Hạ tuần tháng Bảy năm 1955.
Cầm theo giấy giới thiệu của chỉ huy Isokawa Tsunejiro, Kindaichi Kosuke bắt xe kéo (phương tiện hiếm hoi còn sót lại ở vùng này), vượt đèo Sennin đến làng Đầu Quỷ lần đầu tiên, mà không hay biết gì về khúc ca tú cầu được lưu truyền nơi đây.
Kindaichi tới làng không phải vì vụ án nào cả. Suy cho cùng anh vẫn là con người chứ không phải máy móc, làm sao mải miết theo đuổi án mạng mãi được. Thỉnh thoảng nghỉ ngơi tĩnh dưỡng một mình, tránh mọi quấy rầy thế tục, âu cũng là hợp lẽ.
Đắn đo một hồi về địa điểm, Kindaichi quyết định lựa chọn một vùng ở tỉnh Okayama. Không biết vì sao anh khá có duyên với mảnh đất này, nơi chứng kiến Cung đàn báo oán[1] (vụ án đầu tay của anh), cũng như các vụ đảo Ngục Môn[2], thôn Tám Mộ về sau. Cũng không rõ tự bao giờ anh đã mang trong mình thiện cảm với con người và phong tục nơi đây, luôn thấy ấm lòng vì sự nồng hậu của cư dân trong xứ.
Nghĩ sao làm vậy. Còn độc thân, chẳng vướng bận gì, nên Kindaichi chỉ việc nhét đồ vào túi du lịch, rời Tokyo tiến thẳng về phía Tây với đích đến là Sở Cảnh sát Okayama, nơi chỉ huy Isokawa công tác.
Như mọi lần, Kindaichi không gửi thư hay bưu thiếp trước, nên khi đón tiếp anh trong phòng khách mờ tối, Isokawa không khỏi tròn mắt bất ngờ, “Có chuyện gì vậy? Chú mày tới khi nào?” Ngạc nhiên cộng với bồi hồi vì lâu ngày xa cách, chỉ huy Isokawa phủ đầu Kindaichi bằng một loạt câu hỏi tới tấp.
“Em mới tới nơi thôi. Phù, buồn ngủ quá. Em không quen ngủ trên tàu.” Kindaichi cố tình chớp mắt liên tục để thể hiện sự mệt mỏi dọc đường di chuyển.
“Chú mới xuống tàu? Chẳng lẽ có vụ án lạ thường nào?”
“Thật là, anh cứ làm như em bị án mạng đeo bám, xuất hiện ở đâu là ở đó có bất trắc vậy… Tại lâu lâu em lại muốn gặp ông anh ấy mà.”
“Ha ha ha, chú nói thật không?”
“Còn phải hỏi…”
“N… nếu vậy thì vinh hạnh quá, ha ha ha.” Nở nụ cười mãn nguyện, chỉ huy Isokawa đưa bàn tay to bản lên vuốt khuôn mặt nhuốm thêm nhiều nét tuổi tác. Mái đầu cắt ngắn của ông đã bạc gần hết và mỏng đi nhiều, phơi rõ lớp da đầu ngăm đen. Tuy nhiên, chân mày bạc trắng hay những nếp nhăn ngày một dày cũng không che lấp được nét anh tuấn hào sảng của ông, trái lại còn tạo đối xứng tích cực với gương mặt bánh mật khỏe mạnh đang tươi cười kia. Từ ông toát ra vẻ vững chãi đáng tin cậy, thế mà bao nhiêu năm qua chỉ giậm chân ở cấp chỉ huy. Và vẫn ở vậy, kể từ khi vợ qua đời vài năm trước.
“Thế chú có dự định gì chưa?”
“À, thật ra đây chính là vấn đề đấy.” Nói đoạn, Kindaichi liền trình bày ý muốn tìm một nơi an tĩnh, không mảy may nhiễu loạn để thư thả nghỉ ngơi tầm một tháng. “Không biết quanh vùng này có chỗ nào như vậy không? Càng thiếu tiện nghi càng tốt, tỉ như mấy ngôi làng sâu trong núi biệt lập với thế giới bên ngoài ấy.”
“Xem nào. Không phải là không có… nhưng mà…” Nói đến nửa chừng, chỉ huy Isokawa ngó lại bộ dạng của Kindaichi. Vẫn chiếc áo truyền thống nhàu nhĩ cùng áo khoác mùa hè sờn vải như mọi lần. “Chú chẳng thay đổi chút nào nhỉ, ha ha ha.”
Những nếp nhăn nồng hậu hiện rõ ở đuôi mắt chỉ huy Isokawa khi ông cười. “Thôi được rồi. Để tối nay bàn cụ thể. Chú đã ngồi tàu cả đêm vất vả rồi, giờ anh giới thiệu cho một quán trọ mát mẻ mà tắm rửa nghỉ ngơi thư giãn. Tan sở anh qua ngay.”
Cứ như vậy, Kindaichi được giới thiệu tới một quán trọ trong thành phố.
Tối đó, sau khi cùng nhau uống hết hai, ba chai bia, chỉ huy Isokawa rút túi áo ra một tờ giấy, đưa cho Kindaichi, “Anh đem giấy giới thiệu đến theo yêu cầu của chú đây, nhưng phải nói trước là không có nơi nào biệt lập với thế giới bên ngoài đâu. Ngay cả ngôi làng này cũng nằm trong vòng nhân tình thế thái thôi.”
“Không sao. Mà, trông cái tên lạ thật nhỉ?”
Trên giấy giới thiệu có ghi: Gửi Aoike Rika, làng Đầu Quỷ.
“Đúng ra là làng Đồ Quỷ cơ, nhưng toàn bị đọc chệch thành Đầu Quỷ.”
“Ra vậy, tên lạ thật. Còn Aoike Rika? Có vẻ là tên phụ nữ?”
“Đúng vậy. Một phụ nữ đáng thương.” Isokawa đưa bàn tay to bản lên vuốt mặt, tỏ vẻ ngậm ngùi. “Chồng cô ấy bị sát hại, vẫn chưa tìm ra hung thủ.”
Cầm trong tay tờ giấy giới thiệu, Kindaichi nhìn chằm chằm vào Isokawa, “Không được đâu chỉ huy, em đã nói từ đầu là chỉ muốn nghỉ ngơi tĩnh dưỡng một cách thuần túy, không vướng bận điều gì…”
“À ừm, anh hiểu, hiểu chứ.” Isokawa giơ tay ra như thể trấn an rồi tiếp tục, “Chồng cô ấy bị giết không phải hôm qua hôm kia mà hơn hai mươi năm rồi, chú mày cứ yên tâm. Chẳng qua anh chỉ muốn nói là việc tìm một nơi biệt lập với thế giới bên ngoài theo yêu cầu của chú gần như là bất khả thi thôi. Làng Đầu Quỷ hai thập kỉ trước còn lạc hậu hơn ngày nay nhiều, ấy vậy mà vẫn xảy ra một vụ án tinh vi nằm trong vòng bí ẩn đến tận bây giờ đấy.”
Xem chừng Isokawa rất muốn kể cho Kindaichi nghe sự tình. Nhưng do nguyện vọng của Kindaichi là nghỉ ngơi tĩnh dưỡng không vướng bận, nên chỉ huy còn lưỡng lự.
Tuy nhiên, Kindaichi nghĩ rằng tìm hiểu đôi chút về người phụ nữ tên Aoike Rika cũng không hại gì, đặc biệt nếu đó là người sẽ tiếp đãi anh trong những ngày tới. Nghĩ vậy, anh đưa mắt lên khỏi tờ giấy giới thiệu đặt trên đầu gối.
“Nghe thú vị đấy nhỉ.” Anh nói và nở nụ cười, để lộ hàm răng trắng. Một nụ cười thân thiện như muốn khuyến khích người đối thoại.
“À, phải, cũng khá thú vị.” Isokawa đáp lời với vẻ ngại ngùng khó hiểu. “Chú muốn nghe chứ?”
“Vâng, anh cứ kể thoải mái đi. Đã lỡ nghe quảng cáo vụ án hơn hai mươi năm vẫn trong vòng bí ẩn thì em khó lòng cho qua được rồi, ha ha, ngựa quen đường cũ mà…”
“Cảm ơn chú. Để cho chắc thì chú nghe cái này trước đã.” Isokawa tỏ ra thoải mái hơn hẳn, giọng điệu thêm phần hào hứng. “Chú mày hẳn khá rành chuyện làng quê rồi, ở đâu cũng có những người sở hữu thế lực vượt trội riêng của vùng đó. Và những thế lực này thì lại luôn có kì phùng địch thủ… Cũng như hai chi chính thứ ở đảo Ngục Môn và nhà Đông nhà Tây của thôn Tám Mộ vậy.”
“Nghĩa là ở làng Đầu Quỷ cũng tồn tại hai thế lực lớn?” Kindaichi mớm lời.
“Đúng,” Isokawa hào hứng phụ họa, rung đùi một hai cái rồi tiếp tục. “Mà không, hãy coi như là… đã từng có hai thế lực lớn đi. Gần đây thì phân bổ thế lực ở làng Đầu Quỷ cũng thay đổi tương đối rồi. Vụ án kia xảy ra từ năm 1932, một năm ngay sau Sự biến Mãn Châu. Chắc chú còn nhớ hồi đó ở nông thôn lầm than thế nào chứ?”
“Vâng, đương nhiên rồi… Vốn dĩ tình hình bi đát ở nông thôn cũng là một nguyên nhân lớn dẫn đến Sự biến Mãn Châu mà.”
“Ừ, vấn đề sinh nhai cho đám con trai thứ ở nông thôn chính là một trong những nguồn cơn nhỉ. Trở lại chuyện chính, làng Đầu Quỷ bị chia thành hai thế lực lớn là nhà Yura và nhà Nire. Ngoài ra còn có nhà Tatara dòng dõi quan cai[3] thời Mạc phủ, đáng lẽ phải uy phong nhất nhưng do hai đời tiền chủ và đương chủ đều ăn chơi trác táng nên gia tộc suy tàn. Nổi lên thế chỗ là hai nhà Yura và Nire. Hễ là người có dính dáng tới làng Đầu Quỷ thì đều phải chọn phe rõ ràng, hoặc là phe Yura, hoặc là phe Nire. Không ai được phép lập lờ đứng giữa.”
“Cứ như hai khối Đông-Tây của Liên Xô và Mỹ ấy nhỉ.”
“Ừ. Trong hai phe thì nhà Yura vốn giàu có từ xưa, sở hữu nhiều ruộng đất không chỉ trong làng Đầu Quỷ mà còn khắp một dải lân cận, một phần không nhỏ vốn là đất của nhà Tatara, nhưng hai đời trưởng họ đã làm nó sang tay nhà Yura. Trong khi đó nhà Nire mới phất lên chưa lâu với tài sản chính là đất núi, tuy sở hữu cả ngọn núi nhưng với giá trị thời ấy thì không đủ để nhà Nire sánh vai với nhà Yura. Tuy nhiên Nire Nihei trưởng họ bấy giờ là người nhìn xa trông rộng, nên đã đem nho lên trồng trên núi nhà mình vào cuối những năm 1920. Gọi là núi nhưng chính ra chỉ ở tâm đồi thôi. Mà có thế nào thì khoảng sáu bảy năm sau, khi nho đến độ thu hoạch, thế lực của nhà Nire phải nói là lên như diều gặp gió.”
“Bây giờ ở đó vẫn còn trồng nho chứ?”
“Dĩ nhiên rồi. Một trong những nguồn thu chính của làng Đầu Quỷ đấy.”
“Ra vậy, bảo sao thế lực phe Nire lại phát triển mạnh. Hẳn là đem lại cả một ngành nghề mới cho làng.”
“Đúng rồi. Nire Nihei là một tay kiệt xuất. Bỏ bao công sức để khảo sát từ nhiệt độ, độ ẩm cho tới thời gian có nắng của thung lũng Đầu Quỷ bốn bề núi non, rồi ra tay ngay khi nhận thấy điều kiện tự nhiên nơi đây rất giống với thung lũng Koshu nổi tiếng về nho. Và chỉ vài năm sau là thu về thành quả. Tất nhiên là nhờ hơi tiền, cả đám người lập tức bu lại xung quanh ông già Nihei như kiến gặp mật. Thói đời là thế. Nihei chẳng mấy chốc đã thành ông lớn, sức ảnh hưởng bành trướng trong xóm trong làng.”
“Vậy cơ à? Chắc nhà Yura cũng chẳng thể nhắm mắt làm ngơ mà phải tìm cách đối phó chứ nhỉ.”
“Ha ha, chú mày tinh ý đấy. Đúng là để bảo vệ địa vị thì nhà Yura đã có đối sách… và đây cũng chính là mầm mống của tấn bi kịch anh sắp kể.”
Nghe cách nói hoa mỹ chẳng hề hợp với bản tính ông chỉ huy, Kindaichi không nhịn được cười, “Vậy mong anh cho em thỉnh giáo, nhà Yura đã đối phó thế nào mà lại tạo nên mầm mống của tấn bi kịch.”
“À, ừm.” Isokawa đưa tay vuốt mặt. “Trưởng họ Yura bấy giờ tên là Utaro, tuổi độ tứ tuần. Nhưng cũng chỉ là con nít so với một kẻ lõi đời như ông già Nihei. Nói chung là vẫn trẻ người non dạ, được bao bọc như công tử bột từ bé nên chẳng am hiểu sự đời. Lại thêm tâm lý bức xúc ăn thua nên bị người ta cho vào tròng lúc nào không hay.”
“Cho vào tròng? Ai cho?”
“Một tay lừa đảo chuyên lợi dụng tình cảnh khó khăn ở nông thôn… Bị đánh đúng chỗ yếu, nên không chỉ nhà Yura mà cả làng Đầu Quỷ thời đó đều lanh tanh bành hết.”
“Lừa đảo? Một tay lừa đảo sao?” Kindaichi ngạc nhiên trước diễn biến không ngờ.
“Đúng. Gã ta cao chạy xa bay sau khi hạ sát một mạng người, nên trong làng càng hỗn loạn hơn,” Isokawa đáp, nét mặt sa sầm. “Tay lừa đảo tự xưng là Onda Ikuzo, nhưng chắc cũng là tên giả thôi. Khoảng cuối năm 1931, gã ghé vào chỗ Utaro với một tờ giấy giới thiệu. Nghe kể thì gã có vẻ là một tay khá ưa nhìn, tầm 34 tuổi, đeo kính gọng vàng và để ria. Gã nói tới làng để giới thiệu việc làm kiếm thêm thu nhập cho bà con. Nội dung công việc là làm sợi cây trang trí. Chú biết không nhỉ, loại sợi nhuộm màu hay dùng trong mấy dịp như Giáng sinh ấy… Chủ yếu là để xuất khẩu thôi.”
“Thế à,” Kindaichi ngả người tới trước, bộ dạng hứng thú hơn hẳn khi thấy câu chuyện không đơn thuần chỉ là cạnh tranh ảnh hưởng trong làng.
Isokawa kể càng hăng, “Onda trình bày xong, Utaro liền đồng ý hợp tác vì cho rằng, đem cơ hội kiếm thêm thu nhập đồng nghĩa với việc ban ơn nghĩa cho bà con trong thời buổi khó khăn này. Nghe Utaro đề cập chuyện làm ăn, người làng cũng bùi tai nghe theo. Cách thức như sau: Onda sẽ cho nông dân mượn máy móc, máy thô sơ thôi, và cung cấp nguyên vật liệu để họ sản xuất sợi trang trí, rồi thu thành phẩm và trả tiền công tương xứng. Dần dà nông dân sẽ được mua lại máy móc làm của riêng… Trong thời gian người làng tích vốn thì Utaro sẽ thay họ ứng trước tiền máy cho Onda. Công việc ban đầu tiến triển rất tốt, và trong mắt những nông dân giàu lên nhờ khoản thu nhập bất ngờ này thì vị thế của Yura Utaro cũng được nâng cao đáng kể. Gần một năm sau, tầm mùa thu năm 1932, nhiều người đã đủ tiền để mua lại máy. Nhưng đến giai đoạn này thì cũng xuất hiện một người tỏ ra hoài nghi về thủ đoạn của Onda. Đó chính là Genjiro, chồng của người phụ nữ mà anh định giới thiệu với chú…”
Câu chuyện của Isokawa chưa có vẻ gì là sắp đi đến hồi kết.
“Anh xin phép xen ngang đôi chút về nhà Aoike,” Isokawa chậm rãi nhả khói thuốc. “Từ nhiều đời nay, dòng họ Aoike đã điều hành một cơ sở trị liệu tắm khoáng ở rìa làng Đầu Quỷ, tên là Nước nóng Kame.”
“Ồ, ở đó có suối nước nóng sao?” Kindaichi thắc mắc.
“Cũng không hẳn là suối nước nóng. Nước nguồn họ dùng là nước lạnh khoảng 20°C, nhưng được đun lên để phục vụ dân làng tới nghỉ dưỡng vào dịp nông nhàn. Mà dân làng này rất chi kì quái, không hiểu sao lại có truyền thống chỉ tôn trọng những người làm lúa gạo, còn ngành nghề khác là nhất loạt coi như hạ lưu, thậm chí cực đoan đến độ xem thường cả người trồng hoa màu dù vẫn là nghề nông. Xét theo khía cạnh này thì tuy trồng nho phát đạt, ông già Nirei Nihei vẫn chưa đủ tư cách ngẩng cao đầu trước mặt Yura Utaro. Mà thôi, hơi lạc đề rồi…”
Isokawa gạt bớt tàn thuốc và tiếp tục.
“Vì thế, đối với đám dân đen không có cả tấc đất cắm dùi kia thì nhà Aoike chẳng qua chỉ là chủ nhà tắm quèn, không đáng nhìn bằng nửa con mắt. Genjiro là con thứ của nhà Aoike, năm đó 27 tuổi. Anh này từ hồi trẻ đã tự lập ở Kobe rồi Osaka, từng trải nhiều nên cũng am tường lẽ đời. Đến giữa mùa thu năm 1932, Genjiro dẫn theo vợ là Rika cùng một đứa con trai quay về làng, hay chính xác hơn là về Nước nóng Kame, và bắt đầu hoài nghi thủ đoạn của Onda. Không dừng lại ở nghi ngờ, Genjiro đã sang trao đổi với Nihei, rằng không khéo đây là một vụ lừa đảo… Nihei như mở cờ trong bụng, còn cho Genjiro tiền để làm rõ sự việc, nhưng tất nhiên chưa bao giờ thừa nhận hành vi này. Tóm lại, dần dà Genjiro đã nắm thóp được Onda. Anh ta một mình tới nhà Onda, đúng hơn là chỗ trọ của gã để truy cứu, nhưng…”
“Lại bị gã giết?”
“Phải.”
“Giết kiểu gì? Siết cổ hay đâm chém?”
“Bị đánh chết. Bấy giờ là độ cuối thu, bếp lò sưởi[4] đã được đưa vào sử dụng, ngay cạnh đấy để sẵn củi và rìu. Một nhát rìu vào gáy đã đoạt mạng Genjiro…” Isokawa nhíu mày. “Chuyện xảy ra vào ngày 25 tháng Mười một năm 1932.”
“Có người mục kích hiện trường không?”
“Không có ai cả. Nếu có thì chắc đã ngăn được rồi.”
“Thi thể nạn nhân được phát hiện thế nào?”
“Là thế này. Biết chồng tới chỗ Onda để chất vấn gã, Rika đã bảo là vô bổ, thôi đi, nhưng Genjiro không nghe. Anh ta rời nhà ngay sau bữa tối, khoảng 6 giờ hơn, và đi mãi không về. Đến 9 giờ vẫn chưa thấy bóng dáng chồng đâu, Rika đâm lo, quyết định qua nơi Onda trọ xem tình hình thế nào.”
“Nơi Onda trọ là ở đâu?”
“À phải, đấy cũng là một thông tin thiết yếu không thể bỏ qua. Onda không ở hẳn tại làng Đầu Quỷ mà chỉ ghé qua mỗi tháng một hai lần. Mỗi lần cũng chỉ nán lại hai ba ngày, giải quyết xong công chuyện là đi ngay. Ban đầu gã tá túc tại nhà Yura, sau không chịu được gò bó nên chuyển sang mướn gian nhà phụ của Tatara Hoan để làm nơi đi về.”
“Tatara dòng dõi quan cai ngày xưa ấy hả?”
“Chính xác. Ông này tuy được đặt cho cái tên Kazuyoshi rất ra dáng hậu duệ quan cai, nhưng lại xưng hiệu là Hoan và dành cả đời tự do tự tại tận hưởng thú vui hoan lạc. Cha Hoan cũng là một tay ăn chơi khét tiếng, nên đến đời Hoan thì gia nghiệp lụn bại, may mà vẫn giữ được ngôi nhà tổ tiên để lại. Hoan sống cầm chừng qua ngày ở đó với người vợ thứ năm tên Rin.”
“Người vợ thứ năm?” Kindaichi tròn mắt ngạc nhiên.
Isokawa cũng nhướng mắt với vẻ cợt nhả rồi tiếp tục, “Năm người chưa là gì đâu. Hoan đến giờ còn sung sức và đã thay đến bà thứ tám rồi cơ.”
“Thế á… Vậy là em sẽ được diện kiến nhân vật, không biết có thú vị không, nhưng chắc chắn là khác người ấy khi đến làng Đầu Quỷ nhỉ?”
“Hoan thú vị đấy. Sống hoan lạc tự tại suốt từ trẻ tới già cơ mà. Với cả đến làng Đầu Quỷ thì chú mày sẽ còn gặp được một người trên cả tuyệt vời nữa.”
“Một người trên cả tuyệt vời?”
“Ừ, nhưng vụ đó để sau. Cứ coi như thêm một điều để trông đợi đi,” Isokawa lại nhướng mắt như thách thức lòng hiếu kì của Kindaichi. “Nói tiếp nhé. 9 giờ vẫn chưa thấy chồng về, Rika bèn qua chỗ trọ của Onda, tức là tư gia của Hoan, xem tình hình thế nào. Tuy nhiên, nhà Hoan tối đó phát sinh một vụ lùm xùm. Hai vợ chồng cãi nhau khiến bà vợ thứ năm bỏ đi. Hoan tìm đỏ mắt khắp nơi cả tối không thấy, đang quay ra mượn rượu giải sầu thì Rika đến và ngó xuống nhà phụ.”
“Rồi phát hiện thi thể?”
“Đúng. Trong tư thế cắm đầu vào bếp.”
“Cắm đầu vào bếp?” Kindaichi trân trối nhìn Isokawa rồi bật cười. “Sợ anh quá, chỉ huy. Anh đùa em đấy à?”
“Không đâu!” Isokawa giơ bàn tay to ra như muốn ngắt lời Kindaichi. “Anh không có ý đó. Chỉ là tình tiết nó thế…”
“Vâng, thôi được rồi. Nghĩa là thi thể khó mà nhận diện được nữa?”
“Chưa đến mức không nhận diện được, nhưng cũng hư hại tương đối[5].”
“Liệu có chắc là Genjiro?”
“Chắc. Không chỉ cô Rika mà cả bố mẹ và vợ chồng người anh cũng đều xác nhận là Genjiro.”
Kindaichi vẫn không khỏi có cảm giác gờn gợn, “Thế còn dấu vết ẩu đả?”
“Không thấy dấu vết ẩu đả, nhưng hiện trường bừa bãi cho thấy thủ phạm đã vội vàng gói ghém tẩu thoát.”
“Và từ đó biệt tăm biệt tích?”
“Đúng rồi, từ đó kẻ có tên Onda Ikuzo vĩnh viễn mất dạng.”
“Và rốt cuộc đúng là một tay lừa đảo?”
“Về điểm này thì phải thừa nhận với chú là tìm hiểu mấy cũng chưa làm sáng tỏ được. Tất nhiên nhìn từ kết cục thì rõ ràng là một vụ lừa đảo. Nông dân phải bỏ tiền ra mua máy móc đắt tiền, mà đơn hàng lại chẳng thấy đâu. Nhưng xét thực trạng cả năm trước đấy thì cũng không thể khẳng định là lừa đảo, vì thù lao sản phẩm vẫn được chi trả đầy đủ. Người ta cũng tìm đến công ty sợi trang trí mà Onda đại diện. Nó có thật ở Kobe, nhưng đã phá sản trước đó không lâu giữa tình trạng rối ren của thập niên 1930. Cái thời đại khủng hoảng ở Mỹ, khi mà Roosevelt thành danh với gói chính sách Kinh tế mới[6] ấy.”
