Hán Học Danh Ngôn

Hán Học Danh Ngôn

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 0 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nguyễn–hữu–trọng Hán Học Danh Ngôn Nhà Xuất-bản Thanh-tân 110, Cao-thắng – Saigon Nhà Xuất-bản Giữ Bản Quyền 1968 - 1. Đối Với Bản Thân

❊ ❊ ❊

1 – Chớ chính mình tự dối mình. Đại–Học

2 – Người ta có biết mưu sinh, biết tự lập thì mới không ỷ lại ai, không cầu cạnh ai, mà giữ được liêm sĩ và thực hành được lễ nghĩa. Khuyết Danh

3 – Người ta sống trong một ngày có được nghe câu nói phải, trông được một việc phải, làm một chuyện phải, ngày ấy mới không hư sinh. Trần–My–Công

4 – Một lòng ăn ở cho phải đạo thì trời cũng không làm hại được ta. Tuân–Tử

5 – Chớ lo không được chức to, nên lo cái « ĐỨC » của mình còn kém ; chớ tủi thân không được quyền cao tước rộng, bổng lộc no đầy, nên tủi cái « TRÍ » mình còn kém. Trương–Hành–Truyện

6 – Thấy việc phải thì theo, thấy mình có lỗi thì nên thay đổi. Dịch–Kinh

7 – Chính mình không kiềm hãm nổi mình mà cứ muốn chà đạp người khác thì thật là khờ dại. Khuyết Danh

8 – Người đời ai mà không lầm lỗi. Có lỗi mà sửa được lỗi ấy là người hay. Tả–Truyện

9 – Tự xét lấy thân mình miễn là không thẹn thị phi miệng thế thì chẳng có gì đáng trách. Ban–Siêu Truyện

10 – Làm chuyện gì mà có điều chưa thõa mãn thì hãy nên tự xét lại thân mình ; xem làm như thế đã là phải chưa ? Mạnh–Tử

11 – Tinh thần nên để cho vui, xác thân nên để cho khó nhọc. Lâm–Bô

12 – Tâm niệm im lặng mãi mãi thì lẽ gì mà chẳng nghĩ ra. Chí khí tiến tới luôn luôn thì chuyện gì mà không làm nổi. Lữ–Khôn

13 – Không cố gắng thì một ngày biếng nhác. Không khéo giữ gìn thì một ngày một dông dài. Chu–Hi

14 – Lâu nay đời vẫn làm đắm đuối loài người. Cái « CHÍ » của ta là cái để hộ thân ta mà sóng gió không lay chuyển được. Chúc Vô–Công

15 – Tâm phải cho to để dung nạp thiên hạ. Tâm phải để cho rộng để chịu đựng cái hay trong thiên hạ. Tâm phải công bằng để bàn việc trong thiên hạ. Tâm phải lẵng lặng để suy xét lý lẽ trong thiên hạ. Tâm phải vững vàng để chống lại cùng tai biến trong thiên hạ. Lã–Khôn

16 – Người quân tử ta nên thân, song không nên quá chiều mà phụ họa. Kẻ tiểu nhân ta nên tránh, song không nên ruồng rẫy mà sinh hận thù. Thân–Hàm–Quan

17 – Đem lòng thương yêu vợ con ra thương yêu cha mẹ thì là có hiếu. Đem lòng giữ nhà ra giữ việc nước thì là người trung. Đem lòng trách người ra để tự trách mình thì là ít lỗi. Đem lòng dong mình ra để dong người thì là trọn nghĩa. Cảnh–Hành–Lục

18 – Tính kiêu căng đem ra đối đãi với người quân tử thì tự mình làm cho mình thất đức ; đem đối đã với kẻ tiểu nhân thì tự mình làm hại lấy thân. Tuân–Sinh–Tiên

19 – Người quân tử cử động thận trọng không sơ sót với ai. Tướng mạo đoan trang không thất sắc với ai. Ngôn ngữ cẩn thận không lở lời với ai. Lễ–Ký

20 – Lòng kiêu hãnh là cái búa chém chết tính tốt con người. Sự đam mê là con ngựa theo đuổi cái tai họa cho mình. Thiết–Uyển

21 – Tâm địa để lâu không đem gương người xưa vung quén thì lem luốc những bẩn thỉu tục tằn. Hoàng–Đình–Kiên

22 – Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yên bằng hay nhẫn, không gì hơn người bằng có đức, không gì sướng thân bằng làm lành. Hoàng–Thạch–Công

23 – Yêu người mà yêu vô lý thành ra làm hại người. Ghét người mà ghét vô lý thành ra làm hại lấy mình. Ngụy–Tế–Nhị

24 – Muốn giữ được lương tâm, nuôi được tính linh cần phải chịu khổ, chịu phiền thì ngày mới thuần thục. Lưu–Trực–Trai

25 – Yêu mến người mà người không thân thiết với mình thì hãy tự xét lại mình lòng « NHÂN » đã đầy đủ chưa ? Quý trọng người mà người không quý trọng mình thì hãy tự xét lại xem sự « KÍNH » của mình đã hoàn toàn chưa ? Mạnh–Tử

26 – Không xấu miệng chẳng bằng xấu với thân. Không xấu với thân chẳng bằng không xấu với tâm. Thiệu–Ung

27 – Người ta ai ai cũng cần phải tự lập lấy thân. Cần phải tự mình hết sức cố gắng cho ra người, cần phải tin tưởng ở mình mà chớ trông cậy vào người khác. Khuyết Danh

