Điệp Viên Yêu Chúng Ta : Chiến Tranh Việt Nam Và Trò Chơi Nguy Hiểm Của Phạm Xuân Ẩn

Lượt đọc: 214 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Đất Nước Do Salvador Dali Tạo Ra

❊ ❊ ❊

Phạm Xuân Ẩn lập thêm được nhiều kỳ công nữa trong những năm sau Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, một số kỳ công là trên cương vị điệp viên, một số khác trên cương vị nhà báo. Thỉnh thoảng, trong những cuộc trò chuyện của chúng tôi, tôi lại nhận ra đầu óc mình đang quay cuồng khi hình dung ra cảnh ông phải hoán đổi liên tục giữa các vai trò mà ông đảm nhiệm trong cuộc chiến tranh. Khi quân đội miền Nam Việt Nam sang xâm chiếm Lào năm 1971, Phạm Xuân Ẩn đã báo trước cho miền Bắc Việt Nam. Cảnh báo sớm của ông bao gồm cả kế hoạch tác chiến của cái gọi là Chiến dịch Lam Sơn 719, giúp cộng sản gây ra 8.000 thương vong cho đối phương. Bị bỏ lại trong rừng rậm tại Lào ở cuối cuộc xâm lược thảm họa này là 100 máy bay trực thăng, 150 xe tăng, và tất cả những hy vọng rằng quân đội miền Nam Việt Nam có đủ khả năng tự bảo vệ chống lại miền Bắc.

“Khi chúng tôi thua trận tại Nam Lào năm 1971, chúng tôi đang hy vọng có thể cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh, sau một cuộc tấn công trước đó vào Campuchia để cắt đứt Đường mòn Sihanouk,” Phạm Xuân Ẩn nói.

“Ý ông là sao khi ông nói chúng tôi thua trận?” tôi hỏi.

“Tôi đang nói đến phe quốc gia. Tôi xin lỗi. Tôi nhầm lẫn,” Phạm Xuân Ẩn vừa nói vừa bật cười.

Đến lượt tôi bối rối khi ông tiếp tục nói về trận đánh từ quan điểm của phía miền Nam, có lẽ là để lảng tránh sự chú ý vào những hậu quả chết người mà vai trò điệp viên của ông gây ra. Cùng với trận Ấp Bắc và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Lam Sơn 719 là một trong những thắng lợi then chốt của cộng sản xuất phát từ, ít nhất là một phần, những tin tức tình báo của Phạm Xuân Ẩn. Lực lượng miền Nam Việt Nam đã chắc mẩm rằng hỏa lực của họ cùng sự yểm trợ bằng không quân của Mỹ có thể giành ưu thế, nhưng những yếu tố được cho là lợi thế này đã trở nên vô ích khi đương đầu với một đối phương vốn đã biết trước mọi hành động của họ. Những tin tình báo chiến thuật của Phạm Xuân Ẩn cho phép Quân đội Nhân dân Việt Nam nhắm trúng binh sĩ Nam Việt Nam bằng những đợt oanh tạc dữ dội gồm cối, những khẩu đội rốc két, và pháo binh, gồm cả những khẩu pháo 130 mm có thể bắn đến 8 phát một phút vào những mục tiêu cách xa 18 dặm[1].

Đến tháng 1 năm 1973, Hiệp định Hòa bình Paris đã được ký kết, dẫn đến quá trình “Việt Nam hóa” chiến tranh, và đến tháng 3 thì hầu hết những lực lượng trên mặt đất của Mỹ đã rời khỏi Việt Nam. Trong suốt những cuộc đàm phán tại Paris, dựa vào những tin tức rò rỉ từ người đứng đầu Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn đã cập nhật kịp thời cho cả Time và những người cộng sản về những trò nghi binh trong đàm phán của Henry Kissinger và việc Nam Việt Nam phản đối hiệp định này, mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu coi là hành động bán đứng sớm muộn sẽ dẫn đến ngày tàn cho miền Nam. Nhờ những thông tin của Phạm Xuân Ẩn, những người cộng sản đã xỏ mũi Kissinger ở Paris và Time xỏ mũi được Newsweek ở New York. “Chúng tôi hớt tay trên của họ với câu chuyện hấp dẫn hơn. Đó là một ngày tươi đẹp đối với chúng tôi,” ông nói.

Một lần nữa Phạm Xuân Ẩn lại phân tích tình hình chính trị một cách vô cùng nhạy bén khi ông chứng kiến vụ bê bối Watergate và việc Tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8 năm 1974. Ông biết rằng Quốc hội Mỹ sẽ không bao giờ cho phép tổng thống đưa lực lượng mặt đất của Mỹ quay trở lại cuộc chiến. Với sức mạnh quân sự của Mỹ bị kiềm chế, Phạm Xuân Ẩn thúc giục những người cộng sản triển khai đòn tấn công cuối cùng. Họ còn rất e dè về mặt quân sự, cho đến khi Phạm Xuân Ẩn thuyết phục họ rằng cuối cùng thì cũng đã đến lúc chiếm lấy Sài Gòn. Tấm huân chương Quân công cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn là để tặng thưởng cho vai trò ông đảm nhiệm trong Chiến dịch Hồ Chí Minh - những trận đánh cuối cùng trong cuộc chiến tranh kết thúc với sự sụp đổ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hành động cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn trong cuộc chiến này là một hành động ân tình. Vài giờ trước khi thành phố sụp đổ, ông dàn xếp vụ tẩu thoát cho người bảo trợ cũ của mình, trùm mật vụ miền Nam Việt Nam Trần Kim Tuyến. Trong bức ảnh nổi tiếng của Hubert Van Es về chuyến bay cuối cùng rời khỏi Sài

Gòn, người cuối cùng đang trèo lên chiếc thang ọp ẹp tới chỗ chiếc trực thăng đang chờ đợi chính là Trần Kim Tuyến. Ngoài khung hình, phía dưới đường phố, người đang đứng vẫy tay trong nước mắt, là Phạm Xuân Ẩn.

“Trước đó Tuyến bất ngờ xuất hiện trong phòng làm việc của tôi,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông ấy đã chờ đợi quá lâu để thoát ra ngoài, và giờ thì mắc kẹt lại. Có thể Chúa đã quyết định rằng tôi phải giúp người đàn ông này. Tôi nghĩ ông ấy xứng đáng được tôi đáp lại sự giúp đỡ mà ông ấy đã dành cho tôi. Và thế là ông ấy trở thành người cuối cùng bước lên chiếc trực thăng cuối cùng của CIA đi di tản. Tôi đã không lầm,” ông kết luận.

Mùa hè năm 2007, tôi ăn tối với một người Việt Nam di tản là Trần Tử Thanh tại một nhà hàng bên ngoài Washington, DC. Ông Thanh đã làm việc cho tướng Nguyễn Ngọc Loan ở bộ phận tình báo. Ông ta đã thẩm vấn những tù binh bị bắt giữ, và, với tư cách là một người bạn của Phạm Xuân Ẩn, ông ta đã vô tình cung cấp một số thông tin mà ông Ẩn gửi cho miền Bắc. Là con trai của một giáo sư toán học từng có thời làm phó thủ tướng Cộng hòa Việt Nam, Thanh bị bắt vào thời khắc cuối cùng của cuộc chiến. Ông ta bị giam giữ và tra tấn suốt 15 năm. Trong bốn năm rưỡi của những năm tháng này, ông ta bị cùm chân và giam trong một cái thùng chỉ có kích thước như một chiếc quan tài.

“Tại sao Phạm Xuân Ẩn lại phải dành cả ngày cuối cùng của cuộc chiến để vất vả đưa Trần Kim Tuyến thoát ra nước ngoài?” Thanh hỏi, khi chúng tôi bắt đầu bữa tối của mình. Ông ta phỏng đoán rằng chắc Phạm Xuân Ẩn phải có một lý do thích đáng để đưa Trần Kim Tuyến thoát khỏi hoàn cảnh đó. Nếu như Trần Kim Tuyến bị bắt giữ và tra khảo, điều chắc chắn sẽ xảy ra, thì cái tên nào có thể sẽ buột ra khỏi miệng ông ta? Như thế hẳn sẽ vô cùng khó xử cho đồng nghiệp và phụ tá trung thành cũ của ông ta là Phạm Xuân Ẩn. Nếu tất cả những lời đồn đại về việc Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên hai mang là chính xác, thì Trần Kim Tuyến sẽ là nguồn tin tốt nhất để chứng thực những tin đồn này.

Ngày 12 tháng 5 năm 1975, tờ thông tin nội bộ của công ty Time, FYI., đăng một bức ảnh của Phạm Xuân Ẩn trên trang nhất của mình. Bức ảnh được chụp ngay trước khi lực lượng cộng sản tiến vào Sài Gòn, trong đó Phạm Xuân Ẩn đang ngạo nghễ hút một điếu thuốc ngay trước tòa thị chính Sài Gòn. Mái tóc đen của ông được chải lật ra sau trán và ông nheo mắt nhìn về phía chân trời, như thể đang săm soi những mớ xe tăng. “Phóng viên Phạm Xuân Ẩn cho vợ và bốn người con lên máy bay nhưng quyết định ở lại tổ quốc của mình,” bài báo viết. Lý do mà ông đưa ra cho việc ở lại đúng là cực kỳ bí hiểm. “Tôi là một người Việt Nam và là một phóng viên, còn di tản chỉ là một chương của câu chuyện.”

