Hồn tôi giảng giải cho tôi, chỉ cho tôi thấy
rằng tôi không cao hơn người lùn cũng chẳng thấp hơn kẻ cao lớn, rằng tôi cũng được tạo ra từ chính các yếu tố làm nên tất cả những con người khác.
- Kahlil Gibran
Tôi từ đảo về nhà đã được hơn một tháng. Khi tôi trở về thành phố này, trở về ngôi nhà trống vắng của mình và mở cửa sổ, trên đỉnh núi xa xa lá cây đã bắt đầu đổ vàng. Tôi bật đài theo thói quen. Dò dẫm chỉnh tiếng rè rè sang một kênh FM đang phát, tổ khúc Hành trình mùa đông của Schubert vang lên, dù khắp thế gian đang khoác áo mùa thu. Bên cái giếng trước cửa thành, sừng sững một cây bồ đề. Dưới bóng râm bồ đề, tôi đã gặp giấc mơ ngọt ngào. Tôi vừa lắng nghe bài hát vừa lau chùi khung cửa sổ bụi bặm và thay bóng đèn tủ lạnh đã bị đứt dây tóc. Trên cành cây bồ đề, tôi đã khắc thông điệp hy vọng. Cả khi vui thú lẫn khi muộn sầu tôi đều tìm đến dưới bóng cây. Cả đêm nay tôi cũng đi qua dưới tán cây bồ đề. Cành cây xào xạc như cất tiếng gọi: Người hỡi, hãy đến đây tìm bình yên. Tôi cắm dây điện thoại, gội đầu và thoa kem dưỡng lên mặt. Tôi đem cái hộp nằm trước cửa nhà đựng một chồng thư từ đã được cô hàng xóm nhận hộ vào, đặt lên cái bàn nhỏ ngoài ban công rồi ngồi lọc. Thư, bưu thiếp và hóa đơn rơi xuống khỏi chồng. Trong số đó, có một nét chữ quen thuộc viết bằng bút mực. Chữ viết tay của một cô gái tên Kim Mi Jin, người từ mùa xuân trước vẫn thỉnh thoảng viết thư cho tôi. Tôi nhận ra chữ viết tay của cô là vì các bức thư của cô đều được viết bằng bút ngòi sắt nhúng vào trong mực, việc khá hiếm thời nay. Lấy kéo mở phong bì, tôi lôi bức thư ra, đọc thư mà thất thần ngây dại. Cô viết rằng cô sắp tự kết liễu sinh mạng của mình. Rằng cô viết bức thư này tại văn phòng làm việc; rằng lúc đó là chín giờ tối; rằng viết thư xong cô sẽ thả nó vào hòm thư, sau đó quay trở lại văn phòng và tự tử.
Như vậy, bức thư cô gửi cho tôi chính là ghi chép cuối cùng của cô trên trần thế.
Tôi kiểm tra ngày tháng trên dấu bưu điện. 19 tháng Chín. Bức thư đã được gửi từ một tháng trước. Suốt thời gian qua, các bức thư tôi nhận được từ cô, bức nào cũng như bức nào, đều u ám và ngập tràn tuyệt vọng. Nhưng vì cô không viết gì về nguyên nhân khiến cô tuyệt vọng, nên tôi đã chẳng thể làm gì được cho cô. Lần này cũng thế. Cô nói cô sẽ tự tử, nhưng chẳng đả động gì tới lý do muốn tự kết liễu mạng sống của mình. Cả lý do gửi thư tuyệt mệnh của mình cho tôi, cô cũng không nhắc đến. Ngủ một đêm thức dậy, lá đã đổ vàng xuống dưới thêm một chút, ngủ thêm một đêm nữa, lá lại đổ vàng xuống dưới thêm một chút nữa. Một tháng trời đã trôi qua như thế. Đến khi lá đổ vàng xuống tận chân núi thì lá trên đỉnh núi bắt đầu rụng. Chỉ cần một cơn gió thoảng cũng khiến những chiếc lá đã thay màu rơi lả tả. Tôi bỏ tấm khăn trải bàn bằng ren dùng cho mùa hè trên chiếc bàn ngoài ban công thay bằng tấm khăn trải sợi gai màu xanh lục cho mùa đông.
Thỉnh thoảng, khi ngồi trên chuyến xe buýt muộn về nhà hay khi đi bộ xuôi một con ngõ, tôi lại nghĩ về cô. Cô ấy liệu đã chết thật chưa?
Năm 1979. Cơ thể tôi nhớ đến năm đó qua ký ức đượm mùi vị soju. Qua thứ mùi nhức nhối của thứ rượu hóa học trôi xuống cổ họng.
Cô Lee nói với chị họ.
“Cô nên cảnh giác thì hơn.”
“...”
“Giám sát sản xuất đang để mắt đến cô đấy.”
“...”
“Cô có biết lão này một khi đã để mắt đến ai là sẽ bám dai như đỉa không? Rồi nếu không đạt được mục đích, lão sẽ giở đủ trò hành hạ. Lão ta là kiểu người như thế đấy.”
“...?”
“Lão điên, ít nhất lão cũng có mắt nhìn người đấy.”
“...?”
Rồi đến một hôm. Theo lời cô Lee thì người mà quản lý sản xuất Lee để mắt tới là chị họ, thế mà chẳng hiểu vì sao ông ta lại tặng quà cho tôi. Tôi mở lớp giấy bọc quà ra, thấy một cái hộp. Mở nắp hộp ra, tôi thấy bên trong có một cái bút máy, kèm với một bức thư ngắn. Ông ta viết, Hôm nay không có lịch làm thêm giờ nên đề nghị tôi đến gặp ông ta ở phòng trà Eun Ha cạnh cổng vào khu công nghiệp. Ông ta còn viết vì có chuyện cần nói nên tôi nhất định phải đến. Ông ta còn dặn tôi giữ bí mật với chị họ. Tôi, mười bảy tuổi, hoang mang suốt cả buổi chiều. Khi chị họ hỏi tôi có chuyện gì không ổn, tôi hoặc quay đi hoặc nhìn chằm chằm vào mặt chị họ. Trên đường đi làm về, tôi bước sát sau lưng chị họ. Tôi đi sát sạt chị đến độ chân chúng tôi như chỉ muốn vấp vào nhau. Tôi cứ đi như thế đến tận đầu chợ. Chị họ dừng chân rồi xoay người tôi lại.
“Em làm sao thế hả?”
“Em làm sao chứ?”
“Này!”
Bực mình, chị họ la tướng lên.
“Rốt cuộc là em có chuyện gì hả?”
“Em có chuyện gì chứ?”
“Thế bây giờ em như này là bình thường hả? Bình thường mà sao cứ bám sát chị làm chị không bước đi nổi. Có ai đó đang bám theo em à? Em đang run bần bật kìa. Cả chiều nay em cứ làm sao ấy!”
“...”
“Chuyện gì vậy?”
Chỉ đến lúc đó, tôi mới lôi món quà của giám sát sản xuất Lee ra cho chị họ xem.
“Cái gì đây?”
“Bút máy!”
“Bút máy? Sao giám sát sản xuất Lee lại cho em bút máy chứ?”
“...”
Sau khi đọc bức thư gửi kèm chiếc bút máy của giám sát sản xuất Lee đề nghị tôi đến gặp ông ta ở phòng trà Eun Ha, chị họ ném cả thư và bút vào cái thùng rác đầu chợ.
“Trên đời đúng là lắm thằng điên. Cứ mặc kệ cho lão ta đợi.”
Chị họ bước vài bước, nhưng rồi như thể nghĩ ra điều gì, chị lại quay lại chỗ cái thùng rác, nhặt những thứ mình đã ném vào đó lên.
“Chị có ý này hay hơn.”
“...?”
“Hai ta cùng nhau đi gặp ông ta đi.”
“Em không muốn.”
“Cùng đến đó rồi ăn cho ông ta cháy túi đi.”
“Gì cơ?”
“Bảo ông ta mua trà cho chúng ta uống, đãi cơm chúng ta, đãi cả bia nữa.”
“Thế rồi sao?”
“Còn rồi sao gì nữa? Ông ta sẽ sạt nghiệp chứ sao.”
Chị họ lôi tôi quay ngược lại con đường vừa đi qua. Đã quá giờ hẹn ba mươi phút rồi. Giám sát sản xuất Lee đang ngồi sau một đám khói thuốc dày đặc. Chị họ bảo đến ăn cho ông ta cháy túi, nhưng ngay khi vừa ngồi xuống trước mặt giám sát sản xuất Lee, chị họ liền lôi từ trong túi áo ra cái bút máy và bức thư mà mình đã vứt vào thùng rác rồi lại nhặt lên. Tôi dõi mắt nhìn chị họ, tim đập mạnh.
“Ông có biết nó bao nhiêu tuổi không?”
“...”
“Nó mới mười bảy thôi.”
“...”
“Nó thậm chí còn chưa có kinh đâu.”
Tôi, mười bảy tuổi, giật bắn như không tin vào tai mình.
“Quản lý Lee không có em gái sao? Em tôi không phải người để ông quấy rầy đâu.”
“Tôi coi cô ấy như em gái nhỏ, cô ấy lại đang đi học vất vả nên tôi muốn đãi cô ấy bữa cơm thôi mà. Sao cô Park phải làm ầm ĩ lên như thế chứ?”
“Cơm đã có anh lớn chúng tôi đãi rồi.”
Chị họ cầm tay dẫn tôi rời khỏi phòng trà Eun Ha.
“Nhìn ông ta có vẻ đúng là chỉ muốn đãi cơm thôi mà?”
“Em thật chẳng biết cái gì hết. Lão ta không đạt được mục đích với chị nên giờ mới quay ra giở trò với em đó.”
“Ông ta cũng đã làm thế với chị họ á?”
“Lão ta dĩ nhiên là chẳng tặng chị cái bút máy nào hết rồi. Lão ta chỉ thình lình định cưỡng hôn chị thôi!”
“Khi nào?”
“Khi chúng ta làm việc thêm giờ hôm nọ ấy, còn nhớ lúc cái cô ở phòng hành chính đến bảo giám sát sản xuất Lee muốn gặp chị không?”
“...?”
“Lão khốn.”
“Nhưng sao không kể cho em chuyện đó?”
“Kể thì sao? Chị kể thì em định sẽ làm gì?”
“...”
“Em đừng có để ý gì đến lão ta. Chẳng có cô Choi từng làm việc ở dây chuyền C đấy. Cô ấy bị lão ta làm cho dính bầu xong nghe nói lại còn bị vợ lão túm tóc làm ầm lên một trận đó.”
“Rồi sau đó cô Choi thế nào?”
“Làm sao chị biết được? Thấy bảo cô ấy nộp đơn thôi việc và bỏ đi rồi.”
Trên đường quay trở về, chúng tôi nghe thấy một bài hát vang lên từ một xe bán băng cassette dạo ở con đường sau chợ. Người yêu dấu hỡi, em bỏ anh mà đi thật sao.
“Lão khốn vô sỉ. Muốn đuổi cô Choi thì cứ lẳng lặng mà đuổi chứ. Đằng này lão ta lại buộc tội cô ấy ăn trộm kim.”
“Ăn trộm kim?”
“Thì cô Choi đứng ở vị trí gần nhân viên kiểm soát chất lượng khu Kiểm tra, chịu trách nhiệm lắp kim máy hát và đánh sáp dàn stereo đã qua kiểm tra mà.”
Tôi nhớ lại những chuyển động của cô Choi, cần mẫn đánh bóng dàn stereo đã được lắp ráp xong bằng tấm vải flannel bôi sáp trắng. Cô Choi, với mái tóc rẽ ngôi gọn gàng và được tết thành hai bím.
“Chị họ nghe tất cả những chuyện này từ đâu ra vậy?”
“Chỉ mình em là chẳng biết gì thôi. Chứ ở cái nhà máy này có ai mà lại không biết?”
Chỉ mình tôi là chẳng biết gì ư? Từ con đường sau chợ pha tạp đủ các loại mùi, mùi canh chả cá, mùi bánh kếp, mùi bỏng chiên, bài hát của Lee Myeong Hoon vẫn không ngừng vang vọng. Người yêu dấu hỡi, xin hãy nói cùng anh một điều trước khi đi xa. Rằng em yêu anh, chỉ mình anh thôi.
“Nhưng, cớ sao lại phải nói câu đó chứ?”
“Câu gì?”
“...”
“Rằng em chưa có kinh á?”
“...”
“Vậy là em có rồi hả?”
“Cho dù em có rồi hay chưa thì cũng có liên quan gì đâu. Tại sao lại phải nói ra câu đó với ông ta chứ?”
“Chị có kịp nghĩ được gì đâu. Cứ buột miệng ra thế thôi.”
“Xấu hổ tức chết mất.”
Có vẻ đã quên béng mọi chuyện về giám sát sản xuất Lee, chị họ thọc sâu tay vào trong túi áo và hát theo Lee Myeong Hoon, rồi chị huých vào bên sườn tôi, nói giọng lén lút.
“Mà sao em mãi vẫn chưa có kinh thế nhỉ? Chị đã có từ năm lớp bảy rồi cơ.”
Chị họ hai mươi còn tôi mười bảy tuổi. Một ngày tháng Ba năm 1979, lúc năm giờ chiều, tôi và chị họ, Số 1 và Số 2 thuộc dây chuyền A của công ty Điện tử Dongnam, bắt xe buýt trước nhà máy vượt ra khỏi cổng khu công nghiệp để tới trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo ở Singil-dong. Khi bước qua cánh cổng vào bên trong trường, chúng tôi nhìn thấy một bức tượng đồng màu trắng được đặt ở thảm hoa cuối con dốc, đối diện với sân thể dục. Tôi tiến lại gần ngắm nhìn bức tượng. Đó là bức tượng một thiếu nữ mặc đồng phục mùa hè, mái tóc thẳng cắt ngắn chớm qua tai. Tôi được phân vào lớp 10/4, chị họ vào lớp 10/3.
Chúng tôi đứng xếp hàng ở sân thể dục lúc xế chiều để làm lễ khai giảng. Khi hát quốc ca, bỗng dưng tôi thấy mình trở nên nghiêm trang hẳn. Tôi vuốt ve huy hiệu trường hình hoa tulip trên cổ áo đồng phục mùa đông. Giấc mơ trong suốt một năm qua của tôi là lại một lần nữa được làm học sinh, khoác trên người bộ đồng phục. Hiệu trưởng đứng trên bục phát biểu, nền đằng sau là tòa nhà chính ba tầng cùng những cây tử đinh hương trồng giữa thảm hoa, và nói về tổng thống. Rằng Chương trình Giáo dục Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp này được thành lập là nhờ quan tâm đặc biệt của tổng thống dành cho các chiến binh công nghiệp của chúng ta. Cảm kích trước tấm lòng cao cả sâu sắc ấy... Bài diễn văn của ngài hiệu trưởng già kéo dài lê thê dưới ánh chiều tà. Khi chúng tôi về đến lớp học, giáo viên chủ nhiệm của chúng tôi viết tên mình, Choi Hong Yi, bằng Hán tự lên tấm bảng đen. Cặp kính của thầy sáng lấp lánh dưới ánh đèn huỳnh quang. Trong sổ điểm danh có ghi tên, mã số học sinh và tên công ty của chúng tôi. Sau khi gọi họ tên, mã số học sinh và tên công ty của cả lớp, thầy yên lặng chăm chú nhìn mặt từng người. Điểm danh xong, thầy đăm đăm nhìn xuống chúng tôi, chống hai cánh tay tì người lên bục giảng. Đột nhiên, thầy bảo mọi điều hiệu trưởng nói đều sai hết.
“Người các em cần tỏ lòng biết ơn không phải ngài tổng thống mà là bố mẹ các em.”
Tôi, mười bảy tuổi, từ chỗ ngồi nơi cuối lớp nghểnh cổ, len lén nhìn thầy. Tại sao tôi lại cảm thấy câu nói bất ngờ ấy của thầy như một lớp băng mỏng mong manh? Đôi tai, cánh mũi, đôi mắt rõ nét. Chiều cao trung bình. Dáng người gầy gò. Thầy chỉnh lại cặp kính đang ngự trên chiếc mũi thuôn. Một ngón tay gầy đặt trên gọng kính đen. Thầy lại nói tiếp.
“Các em đã làm việc cả ngày tại nhà máy: chỉ riêng với việc đó thôi các em cũng đã đủ xứng đáng được vào học tại trường này rồi.”
Tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại reo vang từ căn phòng chất đống sách. Đã cùng tôi ngủ thiếp đi lúc bình minh, người cuộn tròn, H mở mắt ra rồi lại nhắm mắt lại. Chị chẳng bao giờ biết đâu. Rằng chị luôn cuộn người lại hoặc nằm sấp mà ngủ. Ngay cả khi đang ngủ, mái tóc dài lượn sóng của chị như vẫn đang kêu lên, Lạnh quá, lạnh quá. Nếu tôi không trả lời, thể nào người gọi cũng sẽ dập máy thôi. Tôi đã rút dây điện thoại trong phòng ngủ, vậy nên nếu muốn trả lời, tôi sẽ phải mở cửa đi sang tận phòng làm việc. Tôi kéo chăn lên đắp cho H và cũng co người lại nằm ở tư thế y như chị. Chuông vẫn kêu dai dẳng.
“Ai lại gọi vào cái giờ này cơ chứ?”
Duỗi cơ thể đang co tròn như con tôm chuyển sang tư thế sấp, H đẩy tôi ra. Hành động như thể nài nỉ tôi hãy làm gì để xử lý cái âm thanh kia đi. Trong lúc cố gắng nhấc người dậy kéo nắm đấm cửa, mặt tôi va vào khuôn mặt của Simone de Beauvoir đang đọc sách trong bức ảnh tôi ghim lên cửa ra vào. Vẫn còn mắt nhắm mắt mở, tôi một tay cầm ống nghe, một tay xoa má.
“Vẫn đang ngủ hả?”
“...?”
“Anh đánh thức em à?”
Là anh cả. Có chuyện gì mà anh lại gọi vào giờ này? Tôi đưa bàn tay đang rảnh bật đèn huỳnh quang và nhìn đồng hồ. Bảy giờ sáng. Sau khi hỏi liệu có phải anh đã đánh thức tôi không, anh cả không nói gì nữa. Gáy tôi lạnh buốt bởi cơn gió rét tháng Mười một lẻn vào qua khe cửa.
“Anh à?”
Im lặng.
“Sao vậy anh? Có chuyện gì à?”
Sự im lặng của anh cả không bình thường chút nào. Có thể là chuyện gì được nhỉ? Đột nhiên, tôi cảm thấy lòng chợt hẫng. Một cuộc điện thoại từ gia đình vào lúc khuya khoắt hay sớm sủa luôn khiến người ta thấy lòng chợt hẫng. Những tin tức mà người nhà buộc phải thông báo cho nhau vào một giờ như thế chắc chắn là tin chẳng lành. Bố ngất chăng?
“Anh à?”
“...?”
“Anh, anh sao thế? Anh đang ở đâu vậy?”
“Ở nhà. Em được lên báo đấy.”
“...?”
“Anh đang đọc báo thì gọi điện cho em.”
Vậy ra bố vẫn ổn. Lấy lại được bình tĩnh rồi tôi đột nhiên ý thức được vấn đề. Anh đọc được gì trên báo đến nỗi giờ này phải gọi điện cho tôi? Vẫn chưa đọc báo nên tôi chẳng thể nói được gì, chỉ yên lặng cầm ống nghe. Trước đây anh cũng đã vài lần gọi điện cho tôi bảo rằng anh đã đọc được ở đâu đó về tôi, nhưng chưa bao giờ anh gọi vào sáng sớm thế này. Giọng anh cũng không hề tràn đầy tự hào như những lần trước đó. Khi cuốn tiểu thuyết thứ hai được xuất bản và tôi bắt đầu được nhiều người biết đến, anh cả lúc nào cũng tươi cười phấn khởi. Anh còn kể rằng cả cái hiệu sách bé xíu dưới văn phòng công ty anh cũng bày bán sách của tôi và thậm chí anh còn tự giới thiệu với chủ hiệu sách mình là anh của tác giả rồi nhờ cô ấy quảng cáo giùm cho cuốn sách. Bảo rằng đồng nghiệp của mình muốn gặp tôi, một Chủ nhật nọ, anh cả dẫn tôi đi leo núi cùng họ, và suốt cả ngày anh không ngừng cười vui rạng rỡ tự hào về tôi. Tôi không khỏi bối rối khi chứng kiến anh cả, gần bốn mươi tuổi, nào chụp ảnh, nào gắp thịt nướng cho tôi, nào nhặt cả chiếc lá rụng trên tóc tôi nữa.
Thật không ngờ tôi lại có thể trở thành niềm tự hào của anh cả như thế.
Tôi cười hùa theo anh cả. Tôi cùng anh chụp ảnh giữa cánh đồng sậy, và khi đồng nghiệp của anh hỏi tôi này nọ, tôi cũng cố gắng hết sức trả lời này nọ. Nhưng giờ, giọng anh cả ở đầu dây bên kia nghe không giống như những khi anh cười vui rạng rỡ.
“Rất chân thực đấy.”
Anh cả vừa dứt lời thì đột ngột từ cái miệng đang há hốc ngạc nhiên của tôi buột ra một câu.
“Anh! Em không biết trên báo viết gì, nhưng không phải em viết thế đâu.”
“Anh có nói gì đâu.”
Nói chuyện với anh cả xong, tôi không dập máy ngay được mà cứ đứng nguyên ở đó mất một lúc, lắng nghe tín hiệu ngắt máy tút tút tút. Không phải tôi viết cái gì? Cái câu buột ra từ miệng tôi không rơi lên anh cả mà lại rơi lên chính tôi. Tôi nói vậy là sao chứ? Tôi không viết cái gì cơ?
Tôi mở cửa ra vào, nhặt tờ báo lên rồi quay trở về phòng. H đã lại ngủ tiếp trong tư thế sấp. Tôi mở tờ báo ra. Sách và sự kiện. Bức ảnh khuôn mặt như bị phù của tôi được in trên trang báo. Cạnh đó là tên tôi được viết bằng chữ cỡ to. Tác giả xuất bản tiểu thuyết tự truyện về những năm tuổi hoa. Vừa đọc bài báo, tôi vừa nơm nớp lo H, lúc này đang ngủ trên giường, sẽ tỉnh dậy. Đọc xong xuôi, tôi giật trang báo có bức ảnh của mình ra, gấp nó lại để chắc chắn rằng H không thể đọc được, rồi dúi xuống gầm giường.
Giờ ăn trưa. Đi cùng tôi từ căng tin xuống, chị họ bảo hôm nay nắng đẹp quá rồi ngồi xuống chiếc ghế băng bên ngoài khu Ti Vi. Trong sân thể thao, các nam công nhân đang chơi đá bóng. Tôi, mười bảy tuổi, đi vào trong dây chuyền lắp ráp để lấy cuốn sách bỏ tại ghế ngồi làm việc. Bóng điện trên các ghế làm việc đều đã tắt, khu lắp ráp tối đen. Cuối dây chuyền C là khu Kiểm tra. Tôi đang nặng nề cất bước thì cánh cửa khu Kiểm tra bật mở và giám sát sản xuất Lee bước ra ngoài. Tôi bước về phía ông ta và ông ta bước về phía tôi. Tôi gật đầu chào ông ta và định lướt qua nhưng ông ta đã gọi, Cô Shin? Đúng lúc tôi quay người lại thì ông ta bước tới gần tôi, rồi ông ta đẩy tôi áp vào tường nhà kho chất đống nhựa xốp đang đóng gói, đưa tay xuống dưới cằm nâng mặt tôi lên.
“Sao? Bút máy còn chưa đủ à? Hở ra là thấy cô viết viết lách lách nên tôi cứ tưởng một cái bút máy là đủ rồi.”
Tôi, mười bảy tuổi, cảm thấy cả người ớn lạnh vì sợ hãi.
“Ông đang làm gì nó thế hả!”
Không biết xuất hiện từ lúc nào, chị họ vớ lấy một khối nhựa xốp đập vào lưng giám sát sản xuất Lee.
“Mày làm gì thế hả?”
Giám sát sản xuất Lee quay lại tát vào má chị họ.
Chỉ vì tôi, mười bảy tuổi, mà chị họ, hai mươi tuổi, đã bị giám sát sản xuất Lee tát má tát tai tới tấp. Chị họ ngồi sụp xuống giữa phòng thay đồ tầng năm và khóc.
“Chị muốn chết.”
Tôi ngồi sát cạnh chị họ, nhìn chằm chằm xuống nền nhà. Tiếng chuông báo giờ làm việc vang lên. Tôi đứng dậy và cởi đồng phục ra.
“Em định làm gì?”
Chị họ, hai gò má sưng vù, ngừng khóc hỏi tôi.
“Em về nhà đây.”
“Về kiểu gì được?”
“Em về đây.”
Giữa trưa, những con đường trong khu công nghiệp chẳng có lấy một bóng người. Chỉ có làn khói đen cuộn lên về phía bầu trời. Tôi lê bước dọc theo bức tường nhà máy. Tôi nhớ Chang. Giá như tôi được gặp cậu ấy thì có lẽ những chuyện vừa rồi cũng sẽ chẳng là gì hết. Tôi đi qua cánh cổng để mở cửa căn nhà có ba mươi bảy phòng, thẳng tiến đến cửa hàng tạp hóa. Lúc tôi nhấc một chai rượu soju ra khỏi giá, chú chủ cửa hàng nhìn tôi chằm chằm.
“Hôm nay không đi làm à?”
“Cháu nghỉ sớm.”
“Sao thế, có ai đến thăm à?”
“Vâng.”
“Ai vậy?”
Tôi chỉ mỉm cười và trả tiền chai rượu.
Tôi, mười bảy tuổi, ngồi xổm ở bếp, mở nắp rót nửa chai rượu soju vào cái bát ăn cơm. Tôi nhắm nghiền mắt, uống một hơi. Một mùi vị buồn nôn bò lên trên cổ họng khiến tôi đổ người quỳ gối xuống sàn nhà. Hơi lạnh từ mặt sàn xi măng thấm vào đầu gối tôi. Tôi, mười bảy tuổi, vẫn quỳ nguyên như thế, vặn vặn cái nắp rồi nhét chai rượu vào trong cái túi, cất vào ngăn chạn dưới cùng.
Chuông điện thoại lại kêu. Ngại phải mở cửa và rời khỏi phòng, tôi cắm dây chiếc điện thoại trong phòng ngủ và nhấc máy. Một giọng phụ nữ xa lạ đề nghị gặp tôi. Khi tôi hỏi cô ta là ai thì cô ta hỏi ngược lại, Là cô đấy à? Giọng nói ấy nhắc tên một tạp chí dành cho phụ nữ và xin được phỏng vấn. Thấy tôi không nói gì, cô ta hỏi lại liệu tôi có phải người cô ta cần tìm không. Thấy tôi không đáp, cô ta nói đã đọc báo sáng nay và muốn phỏng vấn tôi. Tôi nói tôi sắp đi xa. Cô ta hỏi khi nào.
“Tôi đi bây giờ đây. Tôi đang chuẩn bị ra ngoài rồi.”
Cô ta hỏi khi nào tôi trở về.
“Tôi sẽ đi tầm một tháng.”
“Một tháng? Thế thì khó đây.”
Tôi vội vàng kết thúc cuộc trò chuyện.
“Tôi rất tiếc. Tạm biệt.”
Tôi dập máy, bật máy trả lời tự động. H, không biết đã dậy từ bao giờ, giọng khàn khàn hỏi tôi nhận điện của ai mà lại như thế. Chăm chăm nhìn H vẫn đang quấn mình trong chăn một hồi, tôi lôi trang báo đã nhét dưới gầm giường ra và thảy đến trước mặt chị.
“Sau khi đọc xong cái này, một tờ tạp chí phụ nữ đã gọi điện cho em.”
“Cái gì thế?”
“Đọc thử đi.”
Tôi đang ngắm những lọn tóc rơi trên gáy H trong lúc chị đọc báo thì tiếng chuông điện thoại lại vang lên. Xin hãy để lại lời nhắn, tôi sẽ liên lạc lại sau. Tiếng bíp vừa dứt, giọng nói của một phóng viên làm việc cho một tờ tạp chí phụ nữ khác lại vang lên. Tôi muốn xin phỏng vấn. Xin hãy liên lạc lại với tôi theo số điện thoại này. Băng ghi âm vẫn đang chạy đều, tôi bước tới trước điện thoại, tắt tiếng đi.
“Ra là có chuyện gây xôn xao dư luận.”
H bật ra tiếng khúc khích khe khẽ.
“Thực ra em sợ chị đọc được bài báo nên đã giấu nó dưới gầm giường đấy.”
“Tiểu thuyết em viết khá lắm hả?”
“Chuyện đó làm sao em biết được?”
Gấp báo lại ngồi yên một lúc, H hỏi, “Em có biết Hyeong Su không?”
“Ai cơ?”
“Bạn của Gap Tae ấy.”
“Tay họa sĩ ấy hả?”
