David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ

Lượt đọc: 273 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5. Emil “Jay” Freireich

❊ ❊ ❊

“Tôi không biết Jay làm việc đó như thế nào.”

1.

Khi Jay Freireich còn rất nhỏ, cha anh đột ngột qua đời. Gia đình Freireich là dân nhập cư Hungary và quản lý một nhà hàng ở Chicago. Họ mất tất cả sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929. “Họ thấy cha tôi trong phòng tắm,” Freireich nói. “Tôi nghĩ đó là một vụ tự tử, bởi cha cảm thấy cô độc. Ông đến Chicago bởi ông có một người anh ở đó. Khi thị trường sụp đổ, anh trai cha tôi đã rời thị trấn. Nhà hàng phá sản, tay trắng cùng với hai con đứa con thơ dại, hẳn là ông đã rất tuyệt vọng.”

Mẹ của Freireich làm việc trong một xưởng đính cúc mũ. Bà kiếm được 2 xumũ. Bà không nói được tiếng Anh nhiều. “Mẹ tôi phải làm việc 18 giờngày, 7 ngàytuần để trang trải tiền thuê nhà,” Freireich chia sẻ. “Chúng tôi không bao giờ gặp được mẹ. Chúng tôi có một căn hộ nhỏ ở phía tây Humboldt Park, giáp một khu ổ chuột. Mẹ không thể để 2 đứa con, một 2 tuổi, một 5 tuổi ở nhà một mình, vì vậy mẹ đã thuê một phụ nữ nhập cư Ailen trông chúng tôi và làm việc nhà. Từ khi tôi lên 2 tuổi, cô giúp việc người Ailen này chính là mẹ của tôi. Chúng tôi rất yêu quý cô ấy. Năm tôi lên 9, mẹ tôi kết hôn với một người đàn ông Hungary, góa vợ và có một con trai. Ông ta không thể tự chăm sóc con trai mình còn mẹ tôi không có ai để nương nhờ. Ông ta là người rất cay nghiệt. Vì vậy, khi họ kết hôn và mẹ tôi rời khỏi xưởng mũ, họ không còn đủ khả năng thuê người giúp việc nữa. Vì vậy, họ đã sa thải cô ấy. Họ đã sa thải mẹ tôi. Tôi không bao giờ tha thứ cho mẹ đẻ tôi vì điều đó.”

Cả gia đình chuyển hết từ căn hộ này sang căn hộ khác. Freireich nhớ mình đã đi từ cửa hàng này sang cửa hàng khác để tìm mua một chai sữa 4 xu, bởi gia đình không có khả năng mua một chai sữa giá 5 xu bình thường. Ông lang thang trên đường cả ngày, ăn cắp và không gần gũi với em gái mình. Con bé sống có kỷ luật hơn. Cuộc hôn nhân không kéo dài lâu. Cha dượng không còn ưa mẹ của ông nữa. “Bà ấy dường như đã bị xí nghiệp bóc lột đến tận xương tủy”, ông nói. “Bà ấy rất nóng tính. Và khi bà ấy kết hôn với gã xấu xí đó, kẻ đã mang theo đứa con riêng – chiếm một nửa những gì tôi có, và sau đó còn sa thải mẹ tôi...” giọng ông nhỏ dần. 

Freireich đang ngồi ở bàn, mặc một chiếc áo khoác trắng. Ông nói về những điều xảy ra rất lâu trước đây và những thứ vừa mới xảy ra. “Tôi không nhớ bà ấy từng ôm, hôn hay làm bất cứ điều gì tương tự như thế,” ông nói. “Bà ấy không bao giờ nhắc đến cha tôi. Tôi không biết ông ấy có tử tế với bà ấy hay không nữa. Tôi chưa từng được nghe về điều đó. Tôi luôn phân vân về việc ông ấy là người như thế nào.” Freireich chỉnh lại chiếc ghế, nhấp chuột vào một tập tin ảnh trên máy tính của mình, một bức ảnh một người đàn ông được chụp vào khoảng đầu thế kỷ XX, trông rất giống Freireich. “Đó là bức ảnh duy nhất của ông ấy mà mẹ tôi còn giữ”, ông nói. Các cạnh của bức ảnh không đều nhau. Nó đã được cắt từ một bức ảnh gia đình. 

Tôi hỏi về người giúp việc Ailen đã nuôi nấng ông. Tên bà ấy là gì? Ông ngừng lời một lúc, “Tôi không nhớ”, ông nói. “Tôi sẽ nhớ ra thôi, tôi chắc chắn đấy.” Ông ngồi im một lúc và tập trung. “Em gái và mẹ tôi chắc chắn sẽ nhớ. Nhưng họ không còn sống nữa. Tôi không còn ai thân thích – ngoài 2 người anh em họ.” Ông ngừng lời một lần nữa. “Tôi muốn gọi bà ấy là Mary. Và đó thực sự có thể là tên của bà ấy. Nhưng tên của mẹ tôi cũng là Mary. Vì vậy, tôi có thể nhầm lẫn về điều đó ...”

Freireich đã 84 tuổi khi chúng tôi nói chuyện với nhau. Nhưng sẽ là sai lầm khi gọi đây là bệnh tuổi già. Jay Freireich không hề mắc chứng đãng trí. Tôi phỏng vấn ông lần đầu tiên vào mùa xuân và 6 tháng sau đó, rất nhiều lần sau đó, ông vẫn nhớ như in các sự kiện, tên, ngày chuẩn xác, và nếu nhắc lại một sự kiện nào đã từng nói đến trước đó, ông sẽ nói, “Tôi nhớ là đã kể cho anh điều này lần trước rồi.” Ông không thể nhớ tên của người giúp việc đã nuôi nấng ông bởi những năm tháng đó quá đau thương đến mức ông không còn muốn nhớ đến nó nữa.

2.

Trong suốt những năm tháng trước Chiến tranh Thế giới II, chính phủ Anh đã rất lo lắng. Khi chiến tranh nổ ra, nếu Không quân Đức phát động một cuộc tấn công lớn chống lại Không quân London, Bộ chỉ huy quân Anh tin rằng họ không thể làm gì để ngăn cản được điều đó. Basil Liddell Hart, một trong những nhà lý luận quân sự quan trọng nhất thời đó, ước tính rằng trong tuần đầu tiên của bất kỳ cuộc tấn công nào của Đức, có khoảng 1/4 triệu dân thường ở London thiệt mạng và bị thương. Winston Churchill mô tả London như “mục tiêu lớn nhất trên thế giới, một món ngon béo bở và đầy hấp dẫn trong mắt những con thú săn mồi.” Ông dự đoán thành phố sẽ hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước cuộc tấn công của kẻ thù đến mức 3 đến 4 triệu người dân London bỏ chạy về vùng nông thôn. Năm 1937, vào đêm trước của cuộc chiến, chỉ huy quân đội Anh đã đưa ra thông báo với dự đoán đáng báo động nhất: những vụ đánh bom liên tiếp của Đức có thể khiến 600.000 người chết, 1,2 triệu người bị thương và gây náo loạn trên hàng loạt các đường phố. Mọi người không đi làm. Sản xuất công nghiệp bị trì trệ. Quân đội không thể chống lại quân Đức bởi họ còn mải trấn an hàng triệu người dân hoảng sợ. Các nhà hoạch định của đất nước nhanh chóng cân nhắc đưa ra quyết định xây dựng hàng loạt các hầm tránh bom dưới lòng đất ở khắp London, nhưng họ đã từ bỏ kế hoạch bởi họ sợ rằng nếu làm vậy, người dân được đưa di tán xuống đó sẽ không bao giờ trở ra. Họ dựng lên một số bệnh viện tâm thần ở ngay bên ngoài thành phố để xử lý những gì mà theo họ, là cơn chấn động lớn về tâm lý. Bản báo cáo cho hay, “Cuộc chiến có khả năng gây tổn hại rất lớn cho chúng ta.”

Vào mùa thu năm 1940, các cuộc tấn công trường kỳ như dự kiến bùng nổ. Trong khoảng 8 tháng – bắt đầu với 77 đêm liên tiếp ném bom tàn phá – bom của Đức nổ vang trời London, thả hàng chục ngàn quả bom có sức công phá lớn và hơn một triệu thiết bị dễ cháy nổ xuống đây. 40.000 người thiệt mạng, và thêm 46.000 người bị thương. Hàng triệu tòa nhà bị hư hại hoặc bị phá hủy. Ở khu East End của thành phố, toàn bộ khu vực dân cư chìm trong chất thải. Đó là những nỗi khiếp sợ nhất của các quan chức chính phủ Anh – ngoại trừ việc mọi dự đoán của họ về phản ứng của người dân London hóa ra đều sai lầm. 