28 – Trên đời có một thứ học khó nhất : học nhân nghĩa và học làm người. La–Tứ–Phúc

29 – Thấy người hơn ta thì học. Thấy người kém ta thì dạy. Có thế mới ra người quân tử. Khổng–Tử

30 – Thà làm người tốt mà giá quý như quan đệ nhất phẩm. Hơn là làm người xấu mà chức vụ to bằng quan đệ nhất phẩm. Hải–Thụy

31 – Một bậc anh hùng cứu nạn, giúp nguy thì cốt nhất là phải lao tâm, cực khổ. Tăng–Quốc–Phiên

32 – Tiểu nhân trọng lợi, quân tử trọng danh. Trang Tử

33 – Người quân tử hòa thuận nhưng không a dua. Đứa tiểu nhân a dua mà không hòa thuận. Luận Ngữ

34 – Trung tín, cẩn thận là cái nền cho người hay. Hão huyền, quỷ quyệt là cái gốc của những người dỡ. Tiêm–Phu

35 – Biết giữ việc đạo nghĩa, làm chuyện trung tín, trọng việc danh tiết. Âu–Dương–Tu

36 – Kẻ tiểu nhân coi thường chữ tín. Người quân tử thà chết không chịu mất danh. Lã–Thị–Xuân–Thu

37 – Người quân tử phi nhân nghĩa thì không sao sống được. Đứa tiểu nhân phi thị dục cũng không sống nổi. Hoài–Nam–Tử

38 – Người tuấn kiệt mới biết chuyện đời. Thục–Chi

39 – Người có học mà còn lưu luyến những chuyện yên vui cho xác thịt thì tấm thân hoen ố, chí khí trở nên hèn hạ, như vậy không còn xứng đáng là người có học. Luận Ngữ

40 – Người quân tử hiểu rõ chuyện nghĩa cho nên thích nghĩa. Kẻ tiểu nhân hiểu rõ việc lợi cho nên thích lợi. Người quân tử trọng nghĩa khinh tài. Đứa tiểu nhân nặng tài nhưng nhẹ nghĩa. Luận Ngữ

41 – Tiểu nhân trọng lợi nên thường hay chết vì lợi. Người quân tử trọng nghĩa nên thường nổi danh vì chuyện nghĩa. Luận Ngữ

42 – Muốn nên người thì phải coi thường tiền tài, vật chất. Muốn lập công danh phải quên chữ tiểu nhân. Lã–Khôn

43 – Đời người hơn nhau chỉ là danh dự. Không còn danh dự thì chết còn hơn. Lã–Thị–Xuân–Thu

44 – Chết vinh hơn là sống nhục. Giàu mà đục không bằng nghèo mà sống trong. Lễ Ký

45 – Giàu nghèo chỉ là một cái thước dùng đo lòng người ai tốt ai hay. Chiến–Quốc–Sách

46 – Nghèo mà danh dự bảo toàn người người kính trọng. Giàu mà thất tín, bần tiện mọi người khinh khi. Âu–Dương–Tu

47 – Người nghĩa không dối mình, người liêm không lấy bậy. Thiết–Uyển

48 – Làm người không sang trọng kiêu xa thì nên kiểu cách. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

49 – Làm người thông minh tài trí thì chẳng nên ngạo mạn khinh người. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

50 – Làm người có sức lực thì chớ nên đè ép người khác. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

51 – Làm người khôn ngoan lanh lợi thì chớ nên dối trá người. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

52 – Biết mình còn kém thì phải học, chưa biết thì phải hỏi. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

53 – Kẻ gian hùng giống như người trung tín. Kẻ đại nịnh giống hệch khách tín. Lã–Hối

54 – Đối với làng nước thì phải giữ trật tự trên dưới. Đối với người có tuổi thì phải giữ đạo con, em. Thế là người quân tử. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

55 – Thân ở trong muôn loài. Tâm ở trên muôn vật. Bạch–Sa

56 – Ta có tai, có mắt, ta nghe, ta thấy. Ta có tâm, ta suy ta nghĩ. Ta đối với người đời xưa có lúc ta thờ như thầy có lúc ta kính như bạn cũng có lúc ta lại coi thường. Ta theo công lý, nhất quyết ta không làm tôi tớ cổ nhân. Lương–Khải–Siêu

57 – Chữ « TÍN » là cửa ngõ thành công, nó lại là bước đường cùng cho người bất nghĩa. Lữ–Khôn

58 – Đối với người bằng ta thì phải giữ sao cho trọng tình bậu bạn. Đới với người còn trẻ tuổi thì dạy bảo khoan dung. Ấy là người quân tử. Hàn–Thi–Ngoại–Truyện

59 – Tâm sự người trượng phu nên sáng như trời xanh, tỏ rõ như ban ngày để cho ai cũng trông thấy được. Thiết–Huyên

60 – Lấy lợi nhữ người ta mà nói người ta phản bội, tráo trở ấy là bất nhân. Lấy binh khí mà hiếp người mà làm cho người mất chí ấy là bất dũng. Tả–Truyện

61 – Làm quan mà có tính nhàn tản yên vui, công việc tức nhiên trễ nãi. Làm quan mà đem lòng thương công kể lợi, tâm địa tức nhiên tham lam. Lã–Khôn

