ĐÔI LỜI CẢNH BÁO VỀ ĐIỆP VIÊN Z.21
- Trang 17 - “498 báo cáo tin tình báo”: Số báo cáo tin tình báo của Phạm Xuân Ẩn được tiết lộ trong loạt bài báo nhiều kỳ của các tác giả Trường Giang, Việt Hà, và Thế Vĩnh, bắt đầu được đăng trên ViệtNamNet ngày 17 tháng 8 năm 2007.
- Trang 22 - “tiểu sử chính thức”: Xem Larry Berman, Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter and Vietnamese Communist Agent (Điệp viên hoàn hảo: Cuộc đời hai mặt không thể tưởng tượng nổi của Phạm Xuân Ẩn, phóng viên tạp chí Time và điệp viên cộng sản Việt Nam) (New York: Smithsonian Books, 2007).
- Trang 24 - “thất bại quân sự thê thảm của Quân lực Việt Nam Cộng hòa”: Như Kyle Hưrst nhận xét trong bài tham luận tại Trung tâm Việt Nam (Vietnam Center)[1], có một mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa ý nghĩa những chiến công của Phạm Xuân Ẩn và khoảng thời gian ông dành cho việc nói về chúng. “Điều Phạm Xuân Ẩn không nhắc đến trong hàng trăm tiếng đồng hồ thảo luận chi tiết với nhiều nhà văn viết tiểu sử phương Tây là hai tấm Huân chương Chiến công hạng Nhất mà ông giành được, đây là loại Huân chương Chiến công hạng cao nhất, chỉ dành cho những chiến công đặc biệt mang tầm quan trọng quốc gia. Không tấm huân chương nào được tặng thưởng cho công tác phân tích hoặc tình báo chiến lược, và chúng khẳng định rằng những đóng góp lớn nhất của Phạm Xuân Ẩn cho lý tưởng không phải là phân tích hoặc báo cáo mà những công trạng trên cương vị điệp viên tình báo chiến thuật, một người đã thu thập được những tin tức cụ thể về các chiến dịch quân sự sắp diễn ra, và theo lời ghi trong quyết định chính thức về việc phong tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 1 năm 1976, ‘vì đã cung cấp kịp thời’ nhiều thông tin ‘đặc biệt có giá trị’.” Kyle Hưrst, “Imagining Vietnam: Misunderstanding Pham Xuan An” (Hình dung Việt Nam: Ngộ nhận về Phạm Xuân Ẩn) (bài phát biểu trình bày tại Trung Tâm Việt Nam, Hội thảo Việt Nam ba năm một lần lần thứ 6, Lubbock, Texas, ngày 13 tháng 3 năm 2008).
CUỘC THỬ LỬA ĐẦU TIÊN
- Trang 48 - “tỷ lệ tử vong hằng năm cao hơn 20%”: Xem Ngô Vĩnh Long, Before the Revolution: The Vietnamese Peasants Under the French (Trước cách mạng: Nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc) (New York: Columbia University Press, 1991), trang 113.
- Trang 65 - “Cái mà ngày nay chúng ta gọi là Sài Gòn…”: Xem William L. Cassidy, Southern Vietnam’s Criminal Traditions (Truyền thống tội phạm ở miền
Nam Việt Nam) (Washington, D. C., International Association of Asian Crime Investigators, 1991), trang 8.
CÔNG VIỆC CỦA BẦY CHÓ SĂN
- Trang 84 - “Những trang nhật ký do Jack và Bobby Kennedy viết”: Xin cảm ơn Thư viện Kennedy tại Boston, Massachusetts, vì đã cho phép tiếp cận nhật ký và những giấy tờ cá nhân khác của John F. Kennedy và Robert F. Kennedy.
- Trang 118 - “Đông Dương trở thành một bàn cờ khổng lồ”: Xem Alfred W. McCoy, The Politics of Heroin: CIA Complicity in the Global Drug Trade (Nền chính trị bạch phiến: Sự đồng lõa của CIA trong hoạt động buôn bán ma túy toàn cầu) (Chicago: Chicago Review Press, 1991), trang 132.
- Trang 119 - “Lợi nhuận từ hoạt động này”: Kinh phí cho hoạt động cai trị thuộc địa của mình từ tiền bán thuốc phiện là việc bình thường ở Đông Dương. Đầu thế kỷ 20, 25% tổng ngân sách của thuộc địa đến từ tiền bán thuốc phiện. Ở đỉnh cao năm 1918, con số này lên đến 42%. Chantal Descours-Gatin, Quand l’opium finançait la colonisation en Indochine (Khi thuốc phiện là nguồn tiền cho việc thuộc địa hóa ở Đông Dương) (Paris: l’Harmattan, 1992), các trang 222-225; Phillippe Le Failler, “Le movement international anti-opium et l’Indochine (Phong trào quốc tế chống thuốc phiện và Đông Dương) (1906-1940),” Luận văn tiến sĩ, Institut d’Histoire des Pays d’Outre-Mer, Université de Provence (Học viện lịch sử các xứ hải ngoại Pháp, Đại học Provence) - Aix-Marseille I, 1993; và Jean Michaud, “The Montagnards and the State in Northern Vietnam from 1802 to 1975: A Historical Overview” (Người miền núi và Nhà nước ở Bắc Việt Nam từ 1802 đến 1975: Tổng quan lịch sử). Ethnohistory 47, số 2 (2000): 345.
GHÉP NÃO
- Trang 124 - “Lansdale viết trong cuốn tự truyện của mình”: Những công trình viết về hoạt động tình báo của Edward Lansdale rất không đáng tin cậy, trong đó không đáng tin cậy nhất chính là tự truyện của ông ta. Xem Edward Lansdale, In the Midst of Wars: An American’s Mission to Southeast Asia (Giữa các cuộc chiến: Một phái bộ Mỹ tại Đông Nam Á) (1972, New York: Fordham University Press, 1991); và Cecil B. Currey, Edward Lansdale: The Unquiet American (Edward Lansdale: một người Mỹ không trầm lặng) (Boston: Houghton Mifflin, 1988). Đọc thêm Richard Drinnon, Facing West: The Metaphysics of Indian-Hating and Empire
Building (Đối mặt với miền Tây: chuyện siêu hình về nỗi hận thù thổ dân da đỏ và công cuộc kiến thiết đế chế) (Minneapolis: Minnesota University Press, 1980); và Jonathan Nashel, Edward Lansdale’s Cold War (Chiến tranh lạnh của Edward Lansdale) (Amherst: University of Massachusetts Press, 2005).