“Đúng rồi. Nghe nói anh ta bị ung thư dạ dày vừa mới phải phẫu thuật đấy.”
“...”
“Vợ anh ta bị đau dạ dày nên anh ta đưa vợ đi khám, chắc tiện thể họ bảo anh ta khám luôn, kết quả là cô vợ thì khỏe còn chính anh ta lại bị ung thư dạ dày.”
“...”
“Hình như anh ta đã phải cắt bỏ toàn bộ dạ dày đấy.”
Thật hả, tôi nói và liếc nhìn H, vẫn đang ngồi thần người ra đó. Tự nhiên nhắc đến Hyeong Su nào. Tôi bật cười. Tuy câu chuyện chẳng có gì liên quan nhưng trong lúc lắng nghe H nói, lòng tôi đã dịu lại. H lại lên tiếng.
“Tạm thời đừng trả lời điện thoại làm gì. Một nhà văn được nhắc đến không phải vì sách mình viết mà vì chuyện gì đó khác thì không hay ho cho lắm.”
Suốt cả ngày dài, khuôn mặt của chị họ hai mươi tuổi, tôi mười bảy tuổi và những cô gái tham gia Lớp học Đặc biệt dành cho Công nhân Khu Công nghiệp ở trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo năm 1979 không rời khỏi tâm trí tôi. Ngồi phờ phạc dưới ánh đèn huỳnh quang xanh nhợt nhạt vào các buổi tối, gà gật học toán bàn tính, đánh máy, kế toán, tiếng Anh thương mại, những khuôn mặt sưng húp, và chị Hee Jae.
Ở góc con đường bên ngoài ga tàu điện ngầm Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3 mà chúng tôi hay đi từ nhà máy ở Khu Liên hiệp Công nghiệp số 1 về căn phòng hiu quạnh sau giờ làm việc, có một cái chợ. Hằng ngày, trên đường về nhà sau giờ làm, chúng tôi đều tạt qua chợ mua đồ nấu canh, hôm khai giảng, sau khi buổi lễ kết thúc, chúng tôi cũng lại ghé qua chợ. Muốn vậy, chúng tôi phải xuống xe buýt ở trước bến về nhà chúng tôi một bến. Khá phiền phức, nhưng anh cả sẽ không ăn cơm nếu không có canh. Bãi chợ cuối ngày là một chốn tan hoang. Rác rưởi chất đống khắp nơi. Đám túi nylon phất phơ trong gió. Ngoài rìa chợ có một bà cụ ngồi với hai con cá minh thái mắt lồi bụng ỏng được đặt trên cái thùng đựng táo bán.
“Ở nhà có củ cải nhỉ?”
“Ừ.”
“Vậy thì mua cá minh thái đi.”
“Nhìn như có vẻ bị ươn rồi mà?”
“Em thấy vẫn tươi mà.”
Chị họ trả tiền cá minh thái, lấy tiền thừa rồi lưỡng lự một lát. Thế rồi chị cầm tay tôi, vội vã bước đi.
“Sao thế, đi từ từ thôi nào.”
Hụt hơi, tôi va vào lưng chị họ, hét tướng lên. Phải mãi đến khi đã cách xa chỗ bà cụ bán cá rồi những bước chân như chạy của chị họ mới chậm lại. Cái túi nylon đựng cá minh thái hẳn đã bị thủng chỗ nào đó, vì nước từ túi không ngừng nhỏ tong tỏng xuống mặt đất. Chị họ nhặt một cái túi nylon ở dưới đất lên để bọc ngoài cái túi cá bị rách. Rồi chị kéo tay tôi dắt đến dãy hàng quà vặt kéo dài ở con ngõ sau chợ. Cũng đã lâu rồi kể từ lần cuối chúng tôi nhận tiền từ anh cả. Lại sắp đến ngày nhận lương, điều này đồng nghĩa với việc hiện chúng tôi đang sắp cạn tiền.
“Đi về đi. Đợi lúc nào nhận lương rồi hãy ăn.”
Chị họ cười khì.
“Để chị đãi. Coi như kỷ niệm ngày khai giảng.”
Chị họ đặt túi sách xuống cái ghế băng rồi gọi mì ăn liền bánh gạo và miến trộn. Món miến trộn đắt gấp đôi bát mì ăn liền đầy tú hụ. Tôi chọc vào sườn chị họ.
“Sao lại gọi miến trộn hả? Đắt lắm mà.”
Chị họ bảo không sao đâu. Chị hỏi mượn một cái đĩa nữa rồi chia miến trộn ra thành hai phần, sau đó chúng tôi húp nước mì và ăn miến sì sụp. Hai gò má tê lạnh đến căng ra vì cơn gió đêm tháng Ba của chị họ dần mềm lại và ửng hồng. Khi chúng tôi đã ra khỏi chợ và tiến gần đến cầu vượt dẫn về căn phòng hiu quạnh, chị họ thú nhận với tôi.
“Thực ra, lúc nãy mua cá minh thái ấy mà...”
“...?”
“Chị đưa cho bà ấy tờ một nghìn won nhưng hình như bà cụ ấy tưởng chị trả mười nghìn won.”
“...?”
“Đáng lẽ chỉ cần trả lại chị năm trăm won nhưng bà ấy lại đưa cho chị những chín nghìn năm trăm won lận.”
Chị họ vung vẩy cái túi nylon đựng hai con cá minh thái.
“Bà cụ ấy hôm nay lỗ to rồi.”
Chị họ khịt khịt mũi rồi chạy một mạch, bỏ lại tôi đứng trên cầu vượt.
Anh ba, giờ đã là sinh viên luật, chuyển đến sống cùng chúng tôi ở căn phòng hiu quạnh. Một cái bàn và một cái tủ quần áo dựng phía trên đầu, hai cái đệm lót dưới để cả bốn anh em cùng nằm ngủ, thế là căn phòng hiu quạnh của chúng tôi chẳng còn chỗ mà động cựa. Trong căn phòng hiu quạnh ấy, chiếc bàn thấp nhỏ lúc nào cũng bày sẵn mâm cơm. Từ hồi chị họ và tôi bắt đầu đi học buổi tối, bốn chúng tôi chẳng bao giờ ngồi ăn tối cùng nhau được, chỉ trừ Chủ nhật. Trước khi đến trường, chị họ và tôi ăn tối qua loa ở căng tin nhà máy, vậy nên hằng sáng chúng tôi đều nấu sẵn cơm tối cho hai anh. Chúng tôi dọn dẹp thức ăn sáng còn thừa, rửa sạch thìa đũa rồi sắp lại lên bàn, đặt bát ăn cơm bên cạnh thìa đũa, sau đó lấy khăn đậy lên. Chúng tôi ủ cơm trong chăn, để ở chỗ ấm nhất trên sàn nhà sưởi, nhưng chẳng mấy mà cơm lại nguội ngay.
Tan học về đến nhà, hoặc chị họ hoặc tôi sẽ cầm cái gắp than đi tới cửa hàng tạp hóa trong góc ngõ, nơi người ta bán than tổ ong đã mồi lửa với cái giá gấp đôi giá than tươi chưa đốt. Vào những lúc muộn, đứng trước cửa hàng mồi than này luôn là một hàng người dài dằng dặc cầm theo gắp than giống chúng tôi. Nhưng mỗi khi chị họ và tôi đến, chú chủ cửa hàng luôn ưu tiên cho chúng tôi lấy than trước, bỏ qua tất cả những người đang xếp hàng. Nếu có ai phản đối, chú ấy sẽ bảo, Tôi thích thế đấy, rồi lầm bầm nói tiếp.
“Hai đứa giờ mới đi học về, trong phòng phải lạnh lắm ấy chứ. Chúng nó lại chẳng có bố mẹ nào ở đây để sưởi sẵn phòng cho nữa.”
Chú chủ cửa hàng, người đã nói như thế, có một vết sẹo do bị dao rạch ở ngay dưới một bên mắt. Một bên tay chú có hình xăm con rắn. Hễ cứ nhìn thấy vết sẹo hay hình xăm là tôi lại thấy rùng mình sởn gáy, nhưng khi chứng kiến chú nặn những bức tượng gốm hình Đức Mẹ hay các thiên thần nhỏ, tôi lại bị mê hoặc. Quay trở về phòng, trong lúc tôi tuồn viên than đã được mồi sẵn vào lỗ bếp và cho thêm một viên than mới lên trên, chị họ dọn dẹp bát đĩa trên bàn ăn tối và vo gạo cho bữa sáng hôm sau. Chị còn sắp sẵn nguyên liệu nấu canh để sáng hôm sau, khi thức dậy, chúng tôi chỉ cần đun sôi là xong. Sau khi viên than nóng đỏ đã yên vị bên trong bếp lò và nước đã được đổ đầy vào nồi cất, hơi nước sẽ luân chuyển dưới sàn và làm ấm căn phòng. Khi lửa cháy đượm, sàn nhà nóng hừng hực. Nhưng khi lửa tắt thì chẳng khác gì đang ngồi trên nước lạnh, còn lạnh hơn cả phòng thường không sưởi.
Da chị họ chẳng khác gì da gà. Chỉ cần phơi chân ra trước gió lạnh là da chị sẽ nẻ toác ra. Vì thế mà trước khi được đi học chị họ toàn mặc quần dài, nhưng đồng phục của chúng tôi lại là váy ngắn. Giờ phải mặc váy rồi, tối nào chị họ cũng rửa chân thật kỹ rồi bôi kem dưỡng Amore Tamina lên cả hai chân. Trong lúc chờ chị họ rửa chân xong để dùng phòng tắm, tôi, mười bảy tuổi, ngủ thiếp đi mất. Cho dù ai đi ngủ trước cũng vậy, đến sáng chúng tôi luôn thấy anh ba nằm áp vào bên tường kê bàn học; anh cả nằm cạnh anh ba; tôi nằm cạnh anh cả còn chị họ nằm giữa tôi và bức tường đối diện. Thói xấu khi ngủ. Hồi còn ở quê, nằm trong phòng rộng rãi, tôi thường vung tay chân khắp nơi thích ngủ thế nào thì ngủ. Kể từ khi anh ba lên sống cùng chúng tôi, thỉnh thoảng tôi lại đập vào mặt anh cả hay đá vào chân anh. Một đêm nọ, anh cả ngồi bật dậy trong bóng tối. Chắc hẳn tôi đã trở mình rồi chẳng may đập vào mắt anh. Anh cả lấy tay ôm con mắt bị dính đòn và gầm lên.
“Con gái con đứa gì mà ngủ xấu thế hả?”
Sau khi bị mắng, tôi bèn tự kiềm chế bản thân bằng cách vắt một cánh tay lên ngang trán và tay kia lên ngang bụng. Tôi trầy trật cố gắng nằm ngủ yên, thành ra đến lúc thức dậy, tôi thấy mình vẫn nằm nguyên ở tư thế như khi bắt đầu ngủ. Tỉnh dậy vào một sáng sớm nọ, tôi phát hiện ở mắt cá chân có một vết bỏng.
“Hình như sàn nhà làm em bị bỏng rồi.”
Tôi chỉ cho chị họ xem vết rộp.
“Sao em lại bị sàn nhà làm cho bỏng được thế? Chẳng lẽ em không cảm thấy gì à?”
Chị họ hoàn toàn không biết. Rằng đêm đêm tôi đã phải vật lộn thế nào để không trở mình trong giấc ngủ.
Cơ thể vẫn nhớ. Mười sáu năm đã qua và dù bây giờ tôi không còn cần phải nằm im như tượng ngủ nữa, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn ngủ ở tư thế đó, và cứ hôm nào ngủ ở tư thế đó thì y như rằng sáng hôm sau khi thức dậy, người tôi sẽ không xê dịch chút nào.
Mẹ từ quê lên thăm chúng tôi. Mẹ mang theo trong túi áo món tiền kiếm được nhờ bán đàn chó.
“Con chó đó mắn ghê cơ, đẻ hẳn bảy con chó con. Mẹ chăm bẵm đám chó con hai tháng liền cho chúng nó mũm mĩm lên rồi mang ra chợ phiên bán được giá hời đấy.”
Mẹ mang theo món tiền bán chó con ở chợ quê lên chợ thành phố mua nồi cơm điện và một cái phích. Tôi mừng rỡ vô cùng vì từ giờ không còn phải nấu cơm bằng bếp dầu nữa. Khi chuẩn bị lên đường về quê, mẹ răn đe chúng tôi đừng có thân thiết với người chủ hàng tạp hóa.
“Sao lại không ạ? Chú ấy tử tế với bọn con lắm mà.”
“Con không sợ vết sẹo trên mặt ông ta à?”
“Sợ gì chứ ạ. Chú ấy làm những bức tượng bằng thạch cao xinh lắm.”
“Dù gì thì con cũng đừng chuyện trò với ông ta đấy. Ở nơi đất khách, chẳng có gì đáng sợ hơn con người đâu.”
“Nhưng mẹ chẳng bảo là những người biết làm ra đồ đạc bằng đôi tay của mình thì không phải người xấu mà.”
“Mẹ nói thế bao giờ?”
“Mẹ, mẹ nói thế rồi quên luôn sao? Hồi con còn nhỏ ấy. Hồi đấy chẳng có người ăn xin ngủ lại nhà chúng ta mấy đêm liền còn gì. Cái người đã bện rơm đan cho nhà mình cái giỏ đó! Con sợ ông ấy và cứ đòi mẹ đuổi ông ấy đi, nhưng mẹ bảo con rằng, những người biết làm đồ đạc bằng đôi tay của họ là những người đáng tin mà.”
“Nhớ hết cả mấy chuyện linh tinh nữa kia! Chuyện từ đời nảo đời nào rồi chứ hả? Bây giờ con lại lôi chuyện tít từ thời Goryeo ra nói đó ư?”
Mẹ đi rồi, tôi vẫn đứng nhìn cái nồi cơm điện và phích nước không rời mắt. Chỉ cần vo gạo, đong nước rồi cắm điện là có cơm ăn cơ đấy. Bấy lâu nay cứ mỗi tờ mờ sáng dậy châm lửa bếp dầu để nấu cơm, chị họ và tôi lại đau đầu vì mùi dầu hỏa, thế nên giờ chúng tôi thích mê cái nồi cơm điện mẹ mua cho. Và cả cái phích đun rồi ủ nóng nước sôi cho chúng tôi suốt cả ngày dài nữa.
Anh cả tốt nghiệp đại học và chuẩn bị đi nghĩa vụ quân sự. Anh nộp đơn xin tạm nghỉ công việc ở ủy ban phường. Lúc trở về nhà, anh buông ánh mắt chán chường nhìn về phía những cuốn sách Luật Hình sự và Luật Dân sự nằm trên bàn mình. Trước mặt đứa em nhỏ, anh bật ra đúng một tiếng thở dài.
“Giá như có ai đó đỡ cho anh, chỉ cần một năm thôi... tối đa là hai năm, giá như có ai đó gánh đỡ giùm, anh sẽ thử cố hết sức một lần.”
Nhưng chẳng ai gánh cho anh một năm cả... thậm chí chỉ một tháng cũng không. Anh chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc mặc bộ đồng phục rằn ri ngụy trang, đội cái mũ rằn ri ngụy trang và dấn thân vào một năm rưỡi làm lính. Cái dáng cao lớn của anh lấp đầy đôi mắt mười bảy tuổi của tôi. Tại sao tôi vẫn còn nhỏ thế này? Tại sao tôi không phải là chị của anh?
Anh cả đứng đưa mắt nhìn xuống ga tàu điện ngầm, dáng cao lênh khênh của anh che hết cửa sổ. Thỉnh thoảng anh cũng lên sân thượng, đứng khoanh tay, dõi mắt xuống những ống khói của Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3. Anh cả để lại cái bàn còn chất nguyên chồng sách luật cho anh ba rồi ngồi xuống sàn. Anh cả nói với anh ba.
“Anh sẽ làm bất kỳ việc gì có thể để gánh đỡ cho em, vậy nên...”
Anh cả thoáng chốc ngừng lời.
“Vậy nên hãy nhắm mắt bịt tai giả mù giả điếc, chỉ tập trung học hành thôi.”
Anh ba gục đầu xuống, không trả lời. Anh cả nói tiếp.
“Anh biết thời cuộc đang rối ren. Anh cũng biết những ngày này, muốn một sinh viên luật trẻ tuổi cúi đầu im miệng là một việc khó khăn đến mức nào. Nhưng anh nhờ em cả đấy. Đừng suy nghĩ lung tung gì cả... Sau này lớn mạnh rồi thì em muốn làm gì cũng được.”
Thế nhưng, anh ba, mới ngày nào còn bắt chuyến xe buýt đi từ Garibong-dong tới Myeongyoon-dong nhập học năm nhất, giờ đã trở thành một thanh niên biểu tình nòng cốt. Từ bộ đồng phục tập quân sự của anh toát ra mùi khói nồng nặc, đôi mắt anh ngày một thẳm sâu như lòng giếng.
Chị họ của tôi. Chị họ hai mươi tuổi, vốn đã biết trang điểm và biết đích xác mặc quần áo màu nào và dáng nào sẽ làm tôn lên các đường nét của mình, giờ có vẻ gượng gạo khi phải mặc đồng phục và để mặt mộc, không son phấn. Mặc chiếc áo cánh đồng phục cổ tròn thay vì áo khoét cổ chữ V quen thuộc, mỗi sáng chị họ đều đứng trước gương, tay cầm thỏi son lâu nay đã quen đánh. Nhìn chị có vẻ muốn tô son lắm. Chị họ lưỡng lự, rồi đậy nắp lại và thả thỏi son vào trong túi áo.
Năm giờ chiều của những tháng ngày năm 1979. Tôi từng rất yêu thời điểm năm giờ chiều ấy. Vì đến năm giờ, tôi có thể rời khỏi vị trí ở băng chuyền. Vì đến năm giờ, chúng tôi có thể bước ra khỏi dây chuyền sản xuất vẫn đắm chìm trong tiếng gầm gào của băng chuyền khi quay, tiếng vo vo của những đầu vặn dùng khí nén, tiếng khói hàn bốc lên xì xì. Trong lúc chúng tôi rửa tay dưới vòi nước bên cạnh nhà vệ sinh nam ngoài khu vực sản xuất hoặc thay sang bộ đồng phục học sinh trong phòng thay đồ một lát sau đó, tiếng quốc ca vang vang trên loa phát thanh, báo hiệu lễ hạ cờ. Thượng Đế bảo vệ chúng ta / cho tới khi biển Đông khô cạn / và ngọn Baekdu mòn dần... Năm giờ chiều của những tháng ngày năm 1979, là khi bỗng dừng chân và đặt tay lên ngực, hướng về phía quốc kỳ. Năm giờ chiều, là khi ăn bữa cơm tối nguội ngắt ở căng tin rồi bắt xe buýt rời khỏi khu công nghiệp để đến trường. Năm giờ chiều, là khi chị phụ xe, một tay cầm tập vở từ vựng tiếng Anh chỉ to cỡ quân súc sắc, mở cửa cho chúng tôi xuống Singil-dong, trường chúng tôi ở đó.
Để rời khỏi băng chuyền vào lúc năm giờ đó, chị họ và tôi tập trung từng giây từng phút thời gian lao động trong ngày để gắn đinh ốc vào các tấm nhựa PVC, không thốt một lời. Chúng tôi bắt đầu công việc sớm hơn nửa tiếng so với những người khác; vì chúng tôi nắm giữ các vị trí số 1 và số 2 trên dây chuyền A của khu Stereo, vì quá trình sản xuất không thể tiếp tục liền mạch nếu thiếu chúng tôi; vì trước năm giờ, chúng tôi phải chồng đủ số tấm nhựa PVC sang vị trí số 3 để quá trình sản xuất vẫn được liền mạch khi chúng tôi đã rời nhà máy đến trường. Đến bữa trưa, chúng tôi ăn vội ăn vàng rồi ngay lập tức trở lại vị trí bên băng chuyền.
“Chị không nhấc nổi tay lên nữa.”
Một hôm, lúc nghỉ giải lao ăn trưa ở căng tin, chị họ nhấc đũa lên rồi lại đặt xuống. Công việc của chị họ là xử lý cái đầu vặn dùng khí nén treo lơ lửng trên không trung, kéo nó xuống hết lần này đến lần khác để gắn đinh ốc. Mắt chị họ đang đầm đìa nước. Tôi trộn cơm khô vào bát canh tương nấu lá thục quỳ rồi dùng thìa xúc đưa lên miệng chị. Rồi tôi lấy đũa gắp cá cơm rim đút cho chị. Ban đầu, chị họ không chịu để tôi đút cho, nhưng tôi cứ giữ nguyên cái thìa bên miệng chị, thế là chị chẳng còn cách nào khác phải há miệng ra ăn.
“Thế này trông em ra dáng chị hơn đó.”
“Thế gọi em là chị đi.”
Chị họ vừa liếc mắt lườm tôi vừa nhai cá cơm rim.
Chúng tôi đang ở trên sân thượng. Tôi đang xoa bóp tay cho chị họ dưới ánh mặt trời. Trên sân thượng nhà máy đối diện có thứ gì đó lấp lánh sáng trắng khiến cả hai chị em tôi đồng thời cùng quay sang nhìn.
“Những người đó đang làm gì vậy nhỉ?”
Họ là phụ nữ. Những người phụ nữ khỏa thân. Họ đang đứng xếp hàng dọc theo lan can sân thượng, cứ như thể sắp nhảy xuống vậy. Cánh công nhân đang rời khỏi căng tin đều đồng loạt dừng lại quan sát. Những người phụ nữ khỏa thân kia có vẻ như đang hét gì đó xuống dưới, nhưng không nghe rõ là họ đang hét gì. Phía sau họ, cảnh sát đang ùn ùn kéo đến. Tôi, mười bảy tuổi, choàng tay qua hông ôm chặt lấy chị họ hai mươi tuổi đang đau tay đến không nhấc lên nổi. Tôi nhắm mắt rồi lại mở mắt ra. Những người phụ nữ khỏa thân kia đang bị cảnh sát túm tay, túm tóc lôi đi.
Suốt buổi chiều, dây chuyền sản xuất của chúng tôi ồn ào như ong vỡ tổ.
“Nghe nói giám sát sản xuất ép buộc một nữ công nhân rời khỏi công đoàn nhưng cô ấy không nghe, thế là ông ta bèn lôi cô ấy vào trong nhà kho rồi cưỡng hiếp cô ấy.”
“...?”
“Chị công nhân kia hình như đã về tường thuật lại mọi chuyện với công đoàn.”
“...?”
“Thế nhưng ban quản lý lại kiện cô ấy, buộc tội cô ấy đang tìm cách vu khống một người vô tội. Chắc vì thế nên các lãnh đạo công đoàn mới cởi hết quần áo và leo lên sân thượng. Ý muốn thách thức ban quản lý hãy đường đường chính chính hành động giữa nơi tất cả mọi người đều có thể chứng kiến, chứ không phải tại một góc nhà kho tối tăm mờ ám nào đó.”
Không biết từ lúc nào tay của chị họ đã lấy lại được sức lực, chị lặng lẽ với lấy cái đầu vặn dùng khí nén và kéo về phía mình. Chị mím chặt môi, một lúc sau thì thầm vào tai tôi.
“Bằng mọi cách chị sẽ rời khỏi đây.”
Để đến trường, chị họ và tôi phải làm việc thông trưa, không nghỉ cả khi giải lao mười phút vào lúc mười rưỡi trưa và ba rưỡi chiều. Cô Lee bảo chúng tôi.
“Sao các cô không xin quản đốc cho thuyên chuyển sang dây chuyền Chuẩn bị ấy?”
Dù chị họ và tôi không tham gia phong trào từ chối làm thêm giờ cùng những người khác, và cuối cùng đã rời khỏi công đoàn, nhưng cô Lee vẫn tỏ ra thân thiện với chúng tôi. Cả chị họ và tôi cùng lúc nhớ tới giám sát sản xuất Lee. Chúng tôi không cần được chuyển sang dây chuyền Chuẩn bị, tất cả những gì chúng tôi mong mỏi chỉ là giám sát sản xuất Lee để cho chúng tôi yên, không đụng đến chúng tôi nữa.
“Ở dây chuyền Chuẩn bị không có băng chuyền nên dù gì cũng sẽ đỡ hơn đấy.”
Chị họ và tôi không thể ngẩng đầu nhìn thẳng vào cô Lee Tất Tả. Có vẻ như nhận ra chúng tôi vẫn còn áy náy, cô vỗ vỗ vào lưng chúng tôi.
“Chuyện đó có phải lỗi của các cô đâu chứ.”
Nhưng cô Lee càng nói vậy chỉ càng khiến chúng tôi cúi đầu thấp hơn.
“Ít nhất hai cô cũng có lý do chính đáng là phải đi học mà. Giờ có nhiều người đang bảo vào công đoàn chỉ bị thiệt thòi và đang xin rời khỏi công đoàn kia kìa.”
Cô Lee Tất Tả cụp mắt xuống, như thể bị nỗi thất vọng đè nặng.
“Chúng tôi bị chống phá quá nhiều, cho dù có đoàn kết một lòng thì cũng chẳng biết có nên chuyện không nữa.”
Chị họ lấy thỏi son từ trong túi áo ra đưa cho cô Lee.
“Sao lại cho tôi cái này?”
“Từ giờ tôi không còn cần đến nó nữa, lần trước cô chẳng bảo thích màu son này, còn hỏi tôi mua ở đâu nữa mà.”
Giờ chúng tôi đã là học sinh cấp ba, không được phép bôi son nên môi chị họ thành ra tái nhợt. Hai bắp chân dài thon thả của chị họ bị bọc trong cái quần tất dày đen sì thay vì đôi tất mỏng màu da. Cả ngày bận rộn với tay lấy cái đầu vặn dùng khí nén treo lơ lửng giữa không trung để gắn hết con đinh ốc này đến con đinh ốc khác vào tấm nhựa PVC, có lẽ chị họ đã quên hẳn chuyện chụp ảnh rồi. Nhưng thỉnh thoảng, riêng trong tâm trí tôi, đàn cò bạch trong cuốn sách ảnh chị họ đã cho tôi xem trên chuyến tàu đêm ấy vẫn đang khép cánh say ngủ. Dưới bầu trời đêm xa xăm bao phủ cánh rừng, yên bình như những vì sao.
Mười bảy tuổi, tôi là học sinh nhỏ nhất trường. Hầu hết những học sinh khác đều lớn hơn tôi ba bốn tuổi. Kim Sam Ok, thỉnh thoảng trốn học để tham gia biểu tình, nhìn vậy nhưng đã hai mươi sáu tuổi. Cô để tóc ngắn ngang tai, đi đôi giày đế bệt, đeo cặp sách, dù thế nhưng khuôn mặt cô vẫn đặc hai mươi sáu tuổi. Bộ đồng phục có gắn huy hiệu hoa tulip mặc lên người cô trông cũng thật kỳ cục. Bộ đồng phục và khuôn mặt chẳng hề ăn khớp với nhau. Bộ đồng phục quá thiếu nữ trong khi khuôn mặt cô lại đẫm vẻ kiệt quệ.
Tôi ngồi cạnh một cô gái thuận tay trái tên là Ahn Hyang Sook, cô làm việc tại một nhà máy bánh mứt kẹo. Tôi, mười bảy tuổi, đã thấy nhiều người thuận tay trái khác nhưng cô là người đầu tiên tôi gặp dùng tay trái để viết. Cô viết bằng tay trái rất thành thục, cứ như thể đã viết như thế hàng bao nhiêu năm trước rồi. Thừa dịp Ahn Hyang Sook không để ý, tôi cầm bút bằng tay trái và thử viết, nhưng chẳng ra sao cả. Khi chép nội dung bài học trên bảng vào vở, cánh tay hai chúng tôi lại thúc vào nhau lúc nào chẳng hay. Mỗi lần như thế cô lại nhoẻn nụ cười tỏ vẻ xin lỗi.
“Sao tay cậu lại thế này?”
Một hôm, tôi với lấy tay cô rồi thả nó ra ngay lập tức. Chắc nịch thôi chưa đủ, bàn tay cô còn rắn câng nữa. Cảm thấy mình buông tay cô nhanh quá, tôi lại cầm tay cô lên lần nữa, rồi lại thả ra. Ahn Hyang Sook thuận tay trái mỉm cười, như thể biết đích xác tôi đang nghĩ gì trong đầu.
“Tớ bọc vỏ kẹo ở nhà máy. Bị cọ sát nhiều chai cứng nên mới thế.”
“Một ngày cậu bọc bao nhiêu cái kẹo?”
“Khoảng hai mươi nghìn cái.”
“...”
Hai mươi nghìn cái kẹo. Lớn hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Ahn Hyang Sook cầm tay tôi.
“Da cậu mềm thật đấy. Ở nhà chắc chỉ ăn với chơi thôi hả?”
Lòng bàn tay cô bao ngoài mu bàn tay tôi, cảm giác chẳng khác gì lòng bàn chân vậy.
