David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8. Wilma Derksen

❊ ❊ ❊

“Tất cả chúng ta đều từng làm điều gì đó đáng sợ trong cuộc đời, hoặc cảm thấy cần phải làm vậy.”

1.

Vào một ngày cuối tuần tháng 6/1992, con gái của Mike Reynolds từ trường đại học về nhà để dự một đám cưới. Kimber, 18 tuổi, với mái tóc màu mật ong óng ả, hiện là sinh viên Học viện Thiết kế và Sản xuất thời trang ở Los Angeles. Cô sống ở Fresno, Thung lũng Central, California, cách đó vài giờ chạy xe về phía bắc. Sau đám cưới, cô ở lại ăn tối với một người bạn cũ, Greg Calderon. Cô mặc quần short, đi boot và mặc chiếc áo khoác đỏ pha đen của bố cô.

Reynolds và Calderon dùng bữa tại nhà hàng Planet hàng ngày, tại Quận Tower, Fresno. Họ dùng cà phê và sau đó tản bộ trở về Isuzu. Lúc đó là 10 giờ 41 phút, Reynolds mở cửa ghế sau cho Calderon, sau đó đi vòng qua xe đến chỗ ngồi lái. Ngay lúc đó, hai thanh niên đi chiếc xe máy bị đánh cắp hiệu Kawasaki di chuyển từ từ ra khỏi một bãi đậu xe để xuống đường. Họ đội mũ bảo hiểm có kính che mặt bóng mờ. Người điều khiển xe, Joe Davis, có tiền án sử dụng ma túy và súng. Hắn vừa được tạm tha từ nhà tù tiểu bang Wasco do hành vi trộm cắp ô tô. Người ngồi sau là Douglas Walker. Walker từng vào tù 7 lần. Cả hai đều nghiện thuốc phiện đá. Từ đầu giờ tối, họ đã tìm cách cướp xe trên Đại lộ Shaw, trục đường chính của Fresno. “Tôi thực sự không nghĩ nhiều lúc đó,” Walker chia sẻ như vậy vài tháng sau khi được hỏi về tâm trí của hắn đêm đó. “Chuyện gì xảy ra sẽ xảy ra, anh biết đấy. Nó xảy ra rất đột ngột. Chúng tôi đã làm những gì chúng tôi làm. Ý tôi là, đó là tất cả những gì tôi có thể kể cho anh.”

Walker và Davis đã đậu xe dọc Isuzu, sử dụng trọng lượng của xe gắn máy để ép Reynolds vào xe của cô. Calderon đã nhảy ra khỏi ghế sau, chạy vòng sau đuôi xe. Walker chặn đường của anh. Davis tóm lấy ví của Reynolds. Hắn lấy khẩu súng ngắn 0,357 li và dí nó vào tai phải của cô. Cô chống cự. Hắn nổ súng. Davis và Walker trở lại xe, tăng tốc, vượt đèn đỏ. Mọi người đổ dồn ra khỏi khu Daily Planet. Một người đã cố gắng để cầm máu. Calderon đã lái xe về nhà bố mẹ Reynolds nhưng không thể đánh thức họ. Anh gọi và thấy máy điện thoại trả lời tự động. Cuối cùng, vào lúc 2 giờ 30 phút sáng, anh đã gọi được. Mike Reynolds nghe thấy vợ mình kêu toáng lên, “vào đầu! Con bé đã bị bắn vào đầu!” Kimber đã chết một ngày sau đó.

Mike Reynolds giờ đã không còn trẻ. Ông đi khập khiễng và tóc rụng gần hết. Ông ngồi ở bàn trong phòng đọc sách, trong ngôi nhà theo kiểu Mission của mình ở Fresno, cách nơi con gái ông bị bắn không quá năm phút lái xe. Trên bức tường đằng sau nơi ông ngồi là ảnh của Kimber. Bên cạnh cửa bếp là một bức ảnh Kimber đeo đôi cánh thiên thần, đang bay lên trời. “Khi điều này xảy đến, tôi không thể làm gì. Tôi đã nắm tay con bé khi nó đang hấp hối. Đó là một cảm giác bất lực.” Vào lúc đó, ông đã thề nguyện.

“Tất cả mọi thứ tôi đã làm từ trước đến giờ đều liên quan đến một lời hứa với Kimber lúc sắp từ giã cõi đời,” Reynolds nói. “Ta không thể cứu sống con. Nhưng ta sẽ cố gắng hết sức để ngăn điều này xảy ra với bất cứ ai.”

2.

Khi Reynolds từ viện về nhà, ông nhận được điện thoại từ Ray Appleton, nhà tổ chức của một chương trình trò chuyện trên sóng phát thanh Fresno nổi tiếng. “Thị trấn sẽ rối lên,” Appleton nhớ lại. “Vào thời điểm đó, Fresno đứng đầu nước Mỹ về bình quân số vụ giết người. Nhưng việc này diễn ra rất trắng trợn – trước hàng triệu con mắt, trước một nhà hàng nổi tiếng. Tôi nghe tin rằng đêm hôm đó Kimber đã chết, và tôi đã an ủi Mike. Tôi nói: “Bất cứ khi nào ông sẵn sàng, hãy cho tôi biết. Và ông nói, ‘Hôm nay thì sao?’ Đó là nơi mà tất cả mọi chuyện này bắt đầu, 14 giờ sau cái chết của con gái ông.”