62 – Nước mất mà không biết là bất trí. Biết mà không lo liệu là người bất trung. Lo liệu mà không dám chết ấy là người bất dũng. Khổng–Phu–Tử

63 – Việc đời có lắm cái hình như ngược, mà kỳ thật là xuôi. Có lắm cái hình như xuôi mà kỳ thật chính là trái ngược. Xuôi thế nào, người ấy mới là tinh đời. Lã–Thị–Xuân–Thu

64 – Cái gì đã đến cùng cực thì tất nhiên phải quay trở lại. Dài quá thì tất phải ngắn dần đi. Ngắn quá thì tất phải dãn ra. Lẽ tự nhiên là như thế. Lã–Thị–Xuân–Thu

65 – Bổ cứu trời đất gọi là công. Ích lợi thế gian gọi là danh. Có tinh thần gọi là giàu. Có liêm sĩ gọi là sang. Biết đọc gọi là phúc. Có tiếng thơm gọi là thọ. Có con cháu dạy được gọi là khang ninh. Trần Cáp–Sơn

66 – Khôn thì sống lâu, dại thì chết sớm. Khổng–Tử

67 – Người ta có ba thứ chết : 1) Tự mình làm cho mình chết. 2) Tin lời người mà chết. 3) Không tin người mà chết. Khổng–Tử

68 – Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng như thế khác gì cái bóng. Để im thì im, bảo thưa thì thưa như thế khác nào tiếng vang. Mặc–Tử

69 – Là trung thần khi vua có lỗi thì can ngăn tìm cách đưa vào điều thiện. Khi có điều hay phải tìm cách mà bảy tỏ mà không lộ thoát ra ngoài. Trên thì thành thực một lòng, dưới thì không a dua, kéo bè kết đảng với ai, những sự tốt lành thì để phần vua hưởng, những điều oán thù thì mình hứng chịu, có làm được thế mới đáng là kẻ trung thần, là người quân tử. Mặc–Tử

70 – Những người có ích cho đời, tâm địa chắc chắn hơn người. Kẻ thụ hưởng trên đời tài tình nhất định là không lộ. Trần–Kế–Nho

71 – Khí tượng như chim phượng hoàng bay lượn trên mây xanh, thì những lợi lộc cỏn con không còn động đến tâm địa nữa. Trình–Di

72 – Chim già biết sợ nên khó lòng bắt được. Chim non tham ăn nên dễ bắt. Nếu chim non mà theo chim già thì bắt chim non cũng khó, nhưng nếu chim già mà theo chim non thì bắt chim già cũng dễ. Gia ngữ

73 – Biết sợ để tránh tai vạ, tham ăn mà quên nguy vong đó đều là tánh tự nhiên. Phúc hay họa đều do cái khôn của con người mà ra. Khổng–Tử

74 – Người quân tử trước khi theo ai phải cẩn thận. Theo ai mà biết phòng xa như người lão luyện thì được toàn thân. Theo ai mà hay nông nổi như trẻ dại thì bại hoại. Khổng–Tử

75 – Đời suy đạo vi, lòng ham muốn của con người đầy dẫy, nếu không phải là con người cương nghị thì không sao đứng vững. Trương–Cữu–Thành

76 – Mới gội đầu tất phải đội nón. Mới tắm tất phải thay đổi áo quần. Có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch để cho vật dơ bẩn dính vào mình. Như thế là người biết nghĩa. Khuất–Nguyên

77 – Một việc nhỏ đủ làm gương cho ta. Trong thiên hạ có cái PHÚC không lường được, thế mà may được thế, cũng có cái họa mà chẳng mấy ai ngờ, thế mà xảy đến. Úc–Ly–Tử

78 – Chó ngựa ai cũng trông thấy, vẽ mà không giống được thì người ta chê cười, cho nên khó vẽ. Ma quái là giống vô hình, không ai trông thấy, tùy ý muốn vẽ sao thì vẽ không sợ ai bẽ cho nên dễ vẽ. Lã–Thị Xuân–Thu

79 – Người nào bỏ những công việc hằng ngày chỉ chăm làm những chuyện kỳ quái không đâu để lòe thiên hạ thì cũng chẳng khác nào người thợ chỉ có vẽ ma vẽ quỷ nghĩa là tránh cái khó mà chỉ ưa làm cái dễ. Lã–Thị Xuân–Thu

80 – Âm là tự lòng người mà sinh ra. Lòng người có cảm giác mới phát động ra âm. Âm tuy thành ở ngoài miệng mà thực ra phát khởi ở tận trong lòng. Tuân–Tử

81 – Nghe âm nhạc mà biết được phong tục, xét phong tục mà biết được tập quán, chí hướng, xem chí hướng mà đoán được đạo đức, thịnh suy, khôn dại, hay, dỡ đều hiện ra ở âm nhạc không giấu ai được cả. Bởi vậy cứ lấy âm nhạc mà suy thì sẽ hiểu được người dùng nó như thế nào. Tuân–Tử

82 – Đất xấu thì cây cối cằn cỗi. Nước đục thì tôm cá gầy còm. Tuân–Tử

83 – Đời suy thì lễ nghĩa phiền mà âm nhạc dâm. Những âm dâm đãng, tà khúc, những âm trên bọc trong dâu mà dưới dân gian làm thích là nước loạn, mà trên vua chúa lấy làm vui là đức suy. Tuân–Tử

84 – Người quân tử lấy tâm để vào ĐẠO mà trau giồi lấy đức. Chỉnh lại Đức để làm âm nhạc, hòa nhạc để cho thành thuận, mà nhạc có HÒA mới chỉnh được mọi thứ. Tuân–Tử

85 – Kẻ sĩ còn quyến luyến thú vui riêng mình thì tâm lụy, chí hèn không đáng gọi là kẻ sĩ nữa. Lương–Khải–Siêu

86 – Có lỗi đã là một điều lỗi, không ăn năn nhận lỗi lại làm thêm một điều lỗi nặng hơn. Lữ–Khôn

87 – Đá đập được mà không sao làm mất được chất cứng. Sơn mài được nhưng không làm sao phai được chất đỏ. Lã–Thị Xuân–Thu

88 – Ít sắc dục để nuôi tính. Ít ngôn ngữ để nuôi khí. Ít tư lự để nuôi thân. Tuân–Sinh–Tiên

89 – Núi nhọn thì không cao, sông sâu ắt không lớn. Tân–Tự

90 – Ngu ngốc thì người ta chê cười khinh dề. Thông minh thì người ta ngờ vực và hay ghen ghét. Thông minh mà biết làm như người ngu ngốc ấy mới là người khôn. Lữ–Khôn

91 – Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình. Người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình. Gia Ngữ

92 – Người trí là người biết người. Người nhân là người yêu người. Thầy Tử–Lộ

93 – Người trí là người tự biết mình, người nhân là người tự yêu mình. Nhan–Hồi

94 – Tay trái lấy được thiên hạ thì hỏng mất tay phải. Tay phải lấy được thiên hạ thì phải mất tay trái. Chiêu–Hy

95 – Mong làm điều rất phải không bắt chước cách làm, rồi mà làm được thế mới là người khôn. Lã–Thị Xuân–Thu

96 – Người ta ai ai cũng đều biết phòng ngừa hỏa hoạn, nhưng không mấy người làm cho hỏa hoạn dừng sinh ra. Lão–Tử

97 – Người ta không phải sinh ra đời thích sống mà sống mãi được, yêu thân mà thân còn mãi được. Dương–Tử

98 – Người quân tử được ngàn vạn người khen không lấy đó làm điều sung sướng, nhưng nếu gặp phải một vài người kiến thức dị nghị thì lấy làm lo. Tăng–Quốc–Phiên

99 – Đã sanh ra đời thì sống cứ tự nhiên mặc, muốn làm gì thì làm cho đến lúc chết. Lúc sắp chết tự nhiên mặc, muốn hóa ra gì thì hóa cho đến lúc cuối cùng. Lúc sống, lúc chết, lúc nào cũng tự nhiên coi như không, như vậy mới là người làm nên được. Dương–Tử

100 – Nhân đức vặt, khí khái xằng thường làm hỏng những chuyện lớn. Luận Ngữ

101 – Người thì cho rằng sống là sướng, chết là khổ, như thế là yêu đời. Người lại cho rằng chết là sung sướng, sống là khổ đau, như thế là người quẫn chí. Khuyết Danh

102 – Đã sinh ra ở đời nếu chẳng tạo ra được tiếng thơm ngàn đời thì ít nhất cũng tạo được tiếng xấu muôn năm. Khuyết Danh

103 – Đừng khinh việc nhỏ. Cái sẩy thường làm nẩy cái ung. Hoài–Nam–Tử

104 – Đã là người thì chẳng nhiều thì ít ai cũng có sức lực và khả năng, đáng ghét nhất là tính lười. Chỉ thích ỷ lại vào người khác mà không chịu dùng sức của mình để tự cung tự cấp, không chịu đem năng lực ra để đảm nhiệm công việc chung. Như việc dùng sức lực hay năng lực cần phải cống hiến cho quần chúng chớ có làm của riêng cho bản thân. Lễ–Ký

105 – Ở đời chết vì thuốc độc rất ít, muôn người may họa mới có phải một người, chớ chết vì lười biếng thì không ít. Cái hại của tính lười rất thảm thiết. Lã–Đông–Lai

106 – Người đời thường hay sống trong những khi lo lắng, chịu khó, mà lại chết trong những lúc an nhàn. Lẽ đó rất rõ, nhưng trên trường đời không ai biết sợ mà cứ lăn thân vào. Lã–Đông–Lai

107 – Dưỡng cái « KHÍ » lúc đang giận. Đề phòng « NGÔN NGỮ » lúc sướng mồm. Để ý đến chuyện « NHẦM » trong lúc bối rối. Phải biết dùng « TIỀN » trong lúc sẵn sàng. Ấy là khôn. Uông–Thụ–Chi

108 – Lễ, nghĩa, liêm, sĩ là bốn bức tường để giữ vững quốc gia. Bốn tường ấy nếu không giữ được, nghĩa là người mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sĩ thì quốc gia phải nguy hại suy vong. Quan–Doãn–Tử

109 – Độ lượng bao nhiêu thì phúc trạch bao nhiêu. Mưu kế sâu độc bao nhiêu thì tai họa cũng sâu độc bấy nhiêu. Minh–Tâm Bão–Giám

110 – Thế giới là một trường học lớn. Sự túng thiếu đau khổ là một ông thầy giỏi, là người bạn tốt để rèn luyện con người. Khuyết Danh

111. Không nên trách người mà nên tự trách mình là phương pháp cần nhất để tu thân. Hay thể tất cho người là phương pháp cần nhất để nuôi độ lượng. Lã–Khôn

112 – Lòng thành, nét mặt đầm ấm, khí hòa lời êm dịu thì thế nào cũng có thể cảm động được lòng người. Khuyết Danh

113 – Thiên hạ có nhiều người sợ bóng mình, mà ghét vết mình, cắm cổ mà chạy, vết lại càng nhiều, bóng lại càng nhanh. Chẳng bằng đến chỗ mát mà nghỉ thì tự nhiên bóng hết, vết tan. Mai–Thăng

114 – Chưa có người nào hành vi phẩm hạnh không được đoan chính mà họ có thể yêu nước được. Cổ Ngữ

115 – Không khổ nhất định không nên người hay. Khổng–Tử

116 – Người ta hơn thú vật ở nhân phẩm, không nhân phẩm chẳng phải là người. Quan–Doãn–Tử

117 – Nói đương sướng hả mà nín ngay được, ý đương hớn hở mà thu lại được, tức giận đam mê đương sôi nổi nồng nàn mà tiêu trừ được không phải là người kiên nhẫn thì không sao làm được. Vương–Dương–Minh

118 – Lời nói là một đọi máu. Cổ Ngữ

119 – Muốn người trọng phải tự trọng mình trước. Vương–Xương–Linh

120 – Những người trải qua tai họa, thì thường thấu lẽ và giỏi việc. Mạnh–Tử

121 – Nghe cho nhiều rồi chọn điều phải và cố làm cho kỳ được. Xem cho rộng, rồi ghi nhớ lấy, để suy nghĩ cho tường. Luận–Ngữ

122 – Học cũng có ích như trồng cây. Mùa xuân được hoa, mùa thu được quả. Nhan–Thị Gia–Huấn

123 – Người ta biết nhiều cũng là làm giàu. Gia Ngữ

124 – Học mà không chăm–chỉ thì chẳng bao giờ thành. Quan–Doãn–Tử

125 – Tin sách cả không bằng không sác còn hơn. Mạnh–Tử

126 – Tính người lúc sơ sinh không khác nhau mấy, chỉ vì tập thói quen tốt thì tốt, tập thói quen dỡ thì thành người dỡ. Luận Ngữ

127 – Đồ dùng bẩn thì biết rữa, tâm địa sao lại để yên. Ý–Lâm

128 – Đối với kẻ tự hại thân, dù nói cũng bằng thừa. Đối với kẻ tự liều thân dù giúp cũng vô ích. Luận Ngữ

129 – Học rộng mà phải chuyên tâm, bền chí, hỏi những điều cần thiết thực mà suy nghĩ để hay cho tấm thân. Luận Ngữ

130 – Phàm việc mà chịu thiệt ấy là người tốt. Phàm việc chiếm phần hơn ấy là người xấu. Phạm–thân–Tập

131 – Thiên hạ chưa lo đến. Mình lo trước cho thiên hạ. Thiên hạ đã vui rồi. Mình vui sau cả thiên hạ. Phạm–Trọng–Yêm

132 – Ta là người, hễ có việc gì nghĩ chưa ra thì nghĩ mãi đến quên cả ăn ; nghĩ ra được rồi thì quên cả lo. Không biết rằng tuổi già đã sắp tới vậy. Khổng–Tử

133 – Ôn lại cái xưa để mà biết được cái nay. Cổ Ngữ

134 – Đọc sách không nhiều thì không lấy gì chứng cho sự biến hóa của lý. Đọc sách nhiều mà không cầu ở tâm thì lại là tục học. Hoàng–Lệ–Châu

135 – Biết thì biết là mình biết. Không biết thì biết là mình không biết. Đó mới thật là biết. Luận Ngữ

136 – Đem cái điều mình ưa thích ra để chống đối lại với cái điều mà mình không ưu thích. Đó là căn bịnh trầm trọng nhất của tâm hồn. Tăng–Sán

137 – Sớm nghe được đạo. Chiều chết cũng vui. Luận Ngữ

138 – Học rộng điều gì không bằng biết phần cốt yếu của điều ấy. Biết phần cốt yếu của điều ấy, không bằng thực hành điều ấy. Châu–Hy

139 – Kẻ sĩ cần phải có khí độ lớn lao, kiến thức phải rộng rãi. Bùi–Hành–Kiệm

140 – Không gì nghèo bằng không có tài, không gì hèn bằng không có chí. Uông–Cách

141– Người đi học đừng lo không có tài, chỉ lo không có chí. Diêm–Thiết–Luận

142 – Có yên tĩnh mới nẩy ra tinh thần. Có tinh thần mới nẩy ra trí tuệ. Hồ–Lâm–Dực

143 – Việc đời có việc không nên biết. Có việc cũng không nên quên. Có việc không nên không quên. Đường–Tuy

144 – Ở đời chẳng có việc gì là chẳng phải khó nhọc mới làm nên. Văn–Trung–Tử

145 – Đường tuy gần không đi không bao giờ đến. Việc tuy nhỏ không làm chẳng bao giờ nên. Tuân–Tử

146 – Người ta ngu đến đâu cũng còn dạy được. Khôn đến đâu cũng còn phải học thêm. Trần–Hoàng–Mưu

147 – Tuổi trẻ không gắn sức, già cả phải ngậm ngùi... Cổ–Thi

148 – Đọc sách mà con mắt không tinh, thế là vùi dập cái khổ tâm của người xưa. Cổ–Ngạn

149 – Biết mà học không bằng thích mà học. Thích mà học không bằng say mê mà học. Luận Ngữ

150 – Đời sống ta thì có hạn, mà sự học hỏi thì vô hạn. Trang–Tử

151 – Có nôm vì cá. Muốn đặng cá phải quên nôm. Có dò vì thỏ, muốn đặng thỏ phải quên dò. Có lời vì ý, muốn đặng ý phải quên lời. Tang–Tử

152 – Ra đời thấy thua người thì học, thấy hơn người thì dạy. Học thấy hơn người thì cố học thêm. Thấy thua người thì cố học kịp người. Âu–Dương–Tu

153 – Tiếng người không cánh mà bay xa. Tình người không rễ mà bám chặt. Quân Tử

154 – Ở đời cái gì mà thung dung thì còn, mà cấp bách thì mất. Việc mà thung dung thì có ý vị. Người mà thung dung thì thường sống lâu. Lã–Khôn

155 – Cũng một chữ tình đem dùng cho quốc gia, xã hội thì hay vô cùng. Dùng ở chốn nguyệt hoa thì có khi thiệt mạng. Hiệp Tà Kính

156 – Người còn bụng chết còn gì thảm hơn. Trang–Tử

157 – Thói thường người đời rất hay thay đổi ; Việc chưa đến ai ai cũng giỏi, việc đã đến ai ai cũng trách khó. Việc đã xong ai ai cũng nhận công. Nhân Sinh Tất Độc Thư

158 – Lòng giận dỗi tệ hại vô cùng. Bốc lên thì dễ, dẹp đi thì khó. Trình–Di

159 – Vui không gì vui bằng thích điều lành, khổ không gì khổ bằng nhiều lòng dục. Tố–Tư

160 – Sĩ phu nên có tấm lòng lo việc nước chẳng nên chỉ có lời bàn cho việc nước. Cấp Chủng Chu Thư

161 – Đáng vui mà buồn, đáng buồn mà vui là táng tận lương tâm cả. Tả–Truyện

162 – Sự vui sướng của thằng dại, người khôn lấy làm buồn rầu. Chiến Quốc Sách

163 – Tính nước vẫn trong, đá, cát làm bẩn, tính người vẫn lánh thị dục làm hại. Văn Tử

164 – Những người cùng thích một việc hay ghen ghét nhau. Những người cùng lo một việc hay thân thiết nhau. Chiến Quốc Sách

165 – Sống về lo lắng, mà chết về yên vui vậy. Mạnh–Tử

166 – Nhiều người dù đã nỗ lực thành công nhưng vẫn thất bại vẫn xông pha nguy hiểm, khi cần, quyết sát thân để thành nhân. Luận Ngữ

167 – Điều thiết yếu của đạo học vẫn không có gì khác, chỉ cốt tìm lại cái tâm phóng vật của mình mà thôi. Mạnh–Tử

168 – Xét lại mình ta mà mọi lẽ điều thành thực cả thì vui thú chẳng điều gì lớn hơn vậy. Mạnh–Tử

169 – Hiếu là gốc của đức. Hiếu là đầu trăm nết. Ngạn Ngữ

170 – Người con có hiếu đối với cha mẹ cư xử hết lòng kính phục, phụng dưỡng hết ý vui, lúc đau yếu thì hết lòng chăm lo, lúc tang hết lòng thương xót, lúc lễ hết sức nghiêm trang. Khổng–Tử

171 – Cha có con can gián mới khỏi mắc vào điều bất nghĩa. Đối với việc bất nghĩa con không thể không can gián cha được. Khổng–Tử (Hiếu Kinh)

172 – Lễ với xa xĩ thà rằng kiệm ước còn hơn ; tang với nghi văn quá thà rằng thương buồn còn hơn. Luận Ngữ

173 – Sự sống ta cũng thèm muốn, điều nghĩa ta cũng thèm muốn, hai đường ấy, nếu chẳng có thể kiêm được cả, thì bỏ sự sống mà lấy điều nghĩa vậy. Mạnh–Tử

174 – Trong thân thể chí là bậc nhất, khí là thứ hai, vậy nên giữ gìn lấy cái chí mà cũng chẳng nên làm tổn hại cái khí. Mạnh–Tử

175 – Biết xấu hổ gần được là bậc nhân dũng. Khổng–Tử

176 – Những điều mà mình cho là không nên làm thì chớ làm. Những điều mình cho là không nên muốn thì chớ muốn. Mạnh–Tử

177 – Kẻ sĩ trau dồi học vấn, đức hạnh, nếu người không biết mình, mình không lấy điều ấy làm giận. Luận Ngữ

178 – Người quân tử thấy việc nguy hiểm thì liều thân mạng giải cứu, thấy điều lợi thì nghĩ đến việc nghĩa. Luận Ngữ

179 – Suốt đời chẳng để tiếng khen, người quân tử lấy điều ấy làm ghét giận. Khổng–Tử

180 – Người kia tất tự khinh thường mình trước, rồi sau người ngoài mới khinh thường mình. Nhà kia tất tự hủy hoại trước rồi sau người ngoài mới hủy hoại mình. Nước kia tất tự mình sát phạt nhau trước rồi sau người ngoài mới sát phạt mình. Mạnh–Tử

181 – Kẻ ham học hỏi, gần với đức trí, kẻ gắng sức làm điều phải gần với đức nhân, kẻ biết xấu hổ gần với đức dũng. Trung Dung

182 – Người trí chẳng mê hoặc vì đã rõ sự lý, người nhân không lo buồn vì việc làm do lòng thương yêu mọi người và hợp với chính nghĩa, người dũng không sợ hãi vì có đủ nghị lực để đối phó với mọi cơ hội. Luận Ngữ

183 – Thân nuôi mà không để cho nó hại thì nó đầy cả trời đất. Mạnh–Tử

184 – Kẻ lao tâm trị người, kẻ lao lực bị người trị. Mạnh–Tử

185 – Kẻ bị trị thì phải nuôi người. Kẻ trị người thì được người nuôi. Mạnh Tử

186 – Mình tự trách mình nhiều mà trách người ít. Luận Ngữ

187 – Đem xương trừ kiến thì kiến lại càng nhiều. Lấy cá đuổi ruồi, ruồi lại càng đến. Hàn Phi Tử

188 – Kẻ dữ nổi lên người người đều lánh mặt. Kẻ dữ tan tành người lành tăng số. Ngạn Ngữ

189 – Người lành gặp phước ; dân chúng đặng vui mừng. Kẻ dữ gặp gian nan ; thiên nan đều cho đáng kiếp. Ngạn Ngữ

190 – Loạn sinh ra là do lời nói. Dịch Kinh

191 – Nói lời chớ được nuốt lời. Công–Dương–Truyện

192 – Miệng là cái cửa họa và phúc. Quách–Yên

193 – Bàn việc công không nên nói chuyện tư. Lễ–Ký

194 – Lúc đáng nói thì nói, có như thế người nghe mới không chán. Luận Ngữ

195 – Quân tử nói bằng việc làm, tiểu nhân nói bằng đầu lưỡi. Gia Ngữ

196 – Việc làm nên trước mọi người, câu nói nên sau mọi người. Lữ–Khôn

197 – Bệnh theo miệng mà vào. Vạ theo miệng mà nẩy sinh. Phó Dịch

198 – Tâm không bình, khí không hòa, thì nói hay lầm lỗi. Hứa–Hành

199 – Không gì dở bằng ghét nghe điều lỗi của mình. Úy–Liệu–Tử

200 – Lúc giàu không nên khe khắt, lúc nghèo mới ăn năn, lúc ở không chẳng học, lúc làm mới hối hận, lúc thường chẳng chịu giữ gìn, lúc đau mới tiếc. Cổ Ngữ

201 – Gièm pha mai mĩa là một tật xấu nhất ở đời. Lữ–Khôn

202 – Ngôn ngữ ác độc là đặt điều, nói dối. Lữ–Khôn

203 – Nói phải nghĩ đến làm, làm phải suy lại từ lời nói. Trung Dung

204 – Cái lỗi cốt ý làm là lỗi trọng. Lỗi vô ý là lỗi nhỏ. Đường–Bưu

205 – Nói chuyện chẳng nên châm chọc để người ta đau đớn. Nói đùa chớ nói xa xôi để người ta phiền. Lục Lũng Kỳ

206 – Chỉ có nói, không có làm, người quân tử lấy làm xấu hổ. Lễ Ký

207 – Người hay ít nói. Kẻ nông nổi lại lắm lời. Kinh Dịch

208 – Không biết mà nói là ngu. Biết mà không nói ấy là hiểm. Chiến–Quốc–Sách

209 – Suốt đời làm lành, một câu nói ác đủ bỏ đi tất cả. Gia Ngữ

210 – Trí khôn muốn cho tròn, việc làm muốn cho gói sạch. Hoài–Nam–Tử

211 – Lời nói giản dị mà ý thâm sâu là lời nói hay. Mạnh Tử

212 – Nhanh nhẹn việc làm, lời nói cẩn thận. Luận Ngữ

213 – Người quân tử không sợ cọp chỉ sợ miệng người mai mĩa. Luận Hành

214 – Chớ nên nói nhiều, vì nói nhiều thì lỗi cũng nhiều. Gia Ngữ

215 – Tặng một câu nói hay còn hơn tặng ngọc ngà châu báu. Tuân–Tử

216 – Biết được làm là khó, thì nói không nhẹ miệng. Chu–Hi

217 – Kẻ nào nói chuyện người giỏi thường quên không xét mình. Trương–Thức

218 – Đương lúc thích chí gặp người thích chí, nói chuyện thích chí, thì ngôn ngữ lại càng phải cẩn thận. Lưu–Trấp–Sơn

219 – Biết thì phải biết cho tường tận. Làm thì phải làm cho đến nơi. Trương–Tĩnh–Phong

220 – Việc làm được trước mặt mọi người thì hãy nói. Câu nói được trước mặt mọi người thì hãy làm. Sử–Điển

221– Lời nói mà giản dị vừa phải thì ta ít khi hối hận, người đời ít khi oán hờn. Viên–Thị Thế–Phạm

222 – Việc gì không thể dối với người nói được thì đừng làm. Việc gì không thể cùng người làm được thì đừng nói. Triệu–Biên

223 – Có lỗi mà chẳng đổi được, người đời gọi là mất lương tâm. Trung Luận

224 – Đại cuộc tuy một ngày một bại hoại, chúng ta vẫn cố sức duy trì, được phần nào hay phần ấy, còn ngày nào hay ngày ấy. Tăng–Quốc–Phiên

225 – Khi xong việc mới luận bàn, đứng ngoài cuộc mà phẩm bình là cái nết xấu của người học. Nguỵ–Hy

226 – Muốn cho người không nghe chẳng gì bằng đừng nói. Muốn cho người không nói chẳng gì bằng đừng thèm nghe. Muốn cho người không biết chẳng gì hơn bằng đừng làm. Hán Thư

227 – Kẻ khoe cái tài, cái giỏi của mình là kẻ bất tài. Kẻ lấy cái hay, cái tài của người làm của mình thì lại càng xấu. Lữ–Khôn

228 – Người ta khổ vì không biết cái lỗi của mình. Đường Thái–Tôn

229 – Đương lúc vui chớ nên nói nhiều, đương khi thoã lòng mong ước chớ nên thay đổi công chuyện. Chu–Hy

230 – Nghìn lời nói, muôn câu chuyện cốt ở sự thật. Tiết–Huyên

231 – Thuốc hay thường đắng miệng mà chữa được bệnh. Nói thật trái tai, nhưng lợi được việc làm. Gia Ngữ

232 – Người đáng nói mà mình không nói là bỏ phí người. Người không đáng nói mà nói là dễ phí mất lời. Luận Ngữ

233 – Câu nói trái tất phải xem câu nói đó có đúng không. Câu nói chiều lòng tất phải xem lại câu nói đó có vô lý không. Thư Kinh

234 – Câu nói không nói ra, nghe lại to hơn tiếng sấm. Quản Tử

235 – Việc làm muốn trước người, lời nói muốn sau người. Đại–Đái–Ký

236 – Lời nói đáng tin thì giọng không đẹp. Lời nói ngọt ngào thì chẳng đáng tin. Lão–Tử

237 – Dịp may khó mà được nhưng dễ mất. Lê–Thái–Công

238 – Nhàn quen bỡi lười, lười quen bỡi sanh bệnh. Nhan–Thị Gia–Huấn

239 – Chăm chỉ là thuốc trị « LƯỜI ». Cẩn thận là thuốc trị « KIÊU ». Tăng–Quốc–Phiên

240 – Tinh thần càng vận dụng thì càng nẩy nở, không nên vì mệt mỏi mà quá chần chờ. Tăng–Quốc–Phiên

241 – Dòng nước chảy luôn thì không hôi thối. Then cửa đẩy luôn thì không sinh mọt. Lã–Thị Xuân–Thu

242 – Ở đời không việc gì không khó mà nên. Văn–Trung–Tử

243 – Chăm tuy yếu cũng mạnh, tuy ngu cũng phải khôn. Tăng–Quốc–Phiên

244 – Tấc bóng là tấc vàng, có tấc vàng khó mua được tấc bóng. Cổ Thi

245 – Những người nói « NGÀY MAI » bao giờ cũng thất bại. Quan–Doãn–Tử

246 – Tập cho quen với khó nhọc cốt sau này gánh vác việc đời. Tăng–Quốc–Phiên

247 – Đường xa nghìn dặm, tuy đi được chín trăm nhưng chỉ mới là một nửa. Chiến Quốc–Sách

248 – Việc đời vì khó mà bỏ qua, mười việc có chừng một việc. Vì lười mà bỏ, mười có đến chín việc. Nhan–Thị Gia–Huấn

249 – Cái tường thấp hay mời kẻ trộm đến. Thi Tử

250 – Thân không giữ thì hư. Giặc không giữ thì bị tai hoạ. Trình–Thiên–Phu

251 – Người ta nếu không nghĩ xa thì chẳng được bao lâu thế nào cũng có chuyện buồn gần. Luận Ngữ

252 – Chớ coi thường chuyện nhỏ. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền. Chớ khinh vật nhỏ, con sâu nhỏ đủ hại mạng người. Quan–Doãn–Tử

253– Con voi chết vì ngà. Con ve chết vì tiếng gáy. Đom đóm chết vì ánh sáng. Người biết quý thân không ham gì tiếng tăm rực rỡ. Lã–Ngữ Tập–Tuý

254 – Nên đương lúc có, phải nghĩ đến lúc không. Chớ nên đợi đến lúc không, mới nghĩ đến có. Ngạn Ngữ

255 – Té xuống nước còn có thể bơi được. Sa ngã với ai khó cứu được. Đại–Đái–Ký

256 – Chim sẽ làm ổ ở đầu nhà, mẹ con hú hí tự lấy làm yên, nhà cháy mà chim vẫn như không là tại chim không biết tai vạ sắp đến. Không–Tòng–Tử

257 – Việc xong rồi mới hỏi mình là dại, việc đã rồi mới chê người còn kém, như vậy đều là không lịch duyệt cả. Tăng–Quốc–Phiên

258 – Làm nhà bên đường mà gặp ai cũng bàn thì ba năm cũng không xong. Tào–Bao–Truyện

259 – Tiền của chứa nhiều mà không biết dùng thì thật là một kho oán. Thiết–Uyển

260 – Cọp, beo ở đằng trước, đằng sau tuy có châu báu cũng không kịp lấy, là có ý tránh hoạn nạn trước, còn lợi để ở sau. Hoài–Nam–Tử

ôn « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : THANH-TÂN, SAIGON 1968
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn-hữu-trọng

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.