- Trang 127 - “Daniel Ellsberg công bố Tài liệu Lầu Năm Góc”: The History of United States Decisionmaking on Vietnam (Lịch sử quá trình ra quyết định của Mỹ về Việt Nam), một nghiên cứu 47 tập, 7.000 từ về sự dính dáng của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam từ 1945 đến 1968, chưa bao giờ được xuất bản trọn vẹn. Tờ New York Times đã gấp gáp đưa một số tài liệu chọn lọc vào xuất bản năm 1971. Tiếp sau đó là ấn bản 5 tập của Thượng nghị sĩ Gravel và ấn bản 12 tập của Cục In ấn Chính phủ Mỹ, trong đó đã bị cắt bỏ rất nhiều.
Bốn tập cuối cùng của Tài liệu Lầu Năm Góc, thường gọi là những tập tài liệu ngoại giao, kể về những cuộc đàm phán của Mỹ nhằm kết thúc chiến tranh, được công bố một phần năm 1983 và sau đó công bố toàn bộ năm 2002 theo đòi hỏi của Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA). Mặc dù hiện nay những tập tài liệu ngoại giao mật của Tài liệu Lầu Năm Góc đã được công bố công khai, bộ 43 tập ban đầu do Ellsberg đưa ra - chỉ tồn tại dưới dạng những phiên bản cắt gọt hoặc từng phần - chưa bao giờ được Chính phủ Mỹ công bố.
Xem Neil Sheehan, Hedrick Smith, E. W. Kenworthy và Fox Butterfield biên tập, The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc) (New York: Quadrangle, 1971); The Pentagon Papers: The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam (Tài liệu Lầu Năm Góc: Lịch sử quá trình ra quyết định của Bộ Quốc phòng Mỹ về Việt Nam), bản của Thượng nghị sĩ Gravel, 5 tập. (Boston: Beacon, 1971); và United States-Vietnam Relations, 1945-1967 (Quan hệ Mỹ-Việt Nam, 1945-1967), nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ, 12 tập.
(Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1971). Để tham khảo các quan điểm về quyết định của Ellsberg trong việc công bố những Tài liệu Lầu Năm Góc và lịch sử phát hành của chúng, xem Daniel Ellsberg, Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (Những bí mật: Một hồi ức về Việt Nam và Tài liệu Lầu Năm Góc) (New York: Viking, 2002); và bản của John Prados và Margaret Pratt Porter, Inside the Pentagon Papers (Bên trong Tài liệu Lầu Năm Góc) (Lawrence: University Press of Kansas, 2004).
- Trang 130 - “Chắc chắn đối phương phải có người làm tay trong”: Xem Sedgwick Tourison, Project Alpha: Washington’s Secret Military Operations in North Vietnam (Dự án Alpha: Những hoạt động quân sự bí mật của Washington tại miền Bắc Việt Nam) (New York: St. Martin’s, 1997), trang 12.
- Trang 131 - “đặt Việt Nam lên bản đồ thế giới mới”: Xem James Fisher, Dr. America: The Lives of Thomas A. Dooley, 1927-1961 (Bác sĩ Mỹ: Những cuộc đời của Thomas A. Dooley, 1927-1961) (Amherst: University of Massachusetts Press, 1997), trang 35.
- Trang 135 - “những trận đánh do Lansdale viết kịch bản”: Xem L. Fletcher Prouty, The Secret Team: The CIA and Its Allies in Control of the United States and the World (Đội bí mật: CIA và những đồng minh của nó trong việc kiểm soát nước Mỹ và thế giới) (Costa Mesa, CA: Institute for Historical Review, 1973), trang 12; và JFK: The CIA, Vietnam, and the Plot to Assassinate John F. Kennedy (JFK: CIA, Việt Nam, và âm mưu ám sát John F. Kennedy) (New York: Citadel, 1996), trang 65.
- Trang 142 - “ba Lansdale”: Xem Zalin Grant, Facing the Phoenix (Đối mặt với [chiến dịch] Phượng hoàng) (New York: Norton, 1991), trang 98.
- Trang 145 - “băng siêu khủng bố”: Xem Prouty, JFK, trang 60. Xem thêm A. J. Langguth, Our Vietnam: The War, 1954-1975 (Việt Nam của chúng ta: Chiến tranh, 1954-1975) (New York: Simon & Schuster, 2000), trang 93.
- Trang 146 - “không cho phép Mankiewicz làm phim tại Việt Nam”: Xem Fisher, Dr. America, trang 157-158.
- Trang 147 - “cuối cùng tiết lộ rằng hoàn toàn là do cộng sản gây ra”: Thư của Edward Lansdale gửi Joseph Mankiewicz, ngày 17 tháng 3 năm 1956, được chép lại trong Người Mỹ trầm lặng của Graham Greene, Viking Critical Edition, biên tập: John Clark Pratt (New York: Penguin, 1996), trang 301.
- Trang 149 - “Tôi sẽ không đời nào chọn đại tá Lansdale”: Xem Greene, Người Mỹ trầm lặng, trang 319.
- Trang 153 - “Chính phủ Nam Việt Nam chỉ tồn tại trên danh nghĩa”: Xem Christian Appy, Patriots: The Vietnam War Remembered from All Sides (Những người yêu nước: Chiến tranh Việt Nam theo hồi tưởng từ tất cả các bên) (New York: Viking, 2002), trang 51.
[TRÒ ] LỢI DỤNG LÒNG TIN
- Trang 216 - “bị ám sát tại Dallas, Texas”: Những người theo thuyết âm mưu thấy nghi ngờ về mối liên hệ giữa hai vụ ám sát Ngô Đình Diệm và John F. Kennedy nên tham khảo những tác phẩm của trợ lý cũ của Lansdale là L. Fletcher Prouty, nhất là cuốn sách JFK: The CIA, Vietnam and the Plot to Assassinate John F. Kennedy. Những mối liên hệ kỳ lạ khác giữa hai sự kiện cũng được đề cập trong The Tears of Autumn (Nước mắt mùa thu), một tiểu thuyết của cựu điệp viên về sau trở thành nhà văn, Charles McCarry.
NHỮNG NGUỒN TIN ĐÁNG TIN CẬY
- Trang 230 - “tôi vô cùng căm phẫn tên phản bội này”: Xem Hoàng Hải Vân và Tấn Tú, Pham Xuan An: A General of the Secret Service (Hà Nội: Nhà xuất bản Thế Giới, 2003), tiếng Anh, trang 97.
- Trang 240 - “Harriman đề nghị Shaplen liên lạc với Bắc Việt Nam”: Xem Tom Heenan, From Traveller to Traitor: The Life of Wilfred Burchett (Từ người lữ hành đến kẻ phản bội: Cuộc đời của Wilfred Burchett) (Melbourne: Melbourne University Press, 2006), trang 204.
- Trang 242 - “nhà báo Việt Nam làm việc chăm chỉ và được kính trọng nhất”: Xem Robert Shaplen, “Chúng tôi luôn sống sót,” báo The New Yorker, ngày 15 tháng 4 năm 1972. Được in lại trong Reporting Vietnam (Làm báo về Việt Nam), phần 2 (New York: Thư viện Mỹ, 1998), trang 281 đến 334.
- Trang 243 - “Phạm Xuân Ẩn giải thích với một phóng viên của tờ Le Monde”: Xem Jean-Claude Pomonti, Un Vietnamien bien tranquille: L’extraordinaire histoire de l’espion qui défia l’Amérique (Một người Việt Nam trầm lặng: Câu chuyện lạ kỳ về một điệp viên đã thách thức nước Mỹ) (Paris: Editions des Equateurs, 2006), trang 72.
- Trang 246 - “chắc chắn là một trong những người thạo tin nhất trong thành phố”: Xem Robert Shaplen, Bitter Victory (Chiến thắng cay đắng) (New York: Harper & Row, 1986), trang 11.
TỘI ÁC HOÀN HẢO
- Trang 290 - “trường hợp được biết đến đầu tiên về một điệp viên cộng sản”: Xem Zalin Grant, Facing the Phoenix: The CIA and the Political Defeat of the United States in Vietnam (Đối mặt với [chiến dịch] Phượng hoàng: CIA và thất bại chính trị của Mỹ tại Việt Nam) (New York: Norton, 1991), trang 256.
- Trang 293 - “mối quan hệ giữa Time và CIA khăng khít đến nỗi”: Xem Hugh Wilford, The Mighty Wurlitzer: How the CIA Played America (Cây đàn Wurlitzer hùng mạnh: CIA thao túng nước Mỹ như thế nào) (Cambridge: Harvard University Press, 2008), trang 232.
- Trang 293 - “hơn 400 nhà báo Mỹ”: Xem Carl Bernstein, “The CIA and the Media” (“CIA và giới truyền thông”), Rolling Stone, ngày 20 tháng 10 năm 1977, trang 55-67.
- Trang 295 - “Ồ, có chứ, lúc nào chẳng thế”: Do Daniel Brandt trích dẫn trong “Journalism and the CIA: The Mighty Wurlizer” (“Nghề báo và CIA: cây đàn Wurlitzer hùng mạnh”), NameBaseNewsLine, tháng 4 - tháng 6 năm 1997.
TẾT
- Trang 300 - “Westmoreland điện cho Wheeler”: Trích dẫn theo Larry Berman trong “Tổng tấn công Tết Mậu Thân”, trong Andrew J. Rotter, biên tập, Light at the End of the Tunnel: A Vietnam War Anthology (Ánh sáng cuối đường hầm: Hợp tuyển về chiến tranh Việt Nam), tái bản có sửa chữa. (Wilmington, DE: Scholarly Resources, 1999), trang 111. - Trang 305 - “được đưa ra Hà Nội trưng bày trong bảo tàng tình báo quân sự”: Báo cáo duy nhất của Phạm Xuân Ẩn được công bố là một bản thông báo ông gửi cho cấp trên miêu tả chiếc xe Renault 4CV của mình, trước khi nó được đưa lên một chiếc xe tải và chở ra Hà Nội để trưng bày tại bảo tàng tình báo quốc phòng. Sử dụng bí danh của mình là Hai Trung, Phạm Xuân Ẩn trình bày việc ông mua chiếc xe như thế nào vì trông nó giống loại taxi được lái khi đó tại Sài Gòn. Nó là chiếc xe rất tốt trong việc tránh sự chú ý quá mức từ “lực lượng an ninh đối phương,” ông viết.
MỘT ĐẤT NƯỚC DO SALVADOR DALI TẠO RA
- Trang 335 - “Phạm Xuân Ẩn bị đẩy vào chế độ đóng băng về chính trị”: Năm 2008, tôi tới Việt Nam và Pháp, cố gắng tìm hiểu Phạm Xuân Ẩn đã làm gì trên cương vị một sĩ quan quân đội tại ngũ và một cán bộ tình báo từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975 cho đến khi ông qua đời năm 2006. Các ý kiến rất chia rẽ, giữa một quan điểm chính thống, được đưa ra tại Hà Nội, và một quan điểm ngờ vực hơn do những bạn bè của Phạm Xuân Ẩn ở Sài Gòn và bên ngoài Việt Nam đưa ra.
Những quan chức ở Hà Nội nói với tôi rằng những nhà văn phương Tây hiểu nhầm về vị trí của Phạm Xuân Ẩn. Ông đảm nhiệm những nhiệm vụ mới sau năm 1975 và phải tránh công khai lộ diện giống như tất cả các quan chức cấp cao khác của đất nước. Sự giám sát đối với ông là thủ tục hoạt động hoàn toàn bình thường đối với một sĩ quan tình báo với yêu cầu bảo đảm an ninh. Ngoài giai đoạn tại ngũ năm 1945, Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ mặc quân phục hay chào các sĩ quan chỉ huy. Có thể ông đã lấy làm rầy rà khi phải bắt đầu lại việc này năm 1978, nhưng việc ông được cử đi học tại Học viện Chính trị Nguyễn Ái Quốc ở Hà Nội là một vinh dự sánh với việc nhập học một năm tại Đại học Chiến tranh của Lục quân Mỹ hoặc Saint-Cyr[2]. Nó là dấu hiệu cho thấy Phạm Xuân Ẩn đang được cất nhắc lên hàng ngũ sĩ quan cấp tướng.
Những người Việt Nam đưa ra lập luận này muốn nói rằng Phạm Xuân Ẩn đã khoác vỏ bọc thứ hai, sau khi vỏ bọc của ông bị lộ năm 1975 - bộ mặt mà ông đưa ra với các vị khách phương Tây như một đảng viên cộng sản ngẫu nhiên, người vẫn trước sau như một dành trọn tình yêu cho phương Tây. Phạm Xuân Ẩn quên không đề cập với những vị khách này rằng ông vẫn là một cán bộ tình báo đang hoạt động và là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, và dường như không một ai trong những người bạn của ông gặng hỏi quá sâu về việc chính xác thì ông đang làm gì trong 30 năm cuối cùng của sự nghiệp tình báo của mình.
Quan điểm trái ngược được đưa một cách mạnh mẽ nhất từ người bạn và nhà báo đồng nghiệp của Phạm Xuân Ẩn là Bùi Tín. Bản thân ông cũng là một đại tá và quan chức cao cấp trong Đảng cho đến khi ông trốn sang Pháp năm 1990. Trong thời gian một năm Phạm Xuân Ẩn học tại Học viện Chính trị
Quốc gia Nguyễn Ái Quốc, những ngày Chủ nhật ông thường tới nhà Bùi Tín ở Hà Nội ăn trưa, chợp mắt, và phàn nàn về chương trình học cứng nhắc về mặt chính trị và nặng tính tuyên truyền cộng sản, theo lời kể của Bùi Tín.