“Cả phía công ty cũng không biết gì về Onda sao?”
“Không. Công ty chỉ cần có tiền thế chấp là được… nên cũng chẳng điều tra nhân thân cho đàng hoàng tử tế. Có lẽ ngay từ đầu Onda Ikuzo đã cố tình che giấu thân phận nhằm lừa đảo, hoặc làm ăn bế tắc do ảnh hưởng khủng hoảng ở Mỹ nên dòng đời xô đẩy vào con đường lừa đảo, rồi lại lỡ tay giết người nên mới xóa sạch tung tích… Gặp giai đoạn hỗn loạn ngay sau Sự biến Mãn Châu, càng tiện ẩn mình. Người ta đoán là gã đã ôm tiền của người làng bay sang Trung Quốc…”
Isokawa kể bằng giọng điềm tĩnh như thể không có cảm xúc đặc biệt gì, nhưng Kindaichi hiểu rằng một người làm nghề điều tra sẽ cay cú thế nào khi để vuột mất thủ phạm…
“Sau đó thì tình hình ở làng ra sao?”
“Đây cũng là vấn đề. Mất mặt nhất là Utaro. Bản chất ông ta cũng chẳng phải dạng tâm kế cao sâu hay sành sỏi chuyện đời gì cho cam. Tuy đã bỏ tiền túi bồi thường phần nào thiệt hại cho bà con nông dân nhưng vẫn bị oán trách và đem ra làm trò cười. Ôm nỗi uất ức gần ba năm trời, cuối cùng ông ta ra đi vào năm 1935.”
“Anh bảo nhà Yura là đại địa chủ nhỉ? Sau chiến tranh thì sao?”
“Mất kha khá tài sản do cải cách ruộng đất, may là giữ được đất núi. Atsuko vợ góa của Utaro là một phụ nữ cứng cỏi, sau khi chồng mất đã vứt bỏ tự ái mà tới chỗ ông già Nihei xin học cách trồng nho. Nhờ vậy cũng có chỗ bấu víu khi chiến tranh kết thúc, nhưng thế lực ngày nào thì đã đi vào dĩ vãng. Bây giờ làng Đầu Quỷ coi như là giang sơn của nhà Nire.”
“Ông già Nihei vẫn còn sống chứ?”
“Không, ông ấy mất rồi. Nhưng Kahei, người con kế nghiệp, cũng là một tay sành sỏi y chang cha mình. Từ khi Utaro qua đời thì giữa tay này và bà Atsuko nảy ra kha khá lời đồn không hay. Giờ đây quyền lực ở làng Đầu Quỷ đều nằm trong tay Kahei cả.”
“Theo như anh kể thì Genjiro là con thứ. Aoike Rika sau đó vẫn ở lại làng Đầu Quỷ à?”
“Ừ, Rika… Đáng thương nhất chính là cô ấy. Khi chồng gặp bất trắc, Rika đang mang bầu. Phải chứng kiến chồng chết thảm như vậy…”
“Nên sảy thai?”
“Không, vẫn mẹ tròn con vuông. Cô ấy hạ sinh một bé gái, nhưng đứa trẻ…” Isokawa cau mày. “Mà thôi, chú mày cứ đến nơi sẽ hiểu… Tính ra Rika cũng có phần may mắn vì vợ chồng người anh cả không có con. Vậy nên con trai của Genjiro và Rika đã trở thành người kế nghiệp Nước nóng Kame. Cậu chàng này tên là Kanao, biết thương mẹ, chí thú làm ăn.”
“Chỉ huy à, đã kích thích trí tò mò của em đến vậy rồi, có thể tiện đây bật mí luôn chuyện hay đang để dành không? Về nhân vật trên cả tuyệt vời mà em sẽ được gặp khi tới làng Đầu Quỷ ấy…” Kindaichi liếc qua Isokawa với vẻ thăm dò.
“À, chuyện đó thì…” Isokawa nhìn chằm chằm mái tóc rối bù của Kindaichi bằng ánh mắt sâu thẳm như muốn hút lấy người đối diện, đột nhiên hỏi. “Thỉnh thoảng chắc chú cũng xem phim chứ? Hoặc nghe mấy bài hát thịnh hành trên đài hay ti vi chẳng hạn…”
Trước câu bẻ lái đột ngột của Isokawa, Kindaichi không khỏi hấp háy mắt ngạc nhiên, “Cũng thỉnh thoảng… Nhưng liên quan gì?”
“À, là thế này. Trong thời gian Onda Ikuzo lưu trú tại làng, có cô con gái xưởng rèn tên Bessho Harue đã chăm sóc cho gã. Đến năm 1933, cô ta hạ sinh một đứa con, một bé gái không cha. Khỏi phải nói, ai cũng hiểu cha đứa bé là Onda Ikuzo. Sinh con ngoài giá thú là đã đủ trở thành tâm điểm để người đời đàm tiếu rồi, đây lại thêm vụ lừa đảo mà dân làng đang căm hận tận xương tủy nữa nên mũi dùi dư luận nhằm vào cô gái càng gay gắt hơn. Nhưng cô Harue cũng không phải người yếu đuối dễ khuất phục, nên đã gửi con gái, tên là Chieko… cho cha mẹ nhờ nuôi với danh nghĩa con của hai ông bà, còn bản thân đi làm phục vụ bàn ở tận Kobe. Một thời gian sau, cô đón con gái tới ở với mình, khi chiến tranh nổ ra thì hai mẹ con lại quay về chỗ ông bà. Đến năm Chieko 16 tuổi, họ buộc phải thoát ly lần nữa vì sự xua đuổi nghiệt ngã của dân làng. Chính cô bé Chieko ấy giờ đây đã trở thành một nhân vật lẫy lừng…”
“Lẫy lừng đến mức nào cơ?”
“Chắc chú biết Ozora Yukari, cô ca sĩ đang nổi tưng bừng, thu về hàng chục vạn mỗi lần lên sân khấu chứ? Rồi khi đóng phim thì lại được tung hô là nữ thần nóng bỏng đầy vẻ bí ẩn gì đó, khiến không biết bao nhiêu chàng trai đem lòng tơ tưởng đấy…”
Kindaichi vô thức siết chặt hai tay, “Nghĩa là Yukari đang ở làng Đầu Quỷ?”
“Năm ngoái, cô ấy đã xây cho ông bà ngoại, tức cha mẹ trên hộ tịch, một cơ ngơi khang trang mà người trong vùng gọi là biệt thự Ozora Yukari, lại dự kiến về đó chơi trong những ngày tới. Vì thế, không chỉ làng Đầu Quỷ mà cả báo chí trong tỉnh cũng đang xôn xao suốt…”
Đầu đội mũ rơm vành rộng, mình khoác bộ đồ Nhật mùa hè nhàu nhĩ, Kindaichi ngồi xe kéo qua đèo Sennin để đến làng Đầu Quỷ cùng những thông tin như thế.
Đã hơn mười ngày trôi qua từ khi Kindaichi đặt chân tới cơ sở trị liệu Nước nóng Kame ở rìa làng Đầu Quỷ. Giờ đã sang tháng Tám.
Cũng như nhiều cơ sở trị liệu khoáng nóng thôn quê khác, Nước nóng Kame là một ngôi nhà gỗ hai tầng cũ kĩ đơn điệu, giống nhà tập thể hay kí túc xá hơn là cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch, nhìn chung là khác với các lữ quán suối nước nóng ở Hakone hay Izu.
Người trong vùng đến đây nhân dịp nông nhàn thường đem theo nồi niêu xoong chảo cùng đầy đủ gạo, muối, miso, nước tương để tự nấu nướng. Thậm chí mang cả mùng mền chăn chiếu. Họ cũng hay rủ thêm dăm ba người đi cùng và tự túc sinh hoạt theo từng nhóm, nên nhìn qua chẳng khác gì một đợt cắm trại tập thể. Theo truyền thống chung của các cơ sở trị liệu khoáng nóng thôn quê, Nước nóng Kame chỉ cung cấp cho khách chỗ ngủ và nhà tắm.
Tuy nhiên, nơi đây thỉnh thoảng cũng đón tiếp những du khách thông thường như Kindaichi. Để phục vụ phân khúc khách này, người ta xây thêm một dãy nhà trệt, tuy khá mộc mạc nhưng vẫn ra dáng nhà nghỉ du lịch. Có khoảng năm sáu gian phòng đi kèm nhà tắm cho khách, người nhà Nước nóng Kame cũng sinh hoạt luôn ở khu này. Nói là người nhà nhưng tính ra chỉ có vỏn vẹn bốn người là bà chủ Aoike Rika cùng con trai Kanao, con gái Satoko, và cô phục vụ Miki… Những dịp nông nhàn đông khách thì họ có thuê thêm nhân viên thời vụ.
Rika năm nay 47 tuổi. Vẻ ngoài già hơn tuổi, không ai nhìn mà nghĩ bà dưới năm mươi. Nói vậy nhưng không hề nhăn nhúm ốm yếu, chưa kể vóc dáng lại cao ráo, rắn rỏi chỉn chu.
Đang giữa mùa hè nên bình thường bà chỉ bận váy liền đơn giản, gọn gàng. Mái tóc luôn vuốt vào nếp, mỗi lần tới chỗ Kindaichi bà đều không quên thay sang một bộ kimono cho đúng phép tắc. Từ Rika toát ra khí chất của một phụ nữ kinh kì[7], chính xác hơn là Kyoto, với gương mặt trái xoan và làn da mịn màng, khiến người ta không khỏi cảm thấy hồi trẻ bà hẳn là một đại mỹ nhân. Dẫu vậy, bi kịch khủng khiếp mà Rika từng phải đối mặt vẫn khiến nỗi sầu muộn luôn phảng phất ở bà. Có lẽ đây là nguyên nhân tạo ra vẻ ngoài già hơn tuổi. Bà cũng rất ít nói. Tuy nhiên điều đó đem lại ấn tượng bà là người suy nghĩ thấu đáo, hành xử chân thành, dễ mến hơn hẳn những kẻ hời hợt chỉ biết ba hoa suốt ngày.
Cậu con Kanao năm nay 25 tuổi. Trong lúc cậu đang theo học trung học ở thị trấn gần đó, hệ thống giáo dục đã được chuyển sang 6-3-3[8]. Tại những vùng nông thôn như nơi đây thì hầu hết trẻ con đều chỉ học đến cấp hai là cùng, nhưng Rika vẫn cho con mình học hết cấp ba.
Kindaichi khá chú ý đến Kanao. Cao gần 1m75, vóc người vạm vỡ, không hổ danh từng chơi ở vị trí tay ném trong đội bóng chày thời cấp ba. Mắt sâu mũi cao, làn da mịn màng thừa hưởng từ mẹ, tóm lại là điển trai. Bên cạnh việc kinh doanh của gia đình thì cậu cũng xốc vác làm ruộng, rồi cả trồng nho ở ngọn núi sau nhà. Gương mặt rám nắng vì lao động toát ra vẻ khỏe khoắn và đáng tin cậy. Cậu ca hát tương đối tốt, những lúc ở ngoài đồng nho đều nghêu ngao mấy bài hát thịnh hành với chất giọng êm ái. Vậy nên phần lớn con gái trong vùng đều phát cuồng vì Kanao, coi cậu như Romeo của làng, khiến Rika lại thêm một mối lo.
Đầu Quỷ là cái nôi sinh ra một người nổi tiếng như Yukari, nên thanh niên nam nữ không chỉ ở làng mà khắp một dải xung quanh đều rất chuộng nhạc thịnh hành và Jazz. Lễ Obon ở vùng này muộn hơn một tháng so với Tokyo[9], Yukari lại dự kiến về đúng dịp đó nên thanh niên trong làng đang định tổ chức một cuộc thi hát thật hoành tráng, mời cả cô tham dự. Tuy nhiên, tới giờ Yukari vẫn chưa xuất hiện.
Satoko em gái Kanao chào đời vào năm 1933, một năm sau khi cha bị sát hại. Cho đến lúc này Kindaichi vẫn chưa gặp cô lần nào. Hình như cô chỉ ru rú ở cái nhà kho tường đất, có hành lang nối sang cuối dãy nhà trệt nơi sinh hoạt của người nhà Nước nóng Kame.
Một buổi chiều nọ, tản bộ loanh quanh trở về, Kindaichi vô thức chọn hướng đi vào từ cửa sau thay vì cổng chính. Vừa bước qua cánh cửa gỗ nối với sân vườn, anh thoáng thấy bóng lưng một cô gái trẻ đang vội vã chạy vào nhà kho như muốn trốn tránh. Không khỏi tò mò, Kindaichi bất giác nuốt nước bọt đánh ực.
Khi nhắc tới cô gái này, Isokawa luôn tỏ vẻ sầu não không muốn kể nhiều. Lại thêm kiểu lảng tránh người khác thế kia thì ắt phải có uẩn khúc ở đây. Trí tưởng tượng của Kindaichi bất giác bay xa, suy đoán xem liệu sự việc khủng khiếp năm xưa có thể ảnh hưởng thế nào tới một đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ.
Tối đó, Kindaichi dò hỏi cô phục vụ Miki khi cô này mang bữa tối tới, “Hồi chiều tôi có thấy bóng dáng một cô gái trẻ ngoài vườn, phải chăng là cô chủ Satoko?”
“Vâng, vậy là anh đã gặp cô Satoko rồi ạ?”
“Cũng không hẳn, chỉ là tôi thoáng thấy cô ấy từ đằng sau thôi. Cô Satoko lúc nào cũng ở trong nhà kho à?”
“Dạ,” Miki, khoác trên người bộ váy liền đơn giản, chỉ xoay xoay cái khay đặt trên đầu gối mà không đáp gì cụ thể hơn.
Miki năm nay có lẽ khoảng 27 tuổi, từng làm dâu một hộ nông dân ở gần đây nhưng đã bỏ về ngoại vì không hòa hợp được với mẹ chồng. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, về nhà lại va chạm với chị dâu, may nhờ Rika bao bọc, giờ làm phục vụ và ở luôn tại Nước nóng Kame. Tuy Rika dạy bảo khá nghiêm khắc nhưng cô nàng vẫn chưa đi vào khuôn phép lắm, mồm mép tép nhảy, hay ngồi lê đôi mách. Ấy vậy mà hôm nay lại không hào hứng tiếp lời thế này thì hẳn là đã bị bà chủ dặn dò cấm đoán nghiêm khắc lắm đây.
“Phải công nhận là một cô gái trẻ mà chịu được cảnh ở lì trong kho không bước chân ra ngoài thì cũng tài thật.”
“Bé Satoko vốn ốm yếu nên vậy ạ,” Miki trả lời, thái độ vẫn ngập ngừng.
“Ốm yếu? Cụ thể là thế nào?”
“Tim cô ấy có vấn đề ạ. Chỉ cần đi bộ một lúc thôi là thở không ra hơi luôn.”
Một chứng bệnh nào đó liên quan tới van tim chăng? Y học đã chỉ ra rằng thai phụ mệt mỏi quá độ hay chịu những cú sốc tâm lý có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe tim mạch của thai nhi. Nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ để giải thích cho nỗi sợ giao tiếp của cô gái.
“Bé Satoko làm gì trong kho cả ngày?”
“Tôi cũng không rõ nữa…” Miki ngẩn ngơ nghiêng đầu, tay vẫn xoay vòng vòng cái khay trên đầu gối. “Tôi thường thấy cô ấy đọc sách. Bé Satoko thích sách lắm.”
“Sách à? Cô ấy hay đọc thể loại nào?”
“Tôi cũng không biết ạ…” Miki nở một nụ cười gượng gạo.
Trông cô phục vụ quả không thuộc dạng để tâm người ta đọc sách gì. Nghĩ rằng có hỏi thêm cũng vô ích, Kindaichi bèn không xoáy sâu vào nữa. Trong khi anh còn đang cân nhắc chủ đề khác, Miki đã phản công, “Quý khách quan tâm tới bé Satoko quá. Mà, ở một nơi lạc hậu thế này anh không thấy chán ạ?”
“Không, tôi tới đây chính là để chán đấy chứ. Người ta nói sống càng nhàm chán thì càng thọ mà.”
“Ôi, thật chẳng ai đủng đỉnh được như anh đâu… Đúng là người có tiền có khác.”
Đâu dám, nếu có tiền thì tôi đã chẳng đến nơi khỉ ho cò gáy này… Kindaichi đã suýt thốt ra, nhưng vẫn kịp kìm lại. Nói thế thì thất lễ với nhà Nước nóng Kame quá.
Cho rằng có hỏi nữa cũng không khai thác thêm được thông tin gì về Satoko, Kindaichi đổi đề tài, “Không liên quan nhưng Yukari vẫn chưa tới nhỉ. Thấy mọi người trong làng bàn tán xôn xao suốt…”
Tưởng chừng cô phục vụ sẽ hào hứng với chủ đề này hơn, nhưng sắc mặt Miki lại xấu đi thấy rõ khiến Kindaichi không khỏi ngạc nhiên. Gương mặt tròn trĩnh phúc hậu với chiếc mũi nhỏ và làn da phủ phấn trắng như bánh dày rắc bột của Miki giờ nhăn như bị.
“Cái con đấy!” Miki thốt lên bằng giọng sắc lẻm như thể phỉ nhổ một thứ cặn bã. “Tôi chẳng hiểu nó có gì tốt đẹp mà mọi người cứ nhặng xị hết cả lên!” Vẻ khinh bỉ và cau có cho thấy ác cảm không hề nhẹ đối với Yukari.
“Miki từng gặp Yukari rồi à?”
“Cũng lâu rồi ạ, từ lúc nó về đây sơ tán… Hồi ấy nó còn là một đứa vừa đen vừa bẩn cơ,” Miki nhíu mày như thể đang nhớ lại hình ảnh cô bé lem luốc ngày xưa.
“Tức là từ ngày cô ấy trở nên nổi tiếng thì Miki chưa gặp lần nào à?”
“Thì nó đã về đây bao giờ đâu… Nhưng khoe mông khoe ngực trên ảnh tạp chí các thứ như thế… Con gái con đứa gì mà… Như tôi chắc xấu hổ không dám nhìn mặt ai nữa rồi. Suy đến cùng cũng chỉ là đứa con hàng khóa không cha.”
“Con hàng khóa?” Kindaichi thắc mắc. “Tôi tưởng nhà mẹ đẻ của Yukari là làm nghề rèn?”
“À không, hàng khóa chỉ là tên hiệu thôi ạ. Mọi nhà ở vùng này từ xưa đều có tên hiệu cả. Như nhà tôi còn gọi là hàng mẹt nữa.”
Dĩ nhiên Kindaichi lúc đó chẳng mấy để tâm tên hiệu của nhà Bessho là hàng khóa hay gì. Tới khi anh phát hiện ra ý nghĩa trọng đại của tên hiệu thì đã quá muộn.
“Còn anh, anh thấy thế nào ạ?”
“Thấy gì thế nào cơ?”
“Chắc anh cũng thích mấy đứa con gái kiểu ấy chứ gì. Cái kiểu gần như trần truồng ấy…”
“À vâng, cái đấy thì cũng ít nhiều. Nhìn thế này chứ tôi vẫn là đàn ông mà, ha ha,” Kindaichi thận trọng ca ngợi nữ thần nóng bỏng kia.
“Ôi thật là đáng sợ!” Vẻ giận dữ của Miki thể hiện rõ qua cả hơi thở và ánh mắt, nhưng không biết nghĩ gì mà cô lại lập tức ỉu xìu.
“Nhưng đàn ông đúng là đều thế nhỉ. Người như cậu Kanao còn phải say mê con bé đó rồi suốt ngày bàn tính chuyện tiệc tùng chào mừng rồi hội thi hát các thứ. Đáng sợ thật!” Miki vừa cằn nhằn vừa dọn dẹp mâm bát Kindaichi mới dùng xong.
“Nếu quý khách có việc gì thì cứ rung chuông nhé,” cô dặn, rồi thất thểu rời khỏi phòng.
Không hiểu sao Kindaichi thấy nhẹ cả người. Chẳng còn hơi sức đâu để tiếp tục trêu chọc Miki, anh im lặng nhìn theo bóng dáng xa dần của cô. Hiện tại chỉ có mình Kindaichi làm khách ở Nước nóng Kame, nên anh hoàn toàn có thể tận hưởng cuộc sống lười biếng không bị ai làm phiền đúng theo mong muốn.
Như đã đề cập bên trên thì Nước nóng Kame nằm ở rìa làng Đầu Quỷ, ngôi nhà gần nhất cách đó phải gần hai cây số. Mặt sau của cơ sở này là một ngọn đồi có đồng nho phủ kín. Chỉ cần nằm dài trong gian phòng mở toang cửa sau, là có thể thưởng thức hương thơm phảng phất dễ chịu của những chùm nho tươi ngon màu hổ phách nặng trĩu trên giàn. Đã lâu lắm rồi anh mới được nghe thỏa thuê đến thế tiếng cúc cu mời gọi vào giấc ngủ.
Kindaichi tới đây không phải để khơi lại vụ án từ hai mươi mấy năm trước. Anh chẳng nợ nần tình nghĩa gì Isokawa mà phải làm như vậy. Nên anh chỉ nghe và biết những thông tin đến một cách tự nhiên, chứ không định tìm hiểu kĩ càng là nhà Yura sau đó ra sao, hay nhà Nire giờ phát đạt nhường nào. Hầu hết thời gian anh giam mình trong Nước nóng Kame, thỉnh thoảng đọc sách, sắp xếp lại đống ghi nhớ về những vụ án đã xử lý, còn không thì cứ thơ thẩn đến hết ngày. Kindaichi thực sự đang tận hưởng sự nhàm chán như một chú mèo.
Bởi vậy anh chẳng mấy khi đi về phía làng trong những chuyến tản bộ ban sáng hay chiều muộn, mà chỉ dạo quanh những ruộng nho sau núi là cùng. Dù vậy, Kindaichi vẫn gặp không ít người từ khi đặt chân đến đây, và đã quen thân với một trong số đó. Cũng bởi nơi này là một cơ sở trị liệu khoáng nóng, và nhất là hiện tại, phòng giải trí của khu nhà trọ hai tầng vốn không một bóng khách lại đang được sử dụng như nơi tụ họp cho thanh niên trong làng.
Ngoài người nhà Nước nóng Kame, nhân vật mà Kindaichi chào hỏi đầu tiên sau khi đến đây là Tatara Hoan. Cũng không phải anh muốn tìm gặp Hoan làm gì. Chẳng qua là ngay sau hôm tới nơi, anh tình cờ chạm mặt ông khi nổi hứng ngâm mình trong nhà tắm chung rộng rãi thoáng đãng thay cho nhà tắm nhỏ.
Nhà tắm chung là một kiến trúc gỗ có mái chóp nhọn, khá rộng rãi và được chia làm hai gian nam-nữ, nối với dãy nhà hai tầng bằng một hành lang nhưng vẫn có thể vào trực tiếp từ vườn. Trong gian thay đồ có chất một đống giỏ mây, trên tường gắn gương nhưng thủy ngân đã bong tróc hết cả nên chẳng còn mấy tác dụng. Đằng sau cánh cửa kính cuối gian thay đồ là nhà tắm với bồn nước rộng tới hơn 30 m². Và trong bồn tắm đang trào nước ấy, có mỗi cái đầu trọc lốc của Hoan.
Kindaichi khẽ đưa mắt chào người khách đến trước rồi cũng hòa mình vào làn nước, thầm nghĩ không biết đây có phải là Tatara Hoan không. Từ cái đầu trọc và gương mặt nọng kia, anh lờ mờ nhìn ra vẻ sành sỏi từng trải.
