Khi rời khỏi Reuters năm 1964, Phạm Xuân Ẩn thất nghiệp nhưng không thiếu việc làm. Sự hiện diện của Mỹ tại Việt Nam đang tăng lên. Từ 17.000 “cố vấn”, nước Mỹ đang chuẩn bị đưa tới đây nửa triệu lính chiến đấu. Trong đống hành lý cho sự tăng cường này có cơ man nào những phóng viên (con số ghi nhận đến năm 1966 là hơn 500 người, tất cả đều cần phiên dịch và phóng viên bản địa). Như bạn của Phạm Xuân Ẩn là Frances “Frankie” FitzGerald nhận xét: “Đội quân báo chí bao gồm những biên tập viên tên tuổi đến từ New York, cho đến các phóng viên tập tọng của những tờ báo tỉnh lẻ, dân tốt nghiệp Ivy League[1], phóng viên hình sự với những kho từ vựng hai âm tiết, những phóng viên ảnh trẻ măng đầu óc như phê thuốc, cựu chiến binh chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh thế giới thứ hai - thực tế là đủ mọi hạng người, chỉ trừ loại người kiên quyết phản đối chiến tranh.”
Phạm Xuân Ẩn làm phóng viên tự do cho cánh phóng viên Mỹ tạp nham này, hai khách hàng chính của ông là Robert Shaplen, phóng viên thường trú kỳ cựu tại châu Á cho tờ The New Yorker, và Beverly Ann Deepe, một phóng viên 27 tuổi, mặt non choẹt với những lọn tóc cắt ngang trán và kiểu đầu tổ ong cũng đang làm tự do cho tạp chí Newsweek, tờ International Herald Tribune, và tờ Christian Science Monitor. Deepe trở thành déesse của ông, còn Shaplen là một trong những nguồn tin tốt nhất.
“Tóc đen, dịu dàng và không có vẻ gì là hấp dẫn,” Deepe là những gì mà cựu phóng viên thường trú của tờ Washington Post William Prochnau gọi là một hình mẫu hoàn hảo của “thế giới cô gái chân chất nhà bên của thập kỷ 1950 đang lụi tàn.” Deepe dấn thân vào sự nghiệp này khi cô viết rằng một nữ phóng viên đang tham gia cuộc chiến nên là một “biểu tượng sống của người mẹ, người tình, và thế giới thanh bình ở hậu phương”. Deepe lớn lên tại một trang trại ở bang Nebraska. Cô học chuyên ngành báo chí và chính trị học tại Đại học Nebraska, tốt nghiệp năm 1957, sau đó lấy bằng thạc sĩ tại Trường Báo chí Columbia. Cô đến Nga và Trung Á theo một chương trình trao đổi sinh viên. Say mê du lịch, cô dành dụm tiền khi còn làm việc với tư cách một người thăm dò ý kiến chính trị trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1960 và sau đó hạ trại tại Việt Nam năm 1962. Ban đầu chỉ định ở lại trong hai tuần, cuối cùng cô đã ở lại đến bảy năm và trở thành một trong những phóng viên phương Tây đưa tin về cuộc chiến lâu nhất.
Phạm Xuân Ẩn cảm thấy chịu ơn Beverly Deepe, Laura Palmer, và những nữ phóng viên thường trú khác, những người đã uốn nắn cho ông về những phép xã giao của báo chí Mỹ. Họ dạy ông cách làm nổi bật những câu chủ đạo. Họ chỉ cho ông cách làm thế nào để trở nên khách quan (vị thần vĩ đại của nghề báo Mỹ). Họ giúp ông biết chuyển từ viết những mẩu văn ngắt quãng giật cục kiểu điện tín sang chấp bút cho những bài trình bày quan điểm và xã luận dài hơn. Vô hình trung, Beverly Deepe phục vụ cả những mục đích khác cho Phạm Xuân Ẩn. Cô đi lại rất nhiều nơi trong nước và được chào đón niềm nở bởi cánh lính tráng, những người thích được tỏ ra ga lăng với một nữ phóng viên. Deepe cần Phạm Xuân Ẩn làm phiên dịch; còn ông cần cô để có thể tiếp cận việc tiến hành phóng sự điều tra tại thực địa của mình.
Deepe có xu hướng phản ánh về những hoạt động của Mỹ tại Việt Nam với sự hăng hái rất ngây thơ. Cô khiến các đồng nghiệp của mình gợi nhớ đến Alden Pyle, người Mỹ “trầm lặng” đã coi Việt Nam như một bài học giáo dục công dân về “những vấn đề của tự do”. Những nhận xét mang tính chỉ trích ít ỏi mà cô trình bày về hoạt động của Mỹ tại Việt Nam cũng là nhằm mục đích cải thiện chiến lược của Mỹ, hay nói cách khác, để “chiến thắng” trong cuộc chiến này. Deepe là người can đảm và táo bạo, nhưng cô chưa bao giờ động chạm gì đến việc đối mặt với những câu hỏi lớn mà bảy năm trong một vùng chiến sự lẽ ra đã có thể gợi lên ở một bộ óc tò mò hơn. Phóng sự của cô về trận Khe Sanh mang lại cho cô một đề cử giải thưởng Pulitzer. Đến cuối nhiệm kỳ phục vụ dài đằng đẵng của mình, Deepe đã kiếm được một ông chồng quân nhân, đại tá Charles “Chuck[2]” Keever, người điều hành trung tâm báo chí tại Đà Nẵng, và tích được 29 tập thư từ cùng bài vở, những thứ hiện đang được lưu trữ trong văn phòng của cô tại Đại học Hawaii-Manoa, nơi cô dạy môn báo chí.
Thay vì nhận xét về sự ngây thơ của cô, Phạm Xuân Ẩn khai thác Deepe làm vỏ bọc hoàn hảo cho hoạt động riêng của mình. Deepe sống trong một căn hộ ở tầng bốn, phía trên một garage giữa trung tâm Sài Gòn. Căn hộ gồm một phòng lớn có bếp và tủ lạnh được làm mát bằng một khối đá, trông ra khách sạn Rex, nơi các quan chức dân sự và quân sự tiến hành những cuộc giao ban báo chí hằng ngày. Phạm Xuân Ẩn giải thích mối quan hệ hai bên cùng có lợi mà ông xây dựng với Deepe: “Tôi thường ghé qua gặp viên đại tá chỉ huy Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam (CIO). Ông ta là bạn của tôi. Hàng ngày tôi lấy các thông tin tình báo rồi chuyển cho Beverly Ann Deepe để viết bài cho tờ New York Herald Tribune. Chúng tôi rất hài lòng. Chúng tôi có tất cả những thông tin mình cần. Chúng tôi chỉ việc ‘chế biến’ câu chuyện từ tất cả những nguyên liệu chúng tôi được cung cấp. Vô cùng đơn giản.”
Ngày 5 tháng 7 năm 1965, phóng viên đặc biệt Phạm Xuân Ẩn đăng bài báo của chính mình trên tờ New York Herald Tribune, với nhan đề “Chương trình đỏ cho Nam Việt Nam: mỗi lần một miếng”. Khi tôi mang một bản sao của bài báo này đến cho Phạm Xuân Ẩn trong một lần tôi đến thăm ông, ông giải thích cặn kẽ về nguồn gốc bài báo. “Bài báo giải thích chiến lược của cộng sản, tức chương trình đỏ. Trước khi người Mỹ đưa binh sĩ chiến đấu vào, họ nên biết cộng sản sẽ phản ứng như thế nào. Đó là lý do tại sao tôi viết bài báo này.”
Bài báo viết rằng tại thời điểm đó của cuộc chiến, cộng sản có 65.000 quân chủ lực ở miền Nam, được hỗ trợ bởi 100.000 dân quân tự vệ cấp địa phương và của làng xã. “Những con số này là chính xác,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Người Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu giữ được rất nhiều tài liệu của đối phương. Họ chuyển chúng cho Cục Điều tra Hình sự (CID) để dịch. Tôi dựa vào Phủ Đặc ủy Trung ương
Tình báo Việt Nam và vào tình báo quân đội Nam Việt Nam, an ninh quân đội Nam Việt Nam, và mật vụ Sài Gòn để được xem những tài liệu này, thứ mà tôi đọc rồi phân tích hàng ngày.” Phạm Xuân Ẩn che giấu dấu vết của mình bằng cách chỉ cho đăng những thông tin đã được biết từ trước ở miền Nam, chứ không bao giờ là những thông tin ông nhận được từ cấp trên cộng sản của mình. “Đó là con đường một chiều,” ông nói. “Như thế là vì lý do an ninh.”
“Tôi không thể nói rằng mình đang sử dụng những tài liệu từ CIO, tôi phải nói rằng tôi đang trích dẫn những ‘nguồn đáng tin cậy’. Những tài liệu của cộng sản là quá đủ tin cậy rồi,” Phạm Xuân Ẩn vừa nói vừa bật cười, thích thú với ý nghĩ về “sự đáng tin cậy” trong cuộc chiến không có gì là chắc vào hạng nhất này. Những bài xã luận của Phạm Xuân Ẩn cũng có tác dụng cảnh báo cho cộng sản biết rằng đối phương ở miền Nam đã biết những gì về họ. “Họ nên biết rằng bất kỳ điều gì tôi viết về cộng sản cũng dựa vào những tài liệu thu giữ được. Họ cần phải cảnh giác. Ví dụ như tất cả những nghị quyết của cộng sản, tôi đều biết rõ qua tiếng Anh hơn là tiếng Việt. Đây đúng là điều rầy rà đối với tôi,” Phạm Xuân Ẩn mỉm cười nói.
Phạm Xuân Ẩn còn có một nguồn thông tin khác thậm chí quan trọng hơn cả những tài liệu thu giữ được của cộng sản. Ngày nào cũng vậy, ông tận mắt nhìn thấy những dữ liệu tình báo còn thô qua các cuộc thẩm vấn quân sự, gồm cả thẩm vấn những đảng viên cộng sản chiêu hồi. Những dữ liệu này có thể không hữu ích cho công việc báo chí hàng ngày của ông, nhưng lại là vô giá đối với công việc điệp viên. Phạm Xuân Ẩn thông báo kịp thời cho tình báo miền Bắc Việt Nam về bất kỳ sơ hở nào trong các hoạt động của họ. Ông là chiếc chuông treo trên cổ con mèo Mỹ khiến nó, hết lần này đến lần khác, khi nhảy vào chiếc tổ của cộng sản thì đã thấy ở đó rỗng không. Ngay sau Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, một cán bộ của miền Bắc Việt Nam tên là Trần Văn Đắc, hay còn gọi là Tám Hà, đã đào ngũ sang phe đối phương. Đây là một thiệt hại ghê gớm đối với cộng sản. Tay này là một sĩ quan cấp cao và là chính ủy nên biết khá nhiều về chiến lược của họ, đặc biệt là những kế hoạch cho giai đoạn thứ hai của Tổng tấn công Tết Mậu Thân vào tháng 5 năm 1968, cuộc tấn công này sẽ trở thành một thất bại quân sự nếu mất đi yếu tố bất ngờ.
Tư Cang, người khi đó là chỉ huy của lực lượng tình báo cộng sản ở miền Nam, khẩn cấp vào Sài Gòn để đánh giá tổn thất. Trên đường vào thành phố, ông dừng lại để mua một tờ báo. Chình ình ngay trang đầu là một dòng tít về sự chiêu hồi của thượng tá Tám Hà và bức ảnh to đùng chụp ông ta đứng giữa một viên tướng Việt Nam Cộng hòa và William Westmoreland, tư lệnh lực lượng Mỹ tại Việt Nam. Ngay khi Tư Cang vào đến thành phố, Phạm Xuân Ẩn đưa ông vào trong xe của mình. Họ lái xe đến một căn cứ quân sự ở vùng bao quanh Sài Gòn thuộc tỉnh Gia Định kế bên. Trong vòng 15 phút, khi Tư Cang đợi trong xe, Phạm Xuân Ẩn đã vào trong sở chỉ huy, mượn tài liệu và đi ra mang theo bản sao nội dung thẩm vấn Tám Hà.
“Khi đọc lời khai của Tám Hà, tôi vô cùng căm phẫn tên phản bội này,” đây là trích lời của Tư Cang nói trong cuốn Pham Xuan An: A General of the Secret Service (2003)[3], một trong ba cuốn tiểu sử được viết bằng tiếng Việt về Phạm Xuân Ẩn. “Hắn khai tất tần tật, kế hoạch tác chiến của chúng tôi, chiến thuật, vũ khí, cách che giấu lực lượng, pháo binh, đạn dược, và thậm chí là vị trí của sở chỉ huy khu vực. Trước tình hình này, cấp trên của chúng tôi đã thay đổi toàn bộ kế hoạch tác chiến trong việc tiến hành giai đoạn hai của cuộc tấn công, giảm thương vong xuống mức thấp nhất. Kết quả của cuộc tấn công này cuối cùng đã buộc đối phương phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán.” Câu chuyện này rất phi thường vì một số lý do, trong đó có cả việc Phạm Xuân Ẩn lái xe tới một căn cứ quân sự cùng chỉ huy tình báo cộng sản ngồi trên ghế trước trong xe của mình. “Khi đó chúng tôi đang vội,” Phạm Xuân Ẩn giải thích.
Bên cạnh việc chia sẻ một số nguồn tin của mình, Phạm Xuân Ẩn còn đi cùng Beverly Deepe ra thực địa. Một hôm họ lái xe đến thăm John Paul Vann, người mới giải ngũ nhưng quay trở lại Việt Nam để điều hành chương trình bình định của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tại tỉnh Hậu Nghĩa, gần biên giới với Campuchia. Vann là một nhân vật màu mè tạo cho cánh nhà báo một chủ đề hay để viết. Là một người phê phán chiến lược của Mỹ tại Việt Nam, ông ta muốn một cuộc chiến tranh hiệu quả hơn, khôn ngoan hơn với sự can dự chặt chẽ hơn ở dưới mặt đất và giảm phụ thuộc vào trò ném bom từ trên cao hay pháo kích tầm xa. Vann được đánh giá là một chuyên gia tầm cỡ thế giới về chiến lược chống du kích cho đến khi Neil Sheehan làm cho ông ta bị lu mờ. Như Sheehan tiết lộ trong Sự lừa dối hào nhoáng: John Paul Vann và nước Mỹ tại Việt Nam, trong khi Vann khiến mọi người tưởng rằng ông ta bị buộc phải ra khỏi quân đội vì công khai phê phán chính sách của Mỹ, thì thực ra ông ta bị tước quân tịch vì tội giao cấu với trẻ em.
Một buổi sáng Phạm Xuân Ẩn và Deepe lên đường trong chiếc Renault 4CV nhỏ màu xanh của ông và lái 50 cây số về phía Tây Bắc Sài Gòn tới văn phòng ở tỉnh Hậu Nghĩa của Vann. “Trước đó tôi không hề thông báo với bất kỳ ai,” Phạm Xuân Ẩn nói về chuyến đi vào tháng 1 năm 1966 này. “Nếu họ mà biết chúng tôi sắp đến, có lẽ họ sẽ không cho phép chúng tôi. Chúng tôi lái xe hướng Tây Ninh rồi rẽ trái vào tỉnh Hậu Nghĩa. Khi chúng tôi đi vào thị xã, viên tướng người Việt bảo vệ trụ sở của Vann rất bất ngờ khi nhìn thấy chúng tôi. ‘Mẹ kiếp,’ ông ta la rầm lên. ‘Tôi không muốn nhà báo các người tới đây.’ Ông ta rủa sả tôi thậm tệ. ‘Anh là người Việt Nam. Anh mà chết tôi cũng đếch thèm quan tâm. Nhưng có một phụ nữ Mỹ đi cùng anh, mà nếu cô ta bị giết, tôi sẽ gặp cơ man nào là rắc rối. Con đường anh vừa đi qua ngày nào chẳng bị cộng sản tấn công. Lần nào có đoàn xe đi là chúng tôi lại phải rà mìn. Liên tục có người bị phục kích và giết chết.’”
Vì Vann đi vắng, nên Phạm Xuân Ẩn và Deepe gặp Doug Ramsey, viên phó của ông ta. Họ ăn trưa sớm để quay về Sài Gòn trước khi trời tối. Viên tỉnh trưởng cử một trung đội đi rà phá mìn và hộ tống họ ra đường 1. Tuần sau đó, Ramsey bị cộng sản bắt giữ, họ giam giữ anh ta suốt bảy năm liền.
“Khi họ bắt giữ ai đó, họ sẽ cho tôi biết,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Tôi nói với họ: ‘Anh ta là một người tốt. Các anh nên trả tự do cho anh ta.’ ‘Nhưng anh ta nói tiếng Việt,’ họ nói. ‘Chúng ta phải cảnh giác với những tên biết nói tiếng Việt.’ Mãi đến khi ký kết Hiệp định Paris, sau khi đã sống sót qua những đợt không kích B-52, đói ăn, bệnh scobút, tê phù, và 136 cơn sốt rét ác tính, Ramsey mới được trả tự do năm
1973.”
Mùa thu năm 2007, tôi biết được phần còn lại của câu chuyện về Ramsey qua một cựu quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ yêu cầu được giấu tên. Phạm Xuân Ẩn không chỉ cứu mạng Ramsey, ông còn thuyết phục những người cộng sản đồng ý trao đổi
Ramsey lấy một sĩ quan cộng sản đang nằm trong tay phương Tây. Không may cho Ramsey, vụ trao đổi bị CIA ngăn trở, vì cơ quan này còn đang bận thẩm vấn người tù binh kia. Lời khai của một sĩ quan cấp cao Việt Cộng có thể mở rộng quan lộ cho nhiều tay CIA. Ramsey cứ việc chờ.
