Cô Gái Viết Nỗi Cô Đơn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Con đã nói bằng giọng

Người ban tặng và viết bằng từ ngữ

Người dạy bố mẹ con, những người đã dạy dỗ con.

Giờ đây con đang bị những đứa trẻ nghịch ngợm chế giễu,

cúi thấp đầu bước trên đường,

như một con lừa lưng trĩu nặng hành lý.

- Francis Jammes

Dịp cuối tuần, trường dẫn các học sinh năm cuối đi dã ngoại. Một chuyến đi qua đêm, khiến nhiều học sinh phải làm thêm ca vào ngày Chủ nhật không thể tham gia. Chuyến đi đầu tiên và cuối cùng của tôi với họ. Tôi vẫn nhớ, từ chuyến đi của chúng tôi tới Gyeongju, sắc mặt của Ha Kye Sook, Ha Kye Sook, người đã gọi điện hỏi tôi, Sao cậu chẳng viết gì về chúng tớ cả? Tôi vẫn nhớ những khuôn mặt của Ahn Hyang Sook thuận tay trái và Mi Seo chuyên đọc Hegel và Min Sook từ công ty lông thú. Những khuôn mặt hắt ánh vàng ệch trước những ngôi mộ cổ xanh rêu. Tôi vẫn nhớ Hyang Gyu và Myung Hae và Min Sun và Hyeok Gyu. Khi đoàn tàu chở chúng tôi băng qua hầm, chúng tôi đồng loạt hét lên. Uuu... Chúng tôi thừa dịp thầy giáo đang ngủ giấu giày giấu áo khoác của thầy đi, rồi giả chẳng biết chuyện gì. Chúng tôi khệnh khạng bước trên những con phố đêm Gyeongju, mặc quần jean bó sát và áo sơ mi thùng thình, vô duyên vô cớ tỏ vẻ đầu gấu. Chúng tôi, đầu đội mũ đỏ, vô duyên vô cớ bước đi nghênh ngang.

Nhưng chẳng mấy chốc, chúng tôi đã thấy trào dâng trong lòng cảm giác ngượng nghịu. Là tại ánh nắng. Đó là sự ngượng nghịu khi đụng phải dưới vầng mặt trời rực rỡ, những khuôn mặt vốn chỉ nhìn thấy dưới ánh đèn huỳnh quang. Chưa từng gặp nhau vào ban ngày, chúng tôi luống cuống không biết nên cư xử với nhau thế nào nên đành hướng những ánh nhìn lúng túng về phía Mộ Thiên Mã. Về phía đài thiên văn Cheomseongdae. Chúng tôi leo lên núi Namsan của Gyeongju. Chị họ của tôi. Chỉ mình chị tay cầm máy ảnh. Chị họ từng ước mơ trở thành nhiếp ảnh gia của tôi, đi đến đâu cũng giơ máy ảnh lên. Chị họ dàn cảnh cho tôi và Mi Seo suốt ngày đọc Hegel áp sát mặt vào nhau rồi mỉm cười. Ngượng ngùng dưới ánh sáng, chúng tôi cười mà như mếu. Chị họ dàn cảnh cho Ahn Hyang Sook đứng tì cằm lên trên một bức tượng Phật không đầu và nhìn vào ống ngắm.

“Cười đi nào.”

Ahn Hyang Sook, người mỗi ngày phải gói giấy bóng cho hai mươi nghìn viên kẹo, cũng cảm thấy lúng túng trong chuyến đi đột ngột này, rốt cuộc cũng cười mà thành ra như mếu.

“Một lũ ngốc.”

Chị họ, vốn hào hứng chụp ảnh, đã phát mệt trước những người mẫu khuôn mặt nhợt nhạt không mấy sẵn lòng hợp tác.

“Chị đi chụp chim đây.”

“...”

“Chị đi chụp chim cho xong chứ chẳng chụp mấy cô ngốc làm gì.”

Ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ buổi đêm nào đó, luôn có một người phải chịu đựng sự giày vò của tình yêu. Lee Ae Sun yêu cán bộ công đoàn nhà máy dệt nơi cô làm việc, buột ra một tiếng thở dài giữa đêm Gyeongju. Từ “người sử dụng” buột ra khỏi miệng Lee Ae Sun. Chúng tôi thốt nhiên trở nên im phăng phắc. Những người sử dụng chúng tôi.

“Giá như chúng ta không phải quay về thì tốt biết bao.”

Đinh đang mùa hè xưa, chúng tôi đang hát liền dừng phắt lại.

“Tình hình ở nhà máy đáng sợ đến thế nào các cậu không biết đâu. Anh ấy đã bị Trụ sở Tổng chỉ huy Thiết quân luật cưỡng chế điều tra rồi sau đó còn bị ra tòa án quân sự nữa. Kinh khủng quá phải không? Phải ra cả tòa án quân sự vì đã đòi tăng lương đấy.”

“Rồi sau đó thì sao?”

“Anh ấy được thả, nhưng bọn họ xếp anh ấy vào diện đối tượng thanh lọc, bắt anh ấy viết đơn xin nghỉ việc, nhưng anh ấy kiên quyết không chịu.”

“Cậu bảo đối tượng thanh lọc là sao?”

“Tớ chịu, hình như đang có một chiến dịch thanh lọc xã hội gì gì đó mà.”

Đêm dã ngoại của chúng tôi đầy ắp những tiếng thì thầm lo lắng.

“Bọn họ không phân việc cho các thành viên công đoàn. Đó là một âm mưu nhằm buộc các thành viên xin nghỉ việc. Bọn họ chuyển hết việc cho các nhà máy thầu phụ, rồi đưa chổi cho các thành viên công đoàn, bảo đi quét dọn nhà máy.”

“Chỗ tớ làm cũng thế. Cảnh sát như đóng quân thường trực ở đấy rồi. Có khi nếu không có Mùa xuân Seoul hay cái gì gì đó mọi chuyện đã không trở nên đáng sợ như thế này... Tất cả những người đòi tăng lương, từ chối làm thêm giờ hồi đó, tất cả bọn họ đều bị lôi đến Trụ sở Điều tra Chung chi chi đó để thẩm vấn.”

“Công ty tớ cũng y hệt. Cực kỳ đáng sợ. Mùa đông vừa rồi, người ta thậm chí còn không bật hệ thống sưởi ở khu làm việc của những thành viên công đoàn. Chưa sang xuân, hơn hai trăm công nhân đã bỏ việc và chỉ còn lại chưa tới chín mươi người. Một âm mưu ranh ma, buộc người người bỏ việc để ban quản lý có thể tạm thời đóng cửa nhà máy. Mà nếu bọn họ đóng cửa nhà máy thật thì tớ phải tìm việc chỗ khác rồi, vậy nên các cậu để ý hộ xem ở đâu có chỗ thì bảo tớ nhé.”

Buổi tối hôm đi dã ngoại về. Anh cả gọi tôi lúc tôi đã nằm yên vị chuẩn bị đi ngủ. Căn phòng hoang vắng hẳn khi thiếu anh ba và chị họ. Anh cả gọi tôi xong nhưng chẳng nói năng gì, khiến tôi thấy lo. Có phải anh lại bị đau ngực như lần trước không?

“Sao thế anh?”

“...”

“Sao vậy? Anh lại đau ngực à?”

Nhớ lại dáng vẻ của anh đau đớn túm chặt ngực khi đó, tôi gạt chăn ra, ngồi dậy gọi anh. Chưa chi tôi đã sợ rồi, giờ bên tôi chẳng còn chị họ nữa.

“Em muốn, em muốn vào đại học đến thế sao?”

Đôi mắt hoảng hốt của tôi mở to, sáng long lanh trong bóng tối. Trong một thoáng, dường như ánh trăng, hay ánh sao, đang đổ tràn lên khắp người tôi. Tôi chui trở lại vào chăn nằm.

“Em vẫn định trở thành nhà văn chứ?”

Tôi ngượng ngùng. Tôi chưa từng nói với anh cả rằng tôi muốn đi học đại học. Không chỉ riêng anh, mà với tất cả mọi người.

“Muốn thành nhà văn thì phải đọc rất nhiều sách, phải biết rất nhiều nữa.”

A a. Ra là anh đã đọc cuốn vở ghi chép của tôi trong lúc tôi đi dã ngoại cùng trường.

“Ngay cả với những người suốt ba năm chỉ vùi đầu vào học tập không làm bất kỳ thứ gì khác thì muốn vào được đại học cũng rất khó.”

Giọng anh trĩu nặng sự lo lắng và đau buồn. Tôi, mười chín tuổi, lật chăn và ló đầu ra nói với anh cả, đang nằm đó, tấm lưng mệt mỏi quay lại phía tôi.

“Đừng lo, anh ạ. Em sẽ không vào đại học đâu.”

Tôi, mười chín tuổi, tranh thủ lúc sáng sớm dậy nấu bữa sáng mở cặp sách ra tìm cuốn vở. Tôi đã viết gì trong vở để đến nỗi tối qua anh cả phải nói những lời đó? Cuốn vở không có trong cặp. Tôi tìm quanh những chỗ mình dễ cất theo thói quen, nhưng chỉ hoài công. Tôi rón rén leo xuống khỏi gác mái và đến bên bàn anh cả. Nó đây rồi. Bên dưới cuốn Quả bóng tí hon người lùn ném có bìa bọc ngoài. Chắc tôi đã bỏ cuốn vở lại trên bàn anh cả sau khi viết này nọ buổi tối trước hôm đi dã ngoại. Hẳn là trông chẳng khác gì tôi cố tình để đó cốt cho anh cả đọc. Tôi leo lên sân thượng, mang theo cuốn vở. Hừng đông. Những vì sao trên trời đang lần lượt mờ dần. Dưới ánh sao đang dần tắt, ai đó đang ngồi vắt vẻo trên thành lan can, trông như thể sắp bay đi mất vào bất cứ lúc nào. Là chị Hee Jae. Chị ngồi trên thành lan can sân thượng như một con chim, ngắm nhìn ánh sáng ban ngày đang rạng, không phải giữa những cây đào cây táo mà là giữa những ống khói nhà máy cao lừng lững. Ánh bình minh xanh trong, ngay cả giữa mùi dầu mỡ. Trong ánh bình minh, hết thảy mọi thứ trên trái đất này đều ứa ra thứ mùi của những chồi non mềm mại và rực rỡ. Kể cả những ống khói nhà máy.

“Chị.”

Tôi tiến lại gần chị Hee Jae, vỗ vai chị. Chị giật nẩy người.

“Chị đang làm gì đấy?”

“Phơi quần áo.”

Chị dậy từ bao giờ mà đã giặt giũ phơi phóng xong xuôi cả rồi? Trên dây phơi quần áo, treo một cái khăn trải bàn, tất và bộ đồng phục lao động nam. Thấy tôi nhìn chằm chằm bộ đồng phục, chị mỉm cười ngượng ngùng.

“Em làm gì mà lên đây sớm thế này?”

Tôi giấu cuốn vở ra sau lưng.

“Cái gì đây?”

“Chẳng có gì cả.”

“Nếu chẳng có gì thì em giấu làm gì?”

Thấy chị Hee Jae có vẻ dỗi, tôi chìa cuốn vở ra.

“Ra là một cuốn vở.”

Chị lật qua các trang.

“Em muốn vào học đại học à?”

Chị hỏi bằng giọng mơ hồ, ánh mắt dán chặt vào một trang nào đó. Tôi muốn vào đại học - những chữ cái đã được tô đi tô lại đến nổi bật hẳn lên trên trang giấy. Đó cũng chính là câu anh cả đã đọc. Ở trang vở nào, câu ấy cũng len vào, như một lời cầu nguyện - Tôi muốn vào đại học, Tôi muốn vào đại học. Mọi chuyện bắt đầu khi Chang nói với tôi mùa hè năm ngoái, Chúng mình nhất định phải vào được đại học nhé. Trong tôi dâng lên cảm giác áy náy và xấu hổ với chị Hee Jae đang vắt vẻo ngồi trên thành lan can sân thượng, với anh cả đang chìm sâu trong giấc ngủ mệt mỏi.

“Em sẽ không học đại học đâu.”

Tôi nói câu này cứ như người đỗ đại học mà chẳng thèm học vậy. Khi tôi nhận lại cuốn vở và quay đầu định đi xuống dưới, chị Hee Jae gọi với từ sau lưng tôi.

“Chị, có chuyện này...”

Chị nhìn chằm chằm vào mặt tôi khi tôi quay người lại. Trông chị tái nhợt.

“Sao cơ?”

“Chuyện là...”

Chị lắp bắp.

“Có chuyện gì vậy, nói em nghe xem nào.”

“À, thì chỉ là...”

Tôi, mười chín tuổi, nhìn chăm chăm đáp trả chị Hee Jae, người đang có điều gì muốn nói mà cứ nhắc đi nhắc lại, Chuyện là..., mãi đó.

“Chị đã quyết định sẽ ở cùng anh ấy...”

Anh ấy? Người thợ may ở hiệu may Jin Hee, người có vết chàm trên má?

“Thế nào nhỉ, chị chỉ cảm thấy chị nên nói với em... Khi nào chị để dành được hai triệu won cho em trai chị thì đến lúc đó bọn chị sẽ lấy nhau.”

Lấy nhau. Phải rồi, phải lấy nhau chứ.

Tôi, mười chín tuổi, ngây người nhìn bộ đồng phục lao động nam đang treo trên dây phơi.

Trên đường về nhà sau khi đi nộp cho nhà xuất bản bản hiệu đính tập tản văn của tôi. Lúc tra chìa vào ổ khóa căn hộ trống vắng, tôi cảm thấy các đầu ngón tay râm ran. Tôi buông tay ra, đứng bên ngoài cửa nhà một lúc. Miếng giấy dán màu vàng quảng cáo dịch vụ sửa khóa phình to, choán hết tầm nhìn của tôi. Khi rồi khỏi taxi, cõi lòng tôi chỉ muốn duy nhất một điều là nhanh chóng vào trong nhà ngả lưng xuống, nhưng có gì đó đã đột nhiên vấp phải cõi lòng ấy mà ngã nhoài.

Tôi mở cửa, vừa vào trong nhà là tiến thẳng đến bồn rửa mặt. Tôi đặt túi đeo vai xuống mép bồn. Khi tôi mở vòi nước, nước bắn tóe lên cái túi. Tôi bèn chuyển cái túi sang bồn tắm. Là gì nhỉ, câu vẳn đã vấp phải cỗi lòng tôi mà ngã nhoài đó?

Tôi xòe lòng bàn tay ra và nhìn vào hình phản chiếu trong gương. Tôi đã làm gì với đôi bàn tay này vậy? Tôi và đôi bàn tay tôi chạm vào mắt tôi bên trong gương. Tôi vội buông tay xuống, ngâm vào dòng nước đang chảy.

Dòng nước đang chảy.

Dường như các ngón tay của tôi đang sưng lên sưng lên không ngừng trong dòng nước. Hai bàn tay tôi, nhìn bất an biết bao nhiêu mỗi khi không chạm vào gì đó, không nắm bắt hay viết gì đó. Sự cô đơn chất chứa bên trong từng ngón tay tôi. Chúng định làm gì mà xoắn xít cả vào với nhau, liên tục vặn vẹo và co quắp.

Nước chảy tràn bồn rửa. Tôi ấn vào nút chặn lỗ thoát nước để dòng nước rút đi. Nước dồn lại thoát qua đường ống, làm vang lên một âm thanh cô độc không lời nào tả xiết. Tôi vặn vòi, nhìn chăm chăm một lúc vào trong gương. Đến trái tim tôi cũng cô độc tột cùng. Tôi không muốn nhúc nhích. Tôi trượt xuống, ngồi duỗi chân ra, lưng áp vào cái bồn tắm đang để cái túi xách của tôi. Buồng tắm chật chội rộng mênh mông như cánh đồng hoang. Tôi lấy đầu mũi chân đẩy cánh cửa dang hé mở, cửa đóng lại và hết thảy chìm trong bóng tối.

Là gì nhỉ, những câu văn ẩn nấp đã thọc lưỡi dao vào tim tôi khi tôi mở cánh cửa ra vào, là gì?

... Một sự im lặng kỳ lạ.

Tiếng nước chảy vào sự im lặng đó... Tiếng chân lẫn bên trong tiếng nước cô độc đang theo đường ống ngược trở lại xuyên lòng bóng tối. Lép nhép lép nhép... Chân trần ư? Lép nhép lép nhép... Du hành ngược trở lại xuyên ánh trăng, xuyên biển sâu thăm thẳm, xuyên dòng nước đó, xuyên bãi bùn... Lép nhép lép nhép... Đôi bắp chân điềm tĩnh tôi như đã thấy đâu đó... Lép nhép lép nhép... Chân váy họa tiết hình hoa tí hon... Lép nhép lép nhép.

Có chuyện gì mà em lại gọi chị đến đây?

Em có chuyện phải làm cho xong.

Chuyện gì?

Kết thúc rồi. Em không còn mười chín nữa mà đã ba mươi hai rồi. Khi bắt tay vào viết cuốn sách này, em những hy vọng rằng khi nó được hoàn thành, em sẽ có thể nói rằng em đã kể câu chuyện quá khứ của mình, và rằng kể xong em đã thấy thoải mái hơn nhiều. Nhưng không phải như thế.

...

Giờ nó phụ thuộc vào chị.

...

Hãy kể cho em nghe về buổi sáng hôm đó đi.

...

Tại sao chị lại nhờ em khóa cửa phòng chị lại?

...

Tại sao lại là em mà không phải là ai khác?

...

Cho dù sau này đã rời khỏi nơi đó, nhưng bất kỳ khi nào nhìn thấy ai đó nhang nhác chị hay một căn phòng na ná căn phòng đó, trái tim em lại đập dồn dập, hơi thở em lại nghẹn ngào. Em đã thường đột ngột ngây ra và bồn chồn không yên. Em đã thường mất tập trung và nếu tỉnh dậy giữa đêm thì không tài nào ngủ trở lại được. Đôi khi, như biến thành trẻ nhỏ, em đột nhiên mất khả năng phán đoán và mắc kẹt trong một nỗi khát khao được dựa dẫm và biến mất vào ai đó... Em đã thường đang đọc sách bỗng trở nên u uất... và lúc băng qua các cây cầu, em lại cảm thấy nỗi thôi thúc nhảy ra khỏi lan can... Đôi khi, những tấm rèm và dây phơi quần áo lại như sắp lao vào tấn công em. Chị có biết điều đó không? Chị là chướng ngại vật của em. Một chướng ngại vật trong việc xây dựng các mối quan hệ, khiến em đẩy anh ấy ra xa bất kể mình hạnh phúc khi được ở bên anh ấy... Hẳn chị biết rõ hơn em nhiều, cái cảm giác mệt mỏi bắt nguồn từ trạng thái cảnh giác cao độ đó... Em đã không bao giờ quay lại nơi đó. Kể cả là vùng xung quanh đó cũng không. Nhưng trong tâm trí em, những từ ngữ, những cái tên như nhà máy, công nhân, ga tàu, chợ Garibong, Doksan-dong và Guro-dong ở cổng vào Khu Liên hiệp Công nghiệp đá biến thành một cơn lũ các hình ảnh, bị khóa lại bên trong một con đê... Giờ mọi chuyện phụ thuộc vào chị... Tại sao lại là em mà không phải ai khác?

...

Sao lại là em?

...

Khi ấy em mới chỉ mười chín tuổi.

Tôi nhấc lưng khỏi bồn tắm chìm trong bóng tối. Là thế đấy. Cuộc chạm trán tử thần của tôi. Tôi bước ra khỏi phòng tắm và gọi điện cho nhà xuất bản. Câu văn đã thọc vào trong tim khi tôi mở cánh cửa ra vào lúc quay về căn hộ trống vắng là một phần của “Cuộc chạm trán tử thần của tôi”, một phần mới bổ sung vào tập tản văn của tôi. Tôi đã sửa đi sửa lại, nhưng lưỡi dao vẫn còn đó. Lưỡi dao hướng về phía tôi, cắm ngập.

Tôi bắt taxi quay trở lại nhà xuất bản. Họ đã dàn trang xong xuôi rồi. Một sự im lặng lúng túng. Giữa sự khăng khăng - Phải bỏ đi - của tôi và sự cật vấn - Tại sao lại như thế? của nhà xuất bản. Bản thảo lại được đặt trước mặt tôi lần nữa. Tôi nắm cây bút trong tay.

Tôi cử động các ngón tay, thay từ “con trai đã chết của bác tôi” thành “một người anh họ”. Tôi xóa từ “anh họ” đi và thay bằng “một người họ hàng”. Bác tôi không đọc tiểu thuyết, nhưng đây là một cuốn tản văn, nhỡ đâu con gái bác tình cờ nhìn thấy và đọc cho bác thì bác sẽ lại đau lòng biết chừng nào vì một mất mát đã xảy ra từ hơn mười năm trước? Tôi thay “gia đình bác” thành “gia đình cô ấy”. Tôi thay “thân thể nát vụn, máu me bê bết của anh ấy” thành “thân thể không còn nhận ra hình dạng của anh ấy”...“đối mặt với cái chết của người anh họ” thành “đối mặt với cái chết của một người đàn ông bị tàu đâm”. Tuy nhiên, điều này không phải nguyên nhân khiến lưỡi dao nhọn hoắt thọc vào trái tim tôi.

Tôi đánh dấu bản thảo để xóa toàn bộ phần viết về những chuyện đã xảy ra với chị vào buổi sáng hôm ấy. Những câu văn bị xóa bỏ ngay trước khi chúng được đem đi in.

Chị vẫn đứng đó bên trong những câu văn đã bị xóa bỏ.

Tôi, mười chín tuổi, nói với chị Hee Jae rằng anh ấy hình như không biết nói, hỏi chị sao anh ấy chẳng bao giờ nói gì vậy. Chị không hiểu tôi muốn nói gì.

“Em bảo anh ấy chẳng bao giờ nói gì nghĩa là sao? Em không biết à, anh ấy hát rất hay đấy.”

Chị Hee Jae trả lời bằng một câu hỏi.

“Nhưng em có bao giờ nghe anh ấy nói gì đâu.”

Nói gì đến hát?

“Không, anh ấy giỏi ăn nói lắm. Mà anh ấy lại hát rất hay.”

Có lẽ giữa hai người họ, ngôn ngữ không là gì khác ngoài chính hiệu may Jin Hee. Bên trong hiệu may nơi anh cắt vải theo số đo, nơi chị may những mảnh vải anh đã chuẩn bị. Có lẽ cuộc trò chuyện của họ trôi giữa những mảnh vải được cắt rời và những bộ quần áo được may hoàn thiện. Giữa những lần chị châm lửa điếu thuốc lá anh ngậm trên môi trong giờ giải lao; giữa những ngón tay anh nhặt chỉ bám trên mái tóc chị trong lúc chị chăm chú may đồ.

... Giữa hai người họ đã có những ngôn ngữ không tên không ai trên thế giới này biết đến.

... Chưa từng một lần nhìn rõ khuôn mặt anh ta, tôi khó có thể nói về anh ta được. Đối với tôi, anh ta vẫn luôn là bộ đồng phục lao động nam treo trên dây phơi quần áo, là đôi giày xa lạ trên giá để giày trong bếp nhà chị Hee Jae. Cả khi anh ta quay đầu tránh mắt đi lúc chúng tôi tình cờ gặp nhau, chị vẫn biện hộ cho anh ta, bảo nguyên do là vì hồi còn bé anh ta không được quan tâm.

“Chẳng ai chăm sóc anh ấy cả. Anh ấy bảo từ hồi còn bé, anh ấy đã biết trên đời này sẽ chẳng có ai quan tâm đến mình. Vậy nên để bồi đắp lòng dũng cảm, anh ấy đã vào núi cùng đám bạn và đề nghị họ trói anh ấy lơ lửng trên một cái cây. Bảo họ sau ba ngày hãy quay lại cởi trói cho anh ấy.”

“Sao anh ấy phải làm thế?”

“Đã bảo để bồi đắp lòng dũng cảm mà...”

“Lòng dũng cảm?”

“Phải có lòng dũng cảm thì mới không phải sống trong sợ hãi.”

“Vậy là anh ấy đã thật sự ở một mình trong núi suốt ba ngày à?”

“Anh ấy bảo thế.”

“Thật không?”

“Em nghĩ anh ấy nói dối à?”

“Không, không phải... không phải nói dối mà chỉ là khó tin thôi...”

“Anh ấy bảo sau ba ngày ở trong núi, anh ấy thậm chí còn trở nên nhát hơn. Chỉ cần nghe thấy một tiếng sột soạt khẽ khàng thôi là anh ấy đã sợrồi, và khi trời trở tối, hai cánh tay anh ấy lại nổi hết da gà lên. Đến tận bây giờ vẫn thế.”

“Ngay cả bây giờ?”

“Đúng vậy, thế nên lúc ngủ anh ấy vẫn để đèn sáng.”

Chị Hee Jae quay sang nhìn tôi, toét miệng cười.

“Nếu không có chị quan tâm đến, em trai chị thể nào cũng sẽ lớn lên với cái thái độ y như anh ấy.”

“...”

“Giờ anh ấy ổn rồi. Vì chị sẽ chăm sóc anh ấy.”

Từ lúc họ bắt đầu sống cùng nhau, đôi giày của anh ta chiếm một chỗ trên giá ngay cạnh đôi giày đi học chị Hee Jae vẫn thường đi hồi còn là học sinh giống tôi. Tôi chỉ nhớ đến anh ta bằng đôi giày, bộ đồng phục hay vết chàm trên khuôn mặt. Tương tự, có lẽ anh ta cũng sẽ nhớ đến tôi là cô gái tay cầm túi nylon đựng cá, hay cô gái leo lên sân thượng vào ngày Chủ nhật mang theo quần áo đã giặt sạch đựng trong chậu giặt. Có lẽ anh ta cũng cho rằng tôi không bao giờ nói chuyện, như tôi đã nghĩ anh ta chẳng bao giờ nói gì. Nếu anh ta và chị Hee Jae chia sẻ cùng nhau một thứ ngôn ngữ không tên chẳng ai trên thế giới này biết được, vậy thì giữa anh ta và tôi cũng tuôn chảy một sự cô độc không tên chẳng ai trên thế giới này biết được.

... Giờ ngẫm lại mới thấy, dù sống ngay cạnh nhau nhưng chúng tôi không thích cùng một loại thức ăn, cũng không dành nhiều thời gian bên nhau. Tôi không nhớ là chúng tôi đã từng có khi nào cãi cọ. Chúng tôi chẳng có gì để mà tranh cãi. Chị không có khát khao cất giấu trong lòng. Ngoài những việc liên quan đến em trai chị và người đàn ông chị phải chăm sóc, tôi không nhớ nổi đã có khi nào chị nhắc đến điều gì chị cực kỳ muốn làm, hy vọng sẽ trở thành... hay bất cứ thứ gì chị thích. Chị họ tôi lúc nào cũng nói, Chị muốn trở thành nhiếp ảnh gia. Y như tôi luôn nói tôi sẽ trở thành nhà văn. Sự sôi nổi của chị họ hay nỗi sầu muộn của tôi có lẽ đều bắt nguồn từ nhận thức bền bỉ rằng dù sống ở đó nhưng chúng tôi khác với những người ở đó. Chị họ và tôi không có ý định ở lại đó lâu dài. Giờ chị họ đã đi còn tôi chẳng mấy chốc cũng sẽ rời khỏi đó. Chị họ và tôi biết rõ chúng tôi phải đi, chính bởi vậy chúng tôi có nhiều thứ muốn làm, chúng tôi luôn chắc chắn mình muốn trở thành người như thế nào, và mong muốn nhiều thứ mình không thể sở hữu được. Chính bởi vậy chị họ và tôi có nhiều điều để mà tranh cãi. Nhưng với chị Hee Jae thì khác. Bản thân chị là con ngõ hẻm ấy. Chị là cột điện, là bãi mửa, là nhà trọ. Chị là ống khói nhà máy, là khu chợ tối tăm, là cái máy may. Ba mươi bảy căn phòng hiu quạnh, là những điểm đến của cuộc đời chị.

... Hai người họ dường như yêu nhau thắm thiết. Tôi chưa từng nghe thấy họ nói với nhau một từ yêu đương nào, vậy nên tôi chỉ có thể viết “dường như” mà thôi.

Tôi không thể tìm ra cách xưng hô nào cho chuẩn để gọi anh ta, vậy nên một hôm tôi gọi anh ta là chú. Chị Hee Jae đang rửa mận trong bếp phá lên cười sằng sặc.

“Chú à? Anh ấy mà nghe được thể nào cũng thấy buồn cười lắm cho xem!”

Để mận vào một cái rổ cho ráo nước, xong rồi chị vừa cười toe toét vừa nghịch ngợm vẩy bàn tay ướt để nước bắn tóe về phía tôi. Những giọt nước thơm ngát mùi mận bắn lên người tôi.

“Còn anh ấy thì gọi chị là Nắm Đấm.”

Lần này đến lượt tôi cười phá lên.

“Nhưng tay chị nhỏ tí xíu mà!”

Hai bàn tay chị quá nhỏ để chị bị gọi là Nắm Đấm. Hai bàn tay nhỏ xíu. Hai bàn tay không ngừng đẩy những mảnh vải dưới mũi kim máy khâu. Những bàn tay thanh tú đến thế, phủ đầy những vết kim châm.

“Anh ấy bảo mỗi khi chị ngủ, tay chị siết chặt lại thành nắm đấm, cứ như một người sắp ra chiến trường ấy.”

Hai bàn tay cô đơn.

Hát, có một tối chúng tôi đã ngồi hát trên sân thượng tòa nhà chứa những căn phòng hiu quạnh, chị Hee Jae và tôi và người đàn ông tôi gọi là Chú. Lúc này đây thăm thẳm chốn rừng sâu mưa lạnh rơi, hẳn sẽ xóa sạch dấu chân tình yêu. Đúng như chị Hee Jae đã nói, Chú hát rất hay. Như người lúc nào cũng hát thay vì nói. Buổi sáng lộng gió, bỗng hiện lên khuôn mặt bầu bĩnh của em. Giọng hát của anh ta êm ái, kể cả ở những nốt cao khó hát. Bài hát như đang tự nhiên chảy ra từ vết chàm trên khuôn mặt anh ta. Liệu có thể bùng cháy rồi trở thành đóa hoa như bông sơn trà trên vách núi tăm tối, uống sương giá mà xòe nở. Một bài vừa xong, một bài khác lại tìm ngay đến giọng anh ta. Anh ta đã hát hơn một tiếng đồng hồ, thế mà những bài hát vẫn không ngừng tìm đến. Nếu anh trở thành một bông hoa, những con chim núi sẽ bay tới và liệu linh hồn người yêu dấu của anh cũng sẽ trở thành một bông hoa chăng... Từ trong bóng tối xa xa, anh cả gọi tôi. Tiếng hát ngừng lại và sự im lặng ngượng ngùng vây quanh chúng tôi. Một sự im lặng còn nặng nề hơn cả khu nhà máy.