Trong những ngày trước khi chính phủ quốc gia sụp đổ, các biên tập viên của Time đã liên tục xúc tiến những nỗ lực di tản không thành. Đã hai lần họ điều những chiếc máy bay được thuê riêng tới Sài Gòn nhưng đều phải quay đầu tại sân bay. Không một khoản hối lộ nào như mọi khi có thể giúp xoay được visa xuất cảnh, và chính phủ Mỹ vẫn khăng khăng phủ nhận rằng đã đến ngày tàn của cuộc chiến tranh. Murray Gart, người quản lý các phóng viên thường trú của Time, bay tới Hồng Kông và thuê một chiếc tàu có thể chở một trăm hành khách khởi hành tới Việt Nam, nhưng con tàu đã bị hải quân Nam Việt Nam giữ lại để làm phương tiện tẩu thoát cho chính mình. Gart bay tới Washington và cắm trại bên ngoài văn phòng của Henry Kissinger. Đến cuối ngày, vị ngoại trưởng cuối cùng cũng xuất hiện và hứa sẽ điện cho đại sứ tại Sài Gòn yêu cầu giúp đỡ. Trong vòng một tuần, mọi thành viên trong biên chế của Time, chỉ trừ Phạm Xuân Ẩn, đều được bốc ra khỏi Việt Nam.

“Năm cuộn phim của bà Ẩn đã gởi đi chiều nay. Phim sẽ được xử lý tại phòng rửa ảnh ở Clark hay Guam,” đó là nội dung bức điện mật gửi về trụ sở của Time, thông báo rằng vợ của Phạm Xuân Ẩn và bốn người con đã được chở tới một căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương. Sau khi trải qua “phòng rửa ảnh” Guam và trại Pendleton ở California, gia đình của Phạm Xuân Ẩn được bố trí ở Washington, nơi họ ở với déesse của Phạm Xuân Ẩn là Beverly Deepe. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn sụp đổ vào tay cộng sản, Phạm Xuân Ẩn đánh điện về trụ sở tòa soạn ở New York rằng “văn phòng của Time giờ do mình tôi Phạm Xuân Ẩn, điều hành”. Sau khi cung cấp một bài phản ánh những sự kiện của ngày hôm đó ở miền Nam, Phạm Xuân Ẩn gửi thêm ba phóng sự nữa trước khi đường truyền câm lặng hoàn toàn.

Khi những đồng nghiệp của ông biết được câu chuyện của Phạm Xuân Ẩn từ những lời đồn đại bắt đầu lan truyền trong những năm 1980, mỗi người mới chợt nhớ ra một điều gì đó đáng ngờ giờ đây bỗng nhiên lại được giải thích bởi cái thông tin kia. Nick Turner, sếp cũ của Phạm Xuân Ẩn tại Reuters, khẳng định những mối nghi ngờ của ông ta về những lần vắng mặt không thông báo của Phạm Xuân Ẩn khỏi văn phòng. H. D. S. Greenway, được bạn bè gọi là David, chợt hiểu tại sao người đồng nghiệp của ông tại Time lại biết nhiều hơn mình về Chiến dịch Lam Sơn 719.

“Tôi đã lên đến tận vùng biên giới gần Khe Sanh, chứng kiến những người lính bị nện tơi bời rút lui khỏi Lào,” Greenway kể với tôi. “Tôi miêu tả họ là những người sống sót của thê đội đi đầu trong cuộc tấn công. ‘Không,’ Phạm Xuân Ẩn nói, không có một chút do dự. ‘Thê đội đầu tiên bị quét sạch rồi. Những gì anh thấy là những người sống sót sau nỗ lực giải cứu thê đội thứ nhất, mà nỗ lực này cũng thất bại nốt.’ Sau này, khi nghĩ lại tôi mới thấy là dường như anh ta nắm thông tin rất chắc. Đó là kiểu hiểu biết mà anh chỉ có thể có được khi biết rõ cả hai bên trong cuộc chiến đang làm gì.”

Nayan Chanda, người hồi đó làm việc cho Reuters và Far East Economic Review (Tạp chí kinh tế Viễn Đông), nhớ lại lần nhìn thấy Phạm Xuân Ẩn đứng trước cửa Dinh Độc Lập vào ngày cuối cùng của cuộc chiến khi chiếc xe tăng 843 của cộng sản húc đổ tung cánh cổng sắt. “Có một nụ cười rất lạ lùng, bí hiểm trên mặt anh ta. Dường như anh ta rất hài lòng và thoải mái với chính mình. Tôi thấy rất kỳ quặc,” Chanda nói. “Vợ và các con anh ta vừa mới được đưa ra khỏi Việt Nam, vậy mà dường như anh ta chẳng thèm bận tâm đến bất kỳ điều gì trên đời.” Sau này Chanda mới nhận ra là Phạm Xuân Ẩn đang tận hưởng chiến thắng của cộng sản mà chính ông đã ủng hộ suốt 30 năm.

Ngoài việc bị Chanda thoáng bắt gặp, Phạm Xuân Ẩn vẫn giữ vỏ bọc của mình nguyên vẹn sau năm 1975. “Đó là một thời khắc nguy hiểm đối với tôi,” ông nói. “Sẽ rất dễ xảy ra chuyện có người cho tôi một viên đạn xuyên qua sọ. Tôi sợ là họ sẽ giết tôi và nướng sống lũ chó của tôi. Tất cả những gì tôi có thể làm là chờ đợi ai đó ở trong cứ ra và công nhận tôi.”

Phạm Xuân Ẩn và mẹ ông chuyển vào trong khách sạn Continental, nơi họ ở trong căn phòng cũ của Robert Shaplen. (Shaplen đã ấn chìa khóa vào tay Phạm Xuân Ẩn khi ông rời khỏi đất nước này). Cuối cùng Phạm Xuân Ẩn chuyển sang văn phòng gồm hai phòng của Time. Ông bị công an triệu lên thẩm vấn liên tục cho đến khi các quan chức tình báo can thiệp. Mọi người bắt đầu nghi ngờ ông là “một người cách mạng” khi họ thấy ông đạp xe đạp tới các điểm phân phát hàng quân sự và ra về với những túi gạo và thịt buộc ở ghi đông. Mặc dù vậy họ vẫn đoán ông là một người “cách mạng 30 tháng 4”, tức là người nhảy sang phe cộng sản chỉ sau khi

Sài Gòn đã sụp đổ.

Thậm chí cả những sĩ quan quân đội cao cấp như đại tá Bùi Tín cũng không biết câu chuyện về Phạm Xuân Ẩn. Trên cương vị Phó Tổng Biên tập tờ báo của quân đội miền Bắc Việt Nam, ông Bùi Tín đi trên một chiếc xe tăng đến Dinh Độc lập ngày 30 tháng Tư năm 1975. Sau khi chấp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ông Bùi Tín ngồi xuống bên chiếc bàn Tổng thống để viết bài cho tờ báo của mình. Giống như hầu hết những nhà báo mới đến Sài Gòn, việc tiếp theo ông làm là đi tìm Phạm Xuân Ẩn. Như Bùi Tín nhớ lại: “Vào buổi sáng ngày mồng 1 tháng Năm, tôi đi tìm Phạm Xuân Ẩn ở văn phòng của ông ấy tại khách sạn Continental Palace. Lúc đó tôi hoàn toàn không biết ông ấy là một điệp viên. Tất cả những gì ông ấy kể với tôi là ông ấy làm phóng viên thường trú cho tờ Time-Life. Ông ấy giới thiệu tôi với tất cả phóng viên trong thành phố, và tôi giúp họ gửi bài viết của mình ra nước ngoài. Ba tháng sau khi chiến tranh kết thúc, tôi vẫn không biết rằng Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên .

Lẽ ra Phạm Xuân Ẩn đã theo gia đình mình sang Washington và tiếp tục hoạt động tình báo, nhưng nhiệm vụ này đã bị dừng lại vào phút chót. Những thông tin về sự tranh giành quyền lực đối với Phạm Xuân Ẩn – giữa những chỉ huy tình báo quân sự muốn phái ông sang Mỹ và những lãnh đạo kín đáo trong Bộ Chính trị – chỉ được tiết lộ với Bùi Tín khi chính phủ Việt Nam xúc tiến việc hồi hương cho vợ và các con của Phạm Xuân Ẩn. Lẫn trong làn sóng những người di tản khỏi đất nước, gia đình của Phạm Xuân Ẩn phải mất cả năm trời cố tìm cách quay trở lại Việt Nam thông qua một tuyến đường lòng vòng đi qua Paris, Mátxcơva, và Hà Nội. Bà Nguyễn Thị Bình, người bạn thời thơ ấu của Phạm Xuân Ẩn, cuối cùng cũng đưa được họ về nhà. Gia đình của Phạm Xuân Ẩn đã phải trú ngụ suốt bốn tháng liền ở hành lang Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, bị đẩy qua đẩy lại giữa những cơ quan tình báo và an ninh cạnh tranh nhau của Việt Nam, cho đến một hôm bà Bình bắt gặp họ đang ngồi ở đó. Tại thời điểm đó Việt Nam có hai đại sứ quán, một của những người cộng sản và một của Đại sứ Nguyễn Thị Bình, đại diện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau công việc của mình trên cương vị người đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại Hiệp định Paris, sứ mệnh ngoại giao cuối cùng của bà Nguyễn Thị Bình là bố trí đưa gia đình Phạm Xuân Ẩn trở về nước an toàn.