Người dân không hề hoảng loạn. Các bệnh viện tâm thần được xây dựng ở ngoại ô London đã chuyển sang sử dụng vào mục đích quân sự bởi không có bệnh nhân nào. Nhiều phụ nữ và trẻ em đã được sơ tán về nông thôn khi các vụ đánh bom bùng nổ. Nhưng mọi người cần bám trụ lại để giữ thành phố. Khi Chiến dịch Blitz tiếp tục, khi các cuộc tấn công của Đức ngày càng tàn khốc hơn, các nhà chức trách Anh bắt đầu thấy, trong sự ngỡ ngàng của họ – không chỉ sự dũng cảm khi phải đối mặt với các vụ đánh bom mà cả thứ gì đó gần giống như sự thờ ơ. “Vào tháng 10/1940, tôi có dịp lái xe qua vùng Đông Nam London ngay sau hàng loạt các cuộc tấn công vào khu vực đó”, một bác sĩ tâm thần người Anh viết ngay sau khi cuộc chiến tranh kết thúc: 

Cứ khoảng trăm thước một lại có một hố bom hoặc đống đổ nát của một ngôi nhà hoặc cửa hàng. Tiếng còi cảnh báo vang lên và tôi ngoảnh nhìn xem chuyện gì xảy ra. Một nữ tu nắm lấy tay đứa trẻ rảo bước vội vã. Cô ấy và tôi có vẻ là những người duy nhất nghe thấy tiếng còi cảnh báo. Những cậu bé khác tiếp tục chơi trên vỉa hè, người mua hàng tiếp tục mặc cả, một cảnh sát chỉ đạo giao thông với vẻ uể oải chán chường, và những người đi xe đạp lao xe rầm rầm bất chấp luật giao thông. Tôi chẳng nhìn thấy ai mảy may ngước lên trời.

Tôi nghĩ bạn cũng sẽ đồng tình với tôi rằng điều này thật khó tin. Chiến dịch Blitz là chiến tranh. Những mảnh vỏ bom nổ bay khắp các hướng. Những quả bom gây cháy thiêu cháy một khu vực khác mỗi đêm. Hơn một triệu người mất nhà cửa. Hàng ngàn người chui rúc trong những nơi trú ẩn tạm bợ tại các trạm tàu điện ngầm mỗi đêm. Bên ngoài kia là tiếng rít của máy bay địch trên không, tiếng bom nổ, tiếng lách cách lên nòng súng, tiếng còi xe cứu thương, xe chữa cháy, cảnh báo và còi báo động ồn ã không dứt. Trong một khảo sát về người London vào đêm 12/9/1940, 1/3 số họ cho hay họ thức trắng đêm hôm trước, và 1/3 không ngủ trước 4 giờ. Bạn nghĩ người dân New York sẽ phản ứng thế nào nếu một trong những tòa nhà văn phòng của họ bị biến thành đống đổ nát không chỉ một lần mà mỗi đêm trong vòng 2 tháng rưỡi?

Người London có phản ứng như vậy là bởi người Anh có truyền thống “chân cứng đá mềm” − sự cam chịu được cho là đặc tính của người Anh. (Không ngạc nhiên khi đây là lý giải ưa thích nhất của người Anh.) Nhưng không chỉ người Anh có đức tính đó. Người dân các quốc gia khác hóa ra cũng kiên cường như vậy khi đối mặt với các vụ đánh bom. Rõ ràng, các vụ đánh bom không có ảnh hưởng lớn như người ta tưởng. Đến tận khi kết thúc chiến tranh, câu đố này mới được bác sĩ tâm thần người Canada, JT MacCurdy, giải thích trong một cuốn sách mang tên The structure of Morale (tạm dịch: Cấu trúc tinh thần).

MacCurdy lập luận rằng khi một quả bom rơi, nó chia dân số bị ảnh hưởng thành 3 nhóm. Nhóm đầu tiên là những người thiệt mạng. Họ là những người bị ảnh hưởng nặng nhất bởi vụ đánh bom. Nhưng như MacCurdy chỉ ra (có vẻ nhẫn tâm một chút), “tinh thần của cộng đồng phụ thuộc vào phản ứng của những người sống sót, vì vậy từ quan điểm đó, những người bị thiệt mạng không quan trọng. Như vậy, thực tế rất rõ ràng, những người thiệt mạng không liên quan đến việc lây lan sự hoảng loạn.”

Theo ông, nhóm tiếp theo là gần như bỏ mạng:

Họ được chứng kiến vụ nổ, cảm nhận trực tiếp sự phá hủy, có cảm giác sợ hãi trước cuộc tàn sát, có thể bị thương, nhưng đã sống sót đầy ấn tượng. “Ấn tượng” ở đây là sự pha trộn của cảm giác đầy sợ hãi trước sức công phá của vụ đánh bom và việc thoát chết trong gang tấc. Nó có thể khiến nạn nhân “sốc”, một thuật ngữ khái quát bao gồm từ trạng thái choáng váng hay sững sờ đến sự hoảng hốt và sợ hãi tột độ trước những gì họ được chứng kiến.

Nhóm thứ ba, theo ông, là những người thoát chết. Đây là những người nghe tiếng còi báo động, quan sát các máy bay ném bom của quân thù trên không, và nghe tiếng bom nổ rền. Nhưng quả bom rơi xuống các đường phố hoặc tòa nhà bên cạnh. Và đối với họ, hậu quả của một vụ đánh bom trái ngược với nhóm gần bỏ mạng. Họ sống sót và theo MacCurdy, họ “mừng thầm do không bị thương.” Một người thoát chết hoan hỉ với suy nghĩ rằng họ “bất khả chiến bại”. 

Trong nhật ký và hồi ức của những người London trải qua Chiến dịch Blitz, có vô vàn ví dụ về hiện tượng này. Ví dụ, 

Theo nhật ký của một phụ nữ trẻ mà nhà cô đã bị rung chuyển trong một vụ nổ gần đó:

Tôi nằm đó với cảm giác hạnh phúc và vui sướng khôn tả. “Tôi vừa bị đánh bom!” Tôi tiếp tục tự nhủ hết lần này đến lần khác câu nói trên. Thật khủng khiếp khi có quá nhiều người đã bị thiệt mạng và bị thương đêm qua; nhưng quả thực, tôi chưa từng hạnh phúc đến vậy.

Vậy tại sao người London lại quá bối rối trước sự kiện Chiến dịch Blitz? Bởi 40.000 người chết và 46.000 người bị thương – trải rộng trên một khu đô thị với hơn 8 triệu người – có nghĩa là có nhiều người thoát chết hơn những người gần bỏ mạng. 

“Tất cả chúng ta không chỉ đơn thuần chịu đựng sự sợ hãi,” MacCurdy tiếp tục. 

Chúng tôi cũng dễ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nỗi sợ hãi, và việc chinh phục được nỗi sợ hãi mang lại niềm vui... Khi chúng tôi nghĩ mình sẽ hoảng sợ khi gặp không kích, và khi điều đó xảy ra, chúng tôi đã thật bình tĩnh và cho thấy chúng tôi đang an toàn, trái ngược với cảm giác lo âu trước đó và chính cảm giác tích cực này thúc đẩy sự tự tin hơn nữa, dẫn đến sự can đảm. 

Trong giai đoạn cam go nhất thuộc Chiến dịch Blitz, một người lao động trung niên trong một nhà máy sản xuất tầm trung được hỏi rằng ông có muốn sơ tán về nông thôn không. Ông đã từng bị ném bom 2 lần ở ngoài khu nhà ở. Nhưng lần nào, ông cũng từ chối, ông không muốn bỏ lại tất cả mà đi.

3.

Ý tưởng về khó khăn tích cực cho thấy không phải mọi khó khăn đều tiêu cực. Việc đọc kém là một trở ngại thực sự, và trở ngại có thể biến bạn thành một người biết lắng nghe tuyệt vời, hoặc mang lại cho bạn sự can đảm đủ để nắm bắt lấy cơ hội chưa từng xuất hiện. 

Lý thuyết về tinh thần của MacCurdy là một quan điểm thứ cấp, rộng hơn về ý tưởng này. Winston Churchilland và các đồng sự của ông rất sợ các cuộc tấn công của Đức vào London bởi họ cho rằng trải nghiệm đau thương như bị ném bom sẽ ảnh hưởng đến mọi người: sự khác biệt duy nhất giữa người thoát chết và gần bỏ mạng là mức độ thương vong mà họ phải chịu đựng. 

Nhưng đối với MacCurdy, Chiến dịch Blitz đã chứng minh được rằng những trải nghiệm đau thương có hai ảnh hưởng hoàn toàn khác biệt đến con người: cùng một sự kiện có thể vừa gây tổn hại sâu sắc đến một nhóm trong khi lại có ảnh hưởng tích cực đến một nhóm khác. Người đàn ông làm việc trong nhà máy sản xuất cúc áo và người phụ nữ trẻ có nhà bị chấn động do bom thuộc về nhóm tích cực. Họ đang ở tâm của cuộc chiến. Họ không thể thay đổi thực tế đó. Nhưng họ đã thoát khỏi nỗi lo ngại có thể khiến cuộc sống trong suốt thời kỳ chiến tranh trở nên khó khăn cùng cực. 

Thường thì, chúng ta hay mắc phải sai lầm tương tự như những người Anh và vội vàng đi đến kết luận rằng chỉ có duy nhất một phản ứng trước khủng hoảng và đau thương. Không phải vậy. Có hai cách đưa chúng ta trở lại với Jay Freireich và thời thơ ấu mà ông không cho phép mình nhớ lại. 

4.