Phạm Xuân Ẩn còn những lý do hay ho khác để làm việc cho Beverly Deepe. “Những nhà báo nữ người Mỹ có lợi thế so với đàn ông,” ông nói. “Những người mà họ phỏng vấn cứ chắc mẩm có thể đánh lừa được phụ nữ. Họ tưởng họ có thể lừa cho các nhà báo nữ nhắc lại như vẹt những ý tưởng và định kiến của mình. Trong các cuộc phỏng vấn, những nhà báo nữ có thể làm ra vẻ đồng tình với anh, nhưng sau đó, khi họ bắt tay vào viết bài th́ lại khác hoàn toàn. Họ có suy nghĩ của riêng họ, và cánh đàn ông mà họ phỏng vấn, hết lần này đến lần khác, đều nhầm to. Những nhà báo nữ này nhìn thì rất ngọt ngào, nhưng thực ra họ rất khó xơi.”
“Tôi coi cô ấy như là chị của mình,” Phạm Xuân Ẩn nói về Deepe. “Tôi được che chở bởi những nữ thần hộ mệnh của mình. Tôi đã hy vọng rằng một trong số họ chứ không phải một người đàn ông sẽ có dịp viết về tôi. Tiếc là mong ước của tôi không thành hiện thực.”
Phạm Xuân Ẩn và Deepe rơi vào hoàn cảnh bỏ lỡ cả một sự kiện lớn mà cô không đưa tin được chỉ vì cô là một phụ nữ. Tháng 8 năm 1965, họ bay ra Đà Nẵng ở phía Bắc và đăng ký vào trung tâm báo chí, một nhà thổ cũ được chuyển thành khách sạn do thủy quân lục chiến quản lý. Tại đây họ chạm mặt phóng viên Morley Safer của đài CBS cùng người quay phim và phụ trách âm thanh của anh ta, những người cũng đang đến thành phố tìm kiếm chút màu sắc địa phương. “Cả ngày hôm đó tôi cùng với Beverly Ann Deepe ra thực địa cùng một đại đội thủy quân lục chiến,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Họ là những người lính rất dễ mến. Họ đang thực hiện các công tác quần chúng, quan hệ công chúng, gặp gỡ người dân, phát quà, cung cấp cho người dân những loại thuốc có mùi vị như kẹo. Họ giúp đỡ những trẻ em bụng ỏng vì giun. Họ cho chúng những miếng băng keo y tế Band-Aid sặc sỡ. Những đứa trẻ nào trông có vẻ đói khát thì được phát thêm những khẩu phần ăn đóng hộp của lính Mỹ. Chúng tôi nghĩ họ là những người tử tế. Họ nói rất nhiều điều tử tế khi họ giúp đỡ người dân.
“Đến ba hay bốn giờ chiều, chúng tôi rời khỏi nơi dã ngoại và cùng với những người thủy quân lục chiến quay về căn cứ của họ. Họ đã lắp đặt một bể chứa nước bằng thép không gỉ. Họ mời chúng tôi tắm qua và phục vụ chúng tôi bữa ăn nóng sốt. Chúng tôi đã trở thành bạn bè thân thiết khi chúng tôi chia tay tối hôm đó để quay lại trung tâm báo chí. Đêm hôm đó, đúng ra là đến rạng sáng hôm sau, những người lính bắt đầu chiến dịch Cẩm Nê. Chúng tôi không đi theo họ. Lúc đó là ban đêm rồi. Beverly khi ấy là một cô gái trẻ. Ban đêm cô ấy không đi ra ngoài.
“Trước đó không ai nói gì với Deepe về việc những người thủy quân lục chiến sắp thực hiện một chiến dịch quân sự. Morley Safer và ê kíp quay phim của anh ta đã vào thế chỗ của họ. Điều này cho phép họ ghi lại được một trong những thời khắc quyết định nhất của cuộc chiến, khi một ngôi làng với hơn 300 mái tranh bị thiêu rụi bởi những binh lính điên cuồng tay lăm lăm bật lửa Zippo. Cẩm Nê là trường hợp lần đầu tiên thủy quân lục chiến Mỹ thiêu rụi toàn bộ một ngôi làng. Safer đưa được tin sốt dẻo,” Phạm Xuân Ẩn nói với vẻ khâm phục. Ông tiếp tục miêu tả việc thủy quân lục chiến Mỹ đã phạm sai lầm như thế nào. “Họ tưởng ngôi làng thuộc về các du kích cộng sản. Thực ra nó thuộc về chính phủ. Viên tỉnh trưởng muốn ngôi làng bị trừng phạt vì không đóng ‘thuế’, tức là tiền hối lộ. Ba binh sĩ bị thương trong vụ này đều bị đạn của đồng đội bắn phải từ phía sau.”
Sau khi chứng kiến một khoảnh khắc đáng hổ thẹn vô cùng của một dân tộc, Safer có đủ dũng cảm để phản ánh nó (vì điều đó mà Tổng thống Johnson tìm cách khiến anh bị sa thải). Safer đã đưa tin về cuộc chiến tranh chống khủng bố của Pháp tại Algeria, trong đó cũng có chuyện áp bức dân thường, nhưng điều khiến anh phẫn nộ trong sự kiện Cẩm Nê, như David Halberstam viết trong cuốn Quyền lực (The Powers That Be, 1979), “là sự vô nghĩa của toàn bộ chuyện này, vì thậm chí ngay cả khi người Pháp có dùng biện pháp tra tấn đi nữa thì họ cũng thường làm điều đó với một ý đồ cụ thể, họ biết chính xác mình muốn lần ra cái gì. Chưa kể những chuyện khác, chuyện này dường như vừa bừa phứa, lại vừa tùy tiện và cẩu thả, chứ không hề có chủ ý như hành động tàn bạo của người Pháp và có lẽ chính vì thế mà lại càng trở nên tồi tệ hơn.” Khi đoạn phim quay ở Cẩm Nê xuất hiện trước người dân Mỹ trong bản tin buổi tối, nó đã đánh “dấu chấm hết cho sự ngộ nhận rằng chúng ta khác họ, rằng chúng ta tốt đẹp hơn”, theo lời Halberstam.
Trong đánh giá của mình về sự kiện Cẩm Nê, đáng ngạc nhiên là Phạm Xuân
Ẩn lại tỏ ra bao dung đến ngạc nhiên. “Từ trước đến giờ người Mỹ chưa bao giờ có thuộc địa,” ông nói. “Đối với họ, Việt Nam là bộ phận của một chiến lược toàn cầu.” Ông miêu tả những người lính thủy quân lục chiến Mỹ đã bối rối như thế nào về Việt Nam ngay từ lúc họ đặt chân đến. “Sau khi được huấn luyện ở Bắc Carolina, một khóa huấn luyện khắc nghiệt đến khó tin trong đó họ phải đứng dưới nước hàng giờ liên tục, họ bước ra khỏi tàu đổ bộ để bước lên bãi biển ở Đà Nẵng. Và họ thấy gì ở đó? Một lô những cô nàng xinh đẹp cổ quàng vòng hoa. Chẳng thấy tăm hơi kẻ thù ở đâu cả. Họ trở nên chưng hửng. Họ không biết phải làm gì. Ban ngày thì những người lính thủy quân lục chiến cũng tử tế, nhưng đêm đến thì họ cư xử hoàn toàn khác. Một ai đó tràn ngập lòng thù hận bất ngờ ra lệnh thiêu rụi một ngôi làng.”
Cẩm Nê là một “sự kiện đau thương” đối với Phạm Xuân Ẩn, một bước ngoặt trong cuộc chiến của cá nhân ông. “Cũng giống như những tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới bị tấn công khủng bố và rất nhiều người vô tội thiệt mạng. Có thể những người lính đó đã ấp ủ nọc độc của sự thù hận. Đó là điều không tránh khỏi trong chiến tranh. Cũng giống như những gì đã xảy ra trong vụ thảm sát Mỹ Lai. Con người luôn có hai phần, phần con và phần người. Đôi lúc phần bản năng con vật trở nên mạnh đến nỗi con người đánh mất lý trí của mình. Người Việt Nam cũng làm điều đó với người Việt Nam. Họ không còn biết mình là anh em hay kẻ thù.
Ngay cả Chúa Trời cũng không thể giải thích được.”
Chúng tôi quay lại với chủ đề này khi tôi đến thăm nhà của Phạm Xuân Ẩn vào buổi sáng ngày 20 tháng 5 năm 2004. Cả hai chúng tôi đều đã thức khuya xem CNN tường thuật trực tiếp phiên điều trần của Quốc hội Mỹ về tình trạng tra tấn những tù nhân Iraq ở Abu Ghraib, một khoảnh khắc bước ngoặt khác trong những cuộc chiến tranh xa xôi của nước Mỹ. Những bức ảnh được chụp bằng điện thoại di động và trôi nổi trên Internet cho thấy các tù nhân trần truồng bị buộc dây dắt đi rồi đến những tù nhân bị trùm kín đầu hai tay dang rộng còn chỗ kín thì nối vào điện cực. “Một trong những viên tướng tại phiên điều trần nói rằng tình hình tại Iraq là những gì mà nước Mỹ chưa hề phải đối mặt trong suốt 50 năm qua,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông ta đang muốn nói đến Việt Nam. Ông ta nói nhầm về mốc thời gian. Lẽ ra ông ta phải nói là 30 năm.”
Phạm Xuân Ẩn hỏi tôi có nhớ tướng Nguyễn Ngọc Loan, viên trùm cảnh sát Sài Gòn xuất hiện trong bức ảnh nổi tiếng của Eddie Adams khi đang bắn một tù binh Việt Cộng ở tầm ngay gần, viên đạn bay ra sau gáy của người đàn ông. Được chụp trong đợt Tổng Tấn công Tết Mậu Thân 1968, bức ảnh đoạt giải Pulitzer này trở thành một hình ảnh quan trọng khác về sự tàn bạo khủng khiếp của cuộc chiến. “Thực ra tướng Loan vốn là một người rất tử tế,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Cha ông ta cũng là một người cộng sản tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh chống Pháp ở Đông Dương . Loan bị bắt đăng lính khi tướng de Lattre de Tassigny xây dựng các lực lượng vũ trang của Việt Nam. Để tránh phải phục vụ trong bộ binh, ông ta tham gia kỳ thi đào tạo thành một phi công Pháp. Con người ta phải mua thời gian. Họ hy vọng là chiến tranh sẽ kết thúc trước khi mình phạm tội ác giết hại chính đồng bào mình. Loan được cử đi đào tạo tại Pháp. Họ biến ông ta trở thành sĩ quan cao cấp nhất trong không quân Việt Nam.
“Lẽ ra Loan phải ném bom xuống những người cách mạng Việt Minh. Nhưng vì người Pháp không có hệ thống để ghi lại kết quả, nên ông ta thả bom vào rừng và đầm lầy. Ông ta bảo đảm là mình bay đủ thấp để có thể quan sát phía dưới và thấy là không có ai bị giết.”
Nhưng sau khi trở thành giám đốc Nha cảnh sát Sài Gòn, “Loan biến thành một con hổ, đầu tiên là một con hổ nhép rồi trở thành một con hổ thực sự”, Phạm Xuân
Ẩn nói. “Ông ta trở nên cực kỳ tàn bạo. Một người chỉ huy phải biết cách làm thế nào chế ngự được phần con trong bản chất của con người. Nếu anh không kiểm soát được điều này ở cấp dưới của mình, nếu anh để cho họ tự tung tự tác, thì coi như anh xong rồi. Đó là những gì đã xảy ra ở Cẩm Nê. Những người lính thủy quân lục chiến trẻ măng dễ mến này là những người tốt. Họ yêu mến phụ nữ, họ yêu trẻ con, và rồi bỗng nhiên có người ra lệnh cho họ thiêu rụi một ngôi làng. Lỗi nên thuộc về kẻ đã ra lệnh cho họ. Điều tương tự cũng đúng đối với bất kỳ phe nào. Điều này cũng đúng đối với phe Cộng sản, vì những hành động tàn ác mà phía chúng tôi đã làm ”.
Nếu Deepe chỉ là một võ sĩ hạng bán trung hăng máu, thì Robert Shaplen lại là một nhà báo tầm cỡ thế giới, liên tục cho ra đời những bài báo và cuốn sách về châu Á trong suốt 50 năm. Shaplen là trưởng đoàn báo chí Mỹ tại Việt Nam, một người đàn ông to lớn, thô ráp, giọng ồm ồm, chuyên hút xì gà, giữ cương vị phóng viên thường trú tại vùng Viễn Đông của tờ The New Yorker. Ông sống trong một căn phòng khách sạn trông ra vịnh Hồng Kông, trừ những khi ở Sài Gòn, nơi ông sống trong phòng 47 tại khách sạn Continental Palace. Shaplen viết bốn bài báo cho tờ The New
Yorker mỗi năm, những bài đánh giá dài, chi tiết, và đầy thâm thúy về chính phủ và chính sách quân sự, với thông tin từ những nguồn ở cấp cao nhất. “Ông ấy là một trong những nhà báo con cưng của chúng tôi,” cựu sĩ quan CIA Frank Snepp nói. “Chúng tôi có lệnh từ cấp cao nhất cho phép ông ta tiếp cận một cách không thể tin nổi với đại sứ quán và tình báo cấp cao.”
Cựu trưởng đại diện của Newsweek Kevin Buckley, người cũng sống và làm việc tại Continental, kể về việc Shaplen, người chiếm dụng căn phòng trung tâm đối diện với cửa chính của khách sạn, chiều nào cũng mở cửa phòng mình tổ chức tiệc cocktail thu hút những nhà báo có nhiều ảnh hưởng nhất trong thành phố, trong đó có Phạm Xuân Ẩn. “Sau buổi giao ban quân sự hàng ngày lúc 4:45 phút chiều, chúng tôi lại ghé vào quán cà phê Givral hoặc phòng Shaplen hoặc cả hai,” Buckley nói. “Lúc nào ông ta cũng có một chai Scotch, và kiểu gì cũng có phục vụ bàn lăng xăng chạy ra chạy vào với xô đá, ly, và soda. Ông ấy là một vị chủ nhà tuyệt vời.”
“Shaplen đồ rằng phòng của ông ấy còn có thiết bị thu âm tốt hơn cả một phòng thu,” Buckley nói. “Sống cạnh ông ấy là các nhà ngoại giao Canada, Ba Lan và Ấn Độ thuộc Ủy ban Giám sát Quốc tế. Ủy ban này được thành lập để giám sát cuộc tổng tuyển cử năm 1956 với mục đích thống nhất Việt Nam. Khi cuộc tổng tuyển cử bị hủy bỏ, những người này chẳng còn việc gì khác hay ho hơn để làm trong 20 năm tiếp theo ngoài việc nghe lén những cuộc điện thoại của Shaplen gọi cho CIA. Cứ khi nào xuất hiện một câu hỏi cần được trả lời, Shaplen lại nhấc điện thoại và gọi xuống sảnh. “A lô, Bob Shaplen đây, nối cho tôi số 4...” Buckley hạ thấp giọng và bắt đầu gầm gừ kiểu thì thầm rõ mồn một mà Shaplen vẫn dùng khi nói chuyện với bạn bè mình ở đại sứ quán.
Bất kể ông có làm việc cho CIA hay không, người ta vẫn biết rằng Shaplen đã dành sự phục vụ của mình cho chính phủ Mỹ ít nhất một lần, khi ông làm nhiệm vụ chuyển tải những thông tin liên lạc bí mật giữa Washington và Hà Nội cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Đến giữa năm 1966, chính phủ Mỹ bắt đầu lo sợ về số phận những phi công Mỹ và những tù binh khác bị giam giữ tại Hà Nội. Bị bắt giữ trong một cuộc chiến tranh không tuyên bố chính thức, những người này bị coi là tội phạm chiến tranh - mà như bây giờ được gọi là “binh sĩ thù địch”. Lo lắng muốn đảm bảo những người này được các Công ước Geneva bảo vệ và không bị tra tấn với mục đích “nhận tội” hoặc bị đưa ra xét xử và hành hình, đại sứ lưu động của Mỹ Averell Harriman đề nghị Shaplen liên lạc với Bắc Việt Nam.
Shaplen được phái từ New York đi Phnom Penh, tại đây ông được hướng dẫn tìm gặp người quen cũ của mình là Wilfred Burchett. Là một người có cảm tình với cộng sản đồng thời là một nhà báo với nhiều bài viết từ những “vùng giải phóng” của Việt Nam, Burchett được xem như con đường nhanh nhất để tới Hà Nội. Shaplen viết một bức thư trình bày chi tiết những mối lo ngại của Mỹ và đề nghị một thỏa thuận, hoặc là hàng y tế hoặc trao đổi tù binh, cho việc trả tự do cho các phi công Mỹ. Hai ngày sau khi Burchett chuyển bức thư của Shaplen cho đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở Phnom Penh, ông nhận được thư trả lời. Gọi các tù binh Mỹ là “những kiều dân tội phạm” (“criminal nationals”), bức thư tuyên bố, không đề cập thời gian cụ thể, rằng các “tù binh [sẽ] được trả về với gia đình mình.” (Phải bảy năm nữa trôi qua điều này mới xảy ra.) Shaplen xin phép Harriman để viết một bức thư khác cảm ơn những người cộng sản đã “thông cảm với khía cạnh nhân đạo của vấn đề”. Ông cũng muốn nói rõ rằng lá thư đầu tiên của mình, mặc dù được gửi đi từ một “cá nhân riêng lẻ”, được viết theo sự ủy quyền của chính phủ Mỹ.
“Chúng tôi cung cấp cho ông ấy những buổi giao ban thông báo chiến lược rất tốt,” Frank Snepp nói về mức độ tiếp cận thông tin mà Shaplen có được tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. “Liệu một số thông tin tình báo đó có tìm đường đến với Phạm Xuân Ẩn không? Chắc chắn rồi. Phạm Xuân Ẩn có thể tiếp cận thông tin tình báo chiến lược. Hiển nhiên là thế. Chắc chắn đây là những thông tin sống còn để gửi ra Bắc. Phạm Xuân Ẩn có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người cộng sản trong việc khẳng định lại những thông tin mà họ cũng nhận được từ các nguồn khác. Anh ta cũng thu lượm thông tin từ mạng lưới các điệp viên hoạt động tại những trung tâm thẩm vấn. Anh ta biết những cán bộ cộng sản mà chúng ta bắt được và họ đã khai những gì. Người này có giá trị phải ngang với số vàng đúng bằng trọng lượng của anh ta.”
Shaplen và Phạm Xuân Ẩn dành nhiều giờ ngồi rịt cùng nhau trong phòng khách sạn của Shaplen trao đổi về tình hình chính trị Việt Nam và diễn biến cuộc chiến, rồi Shaplen thậm chí còn viết về Phạm Xuân Ẩn trong một bài báo trên tờ The
New Yorker với nhan đề “Chúng tôi vẫn luôn sống sót”, đăng năm 1972. Phạm Xuân Ẩn “có lẽ là nhà báo Việt Nam làm việc chăm chỉ và được kính trọng nhất trong thành phố”, Shaplen viết, ông bắt đầu bài báo của mình với một đoạn dài tả quán cà phê Givral. “Mọi người đều đến Givral không chỉ để trao đổi thông tin mà còn để chơi trò đối thoại khôn ngoan mà người Việt Nam vốn chơi giỏi hơn người Mỹ rất nhiều - thử thách lẫn nhau, nắn gân lẫn nhau, cố gắng trêu đùa người này để gièm pha người khác. Các thành viên nội các thỉnh thoảng lại ghé qua, cũng như những quan chức quân sự và dân sự cao cấp; Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước kia cũng thường đến, hồi ông ta còn là một sĩ quan quân đội.” Shaplen miêu tả sự trao đổi thông tin ở Givral được thực hiện theo một nghi lễ trang trọng như thế nào. “Tại Givral có ba ‘lần phát sóng’ hàng ngày - một lần vào khoảng mười giờ sáng, một lần vào giữa trưa, và một lần trong khoảng giữa năm giờ đến bảy giờ, sau những buổi giao ban báo chí hàng ngày diễn ra tại Trung tâm Dân vụ, phía bên kia đường. Chương trình buổi sáng chủ yếu xoay quanh những tin đồn và báo cáo làm ăn, còn hai phiên buổi chiều là về những vấn đề quân sự và chính trị.”
Mặc dù Phạm Xuân Ẩn thường xuyên ghé vào “đài phát thanh Givral”, như tên gọi của quán cà phê, suốt ngày, ông cũng khai thác một mạng lưới rộng lớn những mối quan hệ trải rộng khắp những khu vực khác của thành phố. “Nếu đài phát thanh Catinat là nơi trung tâm và công khai nhất cho việc tán phát thông tin, cả đúng lẫn sai, thì có những nơi khác, cách không xa, cũng quan trọng, mỗi nơi một kiểu,” Shaplen viết. Đầu tiên Phạm Xuân Ẩn cũng đưa Shaplen tới chợ chim thú Hàm Nghi gần Đại sứ quán Mỹ cũ. “Cái chợ này trải rộng khoảng một nửa khu phố, bán khỉ, cầy, báo gấm, thỏ, chuột lang, đủ các loại chó, mèo, cá và chim - trong các loại chim có cả chim cu cu châu Phi, bồ câu Pháp và Mozambique, cú, yểng, vẹt, chiền chiện, chim trĩ, và hoàng yến. Với những người thích các phương thuốc dân gian cổ xưa, thì sẵn có dơi; một phương thức rất được ưa chuộng để chữa lao là cắt cổ một con dơi và uống tiết của nó hòa lẫn với rượu đế.”
Những tin tức tình báo quân sự sẵn có tại chợ chim đến từ việc nghiên cứu nguồn cung cấp dế. Như Phạm Xuân Ẩn giải thích với một phóng viên của tờ Le Monde: “Nếu ở chợ không có con dế nào thì tức là khu vực cung cấp chúng đã bị Việt Cộng chiếm mất, và nếu dế xuất hiện trở lại trong chợ thì là bởi vì quân chính phủ (ngụy) đã chiếm lại được những khu vực này. Điều tương tự cũng đúng với các loại chim hiếm.”
Shaplen tiếp tục đi theo Phạm Xuân Ẩn với những thói quen hằng ngày của ông. “Bên cạnh đường Hàm Nghi là một con đường có tên là Nguyễn Công Trứ, nơi mỗi buổi sáng vào khoảng mười giờ các thương nhân Hoa kiều hoặc đại lý người Việt Nam của họ lại tụ tập trong hai ba quán cà phê để cùng xác định xem tỷ giá hối đoái chợ đen của đồng tiền Nam Việt Nam sẽ là bao nhiêu và cũng để ấn định giá gạo, thịt lợn, và các hàng nhu yếu phẩm khác. Trong nửa giờ sau khi quyết định của họ được đưa ra, tin tức đã đến hai chợ hàng hóa chính tại Sài Gòn và Chợ Lớn và tới thị trường đô la chợ đen. Cung cách làm ăn do Hoa kiều chi phối này có từ thời Pháp thuộc, người Pháp cũng hoạt động ở những chỗ đó thông qua các nhà tư sản mại bản của mình.”
Sau việc ấn định giá cả hằng ngày là một chuyến tham quan thị trường chợ đen của Sài Gòn. Tại đây Phạm Xuân Ẩn ghi chép bất kỳ sự thay đổi nào trong mớ hổ lốn đồ ăn cắp hoặc để ý đến giá cả hàng hóa. “Ở cùng khu phố, và trải dài dọc theo một phần phố Hàm Nghi, là trung tâm của hoạt động giao thương chợ đen vỉa hè các loại hàng hóa Mỹ,” Shaplen viết. “Tại đây, dù thỉnh thoảng vẫn bị cảnh sát truy quét, người ta có thể mua bất kỳ thứ gì sẵn có tại trạm bán hàng của quân đội Mỹ và cơ man các sản phẩm khác của nước ngoài, gồm cả máy ảnh và những bộ dàn hi-fi của
Nhật Bản. Vì những cuộc bố ráp của cảnh sát đã trở nên thường xuyên hơn trong năm ngoái hoặc áng chừng thế, những mặt hàng đắt tiền hơn đã không còn được trưng ra, nhưng có thể mua được chúng theo kiểu nhận hàng mới trả tiền; tức là, một phụ nữ Việt Nam đứng quầy sẽ hỏi khách xem anh ta có muốn một chiếc máy ảnh như thế này như thế kia không, và nếu quan tâm anh ta sẽ đưa cho bà ta địa chỉ của mình và sáng hôm sau bà ta sẽ đến, tay cầm máy ảnh và ra giá. Hầu như tất cả các hàng hóa đều là hàng xịn hoàn toàn - chỉ trừ có rượu whiskey, thứ thường xuyên bị pha lẫn với rượu đế. Sự tăng giá đối với các hàng hóa thị trường chợ đen dao động trong khoảng từ 40-500%, nhưng một số thứ vẫn rẻ hơn theo tỷ giá đô la thị trường chợ đen (vào khoảng 450 đồng ăn một đô la) hơn là mua tại trạm bán hàng quân đội. Tất cả phụ thuộc vào quy luật cung cầu, và vào khả năng mặc cả của từng người. Một số những thứ được bán đã bị xoáy khỏi nơi bốc hàng trên đường tới trạm bán hàng quân đội, và bình thường thì như thế giá cả sẽ ở mức thấp, nhưng thông thường thì những thứ như một két bia, có giá bán khoảng ba đô la tại trạm bán hàng quân đội, sẽ có giá từ sáu đến tám đô la trên thị trường chợ đen. Một cây thuốc lá Mỹ, có giá 1,7 đô la tại trạm bán hàng quân đội, sẽ có giá là bốn đô la trên thị trường chợ đen.”
Đến lúc này đã thấy đoi đói, Phạm Xuân Ẩn và Shaplen nghỉ ăn trưa. “Cũng quanh khu này có một số nhà hàng, mỗi nơi phục vụ một đối tượng khách hàng khác nhau, và Phạm Xuân Ẩn đưa tôi tới những nơi này trong hành trình đi tìm kiếm những mẩu thông tin của anh ta. The Victory, một nhà hàng rộng thênh thang trên đường Hàm Nghi chuyên về đồ ăn Trung Hoa, có không khí buổi sáng giống như không khí buổi chiều ở Givral, nhưng không đông đúc bằng. Các chính trị gia, nhà báo, và các thương nhân quan trọng trao đổi thông tin tại đó vào mỗi buổi sáng bên tách trà hoặc bát cháo bát mì Trung Hoa. Nhà hàng Đô Thành gần đó giống một nơi trung lưu hơn, dành cho những quan chức cấp dưới một chút, những sĩ quan cấp tác chiến, và đội ngũ ngoại giao hạng hai. Phạm Xuân Ẩn, vốn là một ký giả làm việc cho Mỹ nhưng cũng được người Việt Nam tin cậy, có thói quen ghé thăm ít nhất là năm chỗ như vậy mỗi buổi sáng trước khi ông đến Givral, rồi sau đó, sau bữa trưa, ông tới các buổi giao ban chính thức của Mỹ và Việt Nam rồi lại quay về Givral. ‘Phải mất nhiều thời gian mới xây dựng được các nguồn tin của mình,’ anh ta nói. ‘Anh phải tỏ ra thẳng thắn và chân thành, và anh phải bảo vệ nguồn tin của mình. Anh cũng phải làm giúp việc này việc kia cho họ - cho họ biết những gì họ muốn biết, mời họ ăn trưa ăn tối, biếu họ quà Tết. Sài Gòn vận hành theo cung cách của những giới xã hội này. Nếu anh không đủ tư cách đối với một giới nào đó, anh sẽ không được chấp nhận trong nhà hàng của giới đó. Người ta cứ thế phớt lờ anh. Nhà báo - những người giỏi - là những người thông tin hiệu quả nhất, vì họ ở vị trí có thể nghe thấy nhiều điều từ rất nhiều nguồn khác nhau. Toàn bộ điều đó giống như một trường học. Anh có thể tốt nghiệp từ giới này sang giới kia, cũng như anh chuyển từ lớp này lên lớp khác, một khi anh vượt qua những kỳ thi của mình.’“
Trong cuốn sách Chiến thắng cay đắng (Bitter Victory) của mình, mà ông viết sau khi đi xuyên Việt Nam và Campuchia năm 1984, Shaplen gọi Phạm Xuân Ẩn “chắc chắn là một trong những người thạo tin nhất trong thành phố… Trong những lần trò chuyện của chúng tôi qua nhiều năm, thường kéo dài đến hàng giờ, tôi phát hiện ra rằng những sự thật và quan điểm mà anh ta ấp ủ liên quan đến cộng sản, chính phủ, và rất nhiều cá nhân cũng như các nhóm đang tranh giành nhau - gồm cả những tín đồ Phật giáo và Công giáo phản đối cả hai phe trong cuộc chiến - luôn chính xác hơn bất kỳ thứ gì tôi có thể thu thập được từ những nguồn khác, thậm chí cả từ Đại sứ quán Mỹ, nơi biết ít đến ngỡ ngàng những gì đang diễn ra giữa những người Việt Nam vốn không theo một khuôn phép nào cả”.
“Phạm Xuân Ẩn là một trong những điệp viên hai mang vĩ đại của thế kỷ 20, có thể là của mọi thời đại,” theo lời của Peter Shaplen, con trai của Robert, người trở thành nhà báo và nhà sản xuất cho ABC News. “Ông được tiếp cận tất cả các nguồn tin cao cấp ở Việt Nam. Đất nước này được cấu thành từ vô số những mối quan hệ kỳ lạ, mờ mịt, và Phạm Xuân Ẩn ở chính giữa tất cả những điều đó.”
Peter giải thích cho tôi về việc cha của ông, giống như Phạm Xuân Ẩn, có nhiều quan hệ như thế nào. “Khi tới Washington, ông sẽ gặp bạn bè ở CIA. Những bạn bè khác ở Hồng Kông cũng là người của Cục[4]. Mọi người nói: ‘Ồ, thế thì chắc chắn ông ấy làm việc cho họ rồi,’ nhưng tôi không nghĩ là như vậy. Ông có trao đổi thông tin, ông thở bằng nó, ông sống bằng nó. Chắc chắn Cục sẽ cực kỳ quan tâm đến ông, nhưng liệu ông có phải là một điệp viên không? Tôi không nghĩ vậy. Vì một lý do, ông không bao giờ giàu có cả. Những khoản tiền mà ông có đều từ tờ The
New Yorker.”
Peter Shaplen còn một lý do khác để nghi ngờ việc cha mình là một điệp viên. “Bob không giữ nổi một bí mật. “Nói với Western Union[5] thì cũng như nói với Shaplen,” một trong những bà vợ cũ của ông nói. Ông sống rất phóng khoáng và rộng rãi. Ông là một người to lớn, cao 1,9 mét, nặng hơn 90 kilôgam. Ông là một người đẹp trai với mái tóc đen, thường ngồi xuống với chiếc máy chữ của mình lúc 7 giờ sáng, và làm việc qua bữa trưa trước khi ra ngoài vào buổi chiều để chơi một séc tennis. Ông có một giọng nam trung oang oang, oai vệ, trở nên khàn khàn vì hút xì gà nhỏ vào ban ngày và xì gà lớn vào buổi tối. Ông thích những ly rượu Scotch, xì gà và những người đàn bà của mình. Ông yêu cuộc sống của một phóng viên thường trú nước ngoài. Ông thích thú được người ta chú ý và thích được là trung tâm của mọi việc. Chúng ta là những kẻ ngồi lê đôi mách,” Peter Shaplen nói. “Nhà báo chúng ta là vậy, những kẻ ngồi lê đôi mách.”
Đầu những năm 1970, khi Peter đang bắt đầu sự nghiệp báo chí của mình, ông đăng ký phòng ở khách sạn Continental, nơi ông được giới thiệu căn phòng cũ của cha ông. Ngay sau đó ông ngỡ ngàng trước một dòng ùn ùn những người gõ cửa phòng mình - người cầu cạnh, kẻ rửa tiền, nhà báo, những cô nàng bướm đêm, và những kẻ buôn chuyện tầm phào khác mà cha ông thích bán. Tin đã lan ra là “Shapah-lain” đã quay lại thành phố, và mọi người cứ đinh ninh Bob đã quay lại. Trước khi Robert Shaplen bị ốm trong một chuyến đến Sài Gòn năm 1988 và được đưa về New York, nơi ông qua đời vì ung thư tuyến giáp, ông đang viết câu chuyện cuối cùng từ Việt Nam: một bài báo về Phạm Xuân Ẩn.
Theo con trai ông, Shaplen cảm thấy “tan nát” và “bị hắt hủi” khi ông đến thăm Việt Nam đầu những năm 1980 và được thông báo là Phạm Xuân Ẩn không muốn gặp mình. (Phạm Xuân Ẩn kể với tôi là ông cũng cảm thấy tan nát khi biết rằng chính phủ, không hề thông báo gì với ông, đã ngăn chặn cuộc gặp giữa hai người.
Ông vội vàng sang Phnom Penh để đuổi theo Shaplen trước khi ông này rời Đông Nam Á nhưng đã đến quá muộn). Trong một bức thư gửi Edward Lansdale viết năm 1982, Shaplen có đề cập việc cựu phóng viên tạp chí Time Stanley Karnow khẳng định rằng Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên cộng sản. Lansdale trả lời, với lời khuyên rằng bất kể điều gì Karnow phản ánh về Việt Nam, cũng nên “được chấm thêm với một hạt muối”. Đến tận khi qua đời năm 1987, Lansdale vẫn nhất định cho rằng Phạm Xuân Ẩn có chăng cũng chỉ là một nghệ sĩ nhanh nhạy đã kịp ngả sang hàng ngũ của phe chiến thắng vào phút cuối cùng. Cuối cùng, chỉ đến khi được phép gặp Phạm Xuân Ẩn năm 1988, Shaplen mới được trực tiếp đọc những gì viết về sự nghiệp điệp viên lâu dài của Phạm Xuân Ẩn. Đó không phải là một cuộc đoàn viên hạnh phúc, ít nhất là đối với Shaplen, người cảm thấy đau khổ và bị phản bội. “Cha tôi đã khóc khi ông kể lại với tôi câu chuyện này,” Peter nói.
Bản chất mối quan hệ ban đầu giữa Shaplen và Phạm Xuân Ẩn được ghi lại trong một bức ảnh do Richard Avedon chụp năm 1971 và được in trong cuốn sách Những năm sáu mươi của ông. Vốn được biết tới trên cương vị một nhiếp ảnh gia thời trang hơn là một phóng viên chiến tranh, Avedon bay tới Việt Nam bằng tiền túi của mình vào tháng 4 năm 1971. Tháng trước đó, trung úy William Calley đã bị buộc tội giết 22 dân thường ở Mỹ Lai và lĩnh án tù chung thân. (Tổng cộng có hơn 500 dân thường bị giết tại Mỹ Lai. Calley được trả tự do và tha tội sau ba năm giam giữ, chủ yếu là giam giữ tại nhà). Khi tới Sài Gòn, Avedon dựng một studio trong khách sạn Continental và bắt đầu đăng ký đợt chụp ảnh kéo dài mười ngày với các nạn nhân bom napalm, tướng lĩnh Mỹ, gái bar, và binh lính.
Shaplen đến studio tạm bợ của Avedon cùng với bốn đồng nghiệp người Việt Nam. Trong bức ảnh được Avedon xuất bản, cánh nhà báo diện kiểu trang phục quen thuộc của mình gồm áo trắng và quần đen. Bút và kính được gài trong túi áo. Ở giữa bức ảnh, một Shaplen đang thích thú ghé người sát lại, bàn tay phải của ông khum lại đưa lên tai, một nụ cười phảng phất trên môi, trong khi Phạm Xuân Ẩn vừa cười vừa thì thầm gì đó vào tai ông. Đứng bên cạnh Phạm Xuân Ẩn là Cao Giao, trông rất đạo mạo với một bộ râu chòm kiểu Trung Quốc và kính gọng bạc. Nguyễn
Đình Tú, phóng viên tờ Chính Luận của Sài Gòn, cầm tẩu trên tay, và Nguyễn Hưng Vượng, trợ lý của Shaplen, mỉm cười nham nhở từ bộ mặt bủng beo của một con nghiện thuốc phiện.