Với tư cách là người cuối cùng còn ở lại văn phòng của Time tại Sài Gòn, Phạm Xuân Ẩn nghiễm nhiên trở thành trưởng đại diện. Tên của ông vẫn xuất hiện trên Time cho đến ngày 3 tháng 5 năm 1976. Ông trả lời các yêu cầu và gửi phản ánh trong suốt một năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhưng càng ngày ông càng viết ít hơn, khi tấm lưới xám xịt của bộ máy an ninh Nhà nước chụp xuống thành phố. “Sau năm 1975, Sài Gòn biến thành HoChiMinhgrad,” ông nói. “Họ cắt bỏ máy điện tín và bắt buộc mọi bài viết phải chuyển qua bưu điện. Họ gạch bỏ chỗ này, gạch bỏ chỗ kia. Chế độ kiểm duyệt khắt khe đến nỗi chẳng khác nào cái thời của Graham Green. Tôi không gửi nhiều bài vì tôi không biết phải luồn lách kiểm duyệt như thế nào. Tất cả những gì họ muốn là tuyên truyền cho chế độ mới, thế là tôi suốt ngày đi xem chọi gà chọi cá.”

Thông báo chính thức đầu tiên về lòng trung thành trong thời chiến tranh của

Phạm Xuân Ẩn được đưa ra tháng 12 năm 1976, khi ông bay ra Hà Nội với tư cách đại biểu quân đội tại Đại hội Đảng lần thứ 4. Những bạn bè thấy ông đi khắp Hà Nội trong bộ quân phục màu xanh thẫm mà ông mặc lần đầu tiên trong đời, đều sững sờ trước sự biến đổi của Phạm Xuân Ẩn từ một nhà báo thành một anh hùng ngực đầy huân chương. “Rất nhiều VC[2] ở miền Nam ngạc nhiên khi họ thấy tôi,” Phạm Xuân

Ẩn nói. “Họ tưởng CIA đã bỏ tôi ở lại.”

Nguyễn Khải, nhà văn Việt Nam nổi tiếng, người về sau viết một cuốn tiểu thuyết về Phạm Xuân Ẩn, là một trong những người như vậy. “Anh thuộc về cách mạng!” ông thốt lên. “Tôi thuộc về tất cả,” Phạm Xuân Ẩn trả lời. “Người Pháp, người Mỹ, và bây giờ là cả cách mạng nữa.”

Khi hàng trăm nghìn người Việt Nam biến vào trong các nhà tù và trại lao động, Phạm Xuân Ẩn cũng được cử tới nơi mà ông vẫn gọi đùa là “trại cải tạo”. Tháng 8 năm 1978, ông được cử tham gia khóa bồi dưỡng mười tháng ở Học viện Chính trị Nguyễn Ái Quốc tại Hà Nội. Đây là một khóa bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Marx cho những cán bộ cấp cao. “Tôi đã sống quá lâu trong lòng địch,” ông nói. “Họ cử tôi tới đó để tái chế.”

Luôn là một học viên kém, Phạm Xuân Ẩn hoàn thành khóa học ở vị trí gần bét lớp. “Họ không ưa kiểu nói đùa của tôi,” ông nói về những người miền Bắc khó đăm đăm đang cố dạy ông thứ tiếng Việt “mới” đầy những từ ngữ chính trị mượn của Trung Quốc. Phạm Xuân Ẩn trải qua những cơn mưa lạnh thấu xương của mùa đông Hà Nội, ngủ trên cái giường gỗ với một tấm chăn bông. “Tôi mặc một cái áo bông Trung Quốc khiến tôi nhìn cứ như xác ướp. Tôi hỏi xin một cái áo khoác Nga nhưng vẫn thấy rét như thường, thế là tôi quay lại và hỏi xin một chiếc áo khoác 111 độ. “Đó là cái gì? ”, ông giám đốc học viện hỏi. “Ba cô gái,” tôi nói, “một người ngủ bên phải tôi, một người ngủ bên trái, và một người ngủ bên trên.”

“Họ hoàn toàn không ưa tôi tí nào,” Phạm Xuân Ẩn nói về những giảng viên bồi dưỡng chính trị của mình. “Nhưng tôi chưa phạm sai lầm nào nghiêm trọng đến mức bị mang ra bắn cả .”

Phạm Xuân Ẩn bị đẩy vào tình trạng đóng băng về chính trị cả một thập kỷ. Ông bị hạn chế [cấm ] gặp gỡ những đồng nghiệp người Mỹ trước đây đến thăm Việt Nam, và xuất hiện nhiều lời đồn đoán về việc tại sao ông bị an trí một nơi. Ông quá thân thiết với người Mỹ, quá hiểu biết, và quá rành chính trị phương Tây. Ông đã để cho trùm mật thám Trần Kim Tuyến trốn thoát. Ông từ chối vạch mặt những đồng nghiệp Việt Nam từng làm việc cho CIA. Có lẽ, như người ta nghe thấy Phạm Xuân Ẩn phàn nàn, cộng sản coi ông như một rentier (chủ tô), người thu tiền của những nông dân sống trên đất của mình.

Trong thời gian đó, ông vẫn đang lặng lẽ chờ thời, chờ cho bầu không khí chống Mỹ thay đổi thì Việt Nam lại tiếp tục những cuộc chiến khác, chống lại Khmer đỏ tại Campuchia và đồng minh Trung Quôc của nó. Ngày 15 tháng 1 năm 1976, ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - danh hiệu quân đội cao quý nhất của Việt Nam. Đến năm 1978 ông là trung tá, đến năm 1981 là thượng tá, và đến năm 1984 thì lên đại tá. Năm 1990, khi vẫn phục vụ trên cương vị một sĩ quan đang công tác, ông đã được thăng quân hàm cấp tướng.

Khi nhìn ra Sài Gòn qua cánh cổng ngôi biệt thự nơi ông ở, Phạm Xuân Ẩn vẫn chưa thấy dấu hiệu của thiên đường cộng sản . Thành phố đông chật những đảng viên cốt cán nghiêm nghị và dân đầu cơ hãnh tiến từ miền Bắc tràn vào. Giống như Voltaire, Phạm Xuân Ẩn dành hết tâm trí cho khu vườn của mình. Thực ra, vợ ông, bà Thu Nhạn làm vườn, nhưng một phần của nó luôn được dành riêng cho những chiếc lồng nuôi lũ gà chọi và chim quý của Phạm Xuân Ẩn.

Vào những dịp khi Phạm Xuân Ẩn rời khỏi nhà và cố đóng góp cho việc xây dựng lại Việt Nam thời hậu chiến, thì chỉ nhận được sự thờ ơ đầy quan liêu. Ông đề xuất đổi tên công viên nhỏ trước nhà thờ Công giáo là Quảng trường Morrison, theo tên của tín đồ dòng Quaker người Mỹ Norman Morrison, người đã tẩm xăng lên mình và tự thiêu đến chết bên ngoài văn phòng của Robert McNamara tại Lầu Năm Góc. McNamara đã đứng ở cửa sổ văn phòng của mình và chứng kiến Morrison bốc cháy, và như sau này ông ta viết trong cuốn hồi ký năm 1995 của mình, Nhìn lại (In Retrospect), “cái chết của Morrison là một bi kịch không chỉ đối với gia đình anh ấy mà đối với cả tôi và đất nước… Tôi phản ứng lại với nỗi kinh hoàng từ hành động của anh ấy bằng cách phong kín những cảm xúc của mình lại và tránh nói về những cảm xúc ấy với bất kỳ ai - ngay cả với gia đình mình. Marg [vợ của McNamara] và ba đứa con của chúng tôi chia sẻ rất nhiều cảm xúc của Morrison về cuộc chiến tranh… và tôi tin rằng tôi hiểu và chia sẻ với một số suy nghĩ của anh ấy.” Được biết đến trong thời thuộc địa với tên gọi Place (Quảng trường) Pigneau de Béhaine, theo tên của nhà truyền giáo người Pháp thế kỷ 18, người đã mở cửa Việt Nam ra với ảnh hưởng của châu Âu, và trong thời chiến tranh Việt Nam thì được gọi là Quảng trường John F. Kennedy, cái công viên nhỏ trước cửa nhà thờ hiện được đặt tên là Công xã Paris.

Vào năm 1981, cựu phóng viên thường trú của Newsweek Arnaud de Borchgrave, trong phiên điều trần trước tiểu ban của Thượng viện Mỹ về an ninh và khủng bố, đã lên án Phạm Xuân Ẩn là một “điệp viên tung tin lung lạc”. Đây là lời buộc tội không có cơ sở mà đối thủ cạnh tranh cũ của Phạm Xuân Ẩn đang trả thù vì đã bị ông hớt tay trên trong thời gian diễn ra vòng đàm phán hòa bình Paris. Cũng trong năm đó, Stanley Karnow, khi viết trên tờ Wall Street Journal (Nhật báo phố Wall), đã miêu tả Phạm Xuân Ẩn - người mà ông ta không được phép gặp trong một chuyến đi tới Sài Gòn - là “một quan chức cao cấp trong chính phủ Việt Nam”. Những báo cáo này càng khẳng định điều những người khác đã biết kể từ lần đầu tiên Phạm Xuân Ẩn mang trên người một bộ quân phục và bắt đầu đạp xe đạp tới các cuộc họp chi bộ hằng tháng năm 1976.