“Ban đầu thì thấy cũng thú vị. Kiểu, không ngờ cũng có công việc như thế này. Nhưng sau vài ngày, vì cứ phải cho kẹo vào rồi vặn xoắn túi nylon liên tục nên chỗ này chảy máu cả.”
Cô chìa cho tôi xem cả hai ngón tay cái và ngón trỏ của mình. Trước đây, vì cô hầu như chẳng để lộ tay ra lúc nào nên tôi không biết, nhưng giờ tôi đã thấy ngón tay của cô bị khoèo lại.
“Da giờ chai hết rồi nên không sao. Nhưng từ hai năm trước ngón tay này của tớ đã không còn cử động được. Vậy nên tớ mới viết bằng tay trái.”
Cô lại vội vàng giấu bàn tay phải xuống dưới bàn. Rồi cô nhìn xoáy vào mắt tôi.
“Cậu không được kể cho ai biết về ngón tay của tớ đâu đấy nhé.”
“...”
“Hứa chứ?”
Tôi gật đầu.
Một ngày thứ Sáu tháng Tư nọ, chị họ và tôi đang trên đường trở về căn phòng hiu quạnh, mang theo nguyên liệu để nấu canh cho bữa sáng ngày hôm sau. Đi đến cuối chợ, chị họ dừng lại dưới chân cầu vượt dẫn sang Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3 và nhìn chăm chăm vào những chiếc mũ đang được bày ở cửa hàng mũ vẫn chưa đóng. Như thể nảy ra ý gì, chị họ chộp lấy tay kéo tôi vào trong cửa hàng mũ. Chị họ thử vài cái mũ bê rê ngay chính giữa có một đường nỉ nhỏ tí xíu, cuối cùng chọn lấy một cái màu trắng đội lên đầu rồi ra đứng trước gương.
“Thế nào?”
Cái mũ bê rê trắng rất hài hòa với cổ áo tròn của bộ đồng phục xuân chúng tôi đang mặc. Khi tôi khen đẹp, chị họ bèn đội cái mũ lên đầu tôi. Rồi chị toét miệng cười.
“Hai chị em mình lấy mỗi người một cái đi.”
“Để làm gì?”
“Kệ, mỗi đứa mua một cái đi.”
“Chúng mình có việc gì đội đến mũ này đâu mà mua?”
Chị họ vốn đã quyết mua nên cho dù tôi nói gì cũng mặc, chưa gì đã thấy chị đang trả tiền mũ rồi. Trên con ngõ dẫn về căn phòng hiu quạnh, chị họ không ngừng mỉm cười rạng rỡ.
“Ngày mai chúng mình về quê mà? Dù gì cũng là học sinh Seoul rồi, phải cho mọi người thấy sự khác biệt chứ.”
“...?”
“Nhìn đồng phục của chị em mình xem. Quá tầm thường. Cứ mặc không thì chẳng có gì khác biệt so với đám con gái ở quê cả. Thế nên chúng mình mới cần đội mũ bê rê này về!”
“... Gì cơ?”
“Đồng phục nhiều trường có kèm cả mũ mà. May mà dưới quê không có trường nào đội mũ, chúng mình đội mũ này về chắc chắn sẽ thành tâm điểm chú ý ngay!”
Bỗng dưng, khuôn mặt Chang lướt qua tâm trí tôi. Không biết khi nhìn thấy tôi mặc đồng phục và đội mũ này cậu ấy sẽ có biểu cảm ra sao nhỉ?
Chiều hôm sau, chị họ và tôi đã đang ngồi trên tàu rồi. Chúng tôi nghỉ học để về thăm nhà. Anh cả đã đến trung tâm huấn luyện quân sự, còn anh ba đang đi dã ngoại cùng trường. Hai chị em tôi đội chiếc mũ bê rê trắng đã mua hôm trước. Chiếc mũ trên đầu tôi cứ không ngừng tuột ra nên chị họ phải dùng một cái cặp tóc để cố định nó lại.
Xuống tàu, chúng tôi chia tay nhau ở thị trấn. Nhà chị họ ở ngay thị trấn nhưng tôi thì phải bắt xe buýt đi sâu hơn vào làng. Trên chuyến xe cuối cùng về làng ngày hôm đó cũng có cả Chang nữa. Khi tôi, mười bảy tuổi, bước chân lên xe, mắt cậu mở lớn. Vừa nhìn thấy Chang, bàn tay tôi bất giác với ngay lên cái mũ bê rê trên đầu. Tôi định cởi ra, nhưng cái cặp tóc đã ghim chặt nó lại. Chang mỉm cười ngượng ngập. Chúng tôi nắm lấy tay cầm xe buýt, lắc lư chao qua đảo lại, rồi xuống xe khi về đến làng. Trên con đường lát đá tối om, Chang cất tiếng.
“Ngày mai ra suối nước khoáng không?”
“Chỗ đó ở đâu?”
“Trên con đường đi Gyoam ấy.”
Thấy tôi không trả lời, Chang lại nói. “Mai hai giờ gặp nhau ở lối đi vào Gyoam nhé.”
Chang chạy biến về nhà, bỏ lại tôi giữa bóng tối của con đường lát đá.
Cánh cổng bên hông nhà mở toang. Tôi vừa bước vào, đám vật nuôi trong sân liền nháo nhào hết cả lên. Con chó đang định ngủ dưới hiên nhà liền chui ra; lũ vịt đang lũn chũn chạy chia bầy cạnh luống hoa liền vỗ cánh bành bạch; đàn lợn trong chuồng nhỏm dậy đứng bằng chân sau kêu ụt à ụt ịt; đám gà con nhất tề chiếp chiếp; thậm chí đến cả tổ chim nhạn dưới mái chìa cũng lao xao một hồi. Tôi thả cái cặp sách xuống giữa sân, gom quần áo còn mắc trên dây phơi và lớn tiếng gọi mẹ. Chị - em trai nghe tiếng tôi đầu tiên và lao ra khỏi cửa trước cả mẹ. Đến lúc đó con chó mới vẫy đuôi sủa lên ăng ẳng.
“Về mà chẳng báo một tiếng là thế nào hả?”
Bị đánh thức khỏi giấc ngủ sâu, mẹ bước ra, nhặt lấy cái cặp sách đã bị tôi bỏ lại giữa sân để tiện bề rút quần áo đang phơi.
“Mẹ, con muốn làm mọi người ngạc nhiên mà.”
“Chị, chị lại là học sinh rồi này!”
Em gái tỉnh dậy muộn hơn, giật cái mũ ra khỏi đầu tôi, thử đội lên đầu mình.
“Học sinh ở Seoul đội mũ kiểu này đến trường à?”
Tôi vội túm lấy cái mũ từ trên đầu em gái và treo nó lên cái móc trên tường.
“Đẹp quá đi mất, cho em đội thử thêm một lần nữa thôi, đi mà.”
Mẹ mắng em gái, bảo mũ của chị đâu phải đồ chơi. Rồi mẹ nhìn tôi đang khoác trên người bộ đồng phục, và đôi mắt mẹ nhòe lệ. Giữa đêm, mẹ lấy con cá hố tẩm mắm vốn được vùi trong một bình muối ngoài hiên, rồi dọn cơm tối cho tôi.
“Kể mà con báo cho mẹ biết con sắp về, thì mẹ đã làm món gì đó ngon ngon rồi.”
Em trai tựa đầu lên cánh tay phải của tôi trong lúc tôi mặc chiếc quần ống túm của mẹ nằm đó. Em trai lớn tiếng gọi em gái tôi, “Chị hai ơi, đến đây đi.” Khi em gái sáp lại, em trai kéo cánh tay tôi và cánh tay em gái duỗi thẳng ra, ngắm nghía một hồi rồi hét tướng lên. “Cánh tay chị cả trắng hơn này! Chị hai đen quá!”
“Tại chị cả uống nước máy nên mới thế!”
Em gái giấu tay ra sau lưng hờn dỗi.
“Sao cũng được, tay chị cả đẹp hơn!”
Em trai và em gái tôi giằng lấy chăn, đập vào lưng nhau rồi lấy chân đá nhau, om sòm hết cả lên. Thế rồi mỗi đứa nằm lên một cánh tay tôi, ngủ thiếp đi.
Còn cái cào dưới giếng thì sao? Trong chốc lát, tôi nghĩ về cái giếng ở phía bên kia cánh cửa, bên kia hành lang, bên kia sân, rồi cùng chìm vào giấc ngủ sâu.
Khi tôi lên đường đi đến suối nước khoáng, em trai bám dính không rời. Tôi bảo em không được đi theo, nhưng em cứ mè nheo bám mãi sau lưng. Chẳng còn cách nào khác, tôi, mười bảy tuổi, đành nắm tay em rồi thầm thì bí mật.
“Em không được kể với mẹ là chúng mình đi cùng anh Chang đâu đấy! Rõ chưa?”
Em trai không rõ tại sao lại phải giấu mẹ nhưng vẫn trả lời là rõ rồi.
“Thật sự không được đâu đấy. Hứa với chị đi.”
Em trai lại ngoắc tay hứa với chị mà vẫn chẳng biết lý do tại sao.
Chang ngượng ngùng đứng đợi trên con đường mòn dẫn đến Gyoam. Ba chúng tôi thay phiên nhau dẫn đầu, tiến đến suối nước nóng. Càng đi sâu vào trong núi, em trai càng trở nên phấn khích hơn, em chạy trước Chang và tôi một đoạn xa, hét to, “Sóc này!” Em đuổi theo định bắt lũ sóc, được một hồi thì bỏ cuộc, quay lại bảo, “Chúng nhanh quá, chị ạ.” Khi chúng tôi đi qua một tháp đá, do người qua đường cầu nguyện rồi nhặt đá xếp thành, Chang đang đi đằng trước quay lại đưa cho tôi một hòn đá cậu nhặt được trên đường. Tôi đặt hòn đá lên đỉnh tháp. Trên đường quay về, khi chúng tôi trở lại chỗ này, Chang lại nhặt một hòn đá nữa. Tôi lại đặt hòn đá Chang đưa lên đỉnh tháp. Thấy thế, em trai cũng nhặt một hòn đá đưa cho tôi. Tôi cũng đặt hòn đá em đưa lên đỉnh tháp đá. Trong lúc em trai lại chạy đuổi theo mấy con sóc, Chang lôi từ túi áo ra một cuốn sách to cỡ lòng bàn tay cậu và đưa nó cho tôi. Sách bỏ túi Dongseo. Thập tự giá của Sa Ban. Kim Dong Ni. Trên bìa sách có viết như vậy.
“Tớ muốn tặng cậu cái gì đó nhưng chẳng có gì ra hồn cả nên đành rút một cuốn sách trên giá xuống. Cậu, từ ngày xưa đã thích đọc sách rồi mà.”
Chuyến tàu đêm lên Seoul vào giờ đó bây giờ có còn chạy? Chuyến tàu cuối lên thành phố. Mười một giờ năm mươi bảy phút đêm. Cứ mỗi lần về thăm nhà, tôi lại bắt chuyến tàu đó để trở lên thành phố. Lần nào mẹ cũng theo ra tận ga tiễn tôi. Tay mẹ cầm hết túi này đến túi khác.
Suốt bao nhiêu lần như thế, chẳng biết mẹ đã bằng cách nào băng qua đường rừng lúc quá nửa đêm mà quay trở lại làng?
Trên đường ra sân ga, tôi quay lại nhìn thấy mẹ đang đứng cạnh cổng soát vé. Mẹ xua tay ý bảo cứ đi đi. Tôi bước tiếp, rồi quay lại nhìn, mẹ lại xua tay. Tôi quay lại nhìn, hết lần này đến lần khác. Mẹ xua tay bảo tôi đi đi, hết lần này đến lần khác. Rồi tôi nhìn thấy Chang đứng ở bên kia hàng rào, thò mặt ra rào chắn ga tàu.
Chang chỉ đứng đó. Cậu không xua tay bảo tôi đi.
Sau nhiều lần từ chối làm việc thêm giờ, tiền lương công nhân nhận vào cuối tháng chẳng được bao nhiêu. Tệ hơn nữa, chỉ những công nhân không tham gia công đoàn mới được trả lương. Các thành viên công đoàn không được nhận lương kéo nhau tập trung tại văn phòng nằm trong khu sản xuất. Trong văn phòng, Chae Eun Hee đang ngồi, đầu cúi gằm. Cô đang làm việc ở dây chuyền C thì được cất nhắc lên làm nhân viên hành chính bộ phận Sản xuất. Khi cô Lee hỏi Chae Eun Hee chuyện là thế nào thì cô bảo mình chẳng biết gì hết.
“Nghe nói đã có phong bì lương nên tôi đến phòng kế toán, đến nơi mới vỡ lẽ quá nửa công nhân không được trả lương. Tôi hỏi thế là thế nào thì họ bảo ai không được trả lương thì đi gặp cô Myeong ở phòng hành chính ấy.”
“Ai bảo cô thế?”
“Kế toán trưởng.”
Cô Myeong phòng hành chính có làn da trắng trẻo mịn màng, hễ thấy người nào xông vào văn phòng đều đưa cho họ một tờ giấy.
“Giám đốc công ty đã có lệnh chỉ những người ký vào đơn này mới được trả lương.”
Trên đầu tờ giấy cô Myeong chìa ra đó có thể đọc thấy tiêu đề, Đơn xin rút lui.
.............
Vào ngày... tháng..., tôi nghe theo lời xúi giục của bạn nên đã đóng dấu cá nhân vào một văn bản mà không biết rằng đó là đơn gia nhập công đoàn. Khi ấy, tôi chỉ đơn thuần đóng dấu chứ không hề ý thức được chuyện gì. Vì không có ý định gia nhập công đoàn và cảm thấy việc trở thành thành viên công đoàn không mang lại ích lợi gì cho bản thân, tôi mong muốn được rời khỏi công đoàn.
Ngày 10 tháng Năm, 1979
Các công nhân dán mắt vào đội ngũ lãnh đạo công đoàn.
“Ở đâu ra cái luật lệ kiểu này chứ?”
Cô Lee chĩa cơn giận dữ vào cô Myeong, khiến cô ta phải quay về bàn ngồi.
“Ở đâu ra cái luật lệ như này chứ hả?”
“Tôi làm sao biết được? Tôi được lệnh chỉ trả lương cho những người ghi danh và ký tên ở dưới dòng ngày tháng này thôi. Tôi chỉ làm đúng theo lệnh thôi.”
“Phong bì lương của chúng tôi đâu rồi?”
Phát hoảng trước giọng nói the thé của cô Lee, cô Myeong với một tay theo tư thế phòng thủ về phía tủ hồ sơ kê sát tường nhưng rồi ngay sau đó vội rụt lại.
“Hẳn là ở trong này chứ gì?”
Cô Lee đẩy cô Myeong tránh sang một bên rồi mở toang tủ hồ sơ ra. Lương chính. Thêm giờ. Ca lao động đặc biệt. Trợ cấp đến kỳ kinh... Một chồng phong bì lương có ghi chữ nhỏ xíu lấp kín ngăn tủ.
“Đừng có làm vậy chứ.”
Cô Myeong hét lên, cố lấy thân mình che tủ hồ sơ đã bị cô Lee mở tung.
“Đừng làm cái gì? Chính cô mới đừng có làm như thế đó.”
“Nếu muốn được trả lương thì các cô hãy viết tên và ký vào đây đi.”
Ai đó xô cô Lee ra và chạy bổ về phía cô Myeong.
“Tránh ra.”
Cô Myeong ngã xuống sàn trong khi một rừng bàn tay chộp lấy các phong bì có ghi tên mình lôi ra khỏi ngăn tủ. Nhấc người đứng dậy, cô Myeong hét lên.
“Các người đang giở trò gì vậy hả!”
Ai đó túm tóc cô Myeong giật mạnh.
“Chúng tôi giở trò gì ư? Chúng tôi ăn trộm ăn cướp gì chắc? Chúng tôi chỉ làm công ăn lương mà thôi. Chính các người mới là những kẻ đang giở trò đó!”
Mái tóc xoăn bóng mượt của cô Myeong, vốn luôn khiến chị họ ngưỡng mộ, giờ đang bị làm rối tung lên, mặt cô cũng bị cào xước toạc cả ra. Cô Lee cố gắng gạt những bàn tay đang bám lấy cô Myeong ra khỏi người cô ta.
“Đây có phải lỗi của cô Myeong đâu mà mọi người lại làm thế. Dừng lại đi, dừng lại ngay lập tức.”
Một danh sách tên các công nhân bị sa thải được dán trên bảng tin nhà máy. Đó là tên của những người đã xông vào phòng hành chính ngày hôm đó. Có cả tên cô Lee. Phía dưới cùng, những chữ cái cỡ to in đậm bằng mực đỏ đầy hung hãn tuyên bố.
Những người bị nêu tên trên đây đã đe dọa đến kế sinh nhai của hơn sáu trăm người. Dù có phải đóng cửa công ty chúng tôi cũng sẽ không bao giờ công nhận sự tồn tại của công đoàn.
Kể từ khi danh sách những công nhân bị sa thải được dán trên bảng tin, ở nhà máy không có lấy một ngày bình yên. Công đoàn chống lại vụ sa thải bằng một cuộc đình công. 1. Phải lập tức hủy bỏ quyết định sa thải. 2. Phải công nhận công đoàn dân chủ và hợp pháp. 3. Phải ngay lập tức dừng mọi hành vi phá hoại công đoàn. 4. Phải trả lương đúng hạn. 5. Nếu ban quản lý từ chối ký thỏa thuận đồng ý với những điều kiện nêu trên, chúng tôi sẽ phát động một cuộc đình công.
Về quyết định đình công, khu Ti Vi và khu Stereo mỗi bên một ý. Khu Ti Vi, chủ yếu là công nhân nam, kiên quyết ủng hộ cuộc đình công. Thực tế, vì đang thiếu người làm đến độ sản lượng công việc không đạt nổi một nửa so với bình thường nên ban quản lý đã ứng phó với cuộc đình công bằng cách phớt lờ việc những công nhân đã bị sa thải vẫn tiếp tục đến làm việc.
Tôi đang viết. Rằng tôi đã gặp chị Hee Jae lần đầu tiên vào mùa xuân năm đó. Rằng tôi vẫn nhớ chiếc áo cánh chị mặc khi chị giặt bộ đồng phục học sinh ở chỗ vòi nước ngay chính giữa cái sân xi măng của ngôi nhà đó. Rằng cũng chẳng rõ có phải chúng tôi sống cùng dưới một mái nhà mà thu tàn đông tạ vẫn chưa từng một lần chạm mặt nhau, hay là chị Hee Jae mới chỉ chuyển đến vào ngày xuân ấy. Rằng cho dù giả sử trong ba mươi bảy căn phòng kia mỗi phòng chỉ có một người sinh sống thì cả thảy ở đây cũng đã tới ba mươi bảy người, vậy mà tính ra đến mùa xuân tôi mới chỉ chạm mặt chưa được ba bốn người. Rằng ai ở phòng nào cũng chẳng thể biết. Rằng cánh cổng lớn vào nhà luôn luôn mở rộng, và khi tôi bước qua cánh cổng ấy, thứ đầu tiên tôi nhìn thấy là những ổ khóa trên các cánh cửa trông ra sân. Rằng thỉnh thoảng, tôi sẽ vừa leo lên tầng ba vừa ngắm nhìn bóng lưng người nào đó đang mở một trong những ổ khóa ấy.
Hôm đó là Chủ nhật. Sau khi chị họ hai mươi tuổi mang theo giỏ đồ tắm rời nhà đến phòng tắm công cộng phía bên kia cầu vượt, tôi, mười bảy tuổi, cảm thấy lúng túng khi ngồi trong phòng cùng hai người anh bèn tháo vỏ chăn bông ngâm vào trong chậu giặt rồi đi xuống cầu thang. Bên vòi nước nằm ở chính giữa ngôi nhà chứa những căn phòng hiu quạnh ấy, một người phụ nữ đang ngồi giặt. Tôi đặt chậu giặt xuống cạnh vòi nước định chờ chị ấy giặt xong, đúng lúc đó nhận thấy áo chị ấy đang giặt chính là đồng phục trường chúng tôi, tôi bèn ngước lên nhìn mặt chị ấy.
Một khuôn mặt nhỏ, vô cảm. Một khuôn mặt nhỏ, lãnh đạm. Một khuôn mặt nhỏ, trầm lặng.
Cái ngày tôi gặp chị Hee Jae lần đầu tiên, mãi tôi chỉ viết được như thế này. Rằng hôm đó là một ngày nắng chan hòa. Rằng các tòa nhà hai tầng, ba tầng che râm các góc sân, chỉ riêng chỗ chính giữa sân, nơi đặt vòi nước, là có ánh mặt trời soi rọi. Rằng tôi lấy làm mừng vì bộ đồ chị Hee Jae mang đi giặt tình cờ lại chính là bộ đồng phục của trường chúng tôi. Rằng tôi đã để cái chậu giặt xuống bên cạnh và đợi chị. Rằng trước đây tôi chưa từng một lần chạm mặt chị, cả ở trong trường lẫn ngoài đường phố. Rằng tôi đã bất chợt nghĩ rằng biết đâu bộ đồng phục chị đang giặt đó lại là của em gái chị không chừng. Rằng chẳng buồn để ý xem tôi đang nghĩ gì, chị Hee Jae bận rộn giũ quần áo giặt, những họa tiết hình hoa nhỏ xíu trên chiếc áo cánh, được bỏ thùng trong chân váy rộng, bị co kéo biến dạng theo các cử động của chị. Rằng tôi đang rụt rè quan sát vòng eo thanh mảnh của chị, có lẽ chẳng lớn hơn một nắm tay là bao, cùng với những họa tiết hình hoa không ngừng xáo trộn thì mắt tôi nhìn thẳng vào mắt chị lúc chị ngẩng đầu lên, tay cầm gáo nước.
Một khuôn mặt lãnh đạm, không biểu cảm, như ánh mặt trời.
Phải, tôi đã viết như thế đấy. Viết rằng, Một khuôn mặt lãnh đạm, không biểu cảm, như ánh mặt trời.
... Nếu ngay lúc ấy chị không mỉm cười một cách mơ hồ thì tôi, trong cơn ngượng ngùng, hẳn sẽ đan chặt hai bàn tay lại với nhau, hoặc chạy biến lên tầng ba, hoặc bước ra ngoài cánh cổng mở để đi bộ tới tận cuối con ngõ rồi quay lại. Khuôn mặt mang nụ cười mơ hồ của chị Hee Jae lem bột xà phòng giặt, nhìn tựa vảy nấm. Chị kéo cái chậu giặt của tôi đặt dưới vòi nước đang chảy rồi đi lên sân thượng. Khi tôi cũng lên sân thượng, vẫn đeo nguyên đôi găng tay cao su sau khi giặt vỏ chăn, chị đã phơi hết đồng phục, tất, khăn tay và đồ lót lên một bên dây phơi và đang ngồi trên lan can hứng nắng. Chị Hee Jae không rời mắt khỏi ga tàu điện ngầm mãi cho tới tận lúc tôi đi tới đi lui trước mặt chị, tất bật phơi hết vỏ chăn lên.
“Khăn rơi xuống đất rồi kìa.”
Khi tôi phơi hết đồ lên, bóng dáng chị đã bị cái chăn che khuất, chỉ có giọng nói từ phía bên kia vọng tới. Tôi nhìn xuống nền sân thượng thì thấy cái khăn giặt chung với mấy cái chăn đã rơi xuống từ bao giờ, trong lúc tôi nhặt nó lên, chạy xuống dưới sân vò lại rồi lại leo lên để phơi, chị vẫn ngồi nguyên một chỗ đó. Xong việc, tôi đang chần chừ chẳng biết phải xuống hay đứng lại, thì chị vươn tay ra chỉ về đâu đó, nói, Nhìn kìa. Tôi tiến đến gần hơn và nhìn về hướng chị đang chỉ, thấy khói đen đang cuồn cuộn dâng lên như những đám mây từ một trong những ống khói nhà máy ở phía bên kia phố đối diện ga tàu điện ngầm.
“Ấn tượng nhỉ?”
Chị thu tay lại và bật cười yếu ớt. Khi chị chà lòng bàn tay lên chân váy nhăn nheo vì phải ngồi xổm giặt quần áo, lần đầu tiên tôi để ý thấy mu bàn tay của chị phù lên một cách bất thường, như thể bị sưng vì ngâm nước quá lâu vậy. Hình như nhận ra tôi đang nhìn chằm chằm vào bàn tay mình, chị lại cười mơ hồ.
“Chị bị kim máy khâu đâm vào, rồi lại ngâm tay vào nước nên nó mới sưng lên thế. Em ở phòng nào?”
“Trên tầng ba ạ.”
“Em học lớp thứ tư phải không? Hôm nọ chị đã nhìn thấy em trên xe buýt. Chị cũng từng thấy em một lần ở trường... Không ngờ em lại sống ở đây.”
“Em chưa nhìn thấy chị bao giờ.”
Trước câu nói của tôi, chị Hee Jae lại cười mơ hồ. Có lẽ nhìn mặt tôi trẻ con nên chị nói với tôi như với một người em gái, thế là tôi cứ vâng vâng dạ dạ.
“Ngôi nhà này hay một cái là... Có người chết cũng chẳng ai biết.”
Phải thế không? Chị hỏi thế rồi nhìn tôi bằng đôi mắt tròn xoe. Bột xà phòng giặt vẫn còn bám trên má chị và trên chiếc mũi tẹt bất thường của chị có một cái mụn cóc.
Hôm đó, chị và tôi đã mang chậu hoa hành bị bỏ chơ vơ gần chỗ cất chum ủ tương ra, rồi đặt xuống dưới chỗ phơi cái chăn vừa giặt để vắt nước tưới cho nó. Liệu có phải vì ánh mặt trời không nhỉ? Tôi cố gắng tìm cớ nấn ná lại trên sân thượng lâu hơn một chút mà không để lộ cho chị thấy cảm xúc của mình. Tôi quý chị. Đến tận bây giờ, mỗi khi nghĩ rằng chị cũng có cảm xúc tương tự với mình, tôi lại ứa nước mắt. Ngày hôm đó, vì cùng yêu quý nhau mà chúng tôi đã hạnh phúc trong giây lát. Khoảnh khắc đó, cõi lòng tôi bình yên mà phảng phất nỗi u sầu, tôi không biết với chị thì sao, nhưng với tôi, tôi cảm thấy trái tim mình trở nên an lành khôn kể xiết. Đặc biệt là khi chúng tôi chơi “trò dĩ nhiên”.
“Trò dĩ nhiên” là cái tên bây giờ tôi gắn cho trò chơi ấy.
Chị là người đề xuất chơi trò này, nhưng thực sự thì nó không hẳn là một trò chơi. Khi chị Hee Jae nói gì đó, tất cả những gì tôi phải làm là nói, Dĩ nhiên rồi... mà không mảy may phản đối. Ngược lại, đến lượt tôi nói gì đó, tất cả những gì chị phải làm cũng chỉ là nói, Dĩ nhiên... Dĩ nhiên rồi. Tôi không nhớ hồi đó tôi đã nói những gì. Nhưng giọng nói của chị, giọng nói tựa dòng nước... cái giọng tựa năm giờ chiều, vừa nói, Dĩ nhiên, dĩ nhiên vừa thỉnh thoảng phá lên cười, cả tiếng vỗ tay của chị, vẫn thật sống động rõ ràng.
Chị sắp ngủ rồi. Chị sẽ ngủ say sưa ba bốn ngày liền không dậy.
... Dĩ nhiên rồi.
Em chị tốt nghiệp cấp ba rồi sẽ không đòi vào đại học đâu nhỉ?
... Dĩ nhiên rồi.
Nhưng nếu nó nói muốn học đại học thì chị vẫn sẽ phải cho nó đi thôi.
... Dĩ nhiên rồi.
Chẳng biết nữa. Chị không thể làm việc hơn được nữa. Một ngày chỉ có hai mươi tư tiếng đồng hồ thôi.
... Dĩ nhiên rồi.
Chị chỉ làm được đến thế này thôi.
... Dĩ nhiên rồi.
Hẳn ngày mai quản đốc sẽ đến lắp cho một cái quạt thông gió trong phòng làm việc nhỉ?
... Dĩ nhiên rồi.
Ông ta đã tận mắt nhìn thấy bụi vải bay lên rồi mà, lẽ nào lại không lắp cho chứ.
... Dĩ nhiên rồi.
Sau này liệu chị có thể sống trong một ngôi nhà hai tầng có vườn không nhỉ?
... Dĩ nhiên rồi.