Theo Bùi Tín, việc quân đội thăng quân hàm cho Phạm Xuân Ẩn vừa chậm vừa miễn cưỡng. (Ngay cả ngày tháng thăng quân hàm cũng là một vấn đề tranh cãi.) Bùi Tín nói rằng, từ năm 1945 đến 1947, Phạm Xuân Ẩn đã chỉ huy một tiểu đoàn chiến đấu chống Pháp ở miền Nam. Đến năm 1955 ông giữ một chức vụ trong hàng ngũ cộng sản tương đương với một thiếu tá. Ông vẫn giữ nguyên cấp bậc này trong suốt hai mươi năm sau đó, trong khi hoạt động trên cương vị điệp viên xuất sắc nhất của Việt Nam. Theo Bùi Tín, Phạm Xuân
Ẩn được thăng quân hàm lên cấp trung tá năm 1976, cùng năm ông được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. “Đây là một sự xúc phạm lớn,” Bùi Tín nói. “Khi chiến tranh kết thúc rất nhiều người được thăng vài bậc, lên thẳng cấp cao. Lẽ ra họ phải phong ngay cho Phạm Xuân Ẩn quân hàm đại tá.”
“Những người cộng sản nghi ngờ ông ấy,” Bùi Tín nói. “Ông ấy nuôi chó – một thú chơi tư sản – và ông ấy có quá nhiều bạn bè phương Tây. Họ ngăn ông ấy ra nước ngoài và tiếp khách, rồi họ đặt ông ấy vào chế độ theo dõi nghiêm ngặt.” Ngay cả sau khi những biện pháp giám sát này được nới lỏng trong những năm 1990, Phạm Xuân Ẩn vẫn không thể tiếp khách mà không được phép, và ông phải viết báo cáo về những cuộc trò chuyện của mình. Năm 1980, tiếp sau cái năm ông được đi bồi dưỡng giác ngộ chính trị, Phạm Xuân Ẩn được phong lên quân hàm thượng tá. Mãi đến năm 1982 ông mới lên quân hàm đại tá. Sau đó đến năm 1990, ở tuổi sáu mươi ba, ông được phong quân hàm thiếu tướng.
- Trang 338 - “tôi phải giết hắn”: Xem Grant, Facing the Phoenix, trang 257.
- Trang 344 - “đủ an toàn để có thể tiếp cận và viết một cuốn tiểu sử”: Xem Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn: Tên người như cuộc đời (Hà Nội: Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2002).
- Trang 347 - “khóa học ngắn về lịch sử Việt Nam”: Xem Trương Như Tảng, A Vietcong Memoir (Hồi ức của một Việt Cộng), do David Chanoff và Đoàn Văn Toại dịch (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1985), trang 15.
MỘT THẾ GIỚI TƯƠI SÁNG HƠN
- Trang 382 - “16 tấm huân huy chương của Phạm Xuân Ẩn”: Phải mãi đến khi chúng được trưng bày bên chiếc quan tài để mở của Phạm Xuân Ẩn, người ta mới biết rằng Phạm Xuân Ẩn đã nhận được 16 tấm huân huy chương của quân đội, chứ không phải chỉ có 4, như những người viết tiểu sử của ông đưa ra trước đó. Trong đó có các Huân chương Quân công và Huân chương Chiến công. Mỗi loại huân chương lại được phong tặng ở cả ba hạng. Huân chương hạng Nhất ghi nhận những đóng góp to lớn đối với đất nước. Huân chương hạng Nhì được trao cho những đóng góp đối với một bộ hoặc cơ quan cụ thể. Trong trường hợp của Phạm Xuân Ẩn, đây có thể là đối với tình báo quốc phòng (Tổng cục II) hoặc Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Huân chương hạng Ba ghi nhận những công lao ở cấp độ địa phương, khen thưởng chung chung, hoặc có đóng góp với một đơn vị quân đội nhất định. Đối với Phạm Xuân Ẩn, đây có thể là đối với Trung ương Cục miền Nam, tổ tình báo quân sự H.63, hoặc một đơn vị quân đội nào đó.
Như chúng ta đã biết qua bài điếu văn chính thức được đọc tại lễ truy điệu của ông, Phạm Xuân Ẩn được tặng thưởng hai Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Ông nhận được những tấm huân chương này vì đã cảnh báo trước cho Trung ương Cục miền Nam về cuộc xâm lược Campuchia của Richard Nixon năm 1970, nhờ đó giúp các chỉ huy quân sự của cộng sản không bị ném bom hoặc bắt giữ, và vì đã lấy được kế hoạch tác chiến của Chiến dịch Lam Sơn 719. Nỗ lực này của Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm xâm nhập Lào và cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành một thất bại quân sự nặng nề cho phe miền Nam năm 1971. Những tấm Huân chương Hạng nhất của Phạm Xuân Ẩn ghi nhận những thành tích quan trọng về tin tức tình báo chiến thuật. Chúng mâu thuẫn với câu chuyện của ông - vỏ bọc chính của ông - rằng ông chỉ làm tình báo chiến lược, những báo cáo tin tình báo sau hành động, và lên kế hoạch lâu dài.
Phạm Xuân Ẩn giành được tấm huân chương đầu tiên trong những năm 1950 vì tham gia chống Pháp sau khi ký Hiệp định Geneva. Tiếp sau thỏa thuận ngừng bắn năm 1954, đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, là những bước chuẩn bị cho Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai trong tương lai. Vào thời điểm đó, Phạm Xuân Ẩn đang làm việc cho Phòng Chiến tranh tâm lý của Bộ Tổng tham mưu quân đội miền Nam Việt Nam mới thành lập. Đây là một tấm Huân chương Chiến thắng hạng Ba[3].
Tấm huân chương thứ hai được tặng thưởng cho ông trong trận Ấp Bắc năm 1963. Việc lực lượng cộng sản có thể giăng bẫy và gây tổn thất nặng nề cho lực lượng của Việt Nam Cộng hòa vốn được trang bị tốt hơn đã giúp cho Phạm Xuân Ẩn nhận được một Huân chương Chiến công hạng Nhì.
Phạm Xuân Ẩn còn được tặng thưởng một tấm Huân chương Chiến công hạng
Nhì khác, vì thành tích tương tự trong năm 1966. Đó là cho thành tích lấy được kế hoạch tác chiến và những tin tình báo chiến thuật khác cho trận Ia Đrăng. Trận giao chiến này trong tháng 11 năm 1965 đánh dấu trận đánh lớn đầu tiên trong giai đoạn Mỹ tham chiến. Ba trăm linh năm lính, chủ yếu thuộc Sư đoàn 7 kỵ binh của Mỹ - cũng chính là đơn vị đã bị thảm sát trong trận Little Big Horn[4] - thiệt mạng sau bốn ngày giao tranh tại Tây Nguyên gần biên giới với Campuchia.