“Em đang làm gì dưới ấy thế?”

“Mau về đi.”

Chị Hee Jae đẩy lưng tôi. Quay về phòng tôi thấy anh cả đang quay tấm lưng ngoan cố lại phía tôi.

“Em coi lời anh nói là cái gì hả... Anh đã bảo em tránh xa cô ta ra cơ mà.”

Giọng anh cả ầm ầm như sấm. Tôi chỉ ước gì anh nói khẽ thôi... nếu nghe thấy giọng nói lạnh lùng của anh, thể nào chị cũng khóc.

Lúc đó tầm sáu giờ. Ắt hẳn tôi đã ngủ thiếp đi giữa lúc đọc sách. Em trai tôi, đang học đại học ở Incheon, đã gọi điện dựng tôi thức dậy. Em ngay lập tức hỏi tôi, Chị ổn chứ. Tôi hỏi em đang nói gì vậy thì em bảo em đang ở một quán ăn gần trường, ti vi đang đưa tin một trung tâm thương mại bị sập, vậy nên em thử gọi điện cho tôi xem sao. Nhỡ đâu có chuyện gì.

“Trung tâm thương mại? Thật à?”

Tôi bật ti vi, một tay vẫn cầm ống nghe. Màn hình chỉ chiếu cảnh tòa nhà trước khi sập. Phát thanh viên đang khẩn cấp thông báo về vụ sập nhà nhưng vì người ta không chiếu hiện trường tai nạn nên tôi vẫn chưa cảm thấy thật chút nào. Đó là Trung tâm thương mại Sampoong ở Seocho-dong, khu Gangnam. Khi tên những người thiệt mạng và bị thương bắt đầu xuất hiện trên màn hình, tôi không khỏi lo lắng, bèn dập máy để gọi anh cả, giờ đang sống ở Gangnam. Cũng chỉ là nhỡ đâu thôi. Hình ảnh trực tiếp từ hiện trường vừa được lên sóng tôi liền ngây người ra. Làm sao có thể có chuyện này? Chẳng khác gì một bãi chiến trường. Lúc mới nghe tin tôi đinh ninh rằng chắc chỉ sập một góc tòa trung tâm đó thôi, nhưng không, tòa nhà năm tầng, cộng thêm ba tầng hầm, đã hoàn toàn sụp đổ, như thể đây là một vụ phá hủy đã được dự tính chu toàn từ trước. Dường như tòa nhà chưa bao giờ tồn tại trên khu đất ấy. Đường phố ngập ngụa những mảnh vụn từ vụ sập và những người máu me bê bết đang được đưa ra ngoài. Tiếng la hét. Vô cùng hỗn loạn. Đầu óc tôi trống rỗng. Các nhân chứng vừa được đưa ra khỏi tòa nhà cho biết họ đã nghe thấy một tiếng nổ trước khi tòa nhà sập xuống. Tiếng nổ? Một vụ khủng bố chăng? Bởi đây là trung tâm thương mại lúc nào cũng tấp nập người, bởi đây là một trung tâm thương mại cao cấp nằm giữa những khu văn phòng và căn hộ xa hoa ở Gangnam, nên tôi không bao giờ nghĩ rằng nguyên nhân gây sập có thể nằm ở vấn đề an ninh hay chất lượng xây dựng kém. Cảnh tượng càng lúc càng trở nên rùng rợn hơn. Người bị vùi dưới đống đổ nát của tòa nhà năm tầng. Cả ba tầng hầm bên dưới nữa. Khói khí độc đang cuộn lên cao. Bản tin thời sự thông báo rằng trong lúc những người sống sót đang bị kẹt bên trong, hiện vẫn tồn tại nguy cơ bị nổ khí độc hay sập nốt phần còn lại của tòa nhà, khiến cho máy quay thậm chí cũng không thể đến gần được. Vụ sập nhà diễn ra vào khoảng sáu giờ tối. Phần lớn diện tích tầng hầm là khu thực phẩm. Bị kẹt trong tầng hầm, khó tiếp cận lực lượng cứu hộ nhất, phần lớn là các bà nội trợ đang mua đồ cho bữa tối. Bản tin tiếp tục thông báo.

... Đã tìm thấy nhiều trẻ em thiệt mạng trong khu quần áo trẻ em ở tầng hầm thứ nhất.

... Khoảng năm mươi người hiện tại đang bị kẹt trong nhà hàng dưới tầng hầm.

... Chân trái của một người phụ nữ bị cắt cụt đã được chuyển tới bệnh viện. Nếu kịp thời tìm thấy người bị thương, họ sẽ có thể thực hiện phẫu thuật nối liền chân.

Hôm đó là sinh nhật anh cả, một ngày thứ Bảy. Mẹ từ dưới quê lên. Tôi đang đi bộ đến trạm xe buýt sau khi tan học thì chị họ cất tiếng như sắp hụt hơi gọi tôi. Vì chị họ đã chuyển tới Yongsan nên chị và tôi không còn đi cùng tuyến xe buýt nữa. Sau giờ học, hầu hết học sinh đều bắt chuyến xe buýt đêm từ Singil-dong ở quận Yeongdeungpo để trở về khu công nghiệp, nhưng chị họ lại đi sang bên đường để bắt chuyến xe buýt sẽ đưa chị hoàn toàn rời khỏi Yeongdeungpo.

“Này! Em đang tập chạy để đi thi đấy à? Sao đi gì mà nhanh thế? Không nghe thấy chị gọi gì hả?”

“Gọi em à?”

“Gì cơ?... Gọi em à? Đến người điếc cũng nghe thấy tiếng chị gọi nữa là.”

“A... xin lỗi. Chắc mẹ đã lên đến nơi rồi.”

“Bác gái á?”

“Ừ.”

“Đi nào, vậy thì đi mau thôi.”

“Chị cũng đến hả?”

“Tất nhiên rồi, hôm nay sinh nhật anh cả mà.”

“Chị vẫn chưa quên nhỉ!”

“Quên làm sao được... Kể như vào ngày mai thì tốt hơn... Sáng em có nấu canh rong biển cho anh ấy không?”

“Anh ấy không thích canh rong biển mà.”

“À, ừ nhỉ. Mà sao anh ấy lại không thích ăn canh rong biển chứ nhỉ? Anh ấy cũng không ăn cả canh giá đỗ nữa.”

“Hồi năm lớp sáu anh ấy đi dã ngoại cùng trường, lúc ở nhà hàng, anh ấy đã thấy một bà đầu bếp đi nguyên cả ủng bước vào trong cái thùng muối giá đỗ rồi lấy xẻng xúc.”

“Xẻng á?”

“Ừ.”

“Người ta muối giá đỗ nhiều đến thế nào mà phải dùng đến cả xẻng chứ?”

“Thế mới nói.”

“Nhưng dù thế cũng đã bao nhiêu năm rồi, đến tận giờ anh ấy vẫn vì chuyện ấy mà không ăn giá đỗ à?”

“Chị ở cùng anh ấy bao lâu rồi mà vẫn không biết tính anh ấy ư? Nhìn thấy người ta đi ủng cầm xẻng đứng trong thùng mà xúc giá đỗ lẽ nào anh ấy vẫn còn ăn được à?”

“Thế còn canh rong biển, sao anh ấy lại không ăn?”

“Cái đó thì em không biết. Không lẽ ai đó đã đi cả ủng bước vào trong nồi để múc canh chăng?”

Chị họ và tôi phá lên cười. Anh cả, người không bao giờ ăn canh rong biển, hay canh giá đỗ, hay đậu phụ. Chúng tôi, đã vì anh mà không mấy khi mua rong biển khô hay giá đỗ hay đậu phụ. Chúng tôi, bỏ giá đỗ đậu phụ đi rồi chẳng còn nhiều lựa chọn, thường la cà trước rau chân vịt hay cá thu.

Tôi bước vào trong con ngõ cùng chị họ, lần đầu tiên sau một thời gian dài. Sau khi chúng tôi bước qua tấm biển nhà trọ, con ngõ trở nên tối om. Ngày xưa, khi chúng tôi bước vào trong con ngõ, ánh đèn từ cửa hàng ở góc đường sẽ chiếu sáng cho con ngõ đến quá nửa đêm.

“Cửa hàng vẫn đóng cửa sớm thế à?”

“Bà cụ bị ốm.”

Khi chúng tôi băng qua cột điện, rồi qua cửa hàng, chị họ liếc nhìn cái ghế bên ngoài cửa hàng.

“Vẫn chưa có tin tức gì từ chú ấy à?”

“Chưa.”

Chú chủ cửa hàng từng nặn những bức tượng Đức mẹ Đồng trinh Maria không quay trở lại. Bà cụ, chẳng nghe được tin tức gì từ sau khi bị đám người đột ngột xông vào nhà giữa đêm khuya bắt mất con trai đi, túm lấy bất kỳ ai ở ga tàu điện ngầm để hỏi về con trai bà.

“Các ông các bà ơi. Xin hãy cho tôi biết con trai tôi đang ở đâu, tôi chỉ cần biết có thế thôi. Tôi sốt ruột sắp đến chết mất thôi.”

Những người qua đường bị bà cụ nắm cánh tay đứng lại hoang mang. Một hôm tôi thấy bà bám lấy anh cả.

“Cậu có vẻ là người có học, vậy nên chắc cậu phải biết. Ngày xưa nó đã từng làm chuyện sai lầm nhưng giờ nó đã sẵn sàng sống tử tế rồi. Đã phải đi tù rồi, đã phải đem thân ra trả giá cho mọi lỗi lầm nó phạm phải rồi. Tại sao lại lôi nó đi giữa đêm hôm như thế, sao lại không cho nó về nhà?”

Giọng nói đặc sệt khẩu âm miền Bắc, bà cụ rút nhẫn đeo hai ngón ra đưa cho anh cả.

“Nó bằng vàng đấy, ít nhất cũng nặng 20 tiền... Tôi sẽ đưa nó cho cậu, chỉ cần bây giờ cậu hãy cho tôi biết, con trai tôi đã chết hay còn sống, và nếu còn sống thì nó đang ở đâu, chỉ cần thế thôi, cậu nghe thấy không?”

“...”

“Cho dù nó có làm gì sai đi chăng nữa, tất cả cũng đã qua rồi. Nó đã phải lấy thân mình ra trả giá cho hết thảy mọi lỗi lầm nó phạm phải rồi... Chính bởi vậy nên bằng này tuổi rồi nó vẫn không vợ, không con. Ở vào cái tuổi này của tôi, tôi còn có thể hy vọng gì được chứ. Nó có thể chẳng là gì đối với thế giới này, nhưng nó là đứa con độc nhất của tôi. Hồi còn ở miền Bắc, cuộc sống của tôi cũng tươm tất lắm... Có một người chồng, năm đứa con. Tất cả đều đã chết trong chiến tranh, chỉ còn mỗi đứa con trai này... Hồi đó nó còn sống sót được, ấy vậy mà bây giờ, sau bằng đấy thời gian, tôi còn chẳng biết liệu nó còn sống hay đã chết ư, nói thế mà nghe được ư.”

“Cháu cũng không biết đâu, thưa bà. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là chờ đợi thôi.”

“Đã bao lâu rồi mà cậu còn bảo tôi đợi sao... Nếu nó còn sống hẳn đã có tin tức của nó rồi chứ? Tôi nghe nói cậu đã từng làm việc cho nhà nước, làm sao cậu lại không biết được? Cái nhẫn của tôi vẫn chưa đủ sao?”

“Kìa bà!”

Bà cụ ném thẳng cái nhẫn đeo hai ngón mà bà đã cố gắng dúi cho anh cả xuống đất.

“Cái này thì có giá trị gì chứ... Ai đó cho tôi biết con trai tôi đã gặp chuyện gì đi!”

Cửa hàng của bà cụ không còn bán xà phòng giặt nữa. Không bán cả giấy vệ sinh, cả bánh kẹo Sando nữa. Bà cụ chỉ ngồi trên chiếc ghế bên ngoài cửa hàng, nhìn chăm chăm ra con ngõ. Nếu có công nhân nhà máy trẻ tuổi nào đó hỏi mua thuốc lá, bà bảo, Cứ lấy đi. Chẳng buồn kiểm tra xem họ có trả đúng tiền không. Bà cứ ngồi đó, tại nơi người con trai mất tích của bà trước kia vẫn thường mở cửa hàng lúc trời tờ mờ sáng, chăm chỉ bày ra một thùng đậu phụ tươi, bê ra một xô giá đỗ.

Xem mẹ kìa. Mẹ nhốt trong bếp căn phòng hiu quạnh một con gà trống, cái mào đỏ dựng đứng, bộ lông đỏ bóng mượt. Con gà, chân bị trói bằng sợi rơm rồi bị cuốn thêm một mảnh vải bọc màu xanh dương, giật mình nhảy xóc lên khi chị họ và tôi mở tung cửa bếp ra, gọi to, Mẹ ơi, Cô ơi. Chúng tôi tay cầm cặp sách, không dám đi vào trong, cứ đứng đó nhìn chăm chăm con gà, chẳng để ý đến mẹ đang cười rạng rỡ.

“Sao lại có con gà ở đây vậy?”

Con gà trống rõ là đang cáu kỉnh. Nhìn cái cách nó gườm gườm rồi kêu quang quác thì có vẻ như chỉ cần được tháo dây trói là nó sẵn sàng mổ vào bắp chân tôi ngay.

“Mẹ, mẹ mang gà sống lên à?”

“Con chỉ thấy gà chứ chẳng nhìn gì đến mẹ hết phỏng?”

Mẹ xua chị họ cùng tôi vào trong phòng rồi bày bữa tối muộn lên bàn. Nhà máy không còn cung cấp bữa tối cho các công nhân đi học nữa. Phải đói meo ôm cái dạ dày rỗng tuếch về nhà, chúng tôi ăn ngấu ăn nghiến.

Khi anh cả về nhà, đứng ngoài cửa nhìn thấy con gà anh cũng hoảng hồn.

“Gì thế này?”

Mẹ nhìn ra ngoài cửa chỗ anh đang đứng.

“Mấy đứa thật kỳ quá đi thôi. Đứa nào cũng chỉ nhìn thấy gà trước cả mẹ!”

Mãi đến lúc đó, khuôn mặt anh cả mới dãn ra, tỏa rạng nụ cười trìu mến dành cho mẹ. Chúng tôi chật vật không ngủ nổi giữa tiếng gà quang quác trong bếp. Con gà chết tiệt, cứ mỗi lần nghe tiếng gà kêu anh cả lại trở mình trằn trọc. Có vẻ như thành phố cũng là một chốn lạ lẫm đối với con gà. Mẹ thì chẳng bị ảnh hưởng gì sất. Thậm chí mẹ còn ngáy khò khò, cứ như thể sự náo động của con gà trống vào tai mẹ chẳng khác gì tiếng nhạc. Sau khi anh cả trở mình mất mấy lần, chị họ gõ vào lưng tôi.

“Sao thế?”

“Ra ngoài với chị.”

“Em buồn ngủ lắm.”

“Đi nào...”

Chị họ ôm con gà trống đang đập cánh phành phạch rồi ra khỏi bếp.

“Chị định đi đâu đấy?”

Chị họ bước rón rén như thể là một tên trộm gà. Tôi, mười chín tuổi, cũng rón rén bám theo sau. Điểm đến của chị họ tay ôm con gà trống đang bị trói chân cuốn trong vải bọc là sân thượng. Leo lên đến sân thượng rồi, chị họ ném con gà xuống. Quác! Con gà trống kêu lên trong bóng đêm.

“Đi xuống thôi.”

“Còn con gà thì sao?”

“Đối với nó chỗ này tốt hơn nhiều so với căn bếp chật chội, chúng ta cũng phải ngủ nữa chứ.”

Thấy tôi nhìn con gà với vẻ lưỡng lự, chị họ bèn tháo mảnh vải bọc để thả con gà ra.

“Thế này sẽ giúp nó dễ thở hơn.”

Chúng tôi buộc sợi dây lúc nãy trói chân con gà vào một cái cột dây phơi rồi đi xuống dưới.

Sáng hôm sau. Mẹ bảo anh cả, Con làm thịt gà đi.

“Mẹ, con đã thịt gà bao giờ đâu.”

“Mẹ cũng chưa thịt gà bao giờ.”

“Thế sao mẹ còn mang con gà sống theo lên đây làm gì?”

“Mẹ muốn cho mấy đứa được ăn thịt tươi.”

“Con không thịt gà được đâu.”

“Mẹ có bắt con mổ bò hay mổ lợn gì đâu? Đàn ông con trai mà lại không làm thịt được cái con gà bé tí đó à? Con đã chả nhìn bố con thịt gà cả trăm lần rồi còn gì?”

“Nhìn với làm thật có giống nhau đâu mẹ. Con không làm được đâu.”

“Thật phí công mẹ nuôi mày!”

Thất vọng vì anh cả, mẹ nhìn sang chị họ.

“Cô! Cháu không làm được đâu!”

Chị họ nhảy dựng lên, xua cả hai tay. Tôi lấy làm thích thú khi chứng kiến mẹ không biết xoay xở sao với một con gà sống. Hóa ra cũng có những việc mẹ không biết làm.

Từ trước đến nay, người thịt gà luôn là bố tôi. Mẹ đặt một cái ấm to tướng lên trên bếp lò ở sân sau, còn em gái và tôi sẽ bắt đầu băm tỏi. Em trai... ngả đầu lên lòng chị mà chợp mắt một lát. Nếu chị có khẽ khàng đặt đầu em xuống dưới sàn, em cũng hãy lại ngả vào lòng chị để ngủ thêm lát nữa nhé. Rồi bố sẽ gọi tôi từ ngoài sân.

“Lúc nào nước sôi thì mang ra cho bố.”

Rồi mẹ rót nước sôi vào trong xô.

“Cẩn thận đấy.”

Ba con gà bị vặn cổ chết nằm cạnh bố. Bố nhúng gà vào trong nước nóng rồi vặt lông. Em trai theo tôi vào sân và sán đến bên bố. Khi đã vặt lông gà xong, bố rút diêm từ trong túi áo ra đốt hết lông. Mùi hôi lan khắp sân.

Mẹ biết nấu rất nhiều món gà. Mẹ chặt nhỏ thịt gà làm gà hầm cay với khoai tây thái khoanh hay để ráo nước rồi rán; mẹ xé thịt luộc để ăn nguội với rau lạnh... Từ hồi tôi lên thành phố, bất kể làm món gì mẹ cũng gắp đầy đĩa hoặc bát của tôi. Cháo gà, nấu với gạo và tỏi, đầy ắp cái bát trước mặt tôi. Đang múc cháo mà thấy một cái đùi gà, mẹ sẽ trút ngay vào bát tôi.

“Ăn đi không nguội đấy.”

Em trai gắp cái đùi gà ra khỏi bát mình và vùi nó vào bát tôi, bắt chước lời mẹ.

“Ăn đi không nguội đấy.”

Em gái cốc đầu em trai, bảo, Cái thằng nhóc này.

Thức ăn.

Cách mẹ tôi động viên gia đình là nấu ăn trong cái bếp cũ của ngôi nhà. Bất cứ khi nào nhà tôi gặp phải một chuyện buồn không thể chịu nổi, mẹ lại bước vào trong căn bếp lạc hậu của mẹ. Những người đàn ông nhà tôi. Bố, người mẹ yêu nhưng đôi khi khó lòng thấu hiểu, cùng những người con trai của mẹ đang bước vào tuổi trưởng thành - bất cứ khi nào họ khiến mẹ thất vọng, mẹ lại rã rời bước vào trong bếp. Cả khi cô con gái hét lên đáp trả khiến mẹ sửng sốt rằng, Mẹ chẳng biết gì hết.

Bên cạnh cái lỗ bỏ than của bếp lò, hay cạnh cái giá bày những hàng bát úp sấp, bên trong căn bếp lạc hậu của ngôi nhà đó, chỉ ở những nơi đó mẹ mới có thể vượt qua được nỗi buồn đau đã thâm nhập vào trong trái tim mẹ. Và ở những nơi này, mẹ sẽ lấy lại được sự dũng cảm của mình, như thể linh hồn căn bếp đã phả một nguồn năng lượng mới vào trong mẹ. Khi vui vẻ hay khi đau lòng, khi tiễn người ra đi hay khi đón người trở về, mẹ lại nấu nướng, lại bày biện bàn ăn, lại bảo cả nhà ngồi xuống, rồi lại đẩy cái bát tú hụ thức ăn đến trước mặt người sắp phải ra đi hay vừa mới trở về. Mời mọc không ngừng, Ăn thêm chút nữa đi, Thử cái này xem nào, Ăn đi không nguội đấy, Ăn cái này nữa đi.

Mẹ, chị họ và tôi bọc con gà trống trên sân thượng lại rồi xách nó băng qua cầu vượt dành cho người đi bộ, tới chỗ hàng gà ở chợ. Nhờ ông ta làm thịt con gà hộ chúng tôi. Hình như chợ hôm nay không họp. Hàng gà đã đóng cửa. Cả hàng cá, hàng rau lẫn hàng đồ ăn vặt chị họ và tôi thường ghé vào cũng vậy. Chúng tôi xoay xở mua được hai con cá thu muối ở một quầy đầu chợ và cả một cái nồi hợp kim để hấp bánh gạo. Mẹ không khỏi chán nản vì mẹ muốn nấu món gì đó đặc biệt cho anh cả. Quay trở về sân thượng để buộc con gà trống lại, mẹ bảo chúng tôi, Mẹ phải bắt tàu tối về rồi, bao giờ rảnh các con nhớ mang con gà đến hàng ở chợ nhờ ông ta làm thịt cho nhé, rồi luộc nhỏ lửa một lúc lâu để mà ăn với anh nhé.

“Mẹ đã bóc sẵn nhiều tỏi lắm rồi đấy, nên khi nào gà được thịt rồi thì nhồi tỏi vào bụng gà đem đun nhỏ lửa nhé, sau đó vo một bát gạo, cho thêm vào nồi đun nhỏ lửa thêm một lúc nữa là được.”

“Vâng ạ.”

“Đây là gà ta chính hiệu đấy, khác hẳn với loại các con vẫn mua ở chợ. Mẹ đã phải mất bao công lao để nuôi đấy. Nhớ làm theo lời mẹ dặn nhé?”

“Vâng ạ.”

Chẳng còn lựa chọn nào khác, mẹ đành lấy các thứ nguyên liệu đã mua để nấu bữa tối chúc mừng sinh nhật anh cả. Mẹ bóc vỏ đậu Hà Lan bỏ vào nấu chung với cơm. Mẹ cắt củ cải om với cá thu. Mẹ đồ đậu đỏ để làm bánh gạo cùng với bột gạo nếp mẹ xay từ nhà. Mẹ làm kim chi và các món rau để cuốn ăn bằng củ cải non và bắp cải mẹ mang lên từ nhà. Mẹ thái bí ngòi hái từ vạt rau nhà để nấu canh tương và bày ra một rổ đầy ắp ớt xanh, dưa chuột bao tử, lá vừng, lá củ cải non và cải thảo để cuốn cơm ăn. Thêm cả đậu Hà Lan đồ nguyên vỏ. Khi bánh gạo đã làm xong, mẹ đặt cái nồi hấp lên bàn cạnh một bát nước to. Mẹ cắm nến lên bánh gạo rồi thắp nến. Khi nhà có người sinh nhật, dù ở xa, mẹ vẫn làm thế này ở nhà, hấp bánh gạo, bày bát nuớc sạch trong vắt và thắp nến.

Chị họ tặng anh cả một cái áo sơ mi trắng.

“Anh sắp xuất ngũ rồi mà. Khi đó hãy mặc cái áo này.”

Bàn ăn tối mẹ chuẩn bị đượm mùi của nhà. Thứ mùi từ sàn gỗ mái hiên buổi trưa vằn vện vết phân gà, từ chuồng thỏ, chuồng lợn, từ hoa hồng bên bờ suối. Trong tương ớt trộn với tỏi băm và ớt xanh chất chứa cả vạt rau của mẹ. Cả góc vườn phụ của mẹ đằng sau chỗ cất các vại tương. Hình bóng mơ hồ của gia đình chúng tôi trộn bên trong những thứ mùi của nhà. Tay áo dính nước mũi của em trai, bố nướng thịt ướp trên vỉ nướng xèo xèo, các anh trai cắm ruột bút bi vào đầu bút chì cho tôi. Mái tóc cắt kiểu đầu vuông của em gái vung vẩy khi em gọi tôi, Chị ơi. Tôi còn nhớ, ở nhà có một chuồng gia súc treo nông cụ. Treo trong đấy nào liềm, xẻng, cuốc, cào tỏa ra mùi của đất. Cái cào hai ngạnh. Đột nhiên như cảm thấy đau, tôi đang múc canh dở bèn buông muôi xuống rồi chạm tay vào bàn chân.

Tôi vẫn nhớ, ở nhà có một cái giếng. Và có một con bé mười sáu tuổi, lôi từ chuồng gia súc xuống cái cào từng bổ vào chân mình, kéo lê bàn chân đắp phân bò đến bên cái giếng đó, rồi ném cái cào xuống.

Buổi chiều, chị họ về trước, gói theo ít bánh gạo về cho em gái ăn. Đến giờ cơm tối, mẹ cũng gói ghém những tấm vải bọc và sắp sửa cái túi rỗng rồi lên đường trở về nhà. Anh cả tiễn mẹ đến ga Yeongdeungpo. Lúc mẹ rời khỏi con ngõ để bắt chuyến tàu điện ngầm tới ga, mẹ giục tôi mang con gà tới hàng gà ngoài chợ nhờ làm thịt để tối ăn cùng với anh cả.

“Con nhớ chưa?”

“Rồi ạ.”

Mẹ đi rồi, căn bếp của căn phòng hiu quạnh vừa mới tỏa ra mùi của nhà trong thoáng chốc giờ trở lại thật tiêu điều. Ngồi một mình trên ngưỡng cửa, mắt tôi nhòa lệ. Tôi gói một ít bánh gạo mang đến phòng chị Hee Jae nhưng cửa phòng đã khóa. Tôi lau chạn, lấy nước sạch rửa bát, thìa, thớt và dao, nồi. Khi tôi đã dọn dẹp mọi thứ xong xuôi, thứ duy nhất còn lại là cái nồi hợp kim được mua về để hấp bánh gạo, trống trơn và lặng lẽ. Cái nồi hấp sáng bóng có vẻ lạc lõng trong căn bếp này. Tôi rửa nồi, lấy khăn lau khô rồi cất nó lên trên giá.

Tôi mang một bát nước nhỏ lên sân thượng. Con gà trống đang nằm bẹp, chẳng còn chút hơi sức nào. Tôi đặt cái bát xuống cạnh mỏ nó. Hẳn nó phải khát khô cả cổ rồi, tôi lấy làm thương cảm cho con vật đang loạng choạng uống nước trong bát. Tôi quay xuống dưới, bốc một nắm gạo vãi ra trước mặt nó.

Tôi không mang con gà trống trên sân thượng xuống chỗ hàng gà. Chị Hee Jae chăm chú nhìn tôi lật ngửa cái chậu cao su to tướng bị ai đó bỏ lại úp sấp trên sân thượng để thả con gà vào trong đó.

“Em định nuôi gà trong chậu cao su kiểu gì hả? Em định đậy nắp lên sao?”

“Em biết làm gì bây giờ?”

“Ở chỗ hiệu may của bọn chị có một tấm ván gỗ to lắm chẳng dùng làm gì cả. Để chị nhờ anh ấy mang đến che lên chỗ kia cho nhé?”

Chị chỉ về một cái góc cạnh lan can.

“Ván gỗ á?”

“Cứ để nó ở đây như thế này thì thể nào nó cũng sẽ mắc mưa cho xem.”

Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi đã thấy một tấm ván gỗ được đặt bên trên lan can và con gà trống đang đi đi lại lại bên dưới. Sợi dây thừng rơm trói chân nó đã được thay thế bằng một sợi dây dài tết chỉ vàng và hồng, xỏ qua một cái lỗ vòng lên trên tấm ván. Nhờ có sợi dây, con gà giờ đã có thể đi lại tự do bên dưới tấm ván.

Cả lúc đi làm lẫn đi học, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến con gà trống dưới tấm ván trên sân thượng. Tôi lấy làm vui sướng vì được mang thức ăn nước uống cho nó. Khi tôi leo lên bậc cầu thang cuối cùng dẫn tới sân thượng là nó bắt đầu quang quác như đã nhận ra tiếng bước chân tôi.

Từ hồi tôi giữ con gà trống trên mái nhà, tôi thường tình cờ gặp người đàn ông của chị Hee Jae trên đó. Có vẻ như con gà cũng nhận ra tiếng bước chân anh ta. Anh ta thậm chí còn chơi cả harmonica cho con gà nghe. Thỉnh thoảng lúc anh ta chơi nhạc, chị Hee Jae cũng ở đó, vùi mặt vào lòng anh ta. Một hôm tôi phát hiện thấy bên cạnh cái chuồng gà tạm có một chậu cây bằng xốp. Bên trong chậu, những cây con mọc túm tụm cạnh nhau, nở những bông hoa đỏ thắm. Rồi một hôm tôi lại phát hiện cạnh cái chậu cây là một thùng gỗ lớn lèn đầy đất. Khi tôi hỏi thứ này là gì, chị Hee Jae bảo anh ta đã gieo hạt rau diếp vào đó. Vài ngày sau, quả thật những lá rau diếp xanh ươm đã nhô mình lên khỏi mặt đất, vươn về phía con gà. Có vẻ như hai người đã quyết định dựng tổ ấm trên sân thượng. Thỉnh thoảng họ trải cả chiếu tre nằm ngủ ngay cạnh chuồng gà, ngay cạnh bồn hoa, ngay cạnh vườn rau.

Một lần tôi mang thức ăn cho gà leo lên sân thượng thì thấy người đàn ông đã ở đó rồi. Anh ta vừa cho con gà trống ăn vừa lầm bầm gì đó với nó. Tôi biết đang nói chuyện một mình mà bị bắt gặp thì sẽ lúng túng đến nhường nào. Thỉnh thoảng tôi cũng nói to lên thành tiếng những điều tôi định nói với Chang đang ở phương xa, nhưng rồi cảm giác rằng có ai đó ở bên nên bèn vội vàng kéo các âm tiết ra biến thành một bài hát. A a a... người ấy giờ đang ở đâu đang làm gì? Tôi, mười chín tuổi, nhìn thấy anh ta đang quay lưng lại phía tôi nói chuyện với con gà, bèn xoay người đi xuống.