“Chúng tôi cho đây là một chuyện khôi hài,” David Greenway nói khi tôi hỏi ông ta về lời buộc tội rằng Phạm Xuân Ẩn là một “điệp viên ảnh hưởng” có nhiệm vụ thao túng thông tin và gài cắm tin tức trong Time. Greenway, người bị thương khi đưa tin về Tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế, rời khỏi Time năm 1972 và về sau trở thành biên tập viên phụ trách trang xã luận của tờ Boston Globe (Địa cầu Boston). “Những biên tập viên tại Time đâu có chịu nghe chúng tôi. Không một phóng viên nào của Time có thể thao túng thông tin cả. Anh ta cũng không thể nào may mắn hơn những người còn lại trong chúng tôi được.”

Thay vì gài cắm tin thất thiệt, theo lời Richard Pyle, cựu trưởng đại diện văn phòng Sài Gòn của hãng Associated Press: “Phạm Xuân Ẩn đã cứu cho Time khỏi bẽ mặt khi đăng tải những câu chuyện không đúng sự thật. Đây là một thủ thuật rất cao tay của anh ta. Không để lộ ra là làm sao anh ta lại biết và biết những gì, anh ta sẽ để bạn biết là bạn có đang đi đúng hướng hay không.”

Sau khi biết được tin về cựu phóng viên thường trú phụ trách mảng chính trị tại Sài Gòn của mình, Murray Gart, người quản lý các phóng viên thường trú của Time trong chiến tranh, được cho là đã nói: “Ẩn, đồ chó đẻ, tôi phải giết hắn.” Peter Arnett cũng chỉ trích Phạm Xuân Ẩn không kém. Hai nhà báo này vẫn thường gặp nhau ở quán Givral để trao đổi tin tức. “Tôi vẫn còn cảm thấy đau lắm,” Arnett nói. “Mặc dù tôi hiểu anh ta trên cương vị một người Việt Nam yêu nước, tôi vẫn cảm thấy bị phản bội về phương diện báo chí. Trong suốt cuộc chiến đã có những lời cáo buộc rằng chúng tôi bị cộng sản thâm nhập. Những gì anh ta làm đã cho phép lực lượng cánh tả bước đến và thụi vào mắt chúng tôi. Khoảng một năm trời gì đó, tôi vẫn còn thấy uất hận lắm. Sau đó tôi tự nhủ đó là công việc của anh ta.”

Trừ một số ngoại lệ hiếm hoi - mà ngay cả Arnett cũng ca ngợi Phạm Xuân Ẩn là một “tay gan lì” - những đồng nghiệp của Phạm Xuân Ẩn đều thống nhất quan điểm ủng hộ ông. “Tôi có tức giận không khi tôi biết chuyện về Phạm Xuân Ẩn à?” Frank McCulloch nói, ông là người đầu tiên thuê Phạm Xuân Ẩn làm việc cho Time. “Hoàn toàn không. Đó là tổ quốc của anh ấy, tôi nghĩ. Nếu hoàn cảnh đảo ngược lại, tôi cũng sẽ làm hệt như vậy thôi.”

McCulloch, hiện đang sống trong một khu dành cho người hưu trí ở California sau một sự nghiệp thành công trên cương vị biên tập viên điều hành của tờ Los Angeles Times, tờ Sacramento Bee, và những tờ báo khác, nhớ về Phạm Xuân Ẩn như “đồng nghiệp và phóng viên ngôi sao” của mình, “… Phạm Xuân Ẩn có sự am hiểu cực kỳ tinh tường về chính trị Việt Nam, và anh ta luôn vô cùng chính xác.” McCulloch cười phá lên. “Tất nhiên là anh ta chính xác rồi, cứ xem những nguồn của anh ta thì biết!”

Nhớ đến Phạm Xuân Ẩn với cảm tình và lòng tôn trọng, McCulloch nói ông

“vô cùng sung sướng” được tổ chức một quỹ quyên góp năm 1990, gây được 32.000 đô la để đưa con trai trưởng của Phạm Xuân Ẩn, Phạm Xuân Hoàng Ân, tới trường báo chí ở Đại học Bắc Carolina. Danh sách những người đóng góp cho quỹ đọc lên nghe giống như một danh sách Ai là Ai (nhân vật nổi tiếng) về các phóng viên chiến tranh Việt Nam. (Hoàng Ân, vốn được bạn bè và gia đình gọi là “Ẩn con”, giành được một bằng luật tại Đại học Duke năm 2002. Làm việc cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, anh đã tháp tùng chủ tịch nước Việt Nam tới Nhà Trắng trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của chủ tịch đến Washington năm 2007).

“Cứ giả sử là nước Mỹ năm 1966 đã bị chiếm đóng bởi nửa triệu binh lính Việt Nam, những kẻ đến đây và bảo chúng ta phải điều hành đất nước của mình như thế nào,” McCulloch nói với David Felsen. “Giả sử như tôi có cơ hội đánh bại họ và đuổi họ về nước? Tôi sẽ làm chính xác những gì mà Phạm Xuân Ẩn đã làm.”

“Phạm Xuân Ẩn thể hiện cho ông như thế nào rằng ông ấy yêu đất nước của mình?” Felsen hỏi.

“Bằng cách không hề cố gắng chứng tỏ cho tôi thấy rằng anh ấy yêu đất nước mình đến nhường nào,” McCulloch trả lời. “Phạm Xuân Ẩn không hề thể hiện tình yêu sâu sắc đối với đất nước và nhân dân mình. Anh ấy thực hiện nó. Anh ấy tin tưởng vào nó, và anh ấy thực hiện nó. Tôi vẫn vô cùng tôn trọng anh ấy, như một con người, như một công dân và người yêu nước Việt Nam.”

McCulloch nhớ lại cái ngày mà ông biết được qua bài báo của Stanley Karnow rằng Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên. “Nó khiến lòng tôi nặng trĩu, nó khiến tôi rất buồn, và tất nhiên là tôi ngỡ ngàng. Nhưng vẫn có rất nhiều nhà báo thủ cựu và người làm việc cho chính phủ Mỹ đánh giá rất cao Phạm Xuân Ẩn. Mọi người hỏi tôi là cá nhân tôi có thấy bị phản bội không, thì câu trả lời là không, bởi vì trên cương vị một nhà báo anh ấy đã làm trọn vai trò của mình một cách hoàn toàn trung thực. Anh ấy tuân thủ và thực hiện triệt để những quy tắc của nghề báo. Còn về vai trò khác của anh ấy, anh ấy đã làm những gì anh ấy nghĩ là mình phải làm trên cương vị một công dân Việt Nam yêu nước.”

Người phỏng vấn đã gặng hỏi McCulloch: “Vậy là ông không bị phản bội trên cương vị một nhà báo, nhưng ông có bị phản bội trên cương vị một người Mỹ không? Chẳng lẽ trước tiên ông là một nhà báo rồi sau đó mới là một người Mỹ?”

“Không, tôi không cảm thấy như vậy,” McCulloch nói. “Tôi cho rằng một số tin tức tình báo mà Phạm Xuân Ẩn thu thập được từ văn phòng đại diện đã dẫn đến kết quả là những thiệt hại của Mỹ và cái chết của người Mỹ, tôi vô cùng lấy làm tiếc vì điều này và cảm thấy một phần trách nhiệm cá nhân trong đó. Nhưng tôi không thể chỉ trích hay lên án vai trò của Phạm Xuân Ẩn trên cương vị một công dân Việt

Nam. Đó là quyền của anh ấy.”

Khi chuyện của ông lộ ra, Phạm Xuân Ẩn đau đớn vì lời buộc tội rằng ông đã giết hại những người lính Mỹ và phải chịu trách nhiệm, ngay cả chỉ là vô tình, về cái chết của những nhà báo đồng nghiệp. “Tôi đã cứu mạng họ,” ông khẳng định một cách dứt khoát, và đó là sự thật. Ông đã cứu mạng Mills Brandes khi tay điệp viên CIA này và gia đình anh ta đang đi về vùng nông thôn thì rẽ nhầm đường, kết quả là họ bị cộng sản giam giữ trong một thời gian ngắn. Ông đã cứu mạng Doug Ramsey, Bob Anson, và Trần Kim Tuyến. Ông thường can thiệp để những người nông dân không bị binh sĩ Việt Nam Cộng hòa tra tấn hoặc bắn chết. Ông giúp các quan chức miền Nam Việt Nam thoát ra nước ngoài năm 1975 như những bại binh và, sau này, như những người tị nạn băng qua Biển Đông. Phạm Xuân Ẩn đã chơi trận đấu một cách công bằng, như một người quân tử, nhưng tất cả những điều đó đều không phủ nhận một thực tế đáng tiếc là ông đã sống và làm việc giữa lòng một cuộc chiến tranh đẫm máu làm hàng triệu người thiệt mạng.