Sang đông có lẽ nước sẽ được đun nóng bằng củi, nhưng mùa hè vắng khách thì người ta để luôn ở nhiệt độ tự nhiên, chỉ âm ấm nhờ nắng. Đổi lại, như về sau Kindaichi được biết, gia chủ cũng chẳng thu phí khách tới tắm. Dẫu sao thì nhiệt độ này cũng rất thích hợp để đủng đỉnh ngâm mình.
“Cho hỏi, không biết cậu có phải là tiên sinh mà chỉ huy Isokawa giới thiệu?”
Trong lúc Kindaichi dập dềnh trong bồn tắm, Hoan chủ động bắt chuyện. Xem ra Isokawa đã đề thêm hai chữ tiên sinh[10] vào sau tên Kindaichi trên giấy giới thiệu.
“Vâng, cháu tên là Kindaichi Kosuke, mong chú giúp đỡ.”
“À, tôi là Tatara Hoan, cứ coi như một kẻ đã xa lánh cõi đời cũng được. Còn cậu, là thế nào với chỉ huy Isokawa?”
“Dạ, quen biết sơ sơ thôi ạ.”
Kindaichi trả lời lấy lệ. Ông già cũng không phật ý, lại tiếp tục hỏi những điều mà ai cũng sẽ thắc mắc như người không khỏe chỗ nào, định ở lại đây bao lâu.
“Thế cậu làm nghề gì?”
“À, cháu có viết lách một chút.” Kindaichi dùng ngay câu trả lời mà anh đã chuẩn bị sẵn cho những tình huống thế này.
“À, vậy nên mới ghi là tiên sinh…”
Hoan chấp nhận ngay câu trả lời, không hề đào bới thêm kiểu như viết lách thể loại nào. Chắc đây là cách ứng xử của một người từng trải chăng.
“Thôi tôi xin phép trước… Cậu cứ tự nhiên nhé!” Hoan nói và ra khỏi bồn tắm sau một hồi nói chuyện trên trời dưới bể.
Kindaichi tự hỏi không biết Hoan đã bao nhiêu tuổi. Chắc trên dưới bảy mươi rồi, nhưng phải nói là ông còn rất sung sức, thân hình nhỏ nhắn mà rắn rỏi. Duy chỉ tay phải là có vẻ bị tật nên ông dùng khăn không được tự nhiên cho lắm.
Hầu như chiều nào Hoan cũng tới Nước nóng Kame, Kindaichi chạm mặt ông ở nhà tắm chung đôi ba lần nữa. Dần dà câu chuyện giữa hai người trở nên cởi mở hơn.
“Ở nông thôn thế này chắc cậu buồn chán lắm nhỉ. Thỉnh thoảng qua chỗ tôi chơi. Tuy chỉ là nhà nát chẳng đáng một xu, nhưng có mình tôi thôi nên được cái là chẳng phải để ý lễ nghi phép tắc gì đâu,” ông nói rồi chỉ đường cho Kindaichi.
Theo lời bà tám Miki thì ông Hoan tám đời vợ đã bị cô vợ thứ tám bỏ lại một mình vào năm ngoái.
Tiếp đó, Kindaichi gặp đến ông Kahei nhà Nire, người trị vì làng Đầu Quỷ như thiên hạ vẫn bảo.
Khoảng 8 giờ tối sau hôm đến đây, Kindaichi nghe thấy tiếng đàn shamisen phát ra từ gian đối ẩm nhỏ nằm ở một góc biệt lập bên hông phòng mình. Anh bất giác chăm chú lắng nghe. Tiếng đàn không hề ồn ào mà rất nhã nhặn, đúng điệu cơ bản, lại hòa quyện với tiếng suối chảy gần đó và chỉ vang lên ngắt quãng như mưa rơi nên càng thêm cuốn hút lòng người.
Kindaichi bước ra thềm nhà, trông thấy ánh nến đổ bóng trên khung cửa sổ tròn bên kia vườn cây, nhưng không quan sát được là có ai ở trong hay không, cũng không nghe thấy tiếng ca vang lên cùng nhịp đàn. Nếu có ai đang hát thì hẳn phải là một giai điệu trầm lắng lắm.
Lúc đó Kindaichi vẫn chưa biết Satoko luôn thu mình trong nhà kho nên ban đầu cũng tưởng tiếng đàn là của cô chủ nhà này. Nhưng nghĩ lại thì mọi người trong nhà Nước nóng Kame không ở mạn bên đấy, đang mùa vụ bận rộn nên cũng khó có thể là người làng. Chẳng lẽ có vị khách vãng lai nào dẫn theo cả ca kĩ từ xa đến. Đúng lúc Kindaichi còn đang đoán già đoán non, Miki mang trà tới.
“Có vị khách nào bên kia à?”
“Vâng,” Miki mỉm cười tinh nghịch.
“Ai vậy? Người từ xa đến à?”
“Dạ không, là ông chủ Nire.”
Ông chủ Nire… Kindaichi không khỏi tròn mắt ngạc nhiên khi nghe đến đây. Như anh nghe kể thì ông chủ nhà Nire tên Kahei. Nhưng đang dịp bận rộn mà Kahei lại tới hưởng lạc với ai được chứ?
“Quý khách cũng biết ông Kahei ạ?” Miki hỏi dò khi thấy Kindaichi đổi sắc mặt.
“À, không… Chỉ là, tôi nghe đồn ông ấy giàu có nhất làng… Mà ai đang chơi shamisen thế? Ca kĩ ở đâu đến à?”
“Không, là bà chủ ạ.”
“Bà chủ?” Kindaichi lại tròn mắt ngạc nhiên. “Chị Kika đích thân tiếp đãi sao?”
“Vâng.
“Còn ai khác nữa không?”
“Không, chỉ có hai người họ thôi ạ.”
“Ông Kahei hay qua đây lắm à?”
“Vâng, cũng khá thường xuyên ạ.”
“Và mỗi lần ông Kahei tới là chị chủ lại chơi shamisen để tiếp đãi?”
“Vâng, từ năm ngoái, sau khi bà vợ qua đời, ông Kahei có vẻ buồn hơn hẳn, hì.” Để lại một nụ cười đầy ẩn ý, Miki quay bước. Có khi chỉ vì muốn nói những điều này nên cô mới mang trà qua đây.
Thời gian sau đó Kahei vẫn ghé qua khoảng ba ngày một lần, hình như đều chỉ ngồi ở gian đối ẩm, vừa nghe Rika chơi đàn vừa uống rượu.
Ấn tượng ban đầu của Kindaichi về Rika là một phụ nữ già hơn tuổi, nhưng có thể đây là cách giữ ý của bà đối với người ngoài như anh. Đấy là nghĩ theo hướng tích cực, chứ nói phũ phàng thì không chừng lại là biểu hiện của tâm lý xa lánh cảnh giác. Biết đâu với người làng vốn gần gũi thân thiết thì có khả năng Rika cũng không ngại khoe chút nhan sắc xế chiều. Kindaichi đã từng bắt gặp Rika ngoài hành lang vào một tối Kahei ghé thăm, và phải nói là anh không khỏi ngạc nhiên trước gương mặt bóng mịn ưng ửng hồng vì men rượu của bà, trông xuân sắc hơn ngày thường rất nhiều.
Lần đầu Kindaichi tiếp chuyện với Kahei cũng là trong nhà tắm, nhưng là nhà tắm nhỏ chứ không phải nhà tắm chung.
Đó là tối thứ tám anh ở đây, đang ngâm mình trong bể sau bữa tối, thả hồn lắng nghe tiếng suối chảy gần đó. Cánh cửa ngoài phòng thay đồ bỗng mở ra, một người đàn ông bước vào. Qua lớp cửa kính, Kindaichi liếc nhìn bóng người mới tới và đoán ra ngay là Kahei. Có vẻ đã tắm qua ở nhà trước khi đến, Kahei chỉ khoác một bộ áo Nhật mùa hè đơn giản. Ông nhanh chóng cởi bỏ quần áo và tiến vào nhà tắm.
“Chào cậu.” Như đã biết trước việc Kindaichi ở đây, Kahei cất tiếng chào hỏi với vẻ thân thiện, đôi mắt tinh anh lấp lánh ánh cười.
Kahei tuổi chừng lục tuần, mái tóc hoa tiêu húi cua, tạng người lực lưỡng với khung xương to, cao trên 1m70 và đầy đặn béo tốt khác hẳn dân đen. Từ ông toát ra một vẻ thư thái khiến người ta dễ dàng nhận ra đây là một ông chủ.
“C… chào ông…” Kindaichi hấp tấp đáp lời từ trong bồn tắm.
Hòa mình vào dòng nước, Kahei tiếp tục trò chuyện bằng những chủ đề trên trời dưới bể thêm một lúc, rồi ông đột nhiên quay sang Kindaichi với ánh mắt tinh nghịch, mỉm cười rào đón, “Mà, cậu Kindaichi này, tôi mới nghe bà chủ ở đây kể cậu là do Isokawa giới thiệu đến.”
“Vâng.”
“Nghe nói cậu tới đây với danh nghĩa tác giả gì đó nhỉ…”
“Danh nghĩa đâu, tôi có viết lách thật mà.” Kindaichi giật mình khiến làn nước sóng sánh. Nghe chừng Kahei biết ít nhiều về anh.
“Ha ha ha. Y như trong mấy tiểu thuyết trinh thám nhỉ! Tôi sơ suất quá!” Mắt Kahei vẫn hấp háy ánh cười, “Nhưng phải công nhận là chỉ huy Isokawa dai dẳng thật. Tận tâm với công việc như vậy cũng tốt…”
“Ông nói thế là có ý gì?”
“Thôi nào, cậu Kindaichi, chắc cậu đã nghe chỉ huy kể về vụ lừa đảo hai mươi ba năm trước rồi.”
“Vâng, cũng sơ sơ… thế thì sao?”
“Chẳng là từ đó trở đi Isokawa vẫn chưa nguôi thắc mắc. Hẳn cậu đã biết chuyện Genjiro chồng bà chủ ở đây bị giết nhỉ.”
“Vâng, tôi có nghe qua.”
“Nhưng thi thể của Genjiro lại được phát hiện trong tình trạng cắm đầu vào bếp, mặt mũi không còn rõ ràng. Chắc là Isokawa thấy có điều không ổn. Nói thẳng ra là băn khoăn, liệu nạn nhân có đúng là cậu chủ Genjiro của nhà này không. Biết đâu người bị sát hại lại là tên lừa đảo kia… Suy cho cùng, không thể nhận diện được thì cũng chẳng thể hoàn toàn loại bỏ khả năng này. Và nếu nạn nhân là tay lừa đảo thì đồng nghĩa với việc Genjiro còn sống, và một ngày kia có thể trở lại đây. Nghĩ vậy nên đó giờ Isokawa vẫn luôn để mắt tới Nước nóng Kame…”
Kahei ngừng lại, thở một hơi rồi lại tiếp tục, mắt nhìn chằm chằm vào Kindaichi. “Thế nên, phải chăng cậu tới đây là để…”
“K… không phải…” Kindaichi vội vàng ngắt lời Kahei. “Nói vậy thì oan cho tôi quá. Tôi chỉ đến đây tĩnh dưỡng thôi ông chủ à…”
“Ông chủ? Thấy chưa, cậu biết tôi là ai còn gì. Tôi còn nghe đồn cậu đã kết thân với ông chủ nhà quan cai nữa…”
“Ha ha, nghe cứ như tôi lặn lội tới đây rồi lùng sục khắp chốn chỉ để làm sáng tỏ một vụ án từ hai mươi mấy năm trước ấy nhỉ.”
“Không phải sao?”
“Thật tình tôi đến đây chỉ để nghỉ dưỡng thôi. Tuy đúng là có nghe Isokawa kể chuyện ngày xưa thật…”
“Thế à,” Kahei lẩm bẩm, mặt thoáng nét thất vọng.
Thấy vậy, Kindaichi thầm ngạc nhiên. Không lẽ người này muốn lật lại vụ án? Tại sao chứ…
“Thật là, tôi cứ tưởng cậu định tranh thủ giọt máu rơi của tay lừa đảo về làng để thu thập manh mối đấy.”
“Không, chỉ là trùng hợp thôi. Hay tiện thì lúc nào ông kể tôi nghe thêm về sự tình hồi ấy được không?”
“Sẵn sàng thôi…”
“Nhà Yura, khởi nguồn của mọi chuyện, về sau ra sao ạ?”
“À, vì vụ đó mà đến năm 1935 thì Utaro cũng qua đời, nhà cửa loạn hết cả lên. Sau chiến tranh lại gặp nhiều chuyện… Nhưng giờ thì tạm đủ sống nhờ nghề trồng nho.”
“Bà góa Atsuko vẫn khỏe chứ?”
“Ừm, cũng già rồi. Mà cậu này,” mắt Kahei lại ánh lên tinh ranh. “Chắc cậu cũng nghe chỉ huy kể nhỉ! Có một dạo tôi và bà ấy… ha ha ha.”
“Vâng… là thật sao?”
“Ừ thì… chẳng phải là chuyện hay ho gì, nhưng mỡ tự dâng miệng mèo mà không xơi thì chẳng phải hổ mặt đàn ông sao. Ông già bấy giờ còn sống làm ỏm tỏi lên với tôi, nên không kéo dài được lâu. Tôi đã 40, bà ấy cũng 38 rồi nên không viện cớ trẻ người non dạ được. Ha ha ha.” Kahei vừa dập dềnh trong làn nước vừa ôm bụng cười, nhưng chẳng mấy chốc đã nghiêm mặt trở lại. “Dù sao thì lúc nào mời cậu qua nhà, tôi sẽ kể thêm chuyện cũ cho cậu nghe. Hứa là không tiết lộ với ai về cậu.”
Tối đó Kahei vẫn thưởng rượu với Rika, nhưng về sớm hơn hẳn bình thường.
Mấy hôm tiếp theo, Kindaichi cũng có gặp lại Hoan vài lần trong nhà tắm chung vào ban ngày, nhưng phải tới tối mùng 7 tháng Tám, đúng hai tuần từ khi tới đây, Kindaichi mới ghé thăm nơi Hoan sống.
Cuốc bộ những nửa tiếng mới tới, nhưng ngôi nhà tồi tàn của Hoan vẫn là nhà dân gần Nước nóng Kame nhất. Từ đây lại cuốc bộ thêm mười lăm phút nữa mới thấy rải rác những nhà khác. Nhà Hoan nằm dưới chân núi, gần một đầm lầy khá lớn. Khi Kindaichi tới nơi, đón chào anh là hoa bèo trắng nở rộ khắp đầm lầy, cũng như tiếng ve râm ran trong những tán thông tỏa rộng như vành ô bên trên mái nhà.
Đó là một ngôi nhà tồi tàn đúng nghĩa, chỉ có một gian trà nước kiêm nhà bếp với bếp lò sưởi và một căn phòng khoảng 47 m², mái nhà không lợp ngói, tường đất không sơn trát, mấy mảnh phên tre thay cho tấm lợp trần đã ngả màu nâu đỏ cùng thời gian. Nói cho dễ nghe là thanh đạm, còn thực tế là rất xập xệ rồi.
Tuy nhiên, cũng may gia chủ có vẻ là người thích sạch sẽ nên trong nhà tương đối gọn gàng ngăn nắp. Ngay cả khi ngồi đối diện với Hoan bên chiếc bàn làm bằng thùng các tông dán giấy nháp, Kindaichi cũng không thấy mất vệ sinh gì cả.
“Cậu xem! Tệ xá cũng được đấy chứ.” Không biết vì sao, hôm nay Hoan khá vui vẻ phấn chấn. “Gió thổi qua mặt nước như thế này là không gì sánh bằng luôn. Cả làng cũng chẳng kẻ nào có được cơ ngơi tương tự đâu.”
Đúng là những làn gió mát rượi từ ngoài đầm lùa vào rất dễ chịu, có điều Kindaichi không chịu nổi mùi hôi bùn lầy kèm theo. Nhưng chắc ai sống mãi ở nơi này thì rồi cũng quen thôi.
“Cậu Kindaichi, hôm nay cậu đến đúng lúc quá.”
“Vâng, sao ạ?”
“Thật ra là tôi đang có việc muốn nhờ ai đó, nhưng nghĩ đến khả năng bị đem ra bêu riếu là bực mình, nên còn phân vân chưa biết làm thế nào. Cậu xem hộ tôi một chút được không?” Mặt Hoan ửng hồng, ông rút ra một bì thư màu hồng phấn chẳng hề hợp với phong cách ông, đoạn nói tiếp, kèm theo nụ cười ngượng ngùng. “Cậu tới đây hơn mười ngày rồi, chắc cũng nghe kể ít nhiều. Chẳng là từ trẻ tới giờ tôi đã lấy tới tám đời vợ. Cậu biết chứ?”
“Vâng, cháu có nghe…” Kindaichi nhìn thẳng vào mặt ông chủ nhà.
Yêu râu xanh lần lượt giết tám người vợ của mình trong truyền thuyết châu Âu có lẽ phải là một kẻ mặt mũi hung hiểm ác ôn lắm, còn người đàn ông râu xanh trước mắt Kindaichi lúc này thì lại rất điềm đạm, thậm chí còn phảng phất phong thái quý phái lịch thiệp. Cả đời phóng túng như thế mà xem chừng chưa nhằm nhò gì, vì ông vẫn giữ được vẻ đầy đặn khỏe khoắn, chẳng thấy ảnh hưởng của tuổi già.
“Trong số tám mụ, có người tôi không vừa ý nên đuổi đi, cũng có người chịu không nổi mà bỏ trốn. Hồi trẻ thì chủ yếu là lý do trước, còn từ sau năm mươi thì hầu như là tôi bị người ta bỏ. Ha ha ha!” Hoan vừa cười vừa xoa mặt. “Lá thư này là của mụ vợ thứ năm tên Rin, bảo muốn quay về đây.”
Kindaichi giật mình ngạc nhiên, mắt chằm chằm nhìn Hoan. Bà vợ thứ năm của ông già râu xanh này chẳng phải cũng có mặt ở làng vào năm 1932, năm xảy ra vụ án ư?
Hoan không nhận ra sự thay đổi trên nét mặt Kindaichi.
“Cậu đọc hộ tôi được không? Chẳng có gì nhạy cảm lắm đâu.” Ông nói với vẻ hí hửng như con nít.
Không còn cách nào khác, Kindaichi đành đưa mắt xuống lá thư Hoan đưa, thư viết trên giấy chuyên dành cho các bà các cô. Trong thư là những câu từ lưu loát đặc trưng của phụ nữ, nội dung là tuổi già khiến bản thân cảm thấy cô đơn hơn, được biết đằng ấy còn có một thân một mình nên hay là để tôi về đấy góp gạo thổi cơm chung. Rồi thì hãy bỏ qua chuyện cũ để cùng nhau an hưởng tuổi già cho đỡ cô đơn hiu quạnh vân vân.
“Ra là thế ạ,” Kindaichi nói, lòng cũng hơi xúc động. “Tốt quá rồi,” anh nói và đưa trả lá thư cho Hoan.
Đôi mắt hấp háy của ông già không giấu nổi sự vui mừng, “Cậu cũng nghĩ vậy phải không. Lúc trước tôi hận mụ lắm, đọc những dòng hối lỗi này đâm ra lại thương. Tôi đã định hồi âm luôn, nhưng cậu thấy đấy.”
Hoan giơ bàn tay phải buông thõng ra trước. Dường như nó không mấy khi được sử dụng nên thoái hóa hơn hẳn tay trái. “Tôi đang tính tìm ai viết hộ thì đúng lúc cậu đến, không biết cậu có thể giúp ghi lại những gì tôi nói được không?”
“Vâng, được ạ. Gì chứ chuyện nhỏ này thì cứ để cháu…” Kindaichi vui vẻ nhận lời.
“Tốt quá tốt quá. Vào việc luôn thôi nhỉ…” Hoan hối hả chuẩn bị giấy bút phong bì, đem ra chiếc bàn làm bằng thùng các tông. “Nào, cậu viết cho tôi thế này nhé.”
Kindaichi chép lại theo lời Hoan đọc, đại loại là nếu vậy thì đằng ấy cứ về, tôi ở một mình cũng có nhiều cái bất tiện nên luôn hoan nghênh, lần này hãy cùng sống hòa thuận, tôi già yếu rồi nên không làm liều hay đối xử tệ với đằng ấy như hồi xưa đâu, đọc được thì hãy về đi nhé… Có lẽ Hoan cũng cố hết sức để giữ vẻ nghiêm nghị, nhưng do quá mừng mà ông đã dần xuống nước trong câu từ làm Kindaichi phải căn chỉnh lại đôi chút.
“Cảm ơn cậu nhiều lắm. Thế là tôi được cứu rồi.”
“Để cháu viết luôn địa chỉ cho chú nhé,” Kindaichi nói rồi lật mặt sau bì thư của Rin. “Gửi bà Kuribayashi Rin, nhà Machida, 2-36 phường Nishi-yanagIwara, quận Hyogo, thành phố Kobe…”
Kindaichi vừa viết vừa hỏi Hoan, “Chú Hoan này, chữ viết trong thư đẹp phết nhỉ, là của bà Rin ạ?”
“Đâu có, con người ấy làm sao mà viết đẹp như vậy được. Chắc nhờ ai viết hộ giống tôi thôi.”
Thấy Hoan rối rít như con nít khi nghe tin người vợ thứ năm sắp về, Kindaichi cũng ngại không muốn hỏi đến vụ án ngày xưa. Rốt cuộc chuyến viếng thăm hôm đó gần như chỉ để viết thư hộ Hoan.
Làng Đầu Quỷ trở nên náo nhiệt nhờ tin báo chính thức rằng Yukari sẽ đến vào ngày 11. Tối xuống, phòng giải trí ở khu nhà trọ chung của Nước nóng Kame lại trở thành nơi nam nữ thanh niên trong làng tụ tập bàn bạc sôi nổi kĩ càng về buổi tiệc chào mừng.
Trước hôm Yukari tới nơi, tức mùng 10 tháng Tám, là ngày giỗ của Yura Utaro, mất năm 1935. Bà chủ Nước nóng Kame đã đi phụ giúp giỗ chạp từ quá trưa, còn Kindaichi cũng có việc phải vượt đèo Sennin lúc chiều tối. Bên kia đèo là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Hyogo có tên Soja. Kindaichi có chút công chuyện ở đây và đã định bụng sẽ nán lại một đêm nếu muộn mới xong việc. Trước khi đi anh nhắn với người ở Nước nóng Kame như vậy.
Lúc Kindaichi tới đèo thì bốn bề đã nhuộm màu hoàng hôn. Ở cả hai bên chân đèo đã lác đác lên đèn. Tới gần đỉnh đèo, Kindaichi bắt gặp một bà già đầu quấn khăn, lưng đeo một bọc đồ to. Do bà phải còng lưng vác đồ nên anh không nhìn rõ mặt, chỉ nhớ là có vài sợi tóc bạc lộ ra từ lớp khăn quấn đầu cùng chiếc quần vải sọc nhỏ kiểu túm gấu truyền thống. Bà xỏ tất trắng đã ngả màu cháo lòng và đôi dép cói ngắn không đủ ôm hết gót. Hình như để chống nắng hay gì đó mà bà còn đeo cả các miếng bọc cổ tay, ống chân nữa thì phải…
Tất nhiên đây là sau này nghĩ lại, chứ ngay lúc ấy thì Kindaichi chẳng mấy bận tâm về bà già. Khi hai người đi ngang qua nhau, bà còng lưng hạ thấp đầu hơn nữa, miệng lẩm bẩm vài câu khiến Kindaichi không khỏi sững người dừng bước, “Xin thứ lỗi vì đã làm phiền. Tôi là Rin đây. Tôi mới về lại nhà quan cai, mong được giúp đỡ.” Nói bằng giọng lí nhí chỉ vừa đủ nghe xong, bà già lại lê đôi dép cói ngắn cũn hướng xuống đèo, tiến về phía làng Đầu Quỷ.
Sau này, mỗi lần nhớ lại cảnh đó, Kindaichi không khỏi nổi da gà. Ngoài anh ra thì còn năm, sáu người khác bắt gặp bà, và ai cũng nghe bà lẩm bẩm tương tự. Tuy nhiên do trời đã nhá nhem và tư thế còng lưng cúi mặt, không một ai nhìn rõ mặt bà.