Reynolds đã mô tả hai giờ ông dành cho chương trình Appleton là khoảng thời gian khó khăn nhất trong cuộc đời mình. Ông đã khóc. “Tôi chưa bao giờ thấy sự tàn phá như thế trước đây”, Appleton nhớ lại. Ban đầu, hai người đã nhận được các cuộc gọi từ những người biết gia đình Reynolds, hoặc những người chỉ muốn bày tỏ sự cảm thông. Nhưng sau đó ông và Reynolds bắt đầu nói về những gì mà kẻ giết người nói về hệ thống tư pháp của California, và các cuộc gọi bắt đầu được nối máy từ khắp bang.

Reynolds đã trở về nhà và mời tất cả mọi người mà ông nghĩ rằng có thể tạo sự khác biệt. “Chúng tôi gồm 3 thẩm phán, các nhân viên đến từ văn phòng cảnh sát quận, luật sư, người dân và cả nhân viên đến từ hệ thống các trường học,” ông nói. “Và chúng tôi đặt ra câu hỏi, ‘Tại sao điều này lại xảy ra? Nguyên nhân là gì?’”

Kết luận của họ đó là ở California, các hình phạt liên quan đến những vi phạm pháp luật ở mức quá thấp. Lệnh tạm tha trở nên quá dễ dàng và nhanh chóng. Người phạm tội thường xuyên được đối xử không khác biệt gì so với những người phạm tội lần đầu tiên. Douglas Walker, người đàn ông ngồi sau xe gắn máy, từng phạm tội lần đầu năm 13 tuổi vì tội buôn bán ma túy. Gần đây, hắn vừa được tạm tha để thăm vợ đang mang bầu và không bao giờ trở lại nhà tù. Điều này có ý nghĩa gì không? 

Cả nhóm cùng đưa ra một đề nghị. Trước sự cương quyết của Reynolds, đề nghị này rất ngắn gọn và đơn giản, được viết bằng ngôn ngữ của giáo dân. Nó được gọi là Luật Bất quá tam. Bất cứ ai bị kết án về một tội thứ hai ở California, sẽ phải chịu án gấp đôi theo luật. Và bất cứ ai bị kết án về tội thứ 3 – tội thứ 3 gồm mọi hành vi phạm tội có thể tưởng tượng – sẽ bắt buộc phải ở tù 25 năm. Không có trường hợp ngoại lệ. 

Reynolds và nhóm của ông đã thu thập hàng ngàn chữ ký để hội đủ điều kiện cho cuộc trưng cầu trên toàn tiểu bang. Có vô số những ý tưởng trưng cầu dân ý trong mỗi mùa bầu cử ở California, và hầu hết đều không có kết quả gì. Nhưng Luật Bất quá tam đã gây nên một làn sóng lớn. Nó đã được thông qua với sự ủng hộ kinh ngạc của 72% cử tri của tiểu bang, và trong mùa xuân năm 1994, nó đã được ký thành luật, hầu hết từng lời đều được viết trong sân sau nhà Mike Reynolds. Nhà tội phạm học Franklin Zimring gọi đó là “thử nghiệm hình phạt lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.” Có 80.000 tù nhân ở California vào năm 1989. Trong 10 năm, con số đó sẽ tăng gấp đôi, và tỷ lệ tội phạm ở California giảm xuống nhanh chóng. Từ năm 1994 đến năm 1998, tỷ lệ giết người ở California giảm 41,4%, nạn hiếp dâm giảm 10,9%, tỷ lệ cướp trên đường phố giảm 38,7%, các cuộc tấn công giảm 22,1%, trộm cắp giảm 29,9%, và trộm cắp ô tô giảm 36,6%. Mike Reynolds đã nỗ lực để giữ đúng lời thề trước giường bệnh của đứa con gái xấu số.

Reynolds ngồi trong phòng làm việc tại nhà ở Fresno, xung quanh là các bức hình của cá nhân ông, biển tên, các bức phù điêu, ký các giấy chứng nhận và thảo thư − tất cả đều chứng minh về vai trò phi thường ông đã đóng góp cho chính trị của nước Mỹ. “Từng khoảnh khắc trong cuộc đời, bạn đều có cơ hội cứu sống người khác,” ông tiếp tục. “Bạn biết đấy, ta có thể kéo họ ra khỏi một tòa nhà đang cháy, cứu họ khỏi chết đuối hoặc một số điều điên rồ khác. Nhưng có bao nhiêu người có cơ hội cứu sống nhiều người dân mỗi ngày? Ý tôi là, tôi nghĩ, mình đã rất may mắn.”

Ông dừng lại một chút, như thể ông trở về thời khắc của 20 năm trước khi ông hứa với Kimber. Ông tiếp tục: “Hãy suy nghĩ về anh chàng đã phát minh ra dây đai an toàn. Bạn có biết tên anh ta là gì không? Tôi thì không. Nhưng hãy nghĩ về số người được an toàn hoặc kết quả mà dây đai an toàn, túi khí hoặc hộp đựng thuốc chống trộm mang lại. Tôi có thể ngồi đây và nắm rõ những điều đó. Các thiết bị đơn giản được Joe Average đưa ra, giống như tôi, đã cứu sống được rất nhiều người. Tuy nhiên, chúng ta không tìm kiếm bất kỳ danh tiếng nào hay tìm kiếm bất cứ sự khích lệ nào. Tất cả những gì chúng ta đang tìm kiếm là kết quả, và kết quả là phần thưởng lớn nhất của tôi.”

Quân Anh đã đặt chân đến Bắc Ireland với những ý định tốt đẹp và cuối cùng đã kết thúc với 30 năm đổ máu. Họ đã không nhận được những gì họ muốn, bởi họ không hiểu rằng quyền lực có những hạn chế nhất định. Nó phải được xem là hợp pháp, hoặc cách sử dụng nó có tác dụng ngược lại với dự định ban đầu. Mike Reynolds đã mang lại ảnh hưởng phi thường đến thành phố quê hương ông. Ông đã có được những gì mà ông mong muốn. 