Khi tôi đến gặp ông, Phạm Xuân Ẩn thường nhấn mạnh rằng Việt Nam tham gia ba cuộc chiến tranh Đông Dương, thứ nhất là chống Pháp, thứ hai là chống Mỹ, và thứ ba là chống Trung Quốc . Tiếp sau một loạt những hành động khiêu khích, với việc lực lượng Campuchia vượt qua biên giới sát hại dân làng Việt Nam ở vùng châu thổ sông Mê Công, Việt Nam đã đưa quân sang Campuchia vào ngày 25 tháng 12 năm 1978. Phnom Penh bị chiếm vài ngày sau đó, và trong một thập kỷ tiếp theo Việt Nam bị sa lầy trong một cuộc chiến tranh du kích của Pol Pot và Khmer Đỏ, lực lượng do Trung Quốc vũ trang. Vốn chỉ biết cách tiến hành những cuộc chiến tranh du kích hơn là chống lại kiểu chiến tranh đó, Việt Nam mất hơn 50.000 binh lính trong cuộc xung đột Đông Dương lần thứ ba này, trước khi những phát súng cuối cùng được bắn vào tháng 3 năm 1990.

Năm 1990, đại tá Phạm Xuân Ẩn được phong quân hàm thiếu tướng. Vào thời điểm đó, Việt Nam bắt đầu đổi mới, tức áp dụng “chính sách đổi mới” mở cửa đất nước ra với phương Tây. Phạm Xuân Ẩn giải thích việc thăng cấp cho mình bằng một câu chuyện vui. Khi các nhà báo phương Tây bắt đầu quay trở lại Việt Nam, mọi người thường đề nghị được gặp “Tướng Givral”, và để tránh thất thố, chính phủ đã quyết định thăng cấp cho ông cho tương xứng với tên gọi.

Khi tôi gặp ông lần đầu tiên năm 1992, Phạm Xuân Ẩn là một vị chủ nhà hiếu khách với bất kỳ ai nhọc công đến kéo chuông cổng nhà ông. Ông đã quay trở lại vai trò người thông tin văn hóa và chuyên gia bình luận về tất cả những vấn đề Việt Nam. Phạm Xuân Ẩn là một thiên tài về nghệ thuật đối thoại, một người kể chuyện thông minh và là cây tiếu lâm, cũng như một chuyên gia phân tích sắc sảo. Trong khi nói chuyện rất thoải mái, tôi vẫn không khỏi có cảm giác rằng ông đang theo dõi cuộc đối thoại của chúng tôi, ghi lại nó trong đầu một cách trung thành đến nỗi sau đó ông có thể tua lại từng từ một. Nhiều khi, vào ngày hôm sau, hoặc thậm chí là hai ba ngày sau, ông quay lại điều gì đó mà ông đã nói và giải thích hoặc đính chính lại nó. Thỉnh thoảng ông lại yêu cầu tôi không nhắc lại điều gì đó mà ông đã nói. Như Phạm Xuân Ẩn viết cho người bạn học cùng đại học với ông là Lee Meyer, sau khi bà liên lạc với ông và họ bắt đầu thư từ cho nhau năm 2000: “Tôi không hề viết được bất kỳ cái gì bõ công một chút trong suốt 25 năm vừa qua ngoài việc [dành thời gian của mình] tán hươu tán vượn với những đồng nghiệp nước ngoài cũ đã tình cờ đến đây thăm tôi.”

Năm 1997, hình như chính phủ Việt Nam đã không cho phép Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ tham dự một hội thảo tại Quỹ Á châu ở New York, mà ông đã được mời với tư cách khách mời đặc biệt, và người ta bảo là phải mãi đến tháng 3 năm 2002 thì vị tướng 74 tuổi ốm yếu vì bệnh khí thũng mới được phép nghỉ hưu. (Ông lại “nghỉ hưu” lần nữa vào tháng 7 năm 2005, nhưng thực ra vẫn làm việc cho đến tận ngày qua đời.) “Họ muốn kiểm soát tôi,” ông nói. “Đó là lý do tại sao họ giữ tôi trong quân đội lâu đến thế. Tôi ăn nói văng mạng. Họ muốn giữ cho cái miệng tôi ngậm lại.” Tất cả những gì chúng ta có thể nói chắc chắn là ít nhất ba mươi năm sau khi chiến tranh kết thúc, Phạm Xuân Ẩn vẫn là một thành viên tích cực của ngành tình báo Việt Nam.

Thường có chút gì đó cay đắng trong giọng của Phạm Xuân Ẩn khi ông nói về cuộc sống của mình ở Việt Nam thời hậu chiến. Chính phủ có thể là ngu ngốc hoặc tham nhũng. Cơ hội để xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, thịnh vượng đã bị bỏ phí vì những sai lầm về tư tưởng, giống như quyết định năm 1978 về việc quốc doanh hóa thị trường gạo và tịch thu của cải của tư thương thành thị, hậu quả là một làn sóng những thuyền nhân người Việt gốc Hoa rời bỏ đất nước. Nếu như Phạm Xuân Ẩn thỉnh thoảng có chỉ trích giới lãnh đạo Đảng ở Việt Nam, thì ông vẫn dành những nhận xét dữ dội nhất của mình cho Trung Quốc, nước mà ông coi là kẻ thù thường trực của Việt Nam và là kẻ thực dân can thiệp tồi tệ nhất trong lịch sử Việt Nam. Chính Trung Quốc trong những năm 1950 đã ngăn cản Bắc Việt Nam phát động chiến tranh chống Ngô Đình Diệm và người Mỹ. Trong khi Phạm Xuân Ẩn chứng kiến những đồng chí cách mạng của mình ở miền Nam bị quét sạch, thì Đảng Cộng sản Việt

Nam đã thu mình lại, trước đòi hỏi kiên quyết của Trung Quốc. Chỉ mãi đến khi những người miền Nam bắt đầu tự đứng lên đánh Ngô Đình Diệm mà không cần sự thông qua của Hà Nội thì miền Bắc mới muộn màng nhảy vào trận chiến. “Người Trung Quốc sợ bị giập mũi như ở Triều Tiên,” Phạm Xuân Ẩn nói. Chỉ đến khi Mỹ leo thang họ mới buộc phải ủng hộ chúng tôi. Ấy thế mà những người Việt Nam chúng tôi vẫn luôn ngậm miệng. Chúng tôi lúc nào chẳng sợ ông anh cả đến chết khiếp,” Phạm Xuân Ẩn nói, sử dụng cách gọi quen thuộc ở Việt Nam để chỉ người láng giềng khổng lồ phương Bắc của mình.

Đến năm 2002, năm mà Phạm Xuân Ẩn chính thức nghỉ hưu lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam xem như ông đã đủ an toàn để có thể tiếp cận và viết một cuốn tiểu sử. Phạm Xuân Ẩn: Tên người như cuộc đời. Nhan đề của cuốn sách là một cách chơi chữ với từ ẩn, trong tiếng Việt có nghĩa là “ẩn giấu”. Phạm Xuân Ẩn lảng tránh hầu hết những câu hỏi được đặt ra đối với ông từ tác giả cuốn sách, Nguyễn Thị Ngọc Hải, về chuyện thực sự thì ông đã làm những gì trong chiến tranh, nhưng Ngọc Hải là một phóng viên đầy nhiệt huyết đã lần ra được những đồng đội cũ của Phạm Xuân Ẩn và thu thập những thông tin mà bản thân Phạm Xuân Ẩn không chịu chia sẻ. Cuốn sách của bà xuất hiện gần như đồng thời với một loạt bài dài 53 kỳ được đăng trên báo Thanh Niên, tờ báo chính thức của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Bản dịch tiếng Anh của một số trong những ấn phẩm này được xuất bản năm 2003 với tên gọi Pham Xuan An: A General of the Secret Service. Một cuốn tiểu sử thứ ba, Người im lặng, được nhà văn Chu Lai viết cho Tổng cục II (TC2), cơ quan tình báo Việt Nam. Một loạt bài viết khác dài như cả một cuốn sách được đăng trên báo Vietnam News năm 2007, và đến năm 2008 thì báo Thanh Niên bắt đầu tung ra loạt bài thứ hai về Phạm Xuân Ẩn[3]. Trong thời gian đó, hai cuốn tiểu sử đã được xuất bản ở phương Tây: Un Vietnamien Bien Tranquille (Một người Việt Nam thật trầm lặng)[4], của cựu phóng viên tờ Le Monde JeanClaude Pomonti, và Perfect Spy (Điệp viên hoàn hảo), của giáo sư chính trị học Larry Berman.

Sau khi ông nghỉ hưu, Phạm Xuân Ẩn cũng bắt đầu xuất hiện trên truyền hình và trong các bộ phim. Tiếp sau lần xuất hiện dài một tiếng đồng hồ trên một chương trình talk show của Việt Nam là một bộ phim tài liệu truyền hình dài bốn tiếng đồng hồ được phát sóng tháng 12 năm 2007. Nhà sản xuất truyền hình người Pháp Alain Taieb thực hiện bộ phim tài liệu về một cuộc hội ngộ ở khách sạn Continental giữa Phạm Xuân Ẩn và Philippe Franchini, người chủ cũ của khách sạn. Một trong những vai trò thú vị khác của Phạm Xuân Ẩn là phần mà ông đảm nhiệm trong bộ phim làm lại Người Mỹ trầm lặng của đạo diễn người Australia Philip Noyce. Thay vì chi tiết nhà báo người Anh Thomas Fowler có hai người làm việc cho mình, một trợ tá người Ấn Độ và một điệp viên cộng sản, Noyce kết hợp họ thành một người, ông Hinh. “Ông ta đã bảo tay diễn viên người Mỹ gốc Hoa sắp đảm nhiệm vai diễn đó đến gặp tôi,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông ta biết tôi từng là du kích tại thời điểm hoạt động trong thành phố. Tôi cho ông ta biết về các hoạt động của cộng sản, về cách chúng tôi hành động như thế nào và chúng tôi đã làm gì.”