Trong ánh chiều tà ma mị giờ Dậu ngày mùng 10 tháng Tám năm 1955 ấy, bà già tự xưng là Rin đã vượt đèo Sennin tới làng Đầu Quỷ như một bóng ma, mang theo mình nỗi khiếp sợ rợn người cùng những bí ẩn chưa có lời giải bọc trong gói đồ trên lưng…
Nhưng tối hôm ấy, Kindaichi vẫn chưa tưởng tượng nổi một viễn cảnh như vậy. Thậm chí anh còn thấy ấm lòng, “À, hóa ra bà già chính là Rin, người vợ thứ năm của ông già râu xanh.” Và sải bước tiếp sang bên kia đèo Sennin.
Với ý định quay lại Nước nóng Kame trước khi sang ngày mới, Kindaichi đã chuẩn bị sẵn cả đèn pin, nhưng rốt cuộc anh vẫn phải tá túc một đêm ở Soja do cơn mưa dông lớn đột ngột đổ bộ vào vùng này lúc 9 giờ tối.
Kindaichi biết là thời tiết miền núi dễ thay đổi thất thường, nhưng phải lâu lắm rồi anh mới trải nghiệm một cơn mưa dông dữ dội như tối đó. Tiếng sấm rầm rầm dội vang giữa những dãy núi tưởng chừng làm rung chuyển cả mặt đất. Trời cứ mưa như trút nước suốt hơn hai tiếng đồng hồ. May là Kindaichi đã lường trước khả năng phải ở lại Soja một đêm nên đã hỏi bà chủ Rika và được chỉ cho một lữ quán thôn quê tên Izutsu. Bà chủ Ito của Izutsu vốn là người làng Đầu Quỷ lấy chồng ở đây.
Trong khi Ito vội vàng đóng rèm chắn mưa từ gian khách nằm biệt lập với phần còn lại của ngôi nhà, Kindaichi đứng bên hiên nhìn về phía đèo Sennin để thấy một tia chớp rực sáng chói mắt như muốn xé nát màn đêm. Giữa hàng loạt tiếng sấm đùng đoàng vang vọng không ngớt, bỗng có một âm thanh trầm đục dội tới tận tâm can anh. Dường như sét đã đánh trúng nơi nào đó, gây nên một cột lửa xa xa trong làn mưa xối xả.
Vào đêm vui của hai con người lâu ngày mới gặp lại như Hoan và bà vợ thứ năm của ông mà trời lại dở chứng thế này, thật vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Kindaichi thầm nghĩ.
Thế mà… Nếu Kindaichi biết được chuyện gì đã xảy ra, hay nói đúng hơn là đang xảy ra trong ngôi nhà tranh bên bờ đầm của Hoan, hẳn anh không thể đủng đỉnh như vậy.
Khoảng 12 giờ đêm mưa bắt đầu ngớt, sáng hôm sau trời lại nắng đẹp như thể hồi đêm không hề mưa gió gì. Tối qua cúp điện từ khoảng 10 giờ, lại thêm nhà dột tứ tung nên Kindaichi mãi mới ngủ được. Hơn 9 giờ sáng, anh choàng tỉnh vì tiếng pháo hoa từ xa vọng lại. Mơ màng lắng nghe tiếng pháo hoa, Kindaichi nhớ ra hôm nay là ngày mà nữ thần nóng bỏng về làng. Khi ánh nắng xuyên qua rèm đã gay gắt hơn, anh mới vội vàng tỉnh hẳn.
Kindaichi bật dậy, cuống cuồng tìm chiếc đồng hồ đeo tay đặt cạnh gối. 9 giờ 30 phút. Anh vội vã cuốn một tấm rèm lên và thấy bên ngoài nắng chói chang. Kindaichi dụi mắt với vẻ ngán ngẩm. Anh đã định sáng nay sẽ dậy thật sớm để về làng khi trời còn mát, và đã nói trước với bà chủ quán như vậy. Soja cách làng Đầu Quỷ khoảng sáu cây số, đi chỉ mất tiếng rưỡi, nhưng Kindaichi chẳng muốn phải vượt đèo giữa trưa hè chút nào. Dù rằng có thể gọi xe kéo, nhưng thật tình anh chẳng muốn nếm trải lần nữa cái nóng ẩm hầm hập trong dù che.
Lúc Kindaichi ngồi vào bàn dùng bữa ăn không biết là cho sáng hay trưa thì đã hơn 10 giờ. Ito tự dọn đồ ăn lên, thấy thế thì nói với vẻ áy náy, “Mong quý khách thứ lỗi. Tôi đã định đánh thức, nhưng thấy cậu ngủ say quá nên lại thôi…”
“Không sao đâu. Tôi cũng không có việc gì gấp, chắc sẽ lưu lại đây thêm một lúc nữa đợi mát trời rồi về.”
“Vậy ạ. Cứ tưởng tối qua mưa rào xong trời sẽ mát hơn, thế mà lại nóng thế này.”
Ito lấy ống tay áo kimono bằng vải lanh chấm bớt mồ hôi trên sống mũi, ra chiều nóng lắm. Tiếng pháo hoa đùng đoàng giữa nắng hè rực lửa càng khiến không khí có vẻ nồng nực hơn.
“Mà trận mưa dông tối qua khiếp thật chị nhỉ! Không biết có thiệt hại gì không?”
“Bên Đầu Quỷ có mấy chỗ mạn sau núi bị sét đánh thì phải. Nhưng nghe pháo hoa náo nhiệt thế kia thì chắc không có gì đáng kể đâu ạ.” Dứt lời, Ito quay qua nhìn Kindaichi chằm chằm. “Tôi nghe bảo quý khách đang ở Nước nóng Kame, phải chăng là có gì liên quan tới người mang tên Ozora Yukari?”
“Không, đâu có… Tôi không ngờ mình lại đến đúng dịp trọng đại đấy. Công nhận cô nàng này nổi tiếng thật. Chị có quen biết gì ạ?”
“Không, bé Chieko thì tôi không rõ mấy. Nếu là Harue mẹ cô bé thì…”
Ito năm nay chừng ngũ tuần. Giờ là năm 1955, tức là khi vụ án kia xảy ra chắc bà đã đi lấy chồng rồi… Tuy nhiên, Kindaichi vẫn hỏi thử, “Tầm năm 1932 thì chị đã đến đây làm dâu chưa ạ?”
“Rồi ạ, lúc ấy tôi còn có con rồi. Nhưng mà Harue thường xuyên ghé sang. Với một người đàn ông,” Ito nở nụ cười đầy ẩn ý.
Kindaichi không khỏi giật mình, “Người đàn ông, phải chăng là tay lừa đảo Onda?”
“Ồ, quý khách nghe rồi ạ?”
“Tôi ở bên làng đã hai tuần, lại thêm sự kiện Yukari vinh quy bái tổ nên nghiễm nhiên được nghe kể chuyện xưa thôi. Vậy là chị biết gã Onda đấy à?”
“Vâng, lúc đầu là do nhà quan cai giới thiệu. Cậu biết nhà quan cai chứ?”
“Biết chứ. Ông già Tatara Hoan phải không ạ? Tôi còn qua thăm nhà ông rồi.”
“Ồ thế cơ à? Quý hóa quá. Tôi đây được ông chủ nhà quan cai giúp đỡ rất nhiều từ hồi trẻ đấy ạ. Sang bên này làm dâu cũng là nhờ ông ấy cả. Một người bao đồng tốt tính nhưng lại tin người quá, nên mới bị kẻ gian lừa phỉnh. Nhiều khi nghĩ tội nghiệp thật.” Có vẻ như việc quen biết Hoan giúp Kindaichi trông đáng tin cậy hơn, nên Ito tiếp chuyện hồ hởi hẳn lên.
“Hồi đó Onda mướn gian phụ nhà Hoan làm nơi tá túc nhỉ?”
“Phải, nhưng ở đó khó mà tâm sự riêng tư được nên họ hay bí mật hẹn gặp ở đây. Tôi nhớ lúc ấy bé Harue mới tầm 16 tuổi. Tuy làm nghề này nhưng tôi vẫn nói với chồng, bấy giờ còn sống, ngần ấy tuổi thì nhỏ quá, con gái phải cẩn thận giữ mình. Ông chủ nhà quan cai vốn phóng khoáng nên cứ cười bảo mặc kệ đi, dọa là cản trở tình duyên của người khác, sẽ bị ngựa đá chết.”
“Khi xảy ra chuyện hẳn mọi người bất ngờ lắm?”
“Tất nhiên rồi ạ…”
“Thế cảnh sát có biết không? Việc Onda dùng nơi đây làm địa điểm hò hẹn ấy?”
“Cái đó thì… là thế này quý khách ạ,” Ito nhích tới trước một chút rồi mới tiếp tục. “Ông nhà tôi vốn hay để ý tiểu tiết, nên cũng bận tâm mãi. Về sau tìm đến hỏi ý kiến ông chủ nhà quan cai thì lại được khuyên là kệ đi, nếu ai hỏi… tức là nếu cảnh sát mà đến điều tra ấy, thì có gì nói nấy, chứ chẳng cần tự đi trình báo là gã thuê phòng ở đây để hẹn hò đâu. Cảnh sát không đến điều tra, nên mọi chuyện cứ thế trôi vào quên lãng. Đối với ông thì cảnh sát chẳng là cái đinh gì, lại thêm câu cửa miệng kệ đi kệ đi nữa… Giá mà ông ấy đừng cái gì cũng kệ thì chưa chắc mọi sự thành ra như thế, ha ha.”
Nói là nói vậy, mỗi lần nhắc đến ông chủ nhà quan cai mắt Ito vẫn ánh lên nét hoài niệm, không chứa đựng chút ác cảm nào.
“Nghe bảo cuối cùng không ai nắm được tung tích thân phận của tay Onda kia. Chị có biết gì hơn không?”
“Tôi chẳng bận tâm xem gã ta từ xó nào chui ra đâu ạ. Chỉ có Harue là đáng thương thôi. Về sau cô bé vẫn thường xuyên ghé qua đây hỏi xem có tin tức gì không, để rồi lần nào cũng thút thít ra về. Ấy vậy mà đứa trẻ chào đời ngày đó nay đã thành danh… Vận mệnh con người đúng là không ai đoán trước được.”
Ito nói với giọng xúc động, nhưng Kindaichi lại để ý tới một vấn đề khác, “Hay là Hoan biết điều gì nhỉ?”
“Tôi không rõ. Con người ấy từ xưa đã có gì đấy vượt trên thường thức rồi. Nhưng quý khách ạ, tôi vẫn cảm thấy tay Onda kia không phải kẻ gây ra chuyện tàn nhẫn đến vậy. Hồi còn sống ông nhà tôi hay bảo thế. Cơ mà dẫu sao khi ấy người ta vẫn còn trẻ tuổi bồng bột và làm nhiều việc không đứng đắn nữa.”
“Không đứng đắn?” Kindaichi bất giác nhìn thẳng vào Ito sau khi nghe những lời vừa rồi. “Nói vậy là Onda còn qua lại với cả những cô gái khác ngoài mẹ của Yukari?”
“Ôi, tôi lại nói gì thế này…” Nghe thắc mắc mới nhận ra mình vừa lỡ lời, Ito giật mình, mặt lộ rõ vẻ bối rối. “Không có gì đâu quý khách à, là chuyện từ ngày xưa rồi. Thôi cậu cứ tự nhiên nhé… Mà cậu không cần bữa trưa nhỉ?”
Ito thu dọn bát đũa và vội vàng rời đi, thái độ như thể tự trách mình có tuổi mà không biết giữ mồm giữ miệng. Kindaichi dõi mắt theo bà ta, đầu óc vẫn bận rộn hoạt động. Theo như Ito kể thì ngoài Harue, Onda còn có quan hệ với người khác. Cho dù là ai thì xét việc Isokawa không đề cập tới đủ thấy đây là một vấn đề bê bối và đã luôn được bưng bít, chỉ người làm công việc liên quan như Ito mới nắm được. Có vẻ như cơ quan điều tra đương thời đã thiếu sót lớn khi để lọt sự tồn tại của lữ quán Izutsu.
Nhưng dẫu sao thì như Ito nói, đó là chuyện từ ngày xưa rồi. Nghĩ vậy, Kindaichi liền chuyển sự chú ý sang tờ báo mà bà vừa đem tới. Chiếm trọn trang xã hội là bài báo về Yukari.
Bên cạnh ảnh chân dung của cô gái, còn có cả ảnh biệt thự Yukari, ngôi nhà mà cô xây cho vợ chồng Ryota. Tuy đã ở làng hơn chục ngày nhưng do nó nằm ngược hướng với Nước nóng Kame nên Kindaichi chưa có dịp chiêm ngưỡng. Nhìn qua ảnh thì phải công nhận hoành tráng thật. Kiểu dáng thiết kế chiều theo ý thích của vợ chồng Ryota, nhưng thợ thuyền đều từ tận Tokyo tới nên nhìn không khác gì mấy biệt thự ở kinh thành.
Trong khi đọc bài báo, Kindaichi hơi ngạc nhiên vì hai cái tên.
Tháng Ba năm 1945, khi về quê sơ tán tránh đợt không kích lớn vào Kobe, Yukari mới được 12 tuổi. Cố nhiên là cô bé đã học một năm tiểu học tại làng Đầu Quỷ, và trong bài viết có đoạn hai người bạn cùng khóa của cô là Yura Yasuko và Nire Fumiko kể về kỉ niệm ngày nhỏ với Yukari. Điều khiến Kindaichi chú ý ở đây là hai cái tên Nire và Yura chứ không hẳn là nội dung câu chuyện đầy hoài niệm kia.
Là bạn cùng khóa của Yukari nên năm nay hai cô này chắc cũng hai mươi hai xuân xanh. Xét độ tuổi, có lẽ Yasuko con gái Utaro, còn Fumiko là con Kahei. Satoko nhà Nước nóng Kame cũng 22 tuổi nên nhiều khả năng cùng khóa với bọn họ.
Phát hiện này đem đến cho Kindaichi một cảm giác băn khoăn lạ thường. Về phía nhà Nire thì không có gì để nói, nhưng ân oán giữa hai nhà Yura và Aoike với cha của Yukari vốn không phải dễ dàng bỏ qua. Cha của Satoko là do cha Yukari giết hại, còn cha Yasuko vì lẽ đó mà qua đời. Nói một cách cổ hủ thì Yukari chính là con gái của kẻ thù giết cha đối với Yasuko và Satoko. Cho dù là lịch sự đối đãi thì không lý nào con gái nhà Yura lại có thể chào đón con gái của tay lừa đảo sát nhân, kẻ thủ ác của mọi chuyện, vinh quy bái tổ về làng.
Tiếng pháo hoa từ phía làng Đầu Quỷ vẫn tiếp tục vang vọng, đến quá trưa thì ngay ở thị trấn Soja cũng bắt đầu bắn pháo. Trong khi Kindaichi còn đang bất ngờ thì Ito bước vào, mang theo khay thủy tinh bày mấy quả đào mật. Xem chừng bà vẫn còn điều muốn nói.
“Đào còn mát đây, mời cậu dùng.”
“Cảm ơn chị. Mà thị trấn bên này bắt đầu bắn pháo hoa rồi nhỉ.”
“Bày vẽ khiếp thật đấy, cứ như thiên tử giáng lâm vậy…” Ito cười trừ, tay bắt đầu gọt đào.
Thời chiến, quân đội có làm một con đường quân dụng dẫn từ Kobe về vùng Sakushu mạn Đông Bắc tỉnh Okayama, đi qua mé ngoài của thị trấn này. Ngày nay thì vẫn có xe buýt chạy qua, và cũng là tuyến đường Yukari ngồi xe hơi trở về.
Kindaichi gặng hỏi thêm về Yura Yasuko và Nire Fumiko, và quả nhiên anh đoán không sai. Thêm vào đó thì Ito còn cho biết là nhà Yura có năm người và hiện do cụ Ioko 82 tuổi buông rèm chấp chính. Ngay Atsuko cứng cỏi là thế mà cũng không dám nghênh ngang trước mặt bà mẹ chồng tiếng là đã thoái lui về hậu trường.
“Ha ha, Atsuko là người đàn bà thép khiến đàn ông phải nể mặt như vậy sao?”
“Từ xưa mọi người đã đồn đại thế rồi. Nhưng đúng như người ta nói, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu, phụ nữ sắc sảo quá nhiều lúc lại rắc rối. Việc Utaro bị Onda cho vào tròng vốn xuất phát từ sự hậu thuẫn của bà Atsuko.”
“Nghĩa là nghe vợ xúi nên ông ấy mới hợp tác với Onda?”
“Vâng. Ông nhà đấy vốn trầm tĩnh thôi, nhưng bà vợ Atsuko lại rất hiếu thắng, không muốn thua kém nhà Nire, nên mới thành ra như vậy. Đây cũng là lý do khiến Atsuko không mọc mũi sủi tăm gì được trước bà mẹ chồng Ioko, dù trên danh nghĩa cụ không nhúng tay vào việc gia tộc nữa.”
Ba người còn lại trong nhà Yura là cậu con nối dõi tên Toshiro, cô vợ Eiko, và Yasuko, người đã xuất hiện trên mặt báo. Giữa Toshiro và Yasuko có một nam một nữ nữa, nhưng cậu con thứ mất trong chiến tranh, cô con gái lớn đã đi lấy chồng nên giờ ở nhà còn có năm người vừa kể. Toshiro đã 33 tuổi, nhưng năm kia mới đi lính ở Siberia về, năm ngoái mới kết hôn, nên vẫn chưa có con.
“Toshiro cũng khổ, chôn chân mãi ở Siberia, về được nhà thì ruộng vườn lại bị tịch thu cả… Thêm thiên hạ dè bỉu là của cải phi nghĩa thì khó giữ lâu.”
“À, kẻ gian lừa phỉnh nhà quan cai mà lúc trước chị nói là chỉ nhà Yura nhỉ?”
“Utaro thì như tôi đã nói, vốn rất trầm tĩnh và là một chủ gia đình đời thứ ba điển hình. Nhưng hai đời trước đó đều nổi tiếng thường xuyên gây nghiệp cả.”
Kindaichi nhân tiện hỏi thêm về nhà Nire và được biết gia đình này hiện có tám người, đứng đầu là Kahei mới góa vợ từ năm ngoái. Tiếp đến là cậu con nối dõi tên Naohei và cô vợ Michiko. Naohei năm nay 35 tuổi, phục viên Mãn Châu về liền kết hôn ngay nên giờ đã có ba mụn con. Ngoài ra thì còn có cậu thứ Katsuhei và cô út Fumiko, tổng cộng là tám người. Kahei còn hai cô con gái khác nhưng đều đã về nhà chồng.
“Mà chị chủ này,” Kindaichi đợi Ito nói xong rồi mới mở lời. “Lúc đọc báo tôi có thắc mắc một điểm. Hồi trước, con gái Onda, con gái hai nhà Yura và Nire, rồi con gái nhà Nước nóng Kame nữa, đều bằng tuổi và học cùng một lớp cả ư?”
Ito không trả lời ngay. Do bà cúi mặt gọt đào nên Kindaichi không thấy rõ biểu cảm, sau một khoảng lặng, đến khi lên tiếng lại thì giọng bà như lạc hẳn đi, “Vì việc ấy nên ông chủ nhà quan cai vẫn lo đấy.”
“Hoan lo gì cơ.”
“Chẳng là ông ấy từng nói cô Harue muốn vung tiền xây nhà thì tùy, nhưng đâu nhất thiết phải dẫn cả Chieko về nơi quê mùa này làm chi. Mong là không có chuyện gì bất trắc xảy ra…”
“Chị linh tính là sẽ có chuyện gì sao?”
“Không, là ông chủ nhà quan cai ấy ạ. Mà con người đó nửa lo nửa hứng ngóng chờ nữa cơ. Tôi gọt xong rồi, mời quý khách dùng đào.” Ito quay sang phía khác như thể bị chói mắt, tránh cái nhìn của Kindaichi.
“Vâng, cảm ơn chị.” Vừa đưa miếng đào mát lạnh lên miệng, Kindaichi vừa tiếp tục dòng suy nghĩ.
Những người này… Tatara Hoan, rồi người phụ nữ ngồi trước mặt anh, chắc chắn có biết một sự thật vô cùng trọng đại nào đó đằng sau vụ án năm 1932… Nhưng giờ có hỏi thì họ cũng chẳng đời nào nói đâu.
“À mà…” Kindaichi đổi sang một chuyện anh mới sực nhớ ra, miệng vẫn nhai đào. “Chắc chị biết một người tên Rin chứ ạ? Bà vợ thứ năm của Hoan ấy…”
“Vâng, tôi biết khá rõ, nhưng mà sao ạ?” Ito hỏi ngược lại với ánh mắt bất an.
“Bà ấy mới quay về với ông chồng cũ đấy. Ha ha.”
Kindaichi kể mà lòng ấm áp, nhưng Ito lại nhìn anh một cách hoang mang.
“Cậu… nói vậy là sao?” Bà hỏi ngay.
“Là vậy đấy. Bà Rin chủ động gửi thư bảo cả hai già cả rồi nên hãy làm lành thôi, xong Hoan nhờ tôi viết hồi âm.” Kindaichi thuật lại sự tình mấy hôm trước, không quên kể mình gặp bà già tự xưng là Rin trên đèo chiều qua. Nghe vậy, mặt Ito tái mét đi. Bất ngờ trước biểu hiện ấy, Kindaichi vội hỏi, “Có chuyện gì sao? Rin không nên về đây ư?”
“Không, việc này, sau đó thì…” Ito nói với hơi thở đứt quãng. “Ông chủ nhà quan cai có nói gì không? Về thư Rin ấy?”
“Ông mừng lắm. Cứ phấn khởi ra vào như trẻ con. Nhưng, á, chị sao vậy?”
Sắc mặt Ito tím tái dần, ánh mắt thì cứ như tối sầm tới nơi, khiến Kindaichi không khỏi ngỡ ngàng. Anh đang định đứng dậy thì một đám thanh niên hò reo ùa vào.
Giống như nhiều lữ quán khác, giữa nhà trước và nhà sau của Izutsu có một khoảnh vườn. Phăng phăng băng qua khoảnh vườn đó để tiến về hướng này chính là thanh niên làng Đầu Quỷ. Ba nam hai nữ, trong đó có cả Kanao nhà Nước nóng Kame. Mấy anh con trai đều rất hồ hởi.
“Ồ, mấy đứa, sao lại đến đây hết thế này… Có việc gì à?”
Dường như đối với Ito, sự xuất hiện của năm thanh niên này là một liều thuốc hiệu quả giúp bà sực tỉnh lại ngay khi sắp ngất. Bà vội đưa tay áo quệt nước mắt và hỏi, “Có chuyện gì à?”
“Mẹ, mẹ à.” Lẫn trong đám thanh niên còn có cả cô con dâu trẻ măng tên Teru của lữ quán Izutsu. Mặt cô ửng đỏ như mận vì háo hức. “Chuyện lớn lắm luôn ạ. Con vừa nghe anh Katsuhei thông báo xong. Yukari sẽ đến đây đấy.”
“Ồ, bé Chieko tới đây sao? Có thật không?”
“Có gì mà thật với không thật đâu ạ,” một thanh niên vừa nói vừa buông mình xuống mép hiên. “Ồ, có quà ngon này.” Chẳng hề ngại ngần, cậu ta với tay lấy một miếng đào, cố tình đảo mắt một lượt rồi mới tiếp tục. “Cô à, cô đừng ngạc nhiên quá nhé. Có điện thoại từ Kobe báo với chính quyền làng là Yukari sẽ ghé qua đây nghỉ chân trước khi về làng đấy,” cậu ta nhồm nhoàm nhai đào.
