Những ghi chép về quá khứ Teuton của chúng ta từ trước đến nay mới chỉ nhận được sự quan tâm rất ít ỏi từ nhánh nói tiếng Anh của cây thế giới vĩ đại Ygdrasil. Sự dửng dưng này càng đáng tiếc hơn, bởi hiểu biết về những bậc tổ tiên anh hùng của chúng ta sẽ tự nhiên trở thành một phương tiện vô cùng mạnh mẽ để duy trì ngọn lửa dũng cảm, tinh thần dấn thân và độc lập—những đức tính mà người Teuton cổ từng nổi danh—ở lại trong chúng ta và thế hệ mai sau.
Tôn giáo của tổ tiên chúng ta chiếm một chương quan trọng trong lịch sử thời thơ ấu của giống nòi chúng ta, và thực tế này đã thôi thúc chúng tôi mang đến cho công chúng một bản dịch tiếng Anh của các bộ Edda. Phần hoàn toàn mang tính thần thoại của Edda Già đã được A. S. Cottle dịch và xuất bản tại Bristol vào năm 1797, và toàn bộ tác phẩm đã được Benjamin Thorpe dịch rồi xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1866. Cả hai tác phẩm này nay đều đã hết sách in. Về Edda Trẻ, chúng ta cũng từng có hai bản dịch sang tiếng Anh: bản đầu tiên do Dasent thực hiện năm 1842, bản thứ hai do Blackwell thực hiện trong ấn bản của ông về bộ Cổ vật phương Bắc của Mallet vào năm 1847. Bản trước đã tuyệt bản từ lâu, còn bản sau là một sự phỏng theo kém cỏi từ bản của Dasent. Cả hai đều rất thiếu sót. Bốn cuốn sách này cấu thành toàn bộ kho tàng văn học Edda mà chúng ta từng có bằng tiếng Anh, tất nhiên là trừ các khúc ngâm và chương đơn lẻ do Gray, Henderson, W. Taylor, Herbert, Jamieson, Pigott, William cùng Mary Howitt và những người khác dịch.
Edda Trẻ (còn gọi là Edda của Snorre, hoặc Edda Văn xuôi), mà giờ đây chúng tôi rất hân hạnh được gửi tới độc giả bản tiếng Anh, thông thường khi xuất bản bằng văn bản gốc sẽ bao gồm các phần sau:
1. Lời nói đầu.
2. Gylfaginning (Trò lừa bịp Gylfe).
3. Lời bạt cho phần Gylfaginning.
4. Bài phát biểu của Brage.
5. Lời bạt.
6. Skaldskaparmal (một tập hợp các cách ví von thơ ca và các danh xưng trong ngôn ngữ Skald mà không có phần giải thích).
7. Hattatal (bảng liệt kê các thể thơ; một dạng Clavis Metrica).
Ở một số ấn bản, người ta còn tìm thấy sáu chương bổ sung về bảng chữ cái, ngữ pháp, các phép tu từ, v.v.
Có ba bản thảo da cừu quan trọng của Edda Trẻ, đó là:
1. Codex Regius, còn gọi là Sách của Nhà vua. Bản này được Giám mục Brynjulf Sveinsson dâng tặng cho Thư viện Hoàng gia ở Copenhagen vào năm 1640, và hiện vẫn được lưu giữ tại đó.
2. Codex Wormianus. Bản này nằm trong Thư viện Đại học ở Copenhagen, thuộc bộ sưu tập Arne Magnæan. Nó mang tên Giáo sư Ole Worm [mất năm 1654], người đã được học giả Arngrim Jonsson trao tặng cho bản thảo này. Christian Worm, cháu nội của Ole Worm kiêm Giám mục vùng Seeland [mất năm 1737], sau đó đã trao lại nó cho Arne Magnusson.
3. Codex Upsaliensis. Bản này được bảo quản tại Thư viện Đại học Upsala. Giống như hai bản kia, nó được tìm thấy ở Iceland, nơi nó được trao cho Jon Rugmann. Sau đó, nó rơi vào tay Bá tước Magnus Gabriel de la Gardie, người vào năm 1669 đã dâng tặng nó cho Đại học Upsala. Bên cạnh ba tài liệu chính này, còn có bốn bản da cừu rách nát và một số lượng lớn các bản thảo giấy.
Ấn bản in đầu tiên của Edda Trẻ bằng ngôn ngữ gốc chính là tác phẩm nổi tiếng “Edda Islandorum,” do Peter Johannes Resen xuất bản tại Copenhagen vào năm 1665. Nó bao gồm một bản dịch sang tiếng Latinh, do một phần chính Resen thực hiện, và một phần khác do Magnus Olafsson, Stephan Olafsson cùng Thormod Torfason chắp bút.
Mãi cho đến tám mươi năm sau, nghĩa là vào năm 1746, ấn bản thứ hai của Edda Trẻ mới xuất hiện tại Upsala dưới sự bảo trợ của Johannes Goransson. Bản này được in từ bản thảo Codex Upsaliensis.
Sang thế kỷ này, chúng ta tìm thấy ấn bản thứ ba do Rasmus Rask thực hiện, được xuất bản tại Stockholm vào năm 1818. Bản này rất hoàn chỉnh và mang tính phê bình cao. Ấn bản thứ tư do Sveinbjorn Egilsson phát hành tại Reykjavik năm 1849; ấn bản thứ năm do Ủy ban Arne-Magnæan tại Copenhagen ấn hành năm 1852. Cả năm ấn bản này đều đã hết sách in từ lâu, và thay vào đó, chúng ta có ấn bản thứ sáu do Thorleif Jonsson thực hiện (Copenhagen, 1875) và ấn bản thứ bảy của Ernst Wilkin (Paderborn, 1877). Cả hai ấn bản này, đặc biệt là bản sau, đều mang tính khảo luận chặt chẽ và đáng tin cậy.
Về các bản dịch, ngoài các bản sang tiếng Anh của Dasent và Blackwell, chúng ta phải kể đến bản dịch sang tiếng Đan Mạch của R. Nyerup (Copenhagen, 1808); bản sang tiếng Đức của Karl Simrock (Stuttgart và Tübingen, 1851); và bản sang tiếng Pháp của Fr. Bergmann (Paris, 1871). Trong số các tài liệu tham khảo chính yếu khi nghiên cứu Edda Trẻ, ngoài những cái tên đã nêu, còn có thể kể đến Fr. Dietrich, Th. Mobius, Fr. Pfeiffer, Ludw. Ettmuller, K. Hildebrand, Ludw. Uhland, P. E. Muller, Adolf Holzmann, Sophus Bugge, P. A. Munch và Rudolph Keyser. Đối với phần tư liệu trong lời nói đầu và chú thích của mình, chúng tôi chủ yếu mang ơn Simrock, Wilkin và Keyser. Dù chúng tôi không có cơ hội tiến hành những nghiên cứu nguyên bản, các tác phẩm đã xuất bản đều đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, và tất cả những gì chúng tôi dám khẳng định về công sức của mình là nó đúc kết được những thành quả mới mẻ và thấu đáo nhất từ các học giả sống gần cội nguồn của Urd và Mimer hơn chúng ta. Các bản dịch của chúng tôi được thực hiện từ các ấn bản nguyên tác của Egilsson, Jonsson và Wilkins. Chúng tôi không dịch bất kỳ phần nào của Hattatal, và chỉ dịch phần tự sự của Skaldskaparmal, thế nhưng bản dịch của chúng tôi vẫn chứa đựng nhiều nội dung của Edda Trẻ hơn bất kỳ bản dịch tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp hoặc tiếng Đan Mạch nào từng được công bố trước đây. Những phần bị lược bỏ chắc chắn sẽ chẳng mang lại chút hứng thú nào cho những ai không thể đọc chúng bằng ngôn ngữ gốc. Toàn bộ các phép ví von về các vị thần asa và asynje, về thế giới, trái đất, biển cả, mặt trời, gió, lửa, mùa hè, đàn ông, đàn bà, vàng, chiến tranh, vũ khí, tàu thuyền, hoàng đế, vua chúa, lãnh chúa, v.v., chỉ hữu ích ở chỗ chúng giúp giải thích các đoạn trong thơ Bắc Âu cổ. Điều tương tự cũng đúng với phần liệt kê các thể thơ, trong đó chứa đựng vô số biệt hiệu và ẩn dụ được các skald sử dụng, minh họa bằng các đoạn thơ của họ, và cả một bài thơ do Snorre Sturleson sáng tác bằng một trăm thể thơ khác nhau.