Phạm Xuân Ẩn còn được trao ba tấm Huân chương Chiến công hạng Ba khác, vì đã cảnh báo sớm về kế hoạch Mỹ tăng hiện diện quân sự trong năm 1965, vì có thành tích trong dịp Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968; và vì đã cung cấp những tài liệu mật chi tiết về kế hoạch sử dụng B-52 tấn công Hà Nội trong dịp Giáng Sinh năm 1972. Có nguồn cho rằng ba chiến công này là lý do chính kiến Phạm Xuân Ẩn được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1976. Danh hiệu này, danh hiệu cao quý nhất của Việt Nam, được dành cho “những đóng góp đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.” Nó tương đương với Bắc đẩu Bội tinh của Pháp và Huân chương Danh dự (Medal of Honor) của Mỹ.
Vì những tin tức tình báo trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, trận đánh cuối cùng trong cuộc chiến, những báo cáo “hậu hành quân” cùng những thành tích không được công bố khác - có lẽ vẫn còn được tiếp tục cho đến khi ông qua đời năm 2006 - Phạm Xuân Ẩn lần lượt nhận được thêm sáu tấm huân huy chương khác trong những năm sau 1975. Số này gồm có một Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, và ba Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, đủ cả ba hạng nhất, nhì, ba. Thứ cuối cùng được trưng bày tại đám tang của Phạm Xuân Ẩn là huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
- Trang 385 - “Hàng chục bài báo ghi lại sự kiện Phạm Xuân Ẩn qua đời”: Sự kiện Phạm Xuân Ẩn qua đời cũng làm dấy lên sự phản bác đối với những sai lệch về ông và về tổ quốc của ông. Quá trình này đã bắt đầu từ trước khi ông qua đời. Hầu hết những tuyên bố trên mạng Internet mà người ta trích dẫn Phạm Xuân Ẩn chỉ trích chính phủ cộng sản Việt Nam đều là giả. Ví dụ như khi lần theo những nguồn nguyên bản, bài phỏng vấn của Morley Safer với Phạm Xuân Ẩn, được đăng trên Tạp chí New York Times và sau đó trong cuốn sách Flashbacks của ông này, người ta phát hiện ra rằng những nhận xét của Safer đã bị quy nhầm cho Phạm Xuân Ẩn.
Abu Ghraib, nhà tù 237, 369, 371
Adams, Eddie 237, 355
Algeria 98, 114, 120
Anson, Robert Sam 285,289, 290, 341, 390
Arnett, Peter 338
Associated Press 293, 321, 338
Avedon, Richard 249-250, 252, 393
Ẩn, Phạm Xuân. Xem Phạm Xuân Ẩn
Ấp Bắc, trận 212-215, 296, 326, 383, 406 ấp chiến lược 117, 151, 190-192, 203, 287 bạch phiến (heroin) 119-120. Xem thêm ma túy Ba Quốc (Đặng Trần Đức) 263, 268, 352, 385 Bảo Đại 86, 132-134, 136
Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) 133-135, 180, 196
Béhaine, Pigneau de (Bá Đa Lộc) 336, 363, 364
Belleux, Maurice 118-120
Bến Tre, tỉnh 98, 190, 354 Biên Hòa 34, 49, 381, 385
Bình Xuyên, lực lượng 64, 66, 67, 119, 133-135, 138, 147
Boudarel, Georges 84
Bộ Quốc phòng Mỹ (DOD) 145, 389
Bộ Ngoại giao Mỹ 145, 232
Bộ Ngoại giao Việt Nam 339, 359
Brandes, Mills C. 96, 151-153, 165, 180, 341
Bùi Tín 375
Burchett, Wilfred 240
Burrows, Larry 284
Cách mạng Pháp 41, 61
Cách mạng Tháng Tám 70
Calley, William 250, 319. Xem thêm Vụ thảm sát Mỹ Lai
Campuchia 18, 24, 37, 49, 88, 89, 157, 231, 246, 263-265, 270, 274, 286, 287, 289,
302, 314, 316, 324, 342
Cao Đài, đạo 67, 74, 96, 131, 133, 138, 145, 146
Cao Đăng Chiếm 205-207
Cao Giao 6 (ảnh), 111-113, 174, 250, 251
Capa, Robert 284
Caravelle, khách sạn 284, 320, 321
Castro, Fidel 127, 174, 292
Catinat, đường (đường Đồng Khởi) 17, 80, 81, 94-96, 110, 200, 208, 243, 250, 286,
319, 321. Xem thêm Đài phát thanh Catinat
Cẩm Nê 234-236, 238
Cần Thơ 58-60, 68, 76, 77, 79, 105
Câu lạc bộ Marxist (Sài Gòn) 83
CBS (hãng)233, 294, 357
Cheney, Dick 369
Chí Hòa, nhà tù 113, 251
Chiến dịch Hồ Chí Minh 77, 326, 327, 407 chiến tranh chống du kích 114, 144, 155
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 22, 81, 116, 129, 135, 190, 303, 406
Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai 104, 173, 389, 406. Xem thêm Chiến tranh
Việt Nam chiến tranh hiện đại 116 chiến tranh hóa học 299 chiến tranh nhân dân 103, 117
chiến tranh tâm lý 108, 109, 114, 116
Chiến tranh thế giới thứ ba 291
Chiến tranh thế giới thứ hai 59, 68, 70, 85, 93, 114, 115, 132, 133, 140, 163, 168,
171, 224, 291
Chiến tranh thế giới thứ nhất 72 chiến tranh tổng lực 103
Chiến tranh Triều Tiên 170, 224
Chiến tranh Việt Nam (chống Mỹ) 13, 15, 35, 48, 77, 104, 129, 144, 172, 207, 281,
302, 337, 339, 373, 397. Xem thêm Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai
Chín Chi (Nguyễn Thị Mỹ Linh) 200-204, 320, 380, 389
Chín Hầm, nhà tù 174
Christian Science Monitor 16, 220, 225, 391 chủ nghĩa cộng sản 52, 61, 69, 70, 84, 87 chủ nghĩa thực dân 100
chuồng cọp 44, 186, 270, 353 367-369. Xem thêm Côn Đảo
CIA. Xem Cục Tình báo Trung ương Mỹ
CID. Xem Cục Điều tra Hình sự CIO. Xem Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam
Clausewitz, Karl von 103-104
Cloud, Stanley 283, 385, 386, 390
Colby, William 295
Conein, Lucien “Luigi Đen” 129, 131, 140, 152, 216
Continental Palace, khách sạn (Sài Gòn) 49, 134, 239, 250, 256, 307, 318, 321, 344
Côn Đảo 43, 44, 66, 67, 74, 102, 186, 263, 268, 270, 350, 353, 359, 360-365, 368371, 377, 388
Công ty Đông Ấn (của Anh) 363
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) 231 Củ Chi 219, 265, 270, 272, 318. Xem thêm địa đạo Củ Chi