Trong một trong những chuyến đi đến Việt Nam tôi tặng Phạm Xuân Ẩn một cuốn sách của Avedon. Chúng tôi cùng xem bức ảnh chụp ông và Shaplen, và sau đó Phạm Xuân Ẩn đứng lên tìm kiếm trong một ngăn tủ, rồi lấy ra một bức ảnh đen trắng nhỏ, một bức ảnh khác trong buổi chụp ngày hôm đó, do Avedon tặng cho ông. Khi tôi đề nghị Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi về bức ảnh được xuất bản, ông miêu tả 27 đảng viên Đảng Cộng sản trong gia đình của Cao Giao và chuyện Nguyễn Hưng Vượng làm việc cho CIA, với kết cục là ông ta bị bắt năm 1978 và bị tù đày hơn bốn năm trong nhà tù Chí Hòa của Sài Gòn. “Shaplen lấy tất cả thông tin của ông ấy từ Ba chàng ngự lâm pháo thủ,” Phạm Xuân Ẩn nói, đề cập đến chính mình, Cao Giao và Vượng. “Ông ấy sử dụng tất cả ba người chúng tôi vì chúng tôi bao quát mọi khía cạnh sẵn có. Thông tin đổ dồn về đài phát thanh Catinat và sau đó được chuyển tới Bob cho những bài báo của ông ấy trên tờ The New Yorker.”
Sự thật trong lời kể của Phạm Xuân Ẩn hiện ra khi người ta nghiên cứu những cuốn sổ ghi chép của Shaplen. Chúng cho thấy hết trang này đến trang khác những lần trò chuyện với Phạm Xuân Ẩn được Shaplen ghi chép lại tỉ mỉ, biên tập lại rồi đăng trên The New Yorker như là một phần những phân tích của Shaplen về những gì đang diễn ra tại Việt Nam. Như thế không có gì là bất bình thường cả. Shaplen có một nguồn tin tốt, và ông khai thác nó.
Sau chiến tranh, Frank Snepp lan truyền một lời cáo buộc rằng những bài báo của Shaplen bị CIA “sắp đặt” hoặc giật dây. Ông ta khẳng định rằng Shaplen là một trong những nhà báo “được ưu ái” của Cục. “Chúng tôi sẽ để lộ tin ra với họ trên cơ sở chọn lọc, giành lấy sự tin tưởng và tín nhiệm của họ, và sau đó chúng tôi sắp đặt những bài báo của họ thông qua những thông tin rò rỉ tiếp theo bởi vì khi đó họ đã tin tưởng chúng tôi rồi.”
Trong một tuyên bố được đưa ra với tờ New York Times tại Hồng Kông, Shaplen gọi lời buộc tội của Snepp là bậy bạ. “Tôi không bao giờ khờ khạo tin ngay vào những gì mà bất kỳ ai trong Cục, kể cả Snepp, kể với tôi. Khi tôi sử dụng những thông tin của Cục - mà tôi lược bỏ hoặc cắt bớt phần lớn - bao giờ tôi cũng kiểm tra lại những gì tôi có được bằng các nguồn trong và ngoài nước khác.” Bức ảnh của Avedon chụp Shaplen đang nghiêng tai về nguồn tin tốt nhất trong số những nguồn tin đó.
Tội ác hoàn hảo
Năm 1963 Henry Luce, người sở hữu và là chủ bút tạp chí Time, gọi điện cho Frank McCulloch, khi đó là biên tập viên điều hành của tờ Los Angeles Times, và đề nghị ông ta tới Việt Nam “giải quyết mớ hỗn độn mà chúng ta đang mắc kẹt bên đó”. McCulloch tưởng Luce đang nói về cuộc chiến tranh, nhưng thật ra ông ta đang nói về văn phòng Time-Life, nơi tinh thần làm việc đã rớt xuống thảm hại sau khi trưởng đại diện từ chức để phản đối. McCulloch gặp Phạm Xuân Ẩn, khi đó là một cộng tác viên bán thời gian, trong chuyến thăm đầu tiên của ông tới văn phòng của
Time tại Sài Gòn vào tháng 2 năm 1964. Một năm sau ông thuê Phạm Xuân Ẩn với mức lương 75 đô la một tuần để làm việc chính thức trên cương vị phóng viên thường trú bản địa. “Có hai điều gây ấn tượng đối với tôi về Phạm Xuân Ẩn,” McCulloch nói với nhà làm phim tài liệu David Felsen trong một cuộc phỏng vấn năm 2006. “Anh ta hiểu báo chí Mỹ, và anh ta vô cùng thông minh. Vì có rất nhiều mối quan hệ nên anh ta hiểu rất rõ đời sống chính trị Việt Nam, và vào năm 1964 khi lần đầu tiên tôi đến Việt Nam thì không may chính trị lại là chủ đề đáng chú ý hơn cả bản thân cuộc chiến tranh. Những vụ đảo chính diễn ra rồi kết thúc nhanh đến nỗi nếu muốn đưa tin về Việt Nam anh phải có hiểu biết về người Việt Nam, và đó là những gì Phạm Xuân Ẩn mang đến.”
Khi McCulloch, một cựu trung sĩ thủy quân lục chiến 43 tuổi, đến Sài Gòn lần đầu tiên, văn phòng đại diện của Time-Life mới có hai nhân viên mất tinh thần vẫn còn bức xúc về việc Charley Mohr, trưởng đại diện, bị buộc phải từ chức trong một vụ bất đồng với các biên tập viên ở New York. Đến khi McCulloch rời Việt Nam bốn năm sau đó, văn phòng Sài Gòn có đến 25 nhân viên, bao gồm một số phóng viên sừng sỏ nhất của cuộc chiến. Họ gửi về 50.000 từ mỗi tháng qua một đường dây telex trực tiếp tới New York, và họ thu thập cơ man nào là những thông tin về mọi khía cạnh của cuộc xung đột. “Phạm Xuân Ẩn dành rất nhiều thời gian trong văn phòng, và tất cả những gì anh ta phải làm là lắng nghe,” McCulloch nói. “Anh ta được phép tiếp cận tất cả những gì văn phòng đại diện gửi về làm nguồn tin, và tôi có thể nghĩ ra rất nhiều ví dụ về những thông tin chính xác, cụ thể mà Phạm Xuân
Ẩn đã có thể khai thác rồi báo cáo cho cấp trên của mình.”
McCulloch dẫn ra một ví dụ là việc ông là nhà báo đầu tiên biết được rằng nước Mỹ sẽ đưa các lực lượng bộ binh tới Việt Nam, ba tháng trước khi sự việc xảy ra. Một người bạn trong quân đội đã cung cấp cho ông thông tin này và thậm chí còn cả con số cụ thể, tiết lộ rằng nước Mỹ có kế hoạch triển khai 545.000 binh sĩ tại Nam Việt Nam trong vòng một năm rưỡi sau đó. “Tôi tin chắc đây là những con số vô cùng giá trị mà cộng sản có được,” McCulloch nói.
“Tôi sẽ không bao giờ làm như vậy,” Tổng thống Lyndon Johnson nói dối với biên tập viên của tạp chí Time, khi được yêu cầu xác nhận thông tin của McCulloch; sau đó tờ tạp chí đã bỏ bài viết này. Đây không phải lần duy nhất Phạm Xuân Ẩn vớ được tin sốt dẻo từ Time rất lâu trước những độc giả của tạp chí này tại Mỹ.
McCulloch là một phóng viên cứng cỏi, ông tin rằng nhiệm vụ của một nhà báo là “làm cho kẻ sung sướng phải khổ sở và kẻ khổ sở được sung sướng”. Là con trai một chủ trang trại gia súc tại bang Nevada, ông từng có vài năm cố trở thành một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp trước khi ông bắt đầu phụ trách các tin tức hình sự cho tờ Reno Evening Gazette. Khi ông tung ra những bài viết quan trọng về việc bọn maphia kiểm soát ngành cờ bạc tại Nevada như thế nào, chúng đã đe dọa sẽ giết ông. McCulloch coi đây là lời thúc giục ông đánh máy nhanh hơn. Ông tung ra những bài viết quan trọng khác về tình trạng phân biệt chủng tộc của người da trắng ở miền
Nam, tham nhũng trong Teamster’s Union (Công đoàn của những người lái xe tải), và chủ nghĩa bè phái của Đảng Cộng hòa ở Los Angeles. Câu chuyện về chủ nghĩa bè phái thực sự là một bài phóng sự vô cùng dũng cảm, nếu biết rằng McCulloch là biên tập viên điều hành của tờ Los Angeles Times. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng hòa, và phóng viên chuyên trách về tòa thị chính của tờ này là một chuyên gia vận động hành lang có tên tuổi của Đảng Cộng hòa. McCulloch tiếp tục biên tập những tờ báo khác, trong đó có tờ Sacramento Bee của gia đình McClatchy. Tại mỗi tờ báo số trang dành cho những phóng sự điều tra đều tăng lên, và bài viết trở nên cứng rắn hơn.
McCulloch đầu hói được những người Việt Nam gọi là “ông Phật” khi ông đi về những vùng nông thôn. “Ông ấy là một người rất đáng sợ, phiên bản báo chí của một trung sĩ huấn luyện trong thủy quân lục chiến,” Morley Safer nói, trong một bài phỏng vấn đăng trên tờ American Journalism Review. “Nhiều lúc ông ấy có thể khiến các cộng sự sợ phát khiếp với cái đầu hình viên đạn của mình. Ông ấy đòi hỏi họ phải viết tuyệt đối chính xác, nhưng đồng thời ông ấy lại đặc biệt thông cảm với những vấn đề mà phóng viên của mình phải đối mặt. Bằng cái kiểu cộc cằn của mình, ông ấy là người rất tình cảm. Ông ấy là người rất dễ mềm lòng.”
Một hôm, khi họ đang định đi ra ngoài ăn trưa cùng nhau, McCulloch nhận thấy Phạm Xuân Ẩn đang ngồi bên máy chữ cố gõ cho xong một bài đến hạn nộp. “Về cái gì vậy?” McCulloch hỏi. Phạm Xuân Ẩn nói với ông ta. “Xin lỗi nhé,”
McCulloch nói và kéo ghế lại bên bàn của Phạm Xuân Ẩn. “Tôi sẽ lo từ chỗ này.”
“Ông ấy bắt đầu đánh máy với tốc độ một dặm một phút,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Ông ấy cứ thế đánh ratatatatatat, như một khẩu súng máy vậy, và rồi ông ấy kéo xoẹt tờ giấy ra khỏi máy chữ và đưa nó cho nhân viên điện tín. ‘Xong rồi đây,’ ông ấy nói và đứng lên khỏi bàn của tôi. ‘Giờ thì chúng ta đi ăn trưa.’”
Trong bốn năm ở Việt Nam, McCulloch biến phòng 6 trong khách sạn Continental thành một văn phòng đại diện chính lúc nào cũng nhộn nhịp phóng viên, nhiếp ảnh gia, các nhân viên hợp đồng, thư ký, nhân viên điện tín, tài xế, phiên dịch, và những biên tập viên đi công tác từ New York sang, những người muốn được thấy tình hình thực tế trước khi ăn nhậu trong những nhà hàng sang trọng nhất Sài Gòn. McCulloch chuyển văn phòng đại diện tới một biệt thự ở số 7 đường Hàn Thuyên, đối diện với công viên phía trước Dinh Độc Lập. Đi bộ một đoạn ngắn xuống cuối phố là Đại sứ quán Mỹ.
Dưới thời McCulloch, văn phòng đại diện hình thành một nhịp điệu đặc biệt. Cánh phóng viên tụ tập từ sáng sớm thứ Hai để trình bày những ý tưởng định viết và tranh luận về những gì cần được đề cập trong số tạp chí của tuần sau đó. Phân công công việc được chuyển lại từ các biên tập viên ở New York vào thứ Ba, và mọi người tản ra thực địa. Đến cuối ngày thứ Năm hoặc sáng thứ Sáu họ lại tập trung trong văn phòng, trao đổi những ghi chép và hoàn thành bài viết của mình để đánh điện về New York, nơi tờ tạp chí hoàn thành và đưa ra phát hành vào Chủ nhật. “Tất cả chúng tôi đều tập trung viết bài vào thứ Sáu, thứ Bảy và sang cả Chủ nhật,” McCulloch nói. Tiếp sau những buổi làm việc vào cuối tuần này là màn uống bia thả phanh và ăn những bữa tối ngon lành kiểu Pháp.”
“Phạm Xuân Ẩn không phải là một phần của cánh bù khú trong văn phòng đại diện,” McCulloch nói với David Felsen. “Anh ấy khép mình hơn, hơi tách biệt. Nhưng cả ngày lúc nào anh ấy cũng ở đó. Khi một phóng viên đang viết bài chính trị nào đó, một vụ đảo chính hay đại loại như vậy, điều đầu tiên phóng viên ấy làm là hỏi Phạm Xuân Ẩn bối cảnh của sự kiện là như thế nào, những gì đã xảy ra.”
“Phạm Xuân Ẩn đóng vai trò như một nguồn tin cho các phóng viên khác hơn là vai trò chính mình là một phóng viên,” McCulloch nói. “Nhưng có một quãng thời gian, trong năm 1965 và đầu năm 1966, khi những vụ đảo chính xảy ra - có tất cả 12 vụ đảo chính - thì anh sẽ tìm thấy rất nhiều bài viết của anh ấy trong các hồ sơ lưu trữ của Time Inc.” Phạm Xuân Ẩn cố hết sức không để tên mình xuất hiện trong các hồ sơ này. Một lần, khi anh ấy tỏ ra quá chính xác khi dự báo một vụ đảo chính sắp xảy ra, cảnh sát đã gọi anh ấy lên thẩm vấn. Sau lần đó, anh ấy cố tìm cách ẩn ra phía sau. Anh ấy là nhà phân tích chính trị và chuyên gia văn hóa Việt Nam của Time, nhưng hiếm khi anh ấy bộc lộ mình như một người viết và đăng bài viết của chính mình. Anh ấy nói chuyện. Anh ấy tư vấn. Anh ấy đi khắp nơi trên cương vị phóng viên của Time, nhưng anh ấy để cho các đồng nghiệp của mình viết những bức điện có thể khiến anh ấy gặp rắc rối nếu bị rò rỉ vào tay các cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng hòa.
“Một giá trị khác mà Phạm Xuân Ẩn có trên cương vị phóng viên là sự am hiểu sâu sắc về chính quyền Nam Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tham nhũng trong đó,” McCulloch nói. “Anh ấy biết những viên tướng nào thích kiểu gì. Vợ của một viên tướng điều hành một mạng lưới mại dâm trải rộng khắp năm sáu tỉnh. Đó chắc chắn là một cách kiếm tiền cực kỳ béo bở.” Phạm Xuân Ẩn “am hiểu ngọn ngành” những vụ bê bối này, vốn là nét đặc trưng của những quan chức cầm quyền tại Nam Việt Nam cho đến khi người cuối cùng trong số họ, tướng Nguyễn Văn Thiệu, bỏ trốn khỏi đất nước với nhiều va li chất đầy những thỏi vàng. Time cũng không bao giờ đăng những vấn đề này.
Đến thời điểm này trong sự nghiệp của mình, Phạm Xuân Ẩn đã quá am hiểu những quy tắc của nghề báo chí Mỹ, cách đặt bản thân mình ra ngoài câu chuyện và viết kiểu văn trung dung vốn được cho là khách quan. “Điều đó khiến anh ấy trở thành một nhân viên cực kỳ có giá trị,” McCulloch nói. “Trong việc đánh giá Phạm Xuân Ẩn là ai và anh ấy đã làm những gì, người ta phải biết rằng anh ấy là một nhà báo hoàn toàn trung thực. Anh ấy không để những nội dung tuyên truyền và quan điểm của cộng sản xâm phạm vào những gì mình phản ánh. Tôi dám chắc rằng trên cương vị một điệp viên anh ấy đã lấy những thông tin giá trị từ văn phòng đại diện, nhưng đây là hai việc hoàn toàn khác nhau. Hầu hết mọi người đều vội vàng kết luận rằng nếu như Phạm Xuân Ẩn không làm việc ở đó, chắc hẳn Time vẫn sẽ tiếp tục
ủng hộ cuộc chiến tranh cho đến khi nó kết thúc. Không hẳn như vậy.”
“Anh ấy đọc cực kỳ nhiều,” McCulloch nói. “Anh ấy hiểu rõ báo chí Mỹ là như thế nào. Anh ấy là một người vô cùng thông minh, một công dân Việt Nam nồng nhiệt”, những phẩm chất khiến ông trở thành “một niềm vui cho những người tiếp xúc với ông.” McCulloch nhớ lại một vài lần ông đến thăm Phạm Xuân Ẩn và gia đình tại nhà của họ gần chợ trung tâm Sài Gòn. “Họ là những con người tuyệt vời, vợ và những cậu con trai của anh ấy.” McCulloch còn nhớ một điều khác nữa trong những chuyến thăm này. “Phạm Xuân Ẩn nuôi hai con chó rất to. Tôi quên mất chúng là giống chó gì rồi, nhưng chúng to lắm. Chúng không dữ lắm, nhưng chúng cũng chẳng sợ gì hết. Rõ ràng là Phạm Xuân Ẩn rất yêu quý cả hai con chó.
Khi tôi ở đó với gia đình anh ấy, lũ chó lúc nào cũng quanh quẩn ở gần, và Phạm Xuân Ẩn muốn chúng như vậy, đó là một lý do nữa giải thích vì sao anh ấy có vẻ Mỹ đến thế.
“Phạm Xuân Ẩn xuất thân từ một gia đình địa chủ giàu có ở vùng châu thổ. Chúng tôi được biết là anh ấy đã mất đất đai vào tay Việt Cộng, và điều đó tạo cho Phạm Xuân Ẩn một vỏ bọc hoàn hảo. Anh ấy có thể và thực sự tỏ ra chống cộng”.