Kindaichi biết thanh niên này. Cậu ta thường cùng Kanao chủ trì các cuộc họp bàn của đám thanh niên làng Đầu Quỷ tại phòng giải trí Nước nóng Kame. Theo như Ito vừa kể thì cậu ta chính là Katsuhei, con trai thứ của Kahei. Cách cậu ta đảo mắt một cách tinh ranh khi nói chuyện đúng là giống cha. Tuy không nam tính và to cao như Kahei, nhưng hôm nay trông cậu ra dáng đàn ông hơn hẳn với mái tóc rẽ ngôi trái đàng hoàng và chiếc áo sơ mi cổ bẻ tinh tươm lịch thiệp.
“Ồ, thật hả Kanao?”
“Vâng, thật đấy cô ạ,” Kanao nở nụ cười với vẻ điềm tĩnh. Cậu chàng này lúc nào cũng tươi cười và điềm tĩnh như vậy.
“Sợ đến bất ngờ quá lại làm cô cuống nên ban nãy mẹ Yukari có gọi điện nhờ báo trước cho cô biết. Thế là phó chủ tịch cử bọn cháu đến đây.”
“Ôi thật là, Harue vẫn còn nhớ đến tôi cơ đấy,” Ito vừa bối rối vừa cảm động.
Giả sử Ito mà có chút ác cảm nào với mẹ con Yukari thì trong giây phút này đây chắc đã hoàn toàn tan biến.
“Phải nhớ thì mới ghé qua đây chứ. Mà không, phải là viếng thăm chứ. Cô phải tiếp đón cho tử tế nhé, như tiêu chuẩn quốc khách ấy.”
“Thôi nào anh ba, gì mà quốc khách cơ chứ.”
“Fumiko, anh mày nói thế có gì không được à?”
“Vâng, cứ vẽ chuyện thôi, Yasuko nhỉ?”
“He he.”
“Thế này thì phải gọi là hương khách[11] mới đúng chứ Katsuhei. Đúng không nhóc Goro.”
“Em xin phép không ý kiến. Dù sao cũng là cô em mà.”
“Thôi kiểu cô cháu đấy đi Goro, nghe tội Yukari lắm.” Kanao nhắc cậu bạn, vẫn với vẻ điềm tĩnh quen thuộc. Cậu Goro này xem ra là cháu nội của Bessho Ryota. Tức là anh em họ với ChiekoOzora Yukari nếu xét huyết thống, nhưng trên hộ tịch thì Yukari lại thành cô của Goro. Trông cậu chàng chừng hăm hai hăm ba.
“Ha ha ha. Hương khách à, tiêu chuẩn hạ nhanh quá nhỉ. Mà cả mẹ trẻ Kanao và nhóc Goro không ăn đào à. Mát lắm đấy. Cho bọn nó mấy miếng cô nhé?”
“À, ừ, mấy đứa ăn đi. Teru, con còn đứng đấy thẫn thờ gì nữa, mau lấy thêm đào ra đây. Mà Katsuhei à, Harue và Chieko khoảng mấy giờ đến thế?”
“À phải rồi, nghe nói là tầm 4 giờ họ sẽ tới ạ. Bây giờ gần 2 giờ, nên còn hai tiếng nữa cơ.”
“Ôi, thế là mấy đứa cất công chạy sang chỉ để báo tin ư?”
“Dạ, một phần thôi, còn chủ yếu bọn cháu định nhân tiện tới đây đón đoàn luôn. Gì thì gì, vẫn là cô gái tầm cỡ quốc khách cơ mà.”
“Vậy sao, thế nên cả Fumiko và cô chủ Yura cũng…”
Không hiểu sao nhưng trong giọng Ito có chút gì nghẹn ngào.
“Có gì đâu cô, chẳng qua đám này mà tỏ ra lạnh nhạt thì sẽ bị nghĩ là ghen tị với thành công của Yukari, nên chúng nó mới cắn răng mà đi đón đấy.”
“Ôi anh ba thật đáng ghét quá đi! Anh mà cứ nói thế là bọn em về luôn đấy, Yasuko nhỉ.”
“Khì khì.”
“Ha ha, xin lỗi xin lỗi, cho anh rút lại câu vừa rồi. Thật ra là do mẹ trẻ Kanao rủ đi. Thế thôi là chúng gật đầu ngay tấp lự chẳng cần suy nghĩ gì. Chỉ cần mẹ trẻ Kanao lên tiếng là đám con gái trong làng đều ngoan ngoãn nghe lời hết.” Katsuhei vừa cắn đào vừa xỉa xói với vẻ bất bình. Nhưng trong những lời xỉa xói đó không có chút ác ý nào.
“Mẹ trẻ Kanao là Romeo của làng mà.” Goro vừa nhai đào vừa góp lời một cách thản nhiên. Có lẽ cậu chàng chuyên đóng vai phụ họa mua vui.
“Thôi nói linh tinh đi Katsuhei.” Kanao không khỏi ngượng ngùng trước sự trêu chọc của bạn bè. Gương mặt rám nắng của cậu ửng đỏ. “Mà cô ơi, chắc cô chuẩn bị dần đi là vừa đấy. Có gì cần thì bọn cháu giúp luôn cho.”
“Ôi tôi thật là, cứ ngẩn ngơ mãi thôi. Teru, con mau đi gọi cô ở đằng sau tới đây. Ít ra phải dọn dẹp qua phòng khác mới được… Mọi người cứ ở đây đợi đoàn Chieko nhé…”
“Vâng, bọn cháu sẽ đợi.”
“À, đúng rồi, Kanao biết quý khách đây đúng không? Là khách bên làng mà.”
“Vâng, cháu biết chứ. Mong anh Kindaichi thứ lỗi, bọn em thất lễ quá.”
“Có gì đâu mà. Cậu Kanao vất vả nhỉ.”
“Ha ha, đừng trêu cậu ấy như vậy chứ. Đây là vinh dự của cả làng quê này đấy. Cô à, ở đây cứ để bọn cháu, cô cứ lo chuẩn bị đi.”
“Vâng vâng, vậy mọi người cứ tự nhiên nhé…” Ito rời đi mà không nói gì thêm, tay áo giơ lên khóe mắt.
Liền đó, Kanao quay sang Kindaichi, “Anh à, để em giới thiệu với anh. Đây là Nire Katsuhei, hội trưởng thanh niên. Còn kia là Bessho Goro, họ hàng với Yukari. Cô bên đó là Yura Yasuko, đứng cạnh là Fumiko em gái Katsuhei.”
Kindaichi lần lượt cúi chào từng người, “Tôi vừa thấy tên hai cô Yasuko và Fumiko trên báo xong. Cả hai đều là bạn cùng lớp với Yukari nhỉ?”
“Vâng.” Yasuko nhanh nhảu đáp lời và quay qua Fumiko. Cả hai cô gái cùng mỉm cười.
Từ nãy tới giờ Kindaichi không khỏi thầm tấm tắc vì hai cô gái. Xương má của phụ nữ vùng này khá lớn khiến nhiều người có gương mặt to đầy, điển hình như Miki ở Nước nóng Kame. Nhưng Yasuko và Fumiko lại khác. Cả hai đều có thể coi là xinh đẹp. Tuy bằng tuổi nhau nhưng Yasuko có phần chững chạc hơn. Có lẽ do lời nói cử chỉ của cô phảng phất nét kiêu kì. Cô có gương mặt thon dài, mũi cao mắt to… đủ mọi tiêu chuẩn của một phụ nữ đẹp. Phải nói Yasuko là một người đẹp thuần Nhật. Nếu bới lông tìm vết thì cùng lắm chỉ nói được rằng khuôn mặt hoàn hảo tới mức không còn gì để chê như vậy lại làm cô thiếu đi phần nào nét đặc sắc. Nói cách khác là, công nhận cô đẹp, nhưng xét theo chuẩn hiện đại thì lại là nét đẹp cổ điển thiếu cá tính. Nhưng dù sao thì bản thân Yasuko có vẻ tự nhận thức được là mình đẹp.
So với Yasuko thì Fumiko vô tư hồn nhiên hơn hẳn. Gương mặt cô đem đến cho người đối diện cảm giác thư thái với nhiều nét phá cách, không theo quy chuẩn sắc đẹp thông thường, như mặt tròn, hàm hơi hô… Một số người hàm hô dễ gây cảm giác xấu tính mỏ nhọn, nhưng với cô gái này thì nó chỉ giúp tăng thêm phần tinh nghịch cuốn hút. Và nổi bật nhất trên gương mặt cô là chiếc răng khểnh. Đây là một điểm thường được coi như lệch chuẩn sắc đẹp, nhưng lại thành nét hấp dẫn lớn trong trường hợp của Fumiko. Thêm vào đó là đôi mắt tinh nghịch to tròn, có lẽ được thừa hưởng từ cha mẹ như Katsuhei. Nếu xét từng nét thì có rất nhiều điểm khác biệt với tiêu chuẩn cái đẹp, nhưng đó vẫn là một khuôn mặt xinh xắn đầy sức sống.
“Cậu Kanao này.” Nhận thấy cứ nhìn chằm chằm vào hai cô gái thì thật bất nhã, Kindaichi quay sang phía Kanao như thể vừa sực nhớ ra điều gì. “Satoko nhà cậu học cùng lớp với hai cô đây phải không?”
“Vâng, nhưng em em toàn nghỉ, chẳng mấy khi tới trường.”
“Tim cô bé có vấn đề à?”
“Dạ.”
“Nhưng thế vẫn tính là có học cấp một nhỉ?”
“Vâng,” Kanao chỉ đáp một cách cầm chừng.
“Lúc đó bé Satoko còn trẻ con, chưa biết để ý ngoại hình mà,” Goro vừa gọt đào vừa lẩm bẩm xen vào. Nhận thấy ánh mắt mọi người bất chợt đổ dồn vào mình, cậu chàng hoảng hốt rụt lại không nói gì thêm.
“Cậu nói vậy là sao?” Kindaichi đã định hỏi tiếp, nhưng không thể thốt nên lời.
Bầu không khí bất chợt căng thẳng hẳn ra. Fumiko lừ mắt đầy vẻ trách móc, làm Goro rụt cổ sợ hãi như con rùa con. Kanao lên tiếng như muốn phá vỡ sự im lặng khó xử mới bao phủ nơi này.
“À đúng rồi,” cậu mở lời như thể vừa nhớ ra điều gì. “Anh Kindaichi, em quên mất có điều cần nói trước tiên nếu gặp anh… Có khách tìm anh đấy ạ.”
“Khách của tôi ấy hả?”
“Là Isokawa ạ. Ông mới tới hồi trưa, bảo là được nghỉ phép nên ghé qua đây.”
“À, thế à.” Kindaichi vô thức tủm tỉm cười. Nghỉ phép là một chuyện, nhưng chắc chỉ huy đến chủ yếu là để dò hỏi xem trong hai tuần ở đây anh có tìm ra manh mối nào không. Dù rất muốn nói với ông là làm gì có chuyện ngon ăn như thế, nhưng Kindaichi chỉ biết cười trừ khi nhận ra bản thân đã bị vụ án kia mê hoặc từ lúc nào không hay.
“Anh định thế nào ạ? Mẹ em có bảo hay là anh về cùng chúng em… Lát nữa cả bọn sẽ đi theo xe Yukari từ đây luôn…”
“Cảm ơn ý tốt của cậu, nhưng chắc tôi về một mình thôi. Đợi tầm chiều tà rồi tôi sẽ vượt đèo cho thong thả. Chắc chỉ huy sẽ ở lại một thời gian chứ?”
“Vâng, ông có nói sẽ nghỉ dưỡng tầm một tuần.”
“Vậy à, cảm ơn cậu.”
Sau đấy mấy anh chị em hội thanh niên làng Đầu Quỷ tíu tít cả lên. Có lẽ Teru đã đem chuyện Yukari ghé thăm đi rêu rao khắp nơi nên trai gái thị trấn Soja đều đổ về lữ quán Izutsu. Đa phần chỉ là hiếu kì, nhưng trong đám đông có cả lãnh đạo thanh niên của thị trấn đang bàn bạc tổ chức lễ tiếp đón Yukari.
Kindaichi cố nhiên bị bỏ lại một mình, anh lặng lẽ quan sát đám đông huyên náo. 4 giờ, thời khắc mà mọi người trông đợi đã đến. Khi chiếc xe chở hai mẹ con Yukari tiến vào lữ quán Izutsu trong tiếng pháo hoa lốp bốp, cả thị trấn Soja như vỡ òa.
Giữa tâm bão thì lúc nào cũng bình lặng. Sau này đọc báo Kindaichi mới biết xung quanh Izutsu náo động đến chừng nào, chứ hiện tại anh còn mải suy tư nên chỉ thấy huyên náo bên ngoài như sóng vỗ thôi. Điều khiến Kindaichi bận tâm lúc này không phải Yukari, mà là thái độ ban nãy của Ito. Khi nghe tin bà vợ thứ năm của Hoan về làng, bà rất ngạc nhiên, thậm chí còn có phần kinh hãi. Tại sao chứ?
Phía bên kia vườn cây vừa được tưới nước vội vã trước khi Yukari tới, giờ đã là một không gian tưng bừng. Chắc đám trẻ với trung tâm là nữ thần hiện đang giao lưu sôi nổi lắm. Không liên quan gì đến Rin. Nhưng cả hai sự kiện vẫn diễn ra trong cùng một thế giới. Hai vấn đề hoàn toàn khác biệt nhưng lại sở hữu mối tương quan vô hình hết sức chặt chẽ. Một mối liên hệ hắc ám quái gở…
Thấy Teru vừa lau mồ hôi lấm tấm trên mũi vừa hớt hải chạy qua, Kindaichi liền cất tiếng gọi, “Yukari tới rồi hả cô Teru?”
“Vâng, đang ngồi nghỉ ngơi uống nước ạ.”
“Có mỗi hai mẹ con Yukari thôi à?”
“Dạ không, còn có một người hình như là quản lý đã phát hiện và giúp cô ấy thành danh nữa ạ…”
“Họ định bao giờ rời đi?”
“Mọi người mới tắm xong nên chắc sắp thôi ạ. Quý khách có việc gì ạ?”
“Không, chỉ là họ mà không xuất phát thì tôi khó lòng bước chân ra khỏi đây được thôi. Bên ngoài chắc phải đông lắm.”
“Vâng, cứ phải gọi là tầng tầng lớp lớp ấy ạ,” Teru hào hứng đáp với vẻ hãnh diện.
Một lát sau, đến lượt Kanao bước về phía Kindaichi, “Anh không đi cùng thật ạ? Chúng em chuẩn bị xuất phát đây.”
“Thôi, để bớt huyên náo rồi tôi mới đi. Cậu Kanao đã vất vả rồi.”
“Ha ha, phải công nhận là đông không thở được luôn.”
Khi Kanao rời đi, bên ngoài lại rộ lên một tràng hò reo. Dường như chiếc xe mãi mới xuất phát được vì đám đông xung quanh. Âm thanh huyên náo còn kéo dài thêm một lúc, nhưng rồi Kindaichi có thể thở phào nhẹ nhõm khi tiếng động cơ xa dần, dù mọi chuyện không trực tiếp liên quan tới anh.
“Ôi xin lỗi cậu nhiều. Để quý khách phải chịu đựng sự ồn ào như vậy.” Một lúc sau, Ito ghé qua chỗ Kindaichi, mặt vẫn còn nguyên vẻ hào hứng.
“Có gì đâu, nhưng phải công nhận náo động thật đấy. Chắc chị mệt lắm.”
“Vâng, nhưng cứ nghĩ họ còn nhớ tới mình sau bao nhiêu năm, rồi nghe cô bé gọi dì là tôi đủ mừng. Lại đem tới bao nhiêu là quà nữa chứ.”
Như chưa hết cảm kích, Ito thỉnh thoảng lại phải đưa tay lau nước mắt.
“Thế thì tốt quá. Tôi cũng xin phép kẻo tối. Nhờ chị chủ tính tiền hộ với ạ.”
“Ôi, cậu về luôn sao?” Ito chừng như còn ngập ngừng muốn nói, nhưng nghĩ thế nào lại thôi và đứng dậy.
Một tiếng sau, Kindaichi lại ở lưng chừng đèo Sennin đúng tầm giờ hôm qua. Cảnh sắc xung quanh vẫn nhuộm màu hoàng hôn. Tiếng pháo hoa phía làng Đầu Quỷ đã ngớt, sự tĩnh lặng thường thấy sau bão tố lại phủ khắp một khoảng đất trời quanh làng.
Chợt nhận thấy có tiếng chân gấp rút từ phía sau như đuổi theo mình, Kindaichi dừng bước và không khỏi rợn người khi nhận ra Ito.
“Chị chủ đi đâu vậy ạ?”
“Dạ, tôi qua bên nhà quan cai gửi quà O-chugen[12]…” Ito tiến lại gần Kindaichi.
Câu trả lời khiến Kindaichi bất giác rợn người. Giờ này mà đi gửi quà O-chugen, rõ ràng là có điểm bất thường.
“Chị này, về chuyện lúc trước, chẳng lẽ việc Rin về đây lại có gì không được sao?”
“Quý khách à,” Ito cất lời với vẻ trầm tư u sầu lạ thường. “Khi viết thư hồi âm, cậu có nhớ là gửi đi đâu không?”
“Số nhà cụ thể thì tôi không nhớ rõ, nhưng hình như là gửi về nhà Machida ở Nishi-yanagiwara, Kobe thì phải…”
Nghe vậy, Ito khẽ rùng mình, càng đi sát về phía Kindaichi hơn, “Thế rồi chiều tối qua cậu gặp Rin trên đèo này à?”
“Vâng, ở ngay đoạn trước mặt thôi. Bà già tự xưng danh là Rin, còn bảo là đang về chỗ nhà quan cai…”
“Quý khách!” Ito bấu lấy vạt áo Kindaichi, mặt cắt không còn giọt máu.
“Chị chủ, rốt cuộc là có chuyện gì? Có vấn đề gì với bà Rin ư?”
“Vâng, nếu đúng là bà Rin vợ thứ năm của ông chủ nhà quan cai, thì đã mất từ mùa xuân vừa qua. Đúng vậy, 15 tới đây đã là lễ Nii-bon[13] của bà ấy rồi,” Ito bắt đầu khóc sụt sùi như con trẻ, tay áo đưa lên che mắt.
Trên đỉnh đèo Sennin nhuốm bóng chiều tà, Kindaichi không khỏi đứng ngây như phỗng. Chỉ còn một đoạn nữa là tới nơi anh bắt gặp bà già tự xưng là Rin. Vào tầm giờ này, trong khung cảnh ngả màu úa vàng y như thế này, bà già còng lưng vác theo một bọc đồ to nên anh không nhìn rõ mặt, chỉ nhớ rõ mấy sợi tóc bạc tuột ra từ dưới lớp khăn quấn đầu.
Lẩm bẩm mình là Rin bằng giọng vừa đủ nghe xong, bà già lại tiếp tục xuống đèo, tiến về phía làng Đầu Quỷ… Những tiếng loẹt quẹt rợn người phát ra từ đôi dép cói ngắn tủn dường như vẫn đang vang vọng trong tai Kindaichi.
“Chị này!” Kindaichi bất giác thốt lên bằng một giọng trầm lắng nhưng mạnh mẽ. “Chuyện đó là thật sao? Người tên Rin… bà vợ thứ năm của ông Hoan… đã mất rồi?”
“Vâng. Tôi đã tới tận Kobe để dự đám tang mà.”
“Hừm!” Kindaichi lại gằn giọng, nhưng nghĩ sao lại nhìn quanh. “Cứ đi đã rồi nói.”
“Vâng…” Ito gật đầu, đưa ống tay áo lau nước mắt và sóng bước cùng Kindaichi.
“Chị có họ hàng gì với Rin à?”
“Vâng, Rin là họ hàng xa của ông nhà tôi. Bà vốn làm nghề ca kĩ, rồi được ông nhà tôi giới thiệu cho ông chủ nhà quan cai. Còn nhà Machida ở Kobe mà cậu vừa nhắc tới là bên nhà chồng của em họ chồng tôi, mở quán ăn ở Nishi-yanagiwara. Sau khi chia tay ông chủ nhà quan cai, Rin cũng khó khăn mất một dạo, sau chiến tranh thì tới phụ việc cho quán ăn nhà Machida. Cuối năm ngoái bà đổ bệnh, rồi sang xuân… tầm cuối tháng Tư thì mất.” Ito lại đưa tay áo lên mắt. Có lẽ chính cú sốc từ việc người đã chết lại trở về được mới khiến bà run rẩy như trẻ con, chứ không phải là nỗi đau buồn trước cái chết của Rin.
“Rin thọ bao nhiêu tuổi?”
“Năm mươi tám ạ.”
Bà già tự xưng là Rin hôm qua có lẽ ở tầm tuổi này thật.
“Hoan không biết sao? Chuyện Rin đã mất ấy…”
“Tôi thấy lạ. Lúc nhờ quý khách viết thư hộ, ông chủ không có vẻ gì là biết Rin đã qua đời à?”
“Vâng, hoàn toàn không… Ông ấy tỏ ra rất vui mừng ấy chứ.”
“Ôi chao!” Ito hớp một hơi thật sâu. “Chắc không biết thật.”
“Chị không báo cho Hoan là Rin qua đời sao?”
“Không, tôi không dám… Lúc trước ông oán hận bà lắm, tới mức một đợt giận lây sang cả vợ chồng tôi nữa cơ.”
“Thế thì sao chị lại cho rằng lẽ ra Hoan phải biết việc ấy?”
“Tại nhà Machida có nói là đã gửi điện báo tới nhà quan cai mà.”
“Điện báo tử á?”
“Dạ.”
“Thế là Hoan không đến Kobe đâu nhỉ?”
“Vâng. Bình thường ông ấy sống tình nghĩa lắm. Vậy mà lại không tới dự tang lễ hay gửi điện chia buồn, làm tôi cứ tưởng ông còn oán hận Rin, nên không dám nhắc đến bà trước mặt ông bao giờ.”
Lúc này, hai người vừa vặn bước tới quãng Kindaichi gặp bà già tự xưng là Rin hôm qua.
“Chính là chỗ này. Tôi đã đi ngang qua bà già tự xưng là Rin ở đây.”
“Ôi!” Ito thốt lên với vẻ hoảng sợ, tay bám vào gấu áo Kindaichi, mắt trợn ngược, hai má cắt không còn giọt máu.
Kindaichi sởn cả gai ốc, bất giác đảo mắt nhìn quanh trong ánh chiều tà nhá nhem. Dưới gốc cây thông cổ thụ là một ngôi miếu nhỏ. Trước miếu có đặt mấy nhành cúc đỏ. Đứng trên đèo nhìn xuống có thể thấy vài gợn khói bếp tỏa lên từ phía làng Đầu Quỷ đang chìm vào màn sương chiều nhạt nhòa tĩnh lặng. Trông qua thì đúng là khung cảnh thôn quê rất đỗi bình yên, nhưng đằng sau vẻ bình yên đó lại như ẩn hiện những toan tính đen tối quỷ quyệt…
“Trước tiên chúng ta hãy qua nhà quan cai xem sao. Tôi thấy hơi lo rồi.”
“Vâng, xin nhờ quý khách. Tôi thấy không yên lòng… nôn nao rợn người lắm…”
“Ha ha ha, chẳng lẽ chị cho rằng hồn ma Rin quay về gặp Hoan sao?” Kindaichi vừa rảo bước vừa cất giọng cười, nhưng tiếng cười của anh như mắc nghẹn trong họng, chẳng có chút sức sống nào. Hồn ma còn đỡ, chứ nếu có âm mưu nào ẩn đằng sau thì… Nỗi bất an không rõ chân tướng này thôi thúc Kindaichi bước nhanh hơn.
“Cái đó thì… tôi không biết nữa… nhưng đang dịp Nii-bon nữa…” Ito thở dài trước khi tiếp tục. “Hay là có ai bày trò lừa phỉnh nhỉ?”
“Chị có biết kẻ nào như vậy à?”
Ito không trả lời ngay mà vừa bước vừa nhìn xuống chân với vẻ suy tư mất một lúc rồi mới quay sang phía Kindaichi, mắt hấp háy.
“Nhưng giở trò với ông chủ nhà quan cai thì có ai được lợi lộc gì đâu cơ chứ,” bà nở nụ cười buồn.
“Liệu trong làng hay quanh đấy có ai biết là Rin đã mất rồi không?”