Noyce, trong phần thông cáo báo chí được tung ra cùng bộ phim, giải thích việc ông đã quyết định thay đổi tiểu thuyết của Greene như thế nào. “Sự thay đổi đó lấy cảm hứng từ một câu chuyện hấp dẫn mà tôi được nghe về một người Việt Nam yêu nước rất nổi tiếng, tướng Phạm Xuân Ẩn. Với tư cách là một đặc vụ, suốt 35 năm trời ông đã làm kiểm duyệt viên cho người Pháp rồi làm cho người Mỹ trong lĩnh vực tình báo, và cuối cùng là làm việc cho Reuters và tạp chí Time, trong khi đồng thời ông lại làm việc cho nhân dân Việt Nam trên cương vị một điệp viên. Tôi nghĩ đây thực sự là một nhân vật tuyệt vời, một điệp viên ba mang, nên chúng tôi đã phát triển nhân vật ông Hinh xoay quanh tướng Phạm Xuân Ẩn.” Đoạn thông cáo báo chí tiếp tục miêu tả Noyce và Tzi Ma, diễn viên đóng vai ông Hinh, đã “dành nhiều ngày với tướng Phạm Xuân Ẩn trong quá trình làm phim để hiểu rõ câu chuyện của ông và phát triển sự phân tích nhân vật”. Một trong những hệ quả của việc đưa Phạm Xuân Ẩn vào kịch bản của Người Mỹ trầm lặng - của việc biến ông trở thành trợ tá của Fowler đồng thời là một điệp viên cộng sản - là ở chỗ Phạm Xuân Ẩn trở thành người đã thủ tiêu điệp viên CIA Alden Pyle. Có thể đây là một tai nạn xuất phát từ việc thay đổi cốt truyện. Cũng có thể không phải là một tai nạn.

Bất cứ khi nào ở Paris, tôi lại cố tìm gặp Philippe Franchini để làm một ly buổi chiều tại Bistro des Amis gần căn hộ của ông ở khu tả ngạn sông Seine. Người chủ quán người Việt Nam chào Philippe là patron (ông chủ), và có cái gì đó ở người đàn ông khiêm nhường này, thấp và mập mạp, nhưng gần như uyển chuyển như mèo trong cách mà ông lượn người xuống phố, khiến cho việc gọi ông là “ông chủ” là không thể nào phù hợp hơn. Franchini là một họa sĩ với cặp mắt màu nâu hấp háy và một cái nhìn sắc bén dường như thu trọn cả thế giới xung quanh ông một cách tinh tường lập tức.

Là một người kể chuyện tuyệt vời, Franchini có thể ngồi thoải mái trong một banquette (ghế băng dài) và mân mê một ly rượu vang trong câu chuyện suốt cả buổi chiều. Phạm Xuân Ẩn cũng có năng khiếu đó, và đâu như cả Hồ Chí Minh cũng vậy. Trương Như Tảng[5], một thành viên sáng lập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, kể lại một buổi chiều ông ở cùng với Hồ Chí Minh khi còn là một sinh viên ở

Paris. “Buổi chiều hôm đó là một khóa học ngắn về lịch sử Việt Nam, được Bác Hồ giảng cho chúng tôi bên tách trà. Bác đã làm điều đó hoàn toàn theo cách Việt Nam truyền thống khiến chúng tôi cảm thấy rất thoải mái, với vẻ hài hước nhẹ nhàng, những truyền thuyết, giai thoại, và thông điệp đạo đức vừa vui vừa hữu ích.”

Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Phạm Xuân Ẩn và Philippe Franchini đã trở thành bạn. Họ cùng thích nói đùa và cười giễu những thói xấu của con người, kể cả của chính mình. Những đánh giá của họ rất sắc sảo, những bản năng của họ được mài giũa tinh tế. Người khác tìm đến họ như những nhà thông thái, nhưng hoàn toàn không có chút gì là giả tạo trong sự khôn ngoan của họ. Họ là những nhân vật khiêm nhường, cao quý, những người luôn cầm trịch tại mỗi banquette ở bất kỳ quán cà phê nào họ ngồi lại.

Alain Taieb trong bộ phim của mình về Franchini và Phạm Xuân Ẩn đã để họ cùng nhau trong khu vườn của khách sạn, có lẽ là để nhìn họ ôn lại những ngày xưa, khi Franchini sở hữu nơi này và Phạm Xuân Ẩn làm ở trên lầu hai trong văn phòng gồm hai buồng của Time trông ra quán cà phê Givral. Phạm Xuân Ẩn và Franchini bỏ qua phần ôn kỷ niệm và đi thẳng vào vấn đề chính. Phạm Xuân Ẩn muốn cả thế giới biết rằng Franchini là một con người đáng tôn trọng. Ông thừa kế từ cha mình một khách sạn lớn chìm đắm trong những khoản nợ khó đòi, và thay vì trốn tránh những khoản nợ này ông đã trả lần lượt từng khoản một trong suốt một thập kỷ. Franchini mất tất cả mọi thứ vào cuối cuộc chiến tranh khi khách sạn của ông bị cộng sản tịch thu, nhưng danh dự của gia đình ông được bảo toàn. Những lời của Phạm Xuân Ẩn làm Franchini trào nước mắt.

Franchini là một métis, một người lai Á-Âu giữa một người cha quê ở đảo Corsica và một người mẹ Việt Nam. “Ở Việt Nam, không ai tin métis,” ông nói. “Họ biết quá nhiều. Họ chẳng khác gì những người châu Âu trong khi lại quan sát thế giới qua đôi mắt của người châu Á. Họ là những điệp viên trong nhà của cha mẹ họ.

Họ rất hữu ích nhưng cũng lại rất tráo trở.”

Phạm Xuân Ẩn tương tự như một métis, một dòng lai giữa Việt Nam và Mỹ. Ông cũng là một điệp viên trong nhà của cha mẹ mình, một con cá bơi giữa tất cả những vùng nước của thế giới. Nếu như lịch sử của Việt Nam là một câu chuyện dài về sự tráo trở và nước đôi, thì người métis đã cụ thể hóa lịch sử đó trên da thịt mình, trong đó Franchini và Phạm Xuân Ẩn là những mẫu vật A và B.

Hiện nay Franchini là một trong những nègres (gã da đen) bận bịu nhất nước Pháp, một nhà văn viết thuê chuyên chấp bút những cuốn sách về các chính trị gia và nhân vật truyền hình nổi tiếng. Khi Franchini kể một câu chuyện, bao giờ nó cũng được tỉa tót và thêm thắt phong phú đến nỗi tôi hình dung ra cảnh ông sẽ làm việc thật khuya tối hôm đó để phát triển nó thành một chương sách hoặc một kịch bản. “Tôi không bao giờ dám viết về Phạm Xuân Ẩn,” ông nói với tôi. “Anh ấy sống trong một thế giới chẳng có gì giống như vẻ ngoài của nó cả. Ta không thể chỉ viết về những sự kiện trong cuộc đời của anh ấy. Điều hấp dẫn là vấn đề tâm lý, và với người Việt Nam thì luôn có điều gì đó mập mờ, điều gì đó bí hiểm. Đó là một đất nước có lẽ là do Salvador Dali[6] tạo ra. Ông có biết bức tranh siêu thực của ông ấy về les montres molles không, những chiếc đồng hồ mềm oặt ấy? Mọi thứ trong bức tranh này, có tên là La persistencia de la memoria (Sự dai dẳng của ký ức), đều méo mó, vặn vẹo, uốn éo. Thời gian và không gian tan chảy vào nhau, và bao trùm lên tất cả là một vẻ kỳ bí. Đó chính là Việt Nam. Đó là một thế giới mờ ảo, giống hệt như thế giới mà Salvador Dali hình dung ra.”

Đại tướng Mai Chí Thọ, người chỉ huy cũ của Phạm Xuân Ẩn, nổi lên sau chiến tranh như một trong những nhân vật quyền lực nhất của Việt Nam. Ông từng là bí thư xứ ủy Nam Kỳ, rồi làm bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tại biệt thự của ông Thọ ở trung tâm Sài Gòn - trước kia vốn là Đại sứ quán Thụy Sĩ - tôi được đưa vào một phòng khách sang trọng, đặt đầy những đồ nội thất bằng gỗ gụ và những tác phẩm điêu khắc từ các loại đá được sưu tập tại những di tích cách mạng nổi tiếng của Việt Nam. Được đặt một cách trang trọng ở phía cuối phòng là bàn thờ đầy hoa quả. Phía trên bàn thờ là bốn bức ảnh được tô màu thủ công của cha mẹ ông Thọ, cùng hai người anh trai nổi tiếng của ông: Đinh Đức Thiện, vị thượng tướng đã có công xây dựng nên Đường mòn Hồ Chí Minh, và Lê Đức Thọ, người từng giành giải Nobel Hòa bình và đã xỏ mũi Henry Kissinger tại Hội nghị Paris.