Từ bao giờ con gà đã là của hai người họ. Mẹ đã tặng họ một món quà lớn mà chẳng hề hay biết gì.

Một bức thư tôi nhận được từ Chang, giờ đã là sinh viên đại học, có chứa thuật ngữ “thẻ thư viện”. Rằng cậu đã dùng thẻ thư viện để mượn cuốn Mỹ học nhập môn. Rằng cậu đang kê cuốn sách này dưới tập giấy để viết thư. Thuật ngữ “thẻ thư viện” khiến tôi bối rối và tôi, mười chín tuổi, đứng tựa vào cánh cổng ngôi nhà có ba mươi bảy căn phòng mất một hồi lâu. Lớp năm nhất, Trường Giáo dục Nghệ thuật. Tôi nhìn chăm chăm một hồi lâu vào địa chỉ mới của Chang trên phong bì.

Tất cả chúng ta đều rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để trưởng thành. Dường như Chang cũng đã rời khỏi ngôi làng nơi chúng tôi cùng trưởng thành để đi học đại học. Khi tôi nghĩ đến chuyện Chang không còn ở ngôi làng đó nữa, đột nhiên mọi ánh đèn trong làng đều nhất loạt vụt tắt.

Cô gái tôi gặp ngày hôm nay nói với tôi rằng cô sinh ra ở thị xã Ninh An, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc. Tên cô là Kim Yeong Ok. Cuốn sách của cô đã được xuất bản ở Hàn Quốc với tên Người đàn bà điên. Phần tiểu sử tác giả của cô được viết như sau:

... Sinh năm 1971 tại thị xã Ninh An, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, Kim Yeong Ok đã giành được giải nhất trong cuộc thi Sáng tác dành cho thiểu nhi gốc Hàn vào năm mười một tuổi, khi cô đang học lớp bốn, và được ca ngợi là một “thần đồng văn học”, một “nữ nhà văn thiên tài”. Năm mười lăm tuổi, học lớp chín, cô được tờ nhật báo danh tiếng Hải Nam bình chọn là một trong mười hai thần đồng Trung Quốc, và năm mười bảy tuổi, trước sự sửng sốt của 1,2 tỷ cư dân đất nước này, cô đã được chính phủ chọn vào danh sách 56 ngôi sao trẻ Trung Quốc. Đặc biệt, cô là người gốc Hàn duy nhất trong danh sách, một niềm vinh dự lớn lao cho những người dân Hàn Quốc. Sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, cô lên thẳng khoa Ngôn ngữ Hàn Quốc thuộc trường Đại học Diên Biên, và sau khi giành được tấm bằng cử nhân, cô trở thành nhà báo phụ trách mảng văn học nghệ thuật ở Nhật báo Diên Biên. Tháng Tư, 1994, sang Hàn Quốc du học, nghiên cứu thạc sĩ trong Viện Hàn Quốc học, thuộc Viện Nghiên cứu Văn phi vật thể Hàn Quốc. Biệt danh của cô là Dallyeo - người phụ nữ luôn trên đường chạy.

Vài ngày trước tôi đang ký tặng sách ở hiệu sách Kyobo sau buổi giao lưu thì nhìn thấy cô, người có biệt danh Dallyeo, đứng ngay trước mặt tôi cùng một nhà báo tôi nhớ là đã từng gặp trước đây. Cô để kiểu tóc bob, mặc áo cardigan xanh da trời bên ngoài váy bó. Cô vừa đưa cho tôi cuốn sách tôi viết đang cầm trên tay vừa bảo, Hy vọng sau này có thể được gặp riêng chị. Chúng tôi gặp nhau bốn ngày sau đó, tức là hôm nay. Chúng tôi ăn hoành thánh ở Sogongdong. Sau khi uống trà ở quán cà phê tại Trung tâm Báo chí Seoul thì nhà báo kia rời đi. Tôi rủ cô ấy tới Kyobo để tôi mua một cuốn sách của cô. Cô có vẻ bẽn lẽn, thấy vậy tôi bèn nói, Cô đã đọc tác phẩm của tôi rồi nhưng tôi lại chẳng biết gì về cô hết, vậy nên tôi không mấy thoải mái. Tôi mua sách rồi chúng tôi đi bộ tới Insa-dong. Chúng tôi ngồi trong góc một phòng trà tên là Volga và tôi nhờ cô ký vào trong cuốn sách mà cô viết.

Cô nói cô đã ở Hàn Quốc được một năm rưỡi rồi. Tôi hỏi cô có gặp bất tiện hay khó xử gì khi sống ở đây không và cô nói không hề có cảm giác đó. Rằng cô không bao giờ cảm thấy mình đang ở một đất nước khác. Rằng dường như chẳng có gì xa lạ hết, dù là ẩm thực hay phong tục. Rằng cô đã được trao cơ hội chọn đến Nhật Bản hoặc Hàn Quốc nghiên cứu, và cô thật lòng vui mừng vì cuối cùng đã đến Hàn Quốc. Cuộc trò chuyện của chúng tôi, một cách thật tự nhiên, đã xoay chuyển đến vụ sập Trung tâm thương mại Sampoong. Cô nói cô đã rất sốc. Hẳn vậy rồi, tôi nói, nhưng cô giải thích cô sốc không phải vì tòa nhà bị sập mà vì toàn bộ hiện trường thảm họa đó đã được phơi bày trước dân chúng và vì sự phẫn nộ của toàn thể quốc dân.

Tôi ngơ ngẩn mất một lúc.

“Nếu một chuyện như thế xảy ra ở Trung Quốc, người ta cũng chẳng đưa nó lên truyền hình đâu.”

“...”

“Chứng kiến người dân Hàn Quốc bộc lộ cơn giận dữ của mình, tôi cảm thấy có hy vọng. Người Trung Quốc thì dẫu ngay bên cạnh mình có xảy ra chuyện gì cũng chẳng buồn quan tâm. Thậm chí cho dù một người phụ nữ mang thai bị quấy rối ngay giữa đường phố lúc ban ngày ban mặt, người ta cũng sẽ chỉ đứng đó mà nhìn thôi. Sự việc có thể tiếp diễn trong suốt ba tiếng đồng hồ mà không một ai chịu đứng ra ngăn cản. Ở đây thì đó lại là chuyện không thể tưởng tượng được.”

“...”

“Có lần ở tỉnh Hắc Long Giang nơi tôi sống trước đây có một cô gái bị ngã xuống sông. Trước khi gia đình cô ấy đến, không có bất kỳ một người nào nhảy xuống nước để cố gắng cứu cô ấy cả. Tất cả mọi người đứng đó khoanh tay, chứng kiến cô ấy chới với chìm dần. Phải đến khi gia đình cô ấy đến và đề nghị trao tiền thì người ta mới bắt đầu thương lượng giá cả, và trong lúc đó thì cô gái kia đã chết mất rồi.”

“...”

“Trung Quốc bây giờ là như thế đấy. Có người chết ngay trước mặt mình cũng chẳng ai thèm quan tâm. Nhưng trái lại, người ta càng lúc càng coi trọng tiền bạc. Vụ sập ấy đáng lẽ không bao giờ nên xảy ra, nhưng chứng kiến mọi người bày tỏ sự quan tâm và bộc lộ nỗi giận dữ, tôi lại cảm thấy có hy vọng ở họ.”

“...”

Cô mạnh mẽ ủng hộ những người gốc Hàn sống ở Trung Quốc. Cô nói rằng cho dù sống ở nơi đâu, người hàn Quốc cũng không bao giờ có thể xóa bỏ được bản sắc dân tộc của mình. Rằng, cho dù họ sống ở Mỹ, Nhật Bản, Australia hay ở Sakhalin, những người gốc Hàn Quốc vẫn lập thành Phố Hàn. Và rằng, cho dù qua bao lâu đi chăng nữa, người gốc Hàn vẫn là người gốc Hàn, họ không bao giờ có thể thành người Trung Quốc.

Cô nói với tôi như thế này, Chị có biết chị may mắn nhường nào không? Các tác phẩm của chị truyền tải tình cảm và linh hồn kiên cường của người Hàn Quốc. Một điều tôi không bao giờ có được. Tôi sinh ra là một người gốc Hàn ở Trung Quốc. Từ lúc tôi mới sinh, đất mẹ đã ở rất xa. Đọc tác phẩm của chị, tôi có thể cảm nhận được hương vị thấm nhuần của một người đã lớn lên trên mảnh đất này. Cho dù chị viết về cái chết hay tình yêu hay sự chia ly. Đó không phải một thứ người ta có thể cố gắng để mà đạt được. Chị không có những bậc tổ tiên buộc phải rời bỏ mảnh đất này, phải không? Chị cũng không có họ hàng gì ở miền Bắc, đúng không?

Tổ tiên của tôi?

Tôi dừng tách trà ngũ vị tử, ngước lên nhìn thẳng vào mặt cô lúc cô hỏi về tổ tiên của tôi. Cô nói đúng. Không bậc tổ tiên nào của tôi phải rời bỏ mảnh đất này. Tổ tiên tôi là một dòng họ từng một thời thịnh vượng và có nhiều điều cần bảo vệ. Cánh cổng cao ngất của họ đã sụp đổ khi chế độ thuộc địa, bệnh dịch và chiến tranh tràn qua, nhưng các cụ cao tuổi ghi chép gia phả vẫn còn sống. Hết năm này qua năm khác, tổ tiên của tôi đã bảo vệ mộ phần dòng họ ở miền Nam này, cũng như sở hữu những đồng lúa của dòng họ ở gần đấy. Chúng tôi không phải kinh qua nỗi đau ly tán với miền Bắc. Tổ tiên chúng tôi chưa bao giờ rời khỏi mảnh đất miền Nam. Rất nhiều những địa danh như Shinuiju hay Hamheung tôi mới chỉ biết qua trang sách. Hầu hết gia đình tôi, họ hàng xa gần của tôi đều sống trong vùng. Xa lắm cũng chỉ đến thị xã vùng đó, hay cỡ Jeonju là cùng. Không một thành viên gia đình nào của tôi từng rời nhà đi Nhật, đi Mỹ hay Trung Quốc. Thành phố này là nơi xa nhất mà người dòng họ tôi từng đến, và những người đó chính là chúng tôi.

Cô ấy nói với tôi thế này, Chị và tôi khác nhau, khác nhau ngang với chuyện gia đình chị ở đây trên mảnh đắt miền Nam này, trong khi gia đình tôi luôn nuôi dưỡng một tâm hồn du mục ở xa xăm nơi mảnh đất Trung Quốc. Ở Trung Quốc, tôi là người gốc Hàn, còn ở đây, tôi lại là một người đến từ tỉnh Hắc Long Giang. Nhưng chị là người Hàn Quốc một trăm phầm trăm, cho dù chị có đến Hắc Long Giang hay bất kỳ đâu đi nữa. Chính bởi vậy, cho dù đến đâu, chị cũng vẫn có thể hòa hợp.

Khi chúng tôi chia tay nhau, cô đeo lên cổ tay tôi một chiếc vòng thất bảo, nói rằng mang từ Trung Quốc sang. Chiếc vòng màu xanh, khảm hoa văn hình lá và hoa, lấp lánh tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Thấy cô có vẻ buồn bã sao đó tôi bèn đề nghị sang tháng Tám hãy gặp nhau lần nữa. Tôi rủ cô cùng tới núi Gaya. Và đến thăm ngôi đền Haein ở đó.

Một hôm, chị Yoon Soon Im rủ tôi đi thăm người ốm.

“Ai vậy?”

“Cô Lee.”

“Cô ấy ốm ở đâu à?”

Suỵt. Chị Yoon Soon Im đưa một ngón tay lên môi. Thấy tôi liếc nhìn vẻ tò mò, chị thì thầm vào tai tôi.

“Em không được kể với ai là bọn mình sẽ đến thăm cô Lee đâu nhé.”

“Sao lại không?”

Chị nhìn quanh rồi lại đặt ngón tay lên môi. Nhìn cách cư xử thận trọng của chị, tôi cảm giác như có một luồng gió lạnh buốt quét qua người mình. Mùa xuân đã đến nhưng đám tử đinh hương ở thảm hoa nhà máy không có ý gì là sẽ nở. Chúng tôi ghé vào phòng quản lý xin phép nghỉ sớm. Tôi cứ tưởng chúng tôi sẽ tới bệnh viện nhưng hóa ra lại đến phòng trọ của cô Lee. Lúc chúng tôi đi qua cánh cổng Khu Liên hiệp Công nghiệp, tôi, mười chín tuổi, liếc nhìn về phía Trung tâm Đào tạo Việc làm nơi tôi đã ở khi mới đến đây, như thể có ai lôi kéo tôi theo hướng đó. Ở đó có người thầy đã viết lên tấm bảng đen cho chúng tôi, những đứa học trò đang học kỹ năng hàn, Đẹp biết bao, bóng lưng của người biết rõ khi nào nên ra đi. Ở đó có mẹ đã hộ tống tôi lên thành phố rồi lại quay trở về. Ở đó có anh cả Chủ nhật nào cũng đến thăm và mua bánh ngọt cho chúng tôi ăn. Ba năm đã trôi qua kể từ hồi đó. Tôi đã làm việc cật lực, nhưng sau ba năm vẫn chẳng có gì thay đổi hết. Chẳng có gì ngoại trừ việc tôi đã bắt đầu học cấp ba và giờ đã sang năm cuối cấp. Chẳng có gì ngoại trừ việc vết sẹo trên ngón tay cái của tôi, do bị một cục bột hàn nóng rực bắn vào lúc tôi học hàn ở Trung tâm Đào tạo Việc làm, giờ đã mờ dần.

Tuyết vẫn chưa tan hết trên những con dốc của khu Doksansong này. Tôi đi giày đế bằng nhưng chị Yoon Soon Im lại đang đi giày cao gót. Khi leo lên dốc, chị cẩn trọng chẳng kém gì lúc đặt ngón tay lên miệng.

“Chúng mình có nên mua ít quýt không nhỉ?”

Chúng tôi mua một ít quýt nhỏ, được bày khiêm tốn một góc trong cửa hàng nhỏ xíu bên dốc, rồi lại leo lên tiếp. Leo lên rồi chúng tôi lại xuống dốc, sau đó băng ngang một con ngõ san sát những ống khói lò.

“Nhà kia kìa.”

Chị Yoon Soon Im chỉ tay về phía một ngôi nhà, có lẽ là ngôi nhà thứ tư trong ngõ. Ngôi nhà chỉ có một tầng. Chúng tôi đẩy cánh cổng đang mở sẵn và bước vào bên trong, thấy hai cánh cửa được đánh số lần lượt 101 và 102. Có khoảng mười căn phòng dọc hành lang. Bên ngoài hành lang có những cái bếp nhỏ. Bên cạnh các bếp là những nồi, những thìa lọc và những giỏ đựng bát úp ngược cho ráo nước... một dãy cao ngất nồi niêu xoong chảo không có bếp để cất. Chúng tôi mở một cánh cửa và bước vào. Cô Lee đang nằm. Cô định ngồi dậy nhưng chị Soon Im đã ngăn lại.

“Chị cứ nằm đi, không sao đâu.”

Có vẻ như cho dù muốn cô Lee cũng chẳng ngồi dậy được. Cô lại nằm xuống, mặt nhăn lại.

“Chị thế nào rồi?”

Không trả lời chị Soon Im, cô Lee dãn khuôn mặt đau đớn ra và mỉm cười nhìn tôi, nói, Là cô đấy à. Chị Soon Im bảo tôi, Ngồi xuống đi, và nói với cô Lee, Chị bảo nhớ em ấy nên tôi đưa em ấy đến đây này. Cô ấy nhớ tôi sao? Tôi cúi đầu, thấy xấu hổ. Tôi vẫn luôn ở phía đối nghịch với những việc cô Lee làm. Khi công đoàn bỏ các ca làm việc thêm giờ, tôi vẫn ở yên vị trí trước băng chuyền; khi công đoàn đưa cho những dải ruy băng ghi, Hãy đòi quyền lợi của chúng ta, tôi giữ chúng ở yên trong túi áo. Ấy vậy mà cô vẫn nhớ tôi sao? Cô Lee hỏi chị Soon Im, Vẫn không có tin gì của chủ tịch à? Chị Soon Im lắc đầu.

“Không thể để anh ấy bị bắt được. Nếu bị bắt, anh ấy sẽ bị đưa đi đào tạo thanh lọc. Tôi xếp loại D chật vật mãi mới được thả ra, nhưng chủ tịch sẽ không có cơ hội được xếp loại D đâu.”

Vẻ lo lắng toát lên trên khuôn mặt chị Soon Im.

“Đừng lo quá. Rồi cô sẽ nghe tin từ anh ấy thôi.”

Thấy cô Lee nói thế, chị Soon Im bèn nhìn tôi vẻ thăm dò. A, chị Soon Im và chủ tịch công đoàn sao?

“Bọn chúng không phải con người. Chúng bảo vì những kẻ như chúng ta mà đất nước này loạn.”

Nghe cô Lee chán nản nói thế, chị Soon Im bèn vén chăn của cô lên. Bên dưới, hai chân cô Lee đều đã bị bó bằng thạch cao. Đôi chân từng lúc nào cũng hối hả bận rộn khắp nơi.

“Vai chị sao rồi?”

“Đỡ hơn nhiều rồi.”

“Họ đã hành hạ chị tới mức nào mà ra nông nỗi này?”

“... Tôi bị đá trên cầu thang dẫn xuống tầng hầm và ngã lăn xuống dưới. Phòng thẩm vấn ở dưới tầng hầm mà. Bị ngã lúc tay chân đều bị trói nên vết thương cũng nặng.”

“Con người sao lại như thế chứ? Có phải bọn chúng định giết chị nên mơi đẩy chị đang bị trói chân trói tay xuống cầu thang không?”

“Dù thế tôi vẫn còn sống mà.”

“Nghe chị kia!”

“Tôi đã thoát được rồi nên cũng không sao. Còn chủ tịch, nếu bị bắt sẽ không bao giờ thoát ra được đâu. Vậy nên nếu cô nghe được tin gì từ anh ấy nhất định phải nhắn lại lời tôi nhé. Bọn chúng là những kẻ nhất định sẽ làm cho ra trò đấy. Tôi nghe nói nếu bọn chúng mà cạo đầu ai thì có nghĩa là người đó sẽ chết đấy. Có những người bị đánh đập tàn tệ lắm, đến thủng bụng lòi cả ruột ra ấy.”

Chị Yoon Soon Im nhắm nghiền mắt lại rồi lại mở ra.

“Ăn trưa thôi.”

Chị Soon Im ra ngoài hành lang, bật bếp lò nấu hai gói mì ăn liền. Có lẽ vì căn phòng lạnh ngắt nên nước mì thật ấm và ngon. Chỉ một lát sau cô Lee đã buông đũa, chị Soon Im bóc quýt chìa cho cô.

“Người ngợm thế này chị nấu cơm kiểu gì?”

“Tôi nhờ Seo Sun phòng bên cạnh... Con bé nhiệt tình lắm.”

Cô Lee dừng lại giữa lúc đang nói về Seo Sun và nhìn tôi.

“Cô cũng vậy, phải nhiệt tình... Không bao giờ chán nản. Cô vẫn tiếp tục viết đấy chứ?”

“...”

“Cứ mỗi khi nhìn thấy cô kê cuốn vở lên băng chuyền viết, chẳng hiểu sao tôi lại thấy lòng dễ chịu hẳn.”

“Không phải em viết gì đâu. Em chỉ chép lại truyện của người khác thôi.”

“Sau này trở thành nhà văn, cô cũng viết về chúng tôi đi nhé.”

Cô Lee mỉm cười, xoa xoa đầu tôi.

Giờ đây, số người đến nhà máy lấy trợ cấp thôi việc hoặc lương trả chậm còn nhiều hơn cả số người đến đi làm. Nhà máy dường như không còn ý muốn sản xuất nữa. Những người đã sử dụng chúng tôi dường như không còn ý muốn sử dụng chúng tôi nữa. Những người đã sử dụng chúng tôi muốn quên đi quãng thời gian đã sử dụng chúng tôi và mong chúng tôi bốc hơi hết đi. Chúng tôi không khỏi nhung nhớ những lần chúng tôi từ chối làm quá giờ để đòi giảm giờ làm việc, tăng lương làm thêm giờ, tăng phúc lợi và cơ sở vệ sinh. Giờ bàn tay chúng tôi bồn chồn vì phải ngừng sản xuất hàng hóa. Những người sử dụng chúng tôi không còn tiến hành sa thải hàng loạt nữa. Vì sa thải thì sẽ phải trả kèm trợ cấp thôi việc. Nhân viên bảo vệ, bình thường luôn hăng hái lia con mắt cú vọ giờ cũng thật lặng lẽ. Thật khó có thể tin rằng đây là nơi từng xảy ra hỗn loạn vì đi muộn một phút cũng bị trừ hẳn lương một giờ làm việc.

Một sáng nọ, ngồi trước bàn ăn anh cả hỏi tôi.

“Em có được đi học tiếp sau khi bỏ việc không?”

“...”

“Nếu muốn lên đại học thì em phải ôn thi nữa chứ.”

“...”

Anh cả nghĩ một hồi rồi lại hỏi, Chị họ bỏ việc rồi mà vẫn tiếp tục đi học không gặp rắc rối gì, nên chắc mọi chuyện với em cũng ổn cả thôi nhỉ.

“Cho dù quy định có thế nào đi nữa thì giờ em cũng đã học năm cuối cấp rồi, chắc họ sẽ không đuổi em đâu nhỉ?”

“...”

“Em bỏ việc đi thôi.”

Bỏ việc? Đây đúng là điều công ty muốn. Họ muốn chúng tôi tự nguyện bỏ việc. Đã chậm lương ba tháng rồi. Giờ có được trả lương thì đó cũng là lương của ba tháng trước. Nhưng làm sao tôi có thể bỏ việc được đây, khi chính anh cả cũng đang thất nghiệp sau khi trung tâm dạy thêm bị đóng cửa.

“Anh sắp hoàn thành nghĩa vụ quân sự rồi. Anh sẽ nghỉ việc ở Ủy ban phường và kiếm việc ở một công ty nào đó.”

“Công ty?”

“Anh sẽ vào làm ở một công ty lớn. Em có thấy cái tòa nhà cao chót vót bên phía đối diện ga Seoul không?”

Tôi đã nhìn thấy nó. Tòa nhà nhìn giống như một con quái vật khổng lồ khi tôi lần đầu tiên xuống chuyến tàu đêm tới thành phố này cùng mẹ. Mẹ đã bảo tôi rằng nó chẳng có gì mà phải sợ cả, chẳng là gì hết ngoài những khung thép.

“Anh sẽ đến đó làm việc.”

“Vào trong những khung thép ấy ạ?”

“...”

“Chỉ cần gắng chịu thêm chút nữa thôi. Khi nào nghỉ việc ở Ủy ban phường, anh sẽ được nhận trợ cấp thôi việc. Lúc đó chúng ta sẽ chuyển nhà.”

“Chuyển nhà?”

“Phải, chúng ta sẽ chuyển nhà.”

Anh cả lại mỉm cười gượng gạo.

Anh cả lại hỏi tôi lúc buổi tối.

“Em đã nộp đơn thôi việc chưa?”

“Chưa.”

“Anh đã bảo em nộp đi mà!”

Ngày hôm sau anh cả lại hỏi lần nữa. Nghe tôi bảo tôi vẫn chưa nộp đơn, anh nhìn tôi vẻ hoài nghi.

“Dù từ giờ trở đi em có học ngày học đêm thì cũng chưa chắc đã có cơ đỗ đại học đâu đấy.”

Tôi, mười chín tuổi, chăm chăm nhìn anh đầy ngờ vực. Kể cả có nói anh sắp vào làm việc cho một công ty đi nữa, nếu bây giờ tôi nghỉ việc thì chúng tôi biết lấy gì ra để trả tiền thuê nhà...? Anh cả có vẻ không quan tâm tôi nghĩ gì, anh chỉ về phía bàn. Trên đó có ba túi đựng đầy sách.

“Anh đã mua cho em các sách em cần để ôn thi đại học rồi. Khỏi nghĩ đến Toán hay tiếng Anh làm gì, chỉ cần tập trung vào các môn em có thể học vẹt được ấy.”

Anh rút từ trong túi ra một ít tiền.

“Chọn Kinh tế Gia đình làm môn tự chọn đi. Anh không biết nên mua sách tham khảo nào cho môn này nên đã không mua được. Em đến hiệu sách gần trường hỏi mua một cuốn luyện thi mà các học sinh chính quy hay dùng nhất ấy.”

Tôi, mười chín tuổi, hoảng hốt đặt thìa xuống và nhìn anh cả chăm chăm. Tôi khó khăn nuốt chửng miếng cơm đang ngậm trong miệng.

“Tuy hơi muộn rồi nhưng nếu học hành chăm chỉ, ít nhất em cũng sẽ có thể vào được một trường cao đẳng cộng đồng.”

Giọng anh cả tựa như dòng nước. Tựa như ở một nơi nào đó, một nơi nào đó tôi không biết, đóa hoa tôi yêu thích đột nhiên bừng nở.

“Ăn cơm đi.”

Đôi đũa của anh cả hướng đến món rau chân vịt luộc trên bàn. Anh nhìn tôi đang ngồi đó thất thần.

“Em sao vậy?”

Tôi, mười chín tuổi, bỏ thìa đang cầm trên tay xuống và nhoài người về phía anh.

“Anh!”

Anh cả đang xới cơm bèn dừng tay, chằm chằm nhìn tôi, mười chín tuổi, đang nhoài người về phía mình.

“Anh nói thật không?”

“Nói thật cái gì?”

“Có thật là em được ôn thi không?”

“Thật.”

“Thật chứ?”

“Ừ.”

Anh bỏ thìa xuống và lại một lần nữa mỉm cười gượng gạo.

Tên em là Yoo Ji Hwan. Em đã được giải cứu một cách thần kỳ mười ba ngày sau vụ sập trung tâm thương mại. Em nhúc nhích các ngón chân. Em đã được cáng ra ngoài, được giải thoát khỏi bóng tối đen như mực, khỏi những mẩu vụn cột thép xi măng đầy hung hiểm. Em từ từ kéo chiếc khăn tay màu vàng đặt lên mắt cốt để không bị quáng trước ánh mặt trời đột ngột. Rồi em nhìn chăm chăm khung cảnh xung quanh bằng đôi mắt sợ hãi. Mắt tôi dán chặt vào màn hình ti vi. Một khuôn mặt tôi dường như từng nhìn thấy trước đây. Một khuôn mặt tôi từng yêu mến. Trái tim tôi hẫng một nhịp.

... Em muốn uống cà phê đá.

... Có lẽ em đã ngủ khoảng năm ngày.

... Em đã nghĩ về lời mẹ nói, rằng cho dù có chuyện gì cũng không bao giờ được từ bỏ hy vọng.

... Khuôn mặt đó, khuôn mặt tôi từng yêu mến. Cô ấy. Khuôn mặt đã hồi sinh từ bóng tối đen như mực.

Tôi không thể nhúc nhích người trước cái ti vi. Em thật xinh đẹp và đáng yêu. Tôi cắt các bức ảnh chụp em từ hết báo nọ đến báo kia. Xinh đẹp quá đi thôi. Từ hồi tòa nhà bị sập, tôi luôn có cảm giác hoang hoải, như thể đột nhiên mọi ý nghĩ đều đã tắt ngóm. Chẳng phải thời chiến, vậy mà có thể mất từng ấy mạng sống trong khoảnh khắc. Cảm giác thất bại sâu sắc trước cái cuộc đời đã phá sập theo tòa nhà ý nghĩa của việc phải cố gắng nỗ lực sống. Chúng ta phải sống mà giữ gìn bảo vệ điều gì vậy? Cú sốc bất ngờ đã xóa sạch ý chí của tôi, khiến tôi phản ứng lại một cách hoài nghi trước các sự vật, chặn đứng dòng suy tưởng liên tục của tôi về con người.

Nhưng còn thiếu nữ này?

Em đã thiếp ngủ trong lúc đang truyền dịch và khi em mở mắt, anh trai em đã hỏi.

“Em có muốn ăn gì không?”

Em mỉm cười rạng rỡ nhìn anh trai và trả lời.

“Em muốn một bát canh thịt bò, nhưng bây giờ thì em không ăn được, vậy nên anh với bạn hãy ăn cả phần của em đi nhé.”

Tôi miên man nghĩ về em, như thể tôi đã hạ quyết tâm không được phép bỏ qua một từ nào, một cử chỉ nào của em. Càng chìm đắm trong suy nghĩ về em, tâm trạng bất ổn hẫng hụt của tôi càng trở nên bình tĩnh hơn và tôi cảm thấy một sự gắn bó thân thuộc, như thể tôi đã quen biết em từ lâu lắm rồi. Ji Hwan à, cảm ơn em, cảm ơn em, vì đã sống.

Hè đến, lại một mùa hè nữa, y hệt như mùa hè năm đó.

Tôi không còn nhớ rõ. Liệu tôi đã nhận được lương trả chậm hoặc trợ cấp thôi việc hay chưa. Tôi ước gì mình có thể viết, rằng, Tôi cũng không nhớ rõ mùa hè năm đó, rằng, tôi không nhớ gì cả.

Tôi, mười chín tuổi, đến thăm thầy Choi Hong Yi, người thầy đã không còn dạy chúng tôi nữa. Nghe tôi nói định ôn thi vào đại học, thầy miên man suy nghĩ một hồi. Bắt đầu từ năm nay, các em còn phải nộp cả bảng điểm cấp ba nữa, thầy lo lắng bảo tôi.

“Nhưng điểm kế toán và toán bàn tính của em tệ lắm phải không?”

“...”

“Cũng may người ta sẽ chỉ tính điểm từ năm lớp mười một thôi, thế nên giờ tập trung học hành đi nhé. Có học mới cải thiện điểm số được. Điểm cấp ba được phân thành mười bốn mức, ít nhất em cũng phải nằm ở tốp giữa chứ, phải không?”

Mãi đến khi đó, tôi mới bắt đầu mở sách giáo khoa Kế toán ra. Bên nợ, bên có, bảng cân đối kế toán. Tất cả những gì tôi thu được chỉ là một trận đau đầu như búa bổ. Tôi ngồi cau có, thấy vậy chị họ đến bên hỏi, Em sao thế.

“Em chẳng hiểu cái gì hết.”

“Có sao đâu, chị cũng thế mà.”

“Nhưng bây giờ em phải hiểu.”

“Vậy thì dành ra chút thời gian ban ngày đến trung tâm dạy kế toán học thêm đi.”

“Họ đã đóng hết các trung tâm dạy thêm rồi cơ mà.”

“Không phải những trung tâm dành cho học sinh mà là những trung tâm dành cho người lớn ấy. Nghe nói giờ có nhiều học sinh đến đó học lắm.”

Chị họ dúi vào bàn tay ủ rũ của tôi một ít tiền.

“Trong vòng một tháng là em sẽ theo kịp được thôi. Em chỉ cần nắm được các nguyên tắc cơ bản thôi là được... chỉ là trước đây em không chịu học đấy mà. Có người bảo với chị là học một tháng ở trung tâm bằng với ba năm mình học ở trường đấy... Chắc cũng có lớp học cấp tốc đấy. Đăng ký vào đó đi. Rồi các bài kiểm tra ở trường với em sẽ chỉ là muỗi thôi.”

Chị họ lại dúi tiền vào bàn tay vẫn không thôi ủ rũ của tôi.

“Cầm lấy mà đi đăng ký học đi.”

Chị họ của tôi, cầm cặp sách lên và vội vã bỏ đi khi tôi còn chưa kịp nói gì.

Chị họ của tôi, người từng nói sẽ không bao giờ trở thành một kẻ ăn hại; chị họ của tôi, người đã đưa em gái học hết cấp hai ở quê lên cho đi học ở một trường cao đẳng thương mại - không phải trường chính quy thì có sao, chị nhất định không để em gái mình vào nhà máy làm đâu... Em cũng đừng bao giờ trở thành một đứa ăn hại nhé.

... Tôi nhớ, mùa hè năm đó. Nhắc đến mùa hè năm đó, không phải chỉ toàn những ký ức chưa được giải độc. Cũng có những khoảnh khắc tôi yêu. Cái đêm tôi cùng Chang bước mãi bước mãi trên con đường đêm cũng chính là vào mùa hè năm ấy...

Em trai đưa cho tôi một mẩu giấy. Cái gì vậy? tôi định hỏi, nhưng em đã đưa ngón tay lên môi sau khi liếc trộm về phía căn bếp nơi mẹ đang bận bịu nấu nướng. Là thư của Chang. Cậu viết hẹn tôi đến gặp cậu ở đường tàu. Sau bữa tối, tôi rửa mặt. Gội cả đầu nữa. Tôi lấy nước hoa hồng của mẹ vỗ vỗ lên mặt. Tôi giả vờ ra vườn cho thoáng khí rồi lẻn ra ngoài cổng. Chang đang đứng trên đường tàu, huýt sáo. Cậu ngừng lại khi thấy tôi tiến đến. Những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Mặt đất vẫn còn lưu lại hơi nóng ban ngày. Chang và tôi sánh vai nhau đi bộ dọc đường ray của con tàu chạy về phương Nam. Rời đường tàu, chúng tôi băng qua con suối đến bờ đê ngồi. Từ hồi học đại học Chang trở nên trầm lặng hẳn. U sầu hơn. Lầm lì đi. Khuôn mặt cậu giờ đây nhắc tôi nhớ đến anh ba, người đã gói ghém hết các cuốn sách luật rồi bỏ về nông trang trong sự hối thúc của anh cả. Chúng tôi đi mãi đi mãi, vòng quanh làng.

“Cậu có nghe nói đến Sự kiện Gwangju không?”

Chang đang học đại học ở Gwangju.

“Đó không phải một sự kiện mà là một cuộc cách mạng.”

Im lặng.

“Tớ đã thấy rất nhiều bức ảnh ở câu lạc bộ tớ tham gia... Những chuyện chúng ta không bao giờ có thể tưởng tượng được đã xảy ra ở Gwangju. Làm sao có thể tưởng tượng được rằng một người lính lại đâm lưỡi lê vào dân thường ngay giữa thời bình? Thậm chí không phải một dân thường bất kỳ nào mà lại là một phụ nữ mang thai nữa?”

Im lặng.

Tôi, mười chín tuổi, đột nhiên cảm thấy sự im lặng đè nặng trên vai mình. Tôi cảm thấy tôi phải nói gì đó. Sao khuôn mặt của tất cả mọi người đều biến thành như thế sau khi họ vào đại học?

“Tớ đã nghỉ việc ở nhà máy rồi.”

Tôi không hiểu tại sao mình lại đột nhiên nói như vậy. Chúng tôi cứ đi mãi đi mãi và giờ đã đến con đê ở tít bên rìa làng.

“Nghỉ lại đây một lát rồi đi tiếp.”

Chang ngả lưng xuống bờ đê. Không khí đêm hè mát mẻ thấm vào cơ thể chúng tôi. Ánh trăng, những lá cỏ, ánh đèn từ ngôi làng xa xa, tiếng nước chảy.

“Một lần tham gia biểu tình ở trường tớ bị cảnh sát đuổi bắt, tớ chạy mãi cho tới một con ngõ cụt, bèn trốn sau hiên cất vại tương của một nhà trọ nhỏ. Bọn họ đuổi tới tận đó đánh tớ túi bụi.”

“...”

“Tối đó, tớ đã ngủ với một người phụ nữ tớ không hề quen biết.”

“...”

“Sáng sớm lúc tỉnh dậy, tớ vươn tay ra định sờ ngực người phụ nữ đó, nhưng rồi đã bỏ chạy.”

“...”

“Ngực bà ta nhăn nhúm, khô đét. Mãi đến lúc tỉnh táo lại tớ mới để ý thấy bà ta cũng ngang tuổi mẹ tớ.”

“...”

“Lúc quay về trường, tớ nôn một trận thừa sống thiếu chết.”

“...”

“Tớ xin lỗi, vì lại đi kể chuyện này cho cậu.”

Chang bật cười khúc khích khe khẽ rồi như thể vừa chợt nhớ ra một chuyện, lần mò trong túi quần lôi ra một thứ gì đó.

“Này, cầm lấy đi.”

Một vật nho nhỏ, cỡ ngón tay cái, sáng lấp lánh như sao trên lòng bàn tay xòe rộng của Chang. Đó là một chú gấu trang sức nhỏ, rất nhỏ. Một chú gấu dạ quang. Giữa sự ve vuốt dịu dàng của ngọn gió đêm, Chang chỉ chực nhỏm người dậy. Nhưng từ bao giờ cậu đã đang quỳ gối ngồi đấy. Đừng như vậy mà.

Một nỗi buồn trào dâng trong trái tim tôi. Tôi, mười chín tuổi, nắm lấy chú gấu dạ quang. Thế nhưng, nỗi buồn vẫn không dừng lại. Cái nhận thức rằng một ngày nào đó Chang và tôi sẽ mỗi người một ngả. Dường như việc chúng tôi ở bên nhau như thế này chỉ là một giấc mơ. Trước giấc mơ không biết bao giờ sẽ thức tỉnh, tôi, mười chín tuổi, cảm thấy xót xa vô bờ cho Chang. Đến nỗi nước mắt trào cả ra ngoài. Tôi, mười chín tuổi, tìm kiếm bàn tay Chang trong lúc cậu quỳ gối ngồi đó, dõi vào chốn nào không biết.

“Cậu có muốn sờ thử không?”

Tôi, mười chín tuổi, nắm lấy bàn tay Chang đặt lên ngực mình. Khi chúng ta mỗi người một ngả, khi giấc mơ này trong trái tim tớ đã vụn vớ, khi đó tớ sẽ ở đâu? Và cậu sẽ ở đâu? Chúng ta sẽ ở đâu nhìn lại thời khắc này?

... Cho dù tôi có đi con đường vòng vèo nào đi chăng nữa, những câu chữ tôi viết vẫn nhớ về mùa hè năm đó. Cho dù tôi có cố đẩy, đẩy mãi nó xuống sâu đến thế nào đi chăng nữa, mùa hè năm đó vẫn không ngừng trỗi dậy, đâm thủng cõi lòng tôi. Nó thậm chí còn len lỏi thấm vào cả những khoảnh khắc tôi gặp anh và cùng anh cười. Ngay cả trong những thời điểm không ngờ tới nhất, giống như cơn gió đêm, như thủy triều dâng, như màn sương mù.

Một hôm, trở về nhà muộn, anh cả hỏi tôi, Em có thể sống một mình được không? Từ hồi xuất ngũ, anh về nhà muộn hơn.

“Anh đi đâu?”

“Chắc anh sắp bị cử tới làm ở Chungmu.”

Chungmu?

“Anh đã cố hết sức để giành được một vị trí ở Seoul, nhưng có vẻ như anh sẽ vẫn phải xuống Chungmu rồi. Sẽ không lâu đâu. Có lẽ chỉ tầm hai tháng là anh có thể quay về rồi. Em ở một mình được chứ?”

Trái tim tôi chùng xuống. Tôi sẽ chỉ còn lại một mình ở đây, trong con ngõ này, trong căn phòng hiu quạnh này ư?

“Thật chẳng còn cách nào khác.”

Tôi biết. Nếu còn có cách nào khác, anh cả đã chẳng rời đi Chungmu, bỏ lại tôi ở đây một mình. Vì anh yêu thương nâng niu tôi như hòn ngọc quý.

“Em sẽ ổn thôi. Em có thể tự mình xoay xở được.”

“Tránh xa người phụ nữ dưới tầng ra.”

Từ hồi người đàn ông chuyển đến ở với chị Hee Jae, anh cả tỏ ra khó chịu với chị. Hồi xưa anh từng gọi tên chị, nhưng giờ anh đổi thành người phụ nữ dưới tầng. Dù anh không nói thẳng ra với chị, nhưng chị Hee Jae vẫn biết anh cảm thấy không thoải mái. Khi chị mang bát mì trộn mình làm lên phòng tôi mà gặp đúng lúc anh cả ở nhà, chị sẽ khẽ khàng đặt bát mì ở bếp rồi quay trở xuống cầu thang, chạy như thể đang bị săn đuổi.

“Ở trường có thư viện không?”

“Có ạ.”

“Vậy thì em đến đó học đi.”

“...?”

“Phải học trong môi trường tốt thì mới vào... nhưng ở đây, em chỉ toàn nhìn thấy nghe thấy những cảnh này... Mang cơm hộp đến trường từ sáng mà học đi.”

Anh cả không biết tôi đang học ở Trung tâm Hallim nằm đằng sau ga Yeongdeungpo bằng số tiền chị họ cho. Cũng không biết rằng mặc dù chưa học hết một tháng nhưng giờ tôi đã là học sinh xuất sắc nhất lớp Kế toán. Không biết rằng kể từ khi tôi bắt đầu ôn thi đại học, chị Hee Jae vẫn tối tối đi chợ hộ tôi. Anh cả nói ai chưa thử mà đã đầu hàng là kẻ hèn nhát. Với chị Hee Jae đã bỏ học giữa chừng, chắc chắn anh không có mấy cảm tình. Là một người đàn ông chính trực, anh rất nghi ngại về một người phụ nữ trở về nhà lúc sáng sớm và chưa cưới hỏi mà đã sống cùng một người đàn ông. Anh lo lắng khi thấy em gái anh cứ thân thiết với một người phụ nữ như thế.

Anh cả mang về nhà một cái va li kéo và tôi ngâm dưa lê vàng vào trong nước cho mát. Anh bỏ vào va li áo sơ mi trắng, quần áo lót, tất, khăn tay và tất cả những bộ quần áo mặc thường ngày nữa. Anh còn cho vào va li cả bàn chải đánh răng, kem đánh răng, hộp xà phòng và dao cạo. Buổi tối cuối cùng trước khi anh đi, chúng tôi gọt dưa lê vàng ăn. Lúc tôi lấy dao cạo hạt bỏ di, anh bảo đó là phần ngọt nhất của quả dưa.

“Em thật chẳng biết ăn dưa lê gì cả.”

“Nhưng em sợ bị đau bụng.”

“Vớ vẩn nào! Ruột dưa mới là ngọt nhất đấy.”

Đến tận khi chúng tôi đã nằm chuẩn bị đi ngủ, anh cả lại một lần nữa dặn tôi tránh xa người phụ nữ dưới nhà.

“Chị ấy không phải người xấu đâu.”

“Đủ rồi!”

“Em nói thật đấy, chị ấy không phải người xấu đâu!”

“Đã bảo đủ rồi mà lại!”

Trong lúc nghe Rostropovich chơi Tổ khúc Cello Độc tấu của Bach, tôi tháo dây nguồn điện thoại.

Tôi không thể trì hoãn thêm được nữa. Tôi phải viết cho xong tác phẩm này. Mọi thứ đều đã được thu xếp xong xuôi. Tôi đã bố trí để không phải gặp gỡ ai, không cần phải viết gì khác ngoài tác phẩm này. Bàn làm việc của tôi đã gọn gàng sạch sẽ và tôi cũng đã cọ rửa xong cả bồn rửa mặt. Tôi không còn đồ gì phải giặt giũ; tôi đã chất đầy thức ăn vào trong tủ lạnh; và tôi cũng không lấn cấn việc gì với bất cứ ai. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể ép mình ngồi vào bàn được, tôi chẳng làm gì ngoài lắng nghe Rostropovich chơi cello cả ngày dài. Trong tờ bìa đĩa, người nghệ sĩ cello cao tuổi cho biết từ lâu Bach đã trở thành một cái tên thiêng liêng đối với ông. Ông nói rằng từ lần đầu tiên tiếp xúc với Bach hồi mười sáu tuổi ông đã tôn thờ Bach, và ông mãi vẫn không cảm thấy sẵn sàng để ghi âm trọn vẹn các tổ khúc cello độc tấu của Bach, tôi thất thần nhìn khuôn mặt ông.

... Trong đời mình, tôi chỉ có độc hai lần ghi âm tổ khúc của Bach. Bốn mươi năm trước ở Moscow, tôi đã ghi âm 'Tổ khúc số 2’ và năm 1960 ở New York là ‘Tổ khúc số 5’. Ở cả hai lần ghi âm này, tôi đều không thể tha thứ cho chính mình được - tôi đã hành động quá hấp tấp. Nhưng trong cuộc đời, khi bạn tổng kết lại các thành tựu của mình, bạn thường có xu hướng tự phê bình và sẽ có rất nhiều chuyện bạn chỉ ước gì mình đã không làm. Nhưng nếu bạn đã làm rồi thì sao? - cuộc sống vẫn tiếp tục. Giờ đây tôi phải lấy hết cam đảm để ghi âm trọn vẹn các tổ khúc của Bach đã từng gắn bó mật thiết với tôi trong suốt cuộc đời. Trên đời này, đối với tôi không gì quý giá hơn những tổ khúc này. Những tổ khúc luôn luôn khiến bạn khám phá thêm những điều mới mẻ mỗi lần nghe. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bạn ngẫm nghĩ về chúng, bạn sẽ càng thấu hiểu chúng sâu sắc hơn. Bạn cứ tưởng bạn đã biết hết mọi điều về chúng, nhưng không, ngày hôm sau bạn lại khám phá ra một điều mới.

... Ông tiếp tục nói bằng một biểu cảm không hề thay đổi. “Bach không bao giờ thô lỗ, thất thường hay giận dữ nhất thời, thậm chí ngay cả khi những người thân thiết đã trở nên xa cách, ông cũng không bao giờ nói lời không hay về họ.”

Là tôi kính phục tiếng đàn cello của Rostropovich, hay đã bị bỏ bùa mê bởi phần giới thiệu về Bach của Rostropovich, người cũng đã bị Bach bỏ bùa mê? Tôi không chắc cảm xúc của mình là gì. Khi ông nói chuyện về Bach, khuôn mặt Rostropovich toát lên sự hùng tráng mà tiếng đàn cello đưa đẩy. Đôi lúc, nhìn ông thậm chí còn mang vẻ bi tráng.

Ông nói, rằng, Giờ đây tôi phải lấy hết can đảm để ghi âm trọn vẹn các tổ khúc cello độc tấu của Bach.

Rostropovich có vẻ giống như một người rất tháu hiểu niềm đam mê, nỗi u sầu và nhiệt tình với cuộc đời. Ồng đã tìm kiếm không mệt mỏi một noi thích hợp để trình diễn, và đã tìm thấy một nhà thờ lớn được xây dựng từ chín trăm năm trước.

... Tổ khúc này bao gồm một phần sarabande đáng kinh ngạc... Nó chất chứa một kiểu chân thành và nghiêm túc đạc biệt, cộng thêm cả một sự nhạy cảm âm nhạc. Không thể biểu diễn tổ khúc này cho khán thính giả mà chỉ có thể biểu diễn riêng cho chính bản thân mình. Khán thính giả chỉ thấp thoáng bắt gặp hình ảnh người nghệ sĩ đắm chìm trong âm nhạc, với một sự cô đơn mãnh liệt vừa lạnh lẽo vừa nóng bỏng. Có đôi lần, tôi đã chơi phần sarabande này cho những con người chìm trong đau khổ.

Tôi nhấn nút trên đầu đĩa CD để chuyển sang “Tổ khúc số 2”.

... Cho những người chìm trong đau khổ? Một cách vô thức, tôi lại ngắm nhìn khuôn mặt Rostropovich. Ông đã từng biểu diễn cho những người chìm trong đau khổ?

Chị Hee Jae ngồi trước con gà chết. Khuôn mặt chị lạnh lùng. Người yêu thương con gà nhất chính là người đàn ông của chị Hee Jae, nhưng giờ không thấy anh ta đâu cả. Khi tôi bảo có vẻ như ai đó đã đầu độc con gà, mặt chị Hee Jae càng trở nên băng giá.

Trong suốt mùa mưa, người ta bộn bề xây dựng ở khu đất trống. Một cái máy xúc đá xới bật cả rễ đống cải thảo được trồng ở đó lên. Những cái rầm thép được dựng lên và gạch được đổ vào. Giờ tôi không còn nhìn thấy ga tàu điện ngầm khi mở cửa sổ nữa. Hình ảnh lọt vào tầm mắt chúng tôi là những thợ xây lên lên xuống xuống các cầu thang tạm của tòa nhà đang xây và những người đàn ông đội mũ bảo hộ nhựa tròn màu đỏ cam. Cứ mỗi ngày trôi qua tòa nhà lại một cao thêm. Tôi nhớ ngày Chủ nhật đó, cái ngày chúng tôi không còn nhìn thấy các hành khách ùa ra khỏi ga tàu điện ngầm như thủy triều dâng nữa cũng chính là ngày chồng than dưới tầng hầm của căn nhà có ba mươi bảy phòng đổ sụp. Nếu không phải vì vụ than sập, có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ biết trong ngôi nhà đó còn có một tầng hầm.

Chị Hee Jae đang ở dưới tầng hầm xúc những mẩu than đen vỡ, khuôn mặt lem nhem vết than.

“Chẳng biết mọi người đi đâu hết cả rồi, nước thì đang dâng lên....”

“Chú ấy đâu rồi?”

Khuôn mặt lem luốc của chị Hee Jae tối sầm hơn nữa. Chị lại chui xuống hầm. Rồi chị lại leo lên, xách theo một cái xô đầy ắp nước đen sì.

“Một mình chị sao làm hết nổi. Chị đừng làm nữa đi.”

“Một nửa số than dưới hầm này là của bọn chị.”

“Chú ấy đi đâu rồi?”

“Anh ta đi rồi.”

Chị Hee Jae lại vào trong hầm. Đi rồi? Đi đâu? Không thể cứ đứng yên đấy, tôi theo chị xuống dưới hầm. Nước trong hầm ngập đến mu bàn chân tôi. Than vỡ khiến nước hóa đen ngòm.

“Chú ấy đi đâu?”

Chị Hee Jae ngừng lại, gạt tóc đang xòa trên mặt ra sau tai. Than lấm mặt chị.

“Đừng có nhắc đến anh ta nữa.”

“Sao vậy?”

“Anh ta không quay lại nữa đâu, không bao giờ.”

Tôi, mười chín tuổi, ngậm chặt miệng. Chị Hee Jae cứ lẳng lặng tát nước đen ra khỏi hầm. Tôi không thể bỏ mặc chị được. Chị có bảo tôi dừng lại đi học đi thi tôi cũng không thể dừng lại được. Một lúc sau, chị Hee Jae ngồi xổm xuống giữa hầm và bắt đầu nôn.

“Chị, để lát nữa làm tiếp, chị lên nghỉ đi.”

Dường như chị không nghe thấy tôi nói, vẫn cứ tiếp tục xúc những chồng than ướt nhoét. Đến lúc chúng tôi xúc hết được than ra ngoài thì đã sang chiều. Chị gập người trong bếp và nôn thốc nôn tháo. Hoảng sợ ngỡ chị sắp chết đến nơi, tôi, mười chín tuổi, đun nước trên bếp dầu và rửa ráy cho chị. Tôi lau mãi, lau mãi nhưng người chị vẫn bốc mùi thức ăn đang phân hủy. Rồi hẳn là tôi đã ngủ thiếp đi. Tôi cảm thấy có ai đó đang cắt móng tay cho tôi. Tôi mở mắt ra, thấy chị Hee Jae đang ngồi thu lu, đặt tay tôi trên đầu gối chị và cắt móng tay cho tôi.

“Móng tay em đen nhẻm vì than rồi.”

Cảm thấy ấm áp và bình yên, tôi, mười chín tuổi, ngồi yên để chị cắt cho xong.

“Bụng chị thế nào rồi?”

“Đỡ hơn rồi.”

Đến lúc cắt gần xong cả hai bên móng tay cho tôi thì khuôn mặt chị lạnh lùng trở lại và chị nhắc đến con gà đã chết.

“Con gà ấy mà!”

Tôi, mười chín tuổi, có thể hiểu được chị đau đớn đến mức nào trước cái chết của con gà, tôi băn khoăn, Ai có thể làm chuyện kinh khủng đến thế chứ?

“Chính là chị làm đấy.”

Tôi, mười chín tuổi, sửng sốt. Chắc tôi đã nghe nhầm rồi.

“Chị đã đầu độc nó.”

Tôi giật nẩy người khiến cái cắt móng tay trong tay chị bấm mất một mẩu thịt ở đầu ngón tay tôi. Chị vẫn thản nhiên. Lúc đó, chị không còn là con người mà tôi quen biết nữa. Chị kiên quyết và lạnh lùng.

“Sao chị lại làm thế?”

“Bởi vì nó là thứ anh ta yêu quý nhất!”

Anh ta? Tôi rụt tay khỏi đầu gối chị. Thứ anh ta yêu quý nhất? Mùi hôi thối ẩm ướt từ hầm đã thấm vào mọi ngóc ngách trong cơ thể chị và cơ thể tôi.

Mặt trời nhô lên giữa buổi chiều. Đây là tôi, mười chín tuổi, giặt quần áo rồi phơi trên sân thượng, rồi mở cửa phòng chị ấy. Chị đang ngủ úp sấp mặt xuống. Đây là tôi, nhẹ nhàng khép cửa lại, cẩn thận để không đánh thức chị. Đây là tôi, lại mở cửa phòng chị ra, thầm nghĩ, Giờ chắc chị ấy dậy rồi. Đây là tôi, mở cửa phòng chị ba, bốn lần nữa. Chị ngủ im thin thít. Mặt trời lặn. Tôi lấy quần áo từ trên sân thượng xuống. Tôi nấu bữa tối, nấu cả phần cho chị, đặt một ít thức ăn lên khay mang xuống phòng chị nhưng chị vẫn không nhúc nhích. Tôi để cái khay lại đó và đang định đóng cửa lại thì đột nhiên thấy hoảng sợ. Đây là tôi, lại đẩy bung cửa ra và bật đèn lên. Nỗi sợ hãi trước cơ thể chị nằm trên sàn, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh đèn lập lòe. Tôi bất chợt nghĩ rằng lớp thịt bên dưới bờ vai gầy như cánh chim của chị có lẽ đang dần lạnh ngắt. Đây là tôi, ngồi sụp xuống sàn, lật chăn của chị lên. Chị cuộn người lại như quả bóng, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm. Mái tóc đen che khuất khuôn mặt chị nằm nghiêng, làn da vàng vọt, tái nhợt.

Tôi, mười chín tuổi, lay chị dậy.

“Chị ơi, chị ơi?”

Đây là tôi, đang lay chị dậy, ban đầu nhẹ nhàng, rồi sau mạnh hơn. Chị lật người lại, khịt mũi. Dù vậy tôi vẫn chưa thấy nhẹ lòng nên vừa tát vào má chị vừa quát lên.

“Tỉnh dậy đi.”

Chị mở mắt. Con ngươi mơ hồ. Chị ngồi dậy.

“Em sao thế...?”

Chị nhìn chằm chằm vào đôi mắt hoảng loạn của tôi. Trông chị chẳng có vẻ gì là vừa ngủ mê man.

“... Em sao thế hả? Hả?”

“... Không có gì đâu.”

Tôi, mười chín tuổi, không thể ép mình nói ra, Trông chị cứ như chết rồi ấy.

“Con bé này, nhạt nhẽo ghê.”

Chị mở cửa và nói, giọng ngạc nhiên, Ôi chao, đã tối rồi này. Có vẻ như chị không ý thức được là chị đã ngủ suốt cả buổi chiều với hai nắm tay siết chặt, rằng tôi đã hoảng hốt lay chị dậy, rằng tôi đã tát vào má chị... Tất cả những gì chị làm là chống hai lòng bàn tay lên hông, như thể điều duy nhất khiến chị ngạc nhiên và xấu hổ là trời đã tối mất rồi. Chị lại trở về với cái vẻ mơ hồ quen thuộc.

Hình như chị Hee Jae không còn làm việc ở hiệu may nữa.

Giờ chị không còn làm song song hai việc nữa. Trong thời gian trường nghỉ hè, khi tôi quay trở về lúc hoàng hôn sau cả ngày ngồi ở thư viện trường, chị Hee Jae đã đi làm về, đang ngủ trong căn phòng hiu quạnh của chị.

Không biết từ bao giờ, trong mắt tôi, chị lúc nào cũng đang ngủ. Với hai nắm tay siết chặt.

Chang lên Seoul chơi. Tôi vừa giặt, đang ở trên sân thượng, vắt quần áo cho kiệt nước ngoài lan can trước khi phơi lên dây thì nhìn thấy ai đó đứng dưới đang vẫy vẫy tôi mười chín tuổi. Là Chang. Cậu không đi một mình. Bên cạnh cậu là một cô bé dễ thương, mái tóc đen buông chấm vai. Tôi hét lên bảo Chang đợi ở đó. Tôi không muốn cho cậu thấy căn phòng hiu quạnh của chúng tôi. Tôi vội thay quần áo rồi chạy ra gặp Chang. Tôi không mặc đồng phục còn Chang đã là sinh viên đại học rồi, vậy nên chúng tôi tới phòng trà Đồng cỏ Xanh gần chợ Garibong.

“Tớ sắp nhập ngũ rồi.”

Tôi làm đổ cà phê lên váy.

“Sao cậu ngạc nhiên thế?”

“Ai ngạc nhiên chứ?”

Chang nhờ tôi dẫn đi tham quan Seoul. Tham quan? Ở Seoul, nơi duy nhất tôi, mười chín tuổi, biết rõ là Yeongdeungpo. Ngoài Yeongdeungpo ra, tôi mới chỉ đến Nhà thờ lớn Myeongdong và Rạp Quốc gia, nơi anh cả đã dẫn chúng tôi tới hồi Giáng sinh; hiệu sách Jongno ngay bên ngoài ga tàu điện ngầm Jonggak; và con ngõ ở Yongsan nơi chị họ sống. Nhưng tôi, mười chín tuổi, muốn làm cho Chang vui. Ngồi đây một lát nhé, tôi bảo cậu rồi đi gọi điện cho chị họ hỏi, Chang đến chơi, cậu ấy nhờ em dẫn đi thăm quan Seoul, em dẫn cậu ấy đi đâu bây giờ. Chị họ bảo tôi đưa Chang đến núi Namsan. Tôi, mười chín tuổi, ghi lại tuyến xe buýt chị họ chỉ dẫn. Đến núi Namsan, chúng tôi thuê vợt và chơi cầu lông. Cô bé Chang dẫn theo cùng chưa bao giờ đánh cầu lông. Chang và tôi thì đã chơi từ hồi cấp một, vậy nên cuối cùng hai chúng tôi chơi với nhau. Cô bé ngồi yên ở xa. Thỉnh thoảng khi Chang hỏi, Chắc em chán lắm hả, cô bé lại xua tay nói, Không đâu. Cô có vẻ hiền. Chạng vạng tối, Chang hỏi tôi có phải đến trường không và tôi bảo là không. Sau bữa tối, chúng tôi lại đến một phòng trà khác. Lần này là phòng trà dưới chân núi Namsan. Chang lôi từ trong túi xách của cậu ra một cuốn vở và một bức ảnh. Đó là cuốn vở tôi đã gửi cho cậu, bên trong chép Quả bóng tí hon người lùn ném. Cậu đưa cuốn vở cho tôi, còn bức ảnh đưa cho cô bé. Tôi mở cuốn vở ra và thấy ở khoảng trống giữa những dòng chữ viết tay nguệch ngoạc của tôi lấp đầy tranh Chang vẽ.

“Cứ khi nào nghĩ đến cậu là tớ lại vẽ ra đây.”

Cảm giác ngột ngạt vẫn dai dẳng trong tim tôi tan ra trước chỉ một lời nói của cậu. Khi đã muộn Chang nhờ tôi gọi một cuộc điện thoại.

“Cho ai?”

Cô bé cụp mắt xuống, không nói năng gì. Chang đẩy một tờ giấy về phía tôi và bảo đây là số điện thoại nhà chị cô bé. Cậu nhờ tôi bảo với chị ấy rằng cô bé sẽ qua đêm ở chỗ tôi.

“Chỗ tớ á?”

Tôi, mười chín tuổi, sửng sốt ngước nhìn Chang. Cô bé vẫn không nhìn lên, còn Chang mỉm cười bẽn lẽn. Cậu viết tên cô bé lên mảnh giấy. Vậy ra tên cô là Hae Sun. Chang gọi cô là Sunie à, vậy nên tôi cứ tưởng tên cô là Sun Yi hay Sun Hee. Tôi, mười chín tuổi, đứng dậy quay số điện thoại. Một người phụ nữ tông giọng cao trả lời điện thoại.

“Chào chị, em là bạn học khóa trên của Hae Sun. Muộn quá rồi nên em muốn rủ Hae Sun ngủ lại chỗ em đêm nay.”

“Em sống ở đâu?”