“Anh ta kể cho ông nghe câu chuyện đó à?” David Felsen hỏi McCulloch trong bài phỏng vấn được ghi âm của họ.
“Tôi rất xấu hổ phải nói rằng tôi không nhớ là anh ấy kể với chúng tôi câu chuyện đó hay nó đến từ nơi nào đó khác,” McCulloch nói.
Một lý do khiến Phạm Xuân Ẩn tránh tham gia cái mà McCulloch gọi là “hội bia bọt” gồm các phóng viên Mỹ thường trú tại Sài Gòn là vì ông có hai công việc - công việc ban ngày ở Time và một công việc ban đêm liên quan đến việc chụp ảnh các tài liệu và viết báo cáo tin. Sau khi các con đi ngủ, Phạm Xuân Ẩn biến ngôi nhà hai phòng và buồng tối từ phòng tắm của mình thành một văn phòng đại diện riêng. Trong khi lũ chó gác cửa, ông dùng máy ảnh và bóng đèn được Đảng Cộng sản mua cho mình để làm việc suốt đêm chụp ảnh những tài liệu được những bạn bè trong các cơ quan tình báo và cảnh sát của Việt Nam Cộng hòa nhét cho. Sáng ra, ông ngụy trang những cuộn phim của mình trông giống như những cái nem Ninh Hòa, được làm từ thịt lợn nướng bọc trong bánh tráng, hoặc ông giấu chúng trong bụng những con cá bắt đầu ươn. Cá và nem sẽ được chất vào những cái giỏ trông như đồ đi thắp hương tại một đám tang Phật tử. Khi Phạm Xuân Ẩn rời khỏi nhà và lái xe tới trường đua ngựa, nơi ông đi dạo với con béc giê Đức của mình mỗi buổi sáng, ông sẽ đặt những cuộn nem vào một cái tổ chim bỏ không trên cây cao. Với những món hàng lớn hơn, ông giấu những cuộn phim dưới tấm bia của nơi mà ông giả vờ là mộ của gia tộc. Thỉnh thoảng vợ của Phạm Xuân Ẩn lại bám theo ông từ phía xa. Nếu ông bị bắt bà sẽ báo động cho các giao liên của ông.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Phạm Xuân Ẩn làm việc với Nguyễn Thị Ba, một nữ giao liên có mái tóc búi lại sau gáy. Từ năm 1961 đến năm 1975, bà nhận những báo cáo mật và những cuộn phim của ông. Kiếm sống bằng nghề bán rong đồ chơi và đồ lặt vặt, bà sống xa con cái và thường xuyên bị ốm vì những cơn sốt rét. “Cả ông Ẩn cũng hay bị bệnh… Tôi thương ổng vô cùng,” bà Ba kể với nhà văn Tấn Tú, người là đồng tác giả một trong ba cuốn tiểu sử của Việt Nam viết về Phạm Xuân Ẩn. Trong nhiều năm liền, bà Ba và Phạm Xuân Ẩn là những người duy nhất trong mạng lưới thực sự biết về nhau.
Sử dụng những hộp thư sống, hộp thư chết, giao liên và truyền phát điện đài giấu trong rừng là cách kết nối ông qua Trung ương Cục miền Nam tới tổng hành dinh quân đội ở miền Bắc. Phạm Xuân Ẩn được hỗ trợ bởi hàng chục điệp viên tình báo được chỉ định làm việc thay cho ông. Trong số 45 giao liên chuyên việc nhận những báo cáo của ông từ bà Ba và chuyển chúng ra khỏi Sài Gòn, có đến 27 người đã bị bắt và giết hại. “Có những lần trước khi lên đường làm nhiệm vụ tôi và vợ tôi đã thỏa thuận rằng, trong trường hợp tôi bị bắt, cách tốt nhất là tôi sẽ chết,” Phạm Xuân Ẩn nói với nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải. “Sẽ còn kinh khủng hơn nếu chúng tra tấn tôi để moi những thông tin có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người khác. Nhiều lần còn nguy hiểm đến nỗi, mặc dù tay tôi vẫn vững vàng, nhưng chân tôi run không thể nào kìm nổi. Dù có cố giữ bình tĩnh đến mấy, phản xạ tự động của cơ thể vẫn khiến tôi run lên vì sợ.”
Vào một ngày ẩm ướt của tháng 1 năm 2006, người phiên dịch và tôi đi xe máy ra ngoại thành về phía sân bay phỏng vấn Nguyễn Văn Thương, một trong những giao liên trước kia của Phạm Xuân Ẩn. Trong vùng đất đầy bụi rậm bao quanh đường dẫn ra đường lộ chính, chúng tôi tìm thấy một khu dân cư mới xây dựng đầy những ngôi nhà gạch ba tầng trát vữa. Với không biết bao nhiêu tiền của kiếm được từ sự bùng nổ xây dựng ở Sài Gòn, vẫn chẳng có ai thèm bận tâm đến việc lát đường phố. Một chiếc máy bay phản lực gầm rú phía trên đầu với những ánh đèn hạ cánh đang nhấp nháy. Chúng tôi dừng lại bên chiếc cổng sắt lớn ngay trước nhà ông Thương và nhìn vào bên trong khoảnh sân có hoa sen và một ao cá chép. Sau khi vợ ông Thương đón chúng tôi vào nhà, bà cẩn thận khóa cổng lại sau lưng chúng tôi. Chúng tôi bước lên những bậc tam cấp bằng đá cẩm thạch màu hồng vào một hàng hiên trưng đầy những cây hoa lan nhựa.
Chúng tôi vào phòng khách với sàn gỗ bóng loáng, những chiếc ghế xô pha lớn bọc nỉ, và một chiếc ti vi màn hình lớn, thì thấy ông Thương đang ngồi trên ghế. Ông là một người vạm vỡ, với khuôn mặt vuông vức và lồng ngực lực lưỡng. Nhưng ông chỉ có nửa thân người - nửa phía dưới của ông đã bị cắt bỏ. Kẻ địch bắt đầu cưa bàn chân phải của ông rồi chuyển sang những lần cưa cắt liên tiếp sau đó từ dưới lên. Chân trái của ông Thương đã bị cắt bỏ hoàn toàn. Chân phải bị cắt thành một cục bướu kết thúc ở đầu gối. Sau mỗi lần cắt, ông lại được cho cơ hội để đầu hàng, nhưng cuối cùng ông vẫn khăng khăng rằng mình là một anh nông dân mù chữ đi lang thang khắp vùng nông thôn để trốn quân dịch. Ông Thương ngồi thẳng người lên khi ông kể lại việc ông đã trở thành một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như thế nào.
Ông sinh năm 1938 tại vùng châu thổ sông Mê Công gần biên giới Campuchia. Mẹ ông bị Pháp bắt năm 1947 và qua đời ở Côn Đảo. Cha ông, giao liên của Việt Minh, bị bắt và hy sinh trong tù dưới chế độ của Ngô Đình Diệm. Tiếp nối công việc của cha mình, Nguyễn Văn Thương gia nhập ngành tình báo và bắt đầu chuyển tin tức cho nhiều mạng lưới tình báo khác nhau, gồm cả mạng lưới của Vũ Ngọc Nhạ và Ba Quốc - hai điệp viên cấp cao trong chính phủ miền Nam Việt Nam - và Phạm Xuân Ẩn.
Nguyễn Văn Thương hoạt động ở khâu trung gian giữa những giao liên dân sự đưa tin tức từ Sài Gòn ra vùng ngoại ô và những giao liên vũ trang đưa thông tin vào trong rừng và qua biên giới Campuchia. Đó là một nhiệm vụ nguy hiểm, đòi hỏi ông hết lẩn mình vào những đám đông trong thành phố lại phải bò vào trong bóng tối qua địa đạo Củ Chi. “Tôi là người giỏi nhất,” ông Thương khẳng định một cách điềm nhiên. “Họ giao cho tôi nhiệm vụ chuyển tất cả những tin tức quan trọng từ thành phố ra nông thôn.”
Tháng 11 năm 1962, ông được giao nhiệm vụ chuyển tin tức của Phạm Xuân Ẩn. Vì những lý do an ninh, ông chỉ biết rất hạn chế về việc mình đang làm cho ai, và ông vẫn nhắc tới Phạm Xuân Ẩn bằng nom de guerre (bí danh trong chiến đấu) Hai Trung. Thực ra ông đã gặp Phạm Xuân Ẩn một năm trước đó, khi Phạm Xuân Ẩn được gọi vào trong cứ để giao nhiệm vụ. “Năm 1961, ông Ẩn được gọi vào cứ hai tuần để học,” ông Thương nói. “Tôi nấu ăn cho ổng và thu xếp mọi việc khi ổng ở đó.”
“Hồi đó ông ấy học cái gì?” tôi hỏi. “Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,” ông Thương nói. “Đó là điều mà đảng viên nào cũng phải học.”
Nguyễn Văn Thương đứng đầu một mạng lưới đủ cả nam lẫn nữ, họ gặp nhau ba lần một tuần trong vườn hoa phía trước nhà thờ Công giáo bên cạnh tượng Đức Bà. Sau khi lấy những tin tức được giấu dưới một ghế đá, ông đi theo hướng phía Bắc ra đường 13 vào trong rừng. Ông mang theo một loạt giấy tờ tùy thân. Một cái thì ghi ông là đại úy trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một cái khác thì ghi ông là nông dân. Trong những trường hợp đặc biệt, là kế sách cuối cùng, ông chìa ra một tấm chứng minh thư xác định ông là một sĩ quan cảnh sát mật. “Thỉnh thoảng tôi mang tin của ông Ẩn trực tiếp từ Sài Gòn ra Củ Chi. Những lần khác, chúng được chuyển qua rất nhiều tay,” ông nói với tôi.
Ông Thương thò tay vào một chiếc hộp thiếc, một chiếc hộp trà Lipton cũ, và chìa cho tôi xem một bức ảnh của mình. Trong ảnh là một thanh niên đẹp trai mặc áo len trùm bên ngoài áo sơ mi trắng và quần đen. Đôi mắt giấu sau cặp kính râm, trông ông giống như một trí thức trẻ đang trên đường đi làm. Năm 1969, sau 15 năm hoạt động, ông bị một điệp viên cộng sản đã rời bỏ hàng ngũ sang phía bên kia chỉ điểm. “Nhiều năm sau, sau khi tôi đã ra tù, có người cho tôi biết là những tài liệu tôi mang theo khi đó liên quan đến kế hoạch tấn công Campuchia. Còn một tài liệu khác mang tên của 36 gián điệp đã cài cắm vào bộ máy của đằng mình.”
Một ống của chiếc quần pyjama kẻ sọc nâu mà ông Thương mặc quét lủng lẳng xuống sàn nhà. Ống quần kia được nhét dưới người ông, nhưng lớp vải mỏng đến nỗi tôi có thể nhìn thấy phần thịt cụt từng là chân ông trước kia chuyển động phía dưới. Tôi cố tập trung nhìn vào mắt ông Thương trong khi một chiếc quạt lùa không khí nóng nực vào người chúng tôi và ông kể tiếp câu chuyện của mình. Ông Thương đang đi xe máy trên đường xuống Củ Chi thì một chiếc trực thăng lượn vè vè trên đầu. Tên chỉ điểm “hồi chánh” đang ở trên máy bay, chỉ tay vào ông. Một giọng nói oang oang cất lên qua loa, gọi ông bằng bí danh, trong khi tụi lính dùng thang dây tụt xuống đất. Nguyễn Văn Thương bắn cháy cánh quạt bằng khẩu súng ngắn của mình. Chiếc trực thăng đâm sầm xuống một cánh đồng và nổ tung. Thương giấu tài liệu của mình cùng một nghìn đô la tiền mặt trong một con mương rồi bắt đầu chạy băng qua cánh đồng lúa.
Một tiểu đoàn lính dù săn lùng ông. Ông bị bao vây bởi 400 lính Mỹ và 300 lính Nam Việt Nam. Với 21 viên đạn còn lại, ông tiêu diệt 21 lính địch. Ông nhảy vào một công sự để trốn nhưng rồi lại bị lùa ra bằng khí ngạt và bị bắt sống rồi cho lên trực thăng đưa về một căn cứ quân sự của Mỹ. Tại đây ông phải đối mặt với cám dỗ. “Một đứa con gái đẹp đến phục vụ tôi. Nó mời tôi tham gia chương trình ‘chiêu hồi’. Thêm những đứa con gái xinh đẹp khác đến, thủ thỉ, cố tìm cách thuyết phục tôi khai nhận tên tuổi của mình. Một tên đại tá Mỹ bắt đầu tra khảo tôi bằng tiếng Việt. Tôi khai với hắn tôi là một nông dân, nhưng chúng kiểm tra bàn chân để xem tôi có đi dép cao su không. Chúng thấy là tôi toàn đi giày. Chúng kiểm tra cả tay tôi. Tay tôi không có vết chai của một người làm ruộng.”
Viên đại tá hứa hẹn cho Nguyễn Văn Thương một trăm nghìn đô la và một biệt thự lộng lẫy nếu ông chịu khai ra đồng đội mình và đứng về phía Mỹ. Họ sẽ phong cho ông quân hàm trung tá. Họ sẽ cho ông một chiếc Mercedes và rất nhiều gái. Trong khi ông Thương kể lại những gì xảy ra tiếp theo, ngôi nhà ngập tràn mùi thức ăn của bữa trưa từ trong bếp. Bầu không khí vốn đã ẩm ướt đặc quánh lại với mùi hành tỏi. Bà vợ ông Thương ra mở rồi lại đóng cổng trước trong khi các thành viên trong gia đình lũ lượt đi qua phòng khách. Đó là con trai ông Thương đi làm về và hai đứa cháu trai ông cùng một cô cháu gái, cô bé mặc một chiếc áo đồng phục học sinh màu xanh với chiếc khăn quàng đỏ trên cổ.
“Tôi có thể cứu được mình, nhưng tôi chọn cách cứu mạng lưới của tôi,” ông Thương nói. “Thực ra tôi biết tên của nhiều người liên quan trong một số mạng lưới. Điều này trái với những quy định chung của chúng tôi, tức là tôi chỉ được phép biết về một mạng lưới mà thôi, nhưng tôi lại biết nhiều mạng trong số đó. Tôi có thể chỉ cho chúng lần đến tận cùng, cho chúng biết tên của những điệp viên quan trọng nhất làm việc cho cách mạng. Chúng biết tôi là chìa khóa để triệt phá những mạng lưới tình báo của chúng tôi ở miền Nam.”
Thùy Dương, cô gái xinh đẹp nhất trong số những kẻ đến quyến rũ, đến thăm ông một lần cuối cùng, van xin ông đứng về phía Mỹ. Sau khi cự tuyệt, ông bị đẩy sang một căn phòng khác, nơi màn đánh đập bắt đầu. Cuối cùng những kẻ giam giữ đập nát hai bàn chân của ông và bắt đầu cưa chân. Đến đây câu chuyện trở nên hơi mơ hồ, vì những lý do có thể hiểu được, nhưng tôi ngờ rằng nó cũng phải khoác thêm bất kỳ màu sắc nào khác tùy thuộc vào đối tượng thính giả của ông Thương. Trong một số phiên bản, một bác sĩ người Nam Hàn đã cắt chân của ông. Trong những câu chuyện khác, một bác sĩ Nam Việt Nam và trong phiên bản khác nữa thì lại là một bác sĩ người Mỹ. Khi tôi gặng hỏi các chi tiết, ông nói với tôi rằng các bác sĩ Nam Hàn và Mỹ thay phiên nhau cắt chân ông.
“Chúng cắt cụt bàn chân phải của tôi. Tôi ngất đi. Chúng cắt nốt bàn chân trái của tôi. Hai tháng sau chúng lại cắt tiếp. Cứ hai tháng một lần chúng lại cắt thêm một phần cơ thể tôi. Tổng cộng chúng đưa tôi lên bàn và cưa chân tôi sáu lần.” Tên đại tá người Mỹ bảo chúng: ‘Các anh cứ cắt bỏ hết cả người nó đi. Chỉ cần để lại cái lưỡi trong miệng nó là được.’”
Tôi cảm thấy chếnh choáng khi chiếc quạt tiếp tục lùa hơi nóng vào mặt tôi còn ngôi nhà thơm phức mùi cơm và thịt rán. Nguyễn Văn Thương được đưa tới một nhà tù nơi Ba Quốc làm việc. Đây là bí danh của Đặng Trần Đức, một điệp viên tình báo cộng sản cũng làm việc cho bác sĩ Trần Kim Tuyến và mật vụ. Hai người nhận ra nhau nhưng cả hai đều không để lộ danh tính của người kia. Cuối cùng ông Thương bị đày ra Phú Quốc, một trại tù trên đảo giống như Côn Đảo. Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, sau “bốn năm và bốn ngày trong tay kẻ thù”, ông được trả tự do.
“Nhiều năm sau tôi gặp Phạm Xuân Ẩn, và ổng cám ơn tôi,” ông Thương nói. ‘Chắc chắn là anh đã cứu mạng tôi khi giấu những tài liệu đó,’ ổng nói.” Ông Thương lục lọi trong chiếc hộp thiếc của mình rồi lấy ra một bức ảnh khác tại một buổi lễ đón tiếp chính thức của chính phủ. Trong ảnh, ông đang ngồi trên xe lăn tay ôm một bó hoa. Đứng cạnh ông, diện bộ vest màu nâu như bơi quanh bộ khung xương xẩu, là một Phạm Xuân Ẩn đang mỉm cười.
Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi cách ông chuyển tin tức của mình cho “phía bên kia”, theo cách gọi của ông. “Tôi viết báo cáo tin và những phân tích của mình bằng mực vô hình,” ông nói. “Cho một ít gạo vào xoong, rồi đặt lên trên ngọn lửa. Sau một lúc, chất gluten và tinh bột chảy ra. Rồi lấy một cái bút sạch. Tôi dùng thứ mà người Pháp gọi là một cái bút lông chim, bút lông, được làm từ lông ngỗng, mà tôi tỉa tót bằng kéo. Tôi nhúng ngòi bút đã tỉa nhọn vào tinh bột gạo và dùng nó để viết lên thứ mà chúng tôi gọi là giấy xi măng, bởi vì nó có màu nâu vàng đúng như loại giấy dùng để bọc ngoài những bao xi măng. Tôi viết những báo cáo tin của mình trên loại giấy xi măng này, đây là công việc rất khó khăn, vì anh phải viết thật nhanh trước khi mực khô hết. Ngay khi mực khô hết anh không còn nhìn thấy là mình đang viết gì nữa. Anh bị lạc lối ngay giữa bản báo cáo của mình. Đó là lý do tại sao anh phải viết vào ban đêm, dưới một ánh đèn sáng. Anh không thể nào làm công việc này vào ban ngày, khi mọi người đi lại xung quanh. Vì thế tối nào tôi cũng đợi đến lúc nửa đêm, sau khi mọi người đã đi ngủ, mới bắt đầu viết những báo cáo tin của mình.”
“Anh phải đặt ngọn đèn rất sát vào tờ giấy khi viết. Mực bằng tinh bột gạo, khi còn ướt, rất bóng và phản chiếu ánh sáng, nhưng khi nó đã khô đi thì anh không thể nhìn thấy được gì nữa. Nên anh sẽ phải viết rất nhanh, đó là lý do tại sao anh nên học thuộc lòng báo cáo của mình. Anh phải viết liền một mạch, không ngừng lại trong khi đang viết. Khi anh đã viết xong và mực đã khô, kết quả mà anh có là một mẩu giấy trông có vẻ bình thường. Anh dùng nó gói thứ gì đó, mấy cái chả giò hoặc cơm, rồi chuyển nó cho người giao liên của mình để mang vào trong cứ. Cơ sở của chúng tôi ở Phú Hòa Đông cũng không xa lắm.
“Khi báo cáo được chuyển đến, anh chỉ cần pha một loại dung dịch gồm nước, i ốt và cồn 100%. Anh dùng một miếng bông để phết dung dịch đó lên tài liệu. Dung dịch phải thật loãng với một chút i ốt thôi, không được quá đặc. Một chai i ốt nhỏ và một lượng nhỏ cồn cũng đủ dùng trong một thời gian dài. Anh có thể mua chúng ở bất kỳ hiệu thuốc nào với vài đồng bạc. Anh thấm ướt miếng bông rồi phết nó lên tờ giấy. I ốt làm biến màu tinh bột gạo, và đột nhiên những dòng chữ hiện lên. Anh đọc báo cáo rồi đốt tờ giấy đi.”
Phần còn lại trong công tác tình báo của cộng sản cũng sơ khai không kém. Khi Phạm Xuân Ẩn đến địa đạo Củ Chi đầu những năm 1960, thiết bị duy nhất để truyền những tin tức khẩn cấp về tổng hành dinh là một đường radio tín hiệu Morse tới Campuchia. “Sau đó những tin tức này được chuyển ra Bắc, lên Bộ Chính trị và tới ông Phạm Văn Đồng, người phụ trách mảng tình báo chiến lược,” Phạm Xuân Ẩn nói. Ông Phạm Văn Đồng là thành viên thứ ba trong ban lãnh đạo ba người tại miền Bắc, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông đã giành được uy tín cách mạng bằng cách trải qua sáu năm trong những chuồng cọp ở Côn Đảo. Là con trai nhà quan và từng là bạn học với Ngô Đình Diệm, ông Phạm Văn Đồng, thay vì làm việc cho Pháp, đã góp phần thành lập nên Việt Minh. Sau khi lãnh đạo cộng sản tiếp quản miền Nam Việt Nam năm 1975, trong đó có cả việc đưa bốn trăm nghìn người đi “cải tạo” trong các nhà tù và trại tập trung lao động cưỡng bức, ông Phạm Văn Đồng đảm nhiệm vai trò một thủ tướng theo đường lối cứng rắn của Việt Nam trong một thập kỷ.
Với mật độ tăng dần khi Tết đến, chuông cổng nhà Phạm Xuân Ẩn thường xuyên rung lên khi họ hàng và bạn bè đến thăm ông. Lũ chó nhà ông sủa nhặng lên khi những vị khách ghé qua suốt cả ngày để biếu những cành hoa mai và những món quà khác vẫn được tặng qua lại trong dịp lễ. Bà Thu Nhạn nhận quà và nói chuyện qua quýt với các vị khách ở một bên của căn phòng khách trong khi Phạm Xuân Ẩn và tôi nói chuyện ở phía bên này. Phạm Xuân Ẩn không bao giờ tự đưa ra lời khẳng định nào về tầm quan trọng trong những tin tình báo của mình. Ông hạ thấp đóng góp của mình trong cuộc chiến xuống mức chẳng qua là “công tác chiến lược dài hơi”. Chỉ sau khi gặp gỡ các đồng đội của ông trong ngành tình báo tôi mới bắt đầu nhận ra một bức tranh khác. Phạm Xuân Ẩn cung cấp tin tình báo chiến lược và chiến thuật cho miền Bắc, loại tin tình báo cần thiết để giành chiến thắng trong những trận đánh và tiến tới đánh bại đối phương. Trong bài báo trên tờ The New Yorker, tôi đã viết rằng Phạm Xuân Ẩn được tặng thưởng bốn Huân chương Quân công. Ông cũng không hề sửa lại cho tôi, và chỉ mãi sau khi Phạm Xuân Ẩn qua đời, khi những tấm huân chương của ông được gắn lên một tấm nhung đen phủ kính bên ngoài, tôi mới nhận ra rằng ông đã được tặng thưởng 16 huân huy chương, 14 tấm trong số này gắn với những chiến dịch quân sự cụ thể. Những tấm huân chương ghi nhận công lao của Phạm Xuân Ẩn trong việc chiến thắng hoặc giúp chiến thắng rất nhiều trận đánh mà lẽ ra đã thất bại .
Phạm Xuân Ẩn miêu tả cho tôi những chuyến đi mà ông thực hiện để đến địa đạo Củ Chi. “Tôi thường ở lại vài ngày để viết báo cáo và thông báo tình hình cho họ,” ông nói. “Khi sử dụng mực vô hình trên giấy, anh không thể viết được nhiều. Một cách khác để làm việc đó là tới Củ Chi và đánh máy những bản báo cáo dài hơn.”
Ông cũng đánh máy những báo cáo tin tại nhà, dùng một chiếc máy chữ Hermes cỡ nhỏ được Đảng Cộng sản mua cho. “Để ngăn địch có thể lần ra tôi từ những báo cáo này, chiếc máy chữ chỉ được dùng riêng vào việc soạn những báo cáo tin tình báo,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Trong khoảng từ 30 đến 100 trang, căn cứ vào hoàn cảnh, những báo cáo dài hơi này phản ánh triển vọng diễn biến của chiến tranh và tình hình chính trị trong thời gian vài tháng sắp tới. Sau khi chiến tranh kết thúc, tôi ném chiếc máy chữ này xuống sông.”
Những người cộng sản cũng mua cho Phạm Xuân Ẩn một chiếc máy ảnh Canon Reflex mà ông sử dụng để chụp những báo cáo của mình từng trang một. Ông để nguyên phim không tráng, cẩn thận để đoạn đầu phim thò ra khỏi cuộn bằng cách không tua hết lại cuộn phim. “Bằng cách này, nếu chẳng may người giao liên bị bắt, anh ta có thể rút phim ra và để nó bị lộ sáng. Có thể anh ta sẽ bị giết, nhưng không ai có thể đọc những gì tôi đã viết.”
Tôi hỏi Phạm Xuân Ẩn là ông đã bao giờ chụp ảnh những tài liệu mật chưa.
“Có chứ, thỉnh thoảng tôi cũng làm như vậy, nhưng như thế rất nguy hiểm,” ông nói. “Những tài liệu này thường được đóng dấu mật, chỉ được xem, tuyệt mật. Anh phải hết sức cẩn thận khi xử lý loại tài liệu như thế này. Có thể địch đang giăng bẫy anh. Ai đó chìa cho anh tài liệu, anh mang nó về nhà rồi chụp ảnh lại. Bất thình lình cảnh sát phá cửa xông vào và tóm anh. Đó là lý do tại sao tôi hình thành nên thói quen đọc những tài liệu này rồi trả lại chúng ngay lập tức. Như thế là đủ cho những gì tôi cần. Nhớ là tôi làm việc trong lĩnh vực tình báo chiến lược. Tôi không phải là một gián điệp. Gián điệp lại là một chuyện khác. Anh phải đánh cắp các tài liệu. Anh chụp ảnh tài liệu. Những tài liệu anh gửi về được chuyển đi nguyên văn. Tôi không bị yêu cầu làm những việc loại này, chỉ trừ trường hợp họ buộc tôi phải làm như thế. Điều này chỉ xảy ra khi họ không tin tưởng cách tôi phân tích sự việc. Họ sẽ yêu cầu bằng chứng, và tôi sẽ đưa cho họ một số tài liệu để chứng minh cho phân tích của mình. ‘Không có tài liệu, chúng tôi không thể hiểu nổi những gì anh nói,’ họ sẽ bảo tôi như vậy.”
Khi cuộc chiến tranh tiếp diễn và Phạm Xuân Ẩn ngày càng trở nên quan trọng và tình hình của ông mỗi lúc một nguy hiểm hơn, thì ông trở nên ít tuân lệnh cấp trên của mình hơn. Ông được tiếp cận những tài liệu mật và được tham gia mọi khía cạnh liên quan đến kế hoạch tác chiến cũng như tin tình báo của đối phương. Những cấp trên cộng sản của ông - giống như các chỉ huy tình báo ở bất kỳ đâu - rất khát khao những tài liệu này. Khi họ gây sức ép buộc Phạm Xuân Ẩn phải đánh cắp và chụp ảnh chúng, ông đã từ chối. Ông sẽ không đời nào chịu chết vì lấy cắp những mẩu giấy đóng dấu tuyệt mật này. Thay vào đó, ông sẽ diễn giải lại những gì ông đã đọc và thuật lại các số liệu trong những báo cáo gửi tới cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Võ Nguyên Giáp. Họ phải tin ông, bởi vì những lời của Phạm Xuân Ẩn là vàng.
“Nếu họ không tin thì tôi cũng không quan tâm,” ông nói. “Đối với tôi điều đó rất đơn giản. Tôi làm việc cho họ. Tôi làm việc vì chính nghĩa, vì nhân dân Việt Nam. Tôi không làm việc cho bất kỳ cá nhân nào. Nếu họ không tin tôi, tôi chỉ việc phủi tay bỏ đi là xong. Thỉnh thoảng họ nói: ‘Chúng tôi tin anh, nhưng chúng tôi cần có thêm chi tiết để hiểu những gì anh nói’. Trong trường hợp đó, có thể tôi sẽ gửi cho họ ảnh chụp tài liệu. Nhưng việc đó rất nguy hiểm, chụp ảnh những tài liệu mà theo quy định là không bao giờ được mang ra khỏi phòng của ai đó.”
Theo Phạm Xuân Ẩn, “một điệp viên phải đối mặt với ba thách thức. Thứ nhất là những lời nói dối. Anh ta sẽ gặp nguy hiểm nếu những điều hư cấu và hoang đường mà anh ta tán phát bị phát giác. Thứ hai là những sai lầm. Nếu chẳng may anh bị bắt giữ, không ai có thể cứu anh. Còn một loại sai lầm nữa xuất phát từ việc chứng kiến câu chuyện nhưng lại không báo cáo nó. Ví dụ, tôi đang ăn tối và nói chuyện với một người kể cho tôi biết rằng Norodom Sihanouk sắp bị lật đổ trong một vụ đảo chính. Đây là sự khởi đầu cho sự xâm lược của Mỹ vào Campuchia tháng 4 năm 1970, khi họ tấn công Đường mòn Sihanouk. Đây là thông tin quan trọng, nhưng tôi không báo cáo lại cho những người cộng sản. Lẽ ra tôi phải báo cáo, và giá kể tôi làm như vậy, tôi đã cứu được rất nhiều mạng sống.”
“Tại sao ông không báo cáo tin đó?” tôi hỏi.
“Vì lúc ấy tôi quá bận,” ông nói. “Tôi còn cả trăm thứ khác để báo cáo. Những người bạn cho tôi biết chi tiết của vụ đảo chính, nhưng tôi không chuyển chúng đi. Đây là một sai lầm lớn. Tôi bị trách cũng đáng. Lẽ ra tôi phải báo cáo cho cấp trên của mình. Sau đó tôi nói với họ rằng tôi đã phạm sai lầm.” Đây có thể coi như một trong những lời xin lỗi hiếm hoi của Phạm Xuân Ẩn với những cấp trên của mình. Nhìn chung thì với họ ông có thái độ khá phớt lờ. Ông nắm chắc tình hình hơn và cũng khôn ngoan hơn họ. Họ là những người miền Bắc mặc quần áo rách rưới, đi dép cao su, mẫu người khắc khổ, đa nghi, nếu so với những người miền Nam vui tính và khá giả hơn . “Thỉnh thoảng họ cật vấn tôi,” ông nói. “Họ nghi ngờ thông tin của tôi. Cứ khi nào họ hỏi tôi về tin của những nguồn tin, thì tôi lại nói:
‘Tôi là nguồn tin. Nếu các anh không tin tôi, hãy quên nó đi.’”
Phạm Xuân Ẩn luôn lảng tránh sang chuyện khác mỗi khi tôi hỏi ông về các chi tiết liên quan đến những tài liệu mật mà ông xử lý, nhưng rõ ràng là chúng được ấn vào tay ông bởi tất cả mọi người ở tất cả các bên. Phạm Xuân Ẩn đã từng là một trong những thành viên sáng lập của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam và là phụ tá tin cẩn của Trần Kim Tuyến, giám đốc đầu tiên của tổ chức này. Ông được cho là làm việc cho CIA, và ông được tùy nghi xem xét những hồ sơ tư liệu của Time. Các sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa coi Phạm Xuân Ẩn như một nhà khí tượng chính trị địa phương. Ông là người dự báo mà bạn muốn hỏi ý kiến trước khi tiến hành một vụ đảo chính hoặc một chiến dịch hay những thay đổi lớn khác trong đời sống chính trị. Phạm Xuân Ẩn có thể giúp chỉ ra cách làm thế nào để vừa lòng những quan thầy Mỹ, trong khi vẫn đồng thời bảo vệ được người bản địa và tranh thủ kiếm thêm chút đỉnh. Phạm Xuân Ẩn không bao giờ tỏ ra phán xét hay chỉ trích. Ông không thả mình vào bất kỳ thứ gì trong vô số những cám dỗ của thành phố, nhưng luôn sẵn lòng đi cùng bạn bè bất kỳ lúc nào họ tạt vào những vũ trường hoặc tiệm thuốc phiện. Người Mỹ đang rót những khoản tiền khổng lồ vào Việt Nam. Các tướng lĩnh miền Nam Việt Nam đang chóng vánh ăn cắp số tiền đó bằng mọi cách nhưng họ vẫn phải giả đò là đang đại diện cho quyền lợi của Mỹ. Họ muốn chỉ huy binh sĩ của mình đi “tác chiến” nhưng lại tránh chạm trán đối phương. Phạm Xuân Ẩn tạt qua khắp những quán cà phê và nhà hàng của thành phố như một bác sĩ đi khám tại các gia đình. Ông khuyên mọi người làm thế nào để phân biệt những lỗi nhỏ có thể được nhắm mắt làm ngơ với những sai lầm nghiêm trọng có thể khiến anh bị sa thải hoặc mất mạng.
“Tôi có hàng trăm người bạn, ở khắp mọi nơi,” ông nói. “Chúng tôi thường tụ tập bàn bạc với nhau. Tôi thường giúp họ nghiên cứu những tài liệu đóng dấu tối mật hoặc chỉ được đọc tại chỗ. Họ thường để tôi đọc, rồi sau đó chúng tôi sẽ trao đổi về ý nghĩa của những tài liệu này. Hoặc là họ sẽ đề nghị tôi giúp họ sửa chữa những báo cáo mà họ đang chuẩn bị gửi cho người Mỹ.”
Những tài liệu này ở đâu ra? “Tài liệu đến từ bên quân đội, tình báo, mật vụ, từ đủ các loại nguồn,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Chỉ huy của các đơn vị quân đội, sĩ quan của những lực lượng đặc biệt, hải quân, không lực - tất cả họ đều giúp tôi, và thỉnh thoảng họ lại cần sự giúp đỡ của tôi. Tôi phải đáp lại thịnh tình của họ. Họ gặp một vấn đề. Họ phải giải quyết với người Mỹ như thế nào? Ví dụ như khi người Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965, các tướng lĩnh Việt Nam (Cộng hòa) biết rằng họ sẽ mất quyền chỉ huy vào tay người Mỹ. Trước kia họ được độc lập, được tự mình đưa ra quyết định, trừ việc phải đối phó với các cố vấn Mỹ, nhưng giờ thì tình hình đã thay đổi.” Phạm Xuân Ẩn miêu tả một đất nước đầy rẫy những viên tướng lo lắng, những người được chỉ thị không được để xảy ra thương vong trên chiến trường, những chính trị gia hoang mang trước cung cách lạ lùng của những cuộc bầu cử gian lận và gọi đó là “dân chủ”, và những điệp viên lo âu về việc các cơ quan tình báo cạnh tranh đang phá hoại hoạt động buôn ma túy và những mối làm ăn béo bở khác. Là bậc thầy về nghệ thuật quanh co và lòng vòng, người Việt Nam đã học được cách đối phó với sự hiện diện ít ỏi của người Mỹ, nhưng lực lượng chiếm đóng mới lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Trong cơ chế trao đổi giữa những người cần lời khuyên của Phạm Xuân Ẩn và ông thì cần thông tin của họ, tài liệu được trao tay, dù chỉ là trong một thời gian ngắn.