Đứng bên bàn thờ, ông Mai Chí Thọ cầm một bó hương đã châm trên tay và vái lạy trước ảnh cha mình. Hôm nay là ngày giỗ người cha của ông, theo tập quán thì không phải là lúc thích hợp để tiếp người lạ, nhưng ông Thọ biết quãng thời gian của tôi ở Việt Nam không dài. Ông cắm bó hương lên bàn thờ rồi đến bắt tay tôi. Trong chiếc quần màu xám và áo sơ mi màu đỏ tía, ông là một người đàn ông tóc bạc trắng, oai vệ với ánh mắt nhìn xoáy thẳng. To lớn hơn hầu hết người Việt Nam, ông Thọ có cả một đường hầm kích thước ngoại cỡ được đào riêng cho mình trong thời gian mười năm ông sống dưới địa đạo Củ Chi.

Trải qua tất cả những nhà tù ghê gớm nhất ở Việt Nam, gồm cả nơi về sau này được gọi là Hilton Hà Nội, nơi John McCain đã bị giam năm năm, và Côn Đảo, đảo Quỷ, nơi hai phần ba số bạn tù của ông đã chết trước khi ông được thả năm 1945, Đại tướng Mai Chí Thọ là một đối thủ dạn dày trận mạc nhưng bây giờ thì là một vị chủ nhà xởi lởi, mời vị khách Mỹ của mình dùng trà và hoa quả. “Đó thực sự là công việc rất khó khăn, nhưng chúng tôi phải làm bằng được,” ông nói về cố gắng của mình trong việc gom đủ tiền đưa Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ năm 1957. “Hồi đó Đảng có rất ít tiền, nhưng chúng tôi nghĩ công sức đó là hoàn toàn xứng đáng - Phạm Xuân Ẩn là người đầu tiên được chúng tôi cử sang Mỹ - để học về văn hóa của những kẻ đang thay thế Pháp trở thành kẻ thù của chúng tôi.”

“Phạm Xuân Ẩn là người hoàn hảo cho nhiệm vụ đó,” ông nói. “Đó là một kỳ công thực sự đối với chúng tôi.”

Khi tôi gặng hỏi ông Thọ về cơ hội bị bỏ lỡ trong việc đưa ông Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ lần nữa năm 1975, ông chăm chú nhìn tôi qua cặp kính gọng thép. “Tôi không biết làm thế nào mà câu chuyện này lại bị lộ ra ngoài,” ông nói, rõ ràng là lấy làm tiếc vì tôi đã biết đủ để đưa ra câu hỏi đó. “Chắc chắn anh ấy sẽ làm rất tốt nếu chúng tôi cử được anh ấy sang Mỹ,” ông Thọ nói, cho thấy rằng việc giữ ông Phạm Xuân Ẩn ở lại không phải là quyết định của ông.

Tôi biết từ trước khi tôi hỏi là câu hỏi tiếp theo của mình sẽ không được trả lời.

“Chính xác thì Phạm Xuân Ẩn đã làm gì cho ông?”

Bộ trưởng Mai Chí Thọ mỉm cười và rót cho tôi một tách trà nữa. “Ông Ẩn có những nguồn tin tốt nhất và tiếp cận với những thông tin mật. Ông ấy có tai dưới đất không giống với bất kỳ ai khác ở Sài Gòn. Nếu ông muốn biết chuyện gì từng diễn ra, thì ông Ẩn chính là người để hỏi. Sau chiến tranh, chúng tôi phong tướng cho ông ấy cùng với danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Không cần phải nói rõ cho ông mọi chi tiết, chỉ ngần ấy cũng đã đủ cho ông thấy tầm quan trọng của những gì ông ấy đã làm cho tổ quốc của mình.”

Tại một cuộc gặp khác với Đại tướng Mai Chí Thọ vào năm sau, tôi đề nghị ông liệt kê những điệp viên hàng đầu của Việt Nam. (Đã có lúc, CIA ước tính có đến 15.000 điệp viên như vậy.) Đứng đầu danh sách của ông Mai Chí Thọ là Phạm Xuân Ẩn, tiếp theo là Đặng Trần Đức, cũng còn được biết đến với tên gọi Ba Quốc, người tiếp nối Phạm Xuân Ẩn làm việc cho tình báo Việt Nam Cộng hòa. Hai điệp viên hành động, Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Ngọc Thảo, được xếp ở vị trí thứ ba và thứ tư.

Vũ Đình Long, vốn được biết đến nhiều hơn qua bí danh Vũ Ngọc Nhạ, sinh ra trong một gia đình Công giáo địa chủ ở Phát Diệm, ngôi làng ở miền Bắc Việt Nam được đề cập đến rất nổi bật trong Người Mỹ trầm lặng. Chính tại nơi đây, trong một trận đánh đẫm máu giữa Việt Minh và những đối phương Công giáo của họ mà Alden Pyle và Thomas Fowler bắt đầu cuộc quyết đấu sinh tử giữa họ để tranh giành

Phượng, “cô gái xinh đẹp nhất Sài Gòn”. Và cũng trong trận đánh thực sự này mà Nhạ đã đặt cược số phận của mình về phía những người cộng sản. Theo lời thúc giục của Hồ Chí Minh, ông trở thành một điệp viên bí mật với vỏ bọc là một linh mục Công giáo.

Nhạ di cư khỏi miền Bắc cùng với một triệu người di cư Công giáo khác bỏ vào Nam năm 1954. Ông đi hái nho ở Pháp và làm cha xứ ở Sài Gòn cho đến khi gây được sự chú ý với gia đình ông Diệm và chuyển vào Dinh Độc Lập với tư cách là giáo sĩ xưng tội và bạn tâm giao riêng của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau khi sống sót trong vụ đảo chính năm 1963 chống lại Diệm, ông Nhạ lại nổi lên như một cố vấn tin cậy của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, viên tướng đã cai trị miền Nam Việt Nam cho đến khi chính quyền này không còn tồn tại năm 1975. Ông Nhạ đã thành công trong việc tuyển mộ được một lô những điệp viên khác vào trong mạng lưới của mình, bao gồm cả những quan chức hàng đầu của Việt Nam Cộng hòa liên quan đến việc lên kế hoạch ấp chiến lược, các chương trình bình định, triển khai binh lính, và những động thái chiến thuật khác trong chiến tranh.

Năm 1968, trong Tổng tấn công Tết Mậu Thân - trong khi Tư Cang và các chiến sĩ biệt động của ông đang tấn công vào Dinh Độc Lập từ đường phố - thì Vũ Ngọc Nhạ lại chỉ huy các điệp viên bên trong với nhiệm vụ bắt và giết Nguyễn Văn

Thiệu. Rất may cho Thiệu là ông ta đang đi nghỉ Tết về quê thăm gia đình vợ khi

Dinh bị tấn công. Với hy vọng làm xao nhãng lực lượng gác Dinh, Nhạ đã mở toang cửa hầm rượu của tổng thống. Chẳng may, đám lính nhút nhát kia lại đâm ra chiến đấu hăng hái hơn khi say rượu. Khi trở về Sài Gòn và nhận thấy hầm rượu của mình là nơi bị hư hại nặng nề nhất trong Dinh, Thiệu khen ngợi vị cố vấn linh mục của mình vì đã sử dụng một mưu mẹo khôn ngoan đến thế nhằm khích lệ tinh thần binh lính.

Khi vỏ bọc của ông bị lộ năm 1969, Nhạ bị bắt và bị tra tấn trước khi bị tống vào chuồng cọp ở Côn Đảo. Giáo hoàng Paul VI đã can thiệp cho ông, công nhận Nhạ là một “con chiên ngoan của Chúa”. Được trả tự do trong lần trao đổi tù binh diễn ra sau khi ký kết Hiệp định Paris năm 1973, Nhạ xuất hiện trở lại trên chính trường như một “giám mục giải phóng”, vẻ như đang hỗ trợ một lực lượng thứ ba điều hành Việt Nam, nhưng kỳ thực ra thì ông lại hoạt động điệp viên cho cộng sản. Khi Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam, đầu hàng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, đứng sau ông ta trên cương vị cố vấn tin cậy là một Vũ Ngọc Nhạ đang mỉm cười.

Điệp viên cộng sản táo bạo nhất ở Việt Nam là Albert Phạm Ngọc Thảo. Cũng là một thành viên thuộc tầng lớp trên Công giáo, Phạm Ngọc Thảo, dưới sự bảo trợ của bác sĩ Trần Kim Tuyến, thăng tiến rất nhanh qua các chức vụ để trở thành tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa ở châu thổ phía Nam Sài Gòn[7]. Ông cũng thành công trong việc xây dựng “ấp chiến lược” đến mức ông được giao nhiệm vụ điều hành chương trình này trên cả nước. Việc ông hăng hái ủng hộ ý tưởng của Ngô Đình Diệm xây dựng 16.000 trại lao động cưỡng bức là một đòn đánh lạc hướng bậc thầy. Một vùng nông thôn trơ trụi đầy những nông dân bị cưỡng bức tập trung quá là thuận tiện cho cộng sản tuyển mộ. Trong khi lắp ghép các mảnh cần thiết cho một cuộc nổi dậy của nông dân, Thảo cũng kìm hãm các hoạt động cộng sản tại những khu vực dưới quyền kiểm soát của mình. Kiến Hòa, vốn từ lâu được biết đến là một căn cứ của

Việt Minh, trở thành nơi yên bình nhất trong các tỉnh thành của miền Nam Việt Nam.

“Thảo là một chuyên gia đảo chính,” Phạm Xuân Ẩn nói. Ông không ngừng ra sức lật đổ chính phủ và tránh cho Việt Nam thêm một thập kỷ chiến tranh, nhưng vận may của ông đã hết vào năm 1965, khi ông bị bắt sau một cuộc đảo chính thất bại. Phạm Xuân Ẩn hạ thấp giọng khi ông nói về sự tra tấn mà Phạm Ngọc Thảo phải chịu đựng. Ông chìa tay ra và vặn bàn tay nắm chặt theo chiều kim đồng hồ đánh khục một cái. “Chúng bóp nát tinh hoàn của ông ấy. Sau đó chúng siết cổ ông ấy. Công việc này được tướng Loan thực hiện.” Phạm Xuân Ẩn kề một ngón tay xương xẩu lên đầu mình, nhắc tôi nhớ rằng Loan chính là viên cảnh sát trưởng Sài Gòn được ghi lại trong bức ảnh nổi tiếng của Eddie Adams về một tù binh Việt Cộng bị sát hại với họng súng kề sát đầu.

Phạm Xuân Ẩn không bao giờ khoe khoang về những kỹ năng của mình trong vai trò một điệp viên, ông toàn quy cho may mắn những gì mà người khác hẳn sẽ khẳng định là sự cáo già. Phạm Xuân Ẩn coi công việc của mình về bản chất là mang tính phòng ngự hơn tấn công. Ông không phải là một nhà quý tộc giống như

Quý ông Anthony Blunt, người đã tư vấn cho nữ hoàng về bộ sưu tập nghệ thuật của bà khi làm gián điệp cho Liên Xô. Ông có nhiều nét tương đồng hơn với Richard Sorge, nhà báo người Đức đã kết bạn với những nhân vật chóp bu của Đức Quốc xã trong khi làm điệp viên cho Stalin. Sorge bị Nhật Bản treo cổ năm 1944. Cơ hội khả thi nhất mà Phạm Xuân Ẩn có để được hoạt động trên phạm vi thế giới là điệp vụ cử ông sang Mỹ bị hủy bỏ. Sau năm 1975, khi Việt Nam sa lầy vào những cuộc chiến tranh biên giới chống Campuchia và Trung Quốc và hủy hoại nền kinh tế của mình, hàng triệu người [ba triệu người ] đã buộc phải rời bỏ đất nước như những người tị nạn. Phạm Xuân Ẩn tiếc nuối vì đã không thể đóng góp cho một chính phủ mà rõ ràng là rất cần ông. “Không ai lắng nghe tôi cả,” ông trách móc những cán bộ cốt cán của Đảng lên nắm quyền sau năm 1975.

Một buổi tối trước hôm tôi chuẩn bị đến thăm Ẩn, một cơn bão lớn đang ập đến từ phía Đông, và buổi sáng hôm sau, trời mưa tầm tã suốt ngày. Lúc này khi trời đã mưa, phòng của Phạm Xuân Ẩn đặc sệt một mùi ẩm ướt của lũ chó và mùi phân chim, hai mắt cá chân tôi nổi đầy những vết mẩn đỏ và bắt đầu sưng lên vì rận cắn. Đến giữa buổi sáng, không khí đặc quánh lại với mùi các loại rau gia vị và sau đó tan đi trong khi Phạm Xuân Ẩn vẫn tiếp tục nói qua cả giờ ăn trưa và sang đến tận buổi chiều. Cũng may là tôi đã tỉnh táo kịp ăn một bữa sáng ra trò trước khi đến gặp ông.

Những vũng nước lớn đang đọng lại trong vườn và hơi ẩm phả đầy trong không khí. Tôi lo lắng cho những cuốn sách đang úa vàng của Phạm Xuân Ẩn, vốn đã bắt đầu ố vì mốc và đang dần mủn ra thành thứ bột giấy nhão nhoét không thể nào đọc nổi. Thỉnh thoảng Phạm Xuân Ẩn lại ngừng nói để đứng lên và đi tìm một lời trích dẫn hoặc ấn một tài liệu vào tay tôi để khẳng định những phân tích của ông. Rất nhiều cuốn sách của Phạm Xuân Ẩn có chữ ký, hoặc là của tác giả hoặc là của những người tặng chúng cho ông. Trong số hai cuốn A Bright Shining Lie (Sự lừa dối hào nhoáng) của Neil Sheehan mà ông có, một cuốn có chữ ký của Sheehan, cuốn còn lại có chữ ký của phóng viên đài CBS Morley Safer.

Bộ sưu tập của Phạm Xuân Ẩn gồm cả những tập sách bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, nhưng có rất ít những cuốn bằng tiếng Việt. “Người dân ở đây không được viết tự do,” ông giải thích. “Đó là một lý do tôi sẽ không viết về cuộc đời mình. Tôi sẽ gặp rắc rối nếu tôi kể về cuộc đời mình hoặc những gì tôi biết.”

Đôi lúc tôi có cảm giác những cuốn sách mà Phạm Xuân Ẩn ấn vào tay tôi là những thông điệp được mã hóa, là những cách nói về các trải nghiệm vẫn còn quá nguy hiểm để có thể đối mặt trực tiếp. Với mỗi chuyến thăm hàng ngày, Phạm Xuân Ẩn dường như đã chọn ra một tài liệu hoặc một đoạn văn để xoay cuộc trò chuyện của chúng tôi quanh đó. Có hôm là tác phẩm của Dickens, “Đó là quãng thời gian tuyệt vời nhất, đó là quãng thời gian tồi tệ nhất”. Hôm khác, bài học lại được rút ra từ Ngụ ngôn của Jean de La Fontaine. Phạm Xuân Ẩn thích thú với những câu chuyện về các loài vật cư xử như con người còn con người cư xử như loài vật.

Tại một trong những cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi, Phạm Xuân Ẩn cho tôi xem một cuốn sách của Gérard Tongas, một nhà giáo người Pháp đã đến Hà Nội để giúp cộng sản thành lập một trường trung học sau khi họ giành chiến thắng trước quân Pháp năm 1954. Theo Phạm Xuân Ẩn, Tongas, cũng giống như Edward Lansdale, có một con chó rất khôn có hôm đã cứu ông này thoát chết khỏi bị đầu độc.

Tôi đọc thấy qua lời ghi trên bìa lót là cuốn sách của Tongas được tặng cho Phạm Xuân Ẩn bởi người đứng đầu Quỹ Á châu, tổ chức bình phong của CIA đã tài trợ cho những chuyến đi của ông Ẩn tại nước Mỹ. Bản thân nhan đề cuốn sách cũng đã mang nặng hàm ý: J’ai Vécu dans l’Enfer Communiste au Nord Viet Nam et J’ai Choisi la Liberté (Tôi đã sống trong địa ngục cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, và tôi đã chọn tự do).

“Đó là một cuốn sách rất quan trọng, một tác phẩm chân thực,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông phải đọc nó trước khi ông viết bất kỳ điều gì.”

Buổi chiều, khi những cơn mưa đã ngớt, Phạm Xuân Ẩn loẹt xoẹt bước qua gian bếp và đi qua cửa sau ra lối dẫn vào nhà, nơi bàn làm việc và những tập hồ sơ của ông đang được cất dưới một tấm vải nhựa. Mở ngăn kéo bàn để tìm mấy bức ảnh cũ, ông hờ hững gạt qua một bên những bức ảnh mới chụp mình trong bộ quân phục cấp tướng đứng cạnh thủ tướng và các nhân vật khác trong Bộ Chính trị Việt Nam. “Họ muốn biết trông tôi như thế nào,” ông nói. “Họ trải qua chiến tranh trong rừng và trước đó chưa bao giờ gặp tôi cả.”

Tôi với tay vào trong ngăn kéo và lấy ra một tấm huân chương được gắn trên chiếc cuống màu đỏ. “Cái gì đây?” tôi hỏi.

“Mấy thứ này toàn người ta tặng cho tôi đấy mà,” ông nói. “Tôi cũng không nhớ hết là vì việc gì. Tôi đã hoạt động trong bóng tối. Tôi chết trong bóng tối,” ông vừa nói vừa đóng ngăn kéo lại.

❀ ❀ ❀

[1] Khoảng 30 kilômét.

[2] Việt Cộng.

[3] Loạt bài này nhan đề “Giải mã Phạm Xuân Ẩn” của Hoàng Hải Vân.

[4] Cuốn này đã được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Câu chuyện khác thường về một điệp viên đã thách thức nước Mỹ.

[5] Từng làm bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, sau năm 1975 trốn ra nước ngoài.

[6] Họa sĩ siêu thực Tây Ban Nha (1904-1989).

[7] Tỉnh Kiến Hòa ngày nay là Bến Tre, ở phía Tây Nam Sài Gòn.

ĐỖ TUẤN KIỆT dịch BÙI XUÂN BÁCH bổ sung và hiệu đính
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas A. Bass

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.