“Ở... Ở Garibongdong ạ.”

“Hae Sun có ở bên cạnh em không?”

“Có ạ.”

“Cho chị nói chuyện với nó.”

Tôi đưa ống nghe cho cô bé đang đứng cạnh Chang. Trong lúc cô nói chuyện với chị gái, tôi, mười chín tuổi, hỏi Chang khi nào cậu quay về quê.

“Ngày mai... Hae Sun đi thăm chị gái nên tớ đưa cô ấy lên đây.”

“Cậu đã mua vé tàu chưa?”

“Tớ sẽ bắt xe buýt tốc hành.”

“Khi nào cậu nhập ngũ?”

“Ngày kia.”

Tôi, mười chín tuổi, quay lại căn phòng hiu quạnh sau khi chia tay Chang và cô bé kia, quấn mình trong chăn nằm một lúc lâu không buồn cả bật điện. Trái tim tôi nhức nhối. Rồi tôi ngồi dậy, bật điện lên và mở cuốn vở Chang đưa cho tôi. Tôi nghịch chú gấu con bằng dạ quang trong túi áo. Đêm nay, cậu ấy đang làm gì nhỉ? Tôi ngắm nhìn những bức vẽ nhỏ của Chang, rồi đi xuống phòng chị Hee Jae, mang theo cái gối.

“Em ngủ ở đây nhé chị.”

Chị Hee Jae bảo cứ ngủ đi.

“Có chuyện gì à?”

“Không.”

“Nói chị nghe xem nào. Nói ra sẽ nhẹ lòng hơn đấy.”

Tôi không nói. Chị Hee Jae nhìn tôi đang ngậm chặt miệng, rồi chị đứng dậy, đi vào trong bếp đặt nồi nước lên trên bếp dầu.

“Chị làm gì vậy?”

“Chị sẽ nấu cho em ít mì. No bụng rồi em sẽ thấy dễ chịu hơn đấy.”

Buổi sáng, tôi, mười chín tuổi, bắt tàu điện ngầm đến ga Seoul và từ đó bắt xe buýt đến bến xe buýt tốc hành. Khuôn mặt tôi phù lên bởi ăn món mì đêm của chị Hee Jae. Tôi đợi Chang ở quầy bán vé đi Jungeup. Quá trưa, Chang vẫn không xuất hiện. Mãi đến sau ba giờ chiều, cuối cùng Chang mới từ đằng xa tiến lại, hai vai thõng xuống. Cậu trợn trừng mắt khi nhìn thấy tôi.

“Cậu đến đây từ bao giờ thế?”

“Tớ mới đến thôi.”

“Nhưng cậu có biết khi nào tớ sẽ đến đâu?”

“Tớ chỉ cảm thấy nếu đến tớ sẽ gặp được cậu.”

Chúng tôi ngồi đó, trên ghế băng trong phòng đợi.

“Việc học tập của cậu ổn chứ?”

“Ừ.”

Cả Chang lẫn tôi đều không nhắc đến cô bé kia. Tôi muốn nói với cậu một chuyện vui vẻ gì đó nhưng lại buột ra một câu kỳ quặc.

“Tớ sẽ không viết thư cho cậu nữa đâu!”

“Tớ biết.”

“Sao cậu biết?”

“Đã lâu lắm rồi cậu có viết cho tớ nữa đâu.”

Tôi, mười chín tuổi, càng cố gắng nói chuyện vui vẻ trái tim tôi càng nặng nề. Tôi không sao thoải mái được nếu phải bày tỏ thái độ trái ngược hẳn với cảm xúc trong lòng. Tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ từ giờ trở đi tôi sẽ phải sống trái ngược hẳn với cảm xúc của minh. Cười khi muốn khóc, nói không sao cho dù đang giận dữ, trả lời rằng tôi mới đến đây một lát thôi cho dù đã đến từ rất lâu rồi. Đã đến giờ lên đường và Chang đứng dậy. Đến cổng soát vé, cậu quay lại nhìn tôi mười chín tuổi và nói, Tớ sẽ sớm quay lại thôi. Như thể cậu sắp đi làm việc vặt cho mẹ chứ không phải đi nhập ngũ vậy.

Một đêm hè dông bão. Cơn bão dường như sắp thổi bay mái nhà của chúng tôi. Giật mình khi những ánh chớp chốc chốc lại bổ vào căn phòng hiu quạnh, tôi, mười chín tuổi, ôm gối xuống phòng chị Hee Jae. Cửa mở, chị đang ngồi ngây người nhìn vào chốn vô định. Tôi đóng cửa lại và bước vào trong nhà nhưng chị vẫn ngồi ngây ra như vậy. Chị ơi. Tôi, mười chín tuổi, lấy lòng bàn tay che mắt chị. Lòng bàn tay tôi ướt nước. Chị đang khóc.

“Sao cuộc sống lại khắc nghiệt thế?”

Tôi, mười chín tuổi, ôm chặt gối ngồi đó.

“Có phải chỉ chị mới thế? Hay với ai cuộc sống cũng đều khắc nghiệt?”

Anh cả gửi tiền từ Chungmu về. Anh cả của tôi. Anh viết cứ như thể anh sinh ra trên thế giới này là để chăm sóc bao bọc cho tôi vậy. Lấy tiền này trả tiền nhà nhé, đừng tiết kiệm quá, trời nóng nực thế này mua một ít dưa lê vàng về gọt mà ăn.

Từ khi tôi bắt đầu viết tác phẩm này, mùa thu, mùa đông rồi mùa xuân đã đến rồi đã đi, và giờ là mùa hè. Tôi sẽ kết thúc nó vào mùa hè này. Lúc ban đầu, tôi đã hy vọng nó sẽ sớm hoàn thành, nhưng giờ đây, trái tim tôi như bị bóp nghẹt, như thể tôi chưa bao giờ nghĩ rằng nó sẽ kết thúc. Điện thoại đã bị rút dây nguồn hơn mười ngày. Nhưng mãi đến giờ, sau bao chật vật, tôi mới ép được mình ngồi vào bàn làm việc. Suốt những ngày khi điện thoại bị tháo dây nguồn, tôi cứ hết ngồi bên bàn, ngả người xuống rồi lại dựng người dậy thâu đêm suốt sáng. Để ngăn mình khỏi bất an bởi sự trôi chảy của thời gian giữa cơn mưa triền miên, tôi không ngừng đọc báo và xem ti vi. Cơn bão đã qua và một tàu chở dầu đã đâm vào đá ngoài bờ biển miền Nam. Màn hình ti vi chiếu cảnh những vết dầu đen loang trên mặt biển. Hàu và cá ở khu nuôi thủy sản nổi lềnh bềnh trên mặt nước sau khi bị chết hàng loạt. Trong lúc dán chặt mắt như muốn đâm thủng màn hình mà xem những chiếc máy bay lên thẳng phun chất thấm dầu lên trên mặt biển, tôi thầm hỏi không biết liệu có phải mình đang ghi nhớ hết mọi thứ trên báo chí và ti vi không.

Giờ chẳng một sinh vật nào có thể sống được ở những bãi triều nữa.

Tại sao họ lại xả súng vào những thường dân đang vẫy cờ trắng đầu hàng? Văn phòng Công tố viên quyết định không truy tố bất kỳ ai trong số năm mươi tám người bị buộc phải chịu trách nhiệm cho những hành động liên quan đến Cuộc nổi dậy ở Gwangju ngày 18 tháng Năm. Họ nói họ sẽ không đưa vụ này ra tòa án xét xử hình sự. Các công tố viên giải quyết Cuộc nổi dậy 18 tháng Năm bằng cách đưa ra kết luận rằng họ không có quyền khởi tố. Rằng không thể trừng phạt một vụ chính biến thành công. Ông ta, người từng tận dụng mọi cơ hội có thể để đòi hỏi một chính phủ dân sự, người từng long trọng tuyên bố, khi từ bỏ con đường làm một nhà lãnh đạo đối lập để tham gia vào đảng cầm quyền, rằng muốn bắt được hổ phải vào hang hổ, chính ông ta giờ đây lại nói rằng chúng ta nên để Cuộc nổi dậy 18 tháng Năm cho lịch sử phán quyết.

Sao họ không bắt con hổ? Ông ta trả lời câu hỏi của tôi bằng một nụ cười, như thể muốn nói rằng đó đâu phải chuyện mới mẻ gì. Tại sao lại đầy rẫy người chết trong khi chẳng có người giết họ cơ chứ? Mặt ông ta vẫn giữ vẻ ủ rũ.

“Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước này coi dân chúng chỉ thuần túy là những người dưới quyền. Việc gì họ lại phải sợ đầy tớ của họ chứ? Khi cấp dưới không phục tùng mệnh lệnh cấp trên, hiển nhiên họ sẽ muốn đưa kẻ đó ra xét xử ở tòa án quân sự. Có một vở kịch nhiều tập trên sóng phát thanh tên là Nền cộng hòa thứ năm và...”

Tôi bị thu hút bởi cụm từ Nền cộng hòa thứ năm của ông ta.

“Thời kỳ đầu nền cộng hòa thứ năm, vì vụ mùa thất bát mà năm 1982 người ta đã phải nhập khẩu gạo. Có một cảnh tổng thống của nền cộng hòa thứ năm hồi tưởng lại khoảng thời gian ấy...”

Ông ta dừng lại giữa chừng và ngồi thẳng lưng lên. Rồi ông ta nói bắt chước giọng ngài Tổng thống của nền cộng hòa thứ năm.

“Khi ấy, tôi đã tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý. Do mùa màng thất bát, người dân không thoát khỏi nỗi lo lắng về thức ăn. Tôi đã ra lệnh cho các xe tải chất đầy gạo chạy sáu, bảy lần quanh thành phố rồi sau đó mới dỡ gạo cứu trợ ở ga Gwangju. Chúng tôi cũng làm tương tự với các xe tải tiến về ga Daegu. Tôi đã tiến hành một cuộc chiến tranh tâm lý.”

Ông ta dường như đang tấu hài làm tôi bật cười khúc khích, nhưng khuôn mặt ông ta đã ngay lập tức sắt lại.

“Chính phủ phải nhập khẩu gạo vì mất mùa như thế thì tại sao lại phát động chiến tranh tâm lý chứ? Dù đã lên nắm quyền tổng thống sau chiến thắng lớn ở Gwangju tháng Năm năm 1980 nhưng ông ta vẫn tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nhân dân. Nếu là thời chiến, quân đội lại hết gạo dự trữ và chí khí của quân lính đang trên bờ vực thẳm thì còn dễ hiểu, nhưng ngài Tổng thống này lại tiến hành một cuộc chiến tranh tâm lý chống lại người dân đất nước mình ngay giữa thời bình... Dẫu có nhượng bộ xem xét thế nào đi nữa thì vẫn rõ ràng rằng ông ta xem đất nước này như một trại lính, và dân chúng là những con tốt dưới quyền chỉ huy của ông ta.”

Tôi cảm giác như cả mặt lẫn trái tim tôi đều đang phù lên.

Giờ tôi đã ngồi bên bàn làm việc, vậy nên chẳng bao lâu nữa tác phẩm của tôi sẽ được hoàn thành. Giờ tôi sẽ kết thúc nó. Chẳng mấy chốc tôi sẽ không còn gì để mà nói nữa.

Buổi tối, ngồi xuống ghế sau khi đã tắt hết đèn đóm trong nhà, tôi nhìn ra khu rừng bên ngoài cửa sổ. Mỗi khi gió thổi, những cây thông lại lay động xào xạc. Khi trời mưa, đám chim ác là đậu trên ngọn thông mổ nhau om sòm. Có khi nào bạn từng ngắm nhìn khu rừng cựa quậy chuyển mình trong mưa gió? Có khi nào bạn từng nghe những cây thông, những lùm cây bụi và cây bách nhật hồng cựa quậy chuyện trò? Dường như về đêm, cây cối đã biến thành những thực thể có linh hồn. Dường như chúng đã mang trở lại những con người từng bị lãng quên. Mang trở lại tâm trí những điều chúng ta vẫn hằng ghi nhớ - ngón tay, cần cổ, hay cả nốt ruồi dưới mắt. Có khi nào bạn từng cảm thấy rằng, con người đang bước trên con đường hẹp giữa hai hàng cây, con người mà giờ bạn không thể gặp được nữa, con người đã đánh mất lời nói, con người ấy đang tiến về phía bạn? Nếu bạn chưa từng cảm thấy trái tim rét lạnh trước khu rừng đang cựa quậy chuyện trò vào một đêm mưa gió, vậy thì có nghĩa là bạn không có tội lỗi nào để mà phải ăn năn hối hận. Tôi thì đã sợ hãi. Tuy sợ nhưng đêm đêm tôi vẫn tắt đèn và ngồi trên ghế, chăm chăm dõi về phía khu rừng. Bất cứ khi nào bị choáng ngợp bởi nỗi sợ hãi, tôi lại vươn thẳng người đặt hai cánh tay lên khung cửa sổ.

Phải rồi, hãy kể chuyện xảy ra sáng đó đi, hãy kể hết ra đi.

Sáng đó tôi tình cờ gặp chị trong ngõ. Giờ nghĩ lại mới thấy, chúng tôi không tình cờ gặp nhau. Mà là chị đã đợi tôi. Chúng tôi cùng nhau đi bộ ra khỏi ngõ, và lúc sắp tạm biệt nhau, cứ như thể vừa sực nhớ ra chuyện gì đã quên, chị bảo tôi thế này. Rằng từ mai chị sẽ nghỉ hè, chiều nay chị định về quê nhưng chị quên khóa cửa mất rồi. Chị sẽ về quê vài ngày, vậy nên tối về thì khóa cửa lại hộ chị nhé, chị nhờ tôi. Chị nói thêm rằng khóa được treo sẵn trên then cửa rồi. Cũng chẳng phải việc gì to tát nên tôi đã đồng ý. Không. Hình như tôi đã hỏi, Thế cả ngày trời chị tính sao, chẳng phải nếu bây giờ chị quay lại khóa luôn thì sẽ an tâm hơn à? Cho dù chị không khóa thì cũng chẳng có gì để người ta lấy đâu, chị nói. Quả đúng như thế thật. Chúng tôi chẳng có thứ gì khiến người khác muốn lấy trộm cả. Đến tối, tôi từ trường về nhà, trước khi lên phòng mình trên tầng ba, tôi sập cái khóa treo trên then cửa phòng chị ở tầng một. Cái khóa mở treo trên then cửa. Hình như tôi đã ngó vào trong bếp lúc móc cái khóa vào hai then cửa. Chậu giặt và hộp xà phòng của chị được đặt ngay ngắn, y như mọi ngày. Dấu tay chị vẫn còn hằn trên cái giẻ rửa bát đã được giặt và vắt khô, và cái nồi của chị, chắc chắn đã được cọ bằng nùi kim loại, nằm úp trên bếp dầu, yên lặng và lấp lánh. Hình như tôi cũng đã thoáng nhìn thấy ở trên giá cả đôi giày đi học từng được chị đi một thời gian. Nhưng tất cả chỉ có thế. Tất cả những gì tôi làm chỉ là lấy cái khóa treo trên cửa và sập nó vào giữa then cài, đúng như chị yêu cầu.

Đừng rời bàn viết, tôi thầm nhủ... Nếu giờ mà rời đi thì sẽ chẳng bao giờ có thể quay lại được.

Nhiều ngày trôi qua. Cánh cửa phòng chị vẫn đóng nguyên, im lìm. Mỗi sáng tôi, mười chín tuổi, lại nấu cơm mới, gói ghém bữa trưa và băng qua ga tàu điện ngầm, bỏ lại sau lưng cánh cửa đã khóa ở tầng một. Tại Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3, tôi bắt chuyến xe buýt 109 tới trường. Ở thư viện, chân váy đồng phục hếch lên tới đầu gối, tôi học thuộc lòng những câu hỏi ôn thi Kinh tế Gia đình rồi lại về nhà. Theo lời anh cả dặn, tôi thậm chí chẳng buồn nghĩ đến chuyện học tiếng Anh hay Toán. Thỉnh thoảng, tôi lại mặc bộ đồ thể thao và một mình tập chạy một trăm mét trong sân thể dục vắng vẻ. Rồi tập đu người trên thanh xà.

Rời khỏi cổng trường lúc chạng vạng tối, ngồi trên xe buýt để quay trở về căn phòng hiu quạnh, tôi, mười chín tuổi, nghĩ về chị. Ước gì chị sớm quay trở lại. Chị họ đã chuyển tới Yongsan, anh ba đã về nông trang, anh cả xuống Chungmu, vậy nên tôi đợi chị, mòn mỏi. Vì mọi người đã đi hết, vì tôi chỉ có một mình.

Xuống xe buýt ở Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3, đi bộ qua ga tàu điện ngầm, qua khu đất trống, và bước vào cánh cổng trong ngõ, tôi, mười chín tuổi, liếc nhìn cánh cửa phòng chị, như một thói quen. Cửa khóa, vẫn khóa. Chị nghỉ dài như thế ư, tôi đang nghiêng đầu thầm hỏi thì người đàn ông đó đến. Tôi, mười chín tuổi, cúi chào anh ta, và anh ta vụng về hỏi tôi về chị.

“Chị ấy đi nghỉ hè rồi.”

“Nghỉ hè? Ở đâu?”

“Về quê, chị ấy bảo thế. Về nhà ở dưới quê.”

“Nhà? Nhưng cô ấy làm gì có nhà nào ở quê mà về.”

Tôi, mười chín tuổi, mãi đến lúc đó mới cảm thấy có gì đó không ổn. Tôi nhận ra rằng suốt chừng ấy thời gian sống ở đây, chị chưa bao giờ nhắc đến chuyện về thăm nhà ở quê. Thậm chí cả các dịp lễ tết, chị cũng vẫn một mình ở lại trong phòng. Nhưng giờ chị lại về quê nghỉ hè sao? Người đàn ông ngồi bên ngoài cánh cửa khóa kín một lúc rồi bỏ đi.

Giữa đêm, chuông cửa nhà tôi kêu dài. Người nhấn chuông, không biết là ai, cứ ấn mãi ngón tay lên chuông không chịu buông. Chuông kêu dai dẳng, không ngừng. Ai vậy, giọng nói cáu kỉnh của tôi từ bên trong cửa vang ra gặp được giọng nói của em gái ngoài cửa? Em đây. Con bé đang làm gì ở đây giữa đêm hôm khuya khoắt thế này? Tôi vừa mở cửa thì em gái tôi, tay ôm con, nổi cơn tam bành.

“Sao chị ở nhà mà lại không trả lời điện thoại của em hả?”

Điện thoại? Nhưng điện thoại có đổ chuông đâu nhỉ?

À.

Nghe tôi bảo tôi đã tháo dây nguồn điện thoại, em gái có vẻ càng giận dữ hơn, vừa bước vào trong nhà là em cắm ngay dây nguồn điện thoại vào rồi nhấn số, sau đó chìa ống nghe đến trước mặt tôi.

“Ai vậy?”

“Cứ nghe đi rồi chị sẽ biết!”

Em đang rất giận. Giọng ở đầu dây bên kia là của mẹ.

“Sao suốt mấy ngày con không trả lời điện thoại vậy hả? Mẹ hoảng quá chỉ sợ có chuyện gì nên phải bảo em con đến xem sao đấy!”

Tôi vừa nói chuyện với mẹ vừa liếc nhìn em gái, em đang rửa đống bát đĩa và cốc cà phê chất chồng trong bồn rửa bát.

“Dạo này chị có ăn uống tử tế không vậy hả?”

Em mở nồi cơm điện và nồi canh trên bếp gas. Thất vọng nhận ra chúng trống trơn. Con em đang lật ngược bát đường. Chồng em vỗ vào mông nó làm nó bật khóc nức nở, rõ ràng và trong trẻo.

Tôi tiễn gia đình em gái về rồi lại tháo dây nguồn điện thoại ra.

Sáu năm trước, tôi đã viết về những chuyện xảy ra vào mấy ngày sau đó như thế này.

Rằng, mười năm sau... đột nhiên, như một truyền thuyết, tôi nhớ lại nhũng sự kiện đã xảy ra vào mấy ngày sau đó. Rằng, tôi đang có việc tình cờ đi ngang qua ga tàu điện ngầm thì một cơn đau... một cơn đau, sắc bén và tinh ranh, lao vụt qua, nhanh hơn cả tàu điện ngầm. Rằng, chị ấy mãi không quay trở lại, và người đàn ông đã phá tung cánh cửa. Vì không thể chịu đựng nổi cái mùi đó, không thể đợi thêm được nữa.

Và rằng... không ai có thể bước vào trong căn phòng đó.

Tôi, mười chín tuổi, chạy tới chỗ chị họ, run bần bật. Trong túi quần tôi, chú gấu con dạ quang Chang tặng nẩy tưng tưng. Liệu nó có vẫn sáng bên trong túi quần? Chị họ mang nước ra cho tôi, đang đứng bên ngoài cửa, chết lặng xanh mét.

“Có chuyện gì vậy?”

Không một lời nào thoát ra từ tôi, chỉ có nước mắt. Ban đầu chị họ cố vỗ về tôi, nhưng sau chị họ của tôi, người bảo hộ khác của tôi, gọi tên tôi, đôi mắt chị như sắp vỡ òa nước mắt. Khi nghe thấy giọng nói ấm áp, nghẹn ngào của chị họ, tôi, mười chín tuổi, vùi mặt vào lòng chị và bắt đầu nức nở. Chị họ vuốt vuốt lưng tôi, không ngừng, dù không hề hay biết chuyện gì.

Như thế, tôi đã chạy khỏi căn phòng hiu quạnh, chạy khỏi con ngõ, và không bao giờ quay trở lại. Thấy tôi nhất định không chịu quay về, chị họ mang đồ đạc cùng cặp sách của tôi tới phòng chị. Chị bảo tôi, ổn cả thôi, không có chuyện gì đâu. Nhưng chính chị cũng đang run rẩy.

Anh cả từ Chungmu quay về trước khi tòa nhà ở khu đất trống được xây xong và chúng tôi chuyển đến Daerim-dong, bỏ lại mái tóc giả của anh treo trên cánh cửa gác mái của căn phòng đó.

Cái chết vô danh ấy đã được xử lý ra sao? Và cả sự bí ẩn khi cửa ra vào đã bị khóa từ bên ngoài, vậy mà người ta lại tìm thấy bức thư tuyệt mệnh trong phòng chị.

Tôi đã viết như thế này.

Rằng, sau đó, suốt một thời gian dài tôi mơ thấy trần gác mái sập xuống... và nhớ... rồi quên, sự tuyệt vọng trộn lẫn nỗi sợ hãi và đau khổ của người đàn ông đó. Tôi đã bảo cô ấy phá thai đi. Tôi không chia tay với cô ấy, vẫn chưa... vẫn chưa...

Rằng, tuy thế nhưng tôi không nghĩ là chính những lời nói của anh ta đã biến chị thành thức ăn cho lũ giòi bọ. Nụ cười mơ hồ của chị... vòng eo mảnh mai chỉ to cỡ một nắm tay của chị... tài khoản ngân hàng chị bỏ lại, tiền tiết kiệm được một triệu mấy trăm nghìn won... Rằng, người đàn ông ấy đã nói, Phá thai đi... còn tôi đã sập ổ khóa, để chị lại bên trong giữa lúc chị đang nở nụ cười mơ hồ hoặc có lẽ đang khóc những giọt nước mắt mơ hồ, để lại bên trong nằm trên giá đôi giày học sinh mới chỉ được đi chưa đầy sáu tháng của chị.

Nơi chúng tôi chuyển đến sau khi rời khỏi căn phòng hiu quạnh là một căn hộ trong chung cư Woojin ở Daerim-dong. Một tòa nhà cũ có hệ thống sưởi chạy bằng điện. Có vẻ như anh cả đã dùng khoản trợ cấp thôi việc và tạm ứng từ công việc mới để trả tiền thuê chỗ này. Căn hộ có hai phòng. Chúng tôi thậm chí còn được lắp cả điện thoại. Anh cả đến chỗ chị họ đón tôi sau khi đã chuyển hết đồ đạc của chúng tôi ra khỏi căn phòng hiu quạnh. Anh ba cũng đã từ nông trang trở về và quay lại trường. Từ lúc chuyển đến căn hộ cũ này, tôi bắt đầu sợ không dám bước chân ra khỏi nhà chỉ trừ buổi tối đến trường. Cũng không muốn mọi người đến gần mình. Không muốn gặp gỡ bất cứ ai. Tôi ở nhà một mình cả ngày và đến sẩm tối, tôi nấu cơm cho các anh, lấy vải phủ bàn ăn rồi bắt xe buýt đến trường. Chị họ là người duy nhất biết tôi đang ôn thi đại học.

Tôi, mười chín tuổi, ở một mình trong căn hộ suốt cả ngày, ngồi bên bàn học hoặc nằm trên sàn. Mưa rơi rồi lại tạnh. Vầng mặt trời mùa thu rót ánh nắng trong vắt vào nhà qua cửa sổ. Phòng sáng quá nên tôi kéo rèm lại.

Mụ mị, tôi lơ mơ ngủ thiếp đi rồi hoảng hốt giật mình tỉnh dậy. Tôi nhìn thấy chị trong giấc mơ ngắn ngủi của tôi. Thấy cơ thể chị, nặng nề và uể oải, lúc nhúc giòi bọ. Tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi cảm thấy mình chẳng khác gì con ốc sên trong đê. Tôi, mười chín tuổi, lê người dậy, kéo rèm ra và mở cửa sổ. Ánh mặt trời thanh sạch sau cơn mưa, lấp đầy khoảng không gian giữa tầng trệt và tầng sáu. Tôi nhìn chăm chăm vào không gian trong trẻo này, quai hàm nghiến chặt. Một suy nghĩ ớn lạnh thoáng sượt qua tôi và khi còn chưa kịp ý thức được gì thì tôi đã thấy mình đang nằm ngã sõng soài trên sàn. Hoảng hồn, tôi chạy đến đóng cửa sổ lại.

Tôi, mười chín tuổi, nhanh chóng đánh mất ngôn ngữ của mình. Có nhiều ngày, tôi không thốt ra dù chỉ một từ. Ahn Hyang Sook thuận tay trái và Mi Seo đọc Hegel tìm cách khiến tôi mở miệng nhưng cuối cùng cũng chỉ cáu điên lên.

Chị họ không tìm cách khiến tôi mở miệng. Chị cũng giữ im lặng. Hẳn phải tò mò điều gì đó nhưng chị họ không hỏi tôi bất kỳ chuyện gì về chị ấy cả. Cả anh cả cũng không. Vì tôi đặc biệt gần gũi với chị ấy nên có lẽ họ tin rằng chỉ cần nhắc đến tên chị thôi cũng sẽ khiến tôi tổn thương.

Một lần, chúng tôi đang ngồi ăn mì ở lễ cưới của một người họ hàng, chị họ muốn nhường cho tôi quả trứng luộc (hồi ấy, món yêu thích của tôi là trứng luộc bổ đôi cho vào mì nước hay mì dai hay mì lạnh) nhưng lại đánh rơi xuống đất. Lúc đó, chị họ thở dài, Ôi chao, rồi trìu mến gọi tên tôi, những hai lần liền. Chị họ, giờ đã là vợ của một phi công, liếc nhìn tôi với vẻ mặt dường như đang nhớ lại điều gì đó, nhưng rồi nhanh chóng lấy lại vẻ bình thường và giục tôi ăn nhanh lên thôi. Tôi thất thần nhìn chăm chăm vào bát mì của mình. Quá khứ đã dạt đến ngay cạnh tôi. Thời ba chúng tôi cùng ngồi đợi mì trộn cay tại quán ăn vặt ở chợ Garibong. Khi ba bát mì được trộn bê ra, chị họ và chị ấy sẽ đồng thời cầm đũa gỗ gắp nửa quả trứng trong bát mình bỏ vào bát tôi. Không phải vì hai chị ghét trứng, mà vì tôi thích trứng. Trong lúc theo thói quen gắp trứng bỏ vào bát tôi, cánh tay của hai chị sẽ đụng vào nhau và rồi một nửa quả trứng sẽ rơi xuống đất.

Trong căn hộ cũ nơi chúng tôi sống cho đến khi anh cả kết hôn, bất cứ khi nào tỉnh giấc giữa đêm khuya, tôi đều lẻn vào trong phòng các anh tôi đang ngủ, mang theo gối. Và tôi sẽ cố gắng quay trở lại với giấc ngủ trong lúc lắng nghe tiếng thở của các anh. Khi nghe tiếng thở của các anh, tôi có thể quên đi sự bất an và nỗi cô đơn đang mỗi ngày một thêm rõ rệt. Chỉ khi lồng ngực tôi được lấp đầy bởi hơi thở của người thân trong gia đình, những người thân máu mủ ruột rà không bao giờ rời bỏ tôi, chỉ đến khi đó tôi mới có thể quay trở lại giấc ngủ.

Tôi làm bài kiểm tra thể lực cùng các học sinh chính quy. Ngày mùa thu quá đỗi trong trẻo. Tôi, mười chín tuổi, mặc bộ đồ thể thao, áo sơ mi xanh dương cổ chữ V. Làn gió nhẹ mát lạnh mơn man trên mặt tôi. Dường như mùi lá trong gió nhuốm cả vị ngọt ngào. Đến lượt tôi gập bụng. Sáu học sinh xếp thành hàng và nằm xuống trên tấm thảm trắng. Bắt đầu! Tay chắp sau đầu, khuỷu tay giật về phía trước để chạm vào đầu gối đang gập.

Sau sáu lần gập bụng, tôi không nhấc nổi thân trên lên được nữa.

Từ giữa những đám mây trắng trong vắt, khuôn mặt chị ấy hiện ra. Khuôn mặt chị tiến lại rồi giật về sau mỗi lần tôi ngồi dậy rồi lại đổ lưng xuống. Riêng tôi, mười chín tuổi, đầu hàng không gập bụng nữa mà nằm trên thảm, nhìn chăm chăm các đám mây trắng. Chưa kịp ý thức được điều gì thì một giọt nước mắt rơi xuống má tôi. Giám thị phụ trách đọc kết quả đếm lượt hô to, Mười hai!, có lẽ tưởng rằng tôi khóc vì màn trình diễn kém cỏi của mình nên đã nâng lên cho tôi.

Cũng có lẽ nhờ thế nên tôi đã được những mười tám điểm.

Tôi ngồi giữa những gương mặt xa lạ làm bài thi đánh giá trình độ đầu vào.