3.

Hãy trở lại lý thuyết về đường cong hình chuông mà chúng ta đã thảo luận trong chương về quy mô lớp học. Đường cong hình chuông liên quan chủ yếu đến các giới hạn. Chúng minh họa cho thực tế rằng “nhiều hơn” không phải lúc nào cũng tốt hơn; thực sự, có điểm khi các nguồn lực bổ sung được cho là có lợi nhất chỉ khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Dạng hình chuông rõ ràng đã mô tả những tác động của quy mô lớp học, và nó rõ ràng cũng cho thấy kết nối giữa khả năng làm cha mẹ và sự giàu có. Nhưng một vài năm trước đây, một số học giả bắt đầu tranh luận kịch liệt hơn, dẫn đến việc kéo Mike Reynolds và các tuyên bố của ông về chính sách Bất quá tam vào trung tâm của cuộc tranh cãi kéo dài hai thập kỷ. Chuyện gì xảy ra nếu mối quan hệ giữa hình phạt và tội phạm cũng mang dạng hình chuông? Nói cách khác, chuyện gì xảy ra nếu – qua một điểm tới hạn nào đó – việc trấn áp tội phạm không còn ảnh hưởng đến bọn tội phạm và bắt đầu khiến các vụ phạm gia tăng hơn nữa? 

Khi luật Bất quá tam đã được thông qua, không ai xem xét khả năng này. Mike Reynolds và những người ủng hộ ông cho rằng họ bắt được thêm mỗi tội phạm thì mỗi năm, họ lại góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm tương ứng. Theo quan điểm của Reynolds, tội phạm tìm thấy lợi ích của việc phạm tội ở California lớn hơn nhiều so với những rủi ro. Ông thấy đối với những người tiếp tục vi phạm luật pháp, ngay cả khi đối mặt với những thay đổi rủi ro – luật Bất quá tam cho hay, hãy xử họ tù chung thân để họ không giờ có cơ hội phạm tội lần nào nữa. Khi nói đến pháp luật và trật tự, Reynolds và các cử tri California tin rằng, “nhiều hơn” luôn tốt hơn. 

Đây là khi những lập luận đường cong hình chuông xuất hiện. Hãy bắt đầu với giả định đầu tiên rằng – tội phạm phản ứng với việc gia tăng cái giá phải trả cho việc phạm tội bằng cách phạm tội ít hơn. Đây rõ ràng là điều đúng đắn khi các hình phạt đối với việc vi phạm pháp luật ở mức thấp. Một trong những nghiên cứu tình huống nổi tiếng nhất về tội phạm liên quan đến những gì đã xảy ra trong mùa thu năm 1969 khi cảnh sát Montreal đình công 16 giờ. Montreal đã và vẫn là thành phố tại Mỹ được coi như một trong những khu vực ổn định và tuân thủ pháp luật nhất trên thế giới. Tuy nhiên đã có rất nhiều vụ cướp ngân hàng xảy ra hôm đó mà hầu như mọi ngân hàng trong thành phố đều phải đóng cửa. Những kẻ cướp bóc đổ về trung tâm thành phố Montreal, đập vỡ các cửa sổ. Choáng váng nhất là, một cuộc tranh chấp giữa các lái xe taxi trong thành phố và một dịch vụ xe hơi địa phương mang tên dịch vụ xe Limousine Murray Hill về quyền đón khách từ sân bay đã dẫn đến bạo lực. Các lái xe taxi lao xuống Murray Hill cùng với bom xăng. Cảnh sát Murray Hill đã nổ súng. Các lái xe taxi sau đó đã đốt một chiếc xe buýt và lao nó vào cánh cửa bị khóa ở gara Murray Hill. Chúng tôi đang nói về Canada. Tuy nhiên, ngay sau khi cảnh sát trở lại làm việc, trật tự đã được khôi phục. Các mối đe dọa bị bắt giữ và trừng phạt đã mang lại hiệu quả.

Rõ ràng, sau đó, có một sự khác biệt lớn giữa việc không xử phạt vi phạm pháp luật và thực thi một số hình phạt – giống như có một sự khác biệt lớn giữa một lớp học 40 học sinh và một lớp học 25 học sinh. Ở phía bên trái của đường cong hình chuông, sự can thiệp đã tạo sự khác biệt. 

Nhưng hãy nhớ rằng, logic của đường cong hình chuông đó là các chiến lược hoạt động rất hiệu quả ở trạm dừng chân đầu tiên đã đi qua một điểm nhất định, và đó chính xác là những gì nhiều nhà tội phạm học cho rằng sẽ xảy ra bằng sự trừng phạt. 

Ví dụ, cách đây vài năm, các nhà tội phạm học, Richard Wright và Scott Decker, đã phỏng vấn 86 tên cướp có vũ trang bị kết án. Hầu hết những gì họ nghe thấy là những ý kiến như thế này: 

Tôi đã nỗ lực để cố gắng không nghĩ về việc bị bắt. Điều đó gây ra sự mất tập trung. Bạn không thể tập trung làm bất cứ điều gì nếu bạn đang nghĩ, “điều gì sẽ xảy ra nếu việc mình làm không đi đúng hướng?” Dần dần, nếu quyết tâm đi cướp, tôi sẽ hoàn toàn tập trung vào điều đó, chỉ điều đó mà thôi. 

Hoặc: 

Đó là lý do chúng tôi đi xa đến mức đó. Chúng tôi càng lớn, càng ngớ ngẩn, sau đó chúng tôi không sợ bị bắt nữa. Bất cứ điều gì xảy ra, đã xảy ra... Bạn chỉ cần không quan tâm đến nó vào thời điểm đó. 