Đã có rất nhiều cuộc tranh luận uyên bác xung quanh vấn đề tác giả của Edda Trẻ. Những độc giả đặc biệt quan tâm đến chủ đề hóc búa này, chúng tôi xin chuyển họ đến chuyên khảo công phu của Wilkins, Untersuchungen zur Snorra Edda (Paderborn, 1878), và tác phẩm Die Æchtheit der Asalehre của P. E. Muller (Copenhagen, 1811).
Hai cái tên lừng lẫy mà không còn nghi ngờ gì nữa có mối liên hệ mật thiết với tác phẩm chính là Snorre Sturleson và Olaf Thordsson Hvitaskald. Cả hai nhân vật này đều vô cùng nổi bật, không chỉ trong lịch sử văn học mà cả trong lịch sử chính trị của Iceland.
Snorre Sturleson sinh ra tại Iceland vào năm 1178. Khi lên ba tuổi, cậu được đưa đến gia thất của vị thủ lĩnh lừng danh Jon Loptsson tại Odde—một người cháu nội của Sæmund Thông thái, người được cho là đã sưu tầm Edda Già—và dường như cậu đã ở lại đó cho đến khi Jon Loptsson qua đời vào năm 1197. Chẳng lâu sau đó, Snorre kết hôn với một gia đình giàu có, và chỉ trong một thời gian ngắn, cậu đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo xuất chúng nhất tại Iceland. Ông nhiều lần được bầu làm chánh án tối cao, và không một ai trong xứ sở có thể sánh kịp với ông về sự giàu có cũng như thế lực. Ông cùng hai người anh lớn là Thord và Sighvat—những người chẳng kém cạnh ông là bao về tài sản và quyền lực—từng có thời điểm nắm quyền lực gần như tối cao tại Iceland, và Snorre đôi khi xuất hiện tại đại hội Althing ở Thingvols với đoàn tùy tùng gồm từ tám trăm đến chín trăm tay súng.
Snorre và các anh em của ông không chỉ vướng vào những mối thù hằn cay đắng với các gia tộc khác, mà một sự căm ghét chết người cũng nảy sinh giữa chính họ với nhau, biến cuộc đời họ thành một cuộc chiến tranh liên mién. Snorre là một chính trị gia lẫn chánh án đầy mưu lược, đồng thời là một diễn giả và skald kiệt xuất, nhưng tâm địa ông ta ti tiện và nhiều mưu mô xảo trá. Ông vừa đầy tham vọng lại vừa ham lam tiền tài. Người ta kể rằng ông là người Iceland đầu tiên ấp ủ âm mưu khuất phục quê hương mình dưới quyền nước Na Uy, và trong bối cảnh đó, ông được cho là đã nuôi hy vọng trở thành một jarl dưới triều vua Na Uy. Trong nỗ lực này, ông nhận ra mình đã bị chính người cháu gọi bằng bác là Sturle Thordsson qua mặt, và vì thế ông rơi vào mối quan hệ thù địch với người cháu này. Trong mối thù đó, Snorre đã thất bại, nhưng khi Sturle chẳng bao lâu sau ngã xuống trong một trận chiến chống lại kẻ thù của mình, ngôi sao hy vọng của Snorre lại bừng sáng trở lại, và ông bắt đầu bận bịu với những kế hoạch tham vọng vươn xa. Ông từng đặt chân đến Na Uy lần đầu tiên trong những năm 1218-1220, và đã được tiếp đón nồng hậu bởi Vua Hakon, đặc biệt là bởi Jarl Skule—người lúc bấy giờ là nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong nước. Vào năm 1237, Snorre lại ghé thăm Na Uy lần nữa, và người ta tin rằng ông đã vướng vào những âm mưu phản quốc cùng Jarl Skule. Năm 1239, ông rời Na Uy bất chấp ý muốn của Vua Hakon—vị quân chủ mà ông phải mang ơn vâng lệnh—và qua đó chuốc lấy cơn thịnh nộ tột cùng của nhà vua. Khi Vua Hakon, vào năm 1240, đè bẹp cuộc nổi loạn của Skule và tiêu diệt hoàn toàn kẻ thù nguy hiểm này, thì đến lượt Snorre phải nếm trải hậu quả từ cơn giận dữ của nhà vua. Theo sự xúi giục của Vua Hakon, một số tù trưởng Iceland đã liên minh lại với nhau để chống lại Snorre và ám sát ông tại Reykholt—nơi tàn tích dinh thự tráng lệ của ông vẫn còn có thể nhìn thấy cho đến ngày nay. Sự kiện này diễn ra vào ngày 22 tháng 9 năm 1241, và khi đó Snorre Sturleson đã bước sang tuổi sáu mươi ba. Snorre là nhà skald và bậc thầy kể chuyện saga kiệt xuất nhất của Iceland. Với tư cách là một nhà chép sử, ông xứng đáng được đặt lên bàn cân so sánh với Herodotus hay Thucydides. Bộ Heimskringla của ông, bao gồm một lịch sử công phu về các vị vua Na Uy, nổi tiếng khắp thế giới văn minh, và Emerson đã gọi nó là bộ sử thi Iliad và Odyssey của giống nòi chúng ta. Một bản dịch tiếng Anh của tác phẩm này đã được Samuel Laing xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1844. Tác phẩm Những vị vua đầu tiên của Na Uy (Luân Đôn, 1875) của Carlyle cũng được truyền cảm hứng từ bộ Heimskringla.
Olaf Thordsson, mang biệt hiệu Hvitaskald, để phân biệt ông với người đồng thời là Olaf Svartaskald, là con trai của người anh trai Snorre. Dù không nổi bật và có sức ảnh hưởng lớn như người bác của mình, ông vẫn tham gia tích cực vào mọi biến động trên hòn đảo quê hương trong nửa đầu thế kỷ thứ mười ba. Ông đến thăm Na Uy vào năm 1236, từ đó tiếp tục đi Đan Mạch và trở thành khách quý tại triều đình Vua Valdemar, được cho là rất mực được kính trọng. Vào năm 1240, chúng ta lại thấy ông có mặt ở Na Uy, nơi ông đứng về phía Vua Hakon để chống lại Skule. Khi trở về Iceland, ông đã có bốn năm đảm nhiệm chức vụ chánh án tối cao của hòn đảo. Ông qua đời vào năm 1259, và được ghi danh vào hàng ngũ những nhà skald vĩ đại của Iceland.