“Tôi không rõ nữa,” Ito nghiêng đầu băn khoăn. “Nếu không phải là ông chủ nhà quan cai kể thì chắc không ai biết được đâu.”
Theo Kindaichi nhìn nhận thì Hoan là một người khá tự trọng. Vì nhận được thư xin lỗi của Rin nên ông mới vui mừng háo hức như vậy, chứ không thì chưa chắc ông đã tha thứ cho Rin. Không, phải chắc chắn là ông vẫn hận bà thì mới không đến dự tang lễ hay gửi điện chia buồn. Có lẽ ông còn chẳng buồn nhắc tên người vợ đã bỏ trốn ấy chứ. Một người như vậy thì không đời nào lại đi kể cho kẻ khác về việc Rin qua đời cả…
Không! Nghĩ tới đây, Kindaichi mới sực nhận ra sự ấu trĩ của mình và đứng khựng lại.
“Q… quý khách làm sao thế ạ?” Ito ngoảnh nhìn Kindaichi với vẻ hoảng hốt.
“Không, không, không có gì…” Kindaichi tháo mũ và lau mồ hôi trên trán. “Đi mau lên, chị ạ.”
“Vâng…” Vẻ bất an càng rõ nét trên mặt Ito. Bà vừa hối hả nối bước Kindaichi vừa liếc qua thăm dò sắc mặt anh.
Thế này là sao? Kindaichi tập trung suy nghĩ. Phía Kobe đã gửi tin báo tử tới cho Hoan, nếu nhận được thì hẳn Hoan đã biết là Rin không còn trên cõi đời này, đồng nghĩa với việc lá thư làm hòa là giả. Ông ấy phải nhận ra chứ! Nhưng lúc đó Hoan lại rất vui! Sao ông có thể mừng rỡ đến thế? Kindaichi chưa hiểu rõ về Hoan, nhưng theo lời Ito kể lúc ở Izutsu thì Hoan là một tay khá tinh ranh. Kindaichi nhớ lại câu nhận xét của bà, “Con người ấy từ xưa đã có gì đấy vượt trên thường thức rồi.” Phải chăng anh đã bị ông già chơi khăm? Nhưng tại sao chứ?
Tuy nhiên, vẫn còn một khả năng khác. Đó là Hoan không hề hay biết về cái chết của Rin. Và dẫn tới khả năng này lại có ba trường hợp khác nhau. Một là phía Kobe tuy nói là đã gửi điện báo tử nhưng thật ra không gửi. Hai là do sơ suất trong chuyển phát. Và cuối cùng là thông báo đã được chuyển đi thật nhưng lại không đến tay Hoan. Nghĩa là vô tình hay cố ý, nó đã bị ai đó đoạt mất.
Nhưng cho dù là trường hợp nào và bất kể Hoan có bị lừa hay không, thì lá thư làm hòa vẫn là giả. Và chủ nhân của lá thư giả đó đã vượt đèo Sennin tới làng Đầu Quỷ vào chiều tối qua.
Kindaichi lại rợn cả người như vừa bị giội nước lạnh. Một cảm giác nôn nao cùng linh tính chẳng lành ập đến với anh. Ito đã nói là chẳng ai được lợi lộc gì khi giở trò với Hoan. Nhưng vì thế Kindaichi mới nôn nao. Nếu biết người ta có lợi lộc gì thì anh đã bình tĩnh hơn. Chẳng cần Ito nói, anh cũng biết là đi lừa phỉnh một con người chẳng màng thế sự như Hoan đúng là không được ích lợi gì rồi. Nhưng đây chỉ là vấn đề hữu hình trước mắt, còn nghĩ một cách sâu xa siêu hình hơn… chẳng hạn như Hoan mà nắm giữ một bí mật trọng đại nào liên quan tới vụ án năm 1932, thì mọi chuyện tự nhiên sẽ khác hẳn. Và đây là điều mà Kindaichi lo sợ.
“À…” Hơi khó thở, Kindaichi quay lại hỏi Ito. “Về vụ án năm 1932. Hồi cậu chủ nhà Nước nóng Kame bị sát hại…”
“Dạ,” Ito nhíu mày ngạc nhiên. “Vụ đó làm sao ạ?”
“Tôi nghe kể, tối hôm Genjiro bị giết, Rin bỏ đi sau khi cãi vã với Hoan…”
“Vâng, tối đó Rin tới nhà tôi…”
“Qua chỗ chị ư?”
“Vâng. Ông nhà tôi có khuyên nhủ rồi định sáng mai dẫn bà ấy về lại bên quan cai. Bên ấy cũng nói định sáng hôm sau sang nhà tôi hỏi thăm, nhưng rồi lại vướng phải vụ án kia, không qua được. Nhà tôi cho rằng không phải thời điểm để đưa Rin về, nên cho bà ấy ở lại thêm một hai hôm, rốt cuộc Rin bỏ đi mất. Sau đấy nhờ cảnh sát vào cuộc, khi tìm được thì bà đã có người đàn ông khác rồi. Thế nên ông chủ nhà quan cai mới nổi trận lôi đình, cho là vợ chồng tôi đã cố tình để bà ấy trốn đi.”
“Lý do họ cãi nhau là gì vậy?”
Ito im lặng một lúc rồi mới trả lời, “Ông chủ nhà quan cai từ nhỏ đã được nuông chiều muốn gì được nấy, nên tuy khá hiểu chuyện nhưng có phần khó chiều. Người ta hay nói những người ngoài mặt tốt đẹp thì bên trong lại thường khó tính. Những chuyện không vừa ý ngày càng tích tụ khiến ông dễ nổi giận hơn. Thỉnh thoảng ông động tay động chân, nên chắc Rin không chịu đựng được.”
Lúc hai người xuống tới chân đèo, mặt trời đã lặn hẳn. May là cả Kindaichi và Ito đều chuẩn bị sẵn đèn pin nên không gặp vấn đề gì với đường đêm. Họ vừa đến trụ sở làng, một đám thanh niên ùa ra.
“A, anh Kindaichi giờ mới về ạ.” Người cất tiếng chào là Kanao. Cậu nở nụ cười tươi tắn không chút phiền muộn, để lộ hàm răng trắng nổi bật trên gương mặt rám nắng.
“Ồ, mọi người đều ở đây cả à… Cô Yukari thì thế nào rồi?”
“Bọn em đang định xông sang nhà bên đó đây ạ,” Goro xen vào.
“Ai lại nói là xông sang thế hả nhóc Goro, khó nghe lắm,” Katsuhei đứng cạnh góp ý.
“Chả là thế này anh ạ. Nữ thần mới vinh quy bái tổ có lời mời nam thanh nữ tú quen biết từ thuở thơ ấu chúng tôi tới gặp mặt trò chuyện. Thế nên những quý ông thôn quê như chúng tôi đây mới vinh hạnh viếng thăm bên đó…”
“Katsuhei mà ra vẻ quý ông cơ đấy.”
“Nhóc Goro thật ngốc quá. Anh mày nói là chúng tôi cơ mà. Nhưng mày đã nói thế thì để anh đính chính lại. Phải là những quý ông thôn quê ngoại trừ nhóc Goro… Ồ có cả bà chủ Izutsu ở đây à? Giờ này rồi mà cô còn đi đâu thế ạ?”
“Vâng, tôi qua nhà quan cai có chút việc…”
“À, vậy thì lúc về nhờ cô nhắn với Shigeyoshi và Teru cái này hộ cháu với,” Kanao xen vào. “Cụ thể thế nào thì bây giờ bọn cháu mới bàn, nhưng đại thể thì Yukari đã đồng ý rồi. Từ 14 ngày kia cho tới tối 16 sẽ tổ chức nhảy múa cho lễ Obon ở biệt phủ cũ một cách thật hoành tráng.”
Biệt phủ của nhà Ito trấn thủ Shinano nay đã thành trường cấp một, nhưng thường thì người trong vùng vẫn quen gọi là biệt phủ cũ.
“Ừ, tôi sẽ chuyển lời. Cảm ơn cháu.”
“Nào, đi thôi.” Năm sáu cậu thanh niên hào hứng rời đi.
Kindaichi và Ito rảo bước về phía ngược lại.
Từ trụ sở làng tới nhà tranh của Hoan mất tầm hai mươi lăm phút đi bộ. Khoảng cách tính theo đường chim bay thì ngắn thôi nhưng do núi non chắn lối nên đường đi khá ngoằn ngoèo tốn thời gian.
Từ đường làng vào tới nhà Hoan phải rẽ vào một đoạn đường đồi. Như đã đề cập thì ngôi nhà nằm ngay cạnh một mảnh đầm mà người làng gọi là đầm Thực Nhân[14]. Dường như nó mang hàm ý rằng đầm lầy ở đó rất sâu, đã rơi xuống rồi thì khó mà thoát được.
Khi họ ra khỏi khu dân cư cuối cùng của làng Đầu Quỷ, bốn bề đã chìm vào đêm tối. Bóng tối đặc quánh như vải nhung bọc lấy nhà tranh của Hoan. Trong nhà không có ánh đèn, khiến hai người càng thêm bất an. Hoan không phải là người hay đi dạo ban đêm, và bây giờ vẫn còn quá sớm để đi ngủ.
“Ông chủ, ông chủ ơi. Ito bên Izutsu đây ạ. Ông có nhà không?” Ito cất tiếng gọi với giọng run run.
“Chú Hoan à, Kindaichi đây. Chú nghỉ rồi ạ?”
Kindaichi và Ito cùng gọi thêm hai, ba lần nữa nhưng vẫn không có ai đáp lời.
“Hay là ông đi đâu rồi…” Ito nói, có lẽ chỉ để tự trấn an bản thân, chứ giọng bà vẫn run run.
“Chúng ta cứ thử vào xem sao.”
Cửa không khóa. Đợi Kindaichi vào rồi, Ito mới run rẩy tiếp bước. Nhà nhỏ tới mức lia đèn pin một lượt là đủ để quan sát hết ngóc ngách. Căn phòng Hoan từng ngồi tiếp Kindaichi giờ không một bóng người. Kindaichi đang băng qua phòng để ngó sang gian trà nước kiêm nhà bếp có bếp lò sưởi, thì một tiếng tách vang lên sau lưng anh, mang theo ánh sáng soi tỏ khắp nhà. Ito vừa kéo dây đèn rũ xuống từ trần.
“Ối!” Bà thảng thốt kêu lên rồi đứng sững ra đó.
Kindaichi giật mình quay lại phòng lớn, và không khỏi nhíu mày vì cảnh tượng trước mắt.
Trên chiếc thùng các tông dán giấy nháp thay cho bàn là một vò rượu cùng hai chiếc bát uống nước, một đĩa cá sông nướng, hai chiếc bát tráng men đỏ còn đọng một ít canh đậu, một bát dương xỉ ninh với đậu phụ rán và một đĩa cơm sushi đậu phụ. Ngoài ra còn một cây nến đốt dở, cho thấy trong lúc mất điện tối qua đã có cuộc nhậu ở đây.
Nhưng điều khiến Ito kêu lên thảng thốt không phải là khung cảnh hữu tình ấy, mà là những vết máu rải rác từ bàn xuống đệm ngồi và cả mấy mảnh chiếu tatami xung quanh. Dường như là dấu vết của thổ huyết, nhưng lại không thấy bóng dáng ai cả.
Kindaichi một lần nữa ngó sang gian bếp chật chội, đập vào mắt anh là chum nước đặt ở một góc sàn đất. Không, chính xác hơn thì, năm sáu nhành hoa cỏ trên nắp chum mới là thứ thu hút sự chú ý của anh. Trông rất giống hoa cát cánh.
Kindaichi bước hẳn vào bếp, cầm mấy nhành hoa lên quan sát, đúng lúc đó Ito thảng thốt cất tiếng từ sau lưng anh, “Á, đừng. Có độc đấy quý khách. Là cỏ độc đấy, cậu mau bỏ xuống đi.”
“Cỏ độc?” Kindaichi vội vàng vứt xuống sàn. “Đây là loại cỏ gì?”
“Dạ, cái đó…” Ito nặng nhọc thở gấp, mặt không giấu nổi nét sợ hãi. “Tôi không biết nơi khác người ta gọi là gì, nhưng ở vùng này thì đều gọi là sát quan thảo[15]…”
Cả làng Đầu Quỷ giờ đang ầm ĩ hết cả lên, một phần vì sự kiện nữ thần vinh quy bái tổ, phần còn lại là bởi giai thoại về bà già vượt đèo tới làng với danh nghĩa của người đã khuất…
Giai thoại về bà già kì quái tự nhận là Rin chủ yếu chỉ thu hút sự quan tâm của tầng lớp trung niên trở lên, còn với thanh niên thì hầu như chẳng đáng bận tâm. Lý do là sự tồn tại của ông Hoan vốn đã bị giới trẻ làng này lãng quên từ lâu. Bản thân Hoan tự gọi mình là kẻ xa lánh cõi đời, nên đổi lại có lẽ cõi đời cũng xa lánh ông luôn.
Thêm nữa thì sáng đó nam nữ trong làng còn rất nhiều việc để bàn tán và xử lý gấp. Chủ đề bàn luận đương nhiên là về bữa tiệc tối qua của Yukari. Thanh niên không kể nam nữ dường như đều đã bị Yukari mê hoặc.
“Mọi người cứ gọi là nữ thần nóng bỏng nên tao cứ nghĩ phải phóng túng lắm, nhưng hóa ra nết na phết.”
“Lại nói chuyện thoải mái tự nhiên y như con trai vậy, làm tao càng mê hơn.”
“Giọng nói hơi trầm khàn cuốn hút thật đấy.”
Trong khi đó đám con gái lại tập trung vào mặt khác.
“Cứ tưởng cô ta phải kiêu kì hơn cơ, nhưng gặp mới thấy không đến nỗi.”
“Tuy nói chuyện có phần thẳng thắn như đàn ông nhưng vẫn biết giữ ý không làm tụi mình phật ý nữa.”
“Đúng thôi, chắc cô ta biết rõ là nên ứng xử thế nào với kiểu như bọn mình rồi.”
“Chắc là thế đấy, hi hi.”
Tiếp theo là về kiểu tóc rồi quần áo, trang sức của Yukari. Cứ rảnh ra là đám thanh niên lại bình phẩm về cô bé, khiến nhiều bậc phụ huynh bực mình phải cất tiếng mắng mỏ mới thôi.
“Mà mẹ trẻ này.”
Trên sân trường cấp một vốn là biệt phủ lãnh chúa thời xưa, thanh niên của làng đang mải mê dựng sân khấu ca múa dưới sự chỉ đạo của hội trưởng Katsuhei. Khác với mọi năm, sân khấu lần này sẽ được vinh dự đón tiếp Yukari, nghệ sĩ nổi tiếng bậc nhất Nhật Bản tới góp lời ca, nên mọi thứ từ nhỏ nhặt nhất như tùy chỉnh micro đều phải được chuẩn bị chu đáo kĩ càng.
“Nghe kể là tối qua có bà già kì quái nào đến làng, rồi thì ông Hoan nhà quan cai gặp chuyện gì đấy, không biết cụ thể thế nào?”
“Tao không rõ nữa, nhưng nghe đâu Hoan đã biến mất không để lại tung tích.”
Kanao đang mải dựng sân khấu không khỏi nhíu mày băn khoăn.
“Hay già cả chán chường dòng đời xô đẩy tới mức gieo mình xuống đầm rồi,” Goro góp lời.
“Mày bảo ông ấy nhảy xuống đầm lầy cạnh đấy ấy hả. Nếu thế thì không khéo đám thanh niên lại bị giao thêm việc phiền toái,” Katsuhei bày tỏ suy nghĩ ở tầm cao hơn.
“Katsuhei, ai nhờ thế thì từ chối luôn đi. Bọn mình còn bận chuẩn bị sân khấu ca múa cả năm mới có một lần, đâu rảnh mà lo chuyện bao đồng.”
“Đúng rồi đấy hội trưởng ơi, quyết như vậy đi.”
“Ai lại đem đánh đồng nữ thần gợi cảm nhất nước Nhật với ông già lẩm cẩm bèo nhèo ấy chứ!”
Không rõ ai tuyên bố thẳng thừng như vậy, nhưng cả đám thanh niên đều cất tiếng cười phụ họa. Nhưng mấy cậu này không hề hay biết rằng mình hoàn toàn sai lầm.
Sau này nghĩ lại thì giữa sự kiện nữ thần nóng bỏng vinh quy bái tổ và sự biến mất của ông già Tatara Hoan hóa ra lại tồn tại mối tương quan vừa mật thiết vừa trọng đại.
“Nhưng lạ thật đấy, Kindaichi ạ.”
Nhìn phục sức sơ mi cổ bẻ đi kèm quần lửng và mũ bảo hộ cũ kĩ của Isokawa lúc này, có lẽ chẳng ai nghĩ ông là cảnh sát cả. Thoáng qua chắc sẽ tưởng là cai thầu của mấy công ty xây dựng, tệ hơn có khi chỉ là một ông thợ hồ.
“Cho dù đã hơn hai chục năm không gặp, nhưng chẳng lẽ ông ấy có thể nhầm một kẻ giả mạo thành Rin để mà ngồi khề khà với nhau như vậy? Hoan lại bị lừa dễ dàng thế ư?”
“Không, kể cả có nhận nhầm người thì cũng khó thành ra như vậy lắm…” Kindaichi nhìn xuống đầm lầy trước mặt, năm ngón tay gãi mái đầu rối bù không khác gì tổ chim như thường lệ. “Nếu chỉ mười, hai mươi phút thì đã đành… nhưng nhẩm tính từ thời điểm đi ngang qua em trên đường thì bà tới đây vào tầm 7 rưỡi, mà phải đến 9 rưỡi thì khu vực này mới mất điện như bên Soja. Không chỉ trong suốt hai tiếng ấy mà đến khi mất điện họ vẫn thắp nến để nói chuyện tiếp cơ mà.”
“Nghĩa là cho dù người phụ nữ đó không phải là Rin… đúng hơn là chắc chắn không phải Rin rồi, nhưng vẫn là người Hoan biết.”
“Chỉ có thể là như vậy thôi.” Kindaichi trả lời một cách lấp lửng. Điều mà anh muốn làm rõ trước tiên là liệu Hoan có biết Rin đã qua đời hay không.
Trong ngôi nhà tranh bên bờ đầm của Hoan hiện có ba điều tra viên vận thường phục từ thị trấn gần đó sang, đang khám nghiệm hiện trường cùng tuần tra viên Kimura thường trú tại làng. Vẻ mặt ai nấy đều uể oải. Đối tượng tìm kiếm là một ông già hơn bảy mươi xa lánh cõi đời, lại chưa có gì khẳng định đây là án mạng nên họ kém nhiệt cũng là hợp lẽ. Nhưng dù có nhiệt huyết hay không thì việc bốn người đàn ông trưởng thành cùng lúc lùng sục bên trong đủ khiến ngôi nhà vốn chật chội thành ra chẳng còn chỗ trống. Kindaichi đành cùng Isokawa ra mép đầm đợi họ điều tra xong. Bên kia nhà có một đám đông hiếu kì đang tụ tập.
Kindaichi thầm sắp xếp lại các sự kiện tối qua.
Vừa đánh hơi được khả năng có chuyện bất trắc xảy ra nơi đây, Kindaichi liền tỏ ra năng nổ hơn hẳn. Trước tiên anh dặn Ito đừng động vào bất cứ thứ gì, rồi bắt đầu xem xét mọi ngóc ngách trong nhà. Điều đầu tiên Kindaichi nhận thấy là tại hiện trường không hề có bóng dáng của bọc đồ mà bà già tự xưng là Rin vác trên lưng khi đi ngang qua anh. Nhưng chắc chắn bà đã đến đây. Bằng chứng là ở ngưỡng cửa còn vết bùn của đôi dép cói ngắn. Đáng tiếc là mưa dông đêm qua đã xóa đi mọi dấu tích bên ngoài nhà.
Hôm qua bà già tự xưng là Rin đã tới đây, cõng theo một bọc đồ to, ở lại trò chuyện với Hoan suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Không, nói đúng hơn thì có vẻ họ đã trò chuyện với nhau. Và rồi bà dùng sát quan thảo để hạ độc Hoan, Hoan trúng độc thổ huyết mà chết…
Kindaichi đã phần nào định hình được diễn biến. Nhưng bà già kì quái kia xử lý thi thể thế nào chứ? Khả năng đầu tiên mà anh nghĩ tới là cái xác đã bị vứt xuống ngay đầm lầy gần đó. Tương truyền thì chưa ai rơi xuống đầm lầy này mà thoát nạn cả, nên người làng kính sợ gọi nó là đầm Thực Nhân. Nhưng tại sao bà già phải làm thế? Đã định lấp hiếm hành vi giết người thì cớ gì lại để nguyên vết máu trong nhà? Rồi tự xưng là Rin nữa? Rốt cuộc Hoan còn sống hay đã chết? Bọc đồ to tổ chảng mà bà già mang theo đã biến đi đâu?
Khi quay lại gian bếp để xem xét mấy nhành sát quan thảo, Kindaichi chợt nhận thấy có âm thanh rất nhỏ phát ra từ chum nước. Dù chỉ là vài tiếng rào rạo rất khẽ, nhưng trong hoàn cảnh này thì chẳng khác nào sấm đánh bên tai. Kindaichi giật mình đưa mắt nhìn chiếc chum. Lại nghe rào rạo, anh thận trọng đưa tay phủi mấy nhành sát quan thảo xuống đất, mở nắp chum rồi rọi đèn pin vào trong, bất giác rợn người.
Dưới mặt nước là một đống sinh vật hết sức khó coi đang ngoe nguẩy lổm nhổm khắp đáy chum. Trông giống thạch sùng hay kì nhông nhưng lớn hơn hẳn, phần đầu vừa to vừa dẹt, toàn thân màu nâu với nhiều chấm đen nhỏ, lại thêm mấy nốt sần sùi nhìn rất ghê rợn.
“Ôi!”
Ngạc nhiên trước phản ứng của Kindaichi, Ito tiến lại gần ngó vào chum và thốt lên, “Là kì nhông sơn tiêu[16] sao?”
Kindaichi biết loại động vật này. Vấn đề là tại sao chúng lại có mặt ở đây.
“Hoan nuôi kì nhông sơn tiêu à?”
“Không, lần trước tôi tới đây còn chưa thấy mà.”
“Lần trước là bao giờ?”
“Mới mùng 5 vừa rồi thôi ạ.”
“Lúc ấy chị qua làm gì thế?” Kindaichi hỏi dồn trong vô thức.
“Dạ, là để đưa quà O-chugen…”
À, ra vậy. Nghĩa là ban nãy trên đồi Ito chỉ lấy O-chugen làm cái cớ để đuổi theo và cùng Kindaichi tới nhà quan cai.
“Sao chị quả quyết là khi đó mấy con kì nhông này chưa có ở đây?”
“Chẳng là tôi có lấy nước từ chum này để đem đun cho ông chủ…”
Chắc là đúng rồi. Sau đấy hai hôm thì Kindaichi tới viết thư hộ Hoan.
“Vùng này có nhiều kì nhông sơn tiêu không?”
“Không nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy… Ông chủ vốn nổi tiếng giỏi câu bắt mấy loại này lắm,” Ito chỉ tay về phía cửa gian trà nước, nơi nhiều loại cá sông lớn nhỏ đã phơi khô và xiên que treo la liệt khắp thanh rầm.
Kindaichi đưa mắt trở lại chum nước. Cảm thấy những sinh vật kì dị đang lổm ngổm trong đó như tượng trưng cho vụ việc đầy bí ẩn này, anh không khỏi nổi da gà thêm lần nữa. Rốt cuộc thì chuyện gì đã xảy ra trong ngôi nhà tranh của Hoan giữa cơn dông đêm qua chứ?
Một lúc sau, Kindaichi bảo Ito cùng mình rời khỏi hiện trường để về Nước nóng Kame, và kể lại sự tình cho Isokawa đang đợi ở đó. Nếu không phải Isokawa đúng lúc có mặt ở làng thì chưa chắc khai báo của Kindaichi và Ito đã được cảnh sát làng nghiêm túc ghi nhận…
“Kindaichi!” Isokawa cất lời, mắt vẫn nhìn đám hoa bèo trắng đang nở rộ khắp mặt đầm. “Liệu việc lần này có liên quan gì tới vụ án hai mươi ba năm trước không nhỉ?”
