Trong hội trường lớn của quán Konersmann diễn ra cuộc họp mặt lần thứ nhất của trung đoàn kể từ khi chúng tôi trở về từ chiến trường. Tất cả các đồng đội đều được mời. Sẽ có một lễ kỷ niệm lớn. Karl, Albert, Jupp và tôi đến sớm hẳn một giờ. Chúng tôi quá sốt ruột chỉ muốn gặp lại ngay những gương mặt quen biết cũ.
Chúng tôi ngồi tạm trong phòng khách bên cạnh hội trường chờ Willy và những anh em khác.
Đúng lúc chúng tôi định đổ một ván xúc xắc thì cánh cửa mở ra và Ferdinand Kosole bước vào. Các con xúc xắc rơi khỏi tay chúng tôi, chúng tôi quá choáng váng vì bề ngoài của anh. Anh mặc thường phục.
Cho đến nay, giống như hầu hết chúng tôi, anh vẫn tiếp tục mặc bộ quân phục cũ của mình; nhưng hôm nay, đúng ngày lễ này, anh lại xuất hiện lần đầu tiên trong bộ đồ dân sự và giờ đây anh đứng đó với chiếc áo choàng cổ nhung màu xanh lơ, cái mũ xanh lá cây đội đầu và sơ mi cổ cồn thắt cà vạt. Với bộ cánh này anh đã trở thành một con người khác hoàn toàn.
Chúng tôi vẫn chưa kịp định thần thì Tjaden xuất hiện. Cậu ta cũng lần đầu tiên diện thường phục: chiếc áo khoác sọc, đôi giày màu vàng và cây ba toong tay nắm mạ bạc. Cậu ta ngẩng cao đầu vênh vang đi khắp phòng. Khi chạm mặt Kosole cậu ta sững lại. Kosole cũng sững lại. Cả hai chưa bao giờ thấy nhau mặc thứ gì khác ngoài quân phục. Họ ngắm nhau một giây. Sau đó họ cười phá lên: người này thấy người kia trông buồn cười đến ngớ ngẩn trong bộ thường phục.
"Mẹ kiếp, Ferdinand, tớ luôn luôn nghĩ cậu là một người đàn ông lịch thiệp," Tjaden ngoác miệng cười.
"Tại sao?" anh vặn lại và ngừng cười.
"À, thì đây này," Tjaden trỏ vào áo choàng của Kosole, "thấy ngay là cái này mua ở cửa hàng đồ cũ."
"Đồ ngu như bò!" Ferdinand giận dữ càu nhàu và quay đi nhưng tôi thấy mặt anh dần đỏ ửng. Tôi không thể tin vào mắt mình; đúng là anh trở nên ngượng ngùng, và khi tin rằng không có ai đang quan sát mình, anh lén nhìn xuống chiếc áo choàng bị chế nhạo. Nếu đó là bộ quân phục, hẳn anh đã chẳng bao giờ thèm quan tâm nhưng lúc này quả đúng là anh đang đưa ống tay áo cũ sờn cố chùi đi vài vết bẩn trên áo, và sau đó anh ngó rất lâu Karl Bröger trong bộ com lê mới tuyệt đẹp. Anh không biết rằng nãy giờ tôi vẫn quan sát anh. Một lúc sau, anh hỏi tôi:
"Thực ra cha của Karl làm gì ấy nhỉ?"
"Thẩm phán," tôi trả lời.
"Ra thế, thẩm phán," anh tư lự lặp lại. "Còn cha của Ludwig?"
"Thanh tra thuế."
Anh im lặng hồi lâu. Đoạn anh bảo: "Ừ, xem ra các cậu sẽ sớm chẳng muốn dính dáng gì vớii chúng tôi nữa."
"Anh điên rồi, Ferdinand," tôi bật thốt lên. Anh nhún vai nghi ngờ.