Snorre Sturleson và Olaf Hvitaskald là hai cái tên thường được quy cho là tác giả của Edda Trẻ, và cho đến tận ngày nay, tác phẩm này vẫn được nhiều người gọi là Snorra Edda—tức là Edda của Snorre. Chúng tôi không có ý định đi sâu bàn luận phức tạp về chủ đề rắc rối này, nhưng chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn những lý do được đưa ra bởi Keyser cùng những người khác để tin rằng hai ông lớn này thực sự có nhúng tay vào việc biên soạn Edda Văn xuôi. Trước hết, chúng ta thấy rằng người chép phần ngữ pháp và tu từ học của Edda Trẻ đã nhắc đến Snorre một cách rõ ràng với tư cách là tác giả của Hattatal (Clavis Metrica), không chỉ riêng bài thơ mà cả chuyên luận văn xuôi đi kèm. Thứ hai, bản thảo da cừu Arne Magnæan, có niên đại từ cuối thế kỷ thứ mười ba hoặc đầu thế kỷ thứ mười bốn, mang lời đề từ dẫn nhập sau đây cho phần Skaldskaparmal: “Đến đây là kết thúc phần sách do Olaf Thordsson chắp nối, và giờ đây bắt đầu phần Skaldskaparmal cùng các Kenningar, chiếu theo những gì đã được tìm thấy trong các khúc ngâm của những nhà skald hàng đầu, và được Snorre sau đó cho phép thu thập lại.” Thứ ba, bản thảo Upsala của Edda Trẻ, được xác định chắc chắn là viết vào đầu thế kỷ thứ mười bốn, có chứa lời nói đầu này được viết bằng chính nét bút của người sao chép toàn bộ tác phẩm: “Cuốn sách này có tên là Edda. Snorre đã biên soạn nó theo trật tự sắp xếp như sau: trước hết là về các vị asa và Ymer, kế đến là Skaldskaparmal cùng các danh xưng của nhiều sự vật, và cuối cùng là phần Hattatal mà Snorre đã sáng tác về Vua Hakon cùng Công tước Skule.” Thứ tư, có một đoạn trong tác phẩm mang tên Annales Breviores, được cho là viết vào khoảng năm 1400. Đoạn này đề cập đến năm 1241 và viết như sau: “Snorre Sturleson đã qua đời tại Reykholt. Ông là một người khôn ngoan và vô cùng uyên bác, một tù trưởng lớn và đầy mưu lược. Ông là người đầu tiên trong xứ sở này đưa tài sản rơi vào tay nhà vua (vua Na Uy). Ông đã biên soạn Edda cùng nhiều công trình lịch sử uyên bác khác cùng các câu chuyện saga Iceland. Ông bị ám sát tại Reykholt bởi tay chân của Jarl Gissur.”
Do đó, dường như không còn chút hoài nghi nào về việc hai nhân vật này đã cùng chia sẻ vai trò tác giả của Edda Trẻ. Mức độ đóng góp lớn đến đâu cho mỗi người lại là một vấn đề khác và hóc búa hơn để giải quyết. Quan điểm của Rudolf Keyser (và chúng tôi không biết có thẩm quyền nào lớn hơn về chủ đề này) cho rằng Snorre chính là tác giả của Gylfaginning, Bài phát biểu của Brage, Skaldskaparmal và Hattatal, dù không theo nghĩa chặt chẽ như cách chúng ta dùng từ ngữ ngày nay. Do đó, phần này của Edda Trẻ có thể được cho là có từ khoảng năm 1230, mặc dù chất liệu làm nên hệ thống thần thoại này tất nhiên còn cổ xưa hơn rất nhiều. Chúng ta tìm thấy nó trong bài thơ cổ Lời tiên tri của Vala thuộc Edda Già—một tác phẩm thấm đẫm trong từng câu chữ đức tin thuần khiết nhất vào các vị asa, và không mảy may nghi ngờ gì nữa, nó cổ hơn rất nhiều thời điểm Ki-tô giáo được truyền vào phương bắc, hay thời điểm Iceland được phát hiện và định cư. Không loại trừ khả năng hệ thống tôn giáo của đạo Odin đã hình thành một dạng văn xuôi cố định trong ký ức người dân từ lâu trước thời đại của Snorre, và ông đơn thuần chỉ là người đóng vai trò đưa nó lên trang giấy gần như không thay đổi một chữ nào.
Olaf Thordsson chắc chắn là tác giả của phần ngữ pháp và tu từ học trong Edda Trẻ, và do đó niên đại của nó có thể được ấn định một cách an toàn vào khoảng năm 1250. Tác giả của chuyên luận về bảng chữ cái vẫn chưa được biết rõ, nhưng Giáo sư Keyser cho rằng nó hẳn phải được viết: chương đầu vào khoảng năm 1150, và chương thứ hai vào khoảng năm 1200. Các lời nói đầu và lời bạt rõ ràng cũng xuất phát từ một cây bút khác.
Tác giả của chúng không rõ danh tính, nhưng người ta cho rằng chúng được viết vào khoảng năm 1300. Tóm lại, chúng ta đi đến kết luận sau: Chất liệu thần thoại của Edda Trẻ cổ xưa như chính giống nòi Teuton. Một số phần do các tác giả vô danh viết nên. Một phần nhỏ là công trình của Olaf Thordsson. Phần quan trọng nhất được viết ra, hay nói đúng hơn là được biên soạn, bởi Snorre Sturleson, và toàn bộ tác phẩm cuối cùng được biên tập lại kèm theo lời nói đầu cùng lời bạt vào đầu thế kỷ thứ mười bốn—theo Keyser, là vào khoảng 1320-1330.
Xung quanh cái tên Edda cũng từng diễn ra vô số cuộc tranh luận uyên bác. Một số người gợi ý rằng nó có thể là một dạng biến thể bị cắt xén của từ Odde, quê hương của Sæmund Thông thái—vị trí vốn lâu nay được cho là người biên soạn Edda Già. Trong bối cảnh này, người ta lập luận rằng rất có thể Sæmund cũng đã bắt đầu viết Edda Trẻ. Những người khác lại suy nguyên từ này từ gốc óðr (tâm trí, linh hồn), trong cách dùng thơ ca còn mang nghĩa là khúc ngâm, thơ ca. Lại có những người khác liên kết Edda với một từ tiếng Phạn là Veda, được cho là mang ý nghĩa tri thức. Cuối cùng, số khác chấp nhận ý nghĩa mà từ này thực sự mang trong Edda Già, nơi nó có nghĩa là cố ngoại (bà cố). Vigfusson chấp nhận định nghĩa này, và nó quả thực mang tính khoa học lẫn chất thơ. Còn gì tuyệt đẹp hơn ý tưởng rằng bà tổ tiên vĩ đại của chúng ta đang dạy cho con cháu những truyền thống thiêng liêng cùng thứ trí tuệ cô đọng của giống nòi?
Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng Edda Trẻ, hay Edda Văn xuôi, hay Edda của Snorre, đã được tạo ra vào những thời điểm khác nhau bởi nhiều bàn tay khác nhau, với mục đích cung cấp một cuốn cẩm nang cho các skald. Ngoài lời nói đầu và lời bạt, nó bao gồm hai cuốn sách: một cuốn lớn hơn (Gylfaginning) và một cuốn nhỏ hơn (Bài phát biểu của Brage), cung cấp một bức tranh tương đối đầy đủ về thần thoại Bắc Âu. Tiếp theo là Skaldskaparmal, trong đó phân tích các lối nói vòng vo khác nhau được các skald thực hành, tất cả đều được minh họa bằng những trích dẫn phong phú từ các nhà thơ. Không rõ Snorre đã viết bao nhiêu phần trong ba phần này, nhưng đổi lại, không còn nghi ngờ gì nữa khi ông chính là tác giả của Hattatal (Clavis Metrica)—tác phẩm liệt kê các thể thơ. Bổ sung vào bốn chuyên luận này là bốn chương về ngữ pháp và tu từ học. Tác giả của chuyên luận ngữ pháp cổ nhất được cho là Thorodd Bậc thầy Chữ rune, người sống vào giữa thế kỷ thứ mười hai; và chuyên luận thứ ba rõ ràng do Olaf Thordsson Hvitaskald—cháu gọi Snorre bằng bác, một học giả từng dành một khoảng thời gian tại triều đình vua Đan Mạch Valdemar Kẻ chiến thắng—chắp bút.