Ông cố tình lẩm bẩm một cách chậm rãi, nhưng Kindaichi nhận ra đằng sau thái độ điềm đạm ấy là niềm hi vọng và nỗi phấn khích bùng cháy, rằng những manh mối từ vụ việc hôm nay sẽ giúp ông vén dần bức màn bí ẩn của án mạng hai mươi ba năm trước.
“Nhiều khả năng là có. Chứ không thì khó lòng tưởng được vì sao người chẳng màng sự đời như Hoan lại vướng vào vụ việc thế này,” Kindaichi cố gắng cân nhắc từ ngữ một cách thận trọng. “Không liên quan nhưng chỉ huy à, bình thường ông Hoan lấy đâu ra tiền sinh hoạt? Ngay cả người có vẻ khá thân quen với nhà quan cai như bà chị Izutsu cũng bảo không biết thế nào.”
Isokawa giật mình quay sang nhìn Kindaichi với ánh mắt sắc lẻm.
“Nhưng… nhưng…” Ông toan nói gì đó nhưng vẫn kịp kìm lại. “Bà chủ Nước nóng Kame từng bảo là có họ hàng ở Kobe hay đâu đấy gửi tiền về…”
“Ừ, hồi xưa thì đúng là như vậy, cho đến ba năm trước… Năm 1953, người họ hàng kia qua đời, từ đó không thể nào có tiền gửi về nữa. Thế nên em mới thấy lạ. Bà chủ Izutsu thì nói chi phí sinh hoạt của Hoan chắc chẳng tốn kém mấy, nên có lẽ ông dành dụm được một khoản… Nhưng theo anh thì Hoan có phải là người biết tiết kiệm phòng thân không?”
“Kindaichi!” Dường như không nhịn nổi nữa, Isokawa chợt bùng nổ. “Ý chú mày… nghĩa là… cho rằng có ai trong làng đã bí mật cho Hoan tiền hử?” Ông vô thức dùng đến cả tiếng địa phương.
Kindaichi chưa kịp trả lời câu hỏi của chỉ huy, một điều tra viên đã lò dò đi ra. Trông thấy chỉ huy Isokawa anh ta liền rảo bước lại gần, “Tôi qua chỗ hàng đậu phụ trong làng hỏi thì họ bảo là hôm qua đúng là Hoan có tới mua đậu phụ rán, nhưng chỉ mua có hai bìa thôi ạ.”
Chả là cảnh sát đang điều tra về xuất xứ của chỗ sushi đậu phụ còn thừa trong nhà. Nhìn qua thì có vẻ là đồ tự làm chứ không phải mua ngoài hàng, tức là Hoan phải lấy đậu phụ ở đâu đó chứ. Vậy mà theo tìm hiểu của cảnh sát thì Hoan chỉ mua hai bìa đậu phụ rán. Hai bìa chỉ đủ cho món ninh với dương xỉ, thế còn sushi đậu phụ?
“Ha ha ha,” Kindaichi không khỏi bật cười. “Chỉ huy à, thế là em đã tìm ra dấu vết để lại của bà già. Chính là mấy miếng sushi đậu phụ chứ đâu… À, có vẻ trong kia xong rồi.”
Kindaichi hơi giật mình khi thấy thứ trong tay điều tra viên đang bước ra. Có vẻ đó là phong thư mà anh không tài nào tìm thấy và nghĩ rằng bà già kia đã mang đi mất.
“Chỉ huy, chúng tôi tìm thấy rồi. Lá thư từ Kobe… Nội dung y hệt như chỉ huy đã nói.”
Isokawa rút lá thư ra khỏi phong bì, đọc qua một lượt rồi lẳng lặng đưa cho Kindaichi. Anh vội đón lấy, đảo mắt qua thư. Không cần đọc đến lượt thứ hai, Kindaichi chắc chắn đây chính là lá thư mà Hoan đã cho anh xem vào tối mùng 7.
Thế này là sao? Đối với bà già ấy thì đây ắt là một chứng cứ quan trọng, bằng giá nào cũng phải mang đi mới đúng chứ…
“Cậu tìm thấy cái này ở đâu? Phải chăng là giấu vào chỗ nào khó tìm lắm?”
“Đâu có… Nó ở ngay trong hộp giấy tờ cùng các loại thư từ bưu thiếp khác thôi.”
Kindaichi hoang mang tột độ trước diễn biến khó hiểu. Anh vẫn nghĩ vụ việc đã được tính toán hết sức kỹ lưỡng, vậy mà bà ta bỏ lại manh mối quan trọng như lá thư giả này ở hiện trường?
“Chỉ huy, cho em xem phong bì một chút…”
Đúng là chiếc phong bì mà Kindaichi từng thấy. Anh đã dựa vào thông tin người gửi trên đó để viết địa chỉ hồi âm. Kindaichi lặng thinh săm soi những dòng chữ quen thuộc một lúc rồi vô thức lật mặt trước phong bì. Thứ đập vào mắt khiến anh thảng thốt thở hắt ra.
“Chuyện gì vậy?”
“Chỉ huy!” Kindaichi vừa nói vừa cố tự chủ, không để mình mất bình tĩnh hơn. “Lúc được nhờ viết hồi âm, em mải nhìn mặt sau để xem địa chỉ người gửi chứ không để ý mặt trước, nhưng nhìn dấu bưu điện mà xem…”
Isokawa cũng phát hoảng khi nhìn dấu bưu điện. Mắt ông căng ra, lông mày nhíu lại, môi cắn chặt. Dấu khá mờ, lại nhòe như thể ai đó chạm vào sau khi đóng nên không nhìn rõ ngày tháng. Tuy nhiên, có thể thấy con số là 4 chứ không phải 5 như đáng lẽ. Có nghĩa là thư này được bưu điện tiếp nhận vào một thời điểm nào đó trong năm ngoái, chứ không phải mới được gửi đi vào năm nay.
Như đã nói từ trước, giả sử Isokawa không có ở đây thì cho dù Kindaichi tâm huyết đến thế nào, vụ việc lần này của Tatara Hoan cũng sẽ bị người đời đơn giản coi như vụ mất tích của một ông già xa lánh thế sự và sớm cho vào quên lãng.
Theo yêu cầu của Isokawa, phòng giải trí trong khu trọ chung của Nước nóng Kame biến thành nơi đặt ban chuyên án từ chiều 12 tháng Tám. Chạng vạng hôm đó, cảnh sát tỉnh Okayama và phụ cận đều lần lượt phái nhân sự liên quan tới.
Đối với Isokawa thì đây là một canh bạc lớn. Không thể loại trừ khả năng vụ việc vốn không hề bí ẩn, khó mà moi ra manh mối gì. Chưa biết chừng mọi người đang náo loạn chán chê thì ông già Hoan lại đột nhiên xuất hiện. Và Isokawa sẽ bị truy cứu trách nhiệm một cách triệt để. Tuy nhiên ông vẫn bất chấp và sẵn sàng đối mặt với rủi ro. Có lẽ lớn tuổi rồi nên nghĩ bị truy cứu thì cùng lắm là nhận trách nhiệm rồi từ chức về hưu là được. Bù lại, nhỡ đâu đây lại là diễn biến tiếp theo của vụ án năm 1932 thì sao? Chưa kể thiên tài phá án Kindaichi đang có mặt ở đây, lại khá quan tâm đến vụ án cũ nữa, may ra mở được lối thoát cho sự việc đi vào ngõ cụt năm nào…
Nghĩ như thế thì việc điều tra tung tích Hoan có đủ giá trị để Isokawa đặt cược cả sự nghiệp của mình. Và chính quyết định của ông sẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng về sau.
Lại nói, trọng trách trưởng ban chuyên án được giao cho thanh tra Tachibana ở thị trấn Emi cách làng Đầu Quỷ khoảng bốn chục cây số. Dĩ nhiên cảnh sát có xe chuyên dụng, còn bình thường để đi từ Emi tới Đầu Quỷ, người ta cần bắt tàu địa phương tuyến Himetsu nối Himeji và Tsuyama, vòng lên Himeji tỉnh Hyogo bên cạnh rồi mới đi xe buýt về Soja và vượt đèo Sennin để tới đây.
Tất nhiên ở ngay thị trấn Soja lân cận có cảnh sát đồn trú, nhưng thật không may Soja lại thuộc địa phận tỉnh Hyogo. Đây chính là một trong những vấn đề gây trở ngại cho việc điều tra.
Dẫu sao thì khoảng 5 giờ chiều 12 tháng Tám, cơ cấu ban chuyên án đã thành hình.
Tại phòng giải trí của Nước nóng Kame, sau khi dùng bữa tối do Rika chuẩn bị, mọi người cùng nhau họp bàn về các tình tiết của vụ việc, chủ trì là thanh tra Tachibana.
“Như vậy thì…” Thanh tra nhíu cặp lông mày sắc sảo sau khi nghe Kindaichi và Isokawa trình bày khái quát vụ việc. “Theo suy luận của cậu Kindaichi thì vào tối hôm kia, mùng 10 tháng Tám, giữa khi ngoài trời đang mưa dông, trong nhà ông Hoan đã xảy ra một vụ giết người, phải không?”
“Không hẳn,” Kindaichi nói với vẻ hờ hững. Anh ngồi thẫn thờ trên ghế, người như sắp ngã xuống đất tới nơi, hai tay thì luân phiên nhịp nhịp vào tay dựa. “Hiện tại tôi chưa dám khẳng định như vậy. Thế nên mới phải đợi các anh điều tra…”
“Kindaichi,” Isokawa ngồi cạnh ngắt lời. “Đến lúc này rồi, chú mày đừng khách sáo giữ ý nữa, hãy trao đổi thẳng thắn với bọn anh được không?”
“Trao đổi thẳng thắn là sao?”
“Thôi mà, chú đã tiếp cận vụ việc trước bọn anh một bước, hẳn đã có ít nhiều nhận định xem nên bắt tay điều tra từ đâu chứ. Chú trình bày ý kiến cho thanh tra Tachibana đây tham khảo với.”
“Đúng vậy, rất mong tiên sinh chỉ bảo!” Thanh tra Tachibana nói bằng giọng mạnh mẽ và đưa mắt nhìn Kindaichi với vẻ thăm dò.
Thanh tra Tachibana tuổi trạc tứ tuần, dáng người cao ráo, rắn chắc, khỏe khoắn. Nói theo kiểu người kinh kì thì “trông khỏe như trâu” vậy.
Nghe Isokawa giới thiệu, Tachibana nhớ lại các vụ đảo Ngục Môn, thôn Tám Mộ, rồi thì đảo Shinkiro diễn ra tại Okayama sau chiến tranh. Cứ nghĩ đến việc chính người trước mắt mình đây đã phá giải các kì án như vậy, ông không khỏi nể phục. Nhưng đồng thời ông khó mà kiềm chế thái độ khiêu khích của mình khi chứng kiến tác phong lôi thôi luộm thuộm, dửng dưng thái quá của Kindaichi. Với cương vị thanh tra thì ông hành xử như vậy âu cũng hợp lẽ.
“Thôi được rồi,” như thường lệ, Kindaichi dụi dụi đôi mắt híp lại như buồn ngủ rồi đưa tay lên gãi mái đầu rối bù như tổ quạ của mình. Sau một nụ cười mỉm, anh ngồi thẳng dậy và móc túi áo trong ra một quyển sổ tay. Từ sổ tay lại lấy ra hai, ba tờ giấy gấp tư.
“Không biết có thành bao đồng không, nhưng tôi có gạch đầu dòng những suy nghĩ của mình cho tới thời điểm này. Nếu các anh muốn thì chúng ta có thể cùng xem qua,” Kindaichi ngập ngừng đề xuất.
“Vâng, mời cậu,” thanh tra nhíu đôi mày sắc sảo và rướn người tới trước.
“Chẳng có gì to tát, tôi chỉ liệt kê những điều mình nghĩ thôi nên lủng củng không đầu không đuôi. Chẳng biết có giúp gì cho các anh được không.”
“Được cậu đóng góp ý kiến là quý hóa lắm rồi.” Thanh tra gần như giật lấy mấy tờ giấy khỏi tay Kindaichi. Khi mở ra, đập vào mắt ông là nét chữ nắn nót như in chẳng hề ăn nhập với vẻ trễ nải của chủ nhân. Nội dung như sau.
1. Hoan còn sống hay đã chết? Còn sống thì đang ở đâu? Đã chết thì hung thủ giấu xác nơi nào? Tại sao phải giấu?
2. Rin còn sống hay đã chết?
3. Từ đây trở đi là dựa trên giả định Rin đã qua đời… Hoan có biết chuyện này không?
4. Nhà Machida ở Kobe có gửi điện báo tử cho Hoan không?
5. Lá thư bày tỏ nguyện vọng về chung sống với Hoan của Rin được gửi đi từ Kobe vào thời điểm nào?
6. Ai là người đầu tiên đọc được thư trên?
7. Kẻ tự xưng là Rin vượt đèo Sennin tới đây vào tối mùng 10 tháng Tám là ai?
8. Hoan đã ngồi với kẻ mạo danh Rin suốt hơn hai tiếng đồng hồ mà không nhận ra? Nếu không nhận ra thì tại sao?
9. Từ năm 1953 trở đi, Hoan lấy đâu ra tiền sinh hoạt?
10. Hoan lấy đám kì nhông sơn tiêu lúc nào và để làm gì?
Đọc đến mục thứ 10 trong danh sách mà Kindaichi vạch ra, thanh tra Tachibana giật mình, mắt mở to. Ánh nhìn có phần bất an liếc nhanh về mái đầu bù xù của Kindaichi, ông bặm môi hít một hơi thật sâu xuống bụng.
“Đã hiểu, gạch đầu dòng thế này thì các bước phải làm thành ra rõ ràng rồi,” thanh tra Tachibana tủm tỉm cười. “Vậy thì cậu Kindaichi, mong cậu hãy cùng mọi người ở đây điểm lại từng mục một. Chỉ huy, anh giúp nhé,” ông tiếp tục với cách nhấn nhá đậm chất địa phương.
“Hừm, có mục thú vị phết nhỉ.”
Mục khiến Isokawa không nhịn được cười có lẽ là mục 10. Tuy miệng tủm tỉm nhưng mắt ông vẫn ánh lên vẻ băn khoăn.
“Trước tiên là mục 1, Hoan còn sống hay đã chết… Để làm rõ mục này thì cần thêm nhiều công sức nữa.”
“Đúng, quan trọng là phải tìm thấy thi thể đã.”
“Phải rồi, chỉ với mấy vết máu và những thứ được để lại kia thì chưa thể khẳng định đây là một vụ giết người được,” Isokawa góp lời.
“Nhưng mà, cậu Kindaichi này.”
“Vâng.”
“Nhìn cách đặt thứ tự vấn đề thì có vẻ cậu chưa hẳn tin rằng Hoan đã bị sát hại nhỉ?”
“À vâng, thì thế nên tôi mới coi đó là nghi vấn cần được làm sáng tỏ. Ha ha ha.”
Thanh tra Tachibana liếc qua vẻ mặt thản nhiên của Kindaichi rồi lại đưa mắt xuống tờ giấy, “Nếu còn sống thì đang ở đâu… Đây là một nghi vấn quan trọng. Vậy còn phần nếu đã chết thì hung thủ giấu xác nơi nào và tại sao phải giấu?”
“Thôi nào Tachibana,” Isokawa ôn tồn chen vào như một ông chú dỗ dành đứa cháu nhõng nhẽo. “Đây là tác phong của Kindaichi thôi, lần nào cũng thế. Phong cách của Kindaichi là xem xét mọi khả năng có thể xảy ra. Theo tôi thì chẳng qua chú ấy nghĩ là chưa thấy xác thì chưa thể khẳng định đây là một vụ giết người, và cần suy xét đến khả năng Hoan còn sống và tiến hành điều tra kĩ lưỡng theo cả hướng đấy nữa thôi.”
“Ra thế… nhưng…” Thanh tra Tachibana cắn chặt môi dưới. “Giả sử Tatara Hoan còn sống, thì phải nhìn nhận những dấu vết ở hiện trường thế nào?”
“Ở mức độ ấy, muốn ngụy tạo không phải là khó.”
“Ngụy tạo?” Thanh tra Tachibana tỏ ra bất ngờ, chân mày giãn ra. Ông không thốt nên lời, mất một lúc cứ nhìn qua lại giữa Isokawa và Kindaichi, nhưng có vẻ như dần dà thì tư duy cũng bắt đầu lý giải được sự tồn tại của những khả năng phức tạp trong vụ việc lần này. Ông căng mắt ra nghiên cứu mười mục thêm lần nữa.
“Nhưng, thế thì…” Ông nuốt nước miếng như để cuốn trôi cả những bận tâm. “Chuyển sang mục thứ hai nào. Rin còn sống hay đã chết… cái này là?”
“À, cái đấy tôi chỉ viết cho có thôi. Mục này và mục 4 thì chỉ cần đối chiếu với người tên Machida ở Kobe là được.”
“Vậy à? Thế còn mục 3, Hoan có biết Rin đã qua đời hay không… Điều này thì có vai trò gì?”
“Anh Tachibana,” nét mặt Kindaichi bỗng nghiêm túc hẳn lên. “Đấy chính là nghi vấn lớn nhất trong mười mục này. Việc Rin đã mất thì không có gì phải nghi ngờ đâu. Bà chủ Ito của Izutsu đã đích thân tới dự tang lễ rồi mà. Tất nhiên để chắc chắn thì vẫn cần xác minh với bên Kobe… Nhưng vấn đề chính là thế này cơ.”
Kindaichi kể lại chuyện Hoan nhờ anh viết hộ hồi âm, rồi cả vẻ mừng rỡ như con nít của ông.
“Điều này liên quan tới cả hai nghi vấn 5 và 6.”
“Lá thư bày tỏ nguyện vọng về chung sống với Hoan được Rin gửi đi từ Kobe vào thời điểm nào… Có nghĩa lá thư này không phải là mới được viết và gửi đi trong thời gian gần đây à?”
Thanh tra Tachibana cầm lá thư đang đặt trên bàn lên để xem dấu bưu điện ngoài phong bì. Như đã nói ở trước thì dấu đã quá mờ nên không đọc được gì nhiều hơn là bưu điện đã tiếp nhận vào thời điểm nào đó trong năm 1954. Và dĩ nhiên là người gửi đã quên điền ngày gửi đi.
“Dù sao thì mục này có thể làm rõ nếu đối chiếu với nhà Machida ở Kobe.”
“Đúng vậy, nên chú Kindaichi mới muốn tập trung vào mục 6 đấy.”
“Ai là người đầu tiên đọc thư… Là sao?”
“Tachibana, cậu hãy quan sát kĩ chỗ mép phong bì có dấu vết niêm phong mà xem,” Isokawa lấy kính lúp của Kindaichi đưa cho Tachibana.
Thanh tra lật mặt sau phong bì. Đây là phong bì dành cho phụ nữ dùng, mở theo chiều dọc chứ không phải chiều ngang. Một đầu phong bì được cắt gọn ghẽ bằng kéo, và có thể thấy nó được niêm phong bằng chữ “Seal” thay cho kí hiệu x thường thấy.
Soi kĩ bằng kính lúp, Tachibana thấy chữ “Seal” viết bằng mực tím có đôi chỗ bị nhòe, rõ ràng là do bị hơ qua hơi nước. Không những vậy, hai nửa của chữ còn hơi bị chệch đi. Thanh tra thở hắt ra như cá voi phun nước, “Ra thế. Có người đã lấy trộm và đọc được thư trước khi nó kịp đến tay Tatara Hoan. Kẻ đó vẫn giữ lá thư đến mãi gần đây mới niêm phong lại và gửi cho Hoan. Ông già lại tưởng là thư mới viết nên mới mừng rỡ…”
“Không, nếu chỉ như vậy thôi thì đã đơn giản rồi.”
“Hả?” Tachibana giật mình quay sang phía Isokawa.
“À, chẳng là Kindaichi cho rằng còn một khả năng khác nữa. Tức là Hoan đã nhận được thư từ năm ngoái. Ông ta đã lấy kéo mở phong bì và đọc nội dung, nhưng lại không có ý định nối lại tình xưa nên vẫn để đấy, xong lần này thấy có thể sử dụng vào việc ngụy tạo hiện trường nên mới cố tình hơ đầu kia của phong bì qua hơi nước để mở ra rồi niêm phong lại. Mục đích là lái trọng tâm điều tra theo hướng cậu vừa nói…”
“Nhưng… nhưng…” Thanh tra nhìn họ, mắt hơi trợn lên phô ra những tia máu. “Dấu kéo ở đây thì sao? Rõ ràng là vết cắt mới mà.”
“Cũng theo Kindaichi, kéo cắt lúc nào chẳng được, và lấy phong bì đã mở từ năm ngoái ra cắt thêm lần nữa để tạo vết cắt mới vốn chẳng hề khó khăn gì…”
“Khỉ thật!”
“Nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là một khả năng thôi, anh Tachibana ạ.”
“Đúng rồi, Kindaichi chỉ muốn lưu ý là nên suy xét tới cả những trường hợp như vậy nữa, ít nhất là cho tới khi tìm thấy thi thể… Mà hãy tiếp tục đã.”
Tachibana dường như thở dồn, trán lấm tấm mồ hôi. Ông đưa mu bàn tay quệt bớt mồ hôi rồi lật sang trang sau, “Mục 7, kẻ tự xưng là Rin vượt đèo Sennin tới đây vào tối mùng 10 tháng Tám là ai…”
“Và vấn đề này thì Kindaichi cho rằng có hai khả năng. Trường hợp Hoan bị lừa bằng thư giả thì hẳn là có kẻ mà ông không ngờ tới đã đội lốt Rin. Nhưng nếu tất cả đều do Hoan sắp đặt thì có lẽ đó là đồng bọn, thậm chí là chính bản thân ông ấy. Không ai thấy rõ mặt kẻ đó, giọng nói khá nhỏ và trầm. Kindaichi đã nghe bà chủ Izutsu kể sơ qua là hồi trẻ Hoan khá đam mê diễn xuất và có năng khiếu trong mảng này.”
Mắt thanh tra Tachibana giờ đã trợn tròn, sắc mặt nhợt nhạt thảng thốt. Thấy tội nghiệp quá, Kindaichi dụi mắt rồi xoa dịu, “Tôi không định làm quá trình điều tra phức tạp thêm đâu thanh tra ạ. Chẳng qua tôi chỉ kể với chỉ huy đây rằng ẩn sau vụ việc lần này có điểm quái gở khiến người ta không thể không nghĩ đến những khả năng ấy.”
“À, vâng, vâng.”
“Mà thôi, tạm gác vụ đấy lại đã, mục tiếp đi Tachibana.”
“Vâng, mục 8, Hoan đã ngồi với kẻ mạo danh Rin suốt hơn hai tiếng đồng hồ mà không nhận ra và nếu không thì tại sao…”
“Nếu kẻ mạo danh Rin là đồng bọn với Hoan hay là chính ông ấy thì câu trả lời hết sức đơn giản. Nếu rơi vào trường hợp còn lại thì câu hỏi tại sao sẽ xuất hiện.”
“Tại sao ư? Cậu Kindaichi có ý kiến gì không ạ?”
“Không, tôi chưa có manh mối gì… Nhưng ở đây có hai trường hợp, một là Hoan không hề nhận ra, và hai là ông ấy có nhận ra nhưng vì lý do nào đó mà không truy cứu.”
“Nghĩa là ông ấy đã không truy cứu lại còn dùng bữa cùng kẻ giả mạo để rồi bị hạ độc sao?”
“Ha ha ha, xét theo logic thì sẽ là thế.”
“Làm sao có chuyện như vậy được!” Thanh tra Tachibana quát lên, bụng bảo dạ đúng là không thể hoàn toàn tin tưởng mấy tay chỉ biết vẽ hươu vẽ vượn trên giấy thế này, nỗi bực dọc trong ông như lại bùng lên.