Tình hình chính trị tại Việt Nam thay đổi rất nhanh chóng khi đợt đầu tiên của lực lượng về sau lên đến nửa triệu binh lính đặt chân đến đất nước này. “Khi Mỹ đưa quân vào năm 1965, điều này tạo ra những vấn đề cho những người Việt Nam đang cai trị ở miền Nam,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Tôi khuyên họ nên tập trung lại và thảo luận với nhau về cách đối phó với người Mỹ như thế nào. ‘Đến thời điểm này các anh vẫn luôn độc lập. Nhưng hiện tại câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào các anh có thể duy trì được quyền chỉ huy của mình? Nếu không hài lòng với các cố vấn Mỹ, các anh có thể tống cổ họ đi.’”
Đây là lời khuyên hữu ích mà một điệp viên cộng sản có thể nói với các tướng lĩnh đang chỉ huy quân đội kẻ thù của anh ta. Khi tôi nghe Phạm Xuân Ẩn kể câu chuyện này, tôi thích thú cảm nhận sự châm biếm của nó. Rất nhiều nhận xét tưởng chừng như ngây thơ của Phạm Xuân Ẩn lại ẩn chứa những điều mang hai ba tầng nghĩa. Chúng giống như những hòn sỏi lăn lông lốc xuống triền núi. Chúng bắn tung tóe qua bãi đá vụn của những giả định hàng ngày và tích tụ lại thành những tảng đá mang đầy ý nghĩa trước khi chạm đến đáy với những hậu quả đủ lớn để san bằng cả một đất nước. Phạm Xuân Ẩn giúp quân đội Việt Nam Cộng hòa hình thành nên phản ứng của mình trước sự có mặt của binh lính Mỹ và đồng thời cung cấp thông tin này cho các đồng đội Bắc Việt Nam của mình. Ông là một cố vấn được tin cậy ở miền Nam và là một nguồn tin giá trị đối với miền Bắc. “Đây đúng là lời khuyên giá trị,” người ta có thể hình dung cánh tướng lĩnh miền Nam Việt Nam đang thốt lên. “Hãy tống cổ bọn Mỹ đi và tự mình đương đầu với cộng sản!” Suy nghĩ lại thì có lẽ đây cũng không phải là ý tưởng hay cho lắm, tất nhiên là trừ phi người ta quan tâm đến việc để thua cuộc chiến này.
Phạm Xuân Ẩn là một nhà môi giới thông tin trung thực hay là bậc thầy của nghi binh, nơi mà chính sự thật là yếu tố gây bất ổn định? Lời cáo buộc rằng Phạm Xuân Ẩn cài cắm thông tin giả trong những trang viết của Time thật là không có giá trị. Đây hẳn sẽ là một sứ mệnh sai lầm dành cho một con người quá xuất sắc trong việc phát tán thông tin chính xác. Phạm Xuân Ẩn không việc gì phải nói dối bất kỳ ai. Lời khuyên của ông là tiêu chuẩn vàng về sự chính xác. Phạm Xuân Ẩn có thể nói cùng một sự thật đó với bất kỳ ai ở bất kỳ đâu vì ông cho rằng sớm muộn sự thật đó cũng tự bộc lộ. Kết thúc hợp lôgic cho cuộc chiến đẫm máu này là một chiến thắng cách mạng cho một nước Việt Nam độc lập. Đó là sự thật mà Phạm Xuân Ẩn tin tưởng một cách mãnh liệt, cho dù đó không phải lúc nào cũng là sự thật mà ông bộc lộ.
Khi Phạm Xuân Ẩn đến làm việc cho Time Inc. năm 1964, cứ năm người Mỹ thì lại có một người đọc ấn phẩm của Luce, là Time, tờ tuần san tin tức đầu tiên của cả nước, hoặc những người chị em của nó là Life và Fortune. Được sáng lập năm 1923 bởi Henry Luce và người bạn cùng lớp ở trường dự bị đại học Hotchkiss của ông là Briton Haddon (người qua đời vì nhiễm liên cầu khuẩn năm 1929), Time là một phần của một thế lực xuất bản không gì cản được. Với tổng doanh số phát hành mỗi tuần lên đến 50.000.000 bản, Luce khi ở đỉnh cao quyền lực của mình là bộ trưởng thông tin không chính thức của nước Mỹ. Ông ta có ảnh hưởng cực kỳ to lớn trong việc định hướng dư luận Mỹ và hình thành chính sách công, và việc làm tại một trong những tạp chí của Luce chỉ dành cho những phóng viên cùng các nhiếp ảnh gia có tay nghề ở đỉnh cao nhất.
Với biệt hiệu “Chink[6]” vì ông được sinh ra ở Trung Quốc năm 1898 trong một gia đình có cha là mục sư Giáo hội Trưởng lão Scotland, Luce phát triển một văn phong đặc trưng dùng để viết tin, thông tuệ, hoạt bát và cực kỳ tự tin. Thế giới được phân chia một cách rạch ròi kiểu giáo lý Mani thành những vùng “tự do” và “không tự do”, chủ yếu là vùng theo cộng sản, và sứ mệnh của nước Mỹ là lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại lực lượng vô thần này. Luce trình bày quan điểm của mình một cách vang lừng nhất trong bài xã luận được viết năm 1941 cho tờ Life có nhan đề “Thế kỷ của nước Mỹ”. Theo Luce, những quyền lợi chính trị của nước Mỹ và giá trị cũng như niềm tin của nó sẽ định hình nên thế kỷ 20, và bất kỳ ai chống lại nước Mỹ sẽ phải lãnh chịu hậu quả. Có một thái độ hăng máu, một tình yêu thể thao và chiến tranh, trong những tạp chí của Luce và bất kỳ khi nào nước Mỹ tham dự một cuộc chiến tranh, thì bao giờ nó cũng nghiễm nhiên là một cuộc chiến đấu chính nghĩa.
Cho đến tận khi qua đời năm 1967, Luce thích lượn vòng quanh thế giới, kinh lý qua những vùng biên viễn thuộc đế chế của mình, ăn tối với các vị đại sứ và tổng thống. Khi ghé qua Sài Gòn, đôi lần ông ta bắt tay Phạm Xuân Ẩn và những nhân viên khác của mình. Cao 1,83 mét, hút thuốc như ống khói với đôi mắt xanh nhạt và một vẻ chăm chú dữ dội đến cau mày lại, Luce luôn oang oang nói ra quan điểm của mình với quyền lực tuyệt đối. Như lời Luce nói về chiến tranh Việt Nam trong một chuyến thăm của ông ta đến văn phòng đại diện tại Sài Gòn: “Đó là cuộc chiến đúng đắn ở đúng nơi, đúng lúc. Tất cả những gì chúng ta phải làm là dọn dẹp sạch sẽ tình hình chết tiệt này rồi thiết lập một chế độ nhiếp chính của người Mỹ; sau đó mọi chuyện sẽ chấm dứt.”
McCulloch kể một câu chuyện về Henry Luce, hay “Harry”, như ông ta vẫn thích được gọi, đến thăm McCulloch ở “ngay tại trận”. Như lời thuật lại trong buổi phỏng vấn với David Felsen, McCulloch bố trí một bữa dạ tiệc tại Sài Gòn cho Luce, đại sứ Australia, trưởng đại diện CIA và các quan chức khác. Đánh giá tiêu cực của họ về triển vọng của cuộc chiến tranh làm Luce bực bội. “Luce càng lúc càng tức giận hơn cho đến khi ông ta đập bàn cái rầm và nói: ‘Tôi biết giải pháp là gì. Chúng ta đặt một quan tổng trấn vào đây và dọn dẹp nó đi rồi rút ra’.” Sự im lặng bao trùm quanh bàn ăn, cơn tức giận của Luce đã chấm dứt buổi dạ tiệc.
Thực hiện cái mà ông ta gọi là “làm báo theo nhóm”, Luce nhất quyết đòi các ấn phẩm của ông ta phải nói cùng một giọng thống nhất, thông tuệ và tập thể. Để đạt mục tiêu này, ông ta huy động một đội ngũ nhân viên khổng lồ được trả lương hậu hĩnh. Các phóng viên của ông ta tạo thành một trong những tổ chức thu thập tin tức tinh nhuệ nhất thế giới, và trong số các biên tập viên của ông ta có một số nhà văn danh tiếng nhất nước Mỹ. Cùng hợp sức, họ tạo ra một giọng văn xuôi không tên tuổi, thuần nhất, được thể hiện trong những bài báo không đề tên người viết cực kỳ không đáng tin cậy. Kiểu sản phẩm tập thể này tạo ra vỏ bọc hoàn hảo cho một điệp viên. Phạm Xuân Ẩn tham gia vào bài viết của tất cả mọi người, đưa ra lời khuyên đối với phần lớn những nội dung điện được đưa ra khỏi Sài Gòn, trong khi hầu như không để lại dấu vết nào về bản thân trong đống tư liệu của tờ tạp chí.
Các phóng viên thường trú của Luce thường chết điếng người khi tờ tạp chí in ra hoàn toàn ngược lại những gì họ đã phản ánh. Cứ như thể làm việc ở New York toàn là những nhà lôgic điên rồ. Các phóng viên thường trú viết những bài báo ngồn ngộn và thu thập cả đống những miêu tả sống động. Họ phỏng vấn tất cả các quan chức hàng đầu và thu thập tất cả những tài liệu tốt nhất. Dữ liệu thô của họ là vàng. Tờ tạp chí xuất bản ra là chì. Phạm Xuân Ẩn hài lòng khi giữ cho mình đứng ngoài được những cuộc chiến về quyền hạn biên tập ở New York và sung sướng vì tên của ông ít khi xuất hiện trên tờ tạp chí, chỉ trừ trên mục danh sách phóng viên và biên tập viên. Không ai có thể lần ra ông từ các bài viết. Không ai có thể bới lục ra ông biết gì và biết lúc nào. Vị trí của ông trong tờ tạp chí càng cao bao nhiêu thì ông càng viết ít bấy nhiêu. Ông là nguồn tin nền, nhà cố vấn, người rò rỉ tin, kẻ mách nước, người săn lùng tin, và phiên dịch - nhưng không phải là tác giả - của những bài viết của Time chuyển ra khỏi Việt Nam. Phạm Xuân Ẩn là người tâm phúc trong sự tin tưởng của tất cả mọi người. Ông đang thực hiện một tội ác hoàn hảo, hoàn toàn không có dấu vết lúc phá cửa và đột nhập vào trong, không dấu vân tay tại hiện trường. Chỉ có Phạm Xuân Ẩn, mỉm cười và đùa bỡn như mọi khi, trong khi vẫn nhòm ra từ phía sau chồng giấy chất đống trên bàn làm việc của mình.
Chắc mẩm rằng một nhà báo nổi tiếng thì kiểu gì cũng phải có ít nhất một bài báo đáng giá, nhiều người khẳng định rằng Phạm Xuân Ẩn viết bài báo tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần năm 1969, nhưng Phạm Xuân Ẩn phủ nhận mình là tác giả.
“Với một sự kiện lớn như vậy, các phóng viên thường trú từ khắp nơi trên thế giới đều đóng góp, cùng với các phóng viên tự do và những người khác. Sau đó những người viết lại ở New York sẽ đảm nhiệm phần việc rất lớn trên nguồn tư liệu này.
Họ sẽ sàng lọc qua và cho ra một bài báo theo đúng hẹn.”
Những bài báo của Time thường vô danh, không có hàng đề tên người viết, và phải mãi đến năm 1970 thì Murray Gart, người phụ trách các phóng viên thường trú, mới đưa tên của Phạm Xuân Ẩn vào danh sách phóng viên, biên tập viên. Trưởng đại diện tại văn phòng Sài Gòn khi đó là Jonathan Larsen, con trai của một trong những biên tập viên sáng lập ra tờ tạp chí. Phạm Xuân Ẩn liệt kê danh sách tám trưởng văn phòng đại diện mà ông phục vụ dưới quyền - Frank McCulloch, Simmons Fentress, William Rademaekers, Marsh Clark, Jonathan Larsen, Stanley Cloud, Gavin Scott, Peter Ross Range - ông đọc tên của họ với vẻ trịnh trọng cứng nhắc như thể đang liệt kê các triều đại Việt Nam.
Phạm Xuân Ẩn cũng hình thành mối quan hệ thân thiết đùa bỡn với một vài người trong số này kiểu như mối quan hệ giữa ông với Edward Lansdale trước kia. Bằng cách biến những tập tục kỳ lạ của phương Đông thành những lời khuyên cá nhân, ông trở thành Abby Thân mến[7] về rối loạn chức năng sinh lý, tăng khoái cảm, trường thọ, và các phương thuốc khác của y học cổ truyền phương Đông, cung cấp đủ các loại thuốc tán và thang thuốc cho những người bạn cần dùng. “Tôi cho Jonathan Larsen một số loại thuốc bắc để có con. ‘Đây là loại thuốc rất đắt tiền, rất giàu vitamin E,’ tôi bảo anh ta. ‘Hãy dùng thuốc hằng ngày và, trong thời gian đó, anh chỉ nên quan hệ tình dục với vợ mình thôi. Đừng có đi lăng nhăng vãi giống khắp mọi nơi.’ Tôi không biết anh ta có nghe lời tôi không, nhưng anh ta có nhận thuốc tôi đưa.”
Bất chấp những lời buộc tội của các biên tập viên tạp chí Time tại New York rằng đội ngũ báo chí Sài Gòn là một lũ những kẻ than khóc yếu bóng vía đưa tin về chiến tranh từ quán bar trên sân thượng của khách sạn Caravelle (lời buộc tội này, được đăng trên mục “Báo chí” của tờ tạp chí, đã dẫn đến việc Charley Mohr từ chức), công tác tại Đông Nam Á trong thời chiến tranh là một nhiệm vụ nặng nề, nguy hiểm và nhiều khi chết người. Ba phóng viên của Time-Life đã thiệt mạng trong cuộc chiến, và rất nhiều người bị thương. Tổn thất đầu tiên là phóng viên ảnh Robert Capa của Life, người bị giết khi đang thực hiện nhiệm vụ tại Đông Dương năm 1954. Tổn thất cuối cùng cũng lại là một phóng viên ảnh Larry Burrows, người suốt chín năm liền làm công việc phóng viên chiến trường, phóng sự ảnh, và 22 trang bìa cho tạp chí Life trước khi chiếc máy bay trực thăng của miền Nam Việt Nam chở anh ta bị bắn rơi tại Lào năm 1971.
Trong một cuộc chiến dai dẳng với những ranh giới luôn dịch chuyển và những lòng trung thành ẩn trong bóng tối, bị bắt là một nguy cơ nghiêm trọng. Phạm Xuân Ẩn nhận được thông báo về những đảng viên cộng sản bị bắt giữ và nơi họ đang bị giam. Trong rất nhiều trường hợp ông đã đứng ra bảo đảm cho những phóng viên đồng nghiệp ngoại quốc của mình và làm việc thông qua những kênh bí mật để họ được trả tự do. Trước mặt mọi người, ông làm ra vẻ hoàn toàn bất lực. Trong khi hỗ trợ đồng nghiệp của mình là phóng viên Robert Sam Anson của tạp chí Time, suýt chút nữa thì Phạm Xuân Ẩn bị lộ. Một cố gắng khác để trả tự do cho phóng viên ảnh Sean Flynn của Time mang lại kết cục là thất bại.
Flynn, con trai của nữ diễn viên Pháp Lili Damita và diễn viên người Mỹ sinh tại Tasmania[8] Errol Flynn, người đóng vai chính trong phim Captain Blood (Thuyền trưởng Blood) và những bộ phim đấu kiếm khác, đã rời bỏ trường đại học và lang bạt khắp thế giới, luân phiên giữa những trường quay cho đến các vùng chiến sự, thế rồi anh ta đến Việt Nam năm 1965. Flynn coi Audie Murphy, người hùng chiến tranh đóng vai người Mỹ trầm lặng trong bộ phim đầu tiên được chuyển thể từ tiểu thuyết của Greene, như thần tượng. Flynn thuê nơi mà anh ta tưởng là căn hộ của Murphy trên đại lộ Catinat. Đáng tiếc là anh ta đã mắc sai lầm. Nơi anh ta thuê hóa ra lại là căn hộ của Michael Redgrave, người đóng vai nhà báo Anh vốn là thần trừng phạt Audie Murphy. Chính từ ban công của căn hộ này mà Redgrave đã ra hiệu để Murphy bị khử.
Tháng 4 năm 1970, chàng thanh niên Flynn 29 tuổi và nhiếp ảnh gia đồng nghiệp Dana Stone rời Phnom Penh trên những chiếc xe máy đi thuê để tìm kiếm mặt trận giao tranh tại Campuchia. (Campuchia đã trở thành một điểm nóng khác tại châu Á sau khi ông hoàng Norodom Sihanouk bị phế truất và quân đội Mỹ xâm lược nước này). Bị Khmer Đỏ bắt giữ ở miền Đông Campuchia, Flynn và Stone bị giết vào năm sau. “Họ bị bắt ở Chi Pou, cách Phnom Penh không xa,” Phạm Xuân Ẩn kể với tôi. “Họ bị Khmer Đỏ giết ngay lập tức, nhưng khi đó chúng tôi không biết chuyện này. Tất cả những gì chúng tôi biết lúc đó chỉ là họ đã bị bắt.”
Ngay khi tin tức về vụ bắt giữ hai phóng viên ảnh về đến Sài Gòn, Time đã phát động một chiến dịch giải cứu. Được sự hỗ trợ của các văn phòng đại diện khác từng có phóng viên bị mất tích, họ phái đi phóng viên tự do Zalin Grant, người đã từng làm việc trong ngành phản gián quân đội trước khi viết cho Time. “Ông ta cần hai người đi cùng với mình để phỏng vấn những người tị nạn vượt biên từ
Campuchia sang,” Phạm Xuân Ẩn nói. “Vượng và tôi đi cùng ông ta đến Trảng Bàng, nơi rất nhiều người tị nạn đang từ Campuchia ùn ùn đổ sang. Chúng tôi hỏi xem họ có nhìn thấy hai phóng viên ảnh Sean Flynn và Dana Stone không.” Nỗ lực giải cứu được tiếp tục thêm vài năm sau đó bởi phóng viên ảnh người Anh Tim Page, người đã bị thương rất nặng trên biên giới Campuchia khi làm việc cho Time. Phạm Xuân Ẩn còn được cử đi trong một sứ mệnh khác liên quan đến Flynn. Ông được cử đi dọn sạch căn hộ của anh này, nơi chứa đầy cần sa và một bộ sưu tập khổng lồ các loại súng được nhặt về làm kỷ vật chiến tranh. “Cũng may là chúng tôi đến đó trước cảnh sát,” Phạm Xuân Ẩn nói.