Edda Trẻ chứa đựng hệ thống thần phả và vũ trụ quan của tổ tiên chúng ta, trong khi Edda Già trình bày đức tin Odin qua một chuỗi các khúc ngâm hoặc bài thơ tụng ca. Edda Già là thơ ca, còn Edda Trẻ chủ yếu là văn xuôi. Theo một nghĩa nào đó, Edda Trẻ có thể được xem là phần tiếp theo hoặc lời bình chú cho Edda Già. Cả hai bổ sung cho nhau, và cả hai phải được nghiên cứu gắn liền với các câu chuyện saga cùng toàn bộ truyền thống và văn folklore của người Teuton để có được cái nhìn toàn diện về đức tin asa. Hai bộ Edda hợp thành, có thể nói như vậy, Kinh thánh của đạo Odin. Edda Già là Cựu Ước, Edda Trẻ là Tân Ước. Giống như Cựu Ước, Edda Già được viết bằng thơ. Nó mang tính tiên tri và đầy ẩn ý. Giống như Tân Ước, Edda Trẻ được viết bằng văn xuôi; nó sáng sủa và cung cấp chìa khóa mở ra những đoạn tối nghĩa trong Edda Già. Thậm chí, ở nhiều khía cạnh, hai bộ Edda hoàn toàn tương ứng với hai phần giao ước trong Kinh thánh Ki-tô giáo.
Một thực tế đáng buồn là tôn giáo của tổ tiên chúng ta dường như ít được quan tâm tại đất nước này. Bất kỳ sinh viên nào cũng tỏ ra hứng thú với thần thoại của các dân tộc khác. Họ đọc với nhiệt huyết lớn nhất mọi truyền thuyết của La Mã và Hy Lạp, của Ấn Độ và Trung Quốc. Họ quen thuộc với từng căn phòng trong mê cung của xứ Crete, thế nhưng khi được dẫn vào những sảnh đường lừng lẫy của Valhal và Gladsheim, họ lại mò mẫm đường đi như một kẻ mù lòa. Họ không biết rằng Idun, với những quả táo tuyệt đẹp của bà, nếu được cậy nhờ, thậm chí còn có thể mang lại những dịch vụ vĩ đại hơn cả Ariadne với cuộn chỉ kỳ diệu của nàng. Khi chúng ta gặng hỏi xem ngày Thứ Ba (Tuesday), Thứ Tư (Wednesday), Thứ Năm (Thursday) và Thứ Sáu (Friday) được đặt tên theo ai, và dồn dập hỏi về Tyr, Odin, Thor cùng Freyja, thì thứ nhận lại cùng lắm chỉ là một cái nhìn đầy khôn ngoan và hiểu biết. Phải chăng chúng ta, với tư cách là một quốc gia, cũng giống như người Do Thái cổ đại, đang quỳ gối trước các vị thần của những xứ sở xa lạ và ruồng bỏ bàn thờ của các vị thần xứ mình? Sẽ ra sao nếu lúc đó chúng ta phải chịu đựng số phận của dân tộc bất hạnh ấy—bị phân tán khắp thế gian và mất đi quê hương xứ sở? Trong những bộ Edda này, cha ông đã để lại cho chúng ta tất cả những tư tưởng uyên thâm nhất, cao cả nhất và tuyệt vời nhất của họ. Chúng là kết tinh cô đọng từ nỗ lực trí tuệ và tinh thần vĩ đại nhất của họ, và chúng ta có trách nhiệm phải trân quý kho báu này, biến nó thành dòng suối nguồn để toàn bộ nhánh người Mỹ thuộc cây tần bì Ygdrasil có thể thấm nhuần một tinh thần dân tộc chung thủy. Sẽ là chưa đủ nếu chỉ phủi sạch bụi bám trên những vị thần nam và thần nữ của tổ tiên rồi đặt họ lên bệ đá như những món đồ trang trí trong các bảo tàng và thư viện. Những đồng tiền xu từ quá khứ này không được phép cất giấu trong các bộ sưu tập tiền cổ. Đứa cháu nội phải biết sử dụng những gì nó được thừa kế từ ông nội của mình. Nếu đồng tiền ấy không còn dễ hiểu, thì nó sẽ phải được đưa đến nhà đúc tiền và dập lại, để nó có thể lưu thông rộng rãi.
Các vị thần tổ tiên của chúng ta xứng đáng có một chỗ đứng trong trái tim và trong những khúc ca của chúng ta.
Tại lục địa châu Âu và ở nước Anh, sự nhiệt thành của các giáo sĩ trong việc truyền bá Ki-tô giáo lớn đến mức họ tìm cách nhổ tận gốc mọi dấu vết của đức tin asa. Họ chỉ để lại những mảnh vỡ không tài nào hiểu nổi của cấu trúc tôn giáo ngoại giáo. Các vị thần nam, thần nữ và anh hùng của chúng ta bị đày đọa vào cõi lãng quên, và mọi hiểu biết về tôn giáo Odin cùng câu chuyện về nhà Niblung hẳn đã hoàn toàn bị xóa sổ nếu như một vì sao may mắn hơn không chiếu rọi lên vận mệnh của Iceland. Tại góc khuất xa xôi nhất thế giới này, tinh thần của tổ tiên đã được gìn giữ tựa như những tàn lửa đỏ rực của ngọn Hekla ẩn dưới lớp tuyết và băng giá của dòng sông băng. Từ xứ Thule xa xôi nhất, tinh thần của cha ông chúng ta trỗi dậy và tỏa sáng rực rỡ tựa ánh cực quang trên toàn cõi Teutondom. Đó là vào năm 860 khi Iceland được phát hiện. Năm 874, tinh thần Teuton đã trốn chạy đến đó để tìm kiếm chốn dung thân khỏi ách bạo tàn. Tại đây, một chính phủ dựa trên các nguyên tắc tự do Teuton cổ đại đã được thiết lập. Từ nơi đây đã xuất hiện những tên cúp biển gan dạ, những kẻ đã phát hiện ra Greenland và Vinland, đồng thời chỉ đường cho Columbus đến nước Mỹ. Từ nơi đây, các triều đình Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Anh và Đức đã được cung cấp các skald để cất cao tiếng hát ca ngợi họ. Tại đây, những bộ luật và câu chuyện saga—những thứ mang lại cho chúng ta manh mối về hình thái các thiết chế Teuton cổ đại—đã được ghi chép lại thành văn bản.
Tại đây, ngôn ngữ Bắc Âu cổ đã được bảo tồn, và cùng với nó là những ghi chép về phong tục, các thiết chế cùng tôn giáo của cha ông chúng ta. Văn học của nó không chỉ thuộc về riêng hòn đảo đó—nó thuộc về toàn bộ giống nòi Teuton! Iceland đối với người Teuton cũng giống như Hy Lạp và La Mã đối với miền nam châu Âu, và hòn đảo ấy đã hoàn thành sứ mệnh của mình với không kém phần hiệu quả và thành công. Cato Già thường kết thúc mọi bài diễn văn của mình bằng câu nói: “Præterea censeo Carthaginem esse delendam.” Trong những ngày này, khi có quá nhiều kẻ tôn sùng đền thờ La Mã giáo, chúng ta nghĩ rằng hoàn toàn chính đáng khi tiếp nhận câu nói của Cato theo hình thức sau: Præterea censeo Romam esse delendam.