Những câu hỏi tôi không thể trả lời nhiều hơn hẳn so với những câu tôi có thể. Môn cuối là Toán. Tôi, mười chín tuổi, điền kín tờ trả lời mà thậm chí còn chẳng thèm đọc đề. Khi tôi rời khỏi phòng thi, người đầu tiên của phòng, các bậc cha mẹ đang đợi bên ngoài cổng trường. Tôi chẳng buồn nhìn quanh vì không nghĩ sẽ có ai đến đón mình, nhưng rồi tôi nghe thấy một giọng quen thuộc gọi tên mình.

Là anh ba.

“Anh!”

Tôi, mười chín tuổi, lao bổ về phía anh. Anh mang theo một chai nước giữ nhiệt, có trời mới biết anh lấy từ đâu ra, đầy ắp cà phê nóng.

Đó chính là hành động quen thuộc của các anh tôi, xuất hiện gọi tên tôi ở những nơi hoặc những tình huống tôi không ngờ tới. Anh ba vươn tay ra vỗ về khuôn mặt tôi, bàn tay tôi, vốn đã nhanh chóng héo hon kể từ khi rời khỏi căn phòng hiu quạnh.

Suốt khoảng thời gian viết tác phẩm này, thỉnh thoảng tôi lại thấy dậy lên trong lồng ngực cái cảm giác rằng có ai đó đang theo dõi mình. Mỗi khi nảy sinh cảm giác này, tôi đều quay nhìn lại phía sau, lo lắng và căng thẳng. Có một dạo, dường như ánh nhìn chăm chú ấy thường xuyên ghé thăm tôi vào một giờ nhất định nào đó. Điều này đã khiến cho rất nhiều thứ trở nên không thể đối với tôi. Tôi không thể ngủ, không thể khóa cửa ban đêm, phát ốm và mệt mỏi với những chuyện phải tỏ ra thành thực, không thể buộc mình đối xử dịu dàng với anh ấy.

Giờ đây, khi đã gần đi đến đoạn kết, tôi nhận ra người theo dõi tôi đó không phải ai khác ngoài chính bản thân tôi. Rằng tôi đang cố gắng, một cách vụng về, đối thoại với chính mình.

Giờ đang tháng Tám. Tôi không còn gì để nói nữa. Đáng lẽ tôi nên gửi bản thảo cho nhà xuất bản, nhưng một “tôi” khác trong tôi không ngừng thì thầm với tôi, Bắt đầu lại từ đầu đi... Bắt đầu lại từ đầu đi...

Bắt đầu lại từ đầu đi... từ đầu... từ đầu... lại... từ đầu... lại... bắt đầu lại từ đầu...

Khi đặt các sự kiện vào trong tác phẩm, có rất nhiều chuyện diễn ra không tuân theo ý muốn của bản thân. Những phần quan trọng lại bị co lại thành các đoạn ngắn, còn những phần tưởng chừng mơ hồ lại trở nên dài và rộng. Tôi là người viết nhưng chính tôi lại không thể làm theo dự định. Những khoảnh khắc này cứ không ngừng dâng lên và biến mất. Nhưng giờ đây, tôi bắt đầu nghĩ rằng, cho dù tôi lựa chọn kể lại câu chuyện nào đi chăng nữa, thì câu chuyện ấy cũng không nên chỉ nhắm vào một mình tôi.

Từ cái ngày tôi chạy khỏi nơi đó với hai bàn tay trống trơn chỉ có độc chú gấu con dạ quang Chang tặng, tôi đã không bao giờ quay trở lại, dù chỉ một lần. Tôi cố gắng hết sức để không bao giờ nghĩ đến căn phòng hiu quạnh, đến nỗi đôi khi khoảng thời gian đó, không gian đó dường như đã biến mất hoàn toàn trong tôi. Nhưng rồi chỉ cần một lần nhìn thấy chị trong mơ thôi là hết thảy mọi chuyện lại trở nên sống động. Trái tim tôi đập dồn dập, khiến tôi như ngạt thở, rồi tôi lại ngây ra bởi một trạng thái cảnh giác thái quá. Nhưng giờ đây cái chuồng gia súc tối tăm và ẩm thấp bên trong trái tim tôi đang gọi tôi. Thì thầm, Chỉ cần bắt chuyến tàu điện ngầm đi hướng Suwon ở ga Seoul hay ga Jonggak, rồi xuống tàu ở ga Garibong. Đi bộ xuống cầu thang hướng tới Trung tâm Bao bì và Thiết kế, không phải hướng tới Khu Liên hiệp Công nghiệp số 3, rồi sẽ đến khu đất trống. Không. Rồi sẽ đến tòa nhà đang xây dựng trước kia từng là khu đất trống. Hiệu ảnh, nơi chị họ từng thuê máy ảnh, liệu có còn ở đó không nhỉ? Quán thịt nướng nơi anh cả từng đãi chúng tôi món ba chỉ lợn liệu có còn ở đó không? Bà cụ chủ cửa hàng tạp hóa liệu có còn sống? Tuyến xe buýt 118 có còn lấy trạm dừng cuối cạnh khu đất trống? Tòa nhà vươn cao được họ xây trên khu đất ấy là gì vậy? Ngôi nhà ba mươi bảy phòng liệu có còn ở nguyên chỗ đó? Cái chậu cao su liệu có còn úp sấp trên sân thượng? Dây phơi quần áo thì sao?

Để cố gắng tránh cái suy nghĩ muốn về thăm lại căn phòng hiu quạnh đang lớn dần như một ụ tuyết lăn xuống đồi, tôi gọi điện thoại cho anh. Tôi bảo mình định về quê và nhờ anh chở tôi tới bến xe buýt tốc hành. Anh vui vẻ chất hành lý của tôi lên xe rồi chở tôi tới bến xe buýt. Khi chúng tôi đến nơi là mười giờ hai mươi phút và ở quầy đang bán vé chuyến lúc mười giờ bốn mươi. Tôi lấy một vé chuyến đó, nhưng rồi đổi lại thành vé chuyến mười một giờ. Tôi không muốn chia tay anh ngay lập tức. Chúng tôi uống cà phê ở phòng trà bàn ghế bày biện lung tung, nằm ngay trong bến xe. Khi tôi lên xe buýt, anh vẫy tay sau lưng tôi, nói, Đi vui vẻ nhé. Chiếc xe vừa đi được một đoạn sau khi nghỉ ở trạm dừng chân. Còn một quãng đường dài nữa mới tới giao lộ Jungeup, nhưng xe buýt dừng lại giữa đường cao tốc. Cửa mở ra và người người leo lên xe, nhễ nhại mồ hôi. Có vẻ như chiếc xe buýt chạy trước chúng tôi đã bị tai nạn. Thoạt đầu tôi không nghĩ ngợi nhiều, nhưng rồi khi nhìn thấy những mảnh kính vỡ tung tóe trên đường tôi mới ngỡ ngàng, Là chiếc xe buýt chạy ngay trước ư? Họ nói đó là chuyến xe mười giờ bốn mươi. Chiếc vé tôi đã đổi vì không muốn chia tay anh ngay lập tức. Nếu không nảy sinh cảm xúc đó, tôi hẳn đã lên chuyến xe buýt bị tai nạn kia. Chiếc xe buýt đỗ trên đường cao tốc lúc giữa trưa, bị đâm nát bươm, méo mó. Nghe bảo nhiều người bị thương và đã được xe cứu thương đưa đi. Khuôn mặt anh trôi qua trước mắt tôi.

Những người bảo rằng, Nhớ lại hồi chúng tôi sống trong ngôi nhà đó, hay, Nhớ lại hồi chúng tôi nuôi gà, thường có vẻ là những người hạnh phúc. Tôi bắt đầu ước rằng cuốn sách này cũng cất chứa những hạnh phúc như thế.

Có nhiều món ăn khiến tôi thèm thuồng mỗi khi tôi về nhà vào mùa hè. Thân rau lang, được tước sạch lớp vỏ ngoài và muối như muối kim chi, canh tương nấu ốc vặn.

Đó là những món ăn mẹ thường nấu vào mùa hè trước khi tôi rời nhà. Dường như mẹ làm các món đó mà không hề nghĩ chúng có gì đặc biệt, nhưng khi tôi lên thành phố và thử nấu, tôi không sao nấu cho ra được mùi vị tương tự. Chỉ cần nghĩ đến cảnh này thôi cũng đủ để tứa nước miếng rồi: xúc một thìa cơm đầy, trộn với tương đậu sền sệt nấu chung với ốc vặn bắt từ đầm lầy và cho thêm một ít củ cải non băm nhỏ. Nhưng tôi sợ món ớt xanh. Khi các anh tôi nhặt những quả ớt dài mập mạp lên rồi chấm vào tương và cắn những miếng rau ráu, tôi sẽ nhìn chằm chằm các anh mà nói, Thể nào anh cũng kêu ré lên ngay vì cay quá cho xem. Nhưng thay thì kêu ré lên, các anh lại sẽ với tay kia ra tóm thêm một quả ớt khác.

Mẹ rất cố chấp, y như bao lâu nay vẫn vậy. Món tôi thực lòng muốn ăn là rau lang tước vỏ muối như muối kim chi cùng với tương đậu nấu ốc vặn, thế nhưng mẹ cứ khăng khăng bắt bố phải đến hàng thịt trong xã. Bố lấy xe máy đi và mang về một bọc thịt to tướng, để làm món canh xương ống và thịt bò xào. Mẹ lấy một cái nồi trắng to đặt lên bếp gas ở sân sau để ninh xương. Mẹ kể mẹ có một quả bí ngô to cỡ này (mẹ dang cả hai cánh tay ra vẽ thành một vòng tròn) đang già ở giàn bí trồng quanh nhà nhưng bị ai đó hái mất rồi, tiếc ơi là tiếc.

“Giàn bí nhà mình đã bò đến sát vạt rau nhà bên cạnh, nên mẹ đoán chắc là người ta đã hái mất vì tưởng nhầm là của nhà họ.”

“Vậy sao mẹ không đi hỏi thử xem. Hỏi là, đây là giàn bí của nhà tôi, liệu có phải nhà bác tưởng là giàn bí nhà mình mà hái mất quả bí ngô không?”

Tôi chu môi lên giọng cuối câu hỏi làm mẹ nhanh chóng quên béng quả bí ngô đã bị mất kia và bật cười, hai con mắt to nheo thành đường thẳng.

“Nó là quả bí ngô đầu tiên của mẹ trong năm nay đấy. Ngày nào mẹ cũng ngắm nghía nó, định là khi nào nó mập ra sẽ ninh cho con gái mẹ ăn, thế mà nó lại bị hái mất rồi.”

Lo rằng tôi dễ bị sưng mặt sưng chân, mỗi năm cứ khi xong mùa thu hoạch, mẹ lại làm nước bí ngô và cho vào trong ấm mang lên thành phố cho tôi.

Sau bữa tối, bên những miếng dưa hấu đỏ, bố mẹ bàn tán hồi lâu về chuyện ngôi nhà. Bố muốn xây lại ngôi nhà. Bố đã sửa chữa cái khung nhà cũ hết lần này đến lần khác, vậy nên mọi thứ cứ chỗ thò chỗ thụt, khiến cho ngôi nhà có vẻ thiếu chắc chắn, trông cứ như thể chỉ là một chỗ ở tạm thời. Lại còn chẳng có phòng ngủ cho khách nữa. Mẹ phản đối ý kiến này. Nhà của chúng tôi là một trong những ngôi nhà tử tế nhất làng, giờ nếu phá đi để xây một ngôi nhà mới, dân làng thể nào cũng thấy gai mắt cho xem. Chỉ có cái hiên là quá hẹp thành ra ánh nắng tràn vào nhà nhiều quá, vậy nên chúng tôi chỉ nới rộng cái hiên ra là được rồi. Ban đầu tôi đứng về phía mẹ, rồi sau về phía bố, rồi cứ qua qua lại lại mãi thế. Mẹ bảo, Còn sống bao lâu nữa đâu mà phá đi xây nhà mới. Rằng, Dùng tiền đó mua cho thằng út một căn hộ khi nào nó tốt nghiệp với lấy vợ còn hơn. Bố thì bảo, mình cũng chẳng thể rời đi mà sống ở bất kỳ nơi nào khác được, nếu giờ không xây một ngôi nhà mới, sau này bà mất rồi sẽ chẳng ai đến chỗ này mà viếng thăm bà đâu. Tôi càng lúc càng nghiêng về phía bố. Bố có vẻ như đang bàn bạc với mẹ, nhưng tôi dám chắc rằng bố đã hạ quyết tâm rồi. Bố không phải người nhiều lời. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến bố nói chuyện dài dòng đến thế với mẹ. Bố không bàn bạc vấn đề với mẹ; bố đang thuyết phục mẹ.

“Lẽ nào tôi xây nhà chỉ để mình vợ chồng mình ở thôi sao? Hai vợ chồng mình thì sống nhà nào mà chẳng được. Giờ mình còn sống ở đây nên con cái chúng nó mới về thăm, nhưng bà nghĩ mà xem, liệu khi mình chết rồi chúng có còn về thăm nữa hay không? Mình để lại một cái nhà mới thì sau này dù chết rồi chúng nó cũng sẽ vẫn còn về thăm chứ.”

“Ai ôi, tôi với ông chết cả rồi thì còn đứa nào về đây mà sống chứ?”

“Chẳng ai sống thì có sao chứ? Đánh cho mỗi đứa một cái chìa khóa là được. Thằng Cả, thằng Hai, thằng Ba, con Tư, con Năm, thằng Sáu...”

Bố tôi đếm hết tất cả mấy anh chị em chúng tôi, như thể đang đếm các vì sao.

“Sáu đứa cả thảy, dù mỗi đứa chỉ về một lần thì ít nhất mỗi năm cũng sẽ có sáu lần về thăm còn gì. Với cả, nếu ở đây có sẵn nhà thì chúng nó cũng sẽ muốn về thôi. Không gặp nhau trên Seoul được thì chúng nó tụ tập về đây.”

Lại một lần nữa, tôi nghiêng dần về phía bố. Không phải mẹ đã bị bố thuyết phục mà chính tôi, ngồi nghe bên cạnh, đã bị bố làm cho thay đổi.

Ngồi đây trong ngọn gió đêm nghe những suy nghĩ đã chất chứa từ lâu của bố về ngôi nhà của chúng tôi, tôi bắt đầu lấy làm tò mò không biết tôi đã chơi với thứ đồ chơi gì hồi tôi còn nhỏ, ai là người đầu tiên được tôi nở nụ cười, ngóc ngách nào trong ngôi nhà này là nơi tôi bám lấy khi bắt đầu chập chững tập đi, đôi giày màu gì tôi đã mang vào cái ngày lần đầu tiên đặt chân ra ngoài cánh cổng.

Tôi trằn trọc mãi trong đêm. Tôi phải đi vệ sinh, có lẽ tại ăn dưa hấu ngay trước khi đi ngủ. Chỉ đến khi đã mở cửa phòng ngủ, rồi mở cánh cửa dẫn ra hiên, băng qua sân đến nhà vệ sinh ngoài nhà, tôi mới nhớ ra giờ nó đã không còn được sử dụng nữa rồi. Rằng bây giờ đã có một bồn rửa mặt được xây ngay bên cạnh chỗ cất các vại tương, và ở đó đã lắp cả bồn cầu. Ngôi nhà đã được sửa lại từ lâu lắm rồi, nhưng tôi vẫn cứ luôn quên mất những thay đổi mới mà chỉ dò dẫm tìm kiếm những dấu vết cũ. Vì vội quá nên tôi ngồi ngay xuống dưới cây hồng vàng mà đi vệ sinh, nhận thấy những vì sao mùa hè đang lấp lánh giữa trời đêm. Ai đã nói rằng những điều được giấu kín không nói thành lời bên trong trái tim chúng ta rồi sẽ bay lên trời biến thành những vì sao nhỉ? Những thứ bé nhỏ khi được gom lại nhìn thật buồn. Những viên sỏi, hạt cát, hạt gạo, vỏ sò. Những vì sao trên trời cũng vậy. Sự khác biệt là, so với viên sỏi, hạt cát, hạt gạo và vỏ sò, tuy có hằng hà sa số những vì sao nhưng mỗi vì sao đều tỏa ra ánh sáng lấp lánh của riêng mình.

Tôi không thể lôi mình quay trở vào trong nhà được và lúc đang ngồi ngoài hiên thì tôi nhìn thấy cái giếng ở xa xa. Không có cái gáo nào cạnh giếng. Bây giờ đã có một cái máy bơm bơm nước từ dưới giếng lên và dẫn nước phun ra từ vòi nước trong bếp. Cái giếng cứ không ngừng to mãi to mãi ra cho tới khi lấp kín tầm nhìn của tôi. Tôi lặng lẽ băng qua sân tiến về phía cái giếng. Tôi nhấc cái nắp che trên miệng giếng rồi từ từ chăm chú ngó vào trong. Chẳng có gì ngoài bóng tối. Cái giếng đã bị đậy nắp từ lâu nên khi mở ra mùi rêu ẩm ướt xộc lên mũi tôi. Hồi còn dùng gáo để múc nước, tôi chưa từng nghĩ đến chuyện đậy nắp lên miệng giếng. Hồi đó, cho dù còn chưa đến gần tôi vẫn có thể cảm nhận được bầu không khí lạnh lẽo quanh giếng. Tôi ngồi xuống, đặt cánh tay áp lên trên miệng giếng.

Hồi tôi còn nhỏ, giếng có vẻ rất sâu. Hễ cứ khi nào tôi khóc, mẹ lại tìm cách dọa cho tôi sợ bằng câu chuyện về con ma dưới giếng, rằng nó sẽ đuổi theo tôi, muốn tôi làm bạn nó. Chuyện này đã chẳng dọa tôi sợ hãi gì sất. Tôi rất thích cái giếng nên nếu có một con ma trong đó thật thì hẳn là tôi cũng có thể đánh bạn với nó. Nếu sống bên trong cái giếng giấu bầu trời tít dưới sâu thì rất có thể con ma đó cũng tựa như cái giếng. Ký ức trở lại với tôi, ký ức về những lần múc nước, khi tôi đặt cái xô đang nhỏ nước tong tong sang một bên và cũng ngồi như thế này, im lặng nhìn xuống để ngắm nhìn bầu trời được giấu sâu dưới lòng giếng. Phải, hồi tôi còn sống trong ngôi nhà này, những chốn yêu thích của tôi là cái giếng và chuồng gia súc. Tôi có thể trốn hoặc giấu mọi thứ bên trong chúng. Tôi giấu bên trong giếng những thứ tôi không thể giấu trong người mình. Cây kèn harmonica của anh trai, cái ghim cài áo của mẹ, con cá vàng bố bắt trong đầm hay những cánh hoa đỗ quyên bố nhặt trên ngọn núi mùa xuân.

Tôi áp mặt lên cánh tay đặt trên miệng giếng và nhìn xuống dưới một hồi lâu.

Khi tản bộ dọc bờ sông, đá cuội lạo xạo lăn tròn và bắn lên khắp nơi. Khi tôi nhìn vào trong giếng, những suy nghĩ cũng nảy lên, chỗ này một ít chỗ kia một ít, như những viên đá cuội.

Ánh mắt bối rối của chị Yoon Soon Im khi tôi bảo mình sẽ nộp đơn xin nghỉ việc. Chị bảo tôi hãy đợi đến lúc nhận được lương và trợ cấp thôi việc.

“Em không có thời gian.”

“Thời gian gì?”

“Em đã có cơ hội để tiếp tục học rồi.”

“Em định vào học đại học à?”

“Nếu em đỗ.”

Chị Yoon Soon Im không khuyên can tôi nữa. Tôi lấy bộ đồng phục mùa đông màu đỏ tím đang treo trên móc ở phòng thay đồ xuống để giặt sạch. Khi nộp đơn xin nghỉ việc, tôi sẽ phải gửi kèm cả bộ đồng phục mùa hè màu xanh và bộ đồng phục mùa đông màu đỏ tím.

Tôi, mười chín tuổi, gấp bộ đồng phục lại sau khi đã giặt sạch sẽ và phơi khô, rồi xỏ tay vào túi. Có thể là ai mới được nhỉ, ai là người đầu tiên đã phát minh ra những cái túi trên quần áo? Những cái túi đã an ủi tôi suốt bốn năm ở công ty Điện tử Dongnam, nơi có cái thẻ chấm công với chấm màu xanh cho giờ làm việc, màu đỏ cho giờ làm thêm. Sau khi viết đơn xin rời khỏi công đoàn, khi tôi không thể cùng các công nhân khác từ chối làm thêm giờ, khi bị quản đốc mắng mỏ, khi lên căng tin trên sân thượng để ăn trưa, tôi đều xọc tay vào túi như một thói quen.

Tôi nộp đơn xin nghỉ việc và trả lại đồng phục, và khi bước ra khỏi cánh cổng của Điện tử Dongnam, tôi thấy chị Yoon Soon Im đang đi theo mình.

“Thế nếu em đến đây học thì sao?”

“...”

“Em cũng đâu nhất thiết phải học ở nhà.”

“...”

“Em sẽ mất hết tiền lương và trợ cấp thôi việc nên chị thấy tiếc thôi. Chị họ em cũng đã không được trả gì cả mà.”

“Chị hãy nhận giúp bọn em đi.”

“Em biết thừa chuyện ở đây mà. Theo em thì tại sao những người đã bỏ việc rồi vẫn đều đặn ngày ngày đến nhà máy chứ? Họ sợ nếu họ không xuất hiện, công ty sẽ không bao giờ trả tiền chứ sao. Công ty đang trong cảnh thế này liệu ngân hàng hoặc chính phủ có thể làm ngơ mãi được ư? Dù là ngân hàng hay chính phủ, chỉ cần công ty được chuyển giao là tất cả chúng ta sẽ được trả trợ cấp thôi việc ngay thôi. Từ giờ cho đến lúc đó, sao em không cố đến đây mà học?”

“...”

“Chỉ cần gắng gượng một thời gian và...”

Chị Yoon Soon Im lại khăng khăng lần nữa rằng tôi đâu có nhất thiết phải học ở nhà. Tôi, mười chín tuổi, nói với chị rằng tôi sẽ làm theo lời chị.

Ngày hôm sau, theo thói quen, tôi định nhét thẻ tên vào máy chấm công. Bàn tay tôi ngượng ngùng khi với đến chỗ không còn tấm thẻ của tôi nữa. Khu Ti Vi là nơi duy nhất vẫn đang sản xuất. Ngay cả ở đó, hai dây chuyền cũng đã ngừng và chỉ còn một đang hoạt động. Tôi, mười chín tuổi, ngồi ở những chỗ yên tĩnh như trên sân thượng hay trên ghế băng hoặc căng tin, đọc cuốn đề mẫu ôn thi môn Ngữ văn, rồi trở về nhà. Khi nhìn thấy các công nhân tan làm tụ tập ồn ào, tôi bèn tạt vào.

Một tối, anh cả hỏi sao đã xin nghỉ rồi mà tôi vẫn đi làm. Nghe tôi bảo tôi đang cố gắng để lấy được trợ cấp thôi việc, anh thở dài bảo tôi nên thôi đi là hơn. Điều quan trọng hơn cả là tôi tập trung vào học hành tránh để lãng phí thời gian. Thấy tôi vẫn tiếp tục đến nhà máy, anh nổi cơn tam bành, hỏi rằng liệu cái trợ cấp thôi việc của tôi thì được mấy đồng.

Tôi giấu anh cả đi làm thêm một ngày nữa, để báo với chị Yoon Soon Im rằng tôi không thể tiếp tục đến nữa.

“Anh của em sai rồi. Lấy được trợ cấp thôi việc là một việc rất quan trọng đối với chúng ta, cho dù nó chẳng đáng mấy đồng.”

Tôi, mười chín tuổi, cảm thấy áy náy và cúi gằm mặt xuống không nói năng gì. Vẫn còn có thể gặp lại nhau phải không, tôi chào tạm biệt, chị Yoon Soon Im mỉm cười và theo tiễn tôi. Như ngày xưa thì bọn chị đã tổ chức tiệc chia tay cho em rồi. Giọng chị Yoon Soon Im vẫn văng vẳng bên tai tôi.

Chị Yoon Soon Im... Tôi đã không bao giờ gặp lại chị nữa.

Chị sẽ không mãi bị giam lại trong bức tranh sinh hoạt về cảnh lao động ở khu công nghiệp này. Hẳn chị sẽ xây cho mình một mái ấm ở nơi nào đó trên thế giới. Ngay cả khi ngồi trước băng chuyền, ở chị vẫn tỏa ra hương vị mái ấm. Ngay cả khi chị nhìn chằm chằm hằng tiếng đồng hồ vào những vòng dây kim loại, xoắn xít vào nhau như một mê cung, hay khi buộc, cố định, hàn vòng dây mới, tôi vẫn có thể hình dung ra cảnh chị đang bóc tỏi hay nhặt rau cần. Ở đâu đó, hẳn chị sẽ biến mái ấm của chị thành một chốn trú ẩn ấm cúng. Hẳn chị sẽ cất, giũ, rồi gấp hết đống này đến đống kia quần áo giặt. Hẳn chị sẽ bọc hết quần áo sơ sinh của đứa con đầu vào trong tấm vải bông gai trắng rồi để dành cho đứa con thứ hai của chị. Đến mùa hè, hẳn chị sẽ xuống dưới căn hầm chất đống các đồ gia dụng, bật quạt lên rồi ngồi xổm xuống là cho hết đống quần áo, cổ nhễ nhại mồ hôi. Buổi tối, hẳn chị sẽ bày bàn ăn xong xuôi rồi rửa sạch hai bàn tay vẫn vương mùi gia vị và bước ra ngoài đón con. Thỉnh thoảng, hẳn chị sẽ ghé tai lắng nghe âm thanh thiên nhiên đang tuần hoàn, đôi mắt nhỏ nhắm lại, và sẽ có những hôm, chị đạp xe lao vun vút trên đường, và chị sẽ dùng sự bình yên và dữ dội bên trong mình để xây nên một mái nhà đẹp đẽ cho riêng chị. Ngay bây giờ, hẳn chị cũng đang ở đâu đó, cố gắng thấu hiểu mọi người xung quanh,vật lộn với sự trống rỗng của những mối quan hệ chóng tàn. Chuyển động của những người phụ nữ dưới mái nhà... Là thế đấy. Ngay cả khi chị ngồi trước băng chuyền, từ các cử chỉ của chị vẫn toát lên cảm giác thanh bình và nỗi hoài nhớ về một cuộc sống gia đình truyền thống.

Chính thầy Choi Hong Yi là người đã bảo cho tôi biết về trường Nghệ thuật Seoul ở núi Namsan. Thầy bảo trường đó có khoa sáng tác. Điểm thi đánh giá trình độ đầu vào của tôi thấp đến thảm hại. Tôi chẳng buồn nộp đơn vào các trường đại học hạng một và hạng hai. Số báo danh của tôi là 155. Bài thi thực hành là một bài thi viết. Chúng tôi được cho chủ đề, Ước mơ. Chúng tôi có thể tùy chọn viết thơ hoặc văn xuôi. Tôi, mười chín tuổi, viết về một cô giáo mà tôi từng ngưỡng mộ hồi lớp bốn. Tôi viết rằng cô là người xinh đẹp, lớp Khoa học của cô luôn đầy ắp những câu chuyện buồn về các chòm sao, và rằng ước mơ của tôi là trở thành một người kể lại các câu chuyện hay cho người khác, giống như cô. Lúc phỏng vấn, vị giáo sư sau này sẽ trở thành người thầy nâng đỡ tôi ngước nhìn tôi rồi nói, Điểm thi của em thấp thế. Khi tôi bước ra khỏi phòng, những lời thầy nói cứ quay mòng mòng trong đầu tôi. Giờ thì hỏng hết rồi, một giọt nước mắt ứa ra khỏi mắt tôi trong lúc tôi đi xuống núi Namsan. Để trở về nhà, tôi phải bắt xe buýt ở Trung tâm thương mại Lotte. Tôi, mười chín tuổi, không thể tìm được đường từ đại lộ Toegye đến Lotte, cứ thế đi vòng vòng quanh chợ Namdaemun, như thể một người đi leo núi gặp sương mù dày đặc và mất hết cảm giác về phương hướng nên cứ mãi quay lại một điểm. Mỗi lần rời khỏi hầm đi bộ, tôi lại đến đúng chỗ đó, tôi lại quay trở lại hầm rồi lại đi ra, rồi lại vẫn xuất hiện ở đúng cái chỗ đó. Cuối càng tôi cũng về được đến nhà, tôi chui vào trong chăn mà khóc. Anh ba hỏi cuộc phỏng vấn thế nào và tôi, mười chín tuổi, hét lên, Đừng có nói gì với em, khiến anh choáng váng.

Anh ba đi xem kết quả tuyển sinh. Vì tôi thể nào cũng sẽ lại lạc một lần nữa trên những con đường xa lạ của thành phố, không dễ dàng quay về được. Anh ba gọi điện cho tôi, Em đỗ rồi. Chúc mừng em, anh nói.

Tôi vừa nhập học thì anh cả bảo tôi rằng anh sẽ phải đi công tác. Nhưng hôm sau, cái người bảo tôi là sẽ đi công tác ấy lại gọi cho tôi từ Jungeup, ở ngay bên mẹ. Tôi nghĩ hôm đó là thứ Bảy. Anh cả bảo hôm sau anh sẽ đính hôn và bảo tôi xuống Jungeup đi. Đính hôn? Tôi không thể tin nổi nhưng có vẻ như anh không nói dối, vậy nên tôi bắt chuyến tàu đêm về nhà. Tôi thậm chí còn chẳng có thời gian để liên lạc với chị họ. Ngày hôm sau, tại một nhà hàng ở Jungeup, tôi lần đầu tiên gặp vợ sắp cưới của anh cả. Đó chính là nơi diễn ra lễ đính hôn, vậy nên cũng có thể coi ngay từ đầu chúng tôi đã gặp nhau như những người trong gia đình. Chị có đôi mắt to, làn da trắng trẻo và hơi lùn. Có vẻ như ngay cả anh cả cũng chỉ biết đến thế vẻ chị. Về sau mới biết thêm rằng chị tốt nghiệp đại học ở Seoul; đã về quê nhà sống với bố; rằng chị là một người phụ nữ dịu dàng thấu hiểu chưa một lần làm cho bố chị giận dữ, cho dù ông là người khó tính. Anh còn biết được gì thêm nữa chứ khi mới chỉ được giới thiệu với chị vào thứ Sáu và đã đính hôn luôn vào Chủ nhật? Ngay lập tức tôi đã thấy mến vợ chưa cưới của anh cả. Nhưng mãi đến tận trước lúc cắt bánh, tôi chỉ ngơ ngẩn đứng đó vì vẫn không thể tin nổi anh sắp lấy vợ. Rồi khi anh lồng chiếc nhẫn đính hôn vào tay chị, tôi bắt đầu sụt sịt. Tôi không thể hiểu nổi sao mình lại khóc, thế nên tôi cũng không biết dừng lại thế nào. Mọi người quay sang nhìn tôi chằm chằm. Mẹ đến bên bảo tôi đừng khóc nữa. Nhưng tôi không thể. Trong lúc an ủi tôi, mắt mẹ cũng đỏ hoe. Đúng một tháng sau lễ đính hôn hai anh chị làm đám cưới. Ở đám cưới của anh cả, chị họ sụt sịt y như tôi hôm đính hôn. Chị sụt sịt dữ quá nên lần này đến lượt tôi an ủi chị.