Khi Jay Freireich lên 9, ông bị viêm amiđan. Ông ốm rất nặng. Bác sĩ khu vực – Tiến sĩ Rosenbloom – đã đến nhà để cắt amiđan cho ông. “Tôi chưa từng gặp người đàn ông nào trong nhiều năm,” Freireich nói. “Tôi gặp toàn phụ nữ. Nếu có đàn ông, thì ông ta cũng dơ dáy và luộm thuộm. Nhưng Rosenbloom mặc comple, đeo cà vạt, nghiêm túc và tốt bụng. Vì vậy, từ năm lên 10, tôi từng mơ về việc trở thành bác sĩ nổi tiếng. Tôi chưa bao giờ nghĩ về bất cứ nghề nào khác.” 

Hồi học trung học, giáo viên vật lý rất có ảnh hưởng đến ông lúc đó khuyên ông nên học đại học. “Tôi nói, ‘em cần có những gì?’, thầy ấy nói: ‘tôi nghĩ em chỉ cần 25 đô-la.’” Đó là năm 1942. Mọi thứ đã khấm khá hơn. Nhưng người dân vẫn không mấy dư giả. 25 đô-la không phải là khoản tiền nhỏ. Tôi không nghĩ mẹ tôi đã từng nhìn thấy tờ 25 đô-la. Bà nói: “Để mẹ xem đã.” Một vài ngày sau đó, bà gặp một phụ nữ Hungary có chồng qua đời và để lại tiền của, bà ta đã cho mẹ tôi 25 đô-la. Vì vậy, giờ tôi mới ở đây. Năm đó, tôi 16 tuổi và tôi rất lạc quan.”

Freireich đi tàu từ Chicago đến Champaign-Urbana, trụ sở của Đại học Illinois. Ông đã thuê một phòng ngủ trong một nhà trọ. Ông xin làm bồi bàn trong một khu nhà nữ sinh để trả tiền học phí, và mua được thức ăn thừa bằng tiền boa. Ông đã được nhận vào trường y, sau đó, ông bắt đầu thực tập tại Bệnh viện Cook County, một bệnh viện công lớn ở Chicago. 

Y học trong thời gian đó là một nghề cao quý. Các bác sĩ được xã hội trọng dụng và thường đến từ tầng lớp trung thượng lưu. Freireich không phải là người như thế. Thậm chí ngày nay, khi đã 80 tuổi, Freireich vẫn là một người đàn ông dữ dằn với vóc dáng cao lớn. Đầu ông to quá khổ – ngay cả đối với một cơ thể lực lưỡng – khiến ông trông có vẻ to cao hơn người thường. Ông nói nhiều, nhanh, giọng vang, đặc sệt chất Chicago. Trong những lúc muốn nhấn mạnh, ông có thói quen hét lớn, lấy nắm đấm giáng xuống bàn.

Ông hẹn hò với một phụ nữ xuất thân từ một gia đình giàu có hơn gia đình ông rất nhiều. Cô là người rất tinh tế và khó hiểu. Freireich là một võ sĩ đến từ Humboldt Park, người trông có vẻ giống dân xã hội đen thời suy thoái. “Cô ấy đưa tôi đi nghe nhạc giao hưởng. Đó là lần đầu tiên tôi nghe nhạc cổ điển,” ông nhớ lại. “Tôi chưa từng xem múa ba lê hay kịch. Ngoài chiếc ti vi nhỏ mà mẹ mua, tôi chẳng biết gì về chúng. Không văn chương, không nghệ thuật, không âm nhạc, không gì hết. Chỉ là đồ ăn thức uống. Và không bị giết hay đánh đập.”

Freireich là một cộng sự nghiên cứu tại khoa huyết học ở Boston. Từ đó, ông đã được đưa vào quân đội và đã chọn hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại Viện Ung thư Quốc gia, ngay ở ngoài Washington, DC. Xét về mọi mặt, ông là một bác sĩ xuất sắc có chuyên môn và cần cù. Nhưng ông vẫn không tạo được bước tiến nào từ điểm khởi đầu đầy hỗn loạn của mình. Tính ông nóng như lửa. Ông không hề biết kiên nhẫn hay nhẹ nhàng. Một đồng nghiệp vẫn nhớ như in ấn tượng đầu tiên về Freireich: “một người khổng lồ, ở phía sau phòng chính, la hét và gào thét vào điện thoại.” Một người khác thì nghĩ, “ông ấy không thể kiềm chế. Ông ấy nghĩ gì nói đấy.” Trong suốt sự nghiệp của mình, ông bị sa thải 7 lần, lần đầu tiên là trong thời gian nội trú khi ông giận dữ bất chấp cả y tá trưởng tại Bệnh viện Presbyterian ở Chicago. Một trong những đồng nghiệp cũ của ông nhớ Freireich tình cờ thấy một trong những bác sỹ nội trú mắc lỗi. Họ vô tình bỏ qua một phát hiện nhỏ trong phòng thí nghiệm. “Bệnh nhân tử vong,” bác sĩ nói. “‘Đó không phải là sai sót.’ Jay hét vào mặt ông ta ngay trong phòng, trước 5, 6 bác sĩ và y tá khác. Ông gọi ông ta là kẻ giết người, và vị bác sỹ nọ đã bật khóc.” Mọi người đều nhận xét về Freireich kèm với từ “nhưng”. Tôi quý anh ấy, nhưng chúng tôi gần như đã hét vào mặt nhau. Tôi mời anh đến nhà tôi, nhưng anh ấy đã xúc phạm vợ tôi. “Đến giờ, Freireich vẫn là một trong những anh em thân nhất của tôi,” Evan Hersh, một bác sĩ chuyên khoa từng làm việc với Freireich vào thời kỳ đầu trong sự nghiệp của ông cho biết. “Chúng tôi đã mời ông ấy đến đám cưới của chúng tôi và có một bữa tiệc thân mật. Tôi quý mến ông ấy như cha tôi. Nhưng lúc đó, ông ấy thật dữ dằn. Giữa chúng tôi đã xảy ra xô xát lớn. Có thời kỳ, tôi không nói chuyện với ông ấy trong nhiều tuần.” 

Thái độ của Freireich có khiến ta ngạc nhiên? Bởi hầu hết chúng ta không hét vào mặt đồng nghiệp của mình và bảo họ là “Kẻ giết người!”; bởi chúng ta có thể đặt mình vào vị trí của họ; chúng ta có thể hiểu cảm giác của người khác và biết mình sẽ ra sao nếu ở vào hoàn cảnh đó. Chúng ta có thể làm vậy bởi chúng ta được ủng hộ, an ủi và thấu hiểu khi đau khổ. Sự ủng hộ đó giúp chúng ta cảm thông với người khác: đó là cơ sở cho sự đồng cảm. Nhưng trong suốt những năm tháng trưởng thành của Freireich, mọi tương tác đều dẫn đến cái chết hoặc sự bỏ rơi – và một tuổi thơ khốn khó đã chỉ mang đến cho ông sự đau thương và tức giận mỗi lần nhớ lại.

Có lần, Freireich đã phản đối kịch liệt ý tưởng rằng bệnh nhân ung thư nan y giai đoạn cuối được đưa vào trại tế bần. “Tất cả các bác sĩ đều muốn làm vậy. Ý tôi là, làm sao họ có thể đối xử với một con người như vậy?” Khi Freireich tập trung vào một vấn đề nào đó, ông lên tiếng, và bảo vệ quan điểm đến cùng. “Anh nói, ‘anh bị ung thư và sắp chết. Anh bị đau và điều đó thật khủng khiếp. Tôi sẽ tống anh đến nơi có thể chết nhẹ nhàng? Tôi sẽ không bao giờ nói điều đó với một bệnh nhân. Tôi sẽ nói, ‘Anh đang rất khổ sở. Anh bị đau. Tôi sẽ giúp anh giảm đau. Anh sống còn lâu. Đừng lo. Tôi vẫn thấy kỳ tích xảy ra mỗi ngày.’ Anh không có quyền bi quan khi mọi người coi anh là niềm lạc quan duy nhất của họ.” Vào sáng thứ Ba, tôi đi hướng dẫn một vòng, và có lúc các nghiên cứu sinh nói rằng: “Bệnh nhân này 80 tuổi rồi. Bệnh tình của ông ta vô phương cứu chữa.” Tuyệt đối không! Sẽ khó khăn thật đấy nhưng không đến mức vô phương cứu chữa. Các cô cậu phải đưa ra ý tưởng nào đó. Các cô cậu phải tìm ra cách giúp họ, bởi mọi người phải có hy vọng để sống.” Ông ấy gần như hét lên. “Tôi chưa bao giờ chán nản. Tôi không bao giờ ngồi với bố mẹ bọn trẻ và khóc khi con họ chết. Đó không phải là điều tôi sẽ làm với cương vị một bác sĩ. Là cha mẹ, tôi có thể làm điều đó. Con tôi chết, tôi có thể sẽ phát điên. Nhưng là một bác sĩ, anh phải mang lại hy vọng cho mọi người. Đó là công việc của anh.”