Phạm Xuân Ẩn còn nỗ lực để cứu mạng những tù binh khác, gồm cả một “chủ trang trại nuôi bò sữa”, mà thực ra là một đại tá trong không quân Australia. Trong những lần khác ông cố ngăn lực lượng cộng sản tấn công những ấp chiến lược do các nông dân bị bắt làm lính bảo vệ. “Năm 1967, Rufus Phillips và tôi biết tin về một số hoạt động giao tranh bên ngoài Sài Gòn khoảng 15 kilômét. Anh ta túm lấy tôi và nói: ‘Ẩn này, tại sao chúng ta không đến đó xem thử coi?’ Chúng tôi đến đó trên chiếc xe bé tí của tôi. Rufe[9] là một người to lớn. Anh ta khó khăn lắm mới ngồi lọt vào trong xe tôi. Bob Shaplen có thể đi cùng xe với tôi, nhưng như thế cũng là giới hạn rồi. Tôi không thể nhét ai to hơn thế vào nữa.”
“Chúng tôi nhận thấy là rất nhiều nông dân nghèo đã bị giết. Họ đã bị cưỡng bức phải làm việc cho phe chính phủ, như là một bộ phận của lực lượng dân vệ. Đây là điều anh phải làm nếu không muốn bị bắt đi quân dịch. Họ bị giết trong cuộc tấn công vào ngôi làng. Đây là những nông dân sống trong các túp lều tranh. Con cái họ quần áo rách rưới đang vạ vật quanh làng. Giờ đây những người lính đã chết, gia đình họ thậm chí còn không có đủ tiền mua quan tài cho họ.”
“Tôi đã phản ánh với những người hoạch định chính sách,” Phạm Xuân Ẩn nói. Ông muốn Việt Cộng ngừng tấn công những ấp chiến lược của Phillips, nhưng tôi có thể nhận ra từ cái nhún vai của Phạm Xuân Ẩn rằng sự can thiệp của ông đã thất bại. “Tôi cảm thấy xót xa khi nhìn thấy những người bị giết, cả người Mỹ nữa,” ông nói. “Họ đều rất trẻ và vô tội. Số phận con người thật nghiệt ngã. Chúng ta không biết chúng ta là anh em hay kẻ thù nữa. Chỉ có Chúa mới có thể trả lời câu hỏi này, nhưng từ trước đến giờ Người vẫn từ chối trả lời. Vấn đề là thế đấy.”
Khi từ vùng nông thôn trở về, Phạm Xuân Ẩn thấy đứa con trai bốn tuổi của ông đang khóc ỉ eo và hờn dỗi. “Tôi cho ngay nó một cái tát vào mặt. Lúc đó tôi nghĩ đến những con người tội nghiệp đã chết và lũ trẻ trong cái làng đó còn không đủ ăn. Chúng thậm chí còn không có lấy một cái bát sành. Chúng ăn bằng những cái bát vỏ dừa, còn con trai tôi đang ở đây, ở trong một ngôi nhà tiện nghi, với một chiếc giường ấm áp sạch sẽ, vậy mà nó vẫn còn khóc lóc. Tôi chỉ muốn lần sau đưa nó đi cùng mình ra chiến trường, cho nó thấy cảnh giết chóc cùng với máu đổ và những người nông dân nghèo bị giết. Vợ tôi sợ như thế nó sẽ không chịu được. ‘Cho nó xem đám tang thôi,’ bả nói, ‘đừng để nó thấy máu’.”
Bốn tháng sau khi Sean Flynn mất tích, Phạm Xuân Ẩn tham gia nỗ lực giải cứu đồng nghiệp của mình là Robert Sam Anson, người bị bắt ở Campuchia tháng 8 năm 1970. Anson là một nhà báo 25 tuổi đã đến Sài Gòn từ năm trước. Anh đã để lại người vợ và hai đứa con nhỏ ở Singapore để nhập hội cùng năm phóng viên khác của Time tại Sài Gòn nhằm phản ánh cái mà anh gọi là “câu chuyện nguy hiểm, thú vị, hấp dẫn và lớn nhất trong tất cả”. Một thời gian ngắn sau khi đến nơi, Anson kết luận rằng “cuộc chiến tranh tại Việt Nam thật tàn bạo và vô đạo đức”. Đó là một cuộc “chiến tranh xâm lược tội lỗi kiểu thực dân mới”. Chẳng có lợi lộc gì lại đi đăng những quan điểm như vậy, nên Time trục xuất Anson khỏi văn phòng Sài Gòn và tống anh sang phụ trách mảng Campuchia - một vị trí khó khăn, một nhánh nhỏ nguy hiểm của cuộc xung đột chính. Anson lại nhanh chóng phản đối một cuộc chiến khác mà anh thấy là còn tàn bạo và vô nghĩa hơn cả cuộc chiến tại Việt Nam.
Trong một hành động can đảm phi thường, Anson cố ngăn chặn một vụ thảm sát ở một làng thuộc tỉnh Takeo của Campuchia. Hai trăm dân thường Việt Nam đã bị người Campuchia dồn lại và tống vào một trại cải tạo, nơi họ sẽ bị giết. Hàng ngày Anson đều lái xe ra để kiểm tra tình hình các tù nhân Việt Nam. Anh ngăn chặn được vụ thảm sát trong vài ngày, nhưng một buổi sáng anh đến nơi thì đã nhìn thấy một đống những xác chết đẫm máu, trong đó vẫn còn vài đứa trẻ thoi thóp thở. Khi Anson bị bắt sau đó, chính những lời kể của Phạm Xuân Ẩn về hành động tốt đẹp của anh ở Takeo đã thuyết phục được những người cộng sản trả tự do cho anh.
Sau ba tuần bị bắt giữ, Anson được tặng một đôi dép Bác Hồ như một món quà chia tay và trả tự do. Anh tìm đường quay trở lại Sài Gòn và lao sầm vào văn phòng Time để ôm chặt lấy Phạm Xuân Ẩn thay lời cảm ơn. Phải đến 18 năm sau Anson mới biết chắc chắn rằng chính Phạm Xuân Ẩn đã cứu mạng mình, nhưng vợ của Anson đã cầu xin Phạm Xuân Ẩn giúp đỡ, và ông đã hứa làm những gì có thể - một lời hứa nguy hiểm, mang hàm ý ông có thể làm điều gì đó. “Tôi rất mềm lòng khi thấy phụ nữ và trẻ em đang khóc lóc,” Phạm Xuân Ẩn thừa nhận. Năm 1988, khi Anson đến thăm Phạm Xuân Ẩn tại Việt Nam, anh đã hỏi: “Tại sao anh lại cứu tôi, nếu như anh đúng là kẻ thù của đất nước tôi?” Phạm Xuân Ẩn trả lời: “Đúng, tôi là kẻ thù của đất nước anh, nhưng anh là bạn tôi.” Đến tận ngày hôm nay, Anson vẫn làm việc với một bức ảnh của Phạm Xuân Ẩn trên bàn mình.
Zalin Grant, cộng tác viên của Time từng làm trong tình báo quân sự, khẳng định rằng Phạm Xuân Ẩn là “trường hợp được biết đến đầu tiên về một điệp viên cộng sản xuất hiện trên danh sách nhân viên của một ấn phẩm lớn tại Mỹ với tư cách phóng viên”. Điều này có thể là đúng, nhưng từ lâu nay Time vẫn là một ngôi nhà ấm cúng cho các điệp viên, và trong danh sách phóng viên, biên tập viên mà Time Inc. đã liệt kê có nhiều điệp viên tình báo. Ví dụ như có lần tờ tạp chí đã cử một viên trưởng đại diện kỳ cựu của mình đi giúp CIA tiến hành một vụ đảo chính quân sự. Ngay từ khi mới hình thành, Time đã ấp ủ một lập trường ủng hộ nước Mỹ để từ đó biến tờ tạp chí này thành một người cổ súy cho những cuộc phiêu lưu quân sự trên khắp thế giới. Điều này thỉnh thoảng lại dẫn đến những hình thức hỗ trợ cụ thể hơn, tiêu biểu như việc tờ tạp chí cung cấp vỏ bọc cho các điệp viên CIA và trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch bí mật. Time thường xuyên đăng tải những gì mà tờ tạp chí này biết là thông tin và luận điệu tuyên truyền đánh lạc hướng, bất kỳ khi nào những thứ này phục vụ cho cái mà tờ tạp chí xem là lợi ích của nước Mỹ.
“Chiến tranh thế giới thứ ba đã bắt đầu,” Henry Luce tuyên bố tháng 3 năm 1947. “Nó đã ở trong giai đoạn đụng độ khai mào.” Ông ta kêu gọi thiết lập một đế chế Mỹ sẽ “thống trị thế giới về quyền lực chính trị, được dựng lên một phần thông qua ép buộc (có thể là bao gồm cả chiến tranh, nhưng chắc chắn nhất vẫn là đe dọa sử dụng chiến tranh) và trong đó một nhóm người… sẽ nắm giữ nhiều quyền lực hơn bình thường”. Hỗ trợ Luce trong cuộc thập tự chinh này là cánh tay phải của ông ta, Charles “CD.” Jackson. Luce tán tụng Jackson là “một trong những chuyên gia quan trọng nhất về chiến tranh tâm lý”. Được thuê làm trợ lý riêng của Luce năm 1931, Jackson từng làm việc cho OSS trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Ông là chuyên gia về chiến tranh tâm lý của Eisenhower tại châu Âu, và đã giúp dẫn dắt cho sự ra đời của CIA. Khi quay trở lại làm việc cho Luce, Jackson được bổ nhiệm làm giám đốc điều hành của Time-Life International, với đội ngũ nhân viên 900 người ở 16 nước trên khắp thế giới, và xuất bản cả Fortune lẫn Life.
Các nhân viên tình báo khác từng làm việc cho Time Inc. bao gồm Dick
Billings, một nhà văn trong biên chế của Life, người đã có thời gian ở Cuba tìm cách lật đổ Fidel Castro, và William McHale, cựu trưởng văn phòng đại diện của Time tại Beirut và Rome, người giúp tiến hành vụ đảo chính quân sự tại Iraq năm 1963 dẫn đến kết cục là đưa Saddam Hussein lên nắm quyền. McHale được cho là đã đóng góp một danh sách những cái tên, bao gồm các giáo sư, bác sĩ, và những thành viên tầng lớp trung lưu khác tại Iraq, những người bị tra tấn và thủ tiêu sau vụ đảo chính của các thành viên đảng Bath. Time cung cấp vỏ bọc cho trưởng văn phòng địa bàn đầu tiên của CIA tại Paris, Philip Horton, và trưởng văn phòng đại diện tại Paris (của Time) Enno Hobbing cũng làm việc cho CIA. Cục tình báo Mỹ đã chuyển Hobbing tới Guatemala năm 1954 để chỉ huy một vụ đảo chính chống lại Jacobo Arbenz, vị tổng thống được bầu lên của Guatemala. Hobbing tiếp tục phục vụ một nhiệm kỳ nữa trên cương vị phóng viên tại văn phòng Washington của Life.
Henry Luce nhiệt thành ủng hộ sáng kiến được CIA triển khai năm 1948 được gọi một cách không chính thức là Chiến dịch Chim nhại, với nhiệm vụ tập trung luận điểm tuyên truyền của chính phủ vào những tờ báo, tạp chí, sách và truyền hình trong nước. Được miêu tả bởi người sáng lập Frank Wisner như một “cây đàn Wurlitzer[10] hùng mạnh” - một cây đại phong cầm tuyên truyền khổng lồ - chiến dịch này có những xúc tu vươn ra khắp thế giới. Hugh Wilford, tác giả cuốn Cây đàn Wurlitzer hùng mạnh: CIA thao túng nước Mỹ như thế nào (The Mighty Wurlitzer: How the CIA Played America), viết rằng mối quan hệ giữa Time và CIA khăng khít đến nỗi “khó có thể nói rạch ròi đến đâu thì kết thúc tình báo hải ngoại của đế chế Luce và bắt đầu mạng lưới của CIA”.
Những hoạt động của Wisner lần đầu tiên được đưa ra ánh sáng trong các cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ năm 1975 dưới sự chủ trì của Thượng nghị sĩ Frank Church. Những cuộc điều trần này cũng làm sáng tỏ những âm mưu của Lansdale nhằm ám sát Fidel Castro và các chiến dịch đen tối khác của CIA. Những kết luận của Ủy ban Church, đăng tải trong một báo cáo đồ sộ năm 1976, tiết lộ rằng một phần ngân sách của CIA dành cho các chiến dịch bí mật được dùng vào hoạt động tuyên truyền toàn cầu. Khoảng 3.000 nhân viên được trả lương và nhân viên hợp đồng của CIA tham gia hoạt động này, vào thời điểm đó tiêu tốn 265 triệu đô la một năm, khiến cho “ngân sách tuyên truyền của CIA lớn bằng ngân sách của Reuters, United Press International, và Associated Press cộng lại”.
Trong những năm 1950, CIA thực hiện một chương trình chính thức nhằm biến điệp viên thành những nhà báo. Các điệp viên được “dạy cách gây tiếng vang giống như các phóng viên”, một quan chức giải thích, trước khi được tung vào một loạt các phương tiện truyền thông. Carl Bernstein, nổi tiếng với vụ Watergate, viết năm 1977 rằng “hơn 400 nhà báo Mỹ… trong vòng 25 năm qua đã bí mật thực hiện các điệp vụ cho Cục Tình báo Trung ương.” Tờ The New Yorker tiếp nối bài báo của Bernstein bằng một phóng sự điều tra của riêng mình, trong đó nhân đôi số lượng phóng viên-điệp viên lên thành 800 người, gồm cả phóng viên James Reston của Time và người phụ trách chuyên mục chung Joseph Alsop, những bài viết của nhà báo này được đăng trên 300 tờ báo. CIA cũng tài trợ cho khoảng một nghìn cuốn sách được xuất bản mỗi năm.
Những đầu mối truyền thông chứa chấp các điệp viên kiêm phóng viên này bao gồm cả những tờ báo và mạng lưới truyền hình quan trọng nhất nước Mỹ. CIA nhận được sự hỗ trợ từ William Paley ở CBS (chủ tịch phụ trách tin tức của hãng này có đường dây điện thoại nối trực tiếp tới CIA) và Arthur Hays Sulzberger ở tờ New York Times (người đã ký một thỏa thuận bí mật với Cục và cung cấp vỏ bọc cho ít nhất mười sĩ quan CIA). Bernstein viết rằng giám đốc CIA Allen Dulles “thường nhờ vả người bạn thân của mình, Henry Luce quá cố, người sáng lập hai tạp chí Time và Life, người luôn sẵn sàng cho phép một số nhân viên của mình làm việc cho Cục và đồng ý tạo công ăn việc làm cũng như vỏ bọc cho các điệp viên CIA khác còn thiếu kinh nghiệm báo chí”.
“Các phóng viên có thể phục vụ trong đủ các loại hoạt động bí mật,” Bernstein nói, “từ việc thu thập tin tình báo thông thường cho đến đóng vai trò trung gian với điệp viên tại các nước cộng sản. Các phóng viên chia sẻ những ghi chép của họ với CIA. Các biên tập viên thì chia sẻ nhân viên của mình. Một số phóng viên này là những người giành giải Pulitzer… Hầu hết còn lại thì không được vẻ vang bằng: những phóng viên thường trú nước ngoài nhận thấy rằng mối liên hệ với CIA sẽ có ích cho công việc của mình; những cộng tác viên và phóng viên tự do quan tâm đến sự mạo hiểm của nghề tình báo như trong việc săn tin bài, và, loại nhỏ nhất, là những nhân viên CIA thực thụ đóng giả làm nhà báo ở nước ngoài.” Ít nhất là 22 tổ chức tin tức của Mỹ có thuê các nhà báo CIA, và hơn một chục nhà xuất bản của Mỹ in những cuốn sách được Cục tình báo Trung ương trợ cấp. Khi được hỏi trong một cuộc phỏng vấn năm 1976 là ông ta đã bao giờ chỉ đạo cho các phóng viên phải viết gì chưa, giám đốc CIA William Colby trả lời: “Ồ, có chứ, lúc nào chẳng thế”.
❀ ❀ ❀
[1] Nhóm tám trường đại học có uy tín về mặt học thuật và xã hội ở miền Đông nước Mỹ: Harvard, Brown, Cornell, Yale, Princeton, Đại học tư Pennsylvania, Dartmouth (College) và Coulumbia.
[2] Chuck: Một cách gọi suồng sã, thân mật.
[3] Cuốn sách tiếng Anh do NXB Thế giới ấn hành, dịch từ loạt bài nhan đề “Tướng tình báo chiến lược” đăng trên báo Thanh Niên (năm 2001) của Hoàng Hải Vân và Tấn Tú.
[4] Tức CIA.
[5] Hãng điện báo trước đây, nay chuyên về giao dịch tài chính điện tử.
[6] Lời nói khinh thường chỉ một người gốc gác Trung Hoa, đại loại như “Ba Tàu” trong tiếng Việt.
[7] Nhân vật phụ trách mục giải đáp tâm tình nổi tiếng trên báo chí.
[8] Hòn đão ở Nam Australia.
[9] Tức Rufus.
[10] Wurlitzer: thương hiệu của một công ty Mỹ chuyên sản xuất nhạc cụ.