Đôi môi chị, đầy đặn, phơn phớt màu da, gần như không màu, vui vẻ mở ra khép lại. Dĩ nhiên, dĩ nhiên, dĩ nhiên rồi. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi, khi mà với chúng tôi chẳng có gì là không thể ấy, chị Hee Jae đã hỏi, một cách lơ đãng, Liệu chị có thể sinh một đứa bé xinh xắn không nhỉ? Và tôi trả lời, Dĩ nhiên rồi. Trong khoảng thời gian như trong mơ ấy, chị đã lật ngược toàn bộ hiện thực. Trong “trò dĩ nhiên” của chúng tôi, chị không phải một cô thợ may, chị không sống ở một trong ba mươi bảy căn phòng, và em trai chị đã là sinh viên đại học rồi. Ban đầu tôi vừa trả lời, Dĩ nhiên rồi, Dĩ nhiên rồi, vừa lấy ngón tay nén đất trong chậu hoa hành xuống, rồi sau đó, tôi lại vừa trả lời, Dĩ nhiên rồi, Dĩ nhiên rồi, vừa moi từng nhúm từng nhúm đất ra ngoài. Sự mờ mịt, tâm trạng cảnh giác - như những thứ từng được buông lỏng giờ trở nên cô đặc, quánh lại mỗi lần tôi bước vào ngôi nhà đó - đã hoàn toàn biến mất trong lúc chúng tôi chơi “trò dĩ nhiên”. Tựa như hai cô gái nhỏ đang bước trên con đường xa xăm, chúng tôi, không phân biệt lớn nhỏ, chơi mãi “trò dĩ nhiên” tới tận khi cái vỏ chăn khô dần. Từng phút từng phút một chị trở nên rạng rỡ hơn, còn tôi đôi khi lại thấy trong lòng nghẹn lại. Tôi không nhớ chị bao nhiêu tuổi. Chị có vẻ lớn hơn tôi ba, bốn tuổi, nên chắc chị mười chín. Hai mươi. Hai mốt. Thỉnh thoảng khi chị đỏ mặt, tôi thấy chị như cô thiếu nữ, nhưng ngẫm lại, có khi chị thật sự là một thiếu nữ cũng nên. Chị ấy, người mà giờ đây tôi nhớ quay quắt, đột nhiên hướng mắt về phía mặt trời, như thể vừa mới tìm lại được ý thức, chị phủi người, đứng dậy.
Chị phải ngủ đây.
Dĩ nhiên rồi.
Không phải trò chơi đâu. Chị thật sự buồn ngủ rồi.
Đột nhiên trở nên lạnh nhạt, chị hối hả chạy xuống. Chị xuống rồi, tôi một mình ngồi xổm trên sân thượng, cạo đất ra khỏi các móng tay. Chị đi rồi nhưng cái áo cánh của chị, cái chân váy của chị, cử chỉ bàn tay chị, những mạch máu trên cần cổ thanh mảnh của chị vẫn vương vấn quanh tôi, như dòng suối nhỏ giọt vào nơi nào đó trong lòng tôi, khiến tôi không ít lần giật mình quay phắt lại, Là mơ ư? Cái vỏ chăn bông bay lật phật như tấm rèm buông trên một bí mật nào đó, một cái khăn tay của chị đã bị gió thổi bay xuống dưới nền đất. Tôi lấy kẹp quần áo kẹp trả cái khăn lên trên dây phơi, rồi leo xuống khỏi sân thượng.
Khi tôi từ trên sân thượng xuống, chị họ đã đi tắm về từ lâu đang ngồi cắt móng tay bèn quay ra nhìn tôi chăm chăm.
“Từ nãy đến giờ em đã ở đâu vậy?”
“...”
“Hử?”
“Trên sân thượng.”
“Sân thượng? Em làm gì trên đó mà mãi mới xuống?”
Tôi không thể trả lời chị họ.
“Em tự dưng hóa ngốc rồi hả? Em sao thế?”
“Gì chứ?”
“Em kỳ lắm.”
“Kỳ chỗ nào chứ?”
Chị họ nhìn tôi chằm chằm.
“Kỳ chỗ nào?”
Chị họ cuộn tờ khăn giấy đựng đống móng tay bị cắt lại rồi ném nó vào trong thùng rác, như thể chẳng hiểu chuyện gì hết.
“Chẳng biết nữa. Thôi, đi chợ đi.”
Ở trên cầu vượt, chị họ lại hỏi.
“Lúc vắng mặt chị, em đã bị anh cả mắng phải không?”
“Đâu có.”
“Vậy thì sao em lại thế?”
“Sao chứ?”
“Nhìn cứ uể oải rã rời, cứ như là vừa bị ai mắng một trận ra trò ấy.”
Tôi lắp bắp kể cho chị họ nghe về chị Hee Jae. Về chuyện chúng tôi đã chơi cùng nhau trên sân thượng như thế nào.
“Nghe có vẻ vui đấy chứ? Nhưng sao em lại uể oải thế?”
“Chẳng biết nữa.”
“Con bé này, nhạt nhẽo ghê.”
Sau khi chương đầu tiên của cuốn sách này được phát hành, có vẻ như tôi đã trở thành đề tài chuyện phiếm. Mọi cuộc điện thoại tôi nhận được đều đến từ một tạp chí phụ nữ nào đó. Tôi nghe máy và bảo họ rằng tôi không có nhà. Nếu họ hỏi tôi là ai, tôi bảo tôi là em gái người họ muốn gặp. Rằng chị tôi đã về quê rồi và rằng tôi không biết khi nào chị mới trở lại. Nghe tin nhắn được lưu lại trên máy trả lời tự động cũng phát mệt, thế nên tôi tháo hẳn dây điện thoại ra khoảng hai tuần liền. Nghĩ giờ chắc chuyện cũng qua cả rồi, tôi cắm dây trở lại, nhưng quá nửa đêm lại có chuông điện thoại kêu, tôi bắt máy trong cơn mơ màng. Người ở đầu dây bên kia nói tìm tôi, tôi chẳng kịp suy nghĩ gì mà trả lời, Vâng tôi đây. Đến lúc người gọi điện nhắc tên tờ tạp chí của cô ta, tôi mới bấm bụng, A, nhưng đã muộn quá rồi. Cô đã từ Đức về rồi đấy à. Cô ta mừng rỡ. Chắc hẳn tôi đã bảo cô ta là chị gái tôi đi Đức rồi. Khi cô ta bảo muốn gặp tôi, tôi bắt đầu, Thực ra thì... và rồi kể cho cô ta nghe hết sự thật. Rằng trong suốt thời gian qua chính tôi là người đã trả lời các cuộc điện thoại, chính tôi đã nhận cuộc điện thoại của cô ta và bảo với cô ta rằng tôi đang ở Đức. Cô ta hỏi.
“Nhưng tại sao?”
“Vì tôi không muốn trả lời phỏng vấn.”
Cô ta bật cười, không hề tỏ ra khó chịu.
“Cô đã đưa tên mình ra cho người đời biết, giờ có thể sống mà chỉ làm những điều mình muốn thôi sao?”
“...?”
Tôi nài xin cô ta. Tôi nài xin người phụ nữ tôi chưa từng gặp mặt, rằng tôi chỉ vừa bắt đầu một chuỗi truyện và rằng tôi muốn tập trung viết lách không bị sao nhãng bởi những chuyện khác. Mong cô ta hãy để cho tôi yên. Cô ta là một người chuyên nghiệp. Cô ta đã bắt đầu tung cho tôi các câu hỏi, còn tôi, trong khi chưa kịp nhận ra thì đã trả lời cô ta rồi. Không thể tiếp tục như thế này được, tôi nghĩ và ngay lúc tôi vừa bảo sẽ gác máy thì cô ta nhã nhặn hỏi lại.
“Vậy tại sao cô lại nhận trả lời phỏng vấn của tờ báo đó?”
Tôi ấn sát tai nghe vào tai.
“Chỉ vì tôi đã nhận lời phỏng vấn của một tờ báo nên tôi cũng phải nói đồng ý với cô sao?”
“Dù có thế nào đi chăng nữa, tôi sẽ liên lạc lại sau khi có quyết định nhé.”
Tôi sững cả người. Đây là chuyện của tôi và tôi đã nói không rồi, còn ai sẽ đưa ra quyết định gì nữa đây? Có vẻ như cô ta sẽ viết bài dựa trên cuộc nói chuyện điện thoại này và cho đăng báo kèm theo một bức ảnh tìm được từ nơi nào đó khác.
“Tôi đã nói rõ ràng là tôi không thích rồi. Tôi sẽ cẩn thận đọc kỹ số báo tháng sau của các cô, nếu có bài về tôi thì tôi sẽ rất giận đấy.”
“Vấn đề là chuyện này không thuộc quyền quyết định của tôi ạ. Ngày mai đến tòa soạn tôi sẽ phải nói chuyện với tổng biên tập rồi sẽ trả lời lại sau nhé.”
“Nhưng đây là chuyện của tôi mà, cô còn phải hỏi ý kiến ai nữa chứ? Để tôi nói lại với cô một lần nữa nhé, tôi đã nói rõ là tôi không trả lời phỏng vấn. Tôi yêu cầu cô đừng coi thường lời nói của tôi. Tôi sẽ cực kỳ giận đấy.”
Tôi nhanh chóng dập máy và rút dây điện thoại ra.
Tôi không sao ngủ được. Dù đã tháo dây điện thoại ra nhưng tiếng chuông điện thoại reo vẫn văng vẳng bên tai, khiến tôi nằm lăn qua lộn lại, hết lần này đến lần khác. Tôi nhớ đến một khuôn mặt quen thuộc cũng làm việc tại tờ tạp chí phụ nữ của cô phóng viên vừa gọi điện cho tôi. Sáng ra mình sẽ gọi điện cho anh ấy, tự nhủ thế rồi nhưng tâm trạng khó chịu của tôi vẫn chẳng được giải tỏa.
Thức dậy, tôi bỏ một đĩa nhạc harmonica của Lee Oskar vào đầu đĩa và nhấn nút play. Ngực tôi căng tức, đầu tôi ong ong. Tôi mở hé cửa sổ. Nhạc harmonica trôi phải đến hơn ba mươi phút lòng tôi mới cảm thấy dần bình tĩnh lại. Ban đầu, tôi thậm chí còn chẳng để ý đến gió rét, mãi sau tôi mới thấy trán và sống mũi buốt lạnh. Tôi kéo chăn lên và một nỗi buồn vô cớ choáng ngập khắp mình. Tôi đang làm gì vậy, ngay tại đây vào lúc này?
Tôi nhổm người dậy lấy một cái đĩa khác và chăm chú nhìn vào khuôn mặt của Chet Baker đang ôm cây đàn trumpet. Thực sự, tôi đang làm gì ở đây vậy? Chet Baker đang khép miệng một cách trống rỗng, chuyến lang thang dang dở của ông vẫn còn nằm lại giữa những vết nhăn trên khuôn mặt. Tôi rút Lee Oskar ra, cho Chet Baker vào, vặn to âm lượng và lôi bìa đĩa ra đọc.
“Album bất hủ của Chet Baker đã được thu âm hai tuần trước khi ông qua đời.” Được phát hành năm 1988, đây là một album lịch sử được thực hiện hai tuần trước cái chết của người nhạc sĩ huyền thoại.
Năm 1988? Có lẽ ông đã thu âm album này trong khi chúng tôi đang tổ chức Olympic ở Seoul. Tôi đọc tiếp hồi tưởng của nhà sản xuất kiêm giám đốc Kurt Geise.
Ngồi kín hai bên sân khấu là dàn nhạc, dáng Chet Baker đứng đơn độc ở chính giữa nhìn quá đỗi tiều tụy. Nhưng hôm ấy, đó là thời gian dành riêng cho ông, là buổi công diễn dành riêng cho ông, rốt cuộc, càng về sau chúng tôi càng đắm chìm trong ma lực của Chet Baker. Dù đã nghe ông hát “My Funny Valentine” bao lần, nhưng màn trình diễn hôm đó tuyệt mỹ hơn hết thảy.
Hai tuần sau, báo đưa tin phát hiện thi thể ông rơi xuống từ tầng hai khách sạn ông nghỉ lại. Cảnh sát Amsterdam kết luận đây đơn thuần chỉ là một tai nạn, nhưng đến giờ, nguyên nhân cái chết của ông vẫn chưa được làm rõ.
... Tôi cài đặt đầu đĩa để giọng người đàn ông này, giờ đã trở thành di ngôn, sẽ cứ vang lên liên tục không ngừng trong phòng ngay cả khi tôi có ngủ thiếp đi, rồi sau đó nằm xuống.
Nhiều khi, trên taxi, xe buýt hay từ cửa hàng đĩa than trên phố, tôi sẽ tình cờ nghe được giọng nói của những người không còn trên dương thế. Giọng của những ca sĩ như Kim Jung Ho hay Cha Jung Rak hay Bae Ho hay Kim Hyun Sik... Lý do khiến tôi giật mình chùn bước, khiến tôi lặng đi như thể thời gian đứng lại mỗi khoảnh khắc nghe thấy giọng họ, theo tôi, là bởi thứ mà họ, những người đã quá cố ấy để lại, chẳng phải gì khác mà chính là các bài hát.
Dạo trước, tôi từng viết kịch bản cho một chương trình phát thanh có thời lượng một tiếng đồng hồ, chuyên phát những ca khúc Hàn Quốc cũ. DJ là một phát thanh viên sắp đến tuổi về hưu. Ông là người hâm mộ Bae Ho. Cứ đến sáng thứ Ba, chúng tôi sẽ lại ghi âm cho chương trình phát vào Chủ nhật tới, thu âm xong, ông DJ già sẽ bắt cô biên kịch trẻ cùng ngồi lai rai bữa rượu trưa, vừa uống vừa ngân nga “Quay lại Samgakji” của Bae Ho. Mưa rơi nặng hạt tại vòng xuyến Samgakji, Tiếc nhớ tình yêu đã mất, Chàng trai trẻ cô đơn người ướt mưa buông tiếng thở dài, Buồn bã tìm đến vòng xuyến Samgakji, khóc rồi đi... Một hôm ông hỏi tôi, đó giờ chỉ biết nhận một chén rượu để đấy rồi ngồi yên, Cháu có biết Bae Ho là người thế nào không? Có biết tại sao những bài hát của anh ta vẫn lưu lại trong trái tim của biết bao nhiêu người hâm mộ như thế không? Vì anh ta là một ca sĩ giỏi mà bác. Trước câu trả lời nhạt nhẽo của tôi, ông đáp lại, Không đâu, mà là bởi giọng hát của anh ta nhuốm mùi chết chóc. Bởi đó là những bài hát được anh ta cất lên khi mắc căn bệnh viêm thận phải nằm trên giường bệnh, sức cùng lực kiệt thu những hơi thở gấp gáp giằng co giữa sự sống và cái chết. Bởi đó là những bài hát được anh ta ngồi ghế thổ ra khi đến bước đi thậm chí còn chẳng nổi. Thằng cha đó... Ngà ngà say bởi chầu rượu giữa ngày, giờ ông đang gọi Bae Ho là thằng cha đó. Cháu có biết hắn đã nói gì về cái chết ở tuổi hai mươi chín của mình không? Những người hâm mộ yêu dấu của tôi, cảm ơn các bạn. Nhưng có lẽ tôi đã không còn hy vọng nữa rồi... Hắn đã nói thế đấy. Thằng điên, cảm ơn cảm ơn cái quái gì chứ? Bản thân hắn nào biết chính những bài hát chết tiệt của hắn đã giết chết hắn.
Tôi từng có lần hỏi anh.
“Khi nghe bài hát của một ca sĩ đã chết anh cảm thấy thế nào?”
Những cành cây mùa đông bên ngoài cửa sổ quán cà phê chúng tôi đang ngồi được chiếu sáng bởi những ngọn đèn nhấp nháy, gợi chúng tôi nhớ đến Giáng sinh. Những ngọn đèn nhấp nháy treo trên cành cây, lập lòe sáng trong bóng tối, đang khuấy động trong tôi một bản năng sâu xa thúc giục tôi trở về nhà. Giá như có thể, tôi cũng muốn quay về. Nhưng là về đâu? Có lẽ câu hỏi của tôi quá đột ngột nên từ phía bên kia bàn, anh chỉ đưa mắt nhìn tôi chằm chằm.
“Khi ngắm tranh của một họa sĩ đã mất hay đọc sách của một nhà văn đã mất thường không cảm thấy gì mấy, nhưng chẳng phải khi nghe bài hát của một ca sĩ đã mất thì lại có cảm giác hơi là lạ sao?”
Khi tôi hỏi lại lần nữa, anh nhổm người dậy, rời khỏi tư thế ngồi thoải mái lưng tựa sâu vào ghế.
“Có lẽ bởi vì đó là giọng thật của họ. Bởi vì nó quá thật. Mà không phải chỉ các bài hát mới thế đâu. Anh từng nghe giọng đọc thơ của một tiền bối đã chết và cảm thấy rất lạ. Có lẽ đúng hơn nên dùng từ đáng sợ. Giọng một người giống như một phần cơ thể họ vậy. Giống như thể người đó vẫn còn đang sống và đứng ngay trước mắt ta vậy.”
Có lẽ nào đối với tôi, chị Hee Jae vẫn còn lưu lại trên thế gian như một phần cơ thể tựa giọng nói? Bởi, cứ mỗi khi nghĩ đến chị, tôi lại đột nhiên lặng người lại, y như khi tôi nghe các bài hát của những người không còn tồn tại trên dương thế này nữa.
Ngày hôm sau ở trường. Bình thường, cứ tan học chị họ lại qua lớp tôi để hai chị em cùng nhau về nhà, thế nên như mọi khi tôi đang ngồi đó đợi chị họ thì bất ngờ, khuôn mặt chị Hee Jae, chứ không phải chị họ, phản chiếu lên cửa sổ ngoài hành lang. Không lẽ nào, tôi ngồi nguyên tại chỗ nghĩ vậy, còn chị Hee Jae đứng bên khung cửa sổ ngoài hành lang nhìn về phía tôi. Trong khi tôi vẫn ngồi đó đờ người nhìn chị thì chị Hee Jae đi vào trong qua cánh cửa ở cuối lớp và đặt một tay lên vai tôi.
“Không về à?”
Tôi còn chưa kịp nói với chị rằng tôi đang đợi chị họ thì ngoài hành lang chị họ đã chạy đến gõ vào cửa sổ. Ý chị họ giục tôi ra nhanh lên. Khi tôi liếc mắt về phía chị họ đang gõ vào cửa sổ, chị Hee Jae cũng đưa mắt nhìn theo. Chắc hẳn nhận thấy có chuyện gì lạ, chị họ bước hẳn vào trong phòng học.
“Làm gì thế? Không ra nhanh đi?”
Tôi giới thiệu chị Hee Jae với chị họ, bảo rằng đây chính là người tôi đã chơi cùng trên sân thượng hôm trước.
“À, vâng.”
Chị họ ngây ra nhìn chị Hee Jae một lát rồi hỏi, Nghe nói cậu sống ở tầng một? chị Hee Jae vừa trả lời, Ừ, vừa nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lùng ẩn chứa câu hỏi, Ai thế.
“Đây là chị họ em. Bọn em sống cùng nhau.”
Chúng tôi ngượng nghịu đi bộ ra khỏi sân trường ban đêm. Chị họ, mọi hôm vẫn khoác tay tôi thế mà hôm nay lại chỉ hờ hững đi bên tôi một cách khác thường. Tôi định khoác tay chị họ nhưng rồi chợt nghĩ làm thế có khi chị Hee Jae sẽ cảm thấy lạc lõng nên bèn rút tay lại, trước mặt là chị họ còn sau lưng là chị Hee Jae, tôi vụng về đi ở giữa.
Chị họ hai mươi tuổi ngồi cạnh băng chuyền với vẻ sưng sỉa. Dường như chị họ đang rất bực mình chuyện gì đó. Thậm chí chị còn chẳng buồn trả lời khi tôi hỏi chuyện. Chị họ, hai mươi tuổi, bỏ tôi lại và đi ăn trưa một mình. Tôi lon ton chạy theo và xếp hàng ngay phía sau nhưng chị họ, người bình thường vẫn lấy khay ăn và đôi đũa cho tôi, hôm nay lại chỉ lấy đồ cho riêng mình. Tôi, mười bảy tuổi, cố dò đoán xem điều gì đã chọc giận chị họ. Tôi đã làm gì sai sao? Tôi lục lọi lại mọi chuyện trong đầu nhưng vẫn không tài nào đoán ra. Vốn ăn chậm, tôi còn chưa kịp buông thìa thì chị họ đã đứng phắt dậy, lạnh lùng rời khỏi căng tin. Tôi vội để thìa xuống và đuổi theo. Chị họ đang một mình rửa tay ở vòi nước. Tôi tiến lại gần và chọc vào sườn chị họ, ý hỏi, Sao thế hả, nhưng chị họ thậm chí còn chẳng buồn liếc tôi lấy một cái.
Chiều đến, chị họ vẫn không mảy may để ý đến sự tồn tại của tôi. Chị họ chỉ mím chặt môi và kéo đầu vặn dùng khí nén xuống để gắn các đinh ốc. Giờ chính tôi cũng đâm ra thấy chị họ đáng ghét nên bèn đưa mắt nhìn sang chỗ khác. Chẳng hiểu vì sao, tôi chợt thấy chóng mặt buồn nôn. Đến năm giờ, chị họ lại một mình rời khỏi dây chuyền lắp ráp, một mình tiến về phía phòng thay đồ. Cả ngày đã phải đuổi theo sau chị họ rồi, giờ tôi bỏ cuộc. Tôi rời khỏi dây chuyền lắp ráp muộn hơn một chút, ra vòi nước rửa tay và tiến về phía phòng thay đồ. Khi tôi bước vào trong phòng thay đồ thì chị họ, đã thay sang bộ đồng phục học sinh, đang đi ra. Chị họ lạnh lùng tránh tôi, tôi cũng tránh chị họ. Lúc đi qua chị họ đang ăn tối trong căng tin, tôi, mười bảy tuổi, cứ thế đi thẳng xuống cầu thang. Chỉ đến lúc đó chị họ mới gọi tôi.
“Không ăn cơm mà đi học à?”
Cả ngày nay, đó là câu đầu tiên chị họ nói với tôi. Ra là chưa bị câm như hến. Tôi, mười bảy tuổi, quăng phịch cặp sách xuống dưới sàn và hét lên.
“Tại sao lại như thế với em hả? Em đã làm gì mà lại đối xử như thế với em?”
Giận dữ vì bị chị họ phớt lờ suốt cả ngày, nước mắt tôi chảy ròng ròng.
“Con bé này sao lại khóc lóc om sòm làm người ta xấu hổ thế hả?”
“Tại sao lại như thế với em?”
Đám học sinh đến ăn tối liếc nhìn về phía chúng tôi, băn khoăn không biết có chuyện gì. Xấu hổ chết mất, làm gì thế hả, chị họ vừa nói vừa bước đến kéo tôi dậy nhưng tôi vận hết sức đẩy tay chị ra.
“Rốt cuộc là vì chuyện gì mà lại như thế với em chứ!”
“Em đó, tại sao em lại gọi cô ta là chị hả?”
“Cô ta?”
“Cái cô tên Hee Jae hay gì gì đó.”
“...?”
“Em đó, chẳng thèm gọi chị là chị mà cứ bám theo cái đứa mình chẳng quen chẳng biết rồi chị, chị loạn cả lên.”
“Vì chuyện đó mà cả ngày nay không chịu nói chuyện với em đấy à?”
Chị họ bật cười, như thể đang xấu hổ.
Trên đường đi xe buýt tới trường, chẳng giống ngày thường chút nào, chị họ lắp bắp bày tỏ với tôi.
“Chị không thích em thân với cô ta.”
“...”
“Chị không thích em cười nói, khoác tay đi với cô ta.”
“Vì thế nên suốt ngày trời không nói với em một lời?”
“Thì cả ngày tức chết đi được, em bảo chị còn phải làm sao?”
“Cả ngày nay em cũng khó chịu muốn chết đi được ấy.”
“Em vẫn sẽ tiếp tục như thế với cô ta à?”
“Tiếp tục như thế là tiếp tục thế nào?”
“Tiếp tục gọi cô ta là chị ấy?”
“Em cũng gọi chị họ là chị là được chứ gì.”
Chị họ bật cười khe khẽ. Không biết vì đã quên mất vụ cãi vã lúc ban ngày, hay do thấy xấu hổ với chính những gì mình đã làm mà khi tan học, chị họ chủ động đến chào hỏi chị Hee Jae, vốn đã sang lớp tôi sớm hơn. Chị họ của tôi, chị bắt chuyện với chị Hee Jae nhiều hơn tôi và đi sát chị Hee Jae hơn cả tôi.
Từ sau đó, tôi, mười bảy tuổi, gọi “chị họ” là “chị”. Bất kể ở đâu tôi cũng gọi, Chị... Chị...
Hôm nay tôi nhận được một bức thư. Chính xác hơn là tôi tìm thấy nó chứ không phải nhận được nó. Trên cánh cửa ra vào căn hộ của tôi vẫn còn treo cái túi dùng để đựng sữa giao đến tận nhà của người chủ cũ. Buổi chiều, lúc rời nhà đi siêu thị, tôi khóa cửa và nhét chìa khóa vào trong túi áo, nhưng sợ nhỡ đâu đánh mất chìa khóa nên tôi bèn bỏ vào trong cái túi đựng sữa treo ngoài cửa. Xuống được nửa chừng cầu thang tôi quay nhìn cái túi, đã tính đến chuyện lại lôi cái chìa khóa ra vì nghĩ mình làm thế hơi bất cẩn quá, nhưng rốt cuộc tôi vẫn cứ thế đi, tự nhủ có muộn mấy thì cũng chỉ trong vòng ba mươi phút hay một tiếng là phải về rồi.
Lúc quay trở về, tôi thò tay vào trong cái túi định lấy chìa khóa thì lôi ra được một cái phong bì kèm với chìa khóa. Đưa lên nhìn mới thấy đó là thư chuyển phát nhanh dán tem loại tám trăm bốn mươi won. Có vẻ chú đưa thư đã đến đúng lúc tôi không có nhà và vì bấm chuông mãi không thấy ai ra mở của nên đã bỏ thư vào trong túi đựng sữa này. Vì chú đưa thư rõ ràng là biết tôi sống ở đây mà. Người gửi đã gửi bức thư qua đường chuyển phát nhanh, nhưng nếu trước đó không bỏ chìa khóa vào trong cái túi, có lẽ mãi tôi sẽ chẳng biết được bên trong có một bức thư. Nhưng ai mà lại có tin gì cần báo cho tôi qua đường chuyển phát nhanh kia chứ? Phong bì ghi, Han Kyung Shin, Giảng viên, Trường Nữ sinh Cấp ba Yeongdeungpo, Singil-dong, Yeongdeungpo-gu, Seoul.
Kính chào cô. Tôi là giáo viên dạy Chương trình Buổi tối Đặc biệt dành cho Công nhân khu Công nghiệp ở trường nữ sinh cấp ba Yeongdeungpo. Tôi viết lá thư này sau khi đọc được một bài báo viết về cô hôm rồi.
Tôi viết thư này mong muốn nhờ cô một chuyện, không biết liệu cô có thể dành chút thời gian đến nói chuyện cùng các học sinh của tôi, với tư cách một nhà văn và cũng là một cựu học sinh của trường được không ạ? Theo những gì đọc được trên báo, tôi phần nào e rằng hẳn cô vẫn còn chưa sẵn sàng cho một dịp thế này. Nhưng đồng thời, tôi cũng cho rằng có lẽ cô không biết rằng chương trình học buổi tối vẫn đang được duy trì, và rằng nếu cô biết, có lẽ cô sẽ vui vẻ nhận lời.
Khi tôi nói với các học sinh của mình rằng cô chính là tiền bối của họ, tất cả đều tỏ ra vô cùng hứng thú và nói sẽ đọc tiểu thuyết tự truyện của cô khi nào nó được xuất bản. Học sinh của tôi vừa là hậu bối của cô và đồng thời cũng là các độc giả của cô. Nếu cô đồng ý ghé thăm, cả tôi và các đồng nghiệp của tôi, cũng là độc giả của cô, sẽ vui mừng không kém gì các học sinh đâu.
Tháng Hai vừa rồi, lấy cảm hứng từ lễ tốt nghiệp của các học sinh, tôi đã viết một bài cho tờ JoongAng Ilbo. Khi tôi đọc bài báo được đăng, các em học sinh đều rất thích thú. Dạo gần đây, còn có một học sinh của tôi hỏi rằng, “Sao cô dạo này không viết gì cho báo ạ? Nếu cô viết về chúng em thì hay biết bao.”
Tôi đứng chết sững một lúc, như thể vừa bị đột kích.
Chương trình đặc biệt dành cho các công nhân khu công nghiệp vẫn đang được triển khai. Tôi không hay biết gì cả. Từ khi rời đi, tôi chưa bao giờ trở lại khu vực quanh đó. Có lẽ tiềm thức của tôi luôn muốn tránh xa quãng thời gian và không gian ấy. Có lẽ tôi vẫn hằng muốn gột sạch cái thứ mùi của nhà máy đã thấm đẫm người mình.
Nhưng đột nhiên, đột nhiên giữa thập niên 90, tiếng băng chuyền chạy lại bất thình lình dội vào trong tai tôi.
Có một cô gái đọc Hegel. Cô là Mi Seo, lớp trưởng, đồng thời là người ngồi bên phải cùng bàn với tôi. Buổi đến trường, cô vừa đi vừa mở sách của Hegel cầm trên tay, đến giờ nghỉ giải lao, cô lại lôi cuốn Hegel nhét dưới gầm bàn để lên bàn đọc. Nhân lúc Mi Seo đến phòng giáo vụ, tôi, mười bảy tuổi, mở cuốn sách ra ở đúng trang Mi Seo đang đọc. Tôi đọc phần đã được cô gạch dưới bằng bút chì. Vì chẳng hiểu gì cả nên tôi đọc lại lần nữa. Nhưng đọc lại rồi tôi cũng vẫn không tài nào hiểu nổi. Từ phòng giáo vụ quay về, Mi Seo giằng lấy cuốn Hegel ra khỏi tay tôi và giận dữ nhét nó vào gầm bàn.
“Đây là sách của tớ.”
Tôi nhìn cô chăm chăm. Tại sao cô lại giận dữ thế - nào có phải tôi lấy trộm sách của cô đâu, tôi chỉ ngó có một chút thôi mà. Khi gần đến giờ về, tôi bèn hỏi Mi Seo.
“Cậu có hiểu hết những gì người ta viết trong cuốn sách ấy không?”
“Sao cậu lại hỏi vậy?”
“Vì sách đấy có vẻ khó.”
“Tớ cũng không hiểu đâu. ”
“...?”
“Cậu nhìn tớ như thế là sao?”
“Không hiểu mà sao cậu có thể chăm chú đọc nó suốt thế?”
Mi Seo lôi cuốn Hegel ra khỏi gầm bàn và cất vào trong cặp.
“Không phải chuyện của cậu.”
Cô cầm cặp lên, vụt bỏ đi, cứ như thể có chuyện gì ghê gớm lắm.
Mãi sau này, khi cô và tôi, mười bảy tuổi, đã trở nên thân thiết, Mi Seo mới nói. Chỉ khi đọc cuốn sách này tớ mới cảm thấy khác với tất cả các cậu. Tớ ghét mấy đứa cậu.
Thập niên 90. Bây giờ liệu còn ai đọc Hegel trong lớp học đó nữa?
Chúng tôi có các tiết âm nhạc. Chạng vạng tối lúc chúng tôi đến trường thường sẽ thấy thầy giáo dạy nhạc đang rửa xe ô tô. Từ đằng xa đã có thể nhìn thấy chiếc xe của thầy sáng lấp lánh dưới vầng mặt trời đang lặn. Hình như thầy từng có thời khát khao trở thành một ca sĩ cổ điển. Khi có ai đó nói với thầy rằng giọng thầy chẳng khác gì giọng tenor nổi tiếng Eom Jung Hang, thầy thường vui vẻ bật cười sung sướng. Bài hát thầy bắt tất cả chúng tôi cùng hát sau khi hát bài truyền thống của trường - Người kế thừa truyền thống văn hóa huy hoàng, cúi nhìn dòng nước sông Hàn xanh ngắt lững lờ trôi - là bài “Nỗi hoài hương”. Khi tháng Tư mùa hoa rộ lại về, nỗi lòng này của anh, như người xinh đẹp đợi anh trên con đường góc chân núi bên kia ngọn núi xanh mơn mởn... Giờ kiểm tra, thầy đệm nhạc piano và yêu cầu chúng tôi hát “Nỗi hoài hương”, vậy nên khi chúng tôi từ phòng âm nhạc đi ra, trước sau tôi cứ ngân nga tiếng hát. Đỗ quyên bung nở theo tiết xuân phủ khắp núi, xa xa cứ không dứt tiếng kêu, cố hương của anh ở đâu, tình yêu của anh nơi nào... Phòng âm nhạc nằm ở tầng một khu nhà phụ, đi qua tòa nhà chính. Trong tòa nhà chính, các học sinh chính quy năm cuối cấp đang học ôn chuẩn bị cho kỳ thi vào đại học sắp đến gần. Muốn đến phòng học của mình, chúng tôi phải băng qua cây tử đinh hương cạnh tòa nhà chính. Hãy nói em yêu anh, hỡi người yêu dấu trong trái tim anh. Nếu không vì em, mùa xuân sẽ chẳng bao giờ đến... Đột nhiên cửa sổ một lớp học thuộc tòa nhà chính rít lên bật mở, các học sinh chính quy, đang ôn thi, gầm lên.
“Này, các người trật tự đi.”
Ai đó trong số những người đang hát phản bác.
“Ai ồn ào gì đâu mà phải ầm ĩ lên như thế?”
“Bọn này đang học.”
“Thì có ai cấm mấy người học đâu?”
“Các người ồn ào thế làm sao bọn này học được. Lẳng lặng mà đi qua thôi chứ!”
“Đến hát cũng không được chắc?”
“Đúng là lũ ăn mày!”
Ngay lập tức, hết thảy trở nên tĩnh lặng. Cái câu đáp lại như đập vào mặt đó, Đúng là lũ ăn mày, chỉ bằng một câu đó mà tất cả đều chìm vào im lặng. Cả tiếng hát nãy vẫn còn khe khẽ giờ cũng tắt hẳn. Đúng là lũ ăn mày, tự nói thế mà dường như chính họ cũng ngạc nhiên. Khi bên này chìm trong im lặng, bên kia cũng lặng lẽ khép cửa lại. Chỉ còn cây tử đinh hương đứng chắn giữa bên này và bên kia. Chúng tôi đứng sững như thế một hồi rồi ai đó bắt đầu cất bước về lớp học. Những bước chân khẽ khàng lặng lẽ lướt qua cây tử đinh hương. Những bắp chân của chúng tôi, sau cả ngày dài đi lại tới lui ở nhà máy sản xuất để chế tạo sản phẩm, giờ rón rén bước dưới những ô cửa sổ sáng choang của phía bên kia.
Sau lần đó, chúng tôi không bao giờ hát khi rời phòng âm nhạc nữa. Bởi thế mà bây giờ, bài hát ấy vẫn vang vọng sống động trong lòng tôi. Khi tháng Tư mùa hoa rộ lại về, nỗi lòng này của anh, như người xinh đẹp đợi anh trên con đường góc chân núi bên kia ngọn núi xanh mơn mởn...
Một tối nọ, lúc mở cánh cửa dẫn lên gác mái, tôi, mười bảy tuổi, giật nẩy người khiếp đảm. Một thứ gì đó từ bên trong cánh cửa rơi bụp xuống chân tôi, đen sì. Choáng váng tột độ, tôi bật hét lên một tiếng, khiến anh cả phải nhìn lên. Thứ rơi xuống chân tôi đó, thật không ngờ, là một bộ tóc giả.
“Con gái con đứa, sao mà náo loạn lên thế hả?”
Anh cả nhặt bộ tóc giả lên và treo nó vào phía bên trong cánh cửa. Hẳn là lúc trước anh đã đóng đinh vào phía sau cánh cửa và móc bộ tóc giả lên đấy nhưng tôi kéo cửa mạnh quá làm nó rơi ra.
“Cái gì thế anh?”
Anh cả không trả lời. Khi tôi hỏi lại anh cả đó là cái gì thì tiếng đoàn tàu chạy ngang qua đã nuốt mất câu hỏi của tôi. Nằm ngủ lúc anh ba vẫn chưa về, anh cả nói với chúng tôi.
“Từ sáng mai, anh sẽ đi dạy ở trung tâm Anyang.”
“...”
“Anh phải đi trước sáu giờ, thế nên hai đứa không cần lục đục dậy sớm làm gì.”
“...”
“Sau giờ dạy, anh sẽ tạt qua nhà để thay đồ, làm cho anh cơm hộp nhé.”
Lần này chị họ hỏi.
“Anh sẽ dạy môn gì?”
“Tiếng Anh.”
Sáng tinh mơ, tôi tỉnh giấc khi nghe tiếng anh cả rón rén bật đèn. Nhìn thấy tôi đã tỉnh, anh đưa mắt ra hiệu bảo tôi ngủ tiếp đi. Nếu tôi dậy, căn phòng bé xíu này sẽ chỉ càng có cảm giác chật chội hơn thôi. Tôi nhắm mắt, vờ như mình đã lại ngủ tiếp, rồi sau đó he hé mắt, quan sát hành động của anh cả. Anh khẽ khàng mở cánh cửa gác mái, đứng trước tấm gương treo gần khung cửa sổ trông ra ga tàu điện ngầm, đội mái tóc giả lên cái đầu trọc lóc. Có vẻ như có gì không ổn, anh nhấc nó ra rồi lại đội vào. Anh thử đội hết kiểu này đến kiểu khác. Khi anh quay người lấy cái cặp để trên bàn học, nhìn thấy khuôn mặt dưới bộ tóc giả của anh, tôi bật cười khúc khích. Bộ tóc giả rẽ ngôi giữa nhìn lưa thưa đến nỗi bất kỳ ai cũng có thể nhận ra ngay là một bộ tóc giả.
“Trông anh buồn cười lắm à?”
Anh cả gạt món tóc mái trên trán. Nhưng vì đó là một bộ tóc giả, và món tóc mái đã được thiết kế để rơi xuống trước trán anh nên hành động này chẳng có tác dụng gì và món tóc mái ngay lập tức lại rơi trở về vị trí cũ. Anh cả lại nhìn vào gương rồi hỏi tôi đang nằm trong chăn.
“Trông anh kỳ cục lắm à?”
“Trông anh chẳng giống anh gì cả.”
Anh cả trở nên nghiêm trang hẳn trước gương.
“Vậy giống ai?”
“...”
“Giống sinh viên Đại học Seoul không?”
Tôi, mười bảy tuổi, vẫn đang nằm trong chăn, bật cười to.
“Anh đã bảo họ anh là sinh viên Đại học Seoul. Nếu biết anh đang thực hiện nghĩa vụ quân sự thì liệu có ma nào đến đăng ký học không?”
Cẩn thận để không giẫm lên người anh ba, đã về nhà trong lúc chúng tôi đang say giấc và giờ đang ngủ úp mặt vào tường, anh cả tắt đèn.
“Ngủ thêm lát nữa đi.”
Lúc anh cả mở cửa đi ra ngoài, tôi nhìn qua khe cửa mở thấy bên ngoài tối om. Trong bóng tối, anh lấy đôi giày ra khỏi giá rồi xuống cầu thang, tiếng bước chân lộp cộp lộp cộp.
Rồi tiếng anh cả mở cánh cửa gỗ phòng vệ sinh dưới chân cầu thang; tiếng anh cả rời khỏi nhà vệ sinh và đẩy cổng để ra ngoài; tiếng anh cả chạy dọc con hẻm về phía ga tàu điện ngầm.
... Năm giờ sáng. Bụng rỗng trên tàu. Chuyến tàu lúc tờ mờ sáng trống trải y như cái bụng rỗng không của anh. Sau buổi dạy, anh lại theo con đường đã đi lúc sáng sớm trở về nhà, tháo bộ tóc giả ra treo lên mặt trong của cánh cửa gác mái, cởi bộ com lê ra treo vào trong tủ nhựa, ngồi ăn cơm chan canh bắp cải đã được dọn sẵn giữa căn phòng trống, rồi xách hộp cơm và rời nhà đến thực hiện nghĩa vụ tại Ủy ban phường. Một hôm, anh rạng rỡ tuyên bố người ta đã đề nghị anh dạy cả lớp buổi tối nữa. Giờ một ngày của anh quay theo một vòng tròn. Sáng sớm anh đội tóc giả, mặc com lê, thẳng tiến đến trung tâm, dạy học xong anh quay trở về nhà, ăn cơm, mặc quân phục, mang theo hộp cơm rồi lại rời nhà, rồi lại trở về nhà, mặc com lê, đội tóc giả và thẳng tiến đến trung tâm dạy học.
Từ bãi bùn lầy đặc quánh bên trong tôi, một thứ gì đó khó nhọc ngóc đầu hét lên. Ngươi đang định làm gì vậy hả? Đào bới những chi tiết vặt vãnh chẳng khác gì nhau đó rồi thì để làm gì? Xin ngươi đừng có cố tóm tắt, sắp đặt các sự kiện theo trật tự thời gian nữa đi. Làm thế chỉ càng khiến nó trở nên giả tạo hơn thôi. Không phải ngươi đang ôm ấp ảo tưởng cuộc đời là một bộ phim điện ảnh đấy chứ? Không phải ngươi đang nghĩ rằng cuộc đời cũng có thể có một cốt truyện tuyến tính đấy chứ?
Đó là sau khi bố anh qua đời, anh nói. Lúc ấy anh đang đánh răng bên bồn rửa mặt. Bố thường húng hắng ho khan trong khi đánh răng, sau khi ông qua đời, anh nhận ra mình cũng đang húng hắng ho khan giữa lúc đánh răng. Anh ngừng tay không đánh răng nữa. Không thể tin được âm thanh đó phát ra từ chính mình, anh nhìn quanh tìm bố. Mãi một lúc sau, anh mới nhận ra, A, thật tình. A, thật tình, bố đã mất rồi. Anh lại tiếp tục đánh răng nhưng tâm trạng cứ hơi là lạ. Chính vào khi đó, lần đầu tiên, anh thật sự cảm nhận được sự vắng mặt của bố. Cảm giác về sự vắng mặt dường như luôn đến từ những nơi không ngờ đến như thế đấy. Đặc biệt, sự vắng mặt bởi cái chết mới đầu thường khó mà cảm nhận được. Dần dần, chúng ta nhận ra từ trong đời sống hằng ngày rằng con người ấy không còn ở đây nữa, rằng chúng ta không còn có thể gặp lại người ấy nữa. Qua những thứ như cái ghế hồi còn sống ông hay ngồi nhưng giờ trống trải; vị trí ông thường để xà phòng rửa mặt; cách ông đi tất, những thứ đại loại thế. Những thứ không được bao hàm trong lịch sử. Hay trong niên biểu.
Anh ba càng ngày càng hốc hác. Tôi len lén bỏ ba nghìn won vào trong túi áo anh, nhưng sau đó chị họ bảo nhà hết than rồi.
“Làm sao bây giờ, phí sinh hoạt cạn sạch rồi.”
Tôi, mười bảy tuổi, lấy lại ba nghìn won từ túi áo anh ba, đưa cho chị họ.
Anh ba càng ngày càng hốc hác. Khi lôi hộp cơm từ cặp sách anh ra, tôi thấy rơi ra theo còn có cả mấy tờ rơi in những từ Lật đổ chế độ độc tài, Bãi bỏ hiến pháp Duy tân. Anh về nhà vào lúc tối muộn, lặng lẽ cởi bỏ chiếc áo thấm đẫm mùi hơi cay rồi nằm xuống cạnh anh cả và chìm vào giấc ngủ. Anh không hay nói về bất cứ chuyện gì. Một tối, chúng tôi về thẳng nhà không ghé qua chợ. Chúng tôi xuống xe buýt và đang đi bộ trên con phố rợp bóng cây nối giữa các nhà máy thì chị họ kêu lên, Anh ba kìa! Trên chiếc ghế băng dưới một gốc cây, anh ba đang ngủ, cặp sách kê dưới đầu. Tôi lay anh dậy.
“Anh, sao anh lại nằm đây mà ngủ?”
“Anh chỉ định nằm một lát thôi, thế mà lại ngủ quên mất.”
Anh chậm rãi nhổm người dậy. Rồi một sáng, tôi định chuẩn bị cơm hộp cho anh nhưng không tìm thấy hộp đựng cơm đâu.
“Anh, đưa em hộp cơm đây.”
Ấy vậy nhưng vẫn chẳng thấy hộp đựng cơm trưa đâu.
Tôi mở cửa phòng nhắc anh lấy nó cho tôi.
“Anh làm mất rồi.”
“Mất hộp đựng cơm á?”
“Hôm qua lúc anh ngủ trên ghế băng, ai đó đã lấy mất túi của anh rồi.”
“Thì thế, sao anh lại ngủ ngoài đó? Anh phải về phòng mà ngủ chứ.”
Anh trai mỉm cười bẽn lẽn.
“Phòng chật chội thế này nếu anh về sớm, hai đứa tắm rửa, thay quần áo sẽ không thoải mái.”
Anh cả dẫn một cô gái có khuôn mặt y như búp bê về căn phòng hiu quạnh của chúng tôi.
“Đây là em gái anh còn đây là chị họ anh.”
Cô gái khuôn mặt búp bê này tên là Mi Yeong. Mắt cô rất to. Cô có hàng mi dài, dáng người nhỏ nhắn và đeo một sợi dây chuyền vàng trên cần cổ dài. Cô có những ngón tay thanh mảnh, đi dép cao gót và diện váy ngắn. Cô ngồi yên một lát trong phòng rồi đi.
“Ai thế anh?”
“...”
“Bạn gái anh à?”
“...”
“Anh dẫn chị ấy về đây làm gì?”
“Sao vậy, em không thích cô ấy à?”
“Vấn đề đâu phải là em.”
“Thế thì là gì?”
“Lẽ ra anh chỉ nên gặp chị ấy ở ngoài thôi chứ ai lại đưa chị ấy về đây. Ngốc quá. Nếu em mà là bạn gái anh, thể nào em cũng chạy mất cho xem.”
“Sao lại thế?”
“Em không biết. Em chỉ bất chợt nghĩ thế thôi.”
Anh cả nói, Con nhóc này, rồi bật cười. Anh bảo tôi rằng cô ấy sẽ không làm thế đâu nhưng tôi, mười bảy tuổi, bắt đầu lo lắng rằng một ngày nào đó, có thể cô gái ấy sẽ mang đến nỗi buồn cho anh.
Một hôm, lúc tôi đến trường, một học sinh chính quy đang đợi tôi.
“Cậu có lấy bộ đồng phục thể thao của tôi trong tủ đồ cá nhân không?”
Tôi lắc đầu.
“Thế thì nó biến đi đâu được nhỉ?”
Số 56. Cô ta và tôi dùng chung bàn học và tủ đựng. Cô ta đóng rầm cửa tủ đựng đồ lại rồi xách cặp sách đùng đùng đi ra ngoài.
“Thật chẳng thể kiên nhẫn chờ lên lớp mười một được.”
Lên lớp mười một, cô ta sẽ không phải học chung phòng với chúng tôi nữa. Cô ta sẽ chuyển sang tòa nhà chính. Vì chương trình của chúng tôi chỉ có vài lớp nên kể cả lên lớp mười hai chúng tôi cũng sẽ không được chuyển sang tòa nhà chính. Cô nàng học sinh kia quay lại xỉa xói tôi.
“Làm ơn đừng có động tay đến tủ để đồ.”
Khi cô ta đi rồi, tôi đứng ra trước gương. Mắt tôi trong veo. Mi Seo bước tới hỏi tôi có chuyện gì.
“Hình như cô ta bị mất đồng phục thể thao.”
“Cô ta bảo cậu đã lấy hả?”
“...”
“Bị kết tội sai mà cậu vẫn cứ đứng trơ như phỗng thế được à?”
“Tớ bây giờ có đang đứng trơ như phỗng đâu. Ngay lúc này đây tớ đang bực lắm đấy.”
Trước câu trả lời cộc cằn của tôi, Mi Seo, công nhân một công ty dược phẩm, lại lôi cuốn Hegel ra đọc.
Tôi bắt đầu ghét đến trường. Tôi ghét làm toán bàn tính, ghét cả việc lôi cuốn vở kế toán ra. Tôi bảo với chị họ rằng tôi sẽ không đi học nữa.
“Em đang nói gì vậy?”
“Em ghét đi học.”
“Em á?”
Chị họ bật cười như thể không tin nổi lời tôi.
“Từ hôm nay em sẽ không đến trường nữa. Chị đi một mình đi.”
Chị họ chỉ cười, tưởng như đang nghe tôi nói đùa, nhưng đến năm giờ, khi tôi quay người đi về phía con đường dẫn tới căn phòng hiu quạnh của chúng tôi thay vì đến bến xe buýt, chị họ bèn kéo tay tôi.
“Em làm sao thế?”
“...”
“Em định bỏ học thật đấy à?”
Tôi, mười bảy tuổi, gật đầu.
“Đừng đùa nữa, mau đi thôi, muộn mất rồi.”
“Thật sự đấy. Em không đi học đâu.”
“Anh cả sẽ giận lắm đấy, biết vậy mà vẫn định bỏ ư?”
“Nếu chị không nói thì làm sao anh ấy biết chứ?”
“Sao tự dưng em lại thế?”
“Em ghét đi học rồi.”
“Vì cớ gì mà lại ghét đến vậy chứ?”
“Em ghét toán bàn tính, ghét cả kế toán. Em ghét hết. Chị cứ đi học đi. Em sẽ đi chợ, mua đồ, rồi dọn dẹp, rồi làm hết mọi việc cho.”
“Nhỡ hôm nay đột nhiên anh cả về nhà sớm thì sao?”
Chia tay chị họ, tôi chậm rãi đi bộ dọc những con phố khu công nghiệp, quay trở về căn phòng hiu quạnh. Có vẻ như anh cả vừa thay bộ quân phục sang com lê, đội tóc giả và đã lại rời nhà rồi. Tôi treo đồng phục của anh lên cái đinh móc rồi bày trò lười biếng trong phòng. Vẫn thấy khó tin trước cái thực tế rằng chỉ có một mình mình trong căn phòng vốn luôn chật chội này, tôi hết ngồi xuống, đứng lên, rồi lại nằm. Tôi nằm úp đọc vài trang cuốn Thập tự giá của Sa Ban do Chang tặng, rồi ngửa người nằm dán mắt lên trần nhà một lúc, rồi lại lật người viết thư cho Chang. Tớ chán phải chịu đựng mọi thứ rồi. Tớ đến trường không phải để làm toán bàn tính hay gõ văn bản. Tớ muốn đọc sách và muốn viết. Để làm thế, tớ đã cho rằng mình phải đi học. Nhưng bây giờ, dường như trường học chẳng có liên quan gì đến chuyện viết lách hết. Đang viết tôi dừng lại, đứng lên mở cửa sổ và nhìn ra ngoài ga tàu điện ngầm. Cứ mỗi lần một chuyến tàu dừng lại, cả một biển những mái đầu sẽ thình lình cuộn lên, rồi biến mất ngay lập tức. Tôi tới bếp, lôi chai rượu soju ở ngăn chạn cuối cùng ra, rót một ngụm nhỏ rồi uống. Tôi quay lại, viết tiếp thư.
... Tất thảy đều chỉ toàn những con người kinh khủng.
Tôi ra ga tàu điện ngầm và ngồi xổm đợi anh cả. Mãi gần mười hai giờ đêm, anh cả mới từ xa bước lại.
“Anh!”
Đôi mắt anh, trũng sâu vì mệt mỏi, trợn tròn kinh ngạc. Nhìn thấy anh ở ngoài này, trên đầu đội bộ tóc giả, tôi có cảm giác như thể anh là một người lạ chứ không phải người thân trong gia đình mình. Tôi bật cười khúc khích, cứ như tình cờ đụng phải một nhân vật khôi hài nào đó. Có vẻ chính anh cũng thấy buồn cười nên lúc rẽ vào con hẻm, anh tháo bộ tóc giả ra cầm trên tay.
“Sao em lại ra đây?”
“...”
“Sao hả?”
“Tại em chán quá.”
“Em có thời gian để mà chán cơ à?”
Bước đi phía trước tôi, anh cả chợt bật ra một tiếng cười trống trải.
Hôm sau, từ trường về, chị Hee Jae leo lên tầng ba mở cửa phòng tôi. Có vẻ như chị chưa về phòng mình vì trên tay chị vẫn đang cầm cặp sách, ở tay bên kia, chị cầm một túi giấy trắng tròn căng, đầy ních thứ gì đó. Chị thậm chí còn chẳng hỏi tại sao tôi không đi học. Chị đặt cái túi giấy xuống, mỉm cười mơ hồ rồi quay trở xuống. Tiếng chân chị gõ lộp cộp trên cầu thang xuống tầng một. Tôi nhìn vào bên trong túi, thấy những cái bánh hoa cúc vẫn còn nóng hổi.
Tôi đã nghỉ học được một tuần. Hôm đó, từ trường học về, chị họ mở cửa phòng và khẽ gọi tôi.
“Thầy chủ nhiệm lớp em đến này.”
Tôi, mười bảy tuổi, ngây người nhìn chị họ.
“Thầy nói muốn ghé thăm nhà nên chị đã đưa thầy về.”
Tôi chỉ lo anh cả về và bắt gặp thầy, nhưng thầy Choi Hong Yi thì cứ chậm rãi nhìn quanh phòng. Thầy đề nghị tôi đi bộ cùng thầy đến bến xe buýt. Tôi xỏ tất, choàng áo khoác rồi theo thầy ra ngoài. Ngoài con hẻm, thầy dịu dàng vỗ vỗ vai tôi.
“Chuyện là thế nào hả?”
“...”
“Thầy để ý thấy em hay đọc sách và cũng có vẻ thích đi học, sao đột nhiên lại không đến trường nữa vậy?”
“...”
“Thầy nhìn nhầm em rồi ư?”
“...”
“Trường học có quy định phải thông báo với công ty nếu học sinh không đến lớp.”
Là như thế. Ngược lại, khi một học sinh nghỉ việc ở công ty, nhà trường cũng sẽ nhận được thông báo. Người ta chỉ đủ điều kiện đi học nếu còn đang làm việc. Nếu tôi không đến trường, tôi sẽ không được phép rời khỏi băng chuyền lúc năm giờ. Tại bến xe buýt, thầy Choi Hong Yi dặn tôi ngày hôm sau nhất định phải đi học.
“Đến trường rồi ta sẽ nói chuyện kỹ hơn nhé.”
Khi bước lên xe buýt, thầy vẫy tay chào tôi. Đằng sau bàn tay thầy, những dây ống khói nhà máy vươn lên lổn nhổn. Tôi có cảm giác như thể đây là lần đầu tiên được gặp một con người thực sự ở khu công nghiệp. Xe buýt rời bến rồi, tôi, mười bảy tuổi, thất thần đứng đó. Tôi đặt bàn tay lên bờ vai vẫn lưu lại hơi ấm cái vỗ của thầy.
Ngày hôm sau, thầy Choi Hong Yi gọi tôi tới văn phòng và bảo tôi viết bản tường trình về chuyện bỏ học.
“Hãy viết ra tất cả những gì em muốn nói rồi nộp lại sau ba ngày nữa nhé.”
Để viết bản tường trình, tôi mua một quyển vở to ở cửa hàng văn phòng phẩm đối diện trường. Y như lần tôi viết thư cho chủ tịch công đoàn trình bày lý do tôi và chị họ phải đến trường, lần này tôi viết lý do tại sao tôi không muốn đến trường cho thầy giáo của mình, và trong lúc viết, không biết từ lúc nào mọi chuyện sâu kín trong lòng tôi cứ thế tuôn trào. Tôi, mười bảy tuổi, viết. Rằng đây không phải cuộc sống đô thị tôi đã hình dung, rằng đây không phải cuộc đời học sinh tôi đã hình dung. Rằng tôi ghét tính bàn tính, ghét cả sách kế toán, rằng điều duy nhất hiện hữu trong tâm trí tôi lúc này là em trai tôi và rằng điều duy nhất tôi mong muốn là quay trở về sống cùng em. Bản tường trình hóa ra lại dài, gần như hết một phần ba cuốn vở.
Sau khi đọc xong bản tường trình, thầy Choi Hong Yi nói với tôi.
“Sao em không thử viết tiểu thuyết nhỉ?”
Tiểu thuyết, cái từ ấy, rơi vào lòng tôi. Đó là lần đầu tiên tôi được nghe. Câu nói rằng, hãy thử viết tiểu thuyết.
Thầy tiếp tục.
“Nếu không muốn thì em không cần làm toán bàn tính đâu. Chỉ cần đến trường thôi. Thầy sẽ nói chuyện với các giáo viên khác. Hãy làm bất cứ điều gì em muốn. Chỉ có điều, không được bỏ học.”
Thầy đưa cho tôi một cuốn sách.
“Đây là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất thầy đọc dạo gần đây.”
Trên bìa sách ghi, Quả bóng tí hon người lùn ném. Tôi trở lại lớp học và mở cuốn sách ra.
Dải Mobius.
Thầy giáo dạy Toán bước vào lớp. Học sinh để ý thấy thầy không cầm theo sách trên tay. Học sinh tin tưởng thầy. Thầy là giáo viên duy nhất trong trường được học sinh đặt niềm tin. Thầy giáo Choi Hong Yi. Về sau, tôi đến trường chỉ để gặp thầy. Những nỗi nhớ nhung được khóa kín trong lòng tôi bởi cảnh ly hương khó xử, giờ quay hướng về phía thầy giáo Choi Hong Yi. Tôi, mười bảy tuổi, lúc nào cũng mang theo Quả bóng tí hon người lùn ném. Dù đi đến đâu, tôi cũng đọc Quả bóng tí hon người lùn ném. Tôi như thuộc lòng cả cuốn sách đến nơi. Chị Hee Jae hỏi tôi đấy là sách gì.
“Tiểu thuyết.”