Tôi mỗi lúc càng ngạc nhiên hơn. Anh không chỉ thay đổi vẻ bề ngoài với mớ giẻ lau dân sự đáng nguyền rủa này, mà con người anh cũng đã thực sự thay đổi. Trước tới giờ anh nhổ toẹt vào những thứ vớ vẩn đó; nhưng lúc này anh thậm chí cởi hẳn cái áo khoác và treo nó vào trong góc tối nhất của nhà hàng.
"Ở đây quá nóng," anh cáu kỉnh nói khi thấy tôi đang nhìn anh.
Tôi gật đầu. Lát sau anh cau có hỏi: "Thế còn cha của cậu?"
"Thợ đóng sách," tôi đáp.
"Thật à?" anh hồ hởi ra mặt. "Thế còn cha của Albert?"
"Ông ấy mất rồi. Trước là thợ nguội."
"Thợ nguội," anh lặp lại vui sướng, như thể nghề đó danh giá ngang Đức Giáo Hoàng. "Thợ nguội, thật là tuyệt vời. Tớ là thợ tiện. Lẽ ra ông ấy và tớ đã có thể là đồng nghiệp với nhau."
"Đúng thế," tôi nói.
Tôi nhìn thấy dòng máu của anh lính Kosole lại trở về trong huyết quản của anh dân thường Kosole. Anh trở nên tươi tỉnh và mạnh mẽ.
"Chứ nếu không thế thì cũng đáng tiếc," anh thiết tha khẳng định với tôi, rồi khi Tjaden đi ngang và lại chun mũi lần nữa, anh lẳng lặng đá cho anh chàng một cú tuyệt vời trúng đích, mà chẳng cần đứng lên. Anh đã trở lại là chính mình.
Cánh cửa hội trường lớn bắt đầu mở ra đóng vào. Những người đồng đội đầu tiên đang đến. Chúng tôi đi sang đó. Gian phòng vắng vẻ được trang trí bằng những tràng hoa giấy và các bàn vẫn còn trống gây một ấn tượng khó chịu. Vài nhóm đứng túm tụm trong các góc. Tôi phát hiện ra Julius Weddekamp trong chiếc áo khoác lính bạc màu, vội đẩy nhanh mấy chiếc ghế sang bên để chạy đến chào ông.
"Bác khỏe không, bác Julius?" tôi hỏi. "Bác còn nhớ bác vẫn nợ tôi một cây thập tự bằng gỗ gụ đấy chứ? Hồi đó bác muốn làm cho tôi một cái từ gỗ nắp đàn dương cầm mà? Thôi cứ gác việc đó lại đã, bố già nhé!"
"Chính tôi lẽ ra cũng cần đến nó đấy, cậu Ernst," ông buồn rầu đáp.
"Bà nhà tôi mất rồi."
"Quỷ thật, bác Julius," tôi nói, "bác gái bị sao vậy ạ?"
Ông nhún vai. "Có lẽ bà ấy bị kiệt sức vì cứ phải xếp hàng dài dằng dặc trước các cửa tiệm vào mùa đông. Rồi lại sinh con, nên bà ấy không chịu đựng nổi được nữa."
"Thế còn đứa bé?" tôi hỏi.
"Cũng mất rồi," ông co ro đôi vai xuôi như thể bị lạnh. "À này, Ernst, Scheffler cũng đã chết, cậu có biết mà, phải không?"
Tôi lắc đầu. "Chuyện xảy ra như thế nào bác?"
Weddekamp châm một tẩu thuốc. "Cậu ta bị đạn vào đầu năm mười bảy, đúng không? Sau đó thì đã được chữa lành hoàn toàn. Rồi sáu tuần trước cậu ta bỗng bị những cơn đau kinh khủng, đến nỗi cậu ta luôn muốn đập đầu vào tường. Phải bốn người chúng tôi mới đưa được cậu ta đến bệnh viện. Bị viêm hoặc một cái gì đại loại thế. Ngày hôm sau cậu ta đã ra đi."
Ông quẹt que diêm thứ hai. "Phải, và bây giờ người ta còn không muốn trả tiền tuất cho vợ cậu ta nữa."
"Thế còn Gerhard Pohl?" tôi hỏi thêm.