Ngay cả khi bị ép, những tên tội phạm được Decker và Wright phỏng vấn “vẫn thờ ơ trước các lệnh trừng phạt.” Họ không nghĩ quá xa đến vậy. 

Cái chết của con gái đã khiến Reynolds muốn khiến các tội phạm tiềm năng ở California phải sợ – khiến họ phải nghĩ kỹ trước khi phá luật. Nhưng chiến lược đó không hiệu quả nếu bọn tội phạm nghĩ theo cách này. Joe Davis và Douglas Walker – hai tên côn đồ đã dồn Kimber Reynolds ra ngoài Daily Planet – là dân nghiện ma túy đá. Từ sáng sớm hôm đó, chúng đã tìm cách cướp một chiếc xe hơi ngay giữa ban ngày. Và bạn còn nhớ những gì Walker nói chứ? Tôi không thực sự nghĩ nhiều về điều đó, anh biết đấy. Chuyện gì xảy ra ắt hẳn sẽ xảy ra. Nó xảy ra rất đột ngột. Chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi đã làm. Ý tôi là, đó là tất cả những gì tôi có thể cho các anh biết. Đây có phải là kiểu suy nghĩ kỹ của một con người không? 

“Tôi đã nói chuyện với những người bạn của gia đình, những người biết Joe và anh trai hắn, và họ hỏi tại sao hắn bắn Kimber,” Reynolds nói và nhớ lại buổi tối kinh hoàng đó. “Hắn nói rằng hắn có ví, vì vậy chiếc túi của con bé không phải là vấn đề. Nhưng hắn đã bắn con bé bởi cái cách con bé nhìn hắn. Hắn bắn con bé vì hắn nghĩ con bé tưởng hắn đùa, và không tôn trọng hắn. “Lời lẽ của Reynolds mâu thuẫn với logic của luật Bất quá tam. Joe Davis đã giết Kimber Reynolds bởi con bé không dành cho hắn sự tôn trọng mà hắn nghĩ hắn xứng đáng được nhận khi chĩa súng vào đầu con bé. Làm sao có thể thay đổi được mức độ nghiêm trọng của hình phạt để ngăn chặn những kẻ có tư duy như vậy? Bạn và tôi rất nhạy cảm với hình phạt gia tăng, bởi bạn và tôi là những người có chỗ đứng trong xã hội. Nhưng bọn tội phạm thì không. Khi nhà tội phạm học David Kennedy viết: “Có thể chỉ đơn giản là có những người hôm nay sẵn sàng nắm lấy cơ hội, thường là bốc đồng về những gì được họ xem như khả năng rất nhỏ trong việc xử phạt vi phạm nghiêm trọng và sẵn sàng tiếp tục nắm lấy cơ hội tương tự đối với một hình phạt nghiêm trọng hơn trong tương lai.”

Tranh luận thứ hai về luật Bất quá tam – đó là thêm mỗi năm một tên tội phạm ở tù là thêm một năm hắn không thể phạm tội – rất có vấn đề. Tuổi trung bình của một tên tội phạm ở California vào năm 2011, tại thời điểm tội phạm bị kết án do hành vi vi phạm luật Bất quá tam là 43. Trước khi luật Bất quá tam xuất hiện, người đàn ông đó có thể đã từng ở tù 5 năm do trọng tội và được thả ở tuổi 48. Với luật Bất quá tam, hắn sẽ phải ở tù tối thiểu là 25 năm và ra tù lúc 68 tuổi. Theo logic, thì câu hỏi đặt ra là: Với bao nhiêu lần phạm tội thì tội phạm phải ở tù trong khoảng từ 48 đến 68 tuổi? Câu trả lời là: Không nhiều. Hãy nhìn vào các biểu đồ dưới đây, chúng cho thấy mối quan hệ giữa tuổi tác và hành vi phạm tội tấn công nghiêm trọng, giết người, cướp tài sản và trộm cắp.

Những hình phạt thời gian dài có hiệu quả với những thanh niên trẻ. Nhưng một khi ai đó vượt qua được mốc giữa tuổi 20, tất cả những gì mà các hình phạt dài hơn có thể làm là bảo vệ chúng ta khỏi những tội phạm nguy hiểm tại thời điểm mà họ trở nên ít nguy hiểm hơn. Một lần nữa, những gì ban đầu là một chiến lược đầy hứa hẹn đã thôi không mang lại hiệu quả. 

Bây giờ đến câu hỏi quan trọng: Trong đường cong tội phạm và hình phạt, đâu là sự đúng đắn – điểm mà sự đàn áp bắt đầu mang lại hiệu quả tồi tệ hơn? Nhà tội phạm học đã đưa ra lập luận này một cách thuyết phục nhất là Todd Clear, và lý luận của ông như sau: 

Nhà tù có ảnh hưởng trực tiếp đến các tội phạm: nơi chúng không thể gây hại đến ai khác. Nhưng nó cũng có tác động gián tiếp đến tội phạm, nó ảnh hưởng đến tất cả những người mà tội phạm đó có quan hệ. Ví dụ, rất nhiều người bị tống vào tù là những người cha. (1/4 số vị thành niên phạm tội có con.) Và ảnh hưởng đến đứa trẻ có cha ở tù có sức tàn phá rất lớn. Thu nhập của họ đến từ việc phạm tội lẫn công ăn việc làm hợp pháp – để nuôi sống gia đình. Đối với trẻ, người cha phải vào tù là một khó khăn không được mong muốn. Có cha mẹ bị giam giữ làm tăng cơ hội một đứa trẻ vị thành niên phạm tội từ 300% đến 400%, tỷ lệ rối loạn tâm thần nghiêm trọng lên 250%. 