“Nào nào Tachibana, cứ tiếp đi đã.”
“Vâng, mục 9, từ năm 1953 trở đi, Hoan lấy đâu ra tiền sinh hoạt… là thế nào đây?”
Sau khi nghe Isokawa giải thích thêm về sự tình, nét ngạc nhiên và vẻ đăm chiêu nghiêm túc lại quay về với gương mặt của thanh tra Tachibana. Ông hạ giọng hỏi, “Nghĩa là chỉ huy cho rằng Tatara Hoan đã tống tiền ai đó dựa vào thông tin ông ta nắm giữ về vụ án năm 1932?”
“Không, tôi không dám chắc là Hoan có tống tiền người ta hay không. Có thể là kẻ nào đó bị Hoan bắt thóp đã chủ động chi tiền để bịt miệng ông ấy. Nếu đúng thế thì chính mục 9 sẽ là mắt xích quan trọng kết nối vụ việc lần này và vụ 1932.”
“Đã rõ. Cần phải điều tra cho kĩ,” thanh tra khoanh tròn ba lượt để đánh dấu mục 9. “Cậu Kindaichi, mục cuối là sao? Hoan lấy đám kì nhông sơn tiêu lúc nào làm gì…”
“À,” Kindaichi lại lấy năm ngón tay gãi gãi mái tóc rối bù như thường lệ. “Tôi viết vào cho có ấy mà. Tại tôi thấy chín mục thì cứ thiếu thiếu thế nào ấy.”
“Gì cơ?” Chỉ huy và thanh tra đồng thanh thốt lên, mặt đầy vẻ ngạc nhiên pha lẫn ngán ngẩm.
“Với cả tôi cảm thấy lờ mờ rằng nét kì dị của mấy con kì nhông sơn tiêu ấy dường như có thể tượng trưng cho vụ việc lần này nữa.”
“Hả?” Tachibana bực dọc cười khẩy và đưa mắt lườm Kindaichi, nhưng nghĩ thế nào lại đổi thái độ ngay. “Thôi được rồi, cảm ơn cậu. Nhờ cậu chỉ vẽ mà chúng tôi thấy được là nên bắt đầu từ đâu. Tóm lại nếu tìm ra được thi thể của Tatara Hoan thì cậu không còn gì phải lăn tăn nữa hả?”
“Đúng vậy, trước tiên phải làm rõ xem Hoan còn sống hay đã chết…”
Kindaichi nhắm đôi mắt gợn nét u sầu, vai thì thõng xuống lo ngại, nhưng thanh tra Tachibana không còn để ý tới anh nữa.
“Kato, Kato,” ông gọi cấp dưới đang đợi ở phòng bên. Nghe giọng âm vang, có thể đoán ra dung tích phổi ông phải lớn lắm. Công cuộc điều tra đầy tâm huyết của thanh tra Tachibana bắt đầu từ đây.
Một ngày sau, 13 tháng Tám.
Cuối cùng thì điều mà hội thanh niên làng lo ngại đã xảy ra.
Concert quy mô nhỏ của Yukari kiêm lễ hội nhảy múa Obon kiêm cuộc thi hát cho thanh niên làng dự kiến mở màn vào chiều tối hôm đó và kéo dài mấy ngày tới. Tuy nhiên, Tachibana đã yêu cầu hội thanh niên hỗ trợ điều tra từ sáng tới chiều, để xem có phải xác Tatara Hoan đang nằm dưới đầm Thực Nhân thật không.
Đầm rộng gần 2000 m², chưa bao giờ cạn khô dù có gặp phải năm hạn hán, vì dưới đáy đầm có nhiều đầu của các mạch nước ngầm khác nhau. Đối với làng Đầu Quỷ thì đây là một nguồn dự trữ nước quý báu, đồng thời là một khu đầm ma mị đáng sợ với độ sâu mà ai lỡ rơi xuống đều không ngoi lên nổi. Đầm rộng như vậy nhưng ngoài mấy con kì nhông sơn tiêu với lớp da khiến người ta ghê sợ thỉnh thoảng ngụp lặn ra thì thật kì lạ là chẳng hề có loài thủy sinh nào khác cư ngụ cả.
Nguyên một ngày hôm đó, cảnh sát và hội thanh niên làng đã lùng sục khắp đầm. Người ta chèo xuồng len lỏi giữa đám hoa bèo nở rộ, quăng lưới và thọc sào tre xuống nước để tìm kiếm, nhưng rốt cuộc chẳng thu hoạch được gì.
Nguyên nhân chính có lẽ bắt nguồn từ sự thiếu nhiệt tình của đám thanh niên… Nghĩ cho kĩ thì cũng chẳng phải điều gì khó đoán. Đối với các thanh niên đầy sức sống kia thì chuyện sinh tử của một lão già ngớ ngẩn như Hoan vốn chẳng có gì đáng quan tâm. Và trên hết thì chẳng có gì khẳng định là thi thể của Hoan bị ném xuống đầm cả. Thêm vào đó, cơn mưa dông tối mùng 10 vô tình đã trở thành đồng phạm đắc lực cho hung thủ (trong trường hợp thực sự có hung thủ). Mọi dấu vết ngoài nhà đều đã bị mưa gió bão bùng gột rửa hết.
Cứ như vậy, những nỗ lực ban đầu nhằm tìm kiếm thi thể đã hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên, một mặt thì công cuộc điều tra đầy tâm huyết của thanh tra Tachibana bắt đầu cho thấy hiệu quả.
Đầu tiên, kết quả khám nghiệm những vết bẩn trong nhà đã được phòng giám định của cảnh sát tỉnh gửi trả vào chiều 14. Theo đó, trong những vết bẩn có Lobeline (C22H27NO3) một chất Alkaloid kịch độc. Chất này thường được tìm thấy ở một loài lỗ bình thuộc họ hoa chuông. Lỗ bình… Chính là loài thực vật mà người trong vùng gọi là sát quan thảo. Chúng sinh sôi ở quanh đầm Thực Nhân. Phải chăng đúng là Hoan đã bị hạ sát bằng độc sát quan thảo?
Thứ hai là báo cáo của điều tra viên Kato, vốn được cử đi Kobe từ tối qua và mới trở về vào chiều 13. Theo đó thì đúng là Kuribayashi Rin đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 27 tháng Tư vừa qua tại quán ăn Beniya do Machida Kotaro làm chủ, địa chỉ 2-36 phường Nishi-yanagiwara, quận Hyogo, thành phố Kobe. Điều tra viên Kato đã gặp bác sĩ viết giấy chứng tử và được biết là bà mất do ung thư thận. Machida Kotaro nói là đã gửi tin báo tử cùng lúc cho Hoan và cho Ito. Ông khẳng định rằng nếu bên Izutsu đã nhận được tin báo thì bên Đầu Quỷ cũng vậy. Còn lá thư bày tỏ nguyện vọng gáo vỡ lại lành là do Tatsuko, con gái Kotaro viết hộ Rin. Vừa thấy lá thư Kato chìa ra, cô đã xác nhận là nét chữ của mình. Tuy nhiên cô không nhớ rõ ngày tháng mà chỉ láng máng có ấn tượng là vào mùa nóng, tháng Tám hoặc Chín gì đó của năm ngoái, tức 1954. Tatsuko rơm rớm nước mắt kể rằng Rin đã dài cổ ngóng chờ hồi âm từ làng Đầu Quỷ, nhưng mãi không thấy gì, cuối cùng bà nản lòng và đột nhiên già yếu hẳn đi. Dẫu sao thì việc lá thư đã đẩy Rin tới tột cùng tuyệt vọng lại đột ngột xuất hiện sau một năm đủ khiến người ta cảm nhận được rằng trên đời này thật chẳng thiếu gì những chuyện kì quái. Liệu có đúng là Hoan không nhận được thư Rin và điện báo tử? Hay là nhận được nhưng vì lý do nào đó mà ông quyết định làm ngơ?
Một bước tiến triển khác của công cuộc điều tra là về chi phí sinh hoạt của Hoan.
“Theo như tôi biết thì…”
Được mời tới ban chuyên án vào chiều 12 là bà chủ Aoike Rika của Nước nóng Kame.
“Ông chủ nhà quan cai có một cậu cháu ở Kobe… hình như tên là Yoshida Junkichi, con của em gái ông. Từ sau chiến tranh thì người này vẫn luôn gửi tiền cho ông… Nhưng đến năm 1952 hoặc 1953 thì Junkichi qua đời… Ông chủ đích thân tới tận Kobe thương thảo với gia quyến họ về việc chu cấp sinh hoạt. Có vẻ kết quả không được như ý nên lúc về ông cứ kêu ca than thở mãi, cơ mà…”
“Cơ mà?”
“Cơ mà sau đấy thì ông không có vẻ gì là túng quẫn cả. Tôi từng hỏi thăm xem thế nào thì nghe bảo là em trai của Junkichi đã nhận lời tiếp tục gửi tiền chu cấp cho ông. Lúc ấy ông chủ tỏ ra khá vui mừng.”
“Em trai tên là gì?”
“Tôi không rõ…”
“Địa chỉ của Yoshida Junkichi là ở đâu?”
“À, ở đây có thư do Yoshida Junkichi gửi đến đấy, trưởng ban…” Điều tra viên Inui ngồi bên cạnh góp lời. Anh lấy trong hộp giấy tờ thu được từ nhà Hoan ra một tệp thư từ, có vài bức đề tên người gửi là Yoshida Junkichi. Địa chỉ là khu 2 phường Sumadera, thành phố Kobe, kèm thêm cả số điện thoại.
“Vậy cậu hãy cử người đi tìm hiểu xem. Có lẽ tới nơi thì sẽ biết được tung tích của người em.”
“Vâng. Để tôi đích thân đi một chuyến xem sao.”
Đến chiều 13 điều tra viên Inui vẫn chưa đi Kobe về. Tuy nhiên, không cần đợi anh ta thì vẫn dễ dàng nhận ra những gì Hoan kể với Rika chẳng qua chỉ là mấy lời đãi bôi. Khi tra cứu dữ liệu của các bưu điện lân cận có nhận chuyển phát tới làng Đầu Quỷ, không hề có dấu tích của giao dịch chuyển tiền nào cho Tatara Hoan từ sau tháng Mười hai năm 1953. Ở thị trấn Soja chỉ có chi nhánh của hai ngân hàng M và S. Cả hai đều không ghi nhận khoản tiền nào chuyển cho Hoan, cũng không ghi nhận khoản tiền nào do ông đứng tên sở hữu.
Nói tóm lại, cho dù Hoan nhận được tiền của ai thì giao dịch đó cũng diễn ra ngay trong làng chứ không phải từ bên ngoài. Hoan đã nói dối Rika…
“Cậu Kindaichi.” Tachibana không giấu nổi phấn khích và không ngần ngại cảm ơn suy luận của Kindaichi về riêng điểm này. “Nhờ cậu mà chúng tôi lần ra mặt tối của Hoan. Ông già này quả không đơn giản chút nào.”
“Vậy là chỉ cần tìm ra ai đã cống tiền cho Hoan nữa thôi,” Isokawa tỏ ra hào hứng, có lẽ là do cảm thấy mối liên hệ đang trở nên rõ nét giữa vụ này với vụ 1932.
“Hay là gọi Rika tới hỏi thêm lần nữa. Xem trong làng ai hay qua lại với Hoan…” Kindaichi đề nghị.
“À, phải, phải. Kimura, qua mời chị Rika tới đây lần nữa giúp tôi với.”
“Rõ!”
Không lâu sau khi tuần tra viên Kimura đi gọi, Rika đã tới ban chuyên án và được nghe thanh tra Tachibana trình bày thắc mắc.
“Anh muốn hỏi ai là người thân nhất với ông chủ nhà quan cai ấy ạ… Ông ấy vốn sành đời, lại chẳng tham lam cái gì của ai bao giờ, rồi còn được cái hiểu sâu biết rộng và khéo miệng nữa nên lúc rảnh nhiều người ghé chơi lắm. Tuy nhiên thân thiết hẳn thì có lẽ chẳng có ai.”
“Nghĩa là giao thiệp rộng nhưng lại chẳng có lấy một người đủ để dốc bầu tâm sự?”
“Vâng, nói vậy không sai…”
“Kahei thì thế nào? Kahei có vẻ mồm mép lắm mà…” Isokawa xen vào câu chuyện.
“Vâng, đúng là nếu gặp thì hai người họ trò chuyện sôi nổi lắm. Nhưng chẳng mấy khi họ chủ động thăm viếng nhau…”
“Hầu như không có luôn sao?”
“Vâng, so với ông chủ Nire thì có lẽ bà cụ tiền chủ nhà hàng hũ còn thân thiết hơn…”
“Bà cụ tiền chủ hàng hũ ở đây là…” Kindaichi thắc mắc.
“À, vâng, xin lỗi. Là nhà Yura ạ. Mọi nhà quanh đây đều gọi tên hiệu như vậy cả.”
“À, là cụ Ioko 82 tuổi, bà chủ nhà Yura thế hệ trước ấy hả?”
“Chú mày biết rõ quá nhỉ,” Isokawa tủm tỉm cười.
“Tại hôm trước em nghe bà chủ Izutsu kể vậy thôi. Nghĩa là Hoan vẫn thường lui tới nhà Yura ư?”
“Vâng, cụ tiền chủ vẫn thường mời ông ấy đến… Nói gì thì nhà quan cai vẫn là dòng họ danh giá nhất trong làng, hai người tuổi tác lại gần nên có lẽ nói chuyện hợp, Nhà Yura mà có của ngon vật lạ gì là bà Atsuko đều mang qua biếu ông chủ nhà quan cai cả. Dân thường chúng tôi luôn cố gắng giữ ý khi tiếp xúc với ông ấy, nhưng chẳng thể so sánh được…”
Utaro, người chồng đã mất của Atsuko chính là nhân vật khơi mào tấn bi kịch năm 1932, nên khi nghe vậy thì trong đầu ai cũng nghĩ ngay tới khả năng vẫn còn uẩn khúc nào đó liên quan tới vụ việc kia.
“Cụ tiền chủ năm nay đã 82 tuổi rồi, không biết sức khỏe thế nào? Phải chăng đã già yếu tới mức không cử động được nữa?”
“Không, cụ vẫn khỏe lắm, thỉnh thoảng còn tới tắm ở chỗ chúng tôi cơ ạ. Tuy lưng thì đã còng như cánh cung nhưng tai mắt cụ vẫn tinh tới mức chẳng ai nghĩ là đã 82 tuổi cả…”
Nói xong, Rika lần lượt nhìn ba người như muốn hỏi tại sao lại muốn biết mấy chuyện này. Bên cạnh vẻ đẹp lạnh lùng, bà sở hữu cả nét điềm tĩnh thận trọng nhưng sắc sảo của phụ nữ Kyoto.
“Cảm ơn cô. Nếu còn gì cần hỏi thì chúng tôi xin phép được làm phiền tiếp sau, mong cô giúp đỡ,” Isokawa bày tỏ lòng biết ơn một cách nồng hậu.
“Vâng… vậy tôi xin phép…” Rika lịch thiệp cúi đầu rồi rời đi.
“Chỉ huy, thế này thì có lẽ phải rà soát lại quan hệ giữa Tatara Hoan và nhà Yura thêm một lượt rồi.”
“Phải thử thôi,” Isokawa tỏ vẻ đồng tình.
Công cuộc điều tra nhìn chung diễn tiến khá thuận lợi, duy chỉ có một vấn đề đi vào ngõ cụt là nguồn gốc của món sushi đậu phụ, dấu vết duy nhất mà bà già kia để lại.
Bản thân món sushi thì nhiều khả năng là tự làm tại gia, nhưng kể cả thế thì vẫn phải có người đi mua đậu phụ. Có mười miếng sushi thừa lại, nên ít ra phải dùng tới năm bìa đậu. Nhưng dù đã nắm rõ danh tính của tất cả những người mua nhiều hơn năm bìa đậu, không chỉ tại hàng đậu phụ trong làng mà cả ở các thôn xóm, thị trấn lân cận, thì vẫn không một ai trong số đó có vẻ gì giống với bà già kì quái kia cả.
“Thôi được rồi, trước tiên cứ ghi lại hết những người đã mua trên năm bìa đậu đã. Đành phải xét từng trường hợp một vậy.”
Cứ như vậy, công cuộc điều tra quanh trọng tâm là vụ mất tích của Tatara Hoan tiếp tục được cảnh sát xúc tiến với những thành quả nhất định, cùng lúc thì thanh niên trong làng từng bước hoàn thiện quá trình chuẩn bị cho chương trình ca múa. Sau này người ta mới biết là xen kẽ giữa hai hoạt động đó, còn có một kế hoạch sát nhân ma mị đang được ác quỷ bí mật triển khai.
“Làm sao bây giờ chỉ huy? Hay là cứ để Tachibana lo việc điều tra, còn chúng ta đi xem ca múa nhỉ?”
Kindaichi cùng Isokawa uống cạn hai chai bia và dùng bữa tối xong thì đồng hồ điểm 8 giờ. Tiếng nhạc xập xình phát trên loa như được cơn gió mang tới chỗ họ.
“Ha ha ha, tiên sinh Kindaichi mà quan tâm tới nữ thần nóng bỏng cơ à.”
“Mà cái gì! Nói vậy khác nào xúc phạm em. Với lại ai mới là người dùng nữ thần nóng bỏng làm mồi dụ em đến đây hả?”
“Ha ha ha. Chú mày nói thế thì anh chịu rồi. Vậy hãy qua chiêm ngưỡng dung nhan cô nàng nóng bỏng kia cái nhỉ.”
“… Chỉ huy lạc hậu quá.”
“Chú nói vậy là sao?”
“Nhắc tới một cô nàng gợi cảm, thì giờ ai còn quan tâm dung nhan thế nào nữa. Chẳng phải người ta toàn viết là vòng ba thế nào hay vòng một bao nhiêu đấy sao.”
“Ha ha ha, vậy cái chúng ta chuẩn bị đi xem là mông cô ấy hả, cảm ơn chú đã khai sáng…”
Mình vận áo mỏng mùa hè, hai người vừa đùa cợt vừa rời khỏi Nước nóng Kame vào lúc hơn 8 giờ một chút.
Như đã nói ở trên thì từ Nước nóng Kame đi bộ tới trung tâm làng mất gần một tiếng đồng hồ, nên khi hai người cùng đám đông khách vãng lai từ những vùng lân cận tới được rìa biệt phủ cũ thì đã gần 9 giờ.
“Ồ, đông thật nhỉ.”
“Kindaichi, đi tắt qua đây.”
So với Kindaichi chưa từng đi về phía này lần nào từ hồi đến làng, thì Isokawa nắm rõ đường đi lối lại hơn hẳn. Sau khi băng qua quãng đường tĩnh mịch bên là đồi bên là rừng, họ thấy trước mắt hiện lên ánh đèn sân khấu lấp lánh. Bên dưới sân khấu là đám đông lúc nhúc như kiến.
“Ồ, có vẻ chúng ta tới đúng lúc đấy, chỉ huy ạ. Yukari đang hát trên sân khấu phải không?”
Kindaichi đang định rảo bước tới trước thì bị chỉ huy nắm vạt áo kéo lại.
“Đợi chút đã,” ông thì thào đầy ẩn ý và hất hàm lên chỗ cách đó năm, sáu mét.
Chuyện gì đây?
Tim đập mạnh, Kindaichi đưa mắt nhìn theo hướng Isokawa chỉ. Dưới gốc thông đỏ đại thụ đặc trưng của vùng này là hai cô gái đang đứng nép mình như để tránh cái nhìn của người khác. Cả hai đều mặc áo mỏng mùa hè, nhưng một trong hai đội khăn trùm che kín từ đỉnh đầu tới tận ngang vai.
“Chỉ huy, là ai thế?”
“Satoko nhà Nước nóng Kame đấy. Chú chưa gặp lần nào à?”
“Vâng, vẫn chưa… À, còn người kia là cô phục vụ Miki nhỉ. Nhưng sao Satoko lại đội khăn trùm đầu như vậy?”
“Từ đầu tới chân cô bé đều bị bớt đỏ phủ kín. Nếu không thì khá ưa nhìn đấy. Hãy giả vờ không biết mà đi qua thôi. Kẻo tội cô bé…”
Hai người vừa định cất bước thì lại có bốn thanh niên từ biệt phủ cũ chạy ra. Nhác thấy bóng dáng họ, Satoko định trốn vào rừng nhưng không kịp. Họ đã nhìn thấy cô từ trước rồi.
“Tưởng ai hóa ra bé Satoko! Có gì mà phải trốn?”
Giọng nói này là của Katsuhei. Ba người còn lại là Kanao, Goro và Nire Fumiko.
“A, Satoko, em đến đấy à.” Kanao chỉ nói vậy rồi chuyển chủ đề ngay, giọng nghe chừng cắn rứt. “Mà Miki có biết Yasuko đâu rồi không? Sau đây là tiết mục của Yasuko và Fumiko mà chẳng ai thấy cô ấy đâu cả.”
Miki đưa tay chỉ về phía rừng và nói gì đó.
“Gì cơ!” Tiếng hét thất thanh là của Goro. “Cô ấy đi đâu cùng với một bà già ư? Bà già nào cơ chứ?”
Nghe Miki trả lời tiếp, đến lượt Katsuhei nói với vẻ hoảng hốt, “Này mẹ trẻ, nghe giống bà già tới nhà quan cai quá vậy?”
Cũng lúc này, Isokawa và Kindaichi đã đến chỗ đám thanh niên.
“A, Miki đấy à,” Isokawa cố gắng bắt chuyện một cách tự nhiên để người ta không giật mình. “Chuyện vừa xong là sao thế? Có bà già nào dẫn cô Yasuko đi đâu rồi à?”
Theo lời Miki thì trên đường đến đây, cô và Satoko bắt gặp Yasuko đi cùng một bà già lưng còng như cánh cung, đầu quấn khăn, mặc quần vải trên phồng dưới bó truyền thống, chân đi dép cói…
“Cô Miki không chào hỏi bọn họ à?” Kindaichi hỏi.
“Không ạ. Bé Satoko cứ muốn trốn nên tôi đành núp trong bóng cây đợi họ đi qua.”
Satoko vẫn lặng thinh, mặt quay đi chỗ khác. Chiếc khăn trùm đầu của cô chỉ hở đúng phần mắt.
“Vậy là họ không để ý thấy hai người phải không?”
“Vâng.”
“Lúc đó sắc mặt cô Yasuko thế nào? Có vẻ sợ hãi hay gì không?”
“Tôi không chắc cô ấy có sợ hãi hay không, nhưng rõ ràng là bất ngờ.”
“Cậu Kanao,” Isokawa vẫn cố gắng tiếp tục một cách tự nhiên nhất có thể. “Các cậu hãy chia nhau ra tìm cô Yasuko, được không? Qua nhà Yura hỏi xem Yasuko đã về chưa chẳng hạn… Nếu chưa thì cho người tới bốt tuần tra và Nước nóng Kame gọi cảnh sát tới đây nữa,” giọng ông run run.
Vụ việc càng lúc càng náo động. Sau khi lễ hội kết thúc thì dân làng đổ xô đi tìm kiếm, nhưng cả đêm vẫn không thấy bóng dáng Yasuko đâu cả.
Phải đến tờ mờ sáng hôm sau, thi thể của Yura Yasuko, con gái hàng hũ, mới được phát hiện trong tư thế nước đổ vào miệng qua phễu sau khi được đong bằng hũ, đúng như nội dung của khúc ca tú cầu kia.
❀ ❀ ❀
[1] Cung đàn báo oán, IPM phát hành 2020.
[2] Đảo Ngục Môn, IPM phát hành 2018.
[3] Một chức danh có vai trò giúp lãnh chúa quản lý chính sự ở đơn vị làng xóm. Tương tự lý trưởng.
[4] Irori. Một loại bếp kiêm lò sưởi truyền thống ở nông thôn Nhật Bản, hình vuông, thường được khoét chìm dưới sàn và chỉ mở ra sử dụng vào mùa lạnh.
[5] Vì bếp lò hoạt động nên cái đầu bