờ lọt vào được một trường đại học hàng đầu, vậy nên mẹ em lúc nào tim cũng đập thình thình, cứ ra khỏi nhà là thấy xấu hổ.

Lần nào tổ chức kiểm tra thể chất cho kỳ thi vào đại học tôi cũng thấy các học sinh thi lại đại học lần thứ tư đứng lay lắt sau các học sinh đang năm cuối. Nhìn họ mới thật hiền lành làm sao chứ. Phần lớn họ đều là các học sinh có điểm số thấp nhất. Sợ không dám cho con gái ra nước ngoài du học nhưng lại cũng không thể chịu nổi cái ý nghĩ con gái mới chỉ tốt nghiệp cấp ba, bố mẹ họ kiên trì gửi họ đến các lớp luyện thi đại học. Nếu được sinh ra trong những gia đình kém sung túc hơn, có khi những học sinh này lại đang sống và làm việc một cách bình thường. Cô đã viết, vì thói quen co ro nằm ngủ hồi ở căn phòng hiu quạnh nên thỉnh thoảng cô vẫn thức dậy trong tư thế đó. Còn các học sinh này, được ngủ trên những chiếc giường êm ái, trong những căn phòng rộng rãi, thế nhưng mỗi sáng, có lẽ tâm trí họ lại thức dậy trong tư thế còn co quắp hơn thế.

Có lẽ tôi có thể thực hiện được phép so sánh này là bởi điều kiện và hoàn cảnh lao động ở các khu công nghiệp hiện nay đã được cải thiện hơn nhiều so với hồi thập niên 80. Năm ngoái, tôi đã có cơ hội đến thăm một vài nhà máy nơi các học sinh của tôi làm việc. Ở một nhà máy, nơi có nhiều học sinh của tôi nhất, các đại diện lao động còn tham gia thoả thuận về lương bổng, trong số đó có cả một học sinh của tôi. Hoàn cảnh làm việc sạch sẽ và nhiều công đoạn đã được tự động hóa. Các ngày trong tuần, họ làm việc từ tám rưỡi sáng đến năm giờ chiều, và thứ Bảy thì làm tới một giờ chiều. Ở một số khu vực, cứ cách tuần công nhân lại được nghỉ thứ Bảy. Nếu cô có thể chứng kiến cảnh vải vóc được cắt nhờ điều khiển máy tính hay chỉ cần mặc áo cho ma nơ canh là áo sẽ tự động được là, chắc hẳn cô sẽ cực kỳ kinh ngạc.

Các nhà máy khác tuy có điều kiện lao động ít thuận lợi hơn một chút nhưng vào thứ Bảy, đa phần công nhân vẫn được tan làm lúc ba giờ chiều. Khi các lớp học ngày thứ Bảy được đẩy từ sáu giờ lên bốn giờ chiều, có công ty đã bắt các công nhân sau khi đi học về đến ký túc xá hôm thứ Sáu phải quay lại nhà máy làm việc từ mười giờ tối đến nửa đêm, khiến các giáo viên và học sinh vô cùng phẫn nộ. Ở thập niên 90 thì đây là điều tệ nhất có thể xảy ra trong môi trường lao động rồi.

Một lần, khi các học sinh đình công không bảo trước để phản đối việc một nhân viên phụ tá quản lý thường xuyên nói năng mang tính xúc phạm, trường học đã phải vào cuộc, giúp hòa giải bằng cách tổ chức một cuộc trao đổi thẳng thắn giữa các học sinh và đại diện phía nhà máy.

Các công ty có vô vàn chiến thuật theo dõi sát sao các học sinh. Hình thức tệ hại nhất là cho nhân viên đợi sẵn bên ngoài trường rồi tóm lấy học sinh, gần như là bằng vũ lực. Khi các học sinh bỏ việc vì không chịu nổi bị đối xử vô nhân tính, một số công ty còn đưa ra yêu cầu chính thức ép buộc trường học đuổi học sinh đó. Ngược lại, một số công ty lại cố gắng khuyên răn, uốn nắn các công nhân thiếu trung thực hoặc vi phạm nội quy ký túc xá và chỉ sa thải họ khi khuyên nhủ không có tác dụng. Kể cả sa thải rồi công ty vẫn tạo điều kiện, “Chúng tôi sẽ không thông báo cho nhà trường nên nếu muốn thì cứ đi học tiếp.” Các công ty lớn có đủ tiềm lực kinh tế để làm thế, nhưng đối với các cá nhân mà nói, không phải lúc nào sự đền bù mang tính nhân đạo cũng cân xứng với sự giàu có của công ty.

Các học sinh công nhân đầu tiên của tôi, đặc biệt là những học sinh năm đầu cấp ba, bởi tràn đầy hy vọng về tương lai nên nhìn ai cũng thật rạng rỡ. Nhiều người xuất thân từ nông thôn lên thành phố với ước mơ vừa kiếm được tiền lại vừa được học hành. Nhưng theo thời gian, họ đã dần trở nên mệt mỏi. Có đến khoảng 30% học sinh đã bỏ cuộc giữa chừng. Phần lớn họ cảm thấy khó có thể vượt qua được sự mệt mỏi, nỗi cô đơn và những cực khổ họ phải đối mặt hằng ngày khi sống xa quê nhà. Nhưng khiến tôi xót xa hơn cả đó là các học sinh bị cuốn và đắm chìm vào những cám dỗ xa hoa, bỏ học để đi theo con đường ăn chơi trác táng. Bố mẹ họ, những người có thể kèm cặp và kiểm soát họ thì ở dưới quê, trong khi ở trên thành phố họ lại quá non nớt, mệt mỏi và choáng ngợp. So với hồi thập niên 80, điều kiện lao động có lẽ đã được cải thiện, nhưng vì môi trường xung quanh đã trở nên sung túc và mang xu hướng hưởng lạc hơn nên có lẽ họ cũng nhận thức được sâu sắc hơn về sự nghèo đói của bản thân.

Nhưng những học sinh còn lại vẫn mạnh mẽ bám riết lấy cuộc sống. Những học sinh bị đau dạ dày hay đau lưng thường xuyên phải nghỉ học, nhưng vẫn có không ít học sinh chuyên cần trong suốt cả ba năm học. Mỗi khi nhìn các học sinh công nhân mà dù đặt trong bối cảnh nào cũng thấy toát lên vẻ như được sinh ra trong những gia đình khá giả và nhận nền giáo dục tử tế, trái tim tôi lại thơ thới hẳn.

Lần trước viết thư cho cô Shin, tôi đã có linh cảm khá chắc chắn rằng cô sẽ không nhận lời mời của tôi. Tôi nghĩ cô hẳn sẽ không thích những cách diễn đạt như “lao động” hay “làm việc ban ngày và học hành ban tối”. Tôi đã cố gắng “dụ dỗ” cô bằng cách thử nhấn mạnh đến khía cạnh giao lưu giữa nhà văn với bạn đọc chứ không phải giữa tiền bối và hậu bối, những mong có thể đánh vào cái tình của nhà văn nơi cô. Nhưng sau khi gửi thư đi được vài ngày, vừa đọc chương đầu tiên của Cô gái viết nỗi cô đơn, tôi đã vừa nghĩ, “Cô ấy sẽ không đến đâu, nếu mình đọc được tiểu thuyết này từ trước, mình đã chẳng viết thư cho cô ấy làm gì.”

Khi đọc chương đầu tiên của Cô gái viết nỗi cô đơn, tôi đã khá ngạc nhiên khi thấy sau chừng ấy thời gian, cô vẫn đau đớn không nguôi về quãng thời gian đó. Bởi thế mà tôi đã thử hỏi các học sinh của tôi, xem họ có cảm thấy xấu hổ hay tự ti vì tham gia các lớp học buổi tối hay không. Khoảng một nửa số học sinh tỏ ra không hề có suy nghĩ như vậy, một nửa còn lại trả lời rằng họ cũng thường có cảm giác tương tự. Tôi hỏi tại sao họ lại cảm thấy tự ti, bởi vì họ đã vất vả vừa làm việc ở nhà máy vừa đi học ở trường thế cơ mà, và đáp lại tôi là những phản ứng khó ngờ.

“Người đời không phải ai cũng như cô đâu ạ. Nếu bọn em nói mình học lớp ban đêm họ đã coi thường một thì nếu biết bọn em học lớp ban đêm dành cho công nhân khu công nghiệp họ còn coi thường mười nữa cơ ạ.”

“Còn nếu có bạn trai, tốt hơn hết hãy cứ nói mình ở nhà chơi không làm gì. Người ta vốn coi vô công rồi nghề còn hơn là làm gái công xưởng mà cô.”

“Các thầy cô lúc nào cũng gọi bọn em là học sinh ‘làm việc ban ngày và học hành ban tối’, nhưng có những lúc bọn em không thích bị gọi thế chút nào.”

Tôi chỉ có thể nói với họ rằng, trong khi ba phần tư số học sinh chính quy có khi chẳng bao giờ vào được đại học thì mỗi người họ lại đang nắm trong tay những kỹ năng đảm bảo cho họ một tương lai vững chắc, và trích lời Eleanor Roosevelt, “Nếu không được bạn cho phép, không ai có thể khiến bạn cảm thấy tự ti.”

Theo lời một giáo viên đã có thâm niên dạy chương trình đặc biệt thì sự tự ti của các học sinh công nhân nghiêm trọng hơn chúng tôi tưởng nhiều. Thậm chí các học sinh còn cho rằng chỉ những giáo viên kém cỏi nhất mới bị phân vào dạy chương trình này, trong khi trên thực tế, đa phần giáo viên đăng ký nhận dạy chương trình đặc biệt cốt là để học lên cao hơn và bởi vậy nhiều khi còn có học vấn cao hơn các giso viên dạy chính quy.

Mà nhân nhắc đến chuyện này, chúng tôi từng có dịp cười bể bụng khi nghe nói có một người bạn đã nói với vợ của một giáo viên trong nhóm chúng tôi như thế này, “Chồng cậu vẫn đang dạy ở chương trình buổi tối đấy à? Cậu phải bảo anh ấy học hành thêm lên mà chuyển sang dạy các lớp chính quy đi chứ.”

Giáo viên chúng tôi luôn cố gắng tỏ ra ân cần hết mức để học sinh không có cảm giác bị phân biệt đối xử. Vào những ngày hội trường, khi học sinh chính quy ở lại trường đến tối muộn, chúng tôi thường phải tìm cách cho học sinh công nhân ra ngoài xem phim hoặc nghe nhạc truyền thống để tránh xảy ra va chạm. Để ngăn chặn những hiểu nhầm có thể nảy sinh ở các học sinh chính quy vào ngày khai giảng, rằng các học sinh công nhân sau lần bế giảng tối hôm trước đã để lại một mớ hỗn độn, chúng tôi phải sắp xếp để tổ chức các buổi bế giảng cuối kỳ riêng cho họ. Có lần, tôi bảo các học sinh năm cuối cấp của mình, “Đừng viết linh tinh lên bàn nhé. Các em dùng chung bàn với các học sinh khác nữa đấy,” vậy là cả lớp nhao nhao phản đối. “Bọn em có bao giờ viết gì lên bàn đâu ạ. Bọn em nhịn nên không nói đấy thôi chứ cô có biết cánh học sinh chính quy viết gì lên bàn không ạ? Toàn là ‘con nọ, con kia’, rồi thì những câu như, Cái loại gái công xưởng muốn đi học thì ít nhất cũng phải dọn sạch mớ giấy lộn của bọn mày đi, hay thậm chí, Nếu tao mà là mày, tao thà chết còn hơn là đi làm gái công xưởng.”

Vì quá sốc và phải ra sức xoa dịu các học sinh của mình mà tôi thành ra giận dữ. Tôi nói với các em rằng, “Trong bất kỳ tập thể nào cũng luôn luôn có một vài người thiếu suy nghĩ. Cô dám chắc ở nhà máy các em cũng có những người như thế, phải không? Nếu các học sinh khác phát hiện ra rằng bạn cùng lớp của họ đã viết những điều như thế, chắc chắn họ cũng sẽ cảm thấy áy náy và xấu hổ cho xem.”

“Nếu đang đi trên đường mà vấp phải hòn đá thường ta cũng chỉ nói ‘Ấy dà, xui xẻo quá’ rồi bước tiếp. Nhưng nếu hét lên ‘Cái hòn đá này, sao mày lại nằm ở đây thế này?’ người khác sẽ nói sao đây?”

Các em trả lời, “Họ sẽ bảo ‘đồ điên’ ạ!” và phá lên cười. Dù gì họ cũng đã là học sinh cuối cấp, đủ chín chắn để cười cho qua chuyện này. Nếu họ mới đang năm đầu cấp ba, hẳn những dòng chữ nguệch ngoạc ấy sẽ khiến họ bị tổn thương sâu sắc hơn nhiều.

Trình độ học vấn của học sinh thời nay tụt lùi rất nhiều so với khi cô Shin đi học. Hồi đó, vì có nhiều người ghi danh học nên không những phải thi đầu vào mà ứng viên cũng phải có một hai năm kinh nghiệm làm việc ở nhà máy. Thế nhưng bây giờ, lượng học sinh ít đã là một chuyện, các em vừa mới vào làm việc là nhập học ngay nên tuổi đời trẻ hơn mà cũng thiếu quyết tâm hơn xưa.

“Bây giờ liệu còn ai đọc Hegel trong lớp học đó nữa” Hôm nay, tôi đã hỏi các học sinh của mình xem liệu họ có biết Hegel là ai không. Đa phần đều trả lời, “Cái tên này như dã từng nghe ở lớp Đạo đức rồi, ông ấy là nhà khoa học hay nhà triết học ạ?” Cơ mà hiện tượng này không phải chỉ có ở Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp. Cách đấy ít lâu, tôi cũng từng hỏi các học sinh ở một trường nữ sinh cấp ba danh tiếng rằng, “Các em có biết Simone de Beauvoir là ai không?” mà chẳng em nào có thể trả lời được. Tôi lại hỏi tiếp xem các em ấy có biết ý nghĩa câu nói “Người ta không sinh ra là phụ nữ mà trở thành phụ nữ” của bà là gì không thì tất cả đều chỉ nhìn tôi ngơ ngác, duy có một em hỏi lại, “Có phải câu này hàm ý là phụ nữ thì phải trang điểm và quan tâm đến vẻ ngoài của mình không ạ?”

Tôi biết cô vẫn còn cảm thấy đau đớn, không thể rũ bỏ hết những ký ức của cái thời gian khổ cực nhọc ấy. Nhưng nhìn từ quan điểm một người giáo viên, tôi nghĩ cô thực sự là một người “may mắn”. Bởi, giữa hàng trăm học sinh của Chương trình Giáo dục Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp, cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa phát hiện ra bất cứ ai có những người anh chị em có thể cung cấp một mảnh đất văn hóa và tinh thần màu mỡ để họ phát triển như cô Shin. Việc gặp gỡ một người thầy như thầy Choi Hong Yi cũng là một may mắn, một may mắn chỉ có được ở đúng nơi đó, vào đúng thời đó mà thôi. Ngày nay, không thể tưởng tượng được ở một lớp học nào đó, ở một ngôi trường nào đó lại có một học sinh nào đó ngồi chép tiểu thuyết vào vở trong giờ học. Thực trạng giáo dục những năm 90 này chính là gò ép tất cả các học sinh vào một màn biểu diễn tập thể mà nhất cử nhất động đều phải theo trật tự mà, đúng không ạ?

Năm nay, chúng tôi không nhận được thêm học sinh mới nào. Số công nhân đăng ký học đã tụt giảm một cách nhanh chóng trong vài năm gần đây. Lý do là vì chất lượng cuộc sống đã được cải thiện và hầu hết các bậc cha mẹ bây giờ đều có đủ khả năng cho con cái học đến hết cấp ba. Sau hai năm nữa, Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp mà cô đã gắng sức quên đi và bỏ lại phía sau này cũng sẽ trở thành lịch sử. Giờ cộng cả khối mười một và mười hai lại chúng tôi mới chỉ có một trăm mười học sinh. Vì số lớp học giảm, năm sau tôi cũng sẽ rời nơi này.

Việc thích nghi với môi trường mới dường như không bao giờ đơn giản, dù là với người lớn hay trẻ con. Ngày đầu tiên đi dạy, vì nhịp sinh hoạt bị thay đổi đột ngột nên tôi không khỏi cảm thấy lúng túng và lo lắng khi phải ở lại trường lúc tối khuya, không chỉ vậy, tuy thời gian dạy ít hơn nhưng mệt mỏi thì chẳng kém dạy chính quy là mấy, nên khiến tôi cảm thấy như mình đã xin nghỉ phép vô ích rồi. Trên đường trở về nhà sau khi lớp học kết thúc lúc chín giờ năm, tôi vừa băng qua cầu Yanghwa vừa đưa mắt nhìn ra sông. Những ánh đèn dọc sông chiếu sáng rực rỡ, đẹp như đang mơ, còn dòng sông thì thật tĩnh lặng, thẳm sâu và ấm áp. Trong khoảnh khắc, trái tim tôi bỗng trở nên bình yên, “Phải, đây chính là thế giới mới mà mình sẽ được thấy. Việc học có lẽ sẽ bị chậm lại đôi chút, nhưng trải nghiệm mới mẻ với các học sinh nơi đây sẽ mang đến một tầm nhìn mới và chất nuôi dưỡng mới cho cuộc sống của mình, đúng không nào?” Ý nghĩ ấy vẫn hiển hiện rõ ràng trong tâm trí tôi. Việc tôi viết thư cho cô Shin thế này có khi nào cũng chính là cái duyên mà cuộc sống gắn bó với các em học sinh nơi đây đã trao cho tôi.

Làm ơn hãy liên lạc lại với tôi bất cứ khi nào cô cảm thấy có thời gian và dũng khí muốn gặp lại “nữ sinh cấp ba mặc đồng phục mùa hè màu trắng trước khi Chương trình Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp hoàn toàn biến mất. Nhưng mong cô cũng đừng cảm thấy áp lực gì. Có lẽ cô sẽ không mang theo bức thư này đi đây đó cả năm đâu, phải không?

Chúc cô khỏe mạnh. Cả về thể xác lẫn tinh thần.

Ngày 6 tháng Ba năm 1995

Kính thư,

Han Kyung Shin

... Tôi đọc lại từ đầu bức thư một lần nữa.

Đút lại bức thư vào trong phong bì y như ban đầu nhận được, tôi để phong bì thư đó lên mặt bàn rồi chăm chăm nhìn nó một hồi lâu. Tôi muốn hồi âm cho cô ấy. Tôi lôi mấy tờ giấy từ chồng giấy in ra, đặt lên trên mặt bàn và bơm mực đầy bút máy. Tôi chép lại y nguyên câu chào đầu từ bức thư của cô giáo Han. Chào cô. Một tiếng đã trôi qua, câu duy nhất được viết trên tờ giấy ấy vẫn chỉ là, Chào cô. Tôi ngồi nhìn chăm chăm vào ngòi bút đã khô mực rồi đóng nắp bút lại. Tôi kẹp lá thư vào giữa cuốn album ảnh chụp hồi đó rồi đứng dậy rồi khỏi ghế.

Năm nay, chúng tôi không nhận được thêm học sinh mới nào. Câu ấy chảy tràn ra khỏi lá thư và bước vào trong lòng tôi khi tôi đứng dậy khỏi bàn. Sang năm hẳn ngôi trường đó cũng sẽ đóng cửa. Sẽ chỉ còn là một vết tích, biến mất vào trong câu chuyện.

... Tôi rút một cuốn tuyển tập ca khúc ra khỏi giá, đương lúc định nằm sấp xuống sàn nhà, tôi lại vươn người dậy gọi cho J. J cười lanh lảnh đón cuộc gọi của tôi.

“Vậy là cậu đã gửi bản thảo rồi đấy hả.”

“Không.”

Im lặng.

“Để tớ hát cho cậu một bài nhé.”

“Hát thử coi.”

Đinh đang, người ta tình cờ gặp bên bờ biển mùa hạ qua... Đinh đang, đã có bao lời muốn nói vậy mà... Đinh đang, đêm bên nàng sao ngắn ngủi quá đỗi.

Như lớp học đó bây giờ có cô giáo Han Kyung Shin, ngày ấy ở lớp học đó chúng tôi đã có thầy giáo Choi Hong Yi. Người thầy từng nói với tôi, Sao em không thử viết tiểu thuyết đi. Giờ thầy không còn là thầy chủ nhiệm của tôi nữa, thầy cho lớp chép bài rồi đi đi lại lại giữa các hàng ghế, rồi để một cuốn sách lên bàn tôi, rồi đi. Cuốn sách bìa màu đỏ. Tôi chăm chăm nhìn cái bìa đỏ một hồi lâu. Được in ở đầu trang là cụm, Cất tiếng nói về lịch sử của chúng ta. Bên dưới là một dòng kẻ in đậm màu đen, kèm theo tiêu đề bằng phông chữ đen to, Văn học thực hành. Bên dưới là từ Quần chúng, cái từ lần đầu tiên tôi đọc được. Ấn phẩm phát hành bất định kỳ thực hiện phong trào văn học thời đại mới ở tuyến đầu quần chúng, Số ra mắt. Thơ. Truyện, tiểu thuyết. Chuyên đề đặc biệt. Phê bình. Số 1.1980. Nhà xuất bản Jeon Yewon. Tôi, mười tám tuổi, thử lướt giở vài trang nhưng chẳng hiểu họ viết cái gì. Tôi tìm truyện đọc. “Ngài Gang làng chúng tôi”. Của Lee Moon Gu.

Trước khi nhà máy của chúng tôi ngừng hoạt động, trung tâm nơi anh cả đội tóc giả đi dạy đã bị đóng cửa. Một ngày nọ, bỗng nhiên có lệnh cấm dạy và học thêm ngoài giờ được ban ra khắp toàn quốc. Anh cả, vốn đang mừng với viễn cảnh tăng giờ dạy vào mùa hè rồi sẽ thuê thêm một căn phòng nữa cho chúng tôi, giờ trước lệnh cấm dạy thêm đã thành ra thất nghiệp.

“Giờ các em sẽ phải chu cấp cho anh rồi.”

Anh tháo bộ tóc giả ra và treo vào mặt trong cửa gác mái, môi nở nụ cười mệt mỏi.

Nghỉ hè. Tôi, mười tám tuổi, đang ngủ trong căn nhà thôn quê của chúng tôi. Bố đã đóng cửa hàng và giờ chỉ còn chuyên tâm làm nông. Nhưng vì không thạo dùng hái cắt cỏ, không giỏi đan giỏ rơm nên sáng sáng bố lại dò kênh Bản tin Nông nghiệp trên đài phát thanh để nghe. Bố đánh dấu những điều quan trọng lên tờ lịch Hợp tác xã treo trên tường. Tiếng mẹ nấu bữa sáng vọng ra từ trong bếp. Lúc tôi tỉnh giấc, bố khẽ khàng gọi tên tôi. Tôi định tiến vào bếp nhưng rồi lại chuyển hướng đến ngồi trước bố. Bố lấy một cái hộp từ nóc tủ quần áo xuống. Trước sự ngạc nhiên của tôi, những bức thư tôi đã gửi cho Chang đổ tràn ra khỏi hộp. Trước bố, khuôn mặt tôi đỏ phừng phừng.

“Ban đầu lúc mới nghe mẹ con nói giữa con và Chang đang có gì đó, bố đã không để tâm...”

Bố đẩy những bức thư về phía cô con gái mười tám tuổi.

“Giờ giữa con và Chang không phải chỉ có gì đó mà còn viết thư cho nhau, một khi đã trao đổi thư từ thì sẽ nảy sinh tình cảm và rồi thì...”

“...”

“Mẹ con ấy, bà ấy lo lắng ghê lắm.”

Bố tôi, từ trước tới nay chưa từng đóng vai vị phụ huynh khó tính, nghẹn giọng.

“Mẹ của con ấy!”

Bố cứ viện cớ biện minh thay cho mẹ.

“Cứ mỗi khi người ta đưa thư đến bà ấy lại chạy ra tận phố chính, đợi để lấy thư con gửi cho Chang. Giờ thì người đưa thư đưa thẳng thư của con cho mẹ con luôn.”

“...”

“Cứ nghĩ đến chuyện con vẫn đang chờ đợi hồi âm của cậu ấy mà không mảy may biết gì đến việc này...”

Vừa xấu hổ vừa giận dữ lại vừa đau khổ, tôi òa khóc trước mặt bố.

“Trên đời này chẳng có người làm cha làm mẹ nào lại muốn con mình không ra gì cả.”

Tôi, mười tám tuổi, chẳng nói chẳng rằng nhặt từng bức thư lên rồi đi sang phòng khác. Chẳng hay biết đến chuyện này, bao lâu nay ngày qua ngày tôi vẫn đợi hồi âm của Chang. Vừa đợi vừa cảm thấy có phần oán giận. Rằng, Cậu cũng coi thường tớ là gái công xưởng chứ gì? Rồi khi cảm giác oán giận dần phai nhạt, tôi sẽ lại viết bức thư khác gửi đi. Lặp đi lặp lại suốt cả mùa xuân, suốt cả mùa hè. Nhưng mẹ tôi đã làm gì?

Không hề biết bố đã kể hết cho tôi nghe chuyện về đống thư từ, suốt cả kỳ nghỉ mẹ cứ hỏi đi hỏi lại, Sao thế? Chuyện gì vậy hả? Tôi, không nói một lời. Tôi không thưa kể cả khi mẹ gọi. Tôi, mười tám tuổi, thậm chí còn chẳng chạm vào con gà mẹ luộc cho tôi. Bực bội, mẹ lại quay sang trút cả lên bố.

“Thế mới bảo, gì thì gì con cái cứ phải trưởng thành trong vòng tay cha mẹ, cứ nhìn nó mà xem. Chưa chi đã chẳng thèm để ý đến lời tôi nói. Bắt nó sống khổ sống sở nên giờ nó thành như thế chứ sao. Bây giờ đã vậy rồi sau này còn thế nào nữa đây. Gặp mình ngoài đường nó lại chẳng ngoảnh mặt làm ngơ ấy à. Không hiểu nổi giống ai nữa mà cứ cau cau có có như chó ngậm phải giềng!”

Nói thì nói thế thôi, nhưng vì hôm sau tôi sẽ lại bắt tàu quay lên thành phố nên cả ngày mẹ cứ lượn đi lượn lại quanh đứa con gái mười tám tuổi, cố tìm cách bắt tôi ăn thêm gì đó. Lúc mẹ bưng ra một đĩa bánh kếp bí ngô tôi bèn quay đi chỗ khác. Không thể chịu đựng thêm được nữa, mẹ thét lên, Mày học cái thói đấy ở đâu ra chứ hả.

“Con cái kiểu gì mà như thế hả? Con cái kiểu gì mà lại trừng mắt nhìn mẹ nó không ra gì thế kia hả?”

Tôi, mười tám tuổi, quay lại nhìn thẳng mặt mẹ rồi cũng hét lên.

“Mẹ chẳng biết cái gì hết!”

Tình hình ngoặt theo một hướng khác thường.

“Phải rồi, mẹ mày không ra gì, mẹ mày vô học.”

Mẹ giàn giụa nước mắt.

“Nhưng mẹ đã làm gì xấu xa với mày hả?”

Những giọt nước mắt lăn xuống từ đôi mắt đen của mẹ.

“Từ lúc đưa mày lên Seoul về mẹ đã biết đời mình lắm tội rồi!”

Em trai đang ngồi bên cạnh tôi liền đẩy tôi ta chạy đến chỗ mẹ.

“Mẹ ơi, đừng khóc, đừng.”

“Đưa mày mới nứt mắt ra lên Seoul ở với anh trai nóng tính... lúc nào mẹ cũng chỉ lo không biết mấy đứa thuận hòa hay cãi cọ, có ăn uống đúng bữa... Giá không xa xôi đến vậy thì mẹ đã lên thăm thường xuyên... Mỗi lần nấu cơm mẹ lại đau đáu nhớ đến mày tới nỗi đầu gối mềm oặt ra. Mày chưa lớn đủ mà đã phải cơm nước cho các anh, cứ nghĩ thế thôi làm sao có ngày nào lòng mẹ thảnh thơi cho được?”

Tôi, mười tám tuổi, đứng trước cổng nhà Chang. Chang tay cầm theo hộp xà phòng, nhìn có vẻ như vừa tắm đêm ngoài suối về. Chúng tôi cùng nhau đi bộ ra đường tàu. Chúng tôi ngồi trên đường đê. Đêm mùa hè. Sao sáng lấp lánh. Một con tàu lao qua bóng đêm. Con tàu dài điện đóm sáng choang thật giống con đường đê hoa nở rộ. Những bức thư không đến tay Chang nằm trong túi áo tôi. Mỗi lần làn gió thổi qua từ người Chang lại tỏa ra mùi xà phòng. Chang bảo cậu đã bắt đầu tập vẽ. Rằng cậu định thi vào trường nghệ thuật. Vẽ ư? Trước đó, tôi chưa từng nghe Chang nhắc gì đến chuyện vẽ vời. Đột nhiên, cậu khăng khăng bảo cả hai chúng tôi nhất định đều phải đi học đại học. Đại học ư? Tôi, mười tám tuổi, không thể đưa ra câu trả lời, chỉ biết mân mê mãi những bức thư định đưa cho Chang, những bức thư đã không được chuyển đến tận tay cậu.

“Cậu định vẽ tranh kiểu gì?”

“Tranh thủy mặc truyền thống.”

Tranh thủy mặc? Chang kể sau khi tan học ở trường, cậu lại đi học ở một xưởng vẽ trong xã để chuẩn bị cho kỳ thi đại học. Chang nói cậu sẽ vào đại học và sẽ thành họa sĩ. Cậu nhìn tôi, bảo tôi nhất định hãy vào đại học rồi trở thành nhà văn. Chúng mình bằng mọi giá phải vào được đại học nhé! Chang nói như đang tuyên thệ. Đại học ư? Giây phút nghe thấy từ “đại học” tôi không còn ngửi thấy mùi xà phòng từ Chang nữa. Tôi, mười tám tuổi, cuối cùng quay trở về mà không thể đưa những bức thư cho Chang.

Tôi vẫn nhớ ngày mùa thu có mưa năm ấy. Ngày mùa thu chúng tôi hai tháng liền không nhận được lương, ở nhà máy, nơi không còn chị họ nữa, phòng thay đồ trở thành nơi duy nhất tôi có thể tìm được chút an ổn. Tôi run lên bởi cơn mưa mùa thu. Phòng thay đồ, nơi tôi thường lẻn vào mỗi khi phải vất vưởng cả ngày vì buổi sáng không được phân cho một vị trí nào để làm việc. Những người bỏ việc treo đồng phục lao động lên móc nhựa rồi ra đi. Đáng lẽ ra họ phải trả đồng phục lúc nộp đơn xin nghỉ việc, nhưng cái công ty lương thì trả chậm, trợ cấp thôi việc thì không buồn xử lý này chẳng có quyền gì mà bắt công nhân làm đúng nguyên tắc cả, mà đám công nhân cũng chẳng quan tâm nữa rồi. Những khuôn mặt sau khi tan làm ngày hôm đó đã không đến làm trở lại vào sáng hôm sau, những bộ đồng phục xanh dương họ cởi bỏ lại. Ngày mưa, tôi được phân vào phòng máy, nhưng việc duy nhất cho tôi làm ở đó chỉ là trừng mắt nhìn những chiếc mặt nạ mà các nam công nhân phòng máy đeo để tránh đám gỗ hay mạt cưa bắn ra từ máy cắt đang cuồn cuộn bốc lên như những đám mây. Lý do khiến tôi bước tới phòng thử đồ tối tăm lôi một trong số những bộ đồng phục rũ vai treo trên móc nhựa xuống khoác ra ngoài bộ đồng phục của mình là vì tôi thấy lạnh. Cũng vì lạnh mà tôi xỏ tay vào trong túi áo. Tay tôi chạm phải thứ gì đó. Tôi lôi ra thì thấy một phong bì màu trắng. Chỉ đến khi đó tôi mới nhìn lại tên trên bộ đồng phục. Yoon Soon Im. Bộ đồng phục không thuộc về một trong những công nhân đã bỏ việc mà thuộc về chị Yoon Soon Im, một người vẫn đang làm việc. Có phải chị ấy về sớm, hay là chị ấy ra ngoài làm gì? Tôi, mười tám tuổi, giữa bóng tối của phòng thay đồ, ghé mắt nhìn vào bên trong chiếc phong bì. Một tờ mười nghìn won mới cứng nằm yên lặng trong đó. Đột nhiên tim tôi đập dồn dập. Phòng thay đồ vắng lặng đến rùng mình. Chị Yoon Soon Im, đối tượng ngưỡng mộ của cậu thực tập sinh, người được chị họ đem lòng yêu mến. Tôi cởi bộ đồng phục của chị Yoon Soon Im ra, nhẹ nhàng treo lại lên móc rồi lẻn ra khỏi phòng thay đồ. Tôi quay lại phòng máy, ngồi giữa tiếng máy đang cưa gỗ. Tôi, mười tám tuổi, đến văn phòng Phòng Sản xuất lạnh lẽo xin phép được nghỉ làm sớm. Quay lại phòng thay đồ, tôi vội vã cởi đồng phục. Tôi lấy chiếc cặp sách cất trên nóc tủ đựng đồ. Rồi tôi thò tay thật nhanh vào trong chiếc áo đồng phục của chị Yoon Soon Im, chộp lấy cái phong bì và chạy trối chết ra khỏi nhà máy. Trên con đường sáng tỏ lúc ban ngày nối các khu nhà máy, giữa làn mưa thu, tôi bước mãi bước mãi, trống ngực tôi đánh dồn tới tận khi về đến căn phòng hiu quạnh, tới tận khi tôi vào trong phòng và đóng chặt cửa lại.

Dường như tôi đã ngủ thiếp đi. Ai đó lay tôi tỉnh dậy, là anh cả giờ đã thất nghiệp.

“Em không đi học à?”

“...”

“Ốm ở đâu à?”

Tôi cứ nằm đó không ngồi dậy, anh cả đặt tay lên trán tôi, hỏi lại tôi có đau ốm ở đâu không. Anh nhìn tôi chăm chăm một hồi, rồi đi ra ngoài mua thuốc về cho tôi.

“Sốt hầm hập rồi đây này. Trải đệm ra mà nằm ngủ chứ.”

“...”

“Chắc là ươn người rồi. Ngủ một giấc sâu rồi dậy sẽ đỡ thôi.”

Thấy tôi tìm cách ngồi dậy, anh cả bảo tôi cứ nằm yên đấy. Anh lôi tấm đệm từ trong chiếc tủ nhựa ra trải xuống sàn cho tôi rồi còn luồn một cái gối xuống dưới mái đầu mười tám tuổi của tôi nữa.

Canh giá đỗ, anh cả nấu canh giá đỗ cho tôi ăn. Vì chẳng bao giờ ăn canh giá đỗ nên anh cho không biết bao nhiêu là bột ớt vào, khiến bát canh đỏ lòm.

Đến tối, chị họ một mình đi học về nhìn thấy tôi đang nằm trên sàn bèn hỏi tôi ốm ở đâu à. Vừa bảo đã rất lo vì không thấy tôi đến trường, chị vừa chìa cho tôi một cái phong bì trắng đang cầm trên tay.

“Có bức thư giắt ở khe cửa, lại chỉ ghi tên em rất to.”

“Thư..?”

Anh cả đang ngồi bên bàn cúi xuống nhìn tôi nằm dưới sàn như thể muốn hỏi có chuyện gì. Thấy tôi nhận bức thư từ tay chị họ rồi nằm im, anh bèn ngồi xuống sàn và bật ti vi. Chị họ trèo lên gác mái để thay quần áo, rồi đi ra bếp.

“Thư ai gửi thế?”

Chị họ hỏi, vừa rửa chân trên sàn bếp vừa nghển cổ nhìn vào trong phòng. Hẳn là thấy kỳ lạ vì tôi cầm lá thư mãi mà vẫn chưa mở ra, chị họ nhìn về phía tôi hỏi, Sao vậy? Anh cả cũng rời mắt khỏi ti vi, quay đầu nhìn tôi. Như có vẻ mỏi cổ, anh cả ép lòng bàn tay vào gáy. Tiếng chị họ vã nước lên mu chân trong gian bếp. Lách rách lách rách. Tư thế ngồi xem ti vi uể oải của anh cả. Khoảnh khắc mở lá thư ra, nỗi bất an e sợ rằng sự yên bình của căn phòng hiu quạnh này sẽ vỡ tan sượt qua tôi. Bàn tay mười tám tuổi của tôi run rẩy lôi lá thư ra khỏi phong bì.

Mong em trả lại chiếc phong bì em đã lấy từ bộ đồng phục của chị. Đó là số tiền rất cần thiết đối với chị... Yoon Soon Im.

Tôi, mười tám tuổi, kéo chăn trùm kín mặt. Dưới tấm chăn, lá thư nhàu nhĩ trong tay tôi.

Buổi sáng, tôi cùng chị họ ra khỏi cổng, nhưng sau khi thấy chị họ đi khuất về phía ga tàu điện ngầm, tôi bèn quay lại căn phòng hiu quạnh. Tôi khóa trái cửa, như thể đang bị ai đó săn đuổi. Suốt cả ngày tôi ngồi bất động trong phòng. Cảm giác như chỉ cần bước chân ra thế giới bên ngoài cánh cửa kia là tôi sẽ bị người ta tóm cổ ngay. Cảm giác như nếu bị lôi đi xềnh xệch như thế tôi sẽ không bao giờ có thể quay trở lại được nữa. Tầm giờ ăn trưa, có ai đó gõ cửa phòng. Em có trong đó không? Là giọng chị Yoon Soon Im. Đôi giày đi học để ngoài cửa đã mách cho chị ấy biết là tôi đang ở trong phòng. Tôi mở cửa và thấy chị Yoon Soon Im đang đứng đó. Tôi vội lôi cái phong bì màu trắng ra khỏi cặp sách. Cảm ơn em. Chị mỉm cười nhận lấy cái phong bì.

Tiếng búa, tiếng khoan... không biết là nhà bên cạnh hay nhà dưới tầng, mới sáng ra đã ồn ào sửa chữa. Ù ù, nghe như là người ta đang khoan tường. Uỳnh uỳnh, nghe như là người ta đang đập bức tường vừa khoan. Tôi đã trễ hạn nộp bản thảo và không thể lãng phí dù chỉ là nửa ngày nữa... Tôi ngẩng đầu lên nhìn về phía dãy núi. Hoa đỗ quyên đỏ từng phủ kín ngọn đồi giờ đã héo đến phân nửa. Tôi cảm thấy như mình đang lạc giữa màn sương mịt mùng... Mắt tôi nhức nhối. Tiếng khoan đã tạm ngừng. Tiếng ồn inh tai giờ được nối tiếp bởi sự im lặng tịch mịch. Đã kết thúc hẳn rồi ư? Tôi vừa chớp chớp đôi mắt nhức nhối thì tiếng khoan lại vang lên như muốn đập tường phá núi. Không có lẽ họ muốn dỡ cả căn nhà. Tôi đi sang căn phòng đối diện. Có phải tiếng ồn vọng đến từ tầng dưới chứ không phải từ nhà bên? Bởi dù đã bước sang căn phòng chung vách với nhà láng giềng, tiếng khoan vẫn dai dẳng bám theo tôi, chực đâm thủng màng nhĩ của tôi. Sửa chữa xây dựng gì không biết?

Tôi không quá nhạy cảm với tiếng ồn. Nếu cố gắng tôi vẫn có thể mặc nó ngoài tai. Tôi thuộc kiểu người hầu như luôn giữ được tập trung cho dù ở bất cứ đâu. Bởi vậy mà ngay giữa đám đông, tôi vẫn có thể một mình suy nghĩ. Tôi giữ vị trí số 1 trên dây chuyền, và cho dù cả hai chỉ đứng cách nhau một đường băng chuyền nhưng người đứng đối diện tôi lại có nhiệm vụ kiểm tra sản phẩm hoàn thiện. Nhân viên kiểm soát chất lượng của Phòng Kiểm định Chất lượng cả ngày cứ phải tăng giảm âm lượng các dàn stereo để kiểm tra. Cả ngày dài dằng dặc, tai tôi phơi ra trước đủ loại âm thanh, từ chói tai, trầm, bổng đến tiếng xì xì nhả khí của đầu vặn dùng khí nén, tiếng ầm ầm của băng chuyền chạy, tiếng xèn xẹt của chì cháy.

Sau khi rời khỏi nơi ấy, tôi dửng dưng với hầu hết mọi âm thanh.

... Nhưng cuộc sống thật vô cùng thâm sâu. Không cho ai tất cả cũng không lấy đi của ai tất cả bao giờ. Khiến tôi mở tập vở ra viết thư cho Chang giữa hết thảy những ồn ào đó, cũng chính là cuộc sống đã giúp tôi cảm nhận được hơi người ấm áp dịu dàng.

... Nhưng tiếng khoan kia, và kia hẳn là tiếng búa nện. Cứ như thể họ sắp khoan lỗ vào tất tật mọi thứ trên đồi này vậy. Tôi đi tới trước bồn rửa mặt, bóp đầy kem đánh răng lên bàn chải để đánh răng, rồi rửa tay và xoa xà phòng lên rửa mặt. Ruỳnh ruỳnh ruỳnh, ầm, uỳnh uỳnh! So với thứ âm thanh này thì những tiếng động từ quá khứ chẳng khác gì bài hát ru. Sửa chữa nghiêm trọng đến mức này thì đáng lẽ họ phải xin phép hàng xóm trước chứ nhỉ? Đột nhiên tôi thấy trào dâng con giận dữ đối với những người tôi thậm chí còn chẳng hề biết mặt. Cứ như thể chính mặt tôi đang bị khoan đục và bắp chân tôi đang bị nện chao đảo, sắp thủng lỗ đến nơi. Ít nhất tôi cũng phải hỏi xem bao giờ thì xong mới được. Tôi xỏ giày vào, nhấn chuông ngôi nhà bên cạnh. Chủ nhà bên thò đầu ra.

“Không phải nhà chúng tôi đâu. Dưới tầng đấy.”

Có vẻ như cũng sắp tức phát điên giống tôi nên cô chủ nhà bên chưa cần được hỏi đã đáp ngay. Tôi xuống tầng thì thấy cửa ra vào nhà dưới đó đang mở. Ngó vào bên trong, tôi có thể nhìn thấy ngưỡng cửa thông ra ban công đã bị đập tan tành.

“Xin lỗi.”

Hình như không nghe thấy tiếng tôi, người phụ hồ thậm chí chẳng thèm quay lại.

“Có ai không ạ?”

Không thấy chủ nhà đâu, chỉ có những người phụ hồ. Tôi gọi mãi mới có một người quay lại, tay anh ta cầm khoan còn khuôn mặt bám đầy bụi gạch.

“Chủ nhà đâu ạ?”

“Chủ nhà hiện đang đi vắng rồi!”

“Tôi sống ở tầng trên.”

Tôi giơ tay chỉ.

“Bao giờ thì mới sửa nhà xong ạ?”

“Sẽ mất tầm ba ngày đấy.”

Ba ngày? Không thể tin được. Tôi trở về phòng, đứng trước bồn rửa mặt rửa tay, chà lấy chà để.

Thứ Bảy, anh cả hỏi tôi.

“Sao em không đi làm? Em bỏ việc à?”

“...”

“Em cũng không thích làm việc ở nhà máy hả?”

“...”

“Em chỉ cần cố chịu thêm chút nữa thôi, cho đến khi anh hoàn thành nghĩa vụ quân sự là được mà.”

“...”

“Nói gì đi xem nào!”

Anh càng thúc ép, tôi càng câm như hến.

“Miệng em dính keo rồi hả!”

Nhưng làm sao tôi có thể nói với anh đây. Rằng tôi không có dũng khí nhìn mặt chị Yoon Soon Im.

“Nếu em chỉ biết làm người khác lo lắng như thế thì đóng gói hành lý mà quay về quê đi.”

Anh cả rời khỏi phòng, đóng sầm cửa lại sau lưng. Tôi mặc đồng phục, thay vì hành lý tôi cầm cặp sách theo, rồi bước ra ngoài ngõ. Tôi thậm chí còn chẳng có tiền đi xe. Tôi nặng nề lê bước, tới hiệu may Jin Hee cạnh cổng vào Khu Liên hiệp Công nghiệp số 2. Một người đàn ông có vết chàm màu xanh to cỡ lòng bàn tay trên mặt đang cắt tấm vải màu xanh dương bên cạnh chị Hee Jae. Trong đôi mắt mười tám tuổi của tôi, cả vết chàm màu xanh, cả mảnh vải màu xanh dương đều thật nhức nhối.

“Em làm gì ở đây vậy?”

Trong phòng cắt may của hiệu may, chị Hee Jae mặt tái nhợt, trợn trừng mắt lên với tôi. Hành lang chật hẹp. Những vụn vải bẩn thỉu vương vãi trên sàn. Không có ghế để ngồi, chị Hee Jae đặt thân hình nhỏ bé trên một cái hòm gỗ trông có vẻ như thùng hàng.

“Cho em vay ít tiền.”

“Bao nhiêu?”

“Năm nghìn won.”

Chị đưa tôi năm nghìn won mà không buồn hỏi xem tôi cần tiền làm gì. Thay vì tới trường, tôi ra ga Seoul. Mỗi lần nghĩ đến cảnh anh cả quát to bảo tôi đóng gói hành lý quay về quê đi, ngực tôi lại thắt lại.

Mẹ.

Quay về rồi tôi biết nói gì với mẹ đây? Em sẽ không quay về đâu. Em sẽ không đến những nơi anh có thể tìm thấy em đâu. Em sẽ đi và vĩnh viễn không quay trở lại. Để xem anh có thể sống mà không có em không. Tôi mua vé tàu đêm tới Buýtan. Thầm hứa, Em sẽ không bao giờ quay lại với anh đâu, tuyệt đối không bao giờ quay lại căn phòng hiu quạnh ấy đâu.

Thế nhưng, tàu vừa rời bánh khỏi ga Seoul tôi đã muốn xuống. Bờ vai buông thõng của anh cả chập chờn trên cửa sổ. Bộ tóc giả của anh treo trên cánh cửa gác mái. Bàn tay anh giặt tất trong bếp như một thói quen. Dáng anh nhỏm người dậy trong bóng tối và đi lên sân thượng sau khi bị cô gái của anh bỏ rơi. Mùi lạnh của gió bám vào cơ thể anh khi anh quay trở lại một lúc lâu sau.

Nhưng giọng anh bảo tôi đóng gói đồ đạc quay về quê khiến cổ tôi cứng đờ. Tôi sẽ không quay lại đâu. Đoàn tàu vun vút lao qua những ánh đèn dưới chân núi xa xa. Tàu chui vào đường hầm. Anh ơi. Tàu tràn ngập đủ thứ mùi kỳ quái nồng nặc. Một đứa trẻ khóc ré lên, một người phụ nữ đang dỗ quay ra quát tháo ầm ĩ, một ông già ngáy khò khò, một nhóm thiếu nữ vừa chuyện phiếm vừa tóp tép nhai mực khô, và những người đàn ông xa lạ chơi bài om sòm. Phản chiếu trên cửa sổ tàu là tôi, mười tám tuổi, hoảng hốt giữa đám người bát nháo. Buýtan ư? Chốn đó là đâu mới được chứ? Mỗi lần cánh cửa mở ra, mùi khai từ phòng vệ sinh lại cùng gió theo vào. Trái tim tôi đập thình thịch vì niềm khao khát được quay trở lại bên anh cả. Xuống ga Buýtan khi trời vừa rạng, tôi không bước ra ngoài ga dù chỉ một bước chân mà mua luôn vé quay lên Seoul rồi chờ tàu và lại lên tàu ngồi tiếp. Trời sáng dần. Ngoài cửa sổ, những đàn chim non bay theo những sợi dây điện. Xình xịch xình xịch, tiếng bánh tàu lăn đi hết tốc lực, tiến về phía căn phòng hiu quạnh của chúng tôi.

Từ ga Seoul, tôi lên tàu điện ngầm rồi xuống ở ga Garibong, đi bộ qua hiệu ảnh, qua cửa hàng tạp hóa, cuối cùng lại về đứng trước cổng nhà. Tôi vừa đẩy cổng bước vào trong thì anh cả chạy từ trên tầng ba xuống.

“Em đã đi đâu vậy hả?”

Trông anh cả có vẻ như không ngủ cả đêm. Anh dồn dập hỏi tôi đã đi đâu, mắt anh đỏ ngầu. Lòng bàn tay anh hạ một cái tát lên gò má mười tám tuổi của tôi.

“Đồ con gái xấu xa.”

Tôi, mười tám tuổi, mắt ngấn nước. Anh cả kéo tôi ôm vào lòng.

“Anh cứ tưởng em gặp tai nạn gì rồi!”

Khi sự căng thẳng đến run cả người của tôi tan biến thì đến lượt nước mắt không ngừng tuôn rơi. Anh cả đẩy mặt tôi rời khỏi ngực anh và gầm lên.

“Em mà làm thế này thêm lần nữa, anh thề là anh sẽ giết chết em đấy!”

Chị Yoon Soon Im. Chị đến tìm gặp tôi vào buổi trưa, khi tôi đang nằm một mình trong căn phòng hiu quạnh. Tôi, mười tám tuổi, ngồi phắt dậy. Tiếng đài phát thanh vọng tới từ một căn phòng nào đó. Chị ấy, tại sao lại đến gặp tôi? Tôi, mười tám tuổi, bồn chồn ngồi đó. Tại sao chị ấy lại đến gặp tôi?

“Chị kể một chuyện cho em nghe nhé?”

Chị Yoon Soon Im, với một cái răng khểnh khiến mỗi khi cười môi chị lại vén lên, để lộ cả phần lợi đỏ tươi.

“Chị đã bỏ học cấp ba.” '

“...”

“Em biết tại sao không?”

“...”

“Một lần tình cờ mở hộp bút của người bạn cùng hàn, chị nhìn thấy hai tờ một nghìn won. Đến trong mơ chị cũng không dám nghĩ rằng mình sẽ lấy trộm tiền. Nhưng còn chưa ý thức được gì thì tay chị đã nhặt tờ tiền lên rồi. Chị đã nghĩ, với số tiền này chị sẽ có thể mua được cái thắt lưng mình thích. Chị đã luôn muốn một cái vì có vẻ như bụng chị cứ ngày một béo ra. Cả lớp đều bị khám xét từ trong ra ngoài. Bọn chị bị kiểm tra toàn bộ đồ đạc, kể cả túi áo túi quần. Chị giấu tiền trong đồ lót. Thầy giáo sai học sinh trực tuần đến ngọn đồi đằng sau trường để nhặt lá thông đủ cho cả lớp. Rồi thầy chìa đám lá thông ra cho mỗi học sinh một lá. Thầy bảo bọn chị đặt lá thông vào giữa lòng bàn tay rồi ép chặt hai tay và nhắm mắt lại. Thầy bảo, tất cả lá thông đều có độ dài tương đương nhau. Sau mười phút, duy nhất lá trong tay người ăn trộm tiền sẽ mọc dài thêm năm xăng ti mét. Đến lúc đó tất cả sẽ biết ai là thủ phạm, vậy nên người nào lấy tiền thì hãy im lặng giơ tay lên ngay bây giờ đi. Giờ nghĩ lại, những lời đó thật hoang đường? Lá thông làm sao mọc lên trong tay ta được chứ? Nhưng hồi đó, chị thật sự cảm thấy dường như cái lá đang mọc dài ra ngay trong lòng bàn tay mình. Nghĩ tới những gì sẽ xảy ra tiếp theo, tim chị nện như trống dồn và đầu chị thì như chỉ muốn nổ tung đến nơi. Chị cơ hồ có thể nghe thấy tiếng lá thông đang xào xạc xào xạc mọc dài ra trong bàn tay mình. Chị sợ đến nỗi khóc òa lên. Chị thậm chí còn tè ra ngay tại chỗ. Cả lớp phát hiện ra chị chính là kẻ ăn trộm. Sau chuyện đó, chị không quay lại trường và cuộc đời của cũng đã rẽ sang một hướng khác hẳn. Chị bảo với bố mẹ là chị đi học nhưng chị không đến trường mà cả ngày hết ngồi ngoài bờ đê lại lang thang quanh chợ. Cuối cùng bố mẹ chị cũng biết được chuyện chị đã lấy trộm tiền và chị bị đánh một trận lên bờ xuống ruộng. Mẹ chị giơ roi lên bảo chị rằng, Không có việc gì làm nữa hay sao mà lại đi ăn trộm ăn cắp? Vào giây phút nghe mẹ gọi mình là ăn trộm ăn cắp, chị đã nghĩ chỉ còn nước chết quách đi cho xong... Chị định chết ở một nơi thật xa nhà nên đã lấy trộm tiền của mẹ và bỏ nhà đi... Rồi chẳng hiểu đưa đẩy thế nào cuối cùng lại ở đây... Đã năm năm chị chưa trở về thăm nhà.”

“...”

“Nếu chị không cần số tiền đó đến mức ấy, chị cũng đã chẳng viết thư cho em làm gì.”

“...”

“Ngày mai hãy quay lại làm việc đi.”

“...”

“Chị không nghĩ em là đứa trộm cắp. Mà chuyện này cũng chẳng ai biết cả. Chị chỉ suy đoán thế thôi vì hôm đó lúc ra ngoài về, chị đã thấy em nghỉ sớm và đang đi về. Đáng lẽ em chỉ cần giả vờ ngây thơ vô tội là xong chuyện mà.”

“...”

“Họ nói công ty chẳng mấy chốc sẽ đóng cửa thôi. Bị sang tay cho ngân hàng hay sao đó. Cứ đi làm đến lúc đó đi. Rồi em sẽ nhận được trợ cấp thôi việc và cả lương trả chậm nữa... Nếu em nghỉ giữa chừng thế này sẽ rất dễ bị họ quỵt luôn đó.”

“...”

“Ngày mai em sẽ đi làm chứ, phải không?”

“...”

“Nếu em không đi, chị sẽ còn quay lại đấy.”

Hôm sau tôi đi làm. Tôi nhét thẻ tên vào máy chấm công. Chị Yoon Soon Im cười toe. Quản đốc, à không, giờ là giám sát sản xuất, gọi tôi đến.

“Cô nghĩ nhà máy này là chỗ cô thích đến lúc nào thì đến đấy hả?”

Tôi, mười tám tuổi, nhìn chằm chằm xuống sàn xi măng lạnh ngắt. Ở nhà máy vẫn chẳng có gì thay đổi hết. Những công nhân không được phân vị trí làm ngồi vất vưởng khắp nơi. Trên sân thượng, trên ghế băng, cạnh vòi nước. Chae Eun Hee, nữ nhân viên hành chính ở dây chuyền lắp ráp, cũng ngồi uể oải trong văn phòng vắng tanh. Công việc của Chae Eun Hee là kiểm tra sản lượng cuối mỗi ngày làm việc, nhưng giờ chẳng có sản lượng nào để cho cô ta kiểm tra nữa. Công ty ngày càng vắng hoe vắng hoét.

... Tôi ngồi giữa tiếng ồn ào, cố gắng đè nén sự bực bội bằng cách đi tới giá sách, giở một tập thơ, vừa cầm trên tay vừa cất tiếng đọc to.

Những sinh linh bé bỏng trên thế gian / vẫy đuôi chói sáng trước mắt tôi / gọi tôi là mẹ... Sinh linh bé bỏng của tôi bây giờ đang nhớ sữa của tôi đến nhường nào? / Tôi chợt nhớ lại khi vừa khóc vừa vắt cạn sữa / Những đôi mắt ngây thơ / không cả mơ trốn thoát / Rời xa con tôi không thể đi tới bất kỳ nơi đâu / không thể đi đâu / Tôi lại xuống con đường núi vừa leo lên / Ha, trong vũng nước, đàn cá cơm vẫn an toàn.

... Thơ ơi, xin người, hãy át hết những tiếng kia đi. Tiếng ngưỡng cửa một ngôi nhà đang bị phá tan tành.

Bà Emily Dickinson / công kênh tôi trên vai / tới bãi cát của vùng biển xa nơi tôi chưa từng đến / Chẳng một con thú mệt mỏi lọt vào trong tầm mắt / những ngao những hến nằm trong lớp vỏ / sống an nhàn / bà nhúng tay áo xanh / xuống nước biển / rửa sạch bàn chân tôi bị thương / rồi dịu dàng đặt xuống / như những giọt nước mắt lặng câm.

Thơ ơi, xin người, hãy đến đây. Kia... này khoan... này búa... xin người hãy nhẹ nhàng át đi những âm thanh của chúng... và đến với tôi, bị nghiền nát và lạc lối cả trong lẫn ngoài lời kể.

Lá đậu trên chùm nho, e dè bẽn lẽn / Ngày xửa ngày xưa có một người từng tìm cách bám theo bóng lá.

... Cơn buồn ngủ như con sóng trào, cơn buồn ngủ ào vào xô tới. Người vuốt tóc tôi, anh ấy chẳng mấy nữa sẽ quay trở lại.

Tiếng thác đổ sầm sầm đánh thức núi. Chú gà lôi giật mình nhảy lên, một nón thông rơi xuống. Một con sóc giương đuôi và con đường mòn âm thầm bừng sáng... Oa! Nghệ sĩ hát pansori đã diễn xong thiên truyện của mình.

... Phải, anh ấy sẽ quay lại. Anh ấy sẽ sớm quay trở lại.

Tiến lại gần là nước mắt rơi / gõ cửa phòng anh / đôi mắt cá chân em run rẩy... Hỡi người cứ tiến lại gần là nước mắt rơi... Dù cúi đầu nhưng vài bước trước mặt / những ngón tay anh đang khóa cửa, em vẫn thấy / Thỉnh thoảng em vẫn thấy.

Tôi tìm thấy thư của Chang trong hòm thư, hoàn toàn không ngờ tới. Ôi chao. Niềm vui sướng của tôi buột ra trong một tiếng kêu duy nhất ấy. Tớ đã gặp Ippi. Ippi là biệt danh của em gái tôi. Tớ đã nghe Ippi kể chuyện mấy bức thư. Tớ đã cứ tưởng vì bố tớ mà cậu không trả lời thư. Chang đã viết tên tôi đầy tình cảm. Nếu không viết thư được cho nhau thì biết làm thế nào. Bất cứ khi nào muốn viết thư cho cậu, tớ sẽ viết vào trong vở. Rồi khi nào chúng mình gặp nhau, tớ sẽ đưa cho cậu. Cậu cũng làm như thế là được mà. Đến lễ Trung thu cậu sẽ về nhà chứ, phải không?

Trung thu chúng tôi không thể về nhà. Chị họ mượn được một cái máy ảnh. Chúng tôi sửa soạn đồ ăn cho vào trong hộp thức ăn bằng gỗ rồi cùng chị Hee Jae đi xe buýt đến núi Gwanak để leo núi. Mang theo chiếc máy ảnh đi mượn, chị họ phấn khích không để đâu cho hết. Dường như chị họ đã ngỡ chị Hee Jae và tôi là những con chim trong rừng cây. Tách, dưới cây phong lá đỏ, tách, trên tảng đá, tách, quay người lại nào, ngồi xuống nào. Không, cậu thì đứng yên đấy... Nắm tay nhau nào. Tự nhiên hơn chút đi... Hee Jae à, cười lên xem nào! Sau khi tưởng chúng tôi là chim mà chụp ảnh lia lịa, lúc cả ba đang ngồi ăn trưa trên đỉnh núi chị họ hét lên.

“Cái gì thế này!”

Tôi, mười tám tuổi, giật thót mình bật dậy bởi tiếng hét của chị họ. Như khi nghe ai đó la, Rắn kìa! Bật người dậy xong tôi mới hỏi.

“Chị sao thế?”

“Chị chưa cho phim vào. Máy ảnh trống trơn!”

“... Cái gì?”

Chị họ nhét cuộn phim vào và chúng tôi lại chụp ảnh lần nữa. Thế nhưng rốt cuộc vẫn không rửa được một tấm nào. Chị họ quay trở về từ hiệu ảnh, rầu rĩ.

“Họ nói phim bị hở sáng.”

“Hở sáng?”

... Chúng tôi đã nuốt ánh sáng và biến mất.

Một ngày mùa thu ẩm ướt. Tôi nhớ đến bệnh viện Trái tim Cực Thánh Gangnam ở Daerim-dong. Lần đầu tiên, tôi đến một nhà tang lễ ở bệnh viện. Choi Yang Nim, nhân viên Công ty Điện tủ Kumho, mỉm cười trong bức ảnh được đóng khung gắn hoa. Khí cácbon điôxít từ than bánh. Mẹ cô từ dưới quê lên, da đen nhẻm, thẫn thờ nhìn Choi Yang Nim. Em gái nhỏ ngả đầu vào lòng mẹ say ngủ. Mi Seo, lớp trưởng lớp chúng tôi, đặt trước mặt mẹ Choi Yang Nim món tiền phúng viếng cả lớp đã gom góp lại.

“Có ba đứa ngủ trong căn phòng đó, sao lại chỉ có mình Yang Nim chết chứ.”

Em gái Choi Yang Nim đang nằm ngủ trong lòng người mẹ da đen nhẻm từ từ mở mắt.

“Là thật ư... Hay chỉ là mơ thôi?”

Người mẹ da đen nhẻm nghẹn ngào đến độ nước mắt chẳng thể trào ra. Bà chỉ có thể ngồi đó thẫn thờ, vừa dán mắt vào cô con gái sớm lìa đời vừa lẩm bẩm một mình. Bà bảo, hồi về nhà dịp Trung thu tay nó bật móng và sưng tấy hết cả, chết đi với đôi bàn tay ấy, bước trên con đường xa xăm nó sẽ đau đớn nhường nào đây.

Chị Hee Jae làm tóc xoăn. Chị chẳng bao giờ mặc đồng phục nữa. Thay vì đôi giày học sinh đế bệt, giờ chị đi đôi giày cao gót màu đỏ tía bấy lâu nay vẫn được để trên giá trong bếp như một biểu tượng. Giờ đến lượt đôi giày học sinh được đặt lên giá như một biểu tượng. Chị đã đổi khác rồi. Thay vì bộ đồng phục cổ trắng, chị mặc chiếc áo cánh cúc cài kín cổ cắm thùng trong chân váy kẻ ca rô. Mỗi lần gió thổi, chân váy kẻ ca rô của chị lại bay bay trong gió. Thỉnh thoảng, tôi lại nhìn thấy chị khoác một chiếc túi xách mỏng manh trên vai thay cho cái cặp sách màu tía. Bóng lưng chị rẽ ở cuối ngõ, mũi giày chị bước xuống những bậc thang phía bên kia cầu vượt, thân hình nhỏ nhắn của chị vội vã lẩn khuất trong chợ.

Anh cả lại hỏi liệu có phải chị Hee Jae làm việc ở quán rượu không. Tôi, mười tám tuổi, ngẩng phắt lên như thể vừa nghe thấy một điều không tưởng, kiên quyết phủ nhận.

“Không, em đã bảo không phải rồi mà.”

Có lẽ nghe giọng tôi như sắp khóc đến nơi, anh cả vừa nhìn tôi nghi hoặc vừa vội vàng tìm cách kết thúc câu chuyện, Thế tại sao đến sáng cô ấy mới về nhà? Anh còn từng thấy có người đàn ông nào đó rời khỏi phòng cô ấy lúc sớm tinh mơ đấy.

“Đàn ông...?”

Thấy tôi, mười tám tuổi, đáp ngược lại bằng một câu hỏi, anh cả như liền nhận ra mình vừa nói điều không nên nói, anh chữa, Có lẽ là em trai cô ấy chăng? rồi ngậm miệng.

Tôi cũng nhìn thấy người đàn ông đó rời khỏi phòng chị Hee Jae. Anh ta bước ra khỏi cổng, đầu cúi gằm xuống thấp đến nỗi mũi cơ hồ chạm đất. Trên má anh ta có một vết chàm màu xanh giống y như vết trên lưng chị Hee Jae nhưng to cỡ lòng bàn tay. Vết chàm? Tôi đã nhìn thấy nó ở đâu rồi nhỉ? Hiệu may Jin Hee. A, là anh ta. Người thợ may làm việc bên cạnh chị Hee Jae khi tôi đến vay tiền. Người đàn ông bước đi với hai bàn tay thọc sâu vào trong túi quần, miên man suy nghĩ đến độ suýt nữa đập mũi vào cột điện thoại và cuối cùng cũng rời khỏi con ngõ dài.

Chị họ tuyên bố với anh cả.

“Em sẽ thuê một phòng ở Yongsan.”

Anh cả, vẫn đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, im lặng không trả lời. Dù gì em cũng không thể sống với gia đình anh mãi được, chị họ nói. Chị cũng nói thêm, rằng em gái chị sắp học xong cấp hai và ngay khi kỳ nghỉ đông bắt đầu chị sẽ đón nó lên Seoul sống cùng. Rằng một người quen ở Văn phòng Quận đã hứa tìm cho em gái chị một công việc, và rằng chị sẽ cố gắng cho nó đi học ở một trường dạy nghề thương mại.

Mambo. Một đêm đông, điệu nhảy mambo của chúng tôi. Thứ Bảy, chúng tôi từ trường về nhà thì thấy phòng chị Hee Jae sáng đèn. Chị họ, cặp sách vẫn nguyên trên tay, bước thẳng vào phòng chị ấy.

“Mai tớ sẽ chuyển nhà.”

Chị Hee Jae, đang dở tay giặt quần áo, mở to mắt nhìn tôi. Chị đang dò hỏi liệu tôi có chuyển đi cùng không.

“Em không chuyển. Chỉ có mình chị ấy thôi.”

“Chúng ta phải tổ chức tiệc chia tay mới được.”

Chúng tôi hẹn ba mươi phút nữa sẽ gặp nhau trên sân thượng. Chị họ và tôi thay quần áo, rửa ráy rồi bảo anh cả rằng chúng tôi sẽ tổ chức tiệc chia tay chị Hee Jae, sau đó chúng tôi lên sân thượng, phấn khích cười vang. Chị Hee Jae đã trải sẵn một cái chiếu từ bao giờ. Trên bàn còn thắp cả nến và có một cái đĩa đựng bánh gạo xào cay. Chị Hee Jae bảo chúng tôi đợi rồi xuống dưới lấy cái đài cassetre của chị lên. Khi chị ấn nút cho chạy băng, bản “La Cumparsita” vang lên.

Pampampampam Pam Pam Pam Pampampam... Pararara a...

Đang ăn bánh gạo, chị họ đứng dậy ép hai cánh tay sát sườn rồi vung ra, siết chặt nắm đấm, vừa đùa cợt hát pampampam vừa đi xuống dưới cầu thang. Chị đi đâu thế? Chị họ nhún nhảy xa dần. Khi quay lại, chị lôi từ trong túi áo ra một chai soju đầy nguyên.

“Anh cả phát hiện ra thì sao?”

“Đã bảo là tiệc chia tay rồi mà.”

Chất lỏng rẻ tiền đầy uy lực chẳng mấy chốc đã khiến chúng tôi sực nức mùi rượu. Chị Hee Jae đưa cho chị họ một túi giấy.

“Gì thế?”

“Quà chia tay.”

Bên trong túi là một cái quần jean.

“Thử mặc xem, sẽ vừa in đấy.”

Chị họ, từ trước đến nay vẫn luôn có phần không hài lòng về chị Hee Jae, lặng im giữa những tiếng pampampam. Ánh nến lập lòe rồi tắt hẳn. Sân thượng vẫn sáng.

“Trăng mọc kìa!”

Vầng trăng tròn vành vạnh treo giữa đám ống khói nhà máy. Có phải ở nhà máy kia người ta đang làm ca đêm không nhỉ? Những cửa sổ ở Trung tâm Bao bì và Thiết kế vẫn sáng đèn. Một đoàn tàu xình xịch chạy qua. Chuyến xe buýt số 118 cuối cùng trong ngày rời trạm cuối. Dưới ánh trăng, chị họ mặc thử chiếc quần jean, món quà chia tay của chị Hee Jae. Chiếc quần vừa như in.

“Là tớ may đấy.”

“Để tặng tớ ư?”

“Cũng không hẳn là cho cậu...”

“Vậy thì cho ai?”

“Em tớ ở quê cũng cùng cỡ với cậu.”

“Nhưng em cậu là em trai cơ mà?”

“Quần jean thì trai hay gái mặc chẳng như nhau. Mà nó còn là kiểu quần disco ống thụng nữa.”

“Cho tớ rồi thì em cậu mặc bằng gì?”

Chị Hee Jae cười mơ hồ.

“Lại may nữa là được mà.”

Chị họ, chị họ rạng rỡ, bất cứ khi nào nghe thấy tiếng nhạc, kể cả lúc đang lau sàn, cũng nghiêng nghiêng đầu lắc lư theo, giờ lại đang bắt đầu phiêu theo điệu pam pam pam trong chiếc quần jean mới. Dưới ánh trăng, trên tấm chiếu, những chuyển động của chị họ rung rinh như bóng lá.

“Cậu cũng nhảy đi.”

Chị Hee Jae miễn cưỡng đứng dậy và tôi bị kéo theo cùng chị. Như những con cua biển lầm đường mắc cạn, chúng tôi bước ngang từng bước, pam pam pam - chị họ với những cử chỉ đáng yêu; chị Hee Jae, cứng nhắc và vụng về, mỉm cười dịu dàng. Vầng trăng treo lơ lửng giữa bầu trời, trên những ống khói cao của Trung tâm Bao bì và Thiết kế. Vầng trăng treo trên ống khói đang hút luồng khói đen sì. Vầng trăng ngả đen. Chị họ, người đầu tiên ra nhảy, cũng là người bật ra tiếng thở mệt lả và ngồi xuống chiếu trước nhất. Tôi ngồi cạnh chị. Chị Hee Jae ngồi cạnh tôi. Làn gió đêm lau sạch mồ hôi trên trán chúng tôi. Có lẽ là do trời lạnh. Chúng tôi ngồi lại gần nhau, tay tựa lên vai nhau như thể ôm nhau vào lòng. Chúng tôi ngồi như thế một lúc lâu. Trong lúc chúng tôi ngồi vai kề vai, những bánh xe thép của chuyến tàu cuối ngày xình xịch lăn qua ngang tầm đầu chúng tôi. Vầng trăng đen treo trên ống khói Trung tâm Bao bì và Thiết kế ló khuôn mặt trong ngần ra. Bóng trăng đóng băng... tràn đầy trên mặt sóng... hòn đảo nhỏ nơi những cơn sóng lớn đổ về vào mùa đông... Hãy thử nghĩ đến tình yêu đẹp đẽ thiêng liêng bên trong trái tim người gác hải đăng xem... Chúng tôi là ba vầng trăng. Hơi ấm cuộn trào, như thể khi cất tiếng hát, chúng tôi đã cùng chia sẻ một điều gì đó trong trái tim mình.

Mùa đông đó, sau khi nhảy điệu mambo ở sân thượng phía trên căn phòng hiu quạnh của chúng tôi, chị họ rời con ngõ nhỏ. Như một chú chim di trú. Để làm người chị cả đối với cô em gái của mình, giống như anh cả đối với tôi.

Tôi, mười tám tuổi, đến thăm căn phòng chị họ thuê ở Yongsan. Samgakji. Một con ngõ dài hun hút. Những ngôi nhà túm tụm sát sạt bên nhau. Những túi rác đông cứng trong gió lạnh. Một cánh cửa ngách được trổ giữa hai bức tường, ổ khóa phơi ra; từ cánh cửa nhà bên, một người phụ nữ lao ra, tóc nhuộm vàng hoe, môi tô son đỏ, váy da màu đen, chân đi đôi bốt da. Một người đàn ông da đen mắt to và sáng bước ra sau cô ta, lưng gù xuống. Hai người họ bám lấy nhau đi bộ xuôi con ngõ lạnh căm căm. Gió lạnh buốt nhưng hai bắp chân người phụ nữ trần trùi trụi.

“Vào đi!”

Tôi, mười tám tuổi, buột miệng kêu lên khi vừa bước vào trong phòng chị họ.

“Chị không đốt than à?”

“Đợi lạnh hơn chút nữa...”

Chị họ hai mươi tuổi đột nhiên trở nên già sọm. Chị mang vẻ mặt “giờ đây chẳng có chuyện gì trên thế giới này có thể khiến mình ngạc nhiên được nữa”. Lại một căn phòng hiu quạnh, hun hút. Hai bàn chân tôi tê tái.

Người đàn ông đã tắm Gwangju trong biển máu và nhân danh thanh lọc xã hội đẩy cả đất nước này chìm trong nỗi sợ hãi rất thích tiến hành những chuyến tuần tra đêm. Ông ta không thích nhắn tin báo trước. Ông ta đột ngột bước vào một đồn cảnh sát ở Incheon, hoặc bất thình lình xuất hiện ở Tòa thị chính Seoul trong bộ thường phục. Khi ông ta xuất hiện, những người đang làm nhiệm vụ đều hồn phi phách tán.

Giờ kế toán. Những khuôn mặt tối đen lẻn vào trong hành lang. Cánh cửa cuối phòng học trượt mở. Người bước vào giữa lúc cả lớp đang học ấy không phải Ha Kye Sook mà là Tổng thống. Không giống Ha Kye Sook, ông ta không tỏ vẻ thận trọng, cũng không có ý xin thứ lỗi. Khuôn mặt thầy giáo đang đứng trước bảng đen, viết bài giảng về hệ thống bút toán kép trở nên xanh mét. Vầng trán rộng của Tổng thống bóng loáng dưới ánh đèn huỳnh quang. Vợ ông ta đứng bên cạnh. Có phải trợ lý không nhỉ? Cái người đàn ông gầy nhom mặc com lê đen có đôi mắt sáng quắc đứng ngay sau Tổng thống và vợ ông ta. Khi Tổng thống vuốt tóc Ahn Hyang Sook, bạn cùng bàn thuận tay trái của tôi, chợt có cái gì đó lóe lên. Máy ảnh. Tôi vội vàng chúc đầu xuống. Máy ảnh lách tách chụp cảnh vợ Tổng thống cầm cuốn vở của tôi lên mở ra. Trái tim tôi hẫng mất một nhịp. Ngoài bìa viết Vở Kế toán, nhưng bên trong, ngay từ trang đầu tiên đã chẳng có ghi chép kế toán nào hết, chỉ đầy ắp các bức thư tôi viết cho Chang, các bài thơ và các trích đoạn chép từ các tạp chí như Samtoh. May thay, bà ấy đã đặt trả lại cuốn vở lên bàn tôi rồi bám theo chồng, đang bước dọc lối đi giữa các dãy bàn. Người đàn ông mặc com lê đen đi cuối cùng cầm trên tay một đôi giày. Sau khi họ đã rời đi qua cánh cửa phía đầu phòng học, thầy giáo Kế toán bước đến chỗ tôi. Thầy mở cuốn vở của tôi ra. Tim tôi đập mạnh hơn cả khi Đệ nhất Phu nhân mở nó ra. Vì bên trong chẳng có gì liên quan đến kế toán cả, bút toán đơn không hạch toán kép cũng không. Thầy giáo điếng cả người, lật qua một lượt hết trang này đến trang kia rồi hỏi tôi đây có phải cuốn vở Đệ nhất Phu nhân đã xem không. Tôi, mười tám tuổi, không tài nào trả lời.

“Có phải cuốn vở này không, thầy đang hỏi em đấy.”

“Vâng.”

Thầy giáo nghiêng đầu.

“Vậy sao bà ấy lại không nói gì cả nhỉ, lẽ nào bà ấy cầm lên chỉ để chụp ảnh thôi?”

Sau khi lật qua lật lại các trang vở một hồi, thầy giáo đặt cuốn vở xuống rồi đi lên. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm tự động bật ra khỏi môi tôi. Tiếp theo Đệ nhất Phu nhân và thầy giáo Kế toán, lần này đến lượt Ahn Hyang Sook thuận tay trái mở cuốn vở ra.

Rắn hoa

Con đường khuất sau □□□□

Con rắn xinh đẹp...

Đã sinh ra từ nỗi u sầu lớn nhường nào, mà sở hữu một thân hình ghê sợ nhường kia.

Y như một dải vải hoa.

Cái lưỡi của □□ ông cha ngươi từng dùng để dụ dỗ Eve mất hết mọi âm thanh, thè ra đỏ lòm

Bầu trời xanh... Cắn xé đi. Cắn xé thật giận dữ đắng cay,

Trốn chạy. Kẻ ngu ngốc!

Ném hòn đá, ném hòn đá, con đường của □□ □□ □□

Ta đuổi theo kẻ đó

Không phải vì vợ của ông cha chúng ta là Eve

Hơi thở nặng nhọc... như thể uống dầu... như thể uống dầu

Quấn quanh sợi chỉ. Ánh sáng đẹp hơn cả dải vải hoa...

Đôi môi đẹp đẽ đỏ tươi đốt cháy con cừu uống máu...

Ngấm vào! Rắn.

Trinh nữ hai mươi tuổi Sun Ne, đôi môi đẹp đẽ như mèo... Ngấm vào! Rắn.

Ahn Hyang Sook trợn mắt nhìn cuốn vở, nhìn tôi.

“Cậu viết đấy à?”

“Không.”

“Vậy là ai?”

“Seo Jung Joo.”

“Tác giả bài ‘Bên hoa cúc’ hả?”

“Ừ.”

Ahn Hyang Sook lại nhìn cuốn vở lần nữa, rồi hỏi tôi bốn ô vuông trống sau cụm “con đường khuất sau” là gì.

“Đó là các chữ Hán, khó viết quá nên tớ cứ để trống đấy thôi.”

Thế à, Ahn Hyang Sook nói, như thể chẳng có gì quan trọng.

“Rắn hoa là gì?”

“Tớ không biết.”

“Không biết sao còn chép lại làm gì?”

“Vì tớ thích.” .

“Cậu có biết bài thơ viết về cái gì không?”

“Không biết.”

“Không biết nhưng mà vẫn thích?”

Ahn Hyang Sook thuận tay trái lại trợn mắt nhìn tôi sửng sốt.

Liệu có phải tôi cũng như thế không? Như Mi Seo dọc Hegel, liệu có phải rằng, chỉ khi tôi đọc những tác giả như Proust hay Seo Jung Joo, như Kim Yoo Jung hay Na Do Hyang, Jang Yong Hak hay Son Chang Seop hay Francis Jammes, chỉ khi chép lại những câu từ huy hoàng của họ vào trong góc cuốn vở kế toán của mình, dù thậm chí chẳng hiểu chúng có nghĩa gì, tôi mới tin rằng tôi khác biệt so với những khuôn mặt khác trong lớp học? Liệu có thể nào tôi đã tin rằng, những cuốn sách, nhất là tiểu thuyết và thơ, sẽ đưa tôi thoát ra khỏi con ngõ kia?

Tôi ngã khỏi giường trong giấc ngủ trưa dài. Lúc tôi leo trở lại giường, ánh nắng mùa xuân từ ngoài cửa sổ làm mắt tôi nhức nhối. Trên núi, những chỗ đỗ quyên tàn úa giờ đã phủ màu xanh mướt. Xa xa, hoa anh đào trắng phau. Màu xanh lục đã chườm lên những nơi hoa tàn héo, nhưng quét qua chân tôi lại là nỗi muộn phiền u ám. Hồi đó sao chúng tôi lại nghèo đến thế chứ. Sao chúng tôi lại có ít tiền đến thế chứ. Sao có thể ít đến như thế được nhỉ? Dường như có tiếng hét phát ra từ tấm gương ngay cạnh giường tôi. Cô có chắc chắn cô nhớ chính xác không đấy? Làm sao có thể như thế được? Tôi không tin. Đừng có trút giận lên tôi. Chính tôi cũng không thể tin nổi. Tôi gọi điện cho J mà chẳng vì lý do gì.

“Viết xong rồi à?”

“... Phải.”

“Làm bánh kếp lá hẹ cho tớ nhé?”

“Không.”

“Hấp ghẹ đốm cho tớ nhé?”

“Không.”

“Vậy ra ngoài ăn đi.”

“Không.”

Im lặng. Sượng sùng, J chuyển sang giọng hồ hởi.

“Này! Dù gì thì cũng gặp nhau ở đâu đó đi!”

“Không!”

“Vậy cậu gọi làm gì?”

“Để nói với cậu điều này.”

“Nói với tớ cái gì?”

“Nói với cậu là không!”

J sưng sưng sỉa sỉa ở đầu dây bên kia.

Tôi bật ti vi. A... o... ư... Những khẩu âm dường như có ở khắp các căn phòng trên thế giới này. Tóc tết và búi kiểu xưa, nhẫn ngọc, ruy băng thắt nút trên chiếc áo cánh truyền thống. Kim So Hee, tầm mười năm về trước, đứng ở chính giữa, hát “Bonghwa Arirang” cùng các học trò của bà. Arirang, arirang, arariyo, arirang, tôi vượt đèo. Mang hành trang trên lưng, arirang, tôi vượt đèo.

Hai ngày trước, một lễ tang trọng thể đã được tổ chức vinh danh bà tại công viên Maronnier ở Dongsung-dong. Băng qua con đèo này. Giờ hẳn bà đã đi được mấy phần trên con đường đến với thế giới bên kia rồi. Nhưng ngay lúc này, ở thế giới bên này, bà đang ở trên ti vi, hiện trên màn hình tĩnh, đôi mắt bi ai nhòe nước khẽ nhướng lên. Tôi vượt đèo núi Gaepung, siết chặt trái tim đớn đau, bi thương. Arirang, arirang, arariyo, arirang, tôi vượt đèo. Tôi chỉ tình cờ bật ti vi, nhưng đã bị hút theo tiếng hát mà ngồi xuống trước màn hình. Ahn Sook Sun, Shin Young Hee và các học trò khác đang chia sẻ ký ức của họ về bà hồi còn sống với người dẫn chương trình. A, vậy ra đó là Ahn Sook Sun. Đôi mắt nhòa lệ. Những người đang sống đều sống dựa vào cái chết. Có lẽ Ahn Sook Sun cũng thế. Bà cũng sống dựa vào cái chết của Kim So Hee và đang làm cho cuộc đời của người quá cố thêm trọn vẹn.

Màn hình lại bám theo con đường đời của Kim So Hee. Bà đang ngồi trong một studio. Gầy gò, nhợt nhạt nhưng ăn vận thanh lịch. Tôi đang thu âm, nhưng tôi không hài lòng với công việc của mình. Nếu sức khỏe của tôi được cải thiện, tôi sẽ tiếp tục cố gắng, nhưng tôi đã già quá rồi... Dù muốn cố thêm nữa nhưng mọi chuyện không thực theo ý tôi mong muốn. Chiếc áo cánh bằng vải gai của bà, dầu dưỡng tóc hoa trà trên tóc bà. Ca sĩ cần phải có phong cách. Tất cả mọi thứ ở người ca sĩ đều phải làm toát lên phong cách, thậm chí cả cách bước chân lên sân khấu. Có vậy âm thanh mới đi theo. Ca sĩ thời nay khi bước lên sân khấu, trước nhất đều nhìn xem có bao nhiêu khán giả đến, nhưng người ca sĩ phải luôn luôn nghĩ rằng, ở đây chỉ có người đánh trống và ta, chỉ hai người chúng ta thôi.

Trong đêm xuân tĩnh lặng, tôi với tay vặn to âm lượng ti vi.

Chim bay vào. Mọi loài chim trên thế gian này bay vào. Phượng hoàng, vua của chim muông, loài chim báo hiệu mùa màng bội thu ở Vĩnh Thọ Môn. Hằng hà sa số chim bay vào theo đôi đáp lại bài ca, chếnh choáng mùa xuân. Vẹt hay nói, sếu cổ đỏ vũ công duyên dáng, chim gáy giọng du dương... Tiếng hát phải thoát ra từ cơ thể và tâm hồn ta, sẽ chẳng thể gọi đó là tiếng hát nếu ta chỉ bập bập đầu môi, như thế không phải là hát. Tiếng hát, trước hết, phải bắt nguồn từ trái tim, rồi vang vọng qua khắp ruột, cuộn xoáy bên trong bụng, phải chịu đựng và khuất phục được điều này thì người ta mới hát được một cách đích thực.

Dẫu có bày ra trước mắt hàng chục hạt thóc, con chim chìa vôi có vẻ nhất quyết nhịn đói, thân hình lảo đảo bên này, đuôi run rẩy lắc lư bên kia, bị bắn hạ ngã lăn lông lốc, con chim chìa vôi lảo đảo lượn từ trái sang phải, kêu thảm thiết, con chim bồ câu bay vào trong vườn, này cậu chàng kia, đến đây tung ra ít đậu đi. Tiếng hát phải thoát ra từ cơ thể và tâm hồn ta, sẽ chẳng thể gọi đó là tiếng hát nếu ta chỉ bập bập đầu môi, như thế không phải là hát... Lời lẽ của bà xa xăm, rồi gần lại, xa xăm rồi lại gần lại. Khi bà bước ra khỏi màn hình và lặng lẽ lẻn vào trong trái tim tôi, mái tóc bà trơn bóng dầu hoa trà và trên đầu bà đội một cái bình gốm, con cò quăm bật ra một tiếng kêu, con cò quăm bật ra một tiếng kêu... Làm giật mình thức tỉnh tâm hồn người ta, làm giật mình thức tỉnh tinh thần người ta.

ười dịch: Huyền Vũ —★— CÔ GÁI VIẾT NỖI CÔ ĐƠN ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: NXB Hà Nội 06/2016
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.