Vợ của anh cả là người chăm chỉ, đôi mắt chị trong sáng và ân cần.

Đột nhiên tôi trở thành em chồng. Tất cả mọi thứ - từ cái thớt, cái dao trong bếp - giờ đều đã thành của chị. Chỉ đến khi đó tôi mới nhận ra tôi yêu thích đến nhường nào được mài một con dao cùn lên hòn đá mài bố cho chúng tôi, được vo gạo cho vào nồi nấu cơm, được thái rồi muối củ cải. Nhận ra rằng khi tập trung khuấy hai bàn tay để lựa những hạt thóc còn sót trong gạo, tôi đã xoa dịu được sự cô độc đang gợn sóng trong sâu thẳm trái tim tôi. Có phải vì phòng của tôi là căn phòng sát bếp nhất? Không còn được phép làm việc bếp núc, tôi bắt đầu lắng tai nghe những âm thanh nhỏ nhất chị gây ra. Tiếng chị chùi tay lên tạp dề, tiếng chân váy của chị quẹt vào tủ lạnh. Một sáng sớm, sau bao nhiêu ngày ngồi trong phòng mò mẫm đoán xem không biết chị đang lấy cái muôi canh, cái lọc hay cái muôi cơm từ trên giá xuống, tôi dán lên cửa sổ một tấm giấy bồi màu đen to ngang cỡ cửa. Ánh sáng ban mai bị tấm giấy bồi chặn lại, biến phòng tôi thành như một cái hang. Lúc tôi đi vắng, chị gỡ tấm giấy bồi xuống. Tôi về nhà và lại dán nó lên. Chị lại tháo nó xuống. Tôi lại dán nó lên. Hẳn là chị rất không thích. Tự dưng lại có một căn phòng tối om như cái hang trong ngôi nhà đôi vợ chồng mới cưới, nơi chỉ hợp với những đường viền chăn hồng phấn và tạp dề trắng muốt. Một hôm chị vứt hẳn tấm giấy bồi đi. Tôi đến bên chị cạnh cái máy giặt đang giặt quần áo và bảo chị, bằng giọng gần như không nghe rõ, Đừng vào phòng em nữa. Chị nghiêng người về phía tôi.

“Chị không nghe thấy gì cả. Em nói gì đấy?”

“Đừng có vào trong phòng em nữa!”

Lần này, tôi hét lên, bất thình lình. Chị bị vây giữa mùi nước xả quần áo, đôi mắt chị nhòe lệ. Anh cả bước ra rồi dẫn chị vào trong phòng. Một lúc sau, anh sang phòng tôi. Anh nhìn thẳng vào mắt tôi và bảo anh muốn tặng tôi một món quà để chúc mừng tôi vào đại học, anh hỏi tôi muốn gì.

Tôi trả lời anh là tôi muốn sách.

“Sách gì?”

“Tiểu thuyết ạ.”

Ngày hôm sau, trọn bộ Tổng tập Văn học Hàn Quốc hiện đại do nhà xuất bản Samsung phát hành được chuyển tới cho tôi. Tôi vừa đếm các cuốn sách có bìa màu ngà và đỏ tươi vừa xếp chúng lên giá sách lần lượt từng cuốn một, tổng cộng một trăm tập.

Nhờ các cuốn sách, mâu thuẫn giữa tôi và chị dâu nhanh chóng qua đi. Tôi không còn dán tấm giấy bồi đen lên nữa vì còn phải đọc sách, và khi đọc, tôi đã quên mất những chuyện trong bếp.

Khi mắt tôi đã trở nên quen dần với bóng tối bên trong giếng, tôi có thể nhận ra mặt nước đen sì. Khi mắt tôi đã trở nên quen dần với mặt nước đen, tôi có thể nhận ra vô vàn vì sao đang lấp lánh trên mặt nước. Những vì sao đang trôi bồng bềnh trên mặt nước, tựa như một lời nói. Trong một thoáng, các vì sao trong giếng tròng trành, như thể có cơn gió đang quét ngang bầu trời.

Đây là những câu văn tôi đã xóa đi sau khi đến gặp nhà xuất bản ngay trước khi tập tản văn của tôi được đưa đi in.

Vết thương hằn lại sau cái chết của chị, mà tôi tình cờ có liên quan, đã khiến tôi mãi mãi ngây dại. Những dấu vết của chị vẫn còn gây ảnh hưởng lên tôi. Kể từ đó, tôi đã hình thành một nỗi sợ hãi sâu sắc không dám thiết lập các mối quan hệ với người khác. Chị là một phần đã bị tàn phá trong trái tim tôi, ngăn không cho tôi xây dựng thêm các mối quan hệ một cách quá dễ và quá sâu. Mỗi khi gần gũi với ai đó, tôi lại cảm thấy trào dâng trong lòng nỗi khát khao được nói với người đó rằng chính tôi là người đã khóa cánh cửa đó. Và tôi sợ rằng mối quan hệ này sẽ lại giao cho tôi cái vai trò tôi không sao hiểu nổi mà không được phép lựa chọn. Tôi nghĩ đến khi đó. Khi bí mật tôi gìn giữ sẽ bị phơi bày sau khi tôi chết. Tôi có thể chấp nhận sự phơi bày nhưng tôi sợ bị bóp méo. Để tránh cho bí mật của mình bị bóp méo, vậy thì hoặc cuộc sống của tôi phải dày dặn hơn cuộc sống của người muốn vạch trần bí mật đó, hoặc tôi không bao giờ được phép nói với ai. Tôi chọn vế sau. Không bao giờ nói với ai, đồng nghĩa với việc không bao giờ thiết lập các mối quan hệ, với bất kỳ ai. Tôi đã dán kín miệng lại suốt mười năm, chịu đựng sự trách móc, oán giận và khát khao. Và sau mười năm, tôi đã cố viết, không phải cho một người nào đó mà là trong tác phẩm của tôi, rằng chính tôi đã sập cái khóa trên cánh cửa. Thêm nhiều năm chất chồng nữa. Vì đã dành quá nhiều thời gian để giữ nó trong lòng, không cho nó thoát ra ngoài, nên giờ đây nó dường như chỉ là một giấc mơ. Có lẽ nó là một giấc mơ... Tôi cố gắng nghĩ thế. Phải... có lẽ nó là một giấc mơ... Trái tim tôi khăng khăng cố chấp còn bàn tay tôi cười chế nhạo. Bàn tay tôi vẫn nhớ. Cái cảm giác khi tôi sập cái khóa, tiếng tách vang lên. Tôi nhìn chằm chằm xuống bàn tay mình.

Cơ thể ghi nhớ theo một cách điềm tĩnh, lạnh lẽo, chính xác và ngoan cố hơn tâm trí nhiều. Bởi vì nó trung thực hơn.

Hai mươi năm trước, tại ngôi nhà này, tôi đã tập đạp xe. Trước khi có thể nhấn bàn đạp để đạp suốt đoạn đường xuống đồi, tôi đã vô số lần ngã dập mũi và trầy da đầu gối. Ngày tôi đạp xe đến trường lần đầu tiên, lúc xuống dốc trở về nhà, tôi hoảng hốt đến độ quên cả bóp phanh. Chiếc xe đạp lao phăm phăm như tên bắn xuống đồi và hất văng tôi, trong bộ đồng phục màu trắng đang nắm tay cầm run lên bần bật, vào giữa ruộng lúa cuối đường. Sách giáo khoa trong cặp tôi bị ngấm nước ruộng, và tôi phải học bằng những cuốn sách ố vàng ấy suốt cả năm trời. Nhưng sau tai nạn này, tôi đã biết bóp phanh đúng lúc và suốt ba năm cấp hai đã đạp xe đến trường, cặp sách đeo trên lưng. Sau này, tôi thậm chí còn vừa nhấn bàn đạp vừa thả cả hai tay ra, cảm nhận làn gió mơn man trên khuôn mặt. Từ hồi chuyển đến thành phố, tôi không có cơ hội đạp xe nữa. Thậm chí chưa từng nhìn thấy cái xe đạp nào. Dường như tâm trí tôi đã quên hẳn chuyện đạp xe rồi. Nhưng cơ thể tôi, đã đau đớn và đầy thương tích hồi tôi tập đi xe đạp, không bao giờ quên. Tôi có thể không đạp xe suốt một năm, có khi là hai năm, nhưng rồi khi tình cờ có dịp nào đó, tôi sẽ lại leo lên xe, nhấn bàn đạp và cái xe đạp sẽ lại lạch xạch dấn về phía trước.

Suốt thời gian này, tôi vẫn nghĩ đi nghĩ lại mãi. Rằng nếu tôi mở cánh cửa đó ra, dù chỉ một lần thôi, trước khi sập cái khóa, liệu mọi chuyện có khác đi không?

Bên trong cái giếng, ngọn gió đêm thổi còn bầu trời an tĩnh. Là sao mai ư. Một mùi hương tươi mát tuôn tràn vào trong tôi. Quên bẵng mất mình đang nhìn chằm chằm vào trong giếng, tôi đưa mắt ra xung quanh, cố tìm kiếm nguồn gốc của mùi hương đã chảy vào trong người tôi. Chẳng hiểu sao, tôi cứ có cảm giác nếu tôi không tìm cách xác định được thứ mùi này ngay bây giờ, tôi sẽ hối tiếc rất lâu. Đó là mùi nước, mùi rêu. A, tôi lại nhìn vào trong giếng. Ắt hẩn là thứ mùi ẩm ướt của nước và của rêu đã bị phủ quá lâu bên dưới nắp giếng nên khi nắp vừa được mở ra, chúng đã hút ngay lấy không khí tươi mới và vì sao mai. Gió trong giếng đã tắt dần. Các vì sao đã tắt dần. Khuôn mặt chị bồng bềnh dưới lòng giếng yên ả như một lời nói. Vẻ mặt rụt rè quen thuộc của chị mỗi khi chị thực sự muốn nói điều gì đó.

Không cần phải tiếc thương cho chị. Chị đã sống trong trái tim em rất lâu rồi.

Hãy mở lòng ra mà nghĩ đến những người đang sống đi. Chìa khóa của câu chuyện quá khứ nằm trong tay em, không phải trong tay chị. Hãy trải lòng với người đang sống về nỗi buồn và niềm vui của những người em đã gặp gỡ đi. Sự chân thành của họ sẽ thay đổi em.

Một cơn gió dường như đang thổi, khiến lòng giếng gợn sóng lăn tăn. Chị loay hoay kiếm tìm dưới dòng nước đượm mùi tươi mát.

“Chị đang tìm gì đấy?”

“Cái cào em đã ném xuống đây.”

“Để làm gì?”

“Chị sẽ lôi nó ra... rồi chân em sẽ không còn đau nữa.”

Chị nhấc cái cào lên, từ tận cái rãnh xa xăm nhất dưới giếng. Có biết bao nhiêu dòng nước chảy bên trong một dòng nước. Cái cào bị kéo lê đi trong bàn tay nắm chặt của chị. Những tia nước. Mọi thứ từng bị chìm dưới đáy giếng cuộn lên trong một dòng xoáy. Giờ chị sẽ đi đâu sau khi rời khỏi trái tim tôi? Tôi không biết là nơi nào, nhưng hẳn là nó không phải giữa một xoáy nước, dưới lớp trầm tích hay bên trong sự im lặng tuyệt đối. Vì trong trái tim tôi, những câu chuyện mới đang trào lên, tràn trề hy vọng và mong ước.

Tôi tình cờ nhìn thấy người đàn ông của chị Hee Jae chỉ đúng một lần. Đó là trên một con đường nhộn nhịp ở Myeongdong, vào buổi đêm và tôi thì đang ở trên xe buýt. Tôi đang đứng, người lắc lư, tay siết chặt cái tay nắm xe buýt thì thấy bên ngoài cửa kính xe, một người đang bước xuống lòng đường dưới tán cây. Giữa đám đông ở bến xe buýt đang chen chúc hết về một phía để chuẩn bị lên xe, anh ta lại bước xuống lòng đường bên dưới cái cây, hoàn toàn lạc lõng với con đường về đêm chốn thành thị. Hình ảnh ấy đã thu hút ánh mắt tôi, và rồi tôi nhận ra đó là anh ta. Anh ta chỉ đứng ở đó. Anh ta không tìm cách lên xe buýt cũng không định bước đi, chỉ đứng đó dưới lòng đường, lưng tựa vào cây. Nhăn mặt lại mỗi lần có một chiếc taxi chạy qua, như thể ánh đèn làm anh ta nhức mắt.

Một cơn gió lạnh vút qua. Đang giữa đêm hè mà tôi cảm thấy mặt mình trở nên buốt giá. Tôi thậm chí còn rùng hết cả mình. Tôi bước tránh xa cái giếng, tơ hơ ở đó không được đậy nắp lại. Tôi băng qua sân bước lên trên hiên, và khi ngoái nhìn lại giữa lúc mở cửa phòng, tôi nhìn thấy ánh sao đang tuôn chảy vào trong giếng, tràn đầy. Nước và rêu, được ấp ủ bằng ánh sao, sẽ dậy lên một thứ mùi thậm chí còn tươi mát hơn. Tôi bước vào trong phòng và vùi mặt vào gối. Bố mẹ đang nằm ngủ cạnh nhau, căn phòng lấp đầy tiếng thở của hai người.

Buổi chiều mẹ ra vạt rau nhặt một rổ đầy rau khoai lang.

Tôi quay về thành phố trên chuyến tàu lúc sáu giờ bốn mươi phút. Mẹ đã tước vỏ từng thân rau một. Khăng khăng rằng nếu ướp gia vị từ trước vị sẽ không ngon, mẹ muối kim chi rau khoai lang cho tôi ngay trước khi tôi lên đường, nén vào trong hộp đựng rồi cất vào trong túi cho tôi. Bố lấy xe máy ra, nổ máy và chở tôi tới ga. Trên con đường quốc lộ dẫn chúng tôi rời khỏi làng, bố tăng tốc. Tôi siết chặt nắm tay quanh eo bố để tránh lắc lư. Bố sẽ sớm xây nhà mới. Nếu bố cứng rắn hỏi ý kiến của tôi, tôi sẽ ủng hộ bố. Tôi sẽ thuyết phục những người khác trong gia đình còn đang lưỡng lự. Vì ngôi nhà mới trong viễn cảnh của bố có sáu cái chìa khóa. Vì những chiếc chìa khóa sẽ nối kết chúng tôi với nhau, giữ cho chúng tôi không chia tách. Bố mua vé và xách túi vào tận sân ga cho tôi. Khi nào lên đến nơi nhớ gọi điện về nhà nhé. Khi tàu đến, bố lên tàu cất túi lên cái giá hành lý phía trên đầu chỗ ghế tôi ngồi. Ở ghế bên cạnh tôi, một cậu thiếu niên đang ngủ ngon lành. Bàn tay cậu nắm chặt lấy chỗ tì tay để tránh rung lắc. Các móng tay của cậu cáu bẩn. Vừa như bị dính dầu lại vừa như lâu ngày không được rửa. Khuôn mặt trông nghiêng của cậu toát lên vẻ lạnh lùng, tóc bù xù xòa xuống che hết trán. Cậu thiếu niên cứ thế ngủ cho tới tận khi tàu vào ga Suwon. Khi loa thông báo điểm dừng tiếp theo là ga Yeongdeungpo, tôi lay cậu dậy.

“Đi qua ga Yeongdeungpo rồi ạ?”

Chỉ đến lúc đó cậu thiếu niên mới giật mình mở mắt ra. Thân hình cậu có vẻ ẻo lả nhưng đôi mắt cậu to và sáng. Tôi bảo cậu thiếu niên đang bối rối rằng tàu đã qua ga Suwon rồi và sẽ đến ga Yeongdeungpo ngay thôi, cậu thiếu niên bình tĩnh lại, đáp, Vâng, rồi lại tiếp tục cuộn người trong ghế.

Nếu tôi xuống tàu ở ga Yeongdeungpo, tôi có thể đi tàu hỏa đến đó.

Một lần nữa, tôi lại phớt lờ con sóng đang cuộn lên trong lòng. Mang theo cái túi nặng trịch kia ư? Cái túi to tướng đựng món kim chi rau khoai lang của tôi đang nhìn tôi chằm chằm từ trên giá hành lý. Tôi đứng dậy định lôi cái túi nặng trịch đang nhìn mình chằm chằm xuống thì cậu thiếu niên đề nghị, Để em giúp cho. Cậu nhẹ nhàng tóm lấy cái túi và đặt nó xuống sàn. Trong khoảnh khắc, từ người cậu thiếu niên toát lên thứ mùi của một công nhân thép lành nghề.

“Cảm ơn em.”

Cậu thiếu niên mỉm cười rụt rè. Để lộ hàm răng như hạt lựu. Cậu không ngồi xuống mà tiến thẳng về phía cửa. Cậu chẳng mang theo gì, dù chỉ là một cái túi như mọi người, nhưng dáng người nhìn từ đằng sau của cậu thật từng trải. Giữa sự lưỡng lự, xao xuyến và tuyệt vọng, con tàu đã đến ga Yeongdeungpo. Tôi chuyển sang chỗ cậu thiếu niên ngồi lúc nãy. Nhanh nhẹn quá. Cậu đã đến tít cuối sân ga. Khi ngủ cuộn mình trên ghế, cậu có vẻ thật tội nghiệp, nhưng giờ, sải bước trên sân ga, nhìn cậu tràn đầy khí lực. Tôi chợt nghĩ rằng biết đâu cậu đã không còn là một cậu thiếu niên nữa. Khi món tóc lòa xòa trên trán đã được gạt lên, khuôn mặt dài của cậu, chẳng hiểu sao có vẻ lạnh lùng, lại khiến tôi liên tưởng đến một con hươu cao cổ. Đoàn tàu chuyển bánh và cậu bắt đầu chạy, như thể đang đua với đoàn tàu.

A a, mắt tôi mở to.

Đây có phải ảo ảnh hay không? Quả là một đôi chân đẹp đẽ. Nhanh hơn cả những bánh xe thép của con tàu. Đôi chân được rèn luyện cứng cỏi đến hoàn hảo, như thể sẵn sàng chạy với tốc độ bảy mươi dặm một giờ. Đôi chân đẹp đẽ của cậu thiếu niên rời khỏi sân ga trước cả khi đoàn tàu rời ga Yeongdeungpo. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm vô thức bật ra khỏi môi tôi. Tôi đặt tay lên cửa sổ toa tàu đang lao vun vút, những bánh tàu xình xịch xình xịch nhịp nhàng. Cử chỉ đặt tay lên cửa sổ toa tàu rất tự nhiên của tôi đã làm hồi sinh lại, dù mờ nhạt, một lời hứa từ quá khứ, một lời hứa đã sắp chìm vào quên lãng.

Trên đường tới điểm cuối, ga Seoul, đoàn tàu sẽ đi qua ga tàu hỏa Garibong.

Giữa những ngày tháng cô độc sống trong bức tranh sinh hoạt ấy, hình ảnh thường được tôi chật vật gợi về trong tâm trí của mình chính là hình ảnh những con chim trong cuốn sách ảnh chị họ đã cho tôi xem vào cái đêm lên thành phố, dưới bầu trời đêm xa xăm, những con chim đang say ngủ, mặt hướng lên các vì sao, cao vời và đẹp đẽ. Tôi đã cố sống qua quãng thời gian trong bức tranh sinh hoạt bằng cách nỗ lực tự hứa với lòng mình rằng, một ngày nào đó, tôi sẽ đi để tận mắt nhìn thấy những con chim ấy. Nhiều năm tháng sau này, ngay cả khi cô đơn giữa những mệt mỏi của việc sống qua ngày và sự thiếu vắng những mối liên hệ với con người, tôi vẫn chưa bao giờ từ bỏ cái mong muốn rằng một ngày nào đó, tôi sẽ đi để được tận mắt nhìn thấy chúng, những con chim trong cuốn sách ảnh của chị họ đêm hôm đó, những con cò bạch. Trong rừng, trong khu rừng đã được phủ tấm màn đêm, đàn cò bạch tựa vào nhau san sát, trùm giấc ngủ lên khắp khu rừng một cách tuyệt đẹp, như thể chúng đã tha thứ cho hết thảy mọi sự trên đời. Một ngày nào đó, tôi sẽ lên đường, với cánh tay rung rung khi tì trên cửa sổ toa tàu, vượt qua dãy núi chặn ngang trước mắt - càng vào những tháng ngày buồn bã và cô độc tôi lại càng thầm nhủ với lòng mình như thế, không để bất kỳ ai hay. Mười bảy năm đã trôi qua kể từ lời hứa đó, vậy mà tôi vẫn chưa thể lên đường để nhìn ngắm đàn chim.

Có phải gần đây không nhỉ?

Nơi anh cả, đầu đội tóc giả, đã đợi chuyến tàu tới Anyang; nơi chị họ lên đường tới trung tâm học thêm ở Jonggak thay vì tới trường, với niềm hy vọng sẽ trở thành một nhân viên trực tổng đài điện thoại; nơi anh ba đã đứng đợi trước khi lên đường về nông trang, hành lý trên lưng chẳng có gì ngoài sách vở. Ahn Hyang Sook thuận tay trái có phải vẫn đang viết bằng tay trái hay không?

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, mắt mở to chăm chú.

Xa xa, những ống khói nhà máy vươn cao mạnh mẽ. Tôi ước gì đoàn tàu chạy chậm lại. Tôi ước gì có chút ánh sáng chiếu rạng lên nơi đó. Tôi nhìn cánh tay mình đang tì trên bậu cửa sổ. Nó lắc bên này bên kia, theo đà rung lắc của con tàu. Cái khoảnh khắc tôi bất chợt nghĩ rằng, đây chính là nơi ấy, một con cò bạch đã vỗ cánh trong trái tim tôi.

Giờ hãy bay đi, không cần lưỡng lự, hãy bay tới khu rừng. Hãy vút lên vượt qua dãy núi chắn ngang tầm nhìn. Hãy ngủ thật cao vời và đẹp đẽ dưới bầu trời đêm xa xăm, mặt hướng lên các vì sao.

Vì hết năm này qua năm khác em cũng sẽ chẳng bao giờ quên chị, nên một ngày nào đó, hãy quay lại dưới hình hài một câu mới nhé. Hãy quay lại để kể em nghe cái sự thực đã trỗi dậy rồi biến mất tại những nơi hơi thở em không chạm tới được. Giờ chúng ta hãy chào tạm biệt thôi. Hồi đó chúng ta đã thậm chí chẳng thể tạm biệt nhau. Tôi nhấc tay lên khỏi bậu cửa sổ và đứng dậy. Tôi bước ra cửa, như thể bám theo cậu thiếu niên. Cứ như thể cậu đang chạy băng qua thảo nguyên. Tôi đứng đó, nơi đôi chân khớp nhịp và cứng cỏi của cậu đã nấn ná trước khi lao xuống sân ga, và vận hết sức đẩy mở cánh cửa. Tôi thò tay ra ngoài, chộp lấy một nắm tay không khí, rồi lại thả nó ra.

Tạm biệt... Em sẽ trân trọng giữ gìn những quan tâm, chăm sóc chị dành cho em.

Trong bất kỳ tình huống nào, trong bất kỳ mối quan hệ nào, tôi không bao giờ có thể nói năng cư xử theo như mình mong muốn. Đến lúc tôi ngẩng đầu lên định nói một điều gì đó, anh đã đi xa mất rồi. Những điều còn sót lại, chưa nói chưa làm được với anh, đã trở thành tiểu thuyết. Có nghĩa là, anh chưa một lần nghe lời tôi nói. Tuy nhiên, giờ tôi đang hoang mang tột độ. Tôi khát khao được quay trở lại quãng thời gian khi tất cả những điều chưa nói chưa làm được vẫn chưa trở thành tiểu thuyết và vẫn còn nằm ở tương lai. Quay lại quãng thời gian khi sự chỉnh sửa và thêm thắt và những câu hỏi dành cho chính bản thân tôi vẫn còn nguyên vẹn. - 8 tháng Tám, 1995.

Tôi đến đảo Jeju. Tôi đã quay lại nơi tôi bắt đầu viết tác phẩm này. - 26 tháng Tám, 1995.

Tôi vẫn nhớ một năm trước tại chính nơi này mình đã viết rằng, Ở đây là đảo, đảo Jeju... Đây là lần đầu tiên tôi viết khi ở xa nhà. Phải, đã một năm rồi. Một năm qua của tôi đã trôi cùng những dòng chữ này. Đó cũng là một năm tôi đã không thể động tay sáng tác bất kỳ tác phẩm mang danh tiểu thuyết nào khác ngoài tác phẩm này. Thỉnh thoảng, trong tôi lại dấy lên thôi thúc muốn sáng tác một truyện ngắn, nhưng tôi đã chẳng thể thực hiện được. Trong thời gian viết cuốn sách này, tôi đã kìm nén rất nhiều thứ trong lòng, hết lần này đến lần khác, đến nỗi giờ đây tôi còn thấy lo lắng không biết liệu tôi có thể quay lại như xưa được nữa hay không. Tôi dấy lên hy vọng rằng, trong thời gian tôi ở đây, dành thời gian thong thả đọc lại và trau chuốt cuốn sách, những lớp trái tim đang chìm khuất của tôi sẽ được phục hồi. Tôi cũng bất chợt nghĩ ra rằng, thói quen của tôi, cái thói quen dừng lại giữa chừng, bất kể lúc đó đang ở đâu và cố gắng quay trở lại điểm khởi đầu, có lẽ là một sự phù phiếm thoát ly khỏi cuộc sống. - 26 tháng Tám, 1995.

Tôi đi bơi đêm ở bãi biển Hyeopjae. Đây là lần đầu tiên tôi bơi ngoài biển. Thỉnh thoảng tôi lại bị một trận đau đầu không thể chịu nổi. Giờ thì ít thường xuyên hơn, nhưng có những dạo tôi phải vật lộn với cơn đau hằng ngày. Mỗi khi bị nó tấn công, tôi mất hết ý chí, và đầu gối tôi khuỵu xuống, bất kể chỗ nào. Đến lúc tôi cảm thấy đầu óc quay cuồng đến độ thậm chí còn không thể rời khỏi giường mở cửa ra khỏi phòng được, bác sĩ khuyến cáo tôi nên đi bơi. Tôi làm theo lời khuyên của ông. Là như thế đấy. Chẳng có chuyện gì tôi không sẵn lòng làm, miễn là đầu tôi thôi đừng đau nữa. Vậy nên tôi tới bể bơi để học bơi. Bơi tự do, bơi ngửa, bơi ếch. Khi ở trong nước, tôi quên hết thảy mọi điều. Nước dịu dàng ve vuốt cơn đau đầu của tôi. Đặc biệt, bơi ngửa thư giãn đến độ tôi còn ngủ thiếp đi. Từ hồi đó, tôi coi bơi như một liệu pháp chữa bách bệnh, tiến thẳng đến bể bơi cả khi bị đau lưng hay đau vai. Nhưng tôi không bao giờ ngờ được rằng sẽ có lúc mình bơi cho vui giữa đêm, ngoài biển. Tôi cũng không bao giờ ngờ rằng lần bơi biển đầu tiên của tôi lại vào giữa đêm. Tôi nằm ngửa trên mặt nước, vươn tay hết sức bơi ra thật xa. Cảm giác làn nước chạm vào lưng tôi, xoa dịu trái tim tôi. Bồng bềnh trên mặt nước, tôi cảm giác như thể cái thành phố vừa mới bị tôi bỏ lại mười tiếng đồng hồ trước giờ đã thành một chốn xa tít mù khơi. Căn hộ trống vắng của tôi, cuộc sống mà đến hôm qua vẫn còn bận rộn của tôi nơi thành phố, tất cả dường như không thật chút nào. Bàn viết của tôi đã được dọn trống trơn và bếp gas im hơi lặng tiếng. Chuông điện thoại sẽ reng và máy trả lời tự động sẽ nhận cuộc gọi thay cho tôi. Những vì sao trên bầu trời đêm đổ tràn vào trong mắt tôi. Vào thời khắc nhận thức được ánh sáng nhấp nháy của các vì sao, tôi đột nhiên đánh mất thăng bằng, chấp chới. Nước biển mặn tràn vào trong miệng tôi, mắt tôi. Ai đó đã nói rằng nước biển là thứ chất lỏng gần với chất dịch màng ối nhất. - 26 tháng Tám, 1995.

Suốt cả buổi sáng, tôi ngồi trông ra biển. - 28 tháng Tám, 1995.