Một khi tội phạm mãn hạn tù, khả năng họ bị ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý do ở tù là rất lớn với tương lai mờ mịt. Khi ở tù, họ đã đánh mất rất nhiều bạn bè, thay vào đó là kết bạn với những người cũng phạm tội như mình. Và bây giờ khi tái hòa nhập cộng đồng, họ càng gây áp lực về tâm lý và tài chính lên gia đình. Việc ở tù mang lại những thiệt hại về tài sản. Trong hầu hết các trường hợp, tổn hại do án phạt tù nhỏ hơn so với những lợi ích; tốt hơn chúng ta vẫn nên giam giữ họ. Nhưng quan điểm của Clear đó là nếu bạn giam giữ quá nhiều người trong thời gian quá lâu, thiệt hại về tài sản sẽ lớn hơn lợi ích.

Clear và một đồng nghiệp – Dina Rose đã thử nghiệm giả thuyết của ông ở Tallahassee, Florida. Họ đã đi khắp thành phố và so sánh số lượng tù nhân ở một khu phố nhất định trong một năm với tỷ lệ tội phạm trong cùng khu phố đó vào năm sau – và cố gắng để ước tính về số liệu xem đường hình chuông bắt đầu uốn ngược lại ở điểm nào. Họ đã phát hiện ra, “nếu hơn 2% số dân trong khu phố đi tù,” Clear kết luận, “thì mức độ ảnh hưởng đến các vụ phạm tội bắt đầu đảo chiều.”

Đây là những gì mà Jaffe đang đề cập đến ở Brownsville. Thiệt hại mà cô đang cố gắng để xua tan đi bằng những cái ôm, những con gà tây không phải là hệ lụy của sự thiếu vắng luật pháp và trật tự. Nó là kết quả của quá nhiều luật lệ và trật tự: nhiều người thân ở tù đến mức người dân trong khu phố đã coi luật pháp như kẻ thù của họ. Brownsville ở phía bên phải của đường cong hình chuông. Tại California năm 1989, có 76.000 phạm nhân. 10 năm sau, chủ yếu là nhờ luật Bất quá tam, con số này đã tăng lên gấp đôi. Trên cơ sở bình quân đầu người, trước khi bước sang thế kỷ XXI, California có số tù nhân gấp từ 5 đến 8 lần so với Canada hay Tây Âu. Bạn có nghĩ luật Bất quá tam không thể biến một số khu phố ở California thành giống như ở Brownsville sao?

Reynolds tin rằng “cuộc thập tự chinh” của mình đã cứu được 6 ngườingày, bởi tỷ lệ tội phạm đã giảm mạnh ở California sau khi luật Bất quá tam được thông qua. Nhưng nếu xem xét kỹ, hóa ra tỷ lệ giảm bắt đầu trước khi luật có hiệu lực. Và dù tỷ lệ tội phạm đã giảm mạnh ở California vào những năm 1990, nhưng chúng cũng giảm ở nhiều nơi khác của Hoa Kỳ, ngay cả ở những nơi không dùng biện pháp trấn áp tội phạm. Luật Bất quá tam càng được nghiên cứu, thì ảnh hưởng của nó càng khó nắm bắt hơn. Một số nhà tội phạm học đã kết luận rằng nó khiến tỷ lệ phạm tội thấp hơn hẳn. Những người khác nói rằng nó hoạt động hiệu quả nhưng việc chi tiền cho hoạt động giam giữ tội phạm nên được đầu tư vào việc khác. Một nghiên cứu gần đây cho biết, luật Bất quá tam đã hạ thấp mức độ tội phạm nói chung nhưng, nghịch lý thay, lại làm gia tăng số lượng các vụ phạm tội bạo lực. Có lẽ nhóm lớn nhất của nghiên cứu không thể mang lại kết quả, và thậm chí còn có cả một tập hợp các nghiên cứu cho rằng luật Bất quá tam đã làm gia tăng tỷ lệ tội phạm. California đã tiến hành thử nghiệm hình sự lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, và sau 20 năm cũng như hàng chục tỷ đô-la đầu tư, không ai có thể xác định liệu thử nghiệm đó có mang lại hiệu quả hay không. Trong tháng 11 năm 2012, California cuối cùng cũng đã từ bỏ. Trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn bang, luật này đã hoàn toàn bị loại bỏ. 

4.

Wilma Derksen ở nhà, cố gắng lau dọn căn phòng ở tầng hầm, khi con gái bà Candace gọi điện. Đó là một buổi chiều thứ Sáu vào tháng 11. Gia đình Derksens sống ở Winnipeg, Manitoba, thuộc khu vực thảo nguyên ở miền trung Canada, và tại thời điểm đó của năm, nhiệt độ bên ngoài rất thấp, dưới 0 độ. Candace 13 tuổi có hẹn với một cậu bạn ở trường. Cô muốn mẹ cô đến đón. Wilma nhẩm tính, gia đình cô chỉ có một chiếc xe hơi. Wilma phải đón chồng mình, Cliff, từ nơi làm việc về nhà. Nhưng một giờ nữa anh mới tan làm. Cô có 2 người con nữa, một 2 tuổi và một 9 tuổi. Cô đưa chúng đi cùng, đón Candace, sau đó đón chồng. Nhưng Candace đã đủ lớn để đi xe bus. 

“Candace, mẹ không thể đón con, con tự về bằng xe bus nhé” cô nói. 

Derksen tiếp tục làm việc nhà. Sau đó, cô dừng lại, nhìn đồng hồ. Giờ này Candace lẽ ra đã phải về nhà rồi. Nhiệt độ bên ngoài đang xuống thấp hơn. Trời có tuyết. Cô bắt đầu nóng lòng ngóng con. Vài phút trôi qua, đã đến lúc cô phải đi đón chồng. Cô chuẩn bị để đưa 2 đứa em của Candace vào xe và lái xe chầm chậm dọc Đại lộ Talbot, con đường nối khu phố nhà Derksen đến trường học của Candace. Họ lái xe đến văn phòng của Cliff. 

“Em không thấy Candace,” cô nói với chồng. “Em lo lắm!”

Bốn người vừa về nhà, vừa ngó trên đường. Họ bắt đầu gọi điện cho bạn bè của con bé. Không ai thấy cô bé từ chiều. Wilma Derksen đã lái xe đến gặp cậu bạn mà Candace hẹn trước khi gọi về nhà. Cậu bé nói lần cuối trông thấy cô bé là khi nó đi bộ trên đại lộ Talbot. Gia đình Derksen đã gọi cảnh sát. 

Gia đình Derksens đã quyết định chia nhau đi tìm và nhờ thêm vài người. Họ đã dán các poster tìm Candace ở khắp Winnipeg. Vào tháng Giêng, 7 tuần sau khi Candace Derksen mất tích, gia đình Derksen đến đồn cảnh sát địa phương khi hai trung sĩ phụ trách vụ án đề nghị được nói chuyện riêng với Cliff. Sau đó một vài phút, họ đã đưa Wilma đến phòng nơi người chồng đang chờ và đóng cửa lại. Ông đợi và sau đó nói.

“Wilma, họ đã tìm thấy Candace.”

Xác con bé bị bỏ lại trong một chiếc lồng cách nhà Derksen vài cây số. Tay chân con bé bị cột lại. 

5.

Gia đình Derksen đã gặp cú sốc giống như Mike Reynolds. Thành phố Winnipeg đã phản ứng trước sự biến mất của Candace như Fresno phản ứng trước cái chết của Kimber Reynolds. Mọi thành viên trong gia đình Derksens đều rất đau buồn giống như Mike Reynolds. Nhưng hai bi kịch rẽ theo 2 hướng khác nhau. 

Khi gia đình Derksen từ sở cảnh sát về nhà, thì nhận thấy bạn bè và người thân đã ở hết đây. Họ ở lại đó cả ngày. Đến 10 giờ đêm, chỉ còn lại các thành viên nhà Derksen và một vài người bạn thân. Họ đang ngồi trong nhà bếp, chuông cửa reo. 

“Tôi đã nghĩ rằng ai đó có thể quên găng tay hay gì đó,” Derksen nói. Cô đang ngồi ở sân sau nhà ở Winnipeg để nói chuyện. Có một người lạ đang đứng đó. “Anh ta nói, “Tôi cũng là cha của một đứa trẻ bị sát hại.’”

Đó là một người đàn ông khoảng 50 tuổi, con gái ông đã bị giết trong một cửa hàng bánh một vài năm trước đó. Đó là một vụ án mạng lớn ở Winnipeg. Kẻ tình nghi tên là Thomas Sophonow đã bị bắt vì đã cố ý giết người 3 lần. Hắn bị bỏ tù 4 năm trước khi được một tòa án phúc thẩm minh oan. Người đàn ông ngồi trong bếp nhà họ và bắt đầu kể chuyện.

“Tất cả chúng tôi đều ngồi quanh bàn và nhìn chằm chằm vào ông ấy,” Wilma Derksen nói. “Tôi nhớ ông ấy đã kể rất chi tiết về cả 3 vụ xét xử. Ông có một cuốn sổ nhỏ màu đen như sổ của một phóng viên. Ông thậm chí còn có cả các hóa đơn đã thanh toán được sắp xếp rất cẩn thận. Ông nói về Sophonow, sự bất khả thi của các vụ xét xử, sự tức giận của mình trước sự bất công, sự bất lực của hệ thống xử phạt bất cứ kẻ giết người nào. Ông muốn một điều gì đó rõ ràng. Toàn bộ quá trình này đã khiến ông suy sụp. Nó đã tàn phá gia đình ông. Ông không thể đi làm, sức khỏe suy giảm. Ông không nói nhiều về con gái mình thay vì đó là sự thôi thúc đi tìm công lý. Chúng tôi có thể nhận thấy điều đó. Điệp khúc của ông là, ‘tôi sẽ kể cho các anh chị điều này để mọi người biết những gì còn ở phía trước.’“

“Đó là một ngày kinh hoàng”, Derksen nói. “Chúng tôi như chết trân, không biết làm gì cho phải. Thế nhưng trải nghiệm này giống như sự ngắt quãng, bởi nó quá sống động. Tôi có cảm giác rằng điều này rất quan trọng. Bạn đang trải qua một thời gian khó khăn, nhưng hãy thật chú ý.”

Đối với gia đình Derksen, những gì người đàn ông nọ nói không phải là một dự đoán mà là một cảnh báo. Đây là những gì có thể diễn ra trong tương lai. Họ có thể mất sức khỏe, sự tỉnh táo và mất nhau nếu họ để kẻ giết con gái cướp nốt chúng. 

“Nếu ông ấy không đến vào thời điểm đó, có thể mọi chuyện sẽ khác,” Derksen nói. “Ông ấy đã làm thay đổi nhận thức của tôi. Chúng tôi đã nói với nhau, “chúng tôi thoát ra khỏi điều này bằng cách nào?”

Sau đám tang của Candace, vợ chồng Derksen đồng ý nói chuyện với báo chí. Sự biến mất của Candace Derksen đã lan khắp thành phố. 

“Anhchị cảm thấy thế nào với kẻ đã làm điều này với Candace?” Một phóng viên hỏi vợ chồng Derksen.