Freireich tiếp tục như vậy trong vài phút nữa cho đến khi gần như kiệt sức. Chúng ta đều muốn có một bác sĩ kiên trì và không từ bỏ hy vọng. Nhưng chúng ta cũng muốn có một bác sĩ đặt mình vào vị trí của chúng ta và thấu hiểu cảm nhận của chúng ta. Chúng ta muốn được đối xử bằng sự tôn trọng, và để đối xử với mọi người bằng sự tôn trọng cần đến sự đồng cảm. Freireich có thể làm được điều đó không? Tôi không bao giờ chán nản. Tôi không bao giờ ngồi với cha mẹ có con bị chết và khóc lóc. Nếu được hỏi rằng liệu chúng ta có muốn bất cứ ai phải trải qua một tuổi thơ như Freireich hay không, chúng ta chắc chắn sẽ nói không bởi rõ ràng chẳng có điểm nào tốt trong đó. Anh không thể là một người “thoát chết” khi được nuôi dưỡng trong môi trường như vậy. 

5.

Trong đầu những năm 1960, nhà tâm lý học Marvin Eisenstadt đã khởi động một dự án phỏng vấn “những người sáng tạo” – các nhà đổi mới, các nghệ sĩ và các doanh nhân – để tìm kiếm các mô hình và xu hướng chung. Khi phân tích các câu trả lời, ông nhận thấy một thực tế kỳ lạ. Số lượng trẻ mất chamẹ từ thời thơ ấu cao đáng ngạc nhiên. Nhóm ông nghiên cứu có quy mô quá nhỏ nên những gì Eisenstadt thu được chỉ mang tính ngẫu nhiên. Nhưng chính hoàn cảnh thực tế lại thôi thúc ông. Chuyện gì xảy ra nếu đó không phải là sự ngẫu nhiên? Chuyện gì xảy ra nếu nó có ý nghĩa gì khác? Có rất nhiều những gợi ý về tâm lý học. Trong những năm 1950, khi nghiên cứu một nhóm gồm các nhà sinh vật học nổi tiếng, các nhà sử học khoa học, Anne Roe đã tập trung vào việc tìm hiểu lượng người có ít nhất cha hoặc mẹ mất khi họ còn bé. Quan sát tương tự đã được thực hiện một vài năm sau đó trong một cuộc khảo sát không chính thức về các nhà thơ và các nhà văn nổi tiếng như Keats, Wordsworth, Coleridge, Swift, Edward Gibbon và Thackeray. Hóa ra hơn một nửa trong số họ mất chamẹ trước năm 15 tuổi. Mối liên kết giữa thành tích nghề nghiệp và sự mất mát người thân từ thời thơ ấu là một trong số ít thực tế mà không ai biết phải làm gì. Vì vậy, Eisenstadt đã quyết định bắt tay vào một dự án tham vọng hơn. 

“Đó là vào khoảng những năm 1963-1964,” Eisenstadt nhớ lại. “Tôi bắt đầu từ Bách khoa toàn thư Britannica và sau đó là cả Bách khoa toàn thư Britannica và Americana”. Eisenstadt đã lập ra một danh sách bao gồm rất nhiều người, từ Homer đến John F. Kennedy, có thành tích ấn tượng trong cuộc sống. Danh sách của ông gồm 699 người. Sau đó, ông bắt đầu theo dõi một cách có hệ thống tiểu sử của mọi người trong danh sách. Eisenstadt nói, “tôi mất 10 năm, đọc tất cả các loại sách nước ngoài, tôi đã đến California và đến Thư viện Quốc hội, Thư viện phả hệ ở New York. Tôi đã theo dõi nhiều hồ sơ của những người mất cha mẹ như tôi, đến khi thấy được kết quả thống kê khả thi.”

Trong số 573 người nổi tiếng mà Eisenstadt có thể tìm thấy thông tin tiểu sử đáng tin cậy, ¼ bị mất ít nhất cha hoặc mẹ trước khi lên 10. Đến năm 15 tuổi, 34,5% mất ít nhất cha hoặc mẹ, và ở độ tuổi 20, tỷ lệ này là 45%. Ngay cả trong những năm trước thế kỷ XX, khi tỷ lệ tử vong do bệnh tật, tai nạn và chiến tranh thấp hơn nhiều so với ngày nay, thì đó cũng là những con số đáng kinh ngạc. 

Khi Eisenstadt tiến hành nghiên cứu của mình, nhà sử học Lucille Iremonger cũng chuẩn bị viết lịch sử về các đời thủ tướng Anh. Cô tập trung vào khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến đầu Thế chiến II. Cô băn khoăn, kiểu nền tảng và phẩm chất nào dự đoán mẫu người có khả năng đạt đến địa vị cao nhất trong nền chính trị Anh vào thời điểm đó khi nó là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới? Tuy nhiên, giống như Eisenstadt, cô đã bị phân tâm bởi một thực tế, như cô viết: “điều đó xảy ra quá thường xuyên đến mức tôi bắt đầu tự hỏi liệu nó có đặc điểm gì nổi bật hơn không.” 67% các thủ tướng trong mẫu nghiên cứu của cô bị mất chamẹ trước năm 16 tuổi. Tỷ lệ này cao gấp 2 lần tỷ lệ mất cha mẹ ở cùng độ tuổi đối với các thành viên của tầng lớp thượng lưu Anh – phân lớp kinh tế xã hội mà các Thủ tướng xuất thân. Mô hình tương tự cũng được tìm thấy trong số các tổng thống Mỹ. 12 trong số 44 Tổng thống Mỹ – từ George Washington đến Barack Obama – đều mất cha từ khi còn nhỏ. 

Kể từ đó, chủ đề về tuổi thơ khó khăn và việc bị mất cha mẹ đã xuất hiện nhiều lần trong các tài liệu học thuật. Ví dụ, có một đoạn rất hấp dẫn trong một tiểu luận của nhà tâm lý học Dean Simonton, trong đó, ông cố gắng lý giải tại sao rất nhiều trẻ em có năng khiếu không sống đúng như triển vọng ban đầu. Ông kết luận, một trong những lý do là bởi họ “bị ảnh hưởng về tâm lý rất lớn.” Ông cho rằng, những người thất bại thường “quá vâng lời, quá thiếu sáng tạo để tạo dấu ấn bằng một ý tưởng mang tính cách mạng nào đó.” Ông tiếp tục: “những đứa trẻ có năng khiếu bẩm sinh hay thần đồng thường xuất hiện trong các gia đình có điều kiện. Trái lại, những thiên tài có xu hướng xuất hiện trong những điều kiện bất lợi hơn.

Tôi nhận thấy những nghiên cứu này có vẻ cho rằng việc mất chamẹ là một điềm tốt. “Mọi người luôn đùa tôi rằng, ‘Ồ, ý anh là nếu tôi không có cha mẹ, hoặc nếu tôi giết cha tôi thì sẽ hay hơn ư?’” Eisenstadt nói. “Ý tưởng cho rằng một số người có thể thành công nếu không có cha mẹ là một khái niệm rủi ro cao bởi từ trước đến nay chúng ta vẫn biết rằng cha mẹ là điểm tựa vững chắc của mỗi người.” Eisenstadt nhấn mạnh, điều đó hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta rất cần cha mẹ. Mất đi chamẹ là điều khủng khiếp nhất có thể xảy ra đối với một đứa trẻ. Bác sĩ tâm thần, Felix Brown, đã phát hiện ra rằng các tù nhân có khả năng mất cha mẹ từ thời thơ ấu cao gấp 2 đến 3 lần so với dân số nói chung. Đó là sự khác biệt rất lớn thay vì đơn thuần chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Rõ ràng, sự thiếu vắng của chamẹ có ảnh hưởng rất lớn. 

Tuy nhiên, bằng chứng được Eisenstadt, Iremonger và những người khác đưa ra cho thấy có điểm tương đồng gữa những “người thoát chết” và những người bị mất chamẹ. Cha bạn có thể tự tử còn bạn có một tuổi thơ khốn khó đến mức không muốn nhớ đến – nhưng điều gì đó tốt đẹp vẫn có thể nảy mầm. “Đây không phải là lập luận ủng hộ việc mất chamẹ hay sự thiếu thốn”, Brown viết, “nhưng sự tồn tại của những trẻ mồ côi xuất sắc cho thấy một đức tính tốt đẹp có thể được hình thành khi cần thiết trong những hoàn cảnh cụ thể.”

6.

Khi Jay Freireich đến Viện Ung thư Quốc gia vào năm 1955, ông đã thông báo cho Gordon Zubrod, trưởng khoa điều trị ung thư. Zubrod giao cho ông phụ trách khoa bệnh bạch cầu ở trẻ em, nằm trên tầng hai của tòa nhà bệnh viện chính ở trung tâm khuôn viên viện.

Bệnh bạch cầu ở trẻ em lúc đó được coi là một trong những căn bệnh ung thư đáng sợ nhất. Nó không có biểu hiện cụ thể nào. Một đứa trẻ 1 hoặc 2 tuổi sẽ đột nhiên lên cơn sốt. Cơn sốt kéo dài. Sau đó, đến cơn đau đầu dữ dội, tiếp theo là nhiễm trùng, đến khi cơ thể trẻ mất khả năng kháng thể. Sau đó, trẻ bắt đầu chảy máu. 