Tiểu thuyết? Chị Hee Jae chỉ hỏi lại đúng một lần, có vẻ chẳng mấy quan tâm, rồi cúi đầu. Thầy Choi Hong Yi đã rót đầy trái tim tôi. Kể cả khi tôi không làm toán bàn tính, giáo viên dạy Toán vẫn cho tôi qua. Kể cả khi tôi không vẽ bảng cân đối kế toán vào vở kế toán, giáo viên Kế toán cũng không trách cứ gì.
Trong giờ toán bàn tính, tôi mở trang cuối của quyển vở Ngữ văn ra và chép lại Quả bóng tí hon người lùn ném.
... Người ta gọi bố là người lùn. Người ta đã nhìn đúng. Bố là một người lùn. Thật không may, họ chỉ nhìn đúng duy nhất một điều về bố. Còn tất cả những điều khác họ đều sai. Tôi sẵn lòng mạo hiểm tất cả mọi thứ thuộc về gia đình năm người chúng tôi - bố, mẹ, Yeong Ho, Yeong Hee và tôi - để, vào bất cứ lúc nào, cũng có thể nói người ta đã sai. “Tất cả mọi thứ” mà tôi nói bao gồm tính mạng của cả gia đình năm người chúng tôi.
... Tôi, mười bảy tuổi, chép Quả bóng tí hon người lùn ném vào vở ngay cả khi tôi đang ngồi bên băng chuyền. Rằng, Người sống trên thiên đường không cần phải nghĩ gì về địa ngục. Rằng, Nhưng gia đình năm người chúng tôi sống dưới địa ngục và nghĩ tới thiên đường. Rằng, Không một ngày nào chúng tôi không nghĩ tới thiên đường. Rằng, Vì chúng tôi đã quá đỗi khinh ghét cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mình. Rằng, Cuộc sống của chúng tôi không khác gì một cuộc chiến. Rằng, Mỗi ngày chúng tôi đều thua trận. Rằng, Thế nhưng mẹ cam chịu tất cả mọi điều.
Nếu thầy Choi Hong Yi gợi ý tôi viết thơ thay vì tiểu thuyết thì có lẽ tôi sẽ mơ ước trở thành nhà thơ. Là như thế đấy. Khi ấy tôi đã cần một ước mơ. Để tới trường hằng ngày; để yên lòng khi chải bộ tóc giả của anh cả; để chịu được khói từ các ống khói nhà máy; để tiếp tục sống.
Tiểu thuyết đã đến với tôi như thế.
Tôi để lá thư của cô giáo Han Kyung Shin trong túi xách mãi đến tận giữa tháng Mười hai. Thỉnh thoảng, tôi lôi thư ra và đọc phần cô viết. Tôi có thể trả lời điện thoại từ năm rưỡi chiều tới chín giờ tối. 842-4596. Sau nhiều lần lôi ra lôi vào đọc lá thư, giờ tôi đã thuộc lòng số điện thoại của cô. Nhưng đến cuối cùng tôi vẫn không thể gọi cho cô. Thời gian cứ thế trôi, những ngày đầu và giữa tháng Mười hai, khoảng thời gian cô Han Kyung Shin muốn tôi ghé thăm, cũng đã qua. Đến lúc nghĩ, Bây giờ hẳn họ đã nghỉ đông rồi, tôi bèn lấy lá thư ra khỏi túi xách cất vào trong ngăn kéo tủ và thử đếm số năm kể từ khi tôi rời khỏi ngôi trường đó. Đã mười ba năm rồi. Tôi những tưởng bây giờ mình đã trở nên khách quan hơn với những chuyện xảy ra hồi ấy. Khi quyết định viết về chúng, tôi cứ ngỡ mình đã vượt qua được toàn bộ quãng đời đó. Chính bởi vậy, tôi đã quyết định viết một cách chi tiết hết mức có thể. Quyết định khôi phục lại ký ức của mình về thời đó, tháo tung khóa miệng, nối liền những bước chân đã bị đứt dấu trước cánh cửa khép kín của cuộc đời mình.
Nhưng dường như những vết thương của tôi vẫn chưa hề chai cứng. Dường như tôi vẫn chẳng thể vượt qua bất kỳ điều gì. Dường như tham vọng của tôi đã chiến thắng trước cả khi những vết thương của tôi kịp chai cứng. Tham vọng muốn viết gì đó về quãng thời gian ấy trước khi nó càng thêm xa cách, trước khi tôi hoàn toàn chẳng còn gì để nói, dường như đã khuất phục chính tôi. Nếu không, chẳng lẽ gì tôi lại quá lo lắng, quá xấu hổ, quá sợ hãi đến chính mình cũng phải ngạc nhiên như thế. Chỉ vì toàn tâm toàn ý muốn bảo vệ bản thân mình mà tôi đề phòng, cảnh giác người khác đến mức này ư? Nếu những vết thương đã chai cứng rồi, nếu chuyện xảy ra đã thật sự trôi vào quá khứ cả rồi, vậy thì tại sao hai mắt tôi vẫn nhòa lệ?
Nếu ai đó nói với tôi rằng họ đã đọc chương đầu tiên được công bố, đột nhiên tôi sẽ không còn muốn ở cạnh người đó nữa. Tôi chỉ muốn nhanh nhanh tránh xa người đó để được ở một mình.
Khi tháng Mười hai đã qua và năm mới đến, tôi trở thành người tiêu cực đến cùng cực. Hoặc là giận dữ tột độ hoặc là hết sức vô cảm. Tôi không đọc sách, không nghe nhạc, cũng chẳng bật ti vi. Đang đứng hoặc đang ngồi hay đang nằm mà bất chợt để ý thấy có thứ gì như sợi tóc bám trên bánh xà phòng rửa mặt là tôi đùng đùng giận dữ với chính mình. Sau một trận náo loạn âm thầm, kiểu như dù chỉ có vài mẩu vụn bánh mì vương trên sàn nhưng cũng phải chấm nước bọt lên ngón tay rồi dính nhặt hết đống vụn mới yên, tôi lại ngơ ngẩn hết cả người. Vì cứ đi ngủ bất kể giờ giấc nên chẳng lúc nào tôi có thể ngủ được sâu. Có ngày đầu đau nhức nhối, tôi soi mói từng lời người khác nói với mình, rồi dù chỉ là câu nói tình cờ thôi tôi cũng nhất định phải hiểu theo hướng tiêu cực nhất.
Một sáng sớm, tôi mở cửa trước ra để lấy báo, thế rồi lại đẩy tờ báo vào trong nhà, tôi đi ra ngoài. Sáng đó, sau khi đã rơi cả đêm, tuyết đắp thành từng ụ nhồi bông xốp trên những chiếc xe hơi đậu ở quảng trường. Đứng giữa những chiếc xe hơi không phải của mình, tôi ngước nhìn lên cửa sổ căn nhà mình vừa rời khỏi. Cửa sổ phòng tôi là cửa sổ duy nhất sáng đèn, tất cả mọi người có lẽ vẫn còn đang ngủ. Phải đây là thứ cảm giác nảy sinh trong lòng khi đứng bên ngoài nhìn về cửa sổ chính nhà mình không? Tôi đi bộ qua những tiệm giặt là vẫn đóng kín cửa, qua các trung tâm dạy mỹ thuật, qua quán canh khoai tây xương thịt heo. Tôi lưỡng lự một lát trước một ngã ba đường, rồi chọn lấy con đường hướng lên núi. Núi gần, núi xa đều phủ trắng tuyết. Chuyện xảy ra khi tôi đi được nửa đường đến ngôi đền nơi tôi vẫn thường leo lên ghé thăm khi mùa đông chưa tới. Xa xa có một nhóm bốn năm người đi leo núi đang túm tụm đứng lại với nhau, giậm giậm chân. Tôi đoán chắc họ tầm ngoài bốn mươi. Ở một góc bên cạnh chỗ mấy người họ đang đứng, có một người đàn ông mặc quần áo leo núi màu xanh, thân hình quằn quại còn miệng thì sùi bọt.
“Có vẻ như đang lên cơn co giật.”
Con đường núi phủ tuyết trắng xóa vừa hẹp vừa lạnh. Có vẻ như trong số những người đứng đó không có ai là bạn đồng hành của người đàn ông nọ.
“Ông ta ngã xuống thung lũng mất. Làm thế nào đây.”
Cứ như thế tầm năm phút. Rồi đột nhiên, cơ thể người đàn ông kia ngừng quằn quại. Hai tay hai chân ông ta mềm oặt như thể đã cạn kiệt mọi sức lực, rồi người đàn ông khẽ nhổm người dậy. Đôi mắt ông ta vẫn trống rỗng. Người đàn ông ngơ ngác một lúc tựa hồ không biết tại sao mình lại ở đây, rồi sau đó vội đứng dậy. Ông ta giũ tuyết khỏi quần áo và lấy tay áo chùi bọt mép dính trên miệng, sau đó mệt nhọc lê bước xuống núi. Nhóm người tụ tập ở đó có vẻ đang trên đường lên chứ không phải xuống núi, họ ngoái nhìn người đàn ông kia rồi tiếp tục leo lên. Tôi đứng tại đúng vị trí người đàn ông vừa nằm quằn quại chân tay và nhìn theo bóng lưng ông ta xuống. Đôi chỗ trên áo ông ta vẫn còn dính tuyết. Khi ông ta khuất khỏi tầm nhìn, tôi vừa nắm hai bàn tay vào nhau, siết lại cho ấm vừa một lần nữa thấy ngạc nhiên về chính mình. Trong suốt lúc dõi theo bóng lưng người đàn ông đi xuống con đường núi phủ tuyết sau khi đã hết co giật, cái tính nhạy cảm dễ nóng nảy của tôi dịu xuống đến mức đáng ngạc nhiên.
... “Đường leo núi đã đóng.”
Một tấm biển gỗ cắm trên con đường núi mùa đông. Con đường bị cấm. Khi tôi đứng nhìn con đường bị cấm đi qua, sự mệt mỏi dần phai nhạt và các cảm giác của tôi sống động trở lại. Tôi dừng bước giữa đường và quay người lại. Tôi cảm nhận được một nỗi nhớ. Về tôi, khi ngồi viết bên bàn. Nỗi nhớ này, rất nhanh, khuấy đảo lòng tôi. Tôi thậm chí còn thấy nhớ cả cái cảm giác xa cách mình từng e sợ. Như thể đang nghĩ về ai đó khác, tôi thấy hiển hiện trước mắt mình hình ảnh chính tôi đang ngồi bên bàn viết. Tôi muốn nhanh chóng trở về nhà và đắm chìm vào việc viết. Tôi chạy. Tôi lên taxi ngay nơi đầu con đường dẫn lên núi. Cơn đau đầu của tôi cuối cùng cũng đã dịu. Không còn những cơn náo loạn âm thầm dù cho có tận sáu sợi tóc vương trên sàn, và tương lai bấp bênh thì sao chứ, tôi thầm nhủ, Còn biết làm thế nào được. Chỉ khi tôi viết, dường như thiên nhiên mà tôi thiếu thốn mới len lỏi vào. Những con đường núi và những tuyến đường thủy và đồng bằng và anh.
Khi chỉ còn vài ngày nữa là đến kỳ nghỉ hè, Kim Sam Ok, học sinh lớn tuổi nhất trong lớp ngồi ngay phía trước tôi, đến chỗ lớp trưởng Mi Seo lúc này đang đọc Hegel và bảo rằng, bắt đầu từ ngày hôm sau cô sẽ không thể đến trường được nữa.
“Sao vậy?”
“Sắp có biểu tình xuyên đêm.”
Kim Sam Ok học cùng khối và cùng lớp với chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn dùng kính ngữ khi nói chuyện với cô. Vì cô hơn chúng tôi những sáu tuổi. Mi Seo gấp cuốn Hegel lại và hỏi.
“Chị tham gia biểu tình mà họ vẫn cho chị đi học sao?”
“Công ty đã tự đóng cửa rồi.”
“...?”
“Họ đóng cửa cả ký túc xá và căng tin nữa.”
“...”
“Nếu bọn chị không đến lấy tiền lương nghỉ việc và trợ cấp thất nghiệp, họ sẽ chuyển tiền cho tòa án.”
“...”
“Công ty mà đóng cửa thì chuyện đi học của chị tính sao?”
“Chị chẳng quan tâm đến trường học. Chị, chị phải làm việc. Chị biết sống làm sao nếu chẳng có một kế hoạch gì khi công ty đóng cửa? Chị còn phải gửi tiền về quê cho gia đình nữa.”
Tôi, mười bảy tuổi, chằm chằm nhìn Kim Sam Ok đang nói chuyện với Mi Seo. Nếu cô có thể trích tiền lương gửi về nhà, vậy thì cô phải kiếm được bao nhiêu chứ? Mi Seo hẳn cũng nghĩ giống tôi.
“Suốt thời gian qua chị vẫn gửi tiền về nhà đấy ư?”
“Dĩ nhiên rồi. Không thì biết làm sao. Chị còn mẹ với bốn đứa em nữa mà.”
“Lương chị được bao nhiêu?”
Kim Sam Ok vừa cười khúc khích vừa thổ lộ.
“Suốt ba năm nay chị chỉ dùng đúng một tuýp kem đánh răng thôi. Được chưa?”
Mùa hè. Một đợt nóng gay gắt. Anh ba về quê nhân dịp nghỉ hè, còn anh trai chị họ, vốn đi học ở Jeonju lại lên Seoul. Chị Hee Jae hỏi tôi bốn người ngủ một phòng không nóng à rồi rủ tôi xuống phòng chị ngủ. Tôi xin phép anh cả thì anh cáu ầm lên.
“Con gái con đứa định đòi ngủ lang đâu chứ hả?”
“Ngủ phòng chị Hee Jae thôi mà, có gì đâu.”
“Đủ rồi!”
Anh cả mua một ít dưa lê vàng rồi thả ngâm trong cái thùng cao su đặt dưới vòi nước trong bếp. Khi tôi đi làm về, mở cửa bếp ra, tôi nhìn thấy những quả dưa nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Tối muộn anh cả mới đi dạy từ trung tâm về, anh vừa gọt dưa vừa cảm thán.
“Này, sao trên đời lại có thứ quả ngon thế này chứ?”
Rồi một thứ Bảy nọ. Anh cả đột nhiên bật dậy giữa đêm. Anh bật dậy mạnh đến độ tôi, mười bảy tuổi, đang ngủ cạnh anh cũng tỉnh giấc theo. Lưng tôi đầm đìa mồ hôi, nhớp nháp. Ánh trăng mùa hè đang tràn vào qua khung cửa sổ nên chẳng cần bật điện vẫn có thể nhìn rõ cánh cửa gác mái. Anh cả nói gần như hét.
“Jae Kyu, ngày mai em hãy đi đi.”
Anh Jae Kyu, anh trai chị họ, giật mình tỉnh dậy. Chị họ đang nằm quay mặt vào tường ngủ cũng dậy theo.
“Làm ơn hãy đi đi, được không?”
“...”
Giọng anh cả kiên quyết.
Sớm tinh mơ, nhân lúc anh cả lên trên sân thượng, anh Jae Kyu thay quần áo và rời căn phòng hiu quạnh. Chị họ đi theo anh. Từ sân thượng trở xuống, anh cả hỏi mọi người đi đâu hết rồi. Nghe tôi bảo anh Jae Kyu về quê, còn chị họ đi tiễn, anh cả đùng đùng giận dữ.
“Rồi cứ thế đi mà không buồn cả ăn sáng à?”
Tôi, vốn đã lo lắng suốt cả đêm, giờ giàn giụa nước mắt, anh cả lại hét lên.
“Có ai chết hay sao mà em khóc lóc thế hả?”
Đã gần trưa nhưng chị họ đi tiễn anh trai vẫn chưa quay về. Cái thằng Jae Kyu đó bảo đi là đi không thèm chào hỏi ai, rồi em nó đi tiễn sao mãi chẳng về, anh cả không ngừng giận dữ, quát tháo ầm ĩ khiến tôi, mười bảy tuổi, sợ quá đành đến ngồi thu lu cạnh cái chạn bếp. Tôi đã dọn cơm sáng cho anh cả nhưng anh đang bực mình quá chẳng buồn ăn. Tôi mở ngăn chạn dưới cùng, thấy chai soju được bọc trong túi giấy vàng. Tôi lôi chai rượu ra rót đầy một nửa cái bát ăn cơm rồi nhấm nháp uống cạn.
“Vào đây xem nào.”
Một lúc sau anh cả gọi. Tôi vẫn bướng bỉnh ngồi nguyên tại chỗ. Thấy tôi không vào phòng, anh cả đẩy cửa rầm một cái. Anh đẩy mạnh đến nỗi cánh cửa đập vào thùng nước nóng gắn trên lỗ bếp than rồi theo phản xạ, đóng vào lại bật ra.
“Sao không vào hả?”
Tôi nhấc người dậy, nhưng thấy đầu óc quay cuồng. Tôi đi vào trong phòng, ngồi xuống tựa lưng vào tường. Anh cả ngồi bên bàn học, lưng quay về phía tôi, anh bảo.
“Anh không nổi giận với em.”
Vừa nghe những lời ấy, sự hờn giận lại dâng nghẹn lên trong tôi, tôi òa khóc. Tự dưng nghe thấy tiếng khóc, anh cả ngạc nhiên quay lại nhìn tôi.
“...?”
Nước mắt một khi đã trào ra không dễ gì dừng lại. Tôi thậm chí còn vừa khóc vừa nấc lên. Anh cả đang ngồi bên bàn liền cúi xuống lắc lắc người tôi, mười bảy tuổi.
“Mùi gì thế này hả?”
“...”
“Em uống rượu à?”
Điếng người, anh cả vò cái khăn mặt, vắt khô nước rồi lau mặt cho tôi.
“Em điên thật rồi.”
Khóc thấm mệt, tôi ngủ thiếp đi.
“Con bé này điên mất rồi.”
Bởi cơn nấc từ trận khóc, tôi cứ chập chờn lúc thức lúc ngủ. Chị họ về lúc đêm muộn bị anh cả giữ lại ở bếp, anh nói với chị.
“Anh nói thế không phải vì ghét bỏ gì Jae Kyu đâu.”
“...”
“Tại nóng quá nên anh mới thế đấy.”
“...”
“Nếu có hai phòng thì chẳng lẽ anh lại cư xử thế?”
Sau chuyện này, tôi có lén lút xuống phòng chị Hee Jae ngủ qua đêm anh cả cũng chẳng nói năng gì. Chị họ, vốn không thích chị Hee Jae, tuyệt đối không bao giờ đến phòng chị ấy. Khi tôi hỏi tại sao thì chị họ bảo chị Hee Jae có mùi lạ lắm.
“Mùi? Mùi gì?”
Trước câu hỏi lại của tôi, không tài nào giải thích được một cách chuẩn xác, chị họ lúng búng, Có đấy, có mà...
Tôi vẫn nhớ căn phòng chị Hee Jae từng sống.
Căn bếp, nếu hai người cùng đứng thì hầu như chẳng đủ chỗ xoay ngang xoay dọc. Thứ đầu tiên nhìn thấy khi mở cửa bếp là một cái giá. Trên giá để một đôi giày cao gót màu đỏ tía. Có lẽ chị đã đi đôi giày này trước khi nhập học. Mỗi lần vào phòng chị, tôi đều cụng đầu phải cái giá để đôi giày cao gót màu đỏ tía kia. Sau vài lần như thế hẳn sẽ phải chú ý cẩn thận hơn, nhưng tôi vẫn cứ cụng đầu như thường, lần nào cũng như lần nào. Lần đầu tiên tôi cụng đầu vào cái giá, chị Hee Jae cười mơ hồ bảo, Ra em cũng cao đấy. Nhưng cái giá đó chẳng liên quan gì đến chiều cao hết. Vì chị Hee Jae thấp hơn tôi cả một gang tay thỉnh thoảng cũng vẫn cụng phải nó. Mỗi khi tôi cụng đầu, chị lại nói thế này.
“Rồi em sẽ quen ngay thôi. Hồi đầu chị cũng cụng đầu suốt, nhưng giờ chỉ thỉnh thoảng mới cụng thôi.”
Bậu cửa sổ là bàn trang điểm của chị. Khung cảnh nhìn ra từ cửa sổ là một bức tường gạch đỏ của nhà hàng xóm. Chị không mở cửa sổ. Thấy phòng chị Hee Jae rồi tôi mới nhận ra ít nhất thì phòng chúng tôi cũng là căn phòng sáng sủa nhất trong số ba mươi bảy căn phòng thuộc ngôi nhà này. Mở cửa sổ phòng mình, chúng tôi có thể nhìn thấy khoảng đất trống, nhìn thấy cả trạm dừng cuối cùng của tuyến xe buýt số 118, cả những ống khói nhà máy, cả ga tàu điện ngầm và bầu trời, nhưng ngoài cửa sổ phòng chị Hee Jae chỉ độc một bức tường. Một ngày nọ, chai dưỡng da trên bậu cửa sổ của chị được đặt xuống cái bàn bệt bằng gỗ và cửa sổ được mở ra. Tôi nhìn xuống từ cửa sổ phòng chị. Có vẻ như những máng nước mưa của cả hai nhà đều xối nước xuống bức tường này nên dưới chân tường rất ẩm ướt. Cảm giác giống như cái đầm lầy, chỉ giẫm một cái là sẽ ngập đến tận ống chân. Trên mặt đất lổn nhổn rải đầy đầu mẩu thuốc lá, vỏ mì ăn liền và vỏ kẹo cao su.
“Hình như ở đây chẳng được ai quét dọn cả.”
Nghe tôi lẩm bẩm, chị liền bước lại gần bảo, Nhìn kìa, và chỉ xuống phía mặt đất dưới cửa sổ. Tôi nhìn theo tay chị chỉ, thấy một cái đũa được cắm ở đấy.
“Đũa gì thế kia?”
Tôi, mười bảy tuổi, nhìn chị Hee Jae một cách khó hiểu.
“Trông nó loét nhoét quá nên chị đã thử phi một cái đũa xuống xem sao, như kiểu phi tên ấy. Kết cục là như thế đấy.”
Mỉm cười mơ hồ, chị đóng cửa sổ lại rồi đặt chai dưỡng và chai nước hoa hồng trở lại bậu cửa sổ. Chị đặt cả hộp kem dưỡng ẩm lên cạnh đó. Tủ nhựa đựng quần áo vẽ cảnh biển, bàn bệt bằng gỗ, đài phát thanh nhỏ, vòng ốc đeo cổ treo trên tường, mỗi thứ một chiếc. Cái bàn là mới toanh được chị dùng để là cổ áo đồng phục vẫn còn nguyên trong hộp.
... Khi nghĩ về căn phòng của chị Hee Jae, dường như tôi nhớ về các đồ vật được đặt cố định rõ hơn là nhớ về người ở bên trong đó. Những thứ kiểu như bức ảnh em trai chị dán trên tường hoặc cái đĩa nhựa to cỡ bàn tay đựng cặp tóc. Giấy dán sàn màu vàng, thìa xúc đường. Có lẽ bởi vì chúng đều mới toanh. Trong tâm trí tôi cái bàn là hiện lên rõ ràng hơn bất kỳ đồ vật nào khác trong phòng chị. Chị mua nó để là cổ áo đồng phục. Giọng chị hồi đó vẫn sống động y như thể chị đang nói ngay bên tai tôi.
... Sống động, tôi vừa viết vừa không khỏi ngạc nhiên. Để miêu tả chị ấy tôi lại cần dùng đến từ “sống động” cơ đấy. Chị lúc nào cũng mơ hồ. Mọi thói quen của chị đều câm lặng, tựa những vết tàn nhang ẩn dưới cằm hay dưới tai. Nguyên nhân khiến chị họ hoạt bát cảm thấy không thoải mái khi ở gần chị Hee Jae rất có thể là bởi sự lặng lẽ của chị. Chị quá lặng lẽ đến độ đôi khi khiến đối phương thấy ngột ngạt.
... Là thế đấy. Những khi chị ngồi trên sân thượng tắm ánh mặt trời, hay bất động trong phòng, tôi lại bị thôi thúc bởi mong muốn phải đến lay người chị thật mạnh. Giờ nghĩ lại, đó có lẽ chính là sự cân bằng của chị, nhưng hồi ấy, cứ nhìn thấy cơ thể nhỏ bé của chị chìm trong trầm lặng lại có cảm giác dường như linh hồn chị đã rời bỏ thể xác và trong tôi dấy lên cái cảm giác thúc bách phải lay người chị thật mạnh để mang ý thức của chị trở về.
... Tôi lay chị tỉnh và chúng tôi chơi trò chơi.
Chị muốn làm nhân viên tổng đài điện thoại.
Dĩ nhiên rồi.
Chị muốn lấy được bằng nhân viên tổng đài và làm việc ở ngân hàng.
Dĩ nhiên rồi.
Em muốn làm gì?
Dĩ nhiên rồi.
Không, chị đang hỏi em muốn làm gì cơ.
...
Sao?
Tiểu thuyết gia.
... Chị lặp lại, Tiểu thuyết? Rồi gà gật giữa cái nóng đêm hè.
Đang gà gật chị chợt tỉnh và lẩm bẩm.
“Nhà máy đầu tiên chị làm việc là ở Bongcheon-dong. Hồi đó hình như chị mười lăm tuổi. Nhà máy cũng nhỏ xíu. Đó là nhà máy sản xuất túi xách, tổng cộng chưa đến bốn mươi người. Bọn chị ăn ngủ tại các phòng ngay trong nhà máy, và ở đó chị đã gặp So Yong Tak, chàng trai người đảo Jin. Nhờ có cậu ấy ở đó mà chị đã thật hạnh phúc. Chị ở trên gác mái tháo các đường chỉ thừa còn cậu ấy ngồi may trong phòng. Cậu ấy là con trai nhưng sử dụng máy khâu rất thành thạo. Cậu ấy nhìn giống con gái. Người nhỏ nhắn, lại còn có cả má lúm đồng tiền nữa. Chị thích điểm ấy ở cậu ấy, nhưng có vẻ như cậu ấy lại rất ghét vẻ ngoài con gái của mình. Cậu ấy cố tình cư xử mạnh mẽ cho nam tính nhưng chị biết cả. Gác mái nơi chị ngồi tháo chỉ thừa có trần thấp đến độ hễ đứng lên là chị sẽ bị cụng đầu. Sau kỳ nghỉ hè cậu ấy leo lên gác mái, đưa cho chị một thứ gì đó bọc trong tờ giấy trắng. Chị mở ra thì thấy một cái vòng cổ bằng vỏ sò. Cậu ấy bảo là tự mình làm bằng những vỏ sò nhặt trên bãi biển quê nhà Jin. Bọn chị kiếm được một phòng trên đỉnh núi ở Bongcheon-dong và đã sống cùng nhau bốn tháng.”
“...”
“Em ngạc nhiên à?”
“Vâng.”
Chị dừng câu chuyện tại đó, không nói thêm gì.
“Sau đó thì sao?”
“...”
“Sao?”
“Chị đã bỏ trốn.”
“Bỏ trốn? Tại sao vậy?”
“Chị, chị còn có một đứa em trai ở quê mà. Cậu ấy định về đó. Chị hoảng sợ. Chị không muốn phơi bày con người mình cho cậu ấy. Không, đó chỉ là cái cớ thôi, là chị cảm thấy ngột ngạt quá. Chị có cảm giác nếu cứ tiếp tục sống ở đó cùng cậu ấy, chị sẽ không bao giờ xuống khỏi ngọn núi đó được nữa. Không bao giờ. Vậy nên một Chủ nhật, giữa lúc cậu ấy đang ngủ trưa, chị bảo chị đến cửa hàng mua ít mì ăn liền và rồi không bao giờ quay lại đó nữa.”
“...”
“Chị đã ra đi mà chẳng mang theo gì hết. Chẳng mang theo gì ngoài chiếc vòng cổ nhét trong túi áo.”
Tôi, mười bảy tuổi, ngước nhìn chiếc vòng bằng vỏ sò treo trên tường.
“Chị không bao giờ gặp lại anh ấy sao?”
“Ừ. Có lẽ cậu ấy đã khóc cạn nước mắt. Cậu ấy còn chẳng cao hơn chị.”
“Chị không nhớ anh ấy à?”
“Đã mấy năm rồi còn gì.”
... Sau khi rủ rỉ bằng một giọng mơ hồ như đang nói chuyện với chính mình, chị Hee Jae nhìn tôi chằm chằm và hỏi. Chuyện thế này có thể thành tiểu thuyết được không?
Kỳ nghỉ hè của chúng tôi sắp qua rồi. Chúng tôi đột ngột nghe tin đến cuối tháng phải giao hơn một nghìn dàn stereo. Làm thêm giờ nối tiếp làm đêm. Một hôm, trước lúc ăn nhẹ buổi đêm, tôi bảo chị họ hôm nay tôi không thể làm đêm thêm nữa.
“Nhưng kỳ nghỉ sắp qua rồi... Làm cách nào được, những người khác đều làm thâu đêm mà... Họ sẽ không cho phép bất kỳ trường hợp ngoại lệ nào đâu.”
“Thật đấy, không phải em giả bộ đâu. Em sắp chết đến nơi rồi.”