“Chúng tôi muốn biết người đó hoặc những người đó là ai, với hy vọng có thể chia sẻ với họ một chút tình thương mà có vẻ họ đã đánh mất.” Cliff cho biết. 

Tiếp đến Wilma. “Mối quan tâm chính của chúng tôi là tìm ra Candace. Chúng tôi đã tìm thấy con bé.” Cô tiếp tục, “lúc này đây, tôi không thể nói rằng tôi tha thứ cho kẻ đó,” nhưng cụm từ “lúc này đây” được nhấn mạnh. “Chúng ta đều đã làm điều gì đó khủng khiếp trong cuộc đời, hoặc cảm thấy cần phải làm vậy.” 

6.

Có phải Wilma Derksen ít nhiều là một “người hùng” so với Mike Reynolds? Một câu hỏi rất hấp dẫn. Nhưng nó không đúng: Mỗi người đều chọn ra dự định tốt nhất và chọn một hành trình can đảm. 

Sự khác biệt giữa hai gia đình đó là họ có cảm nhận riêng về những gì có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng quyền lực. Gia đình Derksen đấu tranh với bản năng làm cha mẹ để tiến lên bởi họ không chắc về những gì có thể đạt được. Họ đã không bị hấp dẫn trước sức mạnh của gã khổng lồ. Họ lớn lên trong truyền thống tôn giáo Mennonite. Người Mennonite là những người ưa hòa bình và hướng ngoại. Gia đình Wilma di cư từ Nga, nơi có nhiều người Mennonite định cư vào thế kỷ XVIII. Trong cuộc Cách mạng Nga và những năm tháng dưới thời Stalin, các Mennonite luôn bị đàn áp ác liệt. Toàn bộ các làng Mennonite đã bị xóa sổ hoàn toàn. Hàng trăm thanh niên được đưa đến Siberia. Các trang trại của họ bị cướp và đốt rụi, toàn bộ cộng đồng này đã buộc phải chạy trốn sang Hoa Kỳ và Canada. 

“Tôi đã được dạy rằng có một cách khác để đối phó với sự bất công,” Derksen nói. “Tôi đã được dạy điều đó ở trường. Chúng tôi đã được học về lịch sử đàn áp. Chúng tôi được xem ảnh về sự tử vì đạo trong thế kỷ XVI. Triết lý Mennonite cho rằng chúng ta sẽ tha thứ và sẽ tiến lên phía trước.” Đối với người Mennonite, tha thứ là một mệnh lệnh tôn giáo: Hãy tha thứ cho kẻ mắc nợ bạn. Nhưng đó cũng là một chiến lược rất thiết thực dựa trên niềm tin rằng việc trả thù được thực hiện có những giới hạn nhất định. Các Mennonite tin vào đường cong ngược hình chuông.

Mike Reynolds đã không hiểu về các giới hạn. Theo nguyên tắc, ông tin rằng, nhà nước và pháp luật có thể mang lại công lý cho cái chết của con gái ông. Có lúc, Reynolds nói về trường hợp Jerry DeWayne Williams, một thanh niên bị bắt vì lấy một lát bánh pizza của 4 đứa trẻ trên cảng biển Redondo nằm ở phía nam của Los Angeles. Bởi Williams có 5 tiền án, từ cướp đến tàng trữ ma túy đến vi phạm luật tạm tha, hành vi trộm cắp bánh pizza là tình huống tấn công thứ ba. Hắn đã bị kết án 25 năm. Williams phải ở tù lâu hơn bạn cùng phòng giam, vốn là một kẻ giết người. 

Khi nhìn lại, trường hợp của Williams là sự khởi đầu cho cái kết cho cuộc “thập tự chinh” của Mike Reynolds. Nó nhấn mạnh mọi điểm sai lầm của luật Bất quá tam. Luật này không thể phân biệt giữa những tên trộm bánh pizza và những kẻ giết người. Nhưng Mike Reynolds không bao giờ hiểu tại sao trường hợp về Williams lại gây ra quá nhiều sự phẫn nộ trong công chúng. Đối với ông, Williams đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản: hắn đã liên tục phá vỡ các quy tắc của xã hội và do đó mất quyền tự do. Đơn giản là vậy. Điều quan trọng với ông đó là luật này đã đưa ra ví dụ về người phạm tội lặp lại. “Mỗi lần các phương tiện truyền thông lượm lặt được một câu chuyện về thằng ngốc nào đó đã đánh cắp một miếng bánh pizza và đó là lần phạm tội thứ 3 của hắn,” ông tiếp tục, “điều đó có thể ngăn được nạn phạm tội hơn bất cứ điều gì tại tiểu bang này.”

Lính Anh đã hành động theo cùng một nguyên tắc trong giai đoạn đầu khủng hoảng. Mọi người không được phép chế tạo bom, chứa vũ khí tự động và bắn nhau vào ban ngày. Không có xã hội dân sự nào có thể tồn tại trong những hoàn cảnh này. Tướng Freeland có đủ mọi quyền để gây khó dễ cho những tên côn đồ và các tay súng.

Tuy nhiên, Freeland và Reynolds đều không hiểu: có một điểm mà sự áp dụng quyền lực và quyền hạn có ý định tốt nhất sẽ bắt đầu phản tác dụng. Lục soát ngôi nhà đầu tiên ở Lower Falls có vẻ không sao. Nhưng lục soát toàn bộ khu phố chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn. Vào giữa những năm 1970, mỗi hộ gia đình Công Giáo ở Bắc Ireland đã bị lục soát trung bình hai lần. Ở một số khu phố là hơn 10 lần. Từ năm 1972 đến năm 1977, một trong 4 nam giới Công Giáo ở Bắc Ireland từ 16 đến 44 tuổi bị bắt giữ ít nhất một lần. Ngay cả khi những người này làm điều gì đó bất hợp pháp, nhưng không nghiêm trọng đến mức có thể kết thành tội.