“Cứ khoảng 1 tuần, tiến sĩ Zubrod đến để xem chúng tôi làm thế nào,” Freireich nhớ lại, “và ông nói với tôi, ’Freireich, nơi này giống như một lò mổ! Có máu ở khắp cái nơi chết tiệt này. Chúng ta phải làm sạch nó!’ Đó là sự thật. Những đứa trẻ bị chảy máu ở khắp người, qua phân, nước tiểu – đó là giai đoạn tồi tệ nhất. Chúng chảy máu tai, da. Máu vấy ở khắp nơi, khắp chỗ. Đồng phục của các y tá nhuốm máu sau mỗi ngày làm việc.” 

Những đứa trẻ sẽ bị chảy máu trong, từ gan, lá lách, khiến chúng đau quằn quại. Chúng sẽ lăn lộn trên giường và bầm dập khắp người. Thậm chí việc chảy máu cam cũng có thể gây tử vong. Khu vực tầng hai này có nhiệm vụ tìm cách chữa trị bệnh bạch cầu. Nhưng vấn đề là việc kiểm soát chảy máu khó khăn đến mức hầu hết trẻ đều chết trước khi bất cứ ai có thể tìm ra cách giúp chúng. 

“Khi nhập viện, 90% trẻ sẽ tử vong trong 6 tuần,” Freireich nói. “Chúng sẽ chảy máu đến chết. Nếu bị chảy máu trong miệng và mũi, bạn sẽ không thể ăn. Bạn ngừng ăn. Bạn cố uống nước. Bạn bị nôn mửa. Bạn bị tiêu chảy ra máu. Vì vậy, bạn chết đói. Hoặc bạn bị nhiễm trùng, sau đó bị viêm phổi, rồi bị sốt, lên cơn co giật, và rồi ...” Giọng ông nhỏ dần.

Các bác sĩ không trụ được lâu trên tầng của khoa bệnh bạch cầu. “Bạn đến lúc 7 giờ sáng,” một bác sĩ làm việc trên tầng hai trong những năm đó nhớ lại. “Bạn ra về lúc 9 giờ đêm. Bạn phải làm tất cả mọi thứ. Tôi sẽ trở về nhà mỗi ngày với tinh thần hoàn toàn suy sụp. Tôi là nhà sưu tầm tem. Tôi sẽ ngồi với những con tem vào lúc 10 giờ đêm bởi đó là cách duy nhất để tâm trí của tôi được nghỉ ngơi chút. Các bậc cha mẹ đều sợ hãi. Không ai thậm chí muốn vào phòng của bọn trẻ. Họ sẽ đứng ngoài cửa. Không ai muốn làm việc ở đó. Năm đó, có 70 trẻ tử vong. Đó là một cơn ác mộng.” 

Freireich thì ngược lại. Tôi không bao giờ chán nản. Tôi không bao giờ ngồi khóc với cha mẹ của đứa trẻ bị tử vong. Freireich bắt tay với Tom Frei, một nhà nghiên cứu tại NCI. Họ đã cùng bị thuyết phục rằng vấn đề là do thiếu tiểu cầu – các mảnh vỡ tế bào có hình dạng không đều trôi nổi trong máu của người bệnh. Bệnh bạch cầu phá hủy khả năng hình thành tiểu cầu, và nếu không có tiểu cầu, máu không thể đông. Đây là một ý tưởng cực đoan. Một trong các sếp của Freireich tại NCI – một chuyên gia toàn cầu trong lĩnh vực huyết học tên là George Brecher – đã hoài nghi điều đó. Nhưng Freireich nghĩ Brecher không đếm được chính xác số lượng tiểu cầu khi thực hiện phân tích của ông. Freireich rất tỉ mỉ. Ông đã sử dụng một phương pháp phức tạp hơn và nhắm vào những thay đổi dù là nhỏ nhất ở những tiểu cầu ở cấp độ rất thấp, và đối với ông, rõ ràng: số lượng tiểu cầu tỷ lệ nghịch với việc bị chảy máu. Trẻ em cần những tiểu cầu mới – với liều lượng ngày càng lớn hơn. 

Ngân hàng máu NCI sẽ không cung cấp máu tươi cho Freireich để truyền cho bệnh nhân. Đó là việc làm trái quy định. Freireich giáng nắm đấm xuống mặt bàn, hét lên, “Các anh sẽ giết chúng mất!” “Anh phải cẩn thận khi nói ra những điều như vậy,” Dick Silver, người đã làm việc tại NCI với Freireich, nói. “Jay không quan tâm.”

Freireich liên hệ với bên ngoài để kêu gọi người hiến máu. Cha của một trong những bệnh nhân của ông là một mục sư, và ông ấy đã mời được 20 thành viên trong giáo đoàn của mình tham gia. Công cụ truyền máu tiêu chuẩn giữa những năm 1950 là kim truyền được làm bằng thép, ống cao su và chai thủy tinh. Hóa ra, tiểu cầu bị dính trên những bề mặt này. Vì vậy, Freireich đã đưa ra ý tưởng chuyển sang công nghệ hoàn toàn mới với kim silicon và túi nhựa. Các túi này được gọi là dịch. “Những túi này rất lớn,” Vince DeVita, một trong những nghiên cứu sinh của Freireich cho biết. Anh đưa hai tay ra xa nhau để mô phỏng độ lớn của nó. “Và đứa trẻ chỉ lớn bằng này.” Anh đưa hai tay lại gần nhau hơn. “Việc đó giống như tưới hoa bằng vòi phun cứu hỏa. Nếu bạn không làm đúng, bạn sẽ khiến bọn trẻ bị suy tim. Giám đốc lâm sàng của NCI lúc đó là một anh chàng tên Berlin. Anh đã nhìn thấy dung dịch này và nói với Jay, “Anh điên rồi.” Anh ta dọa sa thải Jay nếu ông tiếp tục truyền tiểu cầu. “Freireich phớt lờ anh ta. ’Jay là Jay,’ DeVita tiếp tục, “anh quyết định nếu không thể làm điều đó, anh cũng không muốn làm việc ở đây nữa.” Cuối cùng, bọn trẻ ngừng chảy máu. 

7.

Freireich có được sự can đảm từ đâu? Ông là hiện thân của sự áp đặt và đe dọa. Nhưng ý tưởng của MacCurdy về người thoát chết và gần bỏ mạng lại cho thấy một điều hoàn toàn khác – rằng sự can đảm xét về nghĩa nào đó hoàn toàn có thể học được. 

Hãy xem lại những gì MacCurdy đã viết về các trải nghiệm trong Chiến dịch Blitz ở London: 

Tất cả chúng ta không chỉ đơn thuần là chịu đựng sự sợ hãi, chúng ta cũng dễ sợ sự sợ hãi, và việc chinh phục sự sợ hãi tạo ra niềm hứng khởi... Chúng ta hoảng sợ khi nghĩ sẽ gặp đột kích, và khi điều đó xảy ra, chúng ta bình tĩnh và chúng ta được an toàn – tương phản với những lo âu trước đó; sự khuây khỏa ở hiện tại và cảm giác an toàn đã thúc đẩy sự tự tin sản sinh ra lòng dũng cảm.

Hãy bắt đầu với dòng đầu tiên: Tất cả chúng ta không chỉ đơn thuần là chịu sự sợ hãi, chúng ta cũng dễ sợ sự sợ hãi. Bởi không ai ở Anh từng bị đánh bom trước đó, nên người London cho rằng trải nghiệm này sẽ rất đáng sợ. Điều khiến họ sợ hãi đó là dự đoán về cảm nhận của họ khi các vụ đánh bom diễn ra. Sau đó, bom của Đức đã dội xuống London trong nhiều tháng liên tiếp, và hàng triệu người thoát chết từng nghĩ họ sẽ sợ hãi trước vụ đánh bom ngộ ra rằng nỗi sợ hãi của họ đã bị thổi phồng. Họ vẫn ổn. Và chuyện gì xảy ra sau đó? Việc chinh phục sự sợ hãi tạo niềm hứng khởi. Và: tương phản với sự lo lắng trước đó; sự khuây khỏa ở hiện tại cũng như cảm giác an toàn đã thúc đẩy sự tự tin sản sinh ra lòng dũng cảm. 

Can đảm không phải là thứ sẵn có xuất hiện bất cứ lúc nào khi bạn gặp khó khăn. Dũng cảm là những gì bạn có được khi trải qua thời điểm khó khăn và phát hiện ra rằng thời điểm đó không mấy khó khăn. Bạn có thấy sai lầm khủng khiếp mà người Đức tạo ra? Họ đã ném bom London bởi họ nghĩ rằng Chiến dịch Blitz sẽ đánh sập lòng can đảm của người Anh. Trong thực tế, nó đã tạo ra hiệu ứng ngược lại. Nó tạo ra một thành phố toàn những “người thoát chết”, những người dũng cảm chưa từng thấy. 

Chương tiếp theo của cuốn sách này nói về phong trào dân quyền Mỹ, khi Martin Luther King Jr. đưa chiến dịch của mình đến Birmingham, Alabama. Dù vậy, có một phần trong câu chuyện về Birmingham rất đáng xét đến ngay lúc này, bởi nó là một ví dụ hoàn hảo về ý tưởng có được lòng can đảm.