"Cậu ấy không đến được, Fassbender và Fritsch cũng không. Thất nghiệp. Ngay đến tiền ăn còn chẳng có. Nếu dư dả họ cũng muốn cùng đi lắm chứ."
Hội trường lúc này đã đầy một nửa. Chúng tôi còn gặp gỡ nhiều đồng đội cùng đại đội, nhưng thật là lạ: mặc dù vậy không khí vui vẻ thực sự vẫn chẳng thấy đâu. Trong khi chúng tôi đã háo hức mong chờ cuộc gặp này từ nhiều tuần lễ và hy vọng nó sẽ giải tỏa chúng tôi khỏi những áp lực, sự thiếu tự tin và những hiểu lầm. Có thể lỗi là ở những bộ đồ dân sự len lỏi khắp nơi giữa đám áo lính - có thể sự khác biệt về nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội đã chêm vào giữa chúng tôi như nêm gỗ: tình đồng đội cũ chân chính trước đây đã không còn.
Mọi thứ đã đảo lộn. Kia là Bosse, thằng hề của đại đội, hắn thường xuyên bị chế nhạo vì luôn xử sự ngu ngốc, ngoài mặt trận hắn dơ dáy và hôi hám, không ít lần chúng tôi phải lôi cổ hắn gí vào máy bơm nước. Giờ đây hắn ngồi giữa chúng tôi trong bộ com lê bằng len rất thanh lịch, một viên ngọc trai đính trên cà vạt và đôi ghệt xịn dưới chân, một gã đàn ông phong lưu lời nói có trọng lượng. Bên cạnh hắn là Adoh Bethke, người ngoài mặt trận so với hắn một trời một vực, đến nỗi Bosse sẽ mừng húm nếu anh hạ cố nói chuyện với hắn, thì giờ đây đột nhiên chỉ còn là một anh thợ đóng giày nhỏ bé, nghèo hèn có một chút đất canh tác.
Thay cho bộ quân phục trung úy, Ludwig Breyer mặc bộ đồng phục thời trung học đã chật lại sờn, chiếc cà vạt học sinh dệt kim thắt vẹo vọ quanh cổ; còn tay cần vụ cũ của cậu ấy thì kẻ cả vỗ vai cậu, gã trở lại là ông chủ của một hãng lắp đặt thiết bị vệ sinh lớn, có một cơ ngơi thanh lịch ngay trên con đường mua sắm chính của thành phố.
Bên dưới áo quân phục rách mở phanh, Valentin mặc một chiếc áo len xanh pha trắng đã cũ, trông chả khác gì một gã lang thang, vậy mà khi là lính anh mới kiêu dũng làm sao; trong khi đó Ledderhose, con chó lươn lẹo ấy, diện cái mũ bóng bẩy và áo choàng cao su màu hoàng yến ngồi vênh mặt rít thuốc lá Anh. Mọi thứ đã đảo lộn tùng phèo.
Nhưng điều đó vẫn còn chịu đựng được. Tệ nhất là giọng điệu cũng thay đổi, và cái này cũng bắt nguồn từ những bộ quần áo. Những kẻ trước đây không dám hé răng, thì bây giờ toàn lên giọng cao ngạo. Những kẻ diện bộ cánh đẹp tự cho mình cái quyền nói năng kẻ cả, còn những người áo quần xấu xí thường là im lặng. Một giáo viên trung học, từng là hạ sĩ quan, thêm nữa lại là hạ sĩ quan tồi, lên giọng bề trên hỏi về kỳ thi của Karl và Ludwig. Ludvvig nên đổ cốc bia của cậu ấy vào cổ áo thằng cha đó mới phải. Rất may Karl đã đáp lời gã, hết lời chê bai giáo dục, thi cử và quay sang khen ngợi kinh doanh và thương mại.
Tôi phát ốm vì những câu chuyện nhảm nhí ở đây. Lẽ ra chúng tôi không bao giờ nên gặp lại nhau, như thế ít nhất chúng tôi còn giữ được ký ức đẹp. Tôi cố gắng trong vô vọng để tưởng tượng rằng tất cả những người này lại mặc quân phục lấm lem và cái quán Konersmann này là một căng tin vùng sau chiến tuyến. Nhưng tôi thất bại. Thực tại ở đây mạnh hơn. Sự xa lạ mạnh hơn. Cái chung không còn chiếm ưu thế. Nó bị tan ra trong các lợi ích cá nhân. Hẳn đôi khi còn có chút gì đó sáng lên từ những năm tháng cũ, khi mà tất cả chúng tôi đều mặc đồ như nhau, nhưng nó đã trở nên không rõ ràng và mờ nhạt. Thì vẫn đấy những đồng đội của chúng tôi, nhưng họ không còn là đồng đội nữa, đó mới là điều hết sức buồn. Mọi thứ khác đều đã tàn lụi trong chiến tranh, nhưng tình đồng đội thì không, chúng tôi từng tin như vậy. Và bây giờ chúng tôi thấy điều mà cái chết đã không làm nổi, thì cuộc sống làm được: nó chia rẽ chúng tôi.
Nhưng chúng tôi không muốn tin điều này. Chúng tôi cùng ngồi chung một chiếc bàn, Ludwig, Albert, Karl, Adolf, Willy, Valentin. Không khí thật nặng nề.
"Ít nhất là bọn mình sẽ sát cánh bên nhau," Albert nói, mắt nhìn lướt qua gian phòng rộng. Chúng tôi nhất trí và cùng nắm tay nhau, trong khi ở phía bên kia, sự liên kết giữa những bộ cánh sang trọng cũng bắt đầu. Trật tự mới này chúng tôi không tham dự. Chúng tôi muốn bắt đầu với thứ mà những kẻ khác đã gạt sang một bên.
"Đập tay nào, Adolf, cả anh nữa," tôi nói với Bethke. Đã lâu lắm rồi anh mới lại mỉm cười, rồi đặt bàn tay to tướng của mình lên tay chúng tôi.
Chúng tôi còn ngồi với nhau một lúc. Adolf Bethke sớm bỏ đi. Trông anh không được khỏe. Tôi định vài ngày nữa sẽ đến thăm anh.
Một người bồi bàn xuất hiện và thì thầm với Tjaden, cậu ta phẩy tay.
"Phụ nữ không có việc gì làm ở đây."
Ngạc nhiên, chúng tôi nhìn lên, Tjaden mỉm cười hãnh diện. Người phục vụ trở lại. Đằng sau ông ta, một cô gái khỏe mạnh rảo bước tiến đến.
Tjaden sửng sốt. Chúng tôi nhăn nhở cười. Nhưng Tjaden biết phải làm gì.
Anh ta khoát tay thật rộng: "Đây là vợ sắp cưới của tớ."
Việc của anh ta đến đó là xong. Willy tiếp tục giới thiệu từng người.
Cậu ta bắt đầu từ Ludwig và kết thúc ở cậu ta. Sau đó cậu ta mời cô gái ngồi. Cô gái ngồi xuống. Willy ngồi xuống bên cạnh cô gái và đặt cánh tay của mình trên lưng ghế của cô.
Cha cô là chủ cửa hàng thịt ngựa nổi tiếng ở Neuer Graben phải không nhỉ?" cậu ta mào đầu câu chuyện.
Cô gái gật đâu. Willy xích lại gần hơn. Tjaden chẳng mảy may quan tâm đến động thái đó. Anh ta còn mải khoan khoái nốc bia. Cô gái sớm trở nên thân mật bởi cách nói chuyện dí dỏm và tình cảm của Willy.
"Em đã rất muốn làm quen với các ông," cô nói. "Cưng của em đã thường xuyên kể chuyện về các ông, nhưng lần nào em bảo anh ấy rủ các ông đến cùng, anh ấy cũng không muốn."
"Cái gì?" Willy trừng mắt nhìn Tjaden. "Rủ chúng tôi đến cùng hả?
Nhưng chúng tôi muốn đến cùng kinh khủng luôn, quả thật là vô cùng muốn. Tên lừa đảo này đã không nói với chúng tôi lời nào về chuyện đó."
Tjaden trở nên hơi bất an. Bây giờ đến lượt Kosole cúi ngưòi về phía cô gái. "Vậy hả, cưng của cô thường kể về chúng tôi hả? Mà cậu ấy đã kể những chuyện gì thế?"
"Chúng ta phải đi rồi, Marie bé bỏng," Tjaden xen vào và đứng lên.
Kosole ấn cậu ta ngồi xuống. "Cưng ngồi yên đó. Cậu ấy đã kể gì, thưa cô?"
Marie bé bỏng đã tin cậy hoàn toàn. Cô điệu đàng nhìn Willy. "Có phải ông là ông Homeyer?" Willy làm động tác cúi chào trước nữ chủ nhân hàng thịt. “Vậy là hồi đó anh ấy đã cứu ông," cô xởi lởi, trong khi Tjaden liên tục ngọ nguậy trên ghế, cứ như thể cậu ta đang ngồi trên một ổ kiến lửa. Ông không nhớ chuyện đó sao ạ?
Willy sờ tay lên đầu mình. "Sau này tôi còn bị bom vùi nên trí nhớ bị ảnh hưởng ghê gớm. Tiếc là tôi đã quên mất nhiều chuyện."
"Đã cứu ư?" Kosole nín thở hỏi.
"Marie bé bỏng, anh đi đây, em có đi hay không?" Tjaden nói. Kosole giữ chặt cậu ta.
"Anh ấy thật là khiêm tốn," Marie bé bỏng cười khúc khích mặt mày rạng rỡ. "Trong khi một tay anh ấy giết chết ba tên da đen - là bọn đã định dùng rìu xả thịt ông Homeyer. Một tên bị anh ấy quại chết bằng nắm đấm..."
"Bằng nắm đấm," Kosole ồm ồm nhắc lại.
"Những tên khác bằng chính lưỡi rìu của chúng. Rồi sau đó anh ấy còn cõng ông về." Marie bé bỏng ngắm thân hình cao một mét chín của Willy và kiên quyết gật đầu với vị hôn phu của cô. "Cứ thoải mái nói ra những việc tốt mà anh đã làm đi cưng."
"Chính thế," Kosole tán thành, "cứ nói thoải mái đi."
Willy nhìn một lúc vào mắt Marie bé bỏng, vẻ nghĩ ngợi. "Đúng, cậu ấy là một con người tuyệt vời," cậu ta trả lời. Sau đó cậu ta gật đầu sang phía Tjaden: "Hãy cùng ra ngoài một lát."
Tjaden do dự đứng lên. Nhưng Willy không có chút ác ý nào. Vài phút sau cả hai khoác tay nhau quay vào. Willy cúi xuống Marie bé bỏng:
"Đã quyết định rồi nhé, tôi sẽ đến thăm vào tối mai. Tôi còn phải cảm tạ ơn cứu mạng khỏi bọn da đen chứ. Nhưng tôi cũng đã cứu chồng sắp cưới của cô một lần đấy."
"Thật sao?" Marie bé bỏng ngạc nhiên.
"Có lẽ sau này cậu ấy sẽ kể cô nghe," Willy cười.
Nhẹ cả người, Tjaden cùng cô dâu của mình ra về.
"Chả là ngày mai họ sẽ mổ ngựa," Willy bảo chúng tôi. Nhưng chẳng ai để tai nghe. Cả bọn nãy giờ đã phải nén quá lâu, nên bây giờ hí lên cười như một bầy ngựa đói. Kosole suýt ói vì cười lăn lộn. Mãi hồi lâu sau Willy mới có thể thông báo cậu ta đã thỏa thuận với Tjaden những điều kiện có lợi như thế nào về việc cung cấp xúc xích ngựa. "Thằng lỏi giờ nằm trong tay tớ," cậu ta cười tủm tỉm tuyên bố.