Bài học cuối cùng về các giới hạn của quyền lực không dễ tìm hiểu. Nó buộc những người ở các vị trí quyền lực chấp nhận rằng những gì họ coi là lợi thế lớn nhất của mình thực sự có hạn chế. 

Trong suốt những năm qua, nhiều người đã đến Fresno để nói chuyện với Reynolds về Luật Bất quá tam: việc lái xe cả đoạn đường dài từ Los Angeles đến những cánh đồng bằng phẳng ở thung lũng Central đã trở thành một kiểu hành hương. Reynolds có thói quen đưa du khách của mình đến Daily Planet – nhà hàng nơi cô con gái của ông từng ăn trước khi bị giết hại trên đường phố. Tôi đã nghe nói về một trong những chuyến viếng thăm trước khi tôi thực hiện cuộc hành trình tương tự. Reynolds đã tranh cãi với chủ nhà hàng. Cô ấy đề nghị ông thôi không đưa mọi người ghé qua đây trong các tour du lịch. Reynolds đã làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của cô ấy. “Khi nào điều này sẽ kết thúc?”, cô ấy hỏi ông. Reynolds tím mặt. “Chắc chắn, việc đó sẽ ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của cô ấy,” ông nói, “nhưng nó đã nhấn chìm cuộc sống của chúng tôi. Tôi nói với cô ấy rằng mọi chuyện sẽ kết thúc khi con gái tôi trở lại.”

Đến cuối cuộc phỏng vấn của chúng tôi, Reynolds nói rằng ông muốn chỉ cho tôi nơi con gái ông bị sát hại. Tôi đã từ chối. Ông đưa cho tôi một bức ảnh chân dung con gái mình. “Nó được chụp 1 tháng trước khi Kimber bị sát hại. Mike Reynolds sẽ mãi đau buồn như vậy. “Con bé xứng đáng được sống. Mọi chuyện cần được dừng lại.”

Trong năm 2007, gia đình Derksen nhận được một cuộc điện thoại từ cảnh sát. Đã 20 năm kể từ ngày Candace biến mất. Họ đã cố gắng để sống. Có gì tốt khi khơi lại vết thương cũ? Cuối cùng họ đã trả lời. Cảnh sát đến và nói, “chúng tôi đã tìm thấy người sát hại Candace.”

Chuồng gia súc nơi tìm thấy cơ thể Candace đã được lưu ở một nhà kho của cảnh sát trong suốt những năm qua, và ADN từ hiện trường khớp với ADN của một người đàn ông tên Mark Grant. Ông ta sống không xa nơi ở của gia đình Derksen. Ông có tiền án về hành vi lạm dụng tình dục và đã dành phần lớn những năm tháng tuổi trẻ trong tù. Vào tháng Giêng năm 2011, Grant được đưa ra xét xử. 

Derksen nói rằng cô đã rất sợ hãi. Cô không biết nên làm thế nào. Ký ức về con gái đã được chôn chặt trong cô, và bây giờ tất cả mọi thứ được gợi lên. Cô ngồi trong phòng xử án. Grant khá xanh xao, nhợt nhạt. Tóc của ông ta bạc trắng. Ông ta trông không được khỏe và không còn hoạt bát. “Ông ta ném sự giận dữ, sự căm phẫn về phía chúng tôi một cách rất kỳ lạ,” cô nói. “Tôi không biết tại sao ông ta lại nổi giận với chúng tôi, trong khi chúng tôi mới là người nên làm thế. Đến phút cuối của phiên tòa sơ thẩm khi tôi nhìn ông ta, bạn biết đấy, tôi đã tự nhủ, “Hắn là kẻ giết chết Candace. Tôi nhớ cả hai chúng tôi nhìn nhau và không tin vào điều đó: Ông là ai? Sao ông có thể làm vậy? 

“Thời điểm tồi tệ nhất, đau đớn nhất với tôi là khi tôi nhận ra hắn đã trói tay chân Candace lại, nhìn con bé quằn quại, rằng hắn thấy sung sướng khi tra tấn con bé... Với tôi, điều đó thậm chí còn tồi tệ hơn cả cưỡng hiếp. Thật vô nhân đạo. Hắn thật khốn nạn. Điều này thật tồi tệ.”

“Làm sao bạn có thể tha thứ cho một kẻ như thế?” Cô tiếp tục. “Câu chuyện của tôi giờ phức tạp hơn nhiều. Tôi đã phải đấu tranh với những cảm xúc dạng như tại sao hắn không chết đi? Tại sao không có ai giết hắn ta đi? Suy nghĩ đó thật không nên. Nó mang tính trả thù.”

“Tôi đã chiến đấu chống lại nó,” cô tiếp tục. “Tôi đã rất miễn cưỡng. Tôi không phải là thánh thần. Tôi không phải lúc nào cũng bao dung vị tha được. Đó là điều cuối cùng bạn muốn làm. Có nhiều người đứng về phía tôi. Tôi có thể có một tổ chức rất lớn hậu thuẫn.”

Wilma Derksen có thể trở thành Mike Reynolds. Cô có thể bắt đầu đưa ra phiên bản Luật bất quá tam của riêng mình nhưng cô không làm vậy. “Điều đó có thể dễ dàng từ lúc đầu,” cô tiếp tục. “Nhưng rồi nó sẽ dần khó khăn hơn. Tôi có thể mất đi những người thân còn lại của mình. Tôi sẽ làm những điều tồi tệ với người khác như những gì ông ta đã làm với Candace theo một cách khác.”

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.