Tôi bắt xe buýt tới xã Hallim. Tôi mua một bộ đồ khâu từ người bán hàng rong, với những cuộn chỉ nhiều màu, những cây kim nhiều kích cỡ luồn sẵn chỉ và cả một hộp đồ khâu. Tôi đã tìm kiếm một bộ như thế này khắp nơi nhưng ở thành phố, thứ duy nhất tôi tìm được chỉ là những bộ đồ khâu dùng một lần, và ở đây, người ta đang bán chúng ngay trên đường. Hồi còn trẻ, tôi vẫn thường lấy hộp đồ khâu của mẹ ra nghịch. Ở trong bộ đồ khâu đó có đủ mọi thứ. Chỉ màu, cúc vỡ, đinh rệp, mảnh vải nhỏ, đê, kéo, ghim cài, kim to, kim nhỏ... Thỉnh thoảng, khi được hỏi về phương pháp sáng tác của mình, rằng liệu tôi có lên sẵn một cấu trúc hoàn chỉnh trước khi viết hay không, tôi lại nghĩ đến bộ đồ khâu của mẹ. Tôi không dựng trước cấu trúc. Tôi cũng không có thói quen ghi chú. Nếu tôi ghi chú để sáng tác dựa vào đó, tư duy của tôi sẽ mất sự linh động và tất cả sẽ chỉ dừng lại ở trạng thái ghi chú chứ không thể tiến triển thêm nữa. Thông thường, những thứ bất thình lình từ đâu đó nhảy vào trong tiềm thức hoặc vô thức của tôi sẽ tạo nên các câu. Thỉnh thoảng, chúng bùng nổ, hiện lên giữa lúc tôi đang bám theo câu trước đó. Chính bởi vậy nên nhiều khi tôi không biết tác phẩm của mình sẽ thành ra như thế nào, mà phải đợi cho tới tận khi đã viết xong xuôi. Tất cả những gì tôi phải làm chỉ đơn giản là mở bộ đồ khâu ra và nhìn chăm chăm vào những sợi chỉ màu, kéo, kim và cúc vỡ. Khi tôi bám theo câu trước đó, thoát ra khỏi bộ đồ khâu và dừng lại, thỉnh thoảng sẽ xuất hiện những sợi chỉ hay cái cúc ẩn náu sâu hơn trong tầng lớp tâm trí của tôi. Giống như con rùa rụt cổ vào sâu trong mai. Tôi không thể cố tình lôi những thứ đang ẩn trốn bướng bỉnh ấy ra được. Nhưng thứ tôi nâng niu nhất lại chính là những thứ bướng bỉnh giấu mình đi ấy. Tôi tin rằng sự thực trong những thứ đang ẩn trốn và nhất định không chịu bị lôi ra đó, rồi một ngày kia sẽ trở thành sự nhạy cảm thẩm mỹ cho phép tôi nhìn cuộc đời từ một góc độ khác mà quay trở lại với tôi. Rằng cho dù ta ở đâu, cho dù ta sống cuộc đời như thế nào, văn học sẽ không quên tính cao quý của sự thực này.

Tôi vào sâu trong chợ và mua một cái khăn tắm to. Tôi còn mua cả một cái bếp dã ngoại, một hộp ga cho bếp, một cái ấm và một hộp cà phê hòa tan Maxwell. Ở một cửa hàng khác, tôi mua hai hộp mì ăn liền và một hộp bánh bích quy, rồi sau khi đã trả tiền xong xuôi đi ra ngoài tôi lại quay vào mua thêm hai lon bia Hite. - 29 tháng Tám, 1995.

Giữa đêm, tôi mang hết tiền xu ra ngoài gọi điện cho mọi người ở thành phố. P bảo tôi đúng là người có số ngồi mát ăn bát vàng, còn J hỏi, Cậu đã ăn tối chưa? H bảo chị ấy sẽ đi thăm mộ bố. Rằng đã ba năm rồi cô chưa đi. Em gái hỏi có phải tôi đang ở đây một mình không. Nghe tôi bảo đúng vậy, em bỗng hỏi bằng giọng u sầu, Chị có muốn em đến không? Tôi cũng bỗng cảm thấy trong lòng trào dâng cảm giác u sầu và hỏi, Em muốn đến thật à? Ngoài buồng điện thoại, biển đêm đang cuộn trào sóng sánh. - 30 tháng Tám, 1995.

Tôi đang vừa ăn sáng vừa lật giở tờ báo buổi sáng ở sảnh khách sạn thì cảm thấy có một hạt cơm mắc vào trong cổ họng. Bức ảnh của tôi, trên báo. Khi nào thì tôi mới thôi giật mình sửng sốt mỗi khi bắt gặp ảnh của mình ở những nơi không ngờ tới. Dòng chữ in cỡ lớn bên cạnh tấm ảnh viết, “Cô gái công xưởng quê mùa mười sáu tuổi mơ ước trở thành nhà văn”. Tôi cảm thấy hai má mình đỏ phừng phừng. Sợ rằng nhân viên lễ tân sẽ nhận ra mình, tôi bèn cầm theo tờ báo có in bức ảnh của tôi lên tầng, quay về phòng. - 31 tháng Tám, 1995.

Tôi ra ngoài đi dạo và theo chân biển báo tới công viên Hallim. Khi vừa bước vào trong, mắt tôi mở tròn. Đây không phải một công viên bình thường. Có hàng nghìn loài cây cận nhiệt đới quý hiếm đang thở rì rào. Người ta đã vận chuyển hai nghìn xe tải chở đầy đất đổ vào khu sa mạc cằn cỗi rồi canh tác và gieo hạt của những loài cây cận nhiệt đới xuống, sau đó chăm bón suốt hai mươi năm để tạo thành vườn thực vật này. Mà thế vẫn chưa phải là hết. Còn quy mô khổng lồ của những hang động xung quanh nữa! Những loài cây cận nhiệt đới nở hoa huy hoàng rực rỡ. Màu sắc của chúng sống động đến độ không một loại màu vẽ nào có thể tái hiện lại được. Bàn tay tôi vô thức vươn ra phía trước, lòng tôi băn khoăn, Liệu chúng có thể là thật không? Một vài cây có lá cứng và nhọn đến mức có thể đâm thủng bàn tay, có lẽ đó là một yếu tố bắt buộc để sống sót ở vùng sa mạc. Cánh tay tôi đã bị chọc vào lúc đi qua một cây thùa Mexico, để lại một vết thương ứa máu khiến cho lúc về tôi phải bôi thuốc mỡ. Những cây này đã khiến tôi nhận ra những loài cây bản xứ mới đoan trang kiểu cách và bị thuần hóa đến mức nào. Bên cái ao có hàng chục con cá chép đang bơi, một con rùa đang nghỉ ngơi trên hòn đá, nghểnh cổ về phía bầu trời, lúc tôi lại gần nó bèn bò tõm xuống nước. Hay có khi nó là một con rùa biển chứ không phải rùa nước ngọt nhỉ? Tôi đến giờ vẫn không phân biệt được chúng. Tôi đi theo một hướng dẫn viên thăm hai động Hyeopjae và Ssangyong. Lúc tiến lại gần, tôi có thể cảm nhận được một luồng không khí lạnh lẽo thoát ra từ trong động. Vừa đặt một bước vào bên trong, tôi đã rùng mình vì lạnh. Người hướng dẫn lia đèn lên một góc động và chỉ ra rằng ở đây mọc nhiều măng đá vốn không thể hình thành trong những hang động dung nham. Măng đá? Tôi đã băn khoăn không hiểu. Đúng như tên gọi, măng đá là măng bằng đá. Đá mà cũng mọc và lớn lên ư? Người hướng dẫn giải thích rằng măng đá được hình thành trên nền hang bởi nước mưa chứa các hợp chất hòa tan ngấm vào lớp cát vỏ sò dày, và cứ một trăm năm lại mọc thêm được một xăng ti mét nhờ được bồi đắp bởi nước vôi nhỏ từ trên trần xuống. Mỗi một trăm năm mọc được một xăng ti mét? Tôi không kinh ngạc mà thấy hoảng sợ bởi vô vàn măng đá đủ mọi kích cỡ đang lộ ra dưới ánh đèn pin của người hướng dẫn viên. Người hướng dẫn chỉ vào một trong số các măng đá nói, Cái đó cao hai mươi xăng ti mét, có nghĩa là nó đã phát triển được hai nghìn năm rồi. Nền hang Ssangyong không chỉ có cát mà còn có cát vỏ sò. Từ ngày xửa ngày xưa, đây có lẽ đã là một phần của biển cả. Quá trình gì đã khiến cho vỏ sò biến thành cát mịn như thế này? Người hướng dẫn chĩa đèn pin lên trần, chiếu sáng một thứ được anh ta giải thích là dấu vết của hai con rồng để lại trong lúc trốn chạy dung nham phun trào. Ánh đèn pin phô bày hình dáng kéo dài của hai con rồng. Đầu này là đầu đầu kia là đuôi, chúng đang vươn về phía ánh sáng bên ngoài hang. Sự di chuyển mau lẹ. Ánh sáng chỉ rọi vào phần trần hang nơi những con rồng đã chạy trốn qua. Tôi cảm thấy trán lạnh toát khi nghĩ rằng những con rồng đã từng sống ở nơi đây. Trước dòng dung nham nóng bỏng sôi lục bục đang rót vào, những con rồng đã phát ra những âm thanh nào, đã mang những cảm xúc nào trong lúc chạy trốn về phía ánh sáng? Tôi hoảng sợ trước sức mạnh thiên nhiên đã nhận chìm cái hang. Những hòn đá xoắn vặn hình thành từ dòng dung nham sôi sục đã nhanh chóng cứng lại dưới những hình dạng hoặc phức tạp tinh vi hoặc méo mó chẳng ra cái gì, và có vô vàn cái hố trên nền hang, sinh ra bởi những giọt nước đá vôi nhỏ bất tận vào cùng một vị trí. Tôi cũng bị những giọt nước đá vôi mát lạnh rơi vào người. Chính những tảng đá hình thành một cách tự nhiên đã phần nào xoa dịu nỗi sợ hãi của tôi. Làm sao mà những hình thù đó lại tự nhiên thành hình được nhỉ? Có một tảng đá dường như là bản sao y xì của bức tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Người mẹ đứng, u sầu bế đứa con trai. Tôi đã chụp một bức ảnh lấy ngay trước tảng đá mang hình một chú gấu con đang cúi người rửa mặt và một tảng đá trông tựa như một con rùa đang cõng con thỏ. Tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên trước bức ảnh lấy ngay hiện ra lúc đó. - 1 tháng Chín, 1995.

Vợ chồng em gái đưa con tới đảo Jeju chơi. Thằng bé mới đến với thế giới này chưa đầy hai năm. Nó duy trì khoảng cách khoảng một mét với tôi. Tôi muốn bế nó nhưng thằng bé lại chỉ quấn mẹ. Nó chỉ mủi lòng chui vào vòng tay tôi khi tôi vỗ tay thật to, trợn mắt lên thật buồn cười và sủa lên hay hát một bài hát hài hước, Thẳng tiến ra biển, đi câu cá nào. Và nó cũng chỉ làm vậy khi nào mẹ nó ở cạnh tôi. Tôi thấy thật cảm động, cái cách mà bản năng của thằng bé ngay lập tức cảm nhận được sự hiện diện của mẹ nó. Nó có vẻ như đặt trọn niềm tin vào sự tồn tại được gọi là mẹ. Ngay cả lúc đang ngủ, nó vẫn gọi, Mẹ ơi. Rồi khi em gái tôi ở đâu đó cất tiếng trả lời, ơi, là thằng bé lại chìm vào giấc ngủ. Nhưng nếu không nghe thấy mẹ nó trả lời, ngay lập tức nó sẽ mở bừng mắt ra và nhìn quanh, gọi, Mẹ ơi... Và nếu em tôi không xuất hiện trong tầm mắt, nó sẽ tỉnh giấc luôn, lũn chùn đi về phía cửa và vừa đập vừa khóc, Mẹ ơi. Cậu bé con nức nở, khuôn mặt vùi trong bàn tay. Cho dù tôi có dỗ dành đến thế nào thì cũng chỉ hoài công vô ích, nhưng lúc mẹ nó đến ôm vào lòng, nỗi buồn của nó liền tan biến ngay. Nó thậm chí còn mỉm cười thở phào, chớp chớp đôi mắt đen ướt nước mắt. Cũng từng có thời tôi giống y như thằng bé. Khi tôi đặt trọn sự tin tưởng vào mùi của mẹ, khi tất cả những gì tôi làm là bám theo mẹ đến mọi nơi, khi tất cả những gì tôi cần chỉ là mẹ. - 2 tháng Chín, 1995.

Tôi nhìn chằm chằm xuống mặt nước và thấy nhiều con ốc xà cừ đang bò. Lúc tôi nhặt một con lên và nhìn vào bên trong thì phát hiện ra đó là một con cua mượn xác, không chỉ một mà rất nhiều con như vậy. Tôi nhặt một cái vỏ ốc khác lên, lại thấy một con cua nữa. Những con cua mượn xác bò vào bên trong vỏ ốc, ăn thịt con ốc xà cừ và biến vỏ ốc thành nhà của mình. - 3 tháng Chín, 1995.

Vợ chồng em gái tôi cùng con rời đi từ sáng sớm. Khi thằng bé đến, nó mới chỉ có thể nói được những từ như tu tu xịch xịch, lấp lánh lấp lánh, mẹ và âm tiết thứ hai của từ bố - ố. Trong ba ngày thằng bé ở đây, bất cứ khi nào có cơ hội tôi đều vừa chỉ tay ra biển vừa thì thầm vào tai nó từ biển. Và cuối cùng, hôm qua, nó cũng đã nói, “bb-biển”, nhấn mạnh âm tiết đầu tiên. Tôi không biết liệu khi nói “bb-biển” nó muốn nói đến biển hay đầu ngón tay tôi nữa, nhưng khi chúng tôi tạm biệt nhau, nó đã chỉ tay về phía tôi và hét lên, “bb-biển”. Trở lại một mình sau khi tiễn gia đình em gái ra sân bay, giọng nói trong vắt như pha lê mà thằng bé để lại cứ vương vấn trong tai tôi - “bb-biển”. Mọi cử động của thằng bé đều khiến trỗi dậy mối thương cảm và sự yêu thương lớn lao. Hai cái mông mềm mại của nó, đôi mắt sáng long lanh, những ngón tay bé xíu dễ thương. Sự dẻo dai ấy dường như là phương pháp sinh tồn của trẻ con. Những hành động theo bản năng đã buộc những người có sức mạnh phải bảo vệ chúng. Ở công viên điêu khắc, trong lúc chúng tôi bị thu hút bởi những tác phẩm nghệ thuật ấn tượng, thằng bé lại chạy đuổi theo con bướm vàng trên bãi cỏ. Ở vườn cây cảnh nghệ thuật, trong lúc chúng tôi chìm đắm trong những hàng cây được cắt tỉa bằng kéo đến hoàn hảo, thằng bé lại nằm sấp xuống sàn ngắm đàn kiến đen đang bò. Ở bãi biển, trong lúc chúng tôi ngắm nhìn biển cả xa xăm, thằng bé lại lạch bạch bám theo những con cá tuế rải rác quanh chân nó. Nó chỉ bộc lộ mối quan tâm tới những thứ tự nhiên, những thứ chuyển động... Tôi quay lại khách sạn ngủ suốt cả ngày. Vết nước khoáng trên khăn trải giường do thằng bé làm dây ra. Mùi trẻ con vương trên gối tôi. Mỗi lần ánh mặt trời khuấy động tôi thức dậy, thằng bé lại xuất hiện, ở kia, mơ hồ. - 5 tháng Chín, 1995.

May mắn biết bao đảo Jeju lại là một phần của đất nước này. - 6 tháng Chín, 1995.

Mai là lễ Trung thu. Trung thu năm ngoái, khi bắt đầu viết cuốn sách này, tôi cũng đang ở đây. Đã hai năm liền tôi trải qua ngày lễ Trung thu trên hòn đảo này. - 8 tháng Chín, 1995.

Đây có phải là dấu hiệu của tuổi già không? Nhớ ra giờ đang là Trung thu, tôi đột nhiên cảm thấy cô đơn khi chỉ có một mình ở đây. Tầm buổi trưa, tôi xuống dưới sảnh gọi bữa trưa, nhưng canh có vị chua, như thể bị để thừa từ hôm qua. Tôi bỏ thìa xuống và quay lên phòng. Trên ti vi, những phụ nữ làm việc ở cửa hàng bánh gạo truyền thống ở Nakwondong đang thi làm songpyeon. Trong đôi tay họ, những chiếc bánh hình bán nguyệt nhanh chóng thành hình, bóng loáng rực rỡ. Tôi đợi cả ngày. Đợi cái gì? Một cuộc điện thoại? Một chuyến thăm? Trên bãi cắm trại ở bờ biển ngoài kia, dân làng đang chơi bóng chuyền. Tôi dõi mắt nhìn theo một cậu thanh niên có cú giao bóng mạnh mẽ, tích cực cổ vũ cậu ta. Điện thoại không đổ chuông. Chiều muộn, tôi khoác áo ngoài đi ra biển. Biển, trong triều thấp, để lộ bãi triều dài hàng nghìn mét. Trong những con sóng lăn tăn ở mép triều, trẻ con đang bắt cua, một cặp khách du lịch nước ngoài, một nam một nữ ngồi trên ghế gấp, lưng phơi ra. Một người đàn ông đứng ngâm chân trong nước vung cần xuống biển câu cá. Một cô bé trong đám trẻ đang bắt cua nhận ra tôi. Vài ngày trước cô bé đã cùng em trai đi nhặt sò ngoài này và tôi đã cùng cô bé ra sức đào cát. Cô nhìn này. Cô bé mở cái túi nylon ra cho tôi xem, bên trong có tầm mười con cua đang ngọ nguậy. Những mai cua màu cát lóa mắt. Tôi chưa từng nhìn thấy cua màu cát bao giờ. Con cua vờ gắp gắp lấy ngón tay rồi kẹp thật chặt. Tôi đào cát, cố bắt một con cho cô bé nhưng chẳng tài nào bắt được dù chỉ một con. Phía trên mép bãi triều, hai cô gái trẻ đang chụp ảnh. Tôi từ bỏ nỗ lực bắt cua và đang đi bộ trên bãi biển dọc con triều thì hai cô gái nhờ tôi chụp ảnh hộ. Biển xa xăm nhìn qua ống ngắm. Trong một thoáng, tôi quên mất không bấm nút, bị mê hoặc bởi biển cả thu vào trong ống ngắm, cứ đứng đó ngâm chân trong sóng triều. Hai cô gái lấy lại máy ảnh và đi bộ về phía bên kia bãi triều. Chẳng biết có gì buồn cười mà họ hết nhìn nhau phá lên cười rồi lại tay nắm tay, vỗ vào lưng nhau. Trước mặt họ, hai con chó đang chơi đùa, mình phủ đầy cát. Người đàn ông đứng ngâm chân trong nước, cần câu vung về phía biển, quay liếc nhìn tôi. Tôi bước tiếp vài bước rồi vô thức quay nhìn lại thì thấy anh ta lại đang liếc nhìn tôi. Tôi đi nhanh hơn, kéo dài khoảng cách với anh ta. Mỗi lần ở ngoài bãi biển, tôi lại cảm thấy mọi sinh vật, dù là người hay động vật, đều có vẻ tự nhiên hơn khi bầu bạn với nhau. Thậm chí đến cả con sò hay con cua. Ngay cả một hòn đá trong biển cũng thu hút sự chú ý khi nó nằm lẻ loi một mình. Huống hồ là tôi, một con người. Khi tôi rời khỏi bãi triều, mặt trời đang lặn nhưng trận thi đấu bóng chuyền trên bãi cắm trại vẫn tiếp tục. - 9 tháng Chín, 1995.

Dường như mùa thu đã đến. Sáng sáng tối tối, cánh tay tôi lại nổi da gà. Gió biển cũng đã lạnh hơn. Tôi không mang theo quần áo mùa thu trong hành lý. Hẳn đã đến lúc quay về rồi. - 10 tháng Chín, 1995.

Chỉ đến giờ tôi mới gọi họ là bạn, những con người phải liên tục cử động mười ngón tay để duy trì công việc sản xuất, không tên và cũng hoàn toàn tách biệt với sự đủ đầy của cải vật chất. Tôi sẽ không quên ý chí xã hội đã được họ lan tỏa trong tôi. Không quên rằng họ, những người bạn vô danh của tôi, những người đã khai sinh cho một phần thế giới nội tâm của tôi, y như mẹ đã sinh ra con người tôi... Và rằng tôi, về phần mình, thông qua ngôn ngữ của mình, phải khai sinh cho họ một chốn xứng đáng trong thế giới này. - 10 tháng Chín, 1995.

Sáng sớm, sau khi giặt cái áo sơ mi trắng và phơi nó lên móc treo quần áo ngoài ban công cho khô, tôi đi ra bãi biển. Thủy triều, đã rút xuống đêm qua, giờ đang dâng tràn từ ngoài xa. Tôi có thể nghe tiếng ì oạp của thủy triều xanh thấm vào bãi triều trắng. Nước và cát. Còn có mối quan hệ nào khác hoàn hảo như mối quan hệ tràn vào và tản ra của nước và cát? Tràn vào, rồi rút đi, trong nháy mắt. Cát trắng nơi này sẽ rất đẹp và chắc chắn cho xem. Tôi đứng quan sát thủy triều một lúc, rồi cởi giày ra. Tôi cứ tưởng nước sẽ lạnh nhưng hóa ra lại ấm áp. Cát êm ái bên dưới bàn chân tôi, vậy nên tôi cứ bước mãi. Đôi chân tôi in vết trên bờ cát thanh sạch. Tôi chạy về phía nước đang đổ về bãi cát trắng rồi quay người lại nhìn, thấy những dấu chân cũng đang chạy theo tôi, rồi dừng khựng lại ở nơi tôi đứng. Tôi ngồi sụp xuống bãi triều. Tôi cảm thấy có ai đó đang ngồi xuống cạnh mình, làm tôi nhãng đi một thoáng không tập trung vào tầm nhìn. Mất một lúc lâu thủy triều đang lên mới chờm tới chỗ tôi. Trong lúc chờ đợi, tôi không ngừng liếc sang bên cạnh. Tại sao tôi cứ mãi có cảm giác ai đó đang ở cạnh mình trong khi xung quanh chang có gì ngoài cát nhỉ? Nước dâng lên. Cảm giác thật êm ái khi nước chạm vào chân tôi. Tôi duỗi hai đầu gối đang gập lại ra. Khi thủy triều ùa vào, cù lên bàn chân tôi, bắp chân tôi, mông tôi, eo tôi, tôi những muốn gọi to tên anh. Dường như tôi biết tên anh, nhưng cũng dường như tôi không biết. Tôi những muốn dịu dàng gọi to tên anh nhưng tôi cũng dường như đã quên mất tên anh rồi. Dường như anh ở ngay sát bên tôi, nhưng đồng thời lại cũng rất xa. Điều này đã khiến tôi nhiều khi khổ sở. Anh luôn luôn ở đầu bên kia điện thoại. Sau khi ý thức của tôi bị quét sạch bởi khát khao nhục cảm, còn lại là sự cô độc rất gần với cái chết, như bãi triều trắng đằng sau tôi. Tuy nhiên, bằng cách cảm nhận được sự tồn tại của anh, tôi đã có thể nếm trải sự hân hoan khi được bước dấn thêm một bước vào bên trong con người mình. Thủy triều vượt qua tôi. Anh cũng vượt qua tôi. Ngay cả khi tôi dừng lại, không thể trôi theo thời gian, y như lúc này tôi ngồi tại bãi triều, anh vẫn vượt qua tôi, như thủy triều đang dâng. Đằng sau tôi, anh và thủy triều quyện vào nhau. Tôi nhìn lại phía sau, nhận thấy những dấu chân của mình cũng đã bị thủy triều rửa sạch.

Tôi lại đi bộ tới bãi biển lần nữa vào lúc hoàng hôn. Thủy triều đang rút. Bãi biển, cả ngày chìm dưới nước, giờ thủy triều rút đã để lộ cái lòng trắng của nó, đúng như cách nó hiện ra ban sáng. Triều xuống và triều lên là hai hiện tượng đối lập, nhưng tại một điểm nào đó, thủy triều rút và thủy triều dâng có lẽ cũng giống nhau y hệt như một cặp sinh đôi. Một khi thời điểm đó đã qua đi, chúng lại mang hai nét đối lập nhau rõ rệt, nhưng vào cái thời khắc trước khi chúng tiến về hai hướng trái ngược ấy, chúng đã phơi bày cùng một cảnh tượng giống hệt nhau, rực rỡ chói mắt.

Anh và chị ấy, triều lên và triều xuống, hy vọng và tuyệt vọng... Sống và chết chẳng phải là cùng một từ hay sao?

Trên bãi triều trắng lúc hoàng hôn, hai đứa trẻ đang đào ngao cùng mẹ. Nếu cứ đi mãi theo thủy triều xuống, cuối cùng ta có thể đi xa đến đâu? Tôi nhìn lại phía sau và đôi chân tôi đã hằn vết trên cát y hệt hồi sáng. Tôi chạy lung tung quanh bãi triều. Những dấu chân của tôi cũng chạy lung tung, theo sát ngay sau tôi. Tôi chạy và chạy mãi đuổi theo thủy triều rút, rồi sầm sập lao vào nước và ngồi sụp xuống. Nước dâng lên ngang ngực tôi. Cậu bé đang mò ngao cùng mẹ đứng thẳng lưng dậy và nhìn về phía tôi, có lẽ cảm thấy tôi hành động kỳ lạ quá. Thủy triều rút, chậm rãi. Nước rời khỏi ngực tôi, eo tôi, mông tôi, rồi bàn chân tôi. Nước để tôi lại một mình trên bãi triều trắng, càng lúc càng xa dần. Khi thủy triều đã xa, xa tít mù khơi, tôi nhìn lại phía sau và thứ duy nhất hiện rõ ràng trên bãi triều là những dấu chân tôi. Có vẻ như, không giống buổi sáng, thủy triều đã rút để giữ cho những dấu chân tôi không bị đụng chạm tới. Phải rồi. Tôi đã lẳng lặng phớt lờ thời thiếu nữ của mình. Đó là quãng thời gian tôi không thể yêu bản thản, vậy nên tôi đã phải đi thẳng từ tuổi mười lăm đến hai mươi. Cho dù bước ra từ quá khứ hay bước tới từ hiện tại, những dấu chân của tôi vẫn luôn luôn dừng lại ở cùng một chỗ. Tôi đã hoặc đi từ thời mười lăm đến hai mươi tuổi, hoặc từ thời hai mươi trở lại mươi lăm tuổi. Nếu tôi bắt đầu từ quá khứ, tôi phải phớt lờ tuổi mười sáu, mười bảy, mười tám, mười chín và nhảy cóc thẳng tới hai mươi; còn nếu bắt đầu từ hiện tại, tôi phải phớt lờ tuổi mười chín, mười tám, mười bảy, mười sáu và nhảy cóc thẳng đến mười lăm, bởi vậy những năm tháng ấy với tôi luôn luôn trống rỗng, như ánh mặt trời trần trụi, như cái giếng hoàn toàn bị giấu kín đáy. Từ rất lâu rồi, trong tâm trí tôi, thời thiếu nữ của tôi không có bất kỳ mối liên hệ với người nào khác ngoại trừ gia đình. Tôi đã cố gắng không nhớ tới họ, không nhớ tới chị Hee Jae. Nhưng chỉ cần ý thức lại một chút, trước những mối quan hệ hiển hiện quá rõ ràng này, tôi sẽ lại cư xử như một người mắc chứng quên.

Những dấu chân của tôi trải dài bất tận trên bãi triều. Giờ đây, họ đang ở đâu và đang sống như thế nào? Từ lâu, bất cứ khi nào nghĩ về họ, tôi đều bị choáng ngợp bởi một cảm giác cô độc không tài nào cho rằng cuộc sống thật đẹp đẽ. Mặc dù tôi không nhận ra, nhưng họ vẫn luôn hiện diện vì tôi. Họ cho tôi lòng dũng cảm để ôm lấy sự dơ dáy của cuộc đời mà tôi phải đối mặt từ hồi hai mươi, giúp tôi xem xét lại bản thân và lấy lại bản thân từ nơi của những ham muốn phi lý. Tôi đứng dậy khỏi bãi triều và rời khỏi bãi biển, bước chân sau đè lên dấu chân trước. Những dấu chân in hằn lên trên bãi biển của tôi ngày hôm nay dường như được kết nối với căn phòng hiu quạnh ấy. Với cái nơi tôi đã chạy khỏi và không bao giờ có thể quay lại. Hôm nay, hiện tại rõ rệt nhất của tôi - nếu tôi đi theo những vết chân mình đã in dấu ở đây ngày hôm nay, có lẽ tôi sẽ có thể bước thẳng vào tuổi mười chín mà không phải dừng lại ở tuổi hai mươi nữa. Và có lẽ tôi cũng sẽ có thể quay trở lại tuổi mười lăm, mười sáu. Đây là con đường cho phép tôi hoàn toàn bước ra khỏi căn phòng hiu quạnh. Con đường này không ngừng ra dấu cho tôi. Tôi bước ra khỏi bãi triều, từng bước từng bước một, nhấn lòng bàn chân lên trên cát. Từ rất lâu, với tôi, chị Hee Jae là hiện thân của mọi khoảnh khắc định mệnh quan trọng. Với tôi, chị là thủy triều lên và thủy triều xuống. Chị là hy vọng và tuyệt vọng. Với tôi chị là sự sống và cái chết... và tất cả đều là tình yêu. - 11 tháng Chín, 1995.

Tôi bước ra khỏi bãi biển tiến vào con đường lát và đi bộ mãi cho tới khi không còn đủ sức, như một người mới tập đi lần đầu. Trên một con đường ven biển, những con chim biển đậu thành hàng. Khi tôi tiến lại gần, lũ chim đồng loạt bay lên không trung, rồi hạ cánh xuống một chỗ xa tít đằng kia. Tôi lại tiến lại gần và bọn chúng lại nhất tề bay lên. Tôi nhìn ra bãi biển, thấy có hàng nghìn con chim đang cụp cánh đậu bên biển. Sau khi theo dấu đàn chim, tôi dõi nhìn ra cuối biển, lên bầu trời thơ trẻ bên trên. Tôi có cảm giác như những chuyện quá khứ từng bị khóa kín đã trộn lẫn với những đám mây rải rác. Cảm thấy sự chào đời của những sinh linh mới ở tận cùng của ký ức tự do, mình tỏa ra một thứ mùi tươi mới. Trên đường quay trở lại, tôi nhìn thấy một đứa trẻ đang khóc bên bờ biển. Có vẻ như đứa bé muốn chơi thêm một lát nữa trên bãi đá nhưng mẹ nó lại định đưa nó về nhà. Bên trong chiếc xe hơi đang đậu xa xa, bố của đứa bé đang nhấn còi, bíp bíp. Đứa bé được mẹ ôm ra khỏi bãi biển, càng lúc càng xa dần trong khi vẫn không ngừng khóc. Liệu sau này nó có còn nhớ rằng mình đã từng khóc trên bãi biển này? Rằng mình đã từng hiện diện trên bãi biển này?

Cơ thể tôi đã kiệt quệ nhưng tâm trí tôi càng lúc càng sáng rõ hơn. - 13 tháng Chín, 1995.

Tôi có dự cảm, tác phẩm này sẽ không hẳn là hiện thực cũng chẳng hẳn là hư cấu, mà sẽ nửa nọ nửa kia. Tôi không biết liệu có thể gọi nó là tác phẩm văn học được không. Tôi thử suy ngẫm về chuyện viết lách, về ý nghĩa của việc viết đối với tôi.

ười dịch: Huyền Vũ —★— CÔ GÁI VIẾT NỖI CÔ ĐƠN ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: NXB Hà Nội 06/2016
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.