Một trong những đồng minh quan trọng nhất của King ở Birmingham là một người thuyết pháp dòng Baptist tên là Fred Shuttlesworth, người đã dẫn đầu cuộc chiến chống nạn phân biệt chủng tộc trong thành phố trong nhiều năm. Vào sáng ngày Giáng sinh năm 1956, Shuttlesworth đã tuyên bố rằng ông sẽ chỉ huy những chuyến xe buýt phản đối nạn phân biệt chủng tộc của thành phố bất chấp các luật lệ cấm người da đen đi lại chung đường với người da trắng. Một ngày trước cuộc biểu tình phản đối, vào đêm Giáng sinh, ngôi nhà của ông đã bị đánh bom bởi các thành viên của Đảng Ku Klux Klan. Klan đã làm điều tương tự với Shuttlesworth như Đức Quốc xã đã làm với người Anh trong Chiến dịch Blitz. Nhưng họ cũng đã hiểu lầm sự khác biệt giữa một “người gần bỏ mạng” và một “người thoát chết”. 

Trong cuốn sách lịch sử tuyệt vời của Diane McWhorter về chiến dịch dân quyền tại Birmingham, Carry me home (tạm dịch: Hãy mang tôi về nhà), cô mô tả những gì xảy ra khi cảnh sát và hàng xóm chạy về phía đống đổ nát của ngôi nhà của Shuttlesworth đang bốc khói. Đó là vào khoảng giữa đêm. Shuttlesworth lúc đó đang nằm trên giường. Họ sợ ông đã chết: 

Một giọng nói vẳng lên từ đống đổ nát: “Tôi sẽ không ra khi ở trần.” Và, sau một vài phút, Shuttlesworth đã xuất hiện trong chiếc áo mưa được một người ném vào đống đổ nát của căn nhà. Ông không hề hấn gì, thậm chí còn không bị điếc, dù vụ nổ đã thổi bay cửa sổ của căn nhà ra xa hàng dặm... Shuttlesworth ra dấu Thánh trước những người hàng xóm có liên quan, và nói: “Chúa đã bảo vệ tôi.”

Một cảnh sát cao lớn đã khóc. “Cha, tôi biết bọn chúng,” ông nói về những kẻ ném bom. “Tôi không nghĩ chúng đi xa đến mức này. Nếu tôi là ngài, tôi sẽ rời khỏi thành phố. Lũ người này thật xấu xa.”

“Anh không phải là ta,” Shuttlesworth nói. “Hãy trở lại và nói với những anh em Klan rằng nếu Chúa cứu ta lần này, ta sẽ ở đây để đương đầu với họ. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu.”

Đó là một vụ thoát chết ấn tượng. Klan mong rằng chúng sẽ khiến đối phương khiếp sợ nhưng chúng đã nhầm. Shuttlesworth giờ không còn sợ sệt như trước kia. 

Sáng hôm sau, các thành viên của giáo đoàn nài xin ông hoãn cuộc biểu tình. Nhưng ông từ chối. Một vài tháng sau, Shuttlesworth quyết định đích thân đưa con gái mình đến đăng ký học tại khối các trường trung học Phillips Herbert John dành cho người da trắng. Khi ông lái xe đến đây, một đám đông người da trắng giận dữ vây quanh xe ông. McWhorter viết: 

Trước sự hoài nghi của cô con gái, ông bước ra khỏi xe. Một toán người lao vào Shuttlesworth, giáng nắm đấm, gậy gỗ và xích vào ông. Ông cuống cuồng lao vội lên vỉa hè nhưng vẫn bị đánh túi bụi. Một người nào đó đã kéo áo khoác của ông chụp lên đầu ông để khóa tay ông. “Chúng ta đã bắt được gã đồ tể này,” một gã hét lên. “Hãy giết hắn đi,” đám đông gào lớn. Một phụ nữ da trắng phụ thêm, “giết hắn đi rồi mọi chuyện sẽ kết thúc.” Những gã đàn ông bắt đầu đập vỡ cửa kính xe. Chuyện gì đã xảy ra với Shuttlesworth? Ông tìm cách bò trở lại xe. Ông đến bệnh viện và các bác sỹ cho biết ông bị thương nhẹ ở thận, trầy xước và bầm tím một vài chỗ. Ông ra viện vào chiều hôm đó, và khi xuất hiện ở bục giảng tại nhà thờ vào tối hôm đó, ông đã nói với giáo đoàn rằng ông tha thứ cho những kẻ tấn công mình. 

Shuttlesworth hẳn là người có quyết tâm và sức mạnh cực lớn. Nhưng sau khi thoát ra khỏi đống đổ nát của căn nhà mà không hề bị thương, ông đã có thêm được một lớp áo giáp tâm lý. Tất cả chúng ta không chỉ đơn thuần là chịu sự sợ hãi, chúng ta cũng dễ sợ sự sợ hãi, và việc chinh phục sự sợ hãi mang lại niềm hứng khởi – tương phản với những lo lắng trước đó; sự khuây khỏa ở hiện tại cũng như cảm giác an toàn đã thúc đẩy sự tự tin, sản sinh ra lòng can đảm. 

Sau khi rời bệnh viện, Shuttlesworth đã nói với các phóng viên rằng, “phép màu đã xuất hiện lần thứ hai trong năm và cứu sống tôi.” Không lâu sau, Shuttlesworth đã đưa một đồng nghiệp, Jim Farmer, đến gặp Martin Luther King tại một nhà thờ ở Montgomery, Alabama. Bên ngoài, một đám đông giận dữ cũng đang tụ tập, vẫy những lá cờ của phe miền Nam và bắt đầu tấn công xe. Người lái xe quay xe ngược lại để tìm một tuyến đường khác nhưng xe của họ lại bị chặn thêm một lần nữa. Shuttlesworth lao ra khỏi xe. McWhorter viết tiếp:

Chúng dùng những chai Coca-cola táng vào cửa kính xe hơi và sau đó một thứ mùi lạ sộc vào mũi ông, tiếp đến là luồng hơi hơi cay. Sau đó, ông ra hiệu cho Farmer ra khỏi xe và đi thẳng vào đám đông. Farmer theo sau, run rẩy, cố nép mình sau Shuttlesworth. Những kẻ khủng bố bị tách ra, các dụng cụ chúng sử dụng hạ xuống, Shuttlesworth tiến đến cánh cửa nhà thờ First Baptist mà không bị ai đụng vào. Ông hét lớn, “Tránh ra”. “Giải tán đi.” “Ra khỏi đây ngay.” 

Đó là lần thứ ba ông thoát chết.

Mất cha mẹ không giống như việc nhà bạn bị đánh bom hay bị một đám khủng bố vây quanh. Việc đó tệ hơn nhiều. Nó không kết thúc trong chốc lát; những vết thương cũng không lành nhanh như một vết bầm tím. Bọn trẻ chất chứa những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất trong lòng sẽ ra sao khi sau đó chúng phát hiện ra rằng những vết thương vẫn còn nguyên vẹn? Liệu chúng có làm được những gì Shuttlesworth và những người thoát chết ở Chiến dịch Blitz đã làm – có được sự tự tin làm nảy sinh lòng dũng cảm?

“Sỹ quan cảnh sát đã tống Shuttlesworth vào tù,” McWhorter viết về một trong những cuộc cãi lộn của Shuttlesworth với chính quyền da trắng, “đã thúc mạnh giày vào ông, gọi ông là con khỉ, sau đó thúc ép ông, ‘sao mày không đánh trả’, Shuttlesworth trả lời: ‘bởi vì tôi yêu quý các anh.’ Ông khoanh tay và mỉm cười trên suốt quãng đường còn lại dẫn tới nhà tù, nơi ông bị cấm hát hoặc cầu nguyện, và chợp mắt được một lúc.”

8.

Việc Freireich đã ngăn được chảy máu ở trẻ thực sự mang tính đột phá. Điều đó có nghĩa là trẻ em bây giờ có thể cầm cự được đến khi các bác sỹ tìm ra nguyên nhân gây bệnh. Nhưng bệnh bạch cầu không hề đơn giản. Có rất ít các loại thuốc có thể xử lý được căn bệnh này, ngoài ra chúng đều rất độc và chỉ được dùng với liều lượng hạn chế giúp loại bỏ số ít các tế bào ung thư ở trẻ. Bệnh nhân sẽ cảm thấy khá hơn sau hơn một tuần sử dụng thuốc nhưng sau đó, các tế bào còn sót lại sẽ bắt đầu sinh sôi. 

“Max Wintrobe là một trong những chuyên gia tư vấn tại trung tâm lâm sàng,” Freireich nói. “Ông ấy nổi tiếng nhờ cuốn sách giáo khoa đầu tiên về huyết học, và một đánh giá về thực trạng của việc điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ. Tôi đã trích dẫn từ các nghiên cứu của ông để phục vụ công việc giảng dạy ngày nay. Nội dung trích dẫn gồm: ‘Những loại thuốc này có thể gây hại nhiều hơn là có lợi bởi chúng chỉ kéo dài thêm đau đớn. Các bệnh nhân rồi cũng sẽ chết. Thuốc khiến họ tệ hơn, vì vậy đừng sử dụng chúng.’ Quyền thuộc về các bạn.”