1. Vào thuở ban đầu, Thiên Chúa Toàn năng đã tạo dựng trời và đất, cùng vạn vật thuộc về chúng, và cuối cùng Ngài tạo nên hai con người mà từ đó các dòng dõi đâm chồi nảy lộc (Adam và Eva), rồi con cháu họ sinh sôi nảy nở và lan rộng khắp thế gian. Nhưng theo dòng thời gian, con người trở nên bất đồng; một số thì tốt bụng và có đức tin chân chính, nhưng phần đông lại chạy theo dục vọng thế gian và phớt lờ các luật lệ của Chúa; và chính vì lý do này mà Chúa đã nhấn chìm thế giới trong trận đại hồng thủy, quét sạch mọi sinh linh trên cạn, ngoại trừ những ai có mặt trong chiếc hòm cùng Noah. Sau trận hồng thủy của Noah, có tám con người sống sót để cư ngụ trên thế gian, và từ họ các giống nòi được sinh sôi; và giờ đây, giống như trước kia, họ gia tăng số lượng và lấp đầy thế gian, và có rất nhiều kẻ ưa chuộng việc thèm khát tài sản cùng quyền lực nhưng lại quay lưng với sự vâng phục Chúa, đến mức họ từ thốt lên danh xưng của Chúa. Và khi ấy, ai có thể kể cho con cháu nghe về những công trình kỳ diệu của Chúa cơ chứ? Thế là họ đánh mất danh xưng của Chúa; và khắp thế gian rộng lớn, chẳng thể tìm đâu ra một con người có thể kể về Đấng Tạo Hóa của mình. Tuy nhiên, Chúa vẫn ban cho họ những ân huệ trần thế, của cải và hạnh phúc để đồng hành cùng họ trên c gian; Ngài cũng ban phát trí tuệ cho họ, để họ thấu hiểu mọi sự vật trần thế, cùng muôn vàn hình thái có thể nhìn thấy trên bầu trời và trên mặt đất. Họ đã ngẫm nghĩ về điều này, và tự hỏi không biết làm thế nào mà mặt đất, muông thú và chim chóc lại có chung một bản chất ở một số khía cạnh nhưng vẫn khác biệt nhau về tập tính.
Một minh chứng cho bản chất này là mặt đất có thể bị đào khoét lên tận những đỉnh núi cao và nước sẽ tuôn trào ở đó, và việc đào tìm nguồn nước ở nơi ấy chẳng cần phải sâu hơn so với ở những thung lũng sâu thẳm; tương tự như vậy, ở muông thú và chim chóc, khoảng cách từ đầu đến dòng máu cũng chẳng xa hơn so với từ chân. Một bằng chứng khác về bản chất này là mỗi năm trên mặt đất lại mọc lên cỏ cây và hoa trái, rồi cũng chính năm đó chúng rụng xuống và héo úa; cũng vậy, lông và vũ trên mình muông thú và chim chóc cũng mọc lên rồi rụng đi mỗi năm. Bản chất thứ ba của mặt đất là khi nó bị mở tung và đào xới, cỏ sẽ mọc lên trên lớp đất mùn nằm ở tận cùng phía trên của mặt đất. Đá và sỏi được họ giải thích là tương ứng với răng và xương của các sinh vật sống. Từ những điều này, họ phán đoán rằng mặt đất chắc chắn phải có linh hồn và mang sự sống theo một cách nào đó, đồng thời họ biết rằng nó có tuổi thọ kỳ diệu và một bản chất hùng vĩ. Nó nuôi dưỡng mọi sinh linh và thu nhận vào lòng mọi thứ đã ngã xuống. Vì lý do này, họ đã đặt cho nó một cái tên, và ngược dòng thời gian để truy nguyên tổ tiên về với nó. Họ cũng học được điều này từ những người họ hàng lớn tuổi của mình, rằng khi đếm qua hàng trăm mùa đông, quỹ đạo của các thiên thể vốn không đều đặn; có những thiên thể có hành trình dài hơn những thiên thể khác. Từ những sự việc như vậy, họ hoài nghi rằng hẳn phải có một ai đó cai quản các thiên thể—kẻ có thể dừng hành trình của chúng theo ý muốn riêng của mình—và kẻ đó hẳn phải vô cùng hùng mạnh và quyền uy; và họ nghĩ về ngài rằng, nếu ngài cai trị các nguyên tố sơ khai, ngài ắt hẳn cũng phải tồn tại trước cả các thiên thể, và họ nhận thấy rằng, nếu ngài thống trị quỹ đạo của các thiên thể, ngài chắc chắn phải cai quản ánh nắng mặt trời, sương mai từ bầu trời, và những sản vật của mặt đất sinh sôi nhờ chúng; và do đó, cả những cơn gió trên không trung cùng những trận cuồng phong ngoài biển khơi. Họ không biết vương quốc của ngài nằm ở đâu, nhưng họ tin rằng ngài cai trị muôn loài trên mặt đất và trong không gian, trên các tầng trời và các thiên thể, trên biển cả và thời tiết. Nhưng để những điều này được kể lại và ghi nhớ tốt hơn, họ đã ban cho ngài cái tên giống với tên của chính họ, và niềm tin này đã thay đổi theo nhiều cách khác nhau khi các dân tộc bị chia tách và ngôn ngữ bị phân rẽ.
2. Về già, Noah chia sẻ thế giới cho các con trai mình: cho Ham vùng miền tây, cho Japheth vùng miền bắc, nhưng cho Shem vùng miền nam, cùng với những phần mà sau này sẽ được khoanh vùng trong sự phân chia trái đất thành ba phần. Vào thời mà con cháu của những người này còn đang sống trên đời, ham muốn về của cải và quyền lực bỗng chốc trỗi dậy mạnh mẽ từ thực tế là họ nắm giữ nhiều kỹ nghệ chưa từng được khám phá trước đó, và ai nấy đều kiêu hãnh với thành quả do đôi tay mình tạo ra; sự kiêu ngạo của họ đẩy đi xa đến mức người châu Phi, hậu duệ của Ham, đã đi cướp bóc vùng đất do dòng dõi của Shem—những người họ hàng của họ—cư ngụ. Và khi đã chinh phục được họ, thế giới bỗng trở nên quá chật hẹp đối với họ, và họ đã cùng nhau đúc kết một tòa tháp bằng gạch ngói và đá, với ý định vươn tới tận thiên đường, trên vùng đồng bằng mang tên Sennar. Và khi công trình xây dựng ấy tiến triển đến mức vượt lên trên cả tầng không, trong khi sự háo hức tiếp tục công việc của họ không hề suy giảm, khi Chúa nhìn thấy sự kiêu ngạo của họ dâng cao ngút trời, Ngài liền hiểu rằng mình phải giáng một đòn trừng phạt để hạ gục nó bằng cách này hay cách khác. Và chính vị Chúa toàn năng ấy, dù có thể đánh sụp toàn bộ công trình của họ chỉ trong chớp mắt và biến chính họ thành cát bụi, vẫn chọn cách làm thất bại mục đích của họ bằng cách khiến họ nhận thức được sự nhỏ bé của chính mình, sao cho không ai hiểu được người kia đang nói gì; và thế là chẳng ai biết người kia đang sai khiến điều gì, kẻ này phá vỡ những gì người kia muốn dựng xây, cho đến khi họ lâm vào cảnh tranh chấp lẫn nhau, và thế là mục đích xây tháp thuở ban đầu của họ đã tan thành mây khói. Và kẻ đứng đầu tiên, mang tên Zoroaster, đã cười trước khi khóc khi hắn cпад xuống cõi đời này; nhưng các bậc thầy thợ cả có số lượng là bảy mươi hai, và bấy nhiêu thứ tiếng đã lan rộng khắp thế gian kể từ khi những kẻ khổng lồ bị phân tán khắp các vùng đất và các quốc gia trở nên đông đúc. Ngay tại chốn này, thành phố nổi tiếng nhất đã được xây dựng, lấy tên từ tòa tháp và được gọi là Babylon. Và khi sự hỗn loạn ngôn ngữ diễn ra, tên gọi của con người và muôn vật cũng theo đó mà gia tăng, và chính Zoroaster này cũng mang rất nhiều tên gọi; dẫu hiểu rằng sự kiêu ngạo của mình đã bị hạ bệ bởi tòa tháp nói trên, hắn ta vẫn xoay xở dọn đường để vươn tới quyền lực thế tục, và tự phong mình làm vua cai trị nhiều dân tộc Assyria. Từ hắn đã nảy sinh căn bệnh sùng bái thần tượng; và khi được tôn sùng, hắn được gọi là Baal; chúng ta gọi hắn là Bel; hắn cũng có vô số tên gọi khác. Nhưng khi số lượng tên gọi gia tăng, sự thật lại bị mai một; và từ sai lầm đầu tiên này, mỗi thế hệ tiếp nối đều tôn sùng người thủ lĩnh tối cao của họ, muông thú hoặc chim chóc, bầu trời cùng các thiên thể, và nhiều vật vô tri vô giác khác, cho đến khi sự lầm lạc ấy cuối cùng lan rộng khắp toàn cầu; và họ đánh mất chân lý kỹ lưỡng đến mức chẳng một ai còn nhận ra Đấng Tạo Hóa của mình, ngoại trừ những con người duy nhất nói tiếng Hebrew—thứ ngôn ngữ hưng thịnh trước thời điểm xây dựng tòa tháp—và dẫu vậy họ vẫn không đánh mất những năng lực thể xác đã được ban cho, và do đó họ phán đoán mọi sự bằng trí tuệ trần thế, bởi sự khôn ngoan thuộc về tâm linh đã không được ban cho họ. Họ cho rằng vạn vật đều được đúc kết từ một nguyên liệu nào đó.
3. Thế giới được chia thành ba phần: phần từ phương nam trải dài về hướng tây đến tận Biển Địa Trung Hải được gọi là châu Phi; thế nhưng phần phía nam của vùng này rất nóng bức và bị mặt trời thiêu đốt. Phần thứ hai, từ phía tây kéo dài lên phía bắc và hướng ra biển, là nơi được gọi là châu Âu, hoặc Enea. Phần phía bắc của nơi này rất lạnh giá, đến mức cỏ không thể mọc nổi và cũng chẳng ai có thể sinh sống ở đó. Từ phía bắc vòng qua vùng phía đông, và toàn bộ hướng xuống phía nam, được gọi là châu Á. Nơi vùng đất đó ngập tràn vẻ đẹp, sự lộng lẫy, cùng sự giàu có về sản vật của đất đai, vàng bạc và đá quý. Đó cũng là trung tâm của thế giới, và vì đất đai ở đó đẹp đẽ và có chất lượng tốt hơn bất kỳ nơi nào khác, nên con người ở đó cũng được phú bẩm những ân huệ phong phú nhất, với trí tuệ và sức mạnh, với sắc đẹp cùng mọi tri thức.
4. Gần trung tâm thế giới, người ta đã xây dựng nên ngôi nhà và quán trọ lừng lẫy nhất từng được tạo ra, mang tên Troy, nằm trong vùng đất mà chúng ta gọi là Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phố này được xây dựng lớn hơn nhiều so với những nơi khác, với kỹ thuật khéo léo hơn ở nhiều phương diện, tốn kém khoản chi phí lớn, cùng với những phương tiện sẵn có lúc bấy giờ. Nơi đây có mười hai vương quốc cùng một vị đại vương uy hiêm, và rất nhiều vùng đất cùng dân tộc thuộc về mỗi vương quốc; có đến mười hai thứ tiếng chính được sử dụng trong thành phố này. Các thủ lĩnh của họ đã vượt qua tất cả những con người từng hiện diện trên đời trong mọi chiến công anh dũng. Không một học giả nào từng kể về những chuyện này lại dám tranh cãi về thực tế đó, và lý do là vì toàn bộ các bậc cai quản vùng miền bắc đều truy nguyên tổ tiên của họ về tận nơi đây, đồng thời đưa tất cả những ai từng là thủ lĩnh của thành phố vào hàng ngũ các vị thần. Đặc biệt, họ đặt chính Priamos vào vị trí của Odin; và điều đó không được coi là kỳ lạ, bởi Priamos xuất thân từ Saturn—vị thần mà miền bắc từng có một thời gian dài tin là chính Thiên Chúa.
5. Saturn này lớn lên tại hòn đảo Crete ở Hy Lạp. Ông lớn hơn, mạnh mẽ hơn và khôi ngô hơn những người khác. Giống như các năng khiếu tự nhiên khác, ông vượt trội hơn tất cả mọi người về trí tuệ. Ông đã phát minh ra nhiều nghề thủ công chưa từng được khám phá trước đó. Ông cũng rất uyên bác trong nghệ thuật ma thuật đến mức có thể nắm chắc những điều chưa từng xảy ra. Ông cũng tìm ra thứ kim loại đỏ trong lòng đất để từ đó luyện thành vàng, và nhờ những điều đó mà chẳng mấy chốc ông trở nên vô cùng quyền lực. Ông cũng tiên đoán về các mùa gặt cùng nhiều điều bí mật khác, và vì những chiến công đó cùng nhiều việc khác, ông được chọn làm thủ lĩnh của hòn đảo. Và khi ông cai trị nơi này được một thời gian ngắn, sự sung túc dồi dào về mọi thứ nhanh chóng xuất hiện. Không có đồng tiền nào lưu thông ngoài tiền vàng, kim loại ấy quá ư dồi dào; và dẫu cho các vùng đất khác phải chịu cảnh đói kém, mùa màng ở Crete chưa bao giờ mất mùa, để rồi người ta có thể tìm đến đó mọi thứ họ cần. Chính từ điều này cùng nhiều ân huệ quyền năng bí mật khác mà ông sở hữu, người ta tin ông là Thần, và từ đó nảy sinh một sự lầm lạc khác ở người Crete và Macedonia giống như sai lầm từng được nhắc đến ở trên của người Assyria và Chaldea bắt nguồn từ Zoroaster. Và khi Saturn nhận ra sức mạnh to lớn mà người ta nghĩ rằng họ có được nơi ông, ông tự xưng mình là Thần, và tuyên bố rằng ông thống trị trời đất cùng vạn vật.
6. Có lần ông đi đến Hy Lạp trên một con thuyền, bởi có một nàng công chúa mà ông đã đem lòng thương nhớ. Ông chiếm được tình cảm của nàng theo cách này: một ngày nọ khi nàng đang đi dạo cùng các nữ tỳ, ông hóa thành hình hài một con bò đực và nằm phục trước mặt nàng trong khu rừng, sắc vàng óng ả hiện diện trên từng sợi lông khiến ông trông vô cùng tuấn tú; và khi nàng công chúa nhìn thấy ông, nàng đã đưa tay vỗ về đôi môi ông. Ông chồm dậy, rũ bỏ lớp lốt bò đực, ôm chầm lấy nàng đưa lên thuyền rồi chở thẳng về Crete. Nhưng vợ ông là Juno đã phát hiện ra chuyện này, thế là ông biến nàng (nàng công chúa) thành hình hài một con bê rồi phái nàng hướng đông đến vòng tay của dòng sông lớn (nghĩa là sông Nile, đến xứ sở sông Nile), và giao cho gã nô lệ mang tên Argulos chăm sóc nàng. Nàng bị giữ ở đó mười hai tháng trước khi ông thay đổi hình dạng cho nàng một lần nữa. Ông đã làm rất nhiều điều tương tự như vậy, hoặc thậm chí còn kỳ diệu hơn thế. Ông có ba người con trai: một người tên là Jupiter, người thứ hai là Neptune, người thứ ba là Pluto. Tất cả họ đều là những trang nam nhi tài đức vẹn toàn, trong đó Jupiter vượt trội hơn hẳn; ông là một chiến chinh vương đã chinh phục nhiều vương quốc; ông cũng mưu lược giống như cha mình, từng tự hóa thân thành nhiều loài động vật khác nhau, nhờ đó thực hiện được nhiều việc mà con người không tài nào làm nổi; và chính vì lý do này cùng những điều khác, ông khiến mọi dân tộc phải kính sợ. Do đó, Jupiter được đặt vào vị trí của Thor, bởi tất cả những sinh linh tà ác đều khiếp sợ ông.
7. Saturn đã xây dựng bảy mươi hai thành lũy tại Crete, và khi nghĩ rằng ngai vị của mình trong vương quốc đã vững như bàn thạch, ông chia sẻ nó cho các con trai—những người được ông đưa lên ngang hàng với các vị thần cùng mình; ông giao cho Jupiter vương quốc trên trời, cho Neptune vương quốc dưới mặt đất, và cho Pluto địa ngục; và nơi cuối cùng này có vẻ là khó quản lý nhất đối với ông, nên ông đã ban cho Pluto con chó của mình—con vật mà ông gọi là Cerberos—để canh giữ địa ngục. Con Cerberos này, theo người Hy Lạp kể lại, đã bị Herakles kéo lê từ địa ngục ra
khỏi mặt đất. Và dẫu Saturn đã trao vương quốc trên trời cho Jupiter, kẻ sau vẫn khao khát sở hữu vương quốc dưới trần gian, thế nên hắn đã đi cướp bóc vương quốc của chính cha mình, và người ta kể rằng hắn đã bắt giữ rồi hoạn ông, và vì những chiến công vĩ đại đó, hắn tự tuyên bố mình là thần; người ta ở Macedonia còn kể rằng hắn đã cắt đứt các bộ phận ấy rồi ném xuống biển, và vì thế trong suốt nhiều thời đại, họ tin rằng từ đó đã sinh ra một người phụ nữ; họ gọi nàng là Venus và đưa vào hàng ngũ các vị thần, từ đó đến nay nàng vẫn luôn được xưng tụng là nữ thần tình yêu, bởi họ tin rằng nàng có quyền năng chuyển hóa trái tim của mọi nam nhân và nữ nhân hướng về tình yêu. Khi Saturn bị hoạn bởi chính người con trai Jupiter của mình, ông đã trốn khỏi phương đông từ đảo Crete để chạy về hướng tây sang nước Ý. Nơi đó lúc bấy giờ cư trú những con người chẳng màng lao động, chỉ sống bằng quả sồi cùng cỏ cây, và chui rúc trong các hang động hoặc hố sâu dưới lòng đất. Và khi Saturn đặt chân đến đó, ông đã đổi tên và tự gọi mình là Njord, với lý do rằng ông nghĩ Jupiter—đứa con trai của mình—có thể sẽ tìm ra tung tích ông sau này. Ông là người đầu tiên ở đó dạy con người cách cày cấy và trồng những vườn nho. Đất đai ở đây màu mỡ và tươi tốt, chẳng mấy chốc đã mang lại những vụ mùa bội thu. Ông được tôn làm tù trưởng và nhờ đó nắm giữ toàn bộ các vương quốc nơi đây, đồng thời xây dựng nên nhiều thành lũy.
8. Người con trai Jupiter của ông có rất nhiều con trai, từ đó các dòng dõi đâm chồi nảy lộc; con trai ông là Dardanos, rồi đến Herikon, Tros, Ilos, Laomedon—cha của vị minh quân Priamos. Priamos có nhiều con trai; một trong số đó là Hektor, người nổi tiếng nhất trên thế giới về sức mạnh, vóc dáng, tài năng, cùng mọi hành vi trượng nghĩa của một hiệp sĩ; và người ta tìm thấy trong các bản ghi chép rằng khi người Hy Lạp cùng toàn bộ lực lượng từ các vùng miền bắc và đông giao chiến với người Troia, họ sẽ chẳng bao giờ giành được chiến thắng nếu người Hy Lạp không khẩn cầu các vị thần; người ta cũng nêu rõ rằng không một sức mạnh phàm trần nào có thể đánh bại họ trừ khi họ bị chính những kẻ thuộc hạ phản bội, và điều đó đã xảy ra sau đó. Và từ danh tiếng của họ, những thế hệ người sau đã tự ban cho mình những tước hiệu, điều này đặc biệt đúng với người La Mã—những kẻ nổi danh nhất về nhiều phương diện sau thời đại của họ; và người ta kể rằng, khi thành Rome được xây dựng, người La Mã đã phỏng theo các tập tục và luật lệ của họ sao cho giống nhất có thể với người Troia—những bậc tiền nhân của họ. Và nguồn sức mạnh to lớn ấy đã đồng hành cùng những con người này trong suốt nhiều thế kỷ sau đó, đến mức khi Pompey, một thủ lĩnh người La Mã, đi cướp bóc ở miền đông, Odin đã trốn khỏi châu Á và chạy đến vùng đất phía bắc này, rồi tại đây ông ban tên cho chính mình cùng thuộc hạ, đồng thời tuyên bố rằng Priamos từng mang tên Odin và hoàng hậu của ông là Frigg, và từ đó vương quốc sau này mang tên gọi là Frigia—nơi thành lũy tọa lạc. Và dù Odin tự nói điều đó về bản thân vì kiêu ngạo, hay nó được tạo nên do sự biến đổi của ngôn ngữ; dẫu thế đi nữa, nhiều nhà thông thái vẫn coi đó là một lời kể chân thực, và trong một thời gian dài sau đó, bất kỳ kẻ nào là một thủ lĩnh lớn đều noi theo tấm gương ấy.
9. Một vị vua ở Troy tên là Munon hoặc Mennon, vợ ông là con gái của vị đại vương Priamos và mang tên Troan; họ có một người con trai tên là Tror, kẻ mà chúng ta gọi là Thor. Cậu được nuôi dưỡng ở Thrace bởi vị công tước tên là Loricos. Nhưng khi lên mười tuổi, cậu đã cầm trên tay vũ khí của cha mình. Gương mặt cậu khi đứng cạnh những người khác rạng ngời và tuấn tú đến mức tựa như ngà voi khảm vào gỗ sồi; mái tóc của cậu còn óng ả hơn cả vàng. Khi lên mười hai tuổi, cậu đã đạt đến sức mạnh toàn diện; khi ấy cậu nhắc bổng lên khỏi mặt đất mười tấm da gấu cùng một lúc, rồi sau đó tiêu diệt Loricos—vị công tước, cha nuôi của cậu—cùng vợ của ông ta là Lora hoặc Glora, và chiếm lấy vùng đất Thrace; nơi này chúng ta gọi là Thrudheim. Sau đó, cậu đi thăm thú nhiều vùng đất, tường tận các quốc gia trên thế giới, và một mình đánh bại tất cả những kẻ cuồng chiến berserk, tất cả những tên khổng lồ, một con rồng vô cùng to lớn cùng muôn loài thú dữ. Tại miền bắc, cậu tìm thấy người nữ tiên tri tên là Sibyl—người mà chúng ta gọi là Sif—và cưới nàng làm vợ. Chẳng ai có thể kể nổi phả hệ của Sif; nàng là người phụ nữ đẹp nhất trong thiên hạ, mái tóc tựa như vàng mười. Con trai của họ là Loride (Hloride), người giống hệt cha mình; con trai của Loride là Henrede; con trai của Henrede là Vingethor (Vingthor);
con trai của Vingethor là Vingener (Vingner); con trai của Vingener là Moda (Mode); con trai của Moda là Magi (Magne); con trai của Magi là Kesfet; con trai của Kesfet là Bedvig; con trai của Bedvig là Atra—kẻ mà chúng ta gọi là Annan; con trai của Atra là Itrman; con trai của Itrman là Heremod (Hermod); con trai của Heremod là Skjaldun—kẻ mà chúng ta gọi là Skjold; con trai của Skjaldun là Bjaf—kẻ mà chúng ta gọi là Bjar; con trai của Bjaf là Jat; con trai của Jat là Gudolf; con trai của Gudolf là Fjarlaf—kẻ mà chúng ta gọi là Fridleif; ông sinh ra người con trai mang tên Vodin—kẻ mà chúng ta gọi là Odin; ông là một nhân vật nổi danh về trí tuệ và mọi tài năng. Vợ ông mang tên Frigida—kẻ mà chúng ta gọi là Frigg.
10. Odin có khả năng đoán định tương lai, và vợ ông cũng vậy, từ trí thức đó, ông phát hiện ra rằng danh tiếng của mình sẽ được tôn vinh ở phần phía bắc thế giới, và được kính trọng vượt trên tất cả các vị vua. Vì lý do này, ông vô cùng nóng lòng bắt đầu cuộc hành trình rời khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, mang theo rất nhiều người, già trẻ trai gái, cùng vô số vật phẩm đắt giá. Nhưng bất cứ nơi nào họ đi qua trên các vùng đất, tiếng tăm lừng lẫy của họ đều được truyền tụng, và họ được ca ngợi là giống thần thánh hơn là phàm nhân. Và họ không dừng chân trong cuộc hành trình của mình cho đến khi tiến về phía bắc, đặt chân đến vùng đất nay gọi là Saxland; tại đó Odin ở lại một thời gian dài, chinh phục xứ sở từ vùng này sang vùng khác. Tại đó, Odin lập nên ba người con trai làm lực lượng bảo vệ đất nước. Một người tên là Veggdegg; ông là một vị vua dũng mãnh và trị vì Đông Saxland. Con trai ông là
Vitrgils, và các con trai của Vitrgils gồm có Ritta—cha của Heingest (Hengist)—và Sigar—cha của Svebdegg, kẻ mà chúng ta gọi là Svipdag. Một người con trai khác của Odin tên là Beldegg, kẻ mà chúng ta gọi là Balder; ông chiếm giữ vùng đất nay mang tên Vestfal; con trai ông là Brander, tiếp đến là Frjodigar—kẻ mà chúng ta gọi là Froda (Frode). Con trai của Froda là Freovit, con trai của Freovit là Yvigg, con trai của Yvigg là Gevis, kẻ mà chúng ta gọi là Gave. Người con trai thứ ba của Odin tên là Sigge, con trai của Sigge là Verer. Những bậc tiền nhân này cai trị vùng đất nay gọi là Frankland, và từ họ sinh ra dòng dõi mang tên Volsungs. Vô số dòng dõi lớn lao và hùng mạnh khác đều xuất thân từ những con người này.
11. Sau đó, Odin tiếp tục hành trình hướng về phương bắc và đến vùng đất mang tên Reidgotaland, tại đó ông chinh phục mọi thứ theo ý muốn. Ông lập nên tại vùng này người con trai mang tên Skjold; con trai của Skjold mang tên Fridleif; từ ông xuất phát dòng dõi mang tên Skjoldungs; đây chính là những vị vua Đan Mạch, và vùng đất ấy nay mang tên Jutland, thuở đó được gọi là Reidgotaland.
12. Ngay sau đó, ông tiến về phía bắc đến nơi nay gọi là Svithjod (Thụy Điển), nơi có vị vua được gọi là Gylfe. Nhưng khi nghe tin về sự xuất hiện của những con người Á Châu được gọi là các vị asa, ông liền ra nghênh đón, và dâng hiến cho Odin những báu vật trong vương quốc tùy theo ý muốn của chính vị khách.
Và vận may tốt đẹp theo sát từng bước chân họ, bất cứ nơi nào họ dừng chân trên các vùng đất, mùa màng đều bội thu và hòa bình thịnh trị; và tất cả đều tin rằng họ chính là nguyên nhân tạo nên điều đó. Những nhà quyền thế trong vương quốc nhận thấy họ hoàn toàn khác biệt với những con người khác mà họ từng diện kiến, cả về nhan sắc lẫn trí tuệ. Vùng đất nơi đây khiến Odin vô cùng vừa ý, và ông đã chọn cho mình một nơi để dựng thành lũy, nay gọi là Sigtuna. Tại đó, ông thiết lập các tù trưởng, y hệt như những gì từng tồn tại trước kia ở Troy; ông bổ nhiệm mười hai người trong thành làm thẩm phán xét xử luật pháp của xứ sở, đồng thời điều chỉnh mọi quyền lợi sao cho khớp với những gì từng có ở Troy và những tập quán mà người Thổ Nhĩ Kỳ quen thuộc.
13. Kế đó, ông tiếp tục tiến về phía bắc cho đến khi chạm tới vùng biển—nơi mà họ cho rằng bao quanh mọi vùng đất, và tại đó ông lập nên người con trai của mình cai quản vương quốc nay gọi là Na Uy; người đó tên là Saming, và các vị vua Na Uy đều truy nguyên tổ tiên về tận ông, các jarl cùng những nhân vật quyền thế khác cũng vậy, như được ghi chép trong bộ Haleygjatal. Nhưng Odin mang theo người con trai tên là Yngve—vị vua cai trị Thụy Điển, và từ ông xuất thân dòng dõi mang tên Ynglings (Yngvelings). Các vị asa kết hôn với phụ nữ bản xứ ngay tại vùng đất đó. Nhưng một số lại lấy
vợ cho các con trai mình, và những dòng dõi này lớn mạnh đến mức lan rộng khắp Saxland, rồi từ đó phủ kín toàn bộ miền bắc, biến ngôn ngữ của những con người Á Châu này thành tiếng mẹ đẻ của tất cả các vùng đất ấy. Và người ta cho rằng có thể nhận ra từ cách thức viết tên của các bậc tiền nhân, rằng những cái tên này đã thuộc về thứ ngôn ngữ ấy, và chính các vị asa đã mang ngôn ngữ này đến phương bắc, đến Na Uy, Thụy Điển và Saxland. Thế nhưng ở Anh lại tồn tại những cái tên cổ xưa về các địa danh và thị trấn mà người ta có thể nhận thấy chúng được đặt bằng một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ này.