Cục Điều tra Hình sự (CID) Nam Việt Nam 228
Cục Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) 122, 205
Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) 216, 219, 221, 222, 233, 239, 240, 247, 251,
275, 281, 290-295, 322, 328, 334, 335, 341, 346, 352, 357, 369 Deepe, Beverly Ann 221, 225-227, 231-234, 238, 330 déesse (nữ thần hộ mệnh) 35, 170, 200, 221, 225, 330
Dewey, A. Peter 205-207
Dinh Độc Lập 164, 208, 257, 298, 308, 313, 331, 352, 353
Dooley, Tom 131, 132, 143
Dulles, Allen 154, 294
Dulles, John Foster 154 Đà Nẵng 131, 227, 233, 236, 364
đài phát thanh Catinat (lò tin đồn, thông tấn xã vỉa hè) 17, 243, 251, 319
Đảng Cần Lao 153, 155
Đảng Cộng sản Việt Nam 19, 102, 187, 200, 207, 208, 343, 373, 404
Đảng Đại Việt 69
Đạo Cao Đài. Xem Cao Đài, đạo
Đạo Hòa Hảo. Xem Hòa Hảo, đạo Đặng Trần Đức. Xem Ba Quốc
địa đạo Củ Chi 18, 205, 219, 264, 270, 272, 297, 303, 311, 315, 350
Điện Biên Phủ, trận 104, 115, 119, 120
Đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự (MAAG) 123, 152, 156
Đỗ Ngọc Thạnh 83 đường Catinat. Xem Catinat, đường Đồng Khởi, đường. Xem Catinat, đường đường Đồng Khởi. Xem Catinat, đường
đường Gia Long (đường Lý Tự Trọng). Xem Gia Long, đường
Đường mòn Hồ Chí Minh 325, 350, 383, 405
Đường mòn Sihanouk 274, 325
Eiffel, Gustave 92, 323
Ellsberg, Daniel 127, 128, 142, 391
Fall, Bernard 115
FitzGerald, Frances 224
Flynn, Sean 285-288
Franchini, Mathieu 94, 134
Franchini, Philippe 135, 345-349, 391
G5 (phòng Chiến tranh tâm lý thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt
Nam) 108, 110, 113, 114, 120, 125
Gart, Murray 283, 329, 230, 338
Gia Định 51, 57, 230
Gia Long (Nguyễn Ánh) 363
Gia Long, đường (đường Lý Tự Trọng) 322
Givral, quán cà phê 17, 95, 96, 141, 208, 239, 242, 245, 246, 307, 319, 320, 322,
338, 348
Greene, Graham 20, 32, 92-101, 118, 145-149, 152, 164, 285, 345, 374
Hai Trung 264, 402. Xem thêm Phạm Xuân Ẩn, Trần Văn Trung
Hải Phòng 41, 47, 70
Halberstam, David 20, 21, 26, 27, 117, 220, 235
Halliburton 369 heroin. Xem bạch phiến Hickey, Gerald 189, 190
Hiệp định Geneva (1954) 124, 129, 137, 406
Hiệp định Hòa bình Paris 326
Hilton Hà Nội 350
Hoa Kỳ (Mỹ) 21-29, 31, 32, 35, 37, 44, 52, 58-61, 63, 80, 82, 83, 85, 86, 88, 91, 9496, 103, 104, 110, 112, 114-117, 122, 126, 129, 136, 138, 142, 153, 156, 161, 170, 172, 177-179, 181, 185, 224, 231, 237, 254, 279, 280, 309, 319, 340, 358, 367, 375,
386, 391
Hòa Hỏa, đạo 67, 74, 133, 138
Hoàng Thị Thu Nhạn (vợ Phạm Xuân Ẩn) 32, 200, 204, 271, 336, 337, 377, 388
Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) 18, 19, 25, 36, 41, 44, 69, 70, 83, 85, 86, 101, 107, 132, 137, 162, 207, 270, 274, 283, 347, 352, 366
Huế 14, 36, 38, 39,42, 50, 55, 66, 107, 191, 299, 337,364
International Herald Tribune 225
Jackson, Charles “CD.” 291
Johnson, Lyndon B. 235, 255, 299, 310
Karnow, Stanley 249, 337, 340, 390
Kennedy, Robert F. “Bobby” 84
Kennedy, John F. “Jack” 84, 86, 87, 216, 337
Kennedy, Patricia 84
Kent, Sherman 108, 109
Khe Sanh, trận 226
Khmer Đỏ 286, 303, 342 Khrushchev, Nikita 181
khu trù mật 117, 189, 190-192. Xem thêm ấp chiến lược
Kissinger, Henry 14, 102, 176, 327, 330, 350
La Bruyère, Jean de 62, 372
La Fontaine, Jean de 62, 357
Lam Sơn 719, Chiến dịch 325, 326, 331, 383
Lansdale, Edward 32, 108, 122-157, 182, 216, 249
Larsen, Jonathan 283
Lattre de Tassigny, Jean de 82, 84, 86, 237, 365
Lê Đức Thọ 102, 104, 105, 200, 350
Lê Văn Viễn. Xem Bảy Viễn
Le Monde 243, 344, 385
Lịch sử quá trình ra quyết định của Mỹ về Việt Nam. Xem Tài liệu mật của Lầu
Năm Góc
Life, tạp chí 97-99, 279, 280, 285, 291, 292, 294, 367, 369
Los Angeles Times 253, 255, 339
Luce, Claire Booth 99
Luce, Henry 99, 253, 279, 280-282, 291-294
Lycée Pétrus Ký, trường 81, 303
MI6 (Tình báo Anh) 93 ma túy 118, 120, 133, 134, 277
MAAG. Xem Đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự
Mai Chí Thọ 102, 162, 163, 349-352, 380, 389
Mankiewicz, Joseph 145-148
Mặt trận Dân tộc Giải phóng (miền Nam Việt Nam) 209, 241, 305, 333, 347
McCain, John 350
McClatchy, Eleanor 175, 176, 255
McCoy, Alfred 118, 119, 134, 135
McCulloch, Frank 253-260, 281, 283, 339, 340, 341, 386, 387
McNamara, Robert 336
Meyer, Lee 167, 172, 186, 343
Mohr, Charley 254
Morrison, Norman 336
Mũ nồi Xanh, Lực lượng 117 Mười Hương (Trần Quốc Hương) 162, 163, 173-175, 201, 204
Murphy, Audie 148, 285, 286
Mỹ. Xem Hoa Kỳ
Mỹ Lai, vụ thảm sát 236
Mỹ Tho 71, 77, 80
Nam Hàn (Nam Triều Tiên) 201, 211, 267
Nam Việt Nam. Xem Việt Nam Cộng hòa
Newsweek 112, 172, 221, 225, 239, 327, 337
New York Herald Tribune 16, 227
New York Times 18, 127, 148, 220, 252, 294, 385, 397
Ngô Đình Cẩn 136, 163, 173, 174
Ngô Đình Diệm 112, 132, 135, 136, 138, 139, 143, 164, 188, 201, 208, 215, 216,
263, 270, 296, 297, 253, 254
Ngô Đình Luyện 137
Ngô Đình Nhu 137, 154, 188
Ngô Đình Thục 137
Nguyễn Cao Kỳ 306, 371
Nguyễn Hưng Vượng 111, 113, 250, 251
Nguyễn Khải 27, 334
Nguyễn Ngọc Loan 237, 328
Nguyễn Thị Ba 106, 261
Nguyễn Thị Bình 43, 333
Nguyễn Thị Ngọc Hải 109, 262, 334 Nguyễn Thị Sê 314, 317 Nguyễn Văn Tàu. Xem Tư Cang
Nguyễn Văn Thiệu 242, 259, 327, 353, 371
Nguyễn Văn Thương 262-264, 266, 268
Người Mỹ trầm lặng (phim của Mankiewicz) 145, 166 Người Mỹ trầm lặng (phim của Noyce) 345, 346.