“Em ốm đâu à?”
“Lưng em như sắp gãy đôi rồi, bụng cũng đau nữa.”
“Sao tự dưng lại thế nhỉ?”
“Không phải tự dưng đâu. Từ hôm qua, hôm kia em đã thế rồi, chỉ là em cố chịu thôi. Nhưng giờ thì không thể chịu đựng thêm nữa.”
Chị họ đứng dậy đến nói chuyện với quản đốc rồi quay lại.
“Quản đốc chẳng buồn nghe chị nói nữa.”
“...”
“Em cố chịu thêm chút đi. Nghe nói chỉ cần thức nốt đêm nay là không phải gấp nữa rồi.”
Bình minh lên. Ôm lấy cái bụng đau quằn quại, tôi đứng dậy khỏi vị trí làm việc và tiến đến nhà vệ sinh, chị họ cũng đứng lên theo tôi.
“Này!”
Tôi quay lại. Chị họ gọi tôi rồi chẳng nói chẳng rằng bám sát theo tôi.
“Sao thế?”
Vừa nghe tôi hỏi trong lúc tì cái lưng đau nhức lên tường nhà vệ sinh, chị họ liền bật cười vang.
“Em bị đau bụng kinh rồi thì phải.”
“...?”
“Đứng yên đây nhé. Để chị vào phòng thay đồ lấy quần áo để thay với băng vệ sinh cho.”
Chị họ đi rồi, tôi quay người nhìn vào mông mình trong gương. Choáng váng, tôi ngồi sụp xuống sàn nhà vệ sinh. Chỉ sợ có ai đó sẽ vào, tôi giam mình trong một buồng vệ sinh.
Kỳ nghỉ hè đã kết thúc, nhưng Kim Sam Ok vẫn không đến trường. Mỗi lần điểm danh, thầy Choi Hong Yi lại liếc nhìn về phía chỗ ngồi của Kim Sam Ok. Thầy bảo những ai làm cùng công ty với Kim Sam Ok thì giơ tay lên. Không ai giơ tay nhưng có một người bảo, Công ty của Kim Sam Ok ngừng hoạt động rồi ạ.
“Công ty nào đấy?”
“YH ạ.”
Cả lớp chợt lặng thinh. Thầy Choi Hong Yi gọi lớp trưởng Mi Seo tới phòng giáo viên. Thầy cũng định đến thăm nhà Kim Sam Ok chăng? Từ phòng giáo viên trở về Mi Seo lại mở cuốn Hegel ra.
“Thầy bảo gì thế?”
“Thầy nhờ tớ tìm hiểu cụ thể xem đã có chuyện gì xảy ra với chị ấy.”
“Vậy cậu tìm hiểu được không?”
“Tớ chẳng biết nữa. Ở công ty tớ có một người từng làm việc ở YH, chắc tớ sẽ thử hỏi cô ấy xem sao.”
“Đó là công ty làm gì vậy?”
“Công ty tóc giả. Cậu không biết à? Công ty có cô Kim Kyung Sook nhảy từ tòa nhà trụ sở Đảng Tân Dân chủ xuống ấy! Này, cùng tên với cậu đấy.”
“Kim Sam Ok làm việc ở đó à?”
“Ừ.”
“Mà cô gái kia sao lại chết?”
“Nói là bị ngã nhưng nghe đâu động mạch trên cổ tay trái của cô ấy bị cứa đứt. Người ta bảo cô ấy đã lấy một mảnh vỏ chai soda cắt tay.”
Hôm sau, lúc gặp nhau ở chỗ tủ giày dép trên đường tới lớp, Mi Seo rủ tôi đến quầy ăn nhanh ăn bánh.
“Cậu biết không, Kim Sam Ok ấy.”
Tôi dừng cốc nước đang uống dở và nhìn Mi Seo không chớp mắt.
“Chị ấy mất tích rồi.”
“Cậu nói vậy là sao?”
“Có vẻ như hồi nghỉ hè đã xảy ra biến rất lớn. Kim Sam Ok cũng đã tới trụ sở Đảng Tân Dân chủ đấy. Đến các đại biểu quốc hội và phóng viên còn máu me bê bết thì thử tưởng tượng xem các công nhân nhà máy đi biểu tình sẽ bị đối xử như thế nào chứ.”
“Như thế nào?”
“Đến cả văn phòng chủ tịch đảng cũng bị bố ráp nữa cơ. Nghe nói họ sẽ giết tất cả những ai dám chống lại. Kim Sam Ok cũng bị đánh đập, máu me tùm lum và bị cảnh sát lôi đi đấy...”
“Rồi sao?”
“Ngày nào, ở đâu chị ấy cũng khóc, bảo rằng lẽ ra chính chị ấy mới là người phải chết chứ không phải là Kyung Sook, cô gái Kyung Sook kia.”
“...”
“Chị ấy đã bị bắt giữ, rồi bị trục xuất về quê.”
“Vậy hẳn bây giờ chị ấy đang ở nhà chứ?”
“Không đâu.”
Mi Seo đặt cái bánh đang cầm trên tay xuống.
“Sao cậu không ăn?”
“Cứ nghĩ đến Kim Sam Ok là tớ lại chẳng thiết ăn nữa. Khi người ta bắt chị ấy đi, chị ấy đã cố phản kháng bằng cách nhảy qua cửa sổ chiếc xe buýt của cảnh sát và bị thương ở chân, thành ra phải đi khập khiễng.”
“...”
“Hình như em trai chị ấy đã lên Seoul đi tìm chị ấy đấy. Thấy bảo hồi bị đưa về nhà, chị ấy cứ ngồi thu lu trên gác mái hết từ ngày này sang ngày khác, rồi đến một hôm, chị ấy biến mất.”
“Chị ấy có thể đi đâu được chứ?”
“Cái cô kể cho tớ nghe chuyện này bảo phải tuyệt đối giữ bí mật đấy. Cho dù có tham gia biểu tình hay không, chỉ cần từng làm việc cho YH là giờ sẽ chẳng ai thuê nữa đâu. Cô ấy cũng đã viết hồ sơ rải đi khắp nơi nhưng đều thất bại mà chẳng rõ lý do tại sao. Sau cô ấy mới biết rằng không chỉ danh sách những người từng có mặt ở trụ sở Đảng Tân Dân chủ mà cả một danh sách những người từng tham gia biểu tình đã được phát tới tất cả những công ty khác.”
“Vậy làm sao cô ấy vào được nhà máy của cậu?”
“Cô ấy giấu việc mình từng làm cho YH rồi lấy giấy tờ của chị gái để đăng ký.”
Từ quầy ăn nhanh quay về lớp, Mi Seo lại đọc Hegel. Tôi, mười bảy tuổi, vươn cổ về phía Mi Seo, thì thầm hỏi.
“Kim Kyung Sook, cô gái đã chết ấy, bao nhiêu tuổi?”
“Hai mốt.”
Trong khi có nhiều phần có thể cứ thế lướt qua nhưng tôi vẫn nhớ quá chi tiết, thì có những phần đáng lẽ phải hiện lên như một lẽ đương nhiên lại trống hoác như con phố hoang phế. Sau này Kim Sam Ok đã ra sao? Dù có cố gắng tìm kiếm đến thế nào chăng nữa, tôi vẫn chẳng thấy cô ở bất cứ nơi đâu.
Tất cả những gì giờ đây tôi có thể làm là đến phòng lưu trữ của các báo Donga Ilbo hay Hankook Ilbo để tìm đọc những tư liệu này mà thôi.
... Một còi xe ô tô rú lên ba tiếng dài. Đây là tín hiệu mở đầu cho Chiến dịch 101. Dưới ánh sáng từ sáu chiếc xe chữa cháy, đội cứu hỏa đứng căng các tấm đệm xung quanh trụ sở đảng để chuẩn bị sẵn sàng phòng trường hợp các nữ công nhân nhà máy định nhảy ra khỏi tòa nhà, trong khi cảnh sát ập vào trong qua cửa chính và dùng hai xe thang cao để leo qua bức tường phía sau tòa nhà tiến vào hội trường tầng bốn và văn phòng chủ tịch đảng cùng phòng truyền thông trên tầng hai. Cảnh sát đụng độ với nhân viên hành chính của Đảng Tân Dân chủ đã kê bàn ghế dựng hàng rào chắn, trụ sở đảng trở nên hỗn loạn, cảnh sát vừa ném bom cay vừa di chuyển lên tầng hai. Trước tiên, một nhóm cảnh sát mặc thường phục lao vào bên trong hội trường tầng bốn, nơi các nữ công nhân nhà máy đang ngồi biểu tình, chạy tới đóng hết các cửa sổ và đứng chắn, sau đó hàng trăm cảnh sát bố ráp ùa vào, vung gậy lên lôi xềnh xệch từng nữ công nhân nhà máy xuống cầu thang giải vào bên trong chiếc xe buýt cảnh sát đang đỗ bên ngoài cổng chính tòa nhà chờ đưa họ đi. Dưới sự thuyết phục của chủ tịch Kim của Đảng Tân Dân chủ, các cô công nhân đã từ bỏ quyết tâm định tự tử tập thể, nhưng khi cảnh sát ập vào, họ quá hoảng loạn, đập vỡ chai soda, nhất loạt kêu gào phản kháng, một vài người còn định dùng tay đấm vô kính cửa sổ để nhảy ra ngoài, nhưng đã bị cảnh sát ngăn lại. Chỉ trong vòng mười phút, tất cả những người biểu tình đã bị lôi ra khỏi tòa nhà. Giữa chừng, một vài nữ công nhân đã tìm cách tự tử bằng các mảnh vỡ của ô kính cửa sổ hoặc chai soda, và người ta tìm thấy Kim Kyung Sook, đã tắt thở, nằm gục bên lối vào tầng hầm ở phía sau tòa nhà, động mạch cổ tay trái bị cứa đứt, và đã đưa cô tới bệnh viện Chữ thập xanh phía bên đường đối diện. Phân thành các nhóm bốn người, các cảnh sát trói chân trói tay các nữ công nhân lại và đưa tất cả người biểu tình đi trong vòng mười phút.
... Ngày 13 tháng Tám, lễ tang của Kim Kyung Sook được tổ chức tại phòng tang lễ của Bệnh viện Gangnam thành phố Seoul, với sự có mặt của ba thành viên gia đình, bao gồm mẹ Kim, cùng các nhân viên công ty YH và các cảnh sát. Buổi lễ diễn ra chỉ trong vòng ba phút và thi thể của cô đã được hỏa thiêu.
Ở khu đất trống có thể nhìn thấy khi mở cửa sổ căn phòng hiu quạnh, những mầm cải thảo đang mọc lên. Ai đã trồng chúng vậy nhỉ? Cho dù trái đất có quay theo hướng nào chăng nữa, cải thảo vẫn mọc. Nhưng chúng chỉ mọc lên thôi; còn trong ruột rỗng tuếch. Những lá cải thảo xanh phủ đầy bụi đen từ các nhà máy.
Bây giờ là năm giờ mười lăm phút sáng. Chuông cửa nhà tôi đột nhiên kêu lên một tràng dài. Liệu có thể là ai, vào giờ này, giữa kỳ nghỉ Tết chứ? Tôi vội bật dậy, đẩy mở cửa phòng và hướng về phía cửa ra vào, lớn giọng bất thường hỏi.
“Ai đấy?”
Im lặng. Tim tôi đập thình thịch vì nỗi sợ hãi cuộn trào.
“Ai đấy?”
Chẳng có gì ngoài sự im lặng. Tôi dỏng tai lên và cố hết sức lắng nghe xem có bất kỳ dấu hiệu chuyển động nào bên ngoài cánh cửa không, nhưng chẳng nghe thấy tiếng gì cả. Bà cô dưới quê. Bà cô sớm góa bụa, đã sống một mình suốt những năm tháng thanh xuân trong ngôi nhà có sân kéo dài ra con đường chính mới lát. Chính qua cô mà chúng tôi nghe được bao chuyện về các thế hệ trước bố tôi. Ông các cháu từng mở một hiệu thuốc Đông y... Còn bà các cháu... Hồi Cộng hòa Nhân dân Hàn Quốc trước chiến tranh thì... Khi đi qua con mương, cô sẽ nói, từ kia đến tít đằng kia đều là đất của mấy đứa cả đấy... Khi đi qua một ngôi nhà chất đầy củi, cô sẽ nói, Ngày xưa, nhà mấy đứa là nhà duy nhất trong làng có củi chất đống... Hồi còn bé, cô từng giúp ông nội cân thuốc Bắc hay gói thuốc vào trong những túi nhỏ màu trắng, nên cứ khi nào có ai đó kêu đau ốm ở đâu, cô sẽ kể tên hết thuốc này đến thuốc kia, rồi dặn đừng có trộn sắc lên ngay mà phải để phơi sương... kê đơn không ngừng nghỉ.
Bà cô sớm góa bụa. Cứ ở cạnh cô là tôi lại không hề cảm thấy chỉ có hai cô cháu mà như luôn có cả ông, cụ ông, bà, cụ bà cùng các anh chị em của ông, những người tôi nghe nói đã chết trong một vụ thảm sát thời chiến tranh. Tôi vừa thích vừa không thích cái cảm giác này. Bà cô sớm góa bụa, dù giữa đêm hôm khuya khoắt nhưng chỉ cần thoáng nghe tiếng người là mở bung cửa phòng hét to, Ai đấy, rồi dõi mắt chằm chằm nhìn ra ngoài sân.
Tôi không tài nào ép mình ra mở cửa được. Tôi cũng muốn mở cửa ra để kiểm tra âm thanh mình vừa nghe thấy lắm, nhưng tôi quá sợ hãi, đến mức thấy trán mình lạnh toát. Tôi quay lại phòng, vận hết sức bình sinh đóng mạnh cửa phòng cho vang tiếng thật lớn. Thậm chí, sau khi đã quay trở về phòng và ngồi xuống bên bàn viết rồi, tai tôi vẫn dỏng lên hướng về những âm thanh bên ngoài cửa ra vào. Có phải tôi nghe nhầm không nhỉ? Rõ ràng là có tiếng chuông cửa mà. Không dưng lại nghe thấy tiếng chuông ư? Tôi đang xoa ngực thì bỗng cảm giác như có ai đó ở phía sau mình. Tôi giật thót mình quay lại. Chiếc khăn choàng vai tôi vắt trên lưng ghế tự trượt xuống sàn. Lúc nhoài người ra nhặt nó lên, tôi tự nhiên thở phào nhẹ nhõm.
... Dường như ai đó đã vào trong căn phòng này.
... Dường như ai đó, một người nào đó mà dù tôi có hỏi, Ai đấy, cũng chẳng thể trả lời, thành tiếng, Tôi đây, người đó đang đứng ngay sau lưng tôi, nhìn chằm chằm vào gáy tôi.
... Tôi tắt đèn và lên giường nằm. Sự hiện diện này đi theo tôi, co người nằm xuống bên cạnh tôi.
Chị Hee Jae à?
...
Là chị phải không?
...
Chị làm em giật mình đấy.
...
Sao chị biết mà đến tận đây được thế?
...
Em, em đang sống rất tốt nhỉ?
...
Em xin lỗi.
...
Hồi đầu, cho dù đang ở đâu, em cũng rơi nước mắt. Chị đè nặng lên em, khiến em không tài nào ngủ được. Em không nhớ mình đã mơ thấy những gì. Nhưng em thường tỉnh dậy từ một giấc mơ và nhận ra rằng chị đã không còn trên đời này nữa, rồi cứ mỗi lần như vậy em lại òa khóc. Dù em không nói gì chị cũng sẽ thấy và hiểu hết thôi. Rằng suốt bao lâu, em đã khóc và đã mơ. Suốt bao lâu, em đã đếm thời gian cùng hình bóng chị. Chính là khi xuân đến. Mùa xuân đầu tiên vắng bóng chị, rồi mùa xuân lại đến, mùa xuân thứ hai vắng bóng chị, rồi mùa xuân lại đến lần nữa, mùa xuân thứ ba vắng bóng chị, rồi mùa xuân thứ tư vắng bóng chị. Rồi cứ thế phai nhạt dần.
...
Chị bảo sao?
...
Chị? Chị đang nói gì vậy?
...
Em không nghe rõ. Chị nói to hơn chút nữa đi? Gì cơ?
...
... Gì cơ?
...
Em không nghe thấy - không nghe thấy, gì cơ?
...
Cho dù chị có nói gì đi chăng nữa, em vẫn sẽ viết về chị. Em cũng không chắc liệu em có thể tái hiện lại chị y nguyên như trước đây hay không. Nhiều khi em vẫn thường suy nghĩ. Rằng một ngày nào đó, khi em có thể gọi họ là bạn em, khi đó em muốn dành một chỗ xứng đáng cho chị và cho họ. Một vị trí xứng đáng, về mặt xã hội hay cả về mặt văn hóa nữa. Để làm được thế, em sẽ phải theo sát sự chân thực của chị, theo sát sự chân thực của em về chị. Không phải khi soi vào trong ký ức của mình, cũng không phải khi nhìn vào những bức ảnh còn lưu giữ lại em mới có thể trở nên chân thực. Những thứ đó đều trống rỗng. Chỉ những khi nằm sấp thế này mà viết lại điều này điều kia, em mới có thể hiểu được chính mình. Em cố gắng tiếp cận chị thông qua việc viết.
...
... Gì cơ?
...
Nói to hơn chút nữa đi? Chị đang nói gì vậy?
...
Hử?
...
Hãy đứng ngoài văn chương ư? Chị đang nói với em đấy à?
...
Ngoài văn chương là ở chỗ nào?
...
Bây giờ chị đang ở đâu?
Tháng Mười, bên ngoài khung cửa sổ căn phòng hiu quạnh của chúng tôi, giữa khu đất trống cạnh bến cuối xe buýt tuyến số 118, cải thảo xanh mơn mởn. Tháng Mười, cải thảo chẳng được ai chăm sóc và thân phủ bụi nhà máy, đã lớn cỡ lòng bàn tay. Mỗi lần nhìn ra khoảnh cải thảo ấy, chị họ lại thì thầm ai kia quả là giàu có.
“Nếu cứ để đất trống thì sẽ phải nộp phạt nên ông ta rắc hạt giống cải thảo để nó trông giống như ruộng rau đó.”
“Năm sau, nhà cửa sẽ mọc lên khắp nơi cho xem. Đến lúc đó chắc sẽ chẳng còn nhìn thấy bãi đất kia nữa.”
Một ngày tháng Mười, chúng tôi đứng trên sân thể dục đang tối dần, lắng nghe bài diễn văn nghẹn ngào của thầy hiệu trưởng già. Thầy nói. Rằng, Tổng thống đã qua đời. Rằng, người trao cơ hội đến trường cho chúng tôi đã trúng đạn mà tạ thế. Thầy hiệu trưởng già nghẹn ngào, quay lưng lại với vầng mặt trời đang lặn, rồi cứ thế khóc. Thầy vừa khóc vừa nói, Tổng thống vừa qua đời ấy là người vĩ đại biết chừng nào. Suốt những năm tháng gian khó, ông đã cống hiến bản thân cho sự nghiệp cứu nước... Chúng tôi đứng thả lỏng trong hàng, chăm chú ngó nỗi đau khổ của thầy hiệu trưởng già. Thầy hiệu trưởng già rút khăn tay ra lau nước mắt. Rồi với khăn tay vẫn nắm trong tay, thầy hiệu trưởng già thao thao bất tuyệt về ngài Tổng thống quá cố, rồi nghẹn ngào khóc, rồi lại tiếp tục thao thao bất tuyệt, rồi lau nước mắt. Ban đầu chúng tôi cứ ngây ra nhìn những giọt nước mắt của thầy, rồi ai đó bắt đầu sụt sịt. Một người vừa sụt sịt thì người khác cũng sụt sịt theo. Từ chỗ này chỗ kia, những tiếng sụt sịt lẫn vào nhau.
Tôi, mười bảy tuổi, không sụt sịt mà chỉ đứng nhìn xuống hai bàn chân mình. Tôi lấy làm áy náy vì không thể khóc như tất cả những người khác. Vài năm trước, khi vợ ngài Tổng thống bị bắn trong Lễ kỷ niệm Ngày Quang Phục 15 tháng Tám, tôi đã khóc lên khóc xuống. Nhưng lần này, chẳng có giọt nước mắt nào chảy ra hết, chỉ có tiếng súng vang vang trong tai tôi. Tôi nghe tin phu nhân Tổng thống bị bắn là vào giữa cái nóng một buổi ban trưa. Ai đó nói, Yook Young Soo bị bắn chết rồi. Tin đến quá bất ngờ nên thoạt đầu tôi không sao tin nổi, cứ đinh ninh đó chỉ là một trò đùa. Một người xinh đẹp đến như thế sao lại có thể chết được chứ? Tôi không có tình cảm đặc biệt gì với ngài Tổng thống, nhưng tôi thích vợ của ông. Mái tóc luôn được búi thanh nhã của bà, cần cổ dài như cổ hạc của bà, gấu chiếc áo cánh truyền thống được xếp rất khéo của bà, nụ cười tựa hoa cẩm tú cầu của bà... Dường như bà luôn tồn tại trong hình ảnh và dung mạo đó. Thế mà bà lại bị bắn ư? Đệ nhất Phu nhân tựa như một đóa mộc lan nhưng loài hoa bà yêu thích nhất là hoa cúc, họ bảo. Hoa cúc được chất cao như núi và đài phát thanh phát liên tục bài “Sarabande” của Handel làm nhạc điếu mấy ngày liền. Dân làng bỏ bê công việc thì thầm bàn tán. Đệ nhất Phu nhân mất rồi. Bà ấy bị gián điệp Triều Tiên bắn đấy. Chiếu rơm được trải sẵn tại nhà xay bột có ti vi ở cuối làng. Dân làng ngồi hàng nọ nối tiếp hàng kia chăm chú nhìn vào màn hình chiếc ti vi đặt dưới sàn nhà. Màn hình chiếu cảnh Tổng thống vừa lấy khăn tay lau nước mắt vừa dõi theo xe tang chở Đệ nhất Phu nhân rời Thanh Ngõa Đài về phần mộ đắp đầy hoa cúc. Thật đau xé tâm can khi chứng kiến người chồng mất vợ vì một viên đạn. Dân làng khóc nức nở. Tôi, một đứa trẻ, cũng khóc theo họ. Sau này, thỉnh thoảng tôi thấy Geun Hye, con gái ngài Tổng thống, đứng bên cha thay mẹ. Nét mặt trông nghiêng thanh tú thật đẹp. Nghĩ đến chuyện con người xinh đẹp đến nhường kia đã bị mất mẹ, mũi tôi lại cay cay. Con gái Tổng thống Geun Hye trông giống hệt Đệ nhất Phu nhân tôi yêu quý. Cả nụ cười như đóa mộc lan lẫn cần cổ như cổ hạc. Thế mà giờ cô đã mất cả bố. Giờ cô đã thành người mồ côi. Tôi, mười bảy tuổi, chăm chăm nhìn xuống hai bàn chân và nghĩ về người giờ đây đã mồ côi.
Chúng tôi đã từ sân thể thao quay về lớp ngồi. Nhìn các học sinh mắt đỏ hoe vì khóc theo thầy hiệu trưởng già, như có vẻ sửng sốt, thầy Choi Hong Yi hỏi.
“Các em vì điều gì mà khóc vậy?”
Sự im lặng bao trùm lớp học. Thầy Choi Hong Yi nói bằng giọng nhỏ nhẹ nhưng kiên quyết.
“Một chính quyền bắt đầu bằng một cuộc đảo chính, giờ đây, bằng những phát súng của một kẻ dưới quyền, đã đi đến hồi kết. Chế độ độc tài thối nát duy trì suốt mười tám năm qua giờ đã sụp đổ. Thể chế Duy tân đã chấm dứt và một thế giới mới tốt đẹp hơn sắp tới. Một thế giới mà những chuyện như chuyện của Kim Sam Ok sẽ không còn xảy ra, một thế giới nơi nhân quyền của các em được tôn trọng. Nền độc tài đã tồn tại quá lâu rồi. Đã mười tám năm rồi.”
Mười tám năm. Tôi, mười bảy tuổi, nhắc lại lời thầy. Mười tám năm. Hóa ra ông ấy đã là tổng thống của đất nước này từ một năm trước khi tôi chào đời.
Có lẽ chính là vì vậy. Ngay đến bây giờ, mỗi khi nhắc đến tổng thống, trong đầu tôi lại hiện lên khuôn mặt của Tổng thống Park Chung Hee. Bởi Tổng thống đã luôn là ông ấy, thế nên tôi từng có thời không sao tưởng tượng nổi sẽ có một người khác làm tổng thống. Người ta kể lại rằng lúc bị Kim Jae Kyu bắn, ngài Tổng thống, đối tượng thương khóc của thầy hiệu trưởng già, ngay cả khi đang chảy máu đầm đìa trong vòng tay của một nữ ca sĩ, vẫn nói, Tôi không sao. Ông ấy đã nói đúng câu nói đó vào ngày 16 tháng Năm năm 1961, hai năm trước khi tôi ra đời, khi ông băng qua sông Hàn lúc bình minh. Khi lực lượng hiến binh nhận nhiệm vụ đàn áp cuộc đảo chính từ đầu phía Bắc cầu số 1 sông Hàn tiến qua cầu, nã đạn vào đội quân của ông ta đang từ phía ngược lại tiến sang, Park Chung Hee đã quay sang nói với Chuẩn tướng đang cố ngăn ông tiến về phía trước rằng, Tôi không sao. Tôi không sao, tôi không sao.
Hoảng sợ trước tin về cái chết của Tổng thống, trên đường về nhà, chúng tôi đã không thể đến chợ mua đồ nấu canh cho bữa sáng mai mà đi thẳng về căn phòng hiu quạnh. Chẳng ai nói năng gì. Im lặng tuyệt đối. Giờ đây, khi ngài Tổng thống từng cho chúng tôi cơ hội đến trường, theo như lời thầy hiệu trưởng, đã chết rồi, chương trình học này liệu có bị kết thúc chăng? Chị Hee Jae lách vào tầng một trước, rồi đến lượt chị họ và tôi lỉnh lên tầng ba. Sáng sớm hôm sau, tôi, mười bảy tuổi, lẻn ra ngoài cửa trước mang theo con dao giấu trong cái tô nhựa vẫn được chúng tôi dùng để vo gạo. Tôi vừa liếc ngang liếc dọc vừa bước tới vạt cải thảo trên khu đất trống. Những lá cải thảo nặng trĩu sương đêm. Những hạt sương chạm vào đầu ngón tay lạnh buốt nhưng mặt tôi đã đỏ bừng đến tận mang tai. Cho dù tôi đang cúi rạp người xuống, cho dù chẳng có mấy người quanh đây vào cái giờ này, tôi vẫn có cảm giác như thể sẽ có ai đó sẵn sàng xuất hiện bất kỳ lúc nào. Xuất hiện để trách mắng tôi vì tội dám lẻn vào vạt cải thảo của người khác. Tôi còn có cảm giác rằng người chủ của vạt cải thảo này, dẫu rằng trước đây tôi chưa từng một lần nhìn thấy, sẽ xuất hiện ngay trước mặt tôi đây rồi hét lên, Trộm. Tôi đè nén nỗi sợ hãi trong lòng và hái đủ số diếp cải thảo cần để nấu canh cho bữa sáng. Đúng lúc tôi bước qua cổng trước, ôm theo cái bát đựng đám cải thảo đã hái, chị Hee Jae mở cửa và bước ra ngoài. Tôi vội giấu cái bát ra sau lưng và leo lên cầu thang. Chị họ mở cửa và phì cười.
“Tư tưởng lớn gặp nhau đấy. Chị đang lo không biết nên nấu canh kiểu gì thì chợt nhớ ra chỗ cải thảo kia, thế nên cũng đang định đi hái một ít đây.”
Chỉ đến khi đặt cái tô đựng cải thảo vừa hái trộm xuống nền bếp, nỗi sợ hãi của tôi mới lắng xuống phần nào.
“Này, Tổng thống đúng là không phải người thường. Hôm qua khiến chúng mình thậm chí còn không dám qua chợ mà về thẳng nhà. Hôm nay thì chính ngài Tổng thống đã sai chúng mình đi ăn trộm đấy chứ nhỉ?”
Khi tác phẩm này hoàn thành, liệu tôi có thể hoàn toàn bước sang một đam mê khác? Liệu tôi có thể được giải thoát khỏi sự dữ dội và tàn ác, sự hỗn loạn và mong manh từ bên trong vốn vẫn từng đợt từng đợt hành hạ chính tôi?
Lệnh thiết quân luật được tuyên bố áp dụng ngay sau cái chết của Tổng thống. Tối đến anh ba cũng không về căn phòng hiu quạnh nữa. Trên năm người tụ tập trò chuyện với nhau là thành tội ác rồi đấy, Mi Seo, cô bạn đọc Hegel, thì thầm với tôi. Ở nhà máy, hễ khi nào nhận thấy mình đang ngồi tụm ba bốn người nói chuyện là chúng tôi cũng sẽ giải tán luôn. Đường phố vắng lặng và thê lương, như thể có một đàn sói vừa chạy qua sục sạo. Chỉ mong nó không sao, anh cả, về nhà lúc tối muộn và với bộ tóc giả vẫn đội trên đầu, vừa nói vừa quét mắt khắp phòng tìm anh ba.
Một hôm, trong lúc anh cả đã đội tóc giả đến trung tâm dạy từ sáng sớm, anh ba về phòng. Ắt hẳn anh đã ở ngoài trời dưới màn sương đêm, vì hai vai anh ẩm ướt cả. Chúng tôi còn chưa kịp trò chuyện thì anh ba đã bắt đầu gói ghém quần áo sách vở cho vào trong túi.
“Anh định đi đâu à?”
Anh ba ngồi trước bàn ăn chị họ dọn sẵn, mũi anh trở nên sắc nhọn.
“Bảo với anh cả là anh sẽ tránh về quê một thời gian nhé.”
“Thế còn chuyện học thì sao?”
“Trường được lệnh đóng cửa rồi.”
“Thế anh sẽ về nhà à?”
“Không, không phải về nhà.”
“Thế anh đi đâu?”
Anh ba không thể trả lời. Tôi không ngừng dò hỏi anh định đi đâu, nhưng anh ba chỉ bảo tôi nhắn anh cả đừng lo lắng gì rồi lại bước ra khỏi chính cái cổng anh vừa bước vào.
Chị họ, hai mươi tuổi, cảm nắng một chàng học sinh trường cấp ba dạy nghề đẹp trai đến thực tập tại khu Kiểm tra. Ngồi sau chị họ giờ đang đặt trọn trái tim vào chàng thực tập sinh cấp ba kia, tôi, mười bảy tuổi, chép lại Quả bóng tí hon người lùn ném vào vở. Tôi chỉ còn một chút xíu nữa là xong.
“Đừng khóc, Yeong Hee à.”
Anh cả nói.
“Xin em đừng khóc nữa. Ai nghe thấy được bây giờ.”
Tôi không ngừng khóc nổi.
“Anh không tức giận sao?”
“Anh đã bảo em nín đi cơ mà.”
“Hãy giết chết bất kỳ gã khốn nào gọi bố là người lùn đi.”
“Được. Anh sẽ giết hết.”
“Nhất định phải giết nhé.”
“Ừ. Nhất định.”
“Nhất định đấy.”
Tên ngài tân Tổng thống do Hội đồng Thống nhất Quốc gia bầu ra là Choi Kyu Ha. Bức ảnh ngài tân Tổng thống đeo kính được treo ở chính giữa tường văn phòng của khu sản xuất, chỗ trước đây từng treo bức ảnh của Park Chung Hee. Tổng thống Choi Kyu Ha. Choi Kyu Ha ngài Tổng thống. Nghe cứ kỳ quặc thế nào đó. Đến tận trước lúc đó, ngài Tổng thống vẫn luôn là Park Chung Hee và Park Chung Hee vẫn luôn là ngài Tổng thống, bởi vậy gọi là Tổng thống Choi Kyu Ha hay Choi Kyu Ha ngài Tổng thống đều thật kỳ quặc. Ngài tân Tổng thống có vẻ yếu đuối, cằm của ông không sắc nét như của ngài Tổng thống quá cố; tai của ông, nơi cặp kính yên vị, cũng không nhọn bằng của ngài Tổng thống quá cố. Trông Tổng thống mới chẳng khác gì ông bác hàng xóm. Một người như vậy mà là Tổng thống ư? Liệu có phải vì ông chẳng có vẻ gì là đanh thép hay sắc sảo chăng? Một tối tháng Mười hai, chưa đầy bảy ngày kể từ khi Tổng thống mới đắc cử, bất ngờ có tiếng súng nổ ở khu Hannamdong, Samgakji và cung Gyeongbok. Ắt hẳn ai đó đang bí mật tìm cách đe dọa ai đó. Hoặc lại có ai đó đang tìm cách ám sát ai đó chăng? Ngày hôm sau, Bộ trưởng Quốc phòng ra một thông báo ngắn gọn cho biết trong quá trình điều tra vụ ám sát Tổng thống Park, đã có nhiều cáo buộc chống lại Chỉ huy Thiết quân luật Jung Seung Hwa và rằng ông ta đã bị Hội đồng điều tra đầu ngành bắt giữ.
Thế còn tiếng súng thì sao?
Hôm đó là Chủ nhật. Tôi đi ăn tối cùng gia đình anh ba. Sườn đang được nướng trên vỉ than. Cháu trai tôi, mới vừa lên năm, đang chơi ném bóng lên tường. Nhân viên phục vụ đến tận bàn đang cầm kéo cắt sườn nướng đã chín cho chúng tôi, đột nhiên, anh ba hỏi, Cuốn tiểu thuyết em đang viết có phải là về khoảng thời gian chúng ta sống ở Garibong-dong không? Mặt tôi nóng phừng phừng, y như những dẻ sườn trên ngọn lửa than. Tim tôi đang đập thình thịch, thấp thỏm không biết anh sẽ nói gì thêm thì anh lại nhắc đến một chuyện tôi không ngờ tới.
“Cuộc đảo chính 12/12 ấy. Người ta bảo đó là cuộc đảo chính quân sự bắt nguồn từ cuộc nổi dậy chống lại cấp cao, họ nói sẽ thắt chặt luật lệ thế mà lại tuyên bố không truy tố, thế có nghe được không cơ chứ?”
“Mình, mình lại định kéo cả cô ấy vào chuyện đó đấy hả?”
Hẳn đã nghe quá nhiều ở nhà, chị dâu bèn ngắt lời anh, phàn nàn vì anh cứ nói đi nói lại.
“Giờ tất cả đã thất bại, nhưng...”
Anh nhấc chai soju bên cạnh lên, rót một ít vào cốc.
“Anh từng rất muốn theo đuổi văn chương.”
Câu nói của anh có vẻ khiến chị dâu bất ngờ, chị hỏi lại.
“Người muốn theo văn chương sao lại thi vào trường Luật chứ?”
Anh cả nhấc cốc lên tợp một ngụm.
“Vì anh đã cho rằng anh sẽ chẳng thay đổi được bất kỳ điều gì bằng văn chương cả.”
“Anh muốn thay đổi cái gì vậy?”
“Xã hội.”
Tôi múc một thìa từ bát canh kim chi dongchimi trên bàn.
“Vì cuốn tiểu thuyết em đang viết lấy bối cảnh quãng thời gian này nên anh mới nói, bởi một cuộc nổi dậy lật đổ cấp trên như 12/12 mà còn có thể thành công thì đất nước này chẳng bao giờ có thể thay đổi được hết. Ngay trong quân đội, nơi luật pháp được áp dụng đến một mức độ đáng sợ mà còn xảy ra chuyện như thế thì chúng ta biết tìm trật tự ở đâu? Chun Doo Hwan chính là người đã được Park bồi dưỡng thành lực lượng bảo vệ cho ông ta để duy trì thể chế Duy tân. Vụ đảo chính quân sự 12/12 chính là cuộc lật đổ Jung Seung Hwa, người mặt khác sau vụ ám sát 26/10 kiên quyết loại bỏ hết những binh lính dính líu đến hoạt động chính trị, đồng thời một mặt sau khi nhậm chức Chỉ huy Thiết quân luật đã thay ngay toàn bộ các vị trí chỉ huy trọng yếu ở thủ đô bằng người của mình. Khi đó Chun Doo Hwan mới chỉ là một thiếu tá. Mới chỉ là một thiếu tá mà đã tống cổ Tham mưu trưởng Lục quân, thậm chí chẳng cần đến một cái gật đầu từ Tổng tư lệnh tối cao. Đến một chuyện như thế còn có thể chấp nhận được trên cái thế giới này thì còn gì là không thể cơ chứ? Nếu 12/12 mà còn không bị pháp luật trừng trị, vậy thì cho dù chính quyền có nói gì đi chăng nữa cũng sẽ chẳng bao giờ được dân chúng chấp nhận. Ở dưới không ngừng giẫm đạp leo lên trên, rồi lừa dối, rồi bội phản, biến đất nước thành một mớ hỗn loạn chứ còn gì nữa.”
“...”
“Thử viết về những chuyện như thế đi.”
Tôi chỉ ngồi yên lắng nghe.
“Nếu là nhà văn, em không được phép xa rời những vấn đề đó. Chính bởi cuộc đảo chính đó mà cuối cùng đã xảy ra vụ thảm sát ở Gwangju. Một chuyện thật đáng sợ, không phải sao?”
Tôi lấy đũa lật lật miếng sườn trên vỉ nướng.
“Một chính phủ dân sự thì có gì tốt đẹp chứ? Kết luận được đó là một cuộc đảo chính quân sự bắt nguồn từ cuộc nổi dậy chống lại cấp cao, nhưng họ thậm chí còn chẳng thể ra tay nghiêm phạt... Từng có một Tổng thống dân sự thì có gì hay ho? Kẻ đã từng ra lệnh nã đạn vào đám đông biểu tình ở Gwangju lại đang ngang nhiên chiếm một ghế trong Quốc hội như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Còn chút lương tâm thì lẽ ra hắn cũng phải biết rút khỏi giới quan chức chứ. Không phải vậy sao?”
... Em không biết, anh ạ. Với em, những điều đó nào có quan trọng bằng những lo lắng như không biết lửa than có đượm, hay liệu anh có phải ngủ trên nền đường sau khi xách túi bỏ đi hay không. Hồi đó sao lại rét thế nhỉ. Lúc em lấy kim chỉ ra rồi thái bày lên đĩa đặt trên bàn, một lớp băng mỏng đã đóng trơn tuột. Cái đĩa vỡ tan và kim chi văng tung tóe. Anh à. Hồi đó, thứ khiến cho em ghét cay ghét đắng không phải là khuôn mặt Tổng thống mà là những chuyện kiểu như củ cải mua về để nấu canh bị đông lại rắn câng câng đến nỗi con dao không tài nào lạng vào nổi. Hay như khi em mở vòi nước một sáng tuyết rơi. Em sẽ rất vui nếu nước phun ra ào ào, không bị đông cứng lại, nhưng sẽ rất bực nếu nước bị đóng thành đá và nhất định không chịu chảy ra. Em muốn viết văn không phải vì em nghĩ rằng viết sẽ thay đổi được điều gì. Em chỉ là thích viết mà thôi. Văn chương, tự bản thân nó, đã cho phép em mơ về những điều bất khả trong hiện thực, những điều bị cấm đoán. Rốt cuộc, giấc mơ đó đã từ đâu mà thấm vào vậy? Em coi mình như một thành viên của xã hội. Nếu nhờ viết văn mà em có thể mơ ước, vậy thì chẳng phải xã hội cũng có thể mơ hay sao?
... Anh à. Khi nghĩ về chuyện viết văn, em thấy hiện lên ánh mắt thiết tha của một chú chó chăm chăm dõi nhìn chủ của mình. Vẻ đẹp của định mệnh, nỗi u buồn che chở tình yêu, sự im lặng đã trót nhìn thấy điều không nên thấy chất chứa trong đôi mắt đó.
Một ngày Chủ nhật tháng Mười một. Chị Hee Jae làm hồ dán. Trên ngọn lửa than, một nồi keo bột mì đang sôi lục bục.
“Chị định làm gì vậy?”
“Chị định dán tường.”
“Dán tường?”
“Trần nhà chị lem nhem quá rồi.”
Chị Hee Jae hỏi mượn ghế của chúng tôi. Chị để một cái gối lên ghế tựa của anh cả rồi đứng lên dán tường. Dù có thêm tôi giúp nhưng vẫn còn nhiều chỗ cả chị cả tôi đều không với tới được.
“Yên, đợi em một lát.”
Tôi về phòng gọi anh cả tới. Anh trèo lên ghế, cầm tờ giấy dán tường đã được phết sẵn hồ rồi dán nó lên trần, lấy lòng bàn tay miết miết một hồi sau đó lại quay lên tầng ba. Khi anh cả đi rồi, chị Hee Jae nghiêng đầu.
“Anh trai em đấy à?”
“Ừ.”
“Nhưng có phải anh hồi trước em kể đâu.”
“Hồi nào cơ?”
“Hôm trước, đêm hôm trước ấy.”
Tôi, mười bảy tuổi, khúc khích cười. Lần trước tôi bảo chị, Kia là anh cả em đấy, là lúc anh đang đóng bộ đi dạy học, có vẻ như chị Hee Jae nghĩ rằng người vừa giúp chị ấy dán tường là một anh chàng ở phòng nào đó tầng trên đang tham gia nghĩa vụ quân sự. Nghe tôi giải thích về mớ tóc giả và bộ com lê, chị Hee Jae mỉm cười rạng rỡ, nụ cười tươi tắn đầu tiên tôi nhìn thấy ở chị.
“Hay ghê!”
... Từ lần đó, chị Hee Jae thường xuyên bật cười rúc rích. Trên đường đi xe buýt về nhà, mỗi lần chị bật cười lúc chúng tôi tới gần chợ, tôi mà hỏi, Sao vậy? chị sẽ bảo, Tại chị nghĩ đến anh trai em, rồi lại cười khúc khích.
... Một ngày tháng Mười hai. Tôi, mười bảy tuổi, lấy tấm thiệp Chang gửi từ hòm thư ra. Tớ đang ngồi một mình trong lớp sau buổi học còn tuyết thì đang đua nhau rơi. Tớ tới bên cửa sổ, nhìn ra sân thể dục bên ngoài kia, cảm giác như thể cậu đang bước giữa màn tuyết tiến về phía tớ. Tôi đọc, hết lần này đến lần khác, những câu chữ được viết trên tấm thiệp của Chang. Cứ nghĩ đến Chang cõi lòng tôi lại bừng sáng, khiến tôi những muốn trao cho cậu một thứ tốt đẹp nào đó của mình. Thứ quý giá nhất đối với tôi, mười bảy tuổi, là cuốn vở tôi đã chép lại truyện Quả bóng tí hon người lùn ném. Tôi thầm nghĩ mình phải tặng Chang cuốn vở đó mới được. Bàn tay chép Quả bóng tí hon người lùn ném của tôi, mười bảy tuổi, di chuyển nhanh hơn nữa.
... Em có một câu hỏi.
Đó là một học sinh ngồi tận cuối lớp.
Câu hỏi gì vậy?
Em từng nghe nói hiện tượng nhìn thấy đĩa bay hay người ngoài trái đất là kết quả của sự tự vệ trong những giai đoạn căng thẳng xã hội. Trong trường hợp của thầy, chúng em nên hiểu thế nào đây ạ?
Các em hãy tin rằng, khi bầu trời phía Tây bừng sáng và tóe lửa thì thầy đã cùng người ngoài trái đất rời đến một hành tinh khác rồi. Không thể giải thích dài dòng được. Điều duy nhất thầy không chắc chắn đó là vào thời điểm khởi hành, không biết mình sẽ phải đối diện với thứ gì. Là thứ gì đây? Sự im lặng, như của một nghĩa trang? Hay không phải? Hay những tiếng gào thét luôn chỉ là của những người đã chết? Thời gian đã cạn. Dù sống trên trái đất hay trên một hành tinh khác, linh hồn chúng ta cũng luôn tự do. Thầy hy vọng tất cả các em sẽ đều nhận được điểm số cao để đỗ vào các trường đại học mà các em mơ ước. Thôi hãy miễn khỏi phải chào nhau bằng những lời tạm biệt kiểu cách.
Nghiêm!
Lớp trưởng đứng phắt dậy, hô lớn.
Chào thầy!
Thầy giáo cúi thấp lưng chào lại rồi bước xuống khỏi bục giảng. Thầy rời lớp học. Những bước đi của thầy thật lạ kỳ. Dáng đi của người ngoài hành tinh chính là thế kia rồi, đám học sinh nghĩ.
Vầng mặt trời mùa đông đã lặn, bóng tối bắt đầu giăng khắp lớp học.
Tôi, mười bảy tuổi, khép cuốn vở lại và đính kèm một tấm thiệp gửi cho Chang. Tớ gửi tặng cậu cuốn vở này. Hãy gìn giữ nó giùm tớ, như để thay thế cho bức thư của bố cậu mà tớ đã làm mất ngày nào. Tôi, mười bảy tuổi, gói cuốn vở chép Quả bóng tí hon người lùn ném cùng tấm thiệp và gửi qua đường bưu điện cho Chang.
Ngày tôi, mười bảy tuổi, gửi cuốn vở qua đường bưu điện cho Chang, như thể sực nhớ, tôi lôi chai rượu soju từ ngăn chạn dưới cùng ra, rót chỗ rượu còn lại trong chai xuống sàn bếp.
Giáng sinh. Bạn gái anh cả, nghe bảo sẽ đến chơi lúc mười một giờ, không đến. Buổi chiều, anh cả rủ chị họ và tôi đến rạp phim. Rạp phim ư? Trên đường ra khỏi nhà, tôi đánh mắt sang phòng chị Hee Jae thì thấy cửa khóa ngoài. Không lẽ Giáng sinh mà chị ấy vẫn bận việc? Anh cả dẫn chúng tôi đi tàu điện ngầm. Tàu đông kín người. Chị họ lần tìm cánh tay tôi giữa đám đông hỗn loạn rồi nắm chặt lấy bàn tay tôi. Chúng tôi xuống tàu ở ga Tòa thị chính, len lỏi rời khỏi đường hầm và đi lên phố. Đây là rạp phim đầu tiên tôi đến kể từ khi lên thành phố. Myeongdong. Rạp Quốc gia Hàn Quốc, gần Trung tâm thương mại Cosmos. Phim Trò cấm. Anh cả mua vé rồi nói vẫn còn thời gian nên dẫn chúng tôi tới cửa hàng bánh ngọt ở tầng hầm Trung tâm thương mại. Chị họ gọi một ổ bánh mì dài còn tôi gọi bánh su kem.
“Anh không ăn gì à?”
“Anh sẽ uống một cốc sữa.”
Một lúc sau, anh cả, chị họ và tôi đã ở bên trong rạp.
Trên màn hình, một chiếc xe ngựa và một chiếc xe hơi chạy dọc ven sông. Có vẻ như đang giữa cảnh thời chiến. Một cô bé òa khóc nức nở khi chú chó của mình chết, mặc dù chẳng hay biết rằng bố mẹ mình cũng đã chết vì trúng bom. Cậu bé nông dân Michel. Hai đứa trẻ nhanh chóng kết thành bạn bè. Không phải, là Michel hoàn toàn nghe theo lời Paulette và làm bất kỳ điều gì Paulette muốn.
Thấy anh cả trầm lặng quá nên tôi, mười bảy tuổi, đang xem phim liền quay đầu sang nhìn. Anh cả đã ngủ thiếp đi từ lúc nào không hay.
Sau khi được Michel dạy cho biết rằng khi ai đó chết, người ta sẽ tổ chức lễ tang và đào mộ chôn, Paulette đã bị mê hoặc bởi trò chơi đào mộ, dựng bia. Nghe Michel bảo không thể đắp mộ trừ phi có ai đó chết, Paulette bèn hỏi, Chỉ cần giết là được chứ gì, rồi đi giết sâu bọ, động vật đem về chơi trò mộ bia. Vì Paulette muốn có một cây thánh giá đích thực, Michel đã tới nghĩa trang lấy trộm một cây thánh giá.
Lần này đến lượt chị họ có vẻ im ắng quá mức nên tôi quay sang nhìn chị. Chị họ cũng đã ngủ thiếp đi từ bao giờ.
Đến lúc bố mẹ Michel bắt đầu nghĩ rằng cứ để Paulette ở lại nhà họ thì thể nào cũng lớn chuyện, các nhân viên cứu trợ bèn đến nhà họ đưa Paulette đi. Được dắt đi bởi một bà xơ có gắn tên trên ngực áo, lúc đến ga tàu hỏa, giữa đám đông huyên náo, Paulette nghe thấy một đứa trẻ kêu to, Mẹ ơi. Paulette giật bắn người, môi run run gọi, Michel. Em nhớ cậu bé. Michel - Michel. Rồi không biết từ khi nào, Paulette chuyển từ gọi Michel sang gọi, Mẹ ơi.
Ra ngoài rạp, anh cả bảo tôi với chị họ rằng đi tới kia sẽ đến nhà thờ lớn Myeongdong và rủ chúng tôi tạt qua đó trên đường về. Nhà thờ lớn. Hồi ở nông thôn, ngày anh cả còn bé, mẹ thường dẫn anh tới nhà thờ lớn ở thị trấn. Nhà thờ lớn Myeongdong. Chúng tôi leo lên cầu thang và thấy người ta đang diễn lại tích về sự ra đời của Chúa Hài đồng. Mô hình chuồng cừu được làm bằng cỏ khô nhìn ấm cúng. Đức mẹ Maria ôm Chúa Hài đồng mới sinh trong vòng tay. Chúa Hài đồng thật đáng yêu còn Đức mẹ Maria thật xinh đẹp.
“Anh này, những người đang quỳ kia là ai vậy?”
Chị họ đứng cạnh tôi bật cười.
“Thế mà cũng không biết à? Họ là thầy pháp đấy.”
Thầy pháp? Anh cả đã biến đi đâu mất. Đang đi khắp cả nhà thờ lớn để tìm anh thì tôi thấy một nữ sinh đang cầu nguyện trước Đức mẹ Maria, mái tóc cô được che một tấm mạng. Đứng bên cạnh là anh cả. Anh cả của tôi. Một thanh niên đưa em gái và chị họ đi xem phim thay vì đưa cô bạn gái thất hẹn vào ngày Giáng sinh giờ đang cúi thấp đầu đứng trước Đức mẹ Maria. Anh đang cầu nguyện với Đức mẹ gì vậy? Trước Đức mẹ Maria nhìn anh cô đơn đến độ trái tim mười bảy tuổi của tôi cũng cảm thấy cô quạnh theo. Dáng vẻ ấy của anh cả. Bất kể tương lai sau này có thế nào đi chăng nữa tôi cũng sẽ không bao giờ quên. Chị họ có vẻ thích tấm mạng che màu trắng sạch sẽ trên đầu cô nữ sinh.
“Có phải nếu không đội thứ đó thì chúng ta không được phép cầu nguyện không?”
“Có, có lẽ.”
Chị họ, hai mươi tuổi, ra phía sau lưng cô nữ sinh đó, chắp tay đứng rồi nháy mắt ra hiệu cho tôi cũng tới đứng cầu nguyện cùng. Tôi cứ ngần ngại đứng đó, dán mắt vào lưng chị họ trong lúc chị cầu nguyện.
Ngay khi vừa mở mắt, nhớ tới tiếng chuông cửa lúc nửa đêm tôi bèn chạy ngay ra ngoài cửa. Bên ngoài chỉ có mỗi tờ báo. Đô vật xấu số Song Seong Il cuối cùng đã ra đi. Song Seong Il là ai? Tôi cầm báo lên đọc bài viết được đăng. Trong tình trạng không hề hay biết những tế bào ung thư đang gặm nhấm cơ thể mình, đô vật Song đã tham gia thi đấu nội dung Greco-Roman hạng cân 100 kg tại Asian Games được tổ chức ở Hiroshima tháng Mười năm ngoái. Anh đã chiến thắng cơn đau dạ dày quằn quại và giành được huy chương vàng, trở thành một biểu tượng cho tinh thần chiến đấu. Thế nhưng, anh không thể đánh bại được con quỷ bệnh tật trong người, và giữa độ tuổi thanh xuân hai mươi sáu, anh đã tạ thế đi vào giấc ngủ ngàn thu, bài báo viết. Tôi nhìn chăm chăm bức ảnh người đô vật đoản mệnh. Mai là Tết rồi, cớ sao lại đúng vào hôm nay cơ chứ.
Vào ngày cuối cùng của tháng Mười hai, anh cả mua một cái ti vi nhỏ đem về căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Anh bật ti vi cho chúng tôi xem rồi lên đường đến ga Yeongdeungpo để bắt chuyến tàu đêm về quê. Nhà máy chỉ cho chúng tôi nghỉ một ngày 1 tháng Một, hứa hẹn sẽ cho chúng tôi nghỉ bù vào đợt Tết âm. Chị họ, giờ đã trở nên thân thiết với anh chàng thực tập sinh, đun nước nóng để gội đầu, chấm một giọt nước hoa quý giá xuống dưới tai, đi bốt thay vì đôi giày học sinh, rồi rời khỏi nhà.
“Chị đi đâu thế?”
“Bọn chị định tụ tập ở phòng cậu ấy chơi. Nhưng mà cậu ta ấy. Cậu ta có vẻ rất thích chị Yoon Soon Im. Em có thấy thế không?”
“Nhưng chị Soon Im bao nhiêu tuổi cơ chứ, hai mươi ba rồi mà?”
“Chẳng biết, cơ mà cứ gặp chị là cậu ấy chỉ nói về chị ấy thôi.”
Chị họ đấm vào vai tôi một cú.
“Em nói thật đi. Chị xinh hơn hay chị Soon Im xinh hơn?”
“Chị xinh hơn.”
“Thật ư?”
“Nhưng chị Soon Im cũng xinh mà. Đúng không?”
“Quả là thế thật. Chị ấy đúng là xinh thật đấy. Tóc thì dài, lại còn đôi mắt cười lúc nào cũng tươi tắn. Chị là con gái nhìn còn mê nữa là đám con trai, nhỉ?”
Chị Hee Jae và tôi ở trong phòng cả ngày xem ti vi, xem những chương trình đặc biệt dịp năm mới. Các võ sĩ xuất hiện và trình diễn những màn phi thường. Họ tập trung năng lượng và dùng ánh mắt tắt bóng đèn điện; xếp ba vỉ trứng ra rồi nằm lên trên. Ngay cả khi một người đàn ông thân hình lực lưỡng đặt một tấm ván lên người đang nằm trên trứng rồi leo lên trên, dồn toàn bộ trọng lượng lên người này, những quả trứng ở dưới vẫn không vỡ. Bỗng đến một lúc. Chị Hee Jae bảo, Ô.
“Người kia kìa.”
Tôi nhìn người chị đang chỉ. Khi người dẫn chương trình hỏi vì sao anh ta lại tham gia các môn thể thao mạo hiểm này thì anh ta đáp:
“Vì tôi có vẻ thấp bé nhẹ cân và trông ẻo lả như con gái nên tôi thường hay bị trêu.”
Khi anh ta mỉm cười trả lời, hai lúm đồng tiền hằn trên má.
“Thế nên, để trông nam tính hơn tôi đã tập chơi thể thao, rồi đến hôm nay thì được xuất hiện ở đây.”
Tôi, mười bảy tuổi, khều khều chị Hee Jae, lúc này đang thất thần dán mắt vào màn hình ti vi.
“Anh ta là ai cơ chứ?”
“Là cậu ấy đấy.”
“Ai cơ?”
“Người chị đã kể với em ấy.”
Tôi vô thức bật ti vi. Một ca sĩ tên Park Mi Kyung đang hát một bài có nhịp điệu mạnh mẽ. Cả lời anh nói anh yêu em, em cũng cảm thấy đó chỉ như vở diễn. Phụ đề chạy bên dưới màn hình. Lý do không hẳn là lý do. Có vẻ đó là tên bài hát. Nếu trái tim anh đã đổi thay, đừng viện lý do làm gì. Tôi cố ngoái cổ theo những bước nhảy chóng mặt của Park Mi Kyung, rồi cứ kệ ti vi vẫn đang bật, đi ra ngoài mở tủ lạnh. Chẳng có gì để ăn ngoài táo. Nhưng mai là mùng một Tết, ít nhất cũng phải nấu bát canh bánh gạo ăn chứ, tôi thầm nhủ và tìm ví, trong khi Park Mi Kyung vẫn hát không ngừng nghỉ. Em cũng chẳng quay lại nữa đâu. Lúc đi xuống chân cầu thang, tôi thấy một tấm thiệp nằm trong hòm thư của mình. Tôi rút nó ra xem tên người gửi. Những dòng chữ được viết tay bằng ngòi bút máy nhúng mực. Cùng kiểu chữ viết tay của người đã gửi tôi lá thư tuyệt mệnh hồi tháng Chín vừa rồi. Gửi thiệp chúc mừng năm mới thế này thì ra cô ấy vẫn chưa chết. Đứng ngay tại đó, tôi xé phong bì ra. Không một lời đả động tới lá thư tuyệt mệnh cô đã gửi cho tôi. Em cảm thấy thật may mắn vì đã có thể cảm nhận được sự hiện diện của cô trong suốt một năm qua. Mong cô hạnh phúc, đó là toàn bộ nội dung ghi trong thư. Tôi nhét tấm thiệp năm mới muộn màng vào trong túi áo, đút cả bàn tay tôi vào theo, rồi đẩy cửa bước ra ngoài. Gió lạnh lùa đám tóc vương khỏi dây buộc của tôi bay ra sau. Trong gió lạnh, tôi đứng lặng im. Cảm nhận được sự hiện diện ư? Sự hiện diện của tôi ư?