Nhưng Frei, Freireich và một nhóm cộng sự tại Viện Roswell Park Memorial ở Buffalo dẫn đầu là James Holland đã bị thuyết phục rằng sự chính thống về y tế có những mặt trái. Nếu thuốc không diệt được tận gốc mọi tế bào ung thư, thì điều đó cũng không có nghĩa là trẻ em cần điều trị tích cực hơn thay vì ít hơn? Tại sao không kết hợp thuôc 6-MP với methotrexate? Chúng sẽ tấn công các tế bào ung thư theo nhiều cách khác nhau. Chúng giống như bộ binh và hải quân. Các tế bào mà 6-MP không tiêu diệt được sẽ bị methotrexate xử lý. Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ bổ sung prednisone? Nó có thể là lực lượng không quân hỗ trợ ném bom từ trên không trong khi các các loại thuốc khác tấn công từ biển và đất liền. 

Sau đó, Freireich tình cờ phát hiện ra một loại thuốc thứ tư được chiết xuất từ cây dừa cạn. Đó là vincristine. Nó thuộc quyền sở hữu trí tuệ của công ty dược phẩm Eli Lilly và được các nhà nghiên cứu của Viện Ung thư Quốc gia nghiên cứu. Không nhiều người biết về nó, nhưng Freireich có linh cảm rằng nó có thể xử lý triệt để bệnh bạch cầu. “Có 25 trẻ bị chết”, ông nói. “Tôi không có gì để cho chúng dùng. Tôi sẽ thử dùng nó. Tại sao không? Dù sao chúng cũng sẽ chết mà.” Vincristine cho thấy hiệu quả. Freireich và Frei đã thử nghiệm nó trên trẻ đã bị nhờn các loại thuốc khác, và một số trẻ tạm thời có dấu hiệu bệnh tình thuyên giảm. Vì vậy, Frei và Freireich đến gặp hội đồng giám sát nghiên cứu của NCI để xin phép thử nghiệm 4 loại thuốc này cùng nhau: “quân đội, hải quân, không quân, thủy quân lục chiến”.

Ung thư hiện giờ thường được điều trị bằng thuốc tổng hợp, sự kết hợp đầy phức tạp của hai, ba hoặc thậm chí bốn, năm loại thuốc cùng một lúc. Nhưng vào đầu những năm 1960, việc này rất hiếm. Các loại thuốc có sẵn để điều trị ung thư trong thời gian này được coi là quá nguy hiểm. Thậm chí vincristine, một phát hiện được đánh giá bởi Freireich, cũng rủi ro rất cao. Freireich phải công nhận điều đó một cách khó khăn. “Nó có tác dụng phụ không? Có chứ,” ông nói. “Nó gây trầm cảm nghiêm trọng, hay bệnh thần kinh. Những đứa trẻ đã bị tê liệt. Khi dùng liều mạnh, chúng có thể bị hôn mê. Trong số 14 trẻ được chúng tôi điều trị, có 1 hoặc 2 trẻ bị tử vong. Não của chúng hoàn toàn bị tê liệt. “Max Wintrobe cho rằng cách tiếp cận nhân đạo không phải là sử dụng bất kỳ loại thuốc nào. Freireich và Frei muốn dùng 4 loại thuốc cùng lúc. Frei đã rời đi trước khi Hội đồng tư vấn NCI xin phê duyệt. 

“Tiến sỹ Carl Moore, bác sỹ huyết học cấp cao trong ban điều hành, tình cờ là một người bạn đến từ St. Louis của cha tôi,” Frei nhớ lại nhiều năm sau đó. “Tôi cũng luôn coi ông là một người bạn. Nhưng theo ông, bài trình bày của tôi có phần thái quá. Ông không nghiên cứu về các bệnh của trẻ, vì vậy ông đã nói về bệnh Hodgkin ở người lớn. Ông nói rằng nếu có một bệnh nhân mắc Hodgkin, tốt nhất là nên khuyên bệnh nhân đó đến Florida để tận hưởng cuộc sống. Nếu các bệnh nhân có quá nhiều biểu hiện của bệnh Hodgkin, hãy chữa trị bằng tia X hoặc có thể là một ít mù tạc nitơ nhưng với liều lượng nhỏ nhất có thể. Nếu dùng quá liều là hành động phi đạo đức, chẳng khác gì dùng 4 loại thuốc cùng lúc.” 

Frei và Freireich vô cùng tuyệt vọng. Họ đã đến gặp sếp của mình, ngài Gordon Zubrod. Zubrod đã từng tranh cãi nảy lửa với Freireich. Ông miễn cưỡng chấp thuận thử nghiệm vincristine. Ông là người chịu trách nhiệm cho những gì xảy ra ở tầng hai tòa nhà này. Nếu bằng cách nào đó mọi thứ không suôn sẻ, ông sẽ là người bị lôi ra trước ủy ban quốc hội. Hai nhà nghiên cứu nổi loạn đang đưa ra thử nghiệm với liều thuốc tổng hợp độc tính cao ở trẻ từ 4 đến 5 tuổi tại một phòng thí nghiệm của chính phủ. Ông đã bị đặt trước tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nhưng Frei và Freireich vẫn kiên trì bởi Freireich không phải là mẫu người có thể từ bỏ chỉ bằng một cuộc đàm phán tế nhị. “Tôi không thể làm bất cứ điều gì mà không có Tom,” Freireich thừa nhận. “Frei là phần bù của tôi. Anh ấy rất nhiệt tình và có tư tưởng nhân đạo.” Đúng vậy, các loại thuốc này đều độc, Frei khẳng định. Nhưng chúng độc theo những cách khác nhau, điều này có nghĩa là nếu bạn sử dụng liều lượng thận trọng – và xử lý khéo các tác dụng phụ – các bé có thể được cứu sống. Zubrod đã chịu thua. “Thật điên rồ,” Freireich nói. “Nhưng thông minh và chính xác. Tôi đã nghĩ rất nhiều về điều đó và tôi biết nó sẽ hiệu quả. Nó giống như trường hợp các tiểu cầu vậy. Nó phải hiệu quả!” 

Cuộc thử nghiệm mang tên chế độ VAMP. Một số cộng sự lâm sàng – các bác sĩ chuyên môn trong khoa – từ chối tham gia. Họ nghĩ rằng Freireich đã mất trí. “Tôi phải tự làm việc đó,” Freireich nói. “Tôi đã đặt các loại thuốc, pha và tiêm chúng. Tôi phải đếm hồng cầu, đo lượng máu chảy. Tôi phải xử lý tủy xương. Tôi đã phải đếm các slide. “Có 13 trẻ em trong vòng đầu của cuộc thử nghiệm. Đầu tiên là một bé gái. Freireich đã dùng liều quá cao đến mức cô bé gần bỏ mạng. Ông đã ngồi với cô bé trong nhiều giờ. Ông cho cô bé dùng kháng sinh và máy thở. Cô bé đã qua cơn nguy kịch lúc đó, nhưng mất sau đó khi căn bệnh ung thư tái phát. Nhưng Frei và Freireich đang thử nghiệm. Họ điều chỉnh quy trình và chuyển sang bệnh nhân thứ hai. Tên cô bé là Janice. Cô bé đã phục hồi, và những đứa trẻ tiếp theo cũng vậy. Đó là một sự khởi đầu tuyệt vời.

Vấn đề duy nhất đó là không thể chữa triệt để căn bệnh ung thư này. Một số ít các tế bào ác tính vẫn còn. Họ nhận thấy một đợt hóa trị là không đủ. Vì vậy, họ bắt đầu đợt tiếp theo. Liệu bệnh có tái phát? Họ cần phải thử lại. “Chúng tôi điều trị cho chúng bằng cả 3 phương pháp,” Freireich nói. “12/13 trẻ tái phát bệnh. Vì vậy, tôi quyết định, chỉ có một cách duy nhất – tiếp tục điều trị cho trẻ 1 thángnăm.” 

“Nếu trước đó, mọi người nghĩ tôi điên, giờ họ nghĩ tôi điên thật,” Freireich tiếp tục. “Những đứa trẻ này có vẻ hoàn toàn bình thường, nhưng tôi lại kéo chúng vào viện và khiến chúng mắc bệnh thêm lần nữa. Không có tiểu cầu. Không có các tế bào màu trắng. Xuất huyết. Nhiễm trùng.” VAMP đã xóa sổ hệ thống miễn dịch của trẻ. Chúng không có sức đề kháng. Đối với cha mẹ chúng, điều đó thật đau đớn. Để có cơ hội sống – họ được cho biết – con họ liên tục bị đẩy đến bờ vực của cái chết.

Freireich đã lao tâm khổ tứ về việc này, ông rút cạn sức lực và sự táo bạo của bản thân để giúp các bệnh nhân sống sót. Trong thời gian đó, khi một bệnh nhân bị sốt, bác sĩ sẽ thử máu, và khi có kết quả, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc kháng sinh phù hợp nhất. Thuốc kháng sinh không bao giờ được dùng kết hợp. Bạn chỉ dùng loại kháng sinh thứ hai khi thôi sử dụng loại đầu tiên. “Một trong những điều đầu tiên Jay nói với chúng tôi là, không vấn đề gì,” DeVita nhớ lại. “Những đứa trẻ này sốt đột ngột, bạn cho chúng dùng kháng sinh kết hợp ngay lập tức, bởi nếu không, chúng sẽ chết trong 3 hoặc 4 giờ nữa.” DeVita đã có một loại kháng sinh mà ông được cho biết không bao giờ nên đưa vào dịch não tủy. Freireich bảo ông cho bệnh nhân dùng. “Freireich bảo chúng tôi làm vậy,” DeVita cho biết, “những gì chúng biết thật khác thường.”

“Ông đã chịu rất nhiều chỉ trích,” DeVita tiếp tục. “Các đồng nghiệp của ông nghĩ rằng ông đang làm những thứ vô bổ. Ông chấp nhận tất. Họ xúc phạm ông, đặc biệt là các chàng trai đến từ Đại học Harvard. Họ từng đứng ở phía sau căn phòng và hạch hỏi. Ông nói điều gì đó, và họ đáp lại, ‘Chắc chắn rồi, Jay, nếu thế thì tôi sẽ bay lên mặt trăng.’ Thật khủng khiếp, Jay lúc nào cũng ở đó, lơ lửng trên bạn, quan sát mọi thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, xem xét mọi bảng biểu. Chúa sẽ giúp bạn nếu bạn không làm điều gì đó với bệnh nhân của ông. Ông rất hung dữ. Ông sẽ làm những việc và nói những điều khiến ông gặp rắc rối, hoặc đến một cuộc họp nào đó và xúc phạm ai đó để rồi Frei phải vào để làm dịu mọi chuyện. 

Ông ấy có quan tâm người ta nghĩ gì về mình không? Có thể có chứ. Nhưng không đủ để ngăn ông ấy làm những gì mình cho là đúng.

“Jay làm điều đó thế nào,” cuối cùng ông nói, “Tôi không biết.” 

Nhưng chúng ta biết ông đã trải qua khoảng thời gian vô cùng tồi tệ. 

Trong năm 1965, Freireich và Frei đã xuất bản “Tiến trình và triển vọng của hoạt động Hóa trị bệnh bạch cầu cấp tính” trong tác phẩm Advances in Chemotherapy (tạm dịch: Tiến bộ trong hóa trị), công bố rằng họ đã phát triển một phương pháp điều trị thành công bệnh bạch cầu ở trẻ em. Ngày nay, tỷ lệ chữa khỏi dạng ung thư này là hơn 90%. Hàng ngàn trẻ đã được cứu sống bởi những nỗ lực của Freireich, Frei và các nhà nghiên cứu đi theo đường lối của họ.

9.

Điều này liệu có nghĩa rằng Freireich nên vui mừng khi có một tuổi thơ dữ dội? Câu trả lời rõ ràng là không. Không đứa trẻ nào đáng phải chịu đựng những gì ông đã trải qua. Câu hỏi đó có phải là một câu hỏi sai lầm? Đúng ra phải hỏi rằng liệu chúng ta, với tư cách một xã hội, có cần những người vượt lên sự tổn thương mà họ đã từng phải trải qua hay không – và câu trả lời rõ ràng là có. Có rất nhiều những “người thoát chết” trở nên mạnh mẽ hơn nhưng cũng không thiếu những “người gần bỏ mạng” bị những gì họ đã trải qua nghiền nát. Freireich dám nghĩ và làm những điều không tưởng. Ông dẫn lối bọn trẻ vượt qua nỗi đau mà không ai từng trải qua. Và ông đã rất nỗ lực bởi ông hiểu rằng, chúng ta có thể đi lên từ những địa ngục đen tối nhất, nhờ chính trải nghiệm từ tấm bé của bản thân. Bệnh bạch cầu là một trận đánh bom trực tiếp. Ông đã biến nó thành một tai nạn với rất nhiều người thoát chết.

Tại một thời điểm nào đó, ở giữa trận chiến, Freireich nhận ra rằng phương pháp tiêu chuẩn giúp kiểm soát bệnh ung thư ở trẻ − lấy mẫu máu và đếm số lượng tế bào ung thư dưới kính hiển vi – không đủ hiệu quả. Kết quả kiểm tra máu có thể nhầm lẫn. Máu của một đứa trẻ có thể cho thấy nó không hề mắc ung thư. Nhưng căn bệnh này vẫn có thể ẩn nấp đâu đó trong xương tủy của trẻ − điều đó có nghĩa rằng bạn phải trải qua quá trình lấy mẫu tủy xương đau đớn liên tục trong nhiều tháng, cho đến khi bạn chắc chắn rằng bệnh ung thư đã biến mất. Max Wintrobe biết được quyết định của Freireich và cố gắng ngăn ông. Freireich đang tra tấn bệnh nhân, Wintrobe nói. Ông đã đúng. Nhưng đó cũng là phản ứng không bao giờ mang lại phương pháp chữa bệnh hiệu quả. 

“Trước đây, chúng tôi lấy mẫu tủy sống bằng cách nắm lấy đôi chân chúng như thế này,” Freireich nói với tôi. Ông lấy đôi tay khổng lồ của mình để tạo hình việc nắm chiếc đùi nhỏ của một đứa trẻ. “Chúng tôi châm kim trực tiếp vào trẻ mà không gây mê. Bởi chúng sẽ hét lớn nếu bạn chích thuốc gây mê. Đó là loại mũi tiêm 18 hoặc 19 đâm thẳng vào xương chày, ngay dưới đầu gối. Bọn trẻ sẽ hoảng loạn. Cha mẹ và các y tá sẽ ghì đứa trẻ xuống. Chúng tôi làm việc đó theo chu kỳ. Chúng tôi cần phải biết tủy xương của chúng đã phục hồi chưa.”

Khi ông nói những lời này, nét mặt Freireich thoáng nhăn lại, như thể ông có thể cảm nhận được nỗi đau đớn khi cây kim đâm thẳng vào xương chày của một đứa trẻ, và như thể cảm giác đau đớn đó sẽ khiến ông dừng lại. Nhưng ngay sau đó, nó nhanh chóng biến mất.

10.

Khi Jay Freireich đào tạo về y tế, ông đã gặp một y tá tên là Haroldine Cunningham. Ông đã đề nghị được hẹn hò với bà nhưng bị từ chối. “Tất cả các bác sĩ trẻ đều đầy nhiệt huyết,” bà nhớ lại. “Anh ấy có tiếng là một người thẳng thắn. Anh ấy rủ tôi hẹn hò một vài lần, nhưng tôi không đi. “Tuy nhiên, vào một ngày cuối tuần nọ, Cunningham đã đến thăm dì của cô ở ngoại ô Chicago và điện thoại reo. Đó là Freireich. Ông đã bắt tàu rời Chicago và đang gọi từ nhà ga xe lửa. “Anh ấy nói, ‘anh đang ở đây,’ bà nhớ lại. “Anh ấy rất kiên trì.” Lúc này là vào khoảng đầu những năm 1950. Họ đã cưới nhau sau đó. Vợ Freireich có vóc dáng nhỏ nhắn trong khi Freireich cao lớn, một phụ nữ nhỏ bé với ý chí và nghị lực tiềm tàng. “Tôi hiểu anh ấy. Tôi thấy các ước muốn của anh ấy,” bà nói. Bà vẫn chờ ông từ viện về nhà lúc quá nửa đêm, người vấy đầy máu và mệt mỏi. “Cô ấy là người đầu tiên từng yêu tôi,” Freireich nói đơn giản. “Cô ấy là thiên thần được gửi tới từ thiên đường. Cô ấy tìm thấy tôi. Tôi nghĩ cô ấy đã phát hiện một điểm gì đó trong tôi có thể được nuôi dưỡng. Tôi nghe theo lời khuyên của cô ấy trong mọi việc. Cô ấy giúp tôi nỗ lực hơn mỗi ngày.”

Haroldine cũng lớn lên trong nghèo khó. Gia đình bà sống trong một căn hộ nhỏ bên ngoài Chicago. Năm bà 12 tuổi, bà đã cố gắng mở cửa phòng tắm nhưng không vào được. “Mẹ tôi đã khóa trái cửa,” bà nói. “Tôi đã nhờ người hàng xóm ở tầng dưới, người chủ nhà giúp. Ông ấy đã mở cửa sổ để vào trong. Chúng tôi gọi cho bệnh viện. Bà đã qua đời ở đó. Ở cái tuổi 12-13, tôi đã hiểu mẹ tôi không hạnh phúc. Tất nhiên, cha tôi, ông ấy không phải là một người cha tuyệt vời.” 

Bà ngồi trên ghế trong văn phòng của chồng, người phụ nữ này đã tạo nên một hòn đảo làm dịu lại những biến động trong cuộc sống của người chồng. “Tất nhiên, bạn phải nhận ra tình yêu không phải lúc nào cũng cứu được những người mà bạn muốn cứu. Ai đó từng hỏi tôi rằng, bà không tức giận sao? Và tôi đã nói, không, tôi hiểu nỗi đau khổ của anh ấy.”

“Có những điều có thể khiến bạn phấn chấn đốn ngã bạn. Jay và tôi có điểm chung đó.”

Dịch giả Nguyễn Văn Tân, Nguyễn Trang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.