Người Mỹ trầm lặng (của Greene) 78, 94-97, 100, 141, 145, 149, 153, 164, 352, 374
Người Mỹ xấu xí 145
Nixon, Richard 326, 382, 404 Noyce, Philip 345, 346 nữ thần hộ mệnh (của Phạm Xuân Ẩn). Xem déesse
OCC. Xem Trường cao đẳng Orange Coast O’Daniel, John “Mike Thép” 122
Page, Tim 287
Phái bộ liên lạc và huấn luyện (TRIM) 123
Phái bộ Quân sự Sài Gòn (SMM) 108, 128, 148
Phạm Ngọc Thạch 69, 83, 84, 90, 91, 205
Phạm Ngọc Thảo 352, 354, 355
Phạm Thị Cúc (em gái Phạm Xuân Ẩn) 89
Phạm Văn Đồng 270 Phạm Xuân Ẩn
cứu giúp các nhà báo bị bắt 285-287, 288-289
đi quân dịch và làm sĩ quan quân đội Nam Việt Nam 107, 108, 120, 149, 155-157 được huấn luyện làm tình báo 91, 108-109 gốc gác gia đình 36-40, 46-49, 260
hoạt động tình báo 20, 22, 24, 90-91, 149, 155, 207, 212-213, 215-216, 218-220, 227, 229, 247, 260-262, 264, 269-270, 272-279, 287-288, 326-327, 351-352 hôn nhân 119-200, 204 kết nạp Đảng 101, 102, 104-105 khiếu hài hước 23, 35-36, 142, 342 làm công chức 88, 92
làm báo 16, 20, 166-167, 171, 172, 175, 177, 220-221, 224, 227-229, 231, 233-234,
242, 247, 371
làm phiên dịch 149, 150, 189, 193, 224, 226, 243-246
làm phóng viên Time 16, 19, 221-222, 253-260, 279, 282-290, 319, 327, 330, 333 làm việc tại G5 108-110, 114, 120
làm việc tại Reuters 198, 199, 208-210, 212-214, 217-221 làm việc tại Việt Tấn Xã 196-198 lên phim 345, 347-348, 381 nghỉ hưu 343, 345
ở nước Mỹ 166-187
phụ tá cho Trần Kim Tuyến 188, 189, 190-191, 193-195 qua đời 23, 382
quan hệ với phụ nữ 105, 167, 170, 172, 201-204, 221, 225-227, 231, 233, 261 ra đời 35 tang lễ 384-387
tham gia cách mạng thời kỳ đầu 52, 68, 72-76, 79-83 tham gia chiến đấu 23, 75-76, 156-157 thăng thiếu tướng 335, 342 thời đi học 53-56, 57, 59-63
thú nuôi chim, thú và làm vườn 32, 33, 91-92, 336, 377, 381 thưởng huân huy chương 19, 21, 24, 271, 327, 382-383 thử lửa lần đầu (baptême de feu) 72, 75-78
Tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) 229, 297-302, 306-311 tuổi thơ 50-63
Phạm Xuân Ẩn: A General of the Secret Service (Tướng tình báo chiến lược) 230, 344
Phạm Xuân Ẩn: Tên Người Như Cuộc Đời 342
Phạm Xuân Dương (ông nội Phạm Xuân Ẩn) 36, 39 Phạm Xuân Đính (em trai Phạm Xuân Ẩn) 173, 174, 201
Phạm Xuân Giai (anh họ Phạm Xuân Ẩn) 107, 108, 113, 155, 163 Phạm Xuân Hòa (em trai Phạm Xuân Ẩn) 201 Phạm Xuân Hoàng Ân hay “Ẩn Con” (con trai Phạm Xuân Ẩn) 338, 372
Phạm Xuân Hùng (cụ nội Phạm Xuân Ẩn) 36, 39
Phạm Xuân Viễn (cha của Phạm Xuân Ẩn) 36-38, 46, 49, 59, 79
Phan Chu Trinh 43, 44
Phillips, Rufus 140, 151-154
Phnom Penh, Campuchia 18, 240, 241, 249, 286, 342
Phòng Nhì 93, 100, 107, 109, 110, 113, 119, 133, 135, 152, 155
Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam (CIO) 228, 275, 326
Phượng hoàng, Chương trình 117, 299, 376
Prouty, L. Fletcher 135, 144, 145
Pyle, Alden 95, 97, 98, 141, 145, 149, 207, 226, 338, 346, 352. Xem thêm Greene,
Graham; Người Mỹ trầm lặng
“Quân đội Mỹ và những bài học từ Việt Nam” (Petraeus) 12
Quỹ Á châu 162, 167, 175, 177, 181, 184-186, 196, 343, 357
Quốc dân Đảng Việt Nam 68, 74
Rạch Giá 46, 49, 60, 72-74, 79, 191
Ramsey, Doug 232, 233, 341, 391
Reuters 16, 93, 198, 199, 208, 210, 212, 217, 218, 220, 221, 222, 224, 293, 331, 346
Rhodes, Alexandre de 39
Sacramento Bee 166, 175, 176, 177, 255, 339
Safer, Morley 233-235, 256, 357
Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) 16-18, 30, 37, 42-44, 51-59, 64-66, 70, 76, 77, 79, 80, 81, 83, 84, 88-90, 92, 94-99, 108, 113, 115, 119, 125-128, 133-135, 139-141, 145, 149, 164, 173, 174, 182, 186-189, 196, 197, 201-206, 208, 209, 213-216, 218, 219, 222, 227-232, 237-239, 241, 244, 246, 248, 250, 301, 303, 306-308, 312-315,
317, 320, 321, 327, 328, 351, 352-355, 359, 364, 370, 380, 385
Shaplen, Peter 247, 248
Shaplen, Robert 22, 25, 143, 152, 225, 238-246, 248, 249, 250-252, 287, 319, 332,
337
Sheehan, Neil 213, 231, 356
Sihanouk, Norodom 274, 286, 325
Smark, Peter 198, 208
SMM. Xem Phái bộ quân sự Sài Gòn
Snepp, Frank 219, 239, 241, 251, 252
Sorge, Richard 355
Sở Mật thám Pháp 42
Sở Nghiên cứu Chính trị, Văn hóa và Xã hội 188
Stone, Dana 286
Stone, Oliver 144
Tài liệu mật của Lầu Năm Góc (Lịch sử quá trình ra quyết định của Mỹ về Việt
Nam) 127, 128, 137
Taieb, Alain 345, 347, 390
Tám Hà (Trần Văn Đắc) 229, 230
Tám Thảo (Nguyễn Thị Mỹ Nhung, Yên Thảo) 201-205, 298, 320, 322
Tarzan 52, 56, 58 Tây Ninh 89, 232
“Thế kỷ của nước Mỹ” (Luce) 280 Thompson, Robert 114
Thu Nhạn. Xem Hoàng Thị Thu Nhạn
tình báo chiến lược 108, 122, 195, 205, 207, 208, 241, 270, 271, 273, 308, 394, 406 Time, tạp chí 16, 19, 48, 74, 221, 222, 249, 253, 255, 259, 260, 279, 282-285, 289,
290, 294, 306, 310, 318, 327, 328, 330, 331, 333, 335, 338, 348, 385
Tongas, Gérard 357
Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) 77, 229, 237, 297-301, 306-311,
313, 314, 318, 319, 323, 325, 337, 353, 376
Trần Kim Tuyến 163, 188, 189, 195-197, 268, 275, 328, 329
Trần Lệ Xuân (bà Nhu) 137
Trần Tử Thanh 328, 391
Trần Văn Đắc. Xem Tám Hà
Trần Văn Ơn 81, 83, 203 Trần Văn Trà 77, 298, 301
Trần Văn Trung 18. Xem thêm Phạm Xuân Ẩn, Hai Trung
TRIM. Xem Phái bộ liên lạc và huấn luyện
Trịnh Minh Thế 95, 145-147
Trinquier, Roger 114-121
Trung Quốc 18, 38, 42, 47, 49, 66, 69, 91, 103, 104, 113, 115, 118, 181, 250, 280,
305, 306, 323, 334, 342, 372, 376
Trung ương Cục miền Nam Việt Nam 90, 262, 310
Truồi 55, 57
Trường Phân tích Tình báo Sherman Kent 158
Trương Vĩnh Khánh (thầy giáo của Phạm Xuân Ẩn) 60, 62, 76, 77
Turner, Nick 208-210, 213, 215-218, 220-223, 331, 390
Tư Cang (Nguyễn Văn Tào) 229, 230, 297, 298, 301-318, 323, 353, 385, 389
U Minh, rừng 37, 46, 49, 50, 60, 73, 102
United Press International (UPI) 218, 293
UPI. Xem United Press International
Vann, John Paul 214, 231, 232
Việt Cộng 10, 173, 195, 212-215, 217, 218, 233, 237, 243, 260, 288, 298, 301, 317, 318, 355, 376
Việt Minh 23, 40, 50, 75, 77, 78, 83, 85, 90, 100, 103, 115, 118, 119, 124, 133, 134, 137, 164, 173, 190, 193, 206, 237, 238, 263, 270, 316, 352, 354, 365
Việt Nam 13-15, 17-29, 31, 34, 36, 37, 38-45, 47-49, 52, 56-58, 60, 61, 63, 65, 67, 68, 70-72, 74, 79, 81, 82, 84-86, 88, 91-108, 110, 112-117, 120, 123-128, 131-133,
136-139, 141-147, 150-154, 156, 158, 159, 161-164, 166, 168, 170, 172, 173, 175177, 182-187, 190-193, 200, 205-212, 216, 218, 221-226, 231, 232, 237-240, 244250, 256-259, 271-279, 282-289, 296, 299, 308-318, 321-330, 331-335, 337-339,
340-350, 352-359, 361-368, 373-376, 380-390
Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) 16, 17, 36, 46, 74, 83, 88, 128-130, 139, 162, 164, 212, 229, 240, 278, 299, 305, 325, 341, 352, 358, 375, 376, 379 chữ viết 39
đấu tranh chống ngoại xâm 28, 40-42, 48-49, 52, 80-81, 85-87, 103-104, 334-335 đổi mới 30
lịch sử 64, 67-70, 361-364
Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) 24, 27, 37, 43, 65, 82, 108, 122, 125, 131, 135-139, 143-145, 150-156, 162, 163, 173, 188, 191-196, 198, 203, 209, 214-216, 227-230, 244, 254, 258, 259, 263, 266, 267, 270, 275-278, 285, 297, 298, 300, 309,
310, 325-328, 330, 333, 341, 353, 354, 364, 368, 371, 375, 376, 380, 382, 385
Pháp cai trị 40-43, 48, 74 tín ngưỡng 44-46
Việt Nam hóa chiến tranh 379
Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDD) 68, 74
Việt Tấn Xã 196, 208
Võ Nguyên Giáp 18, 25, 100, 270, 274, 309, 310
Võ Thị Sáu 364-367
VTX. Xem Việt Tân Xã
Vũ Ngọc Nhạ (Vũ Đình Long) 262, 352-354
Vũng Tàu (Cap Saint Jacques) 119
Watergate, vụ 293, 327
Westmoreland, William 230, 299, 300, 310
Wheeler, Earle “Bus” 299, 300
Wisner, Frank 292, 293
_________________
THE SPY WHO LOVED US:
The Vietnam War and Pham Xuan An’s Dangerous Game.
Copyright © 2009 by Thomas A. Bass
This is partial translation of THE SPY WHO LOVED US. Parts of the text have been omitted or altered.
Copyright arranged with: InkWell Management, LLC 521 Fifth Ave, 26th Floor, New York, NY.10175, USA.
through Tuttle-Mori Agency Co., Ltd
Dịch từ nguyên bản tiếng Anh, The Spy Who Loved Us: The Vietnam War and Pham Xuan An’s Dangerous Game của Thomas A. Bass. Có lược bỏ hoặc sửa đổi một số đoạn trong nguyên bản . NXB PublicAffairs.
Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam, 2014.
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho phép bằng văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của nhà xuất bản và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền. Chỉ mua bán bản in hợp pháp.
Phần bổ sung và hiệu đính © 2014 Bùi Xuân Bách & pro&contra & Thomas A. Bass
❀ ❀ ❀
[1] Đặt tại Đại học Công nghệ Texas, Lubbock, bang Texas, Hoa Kỳ.
[2] Học viện quân sự của Pháp.
[3] Huân chương Chiến thắng thưởng công cho những người tham gia kháng chiến chống Pháp và từ năm 2003 không còn nằm trong hệ thống khen thưởng.
[4] Trong trận lính Mỹ đánh nhau với thổ dân da đỏ năm 1876, Trung đoàn 7 kỵ binh Mỹ gồm hơn 700 quân bị mất 268 lính, kể cả trung đoàn trưởng là trung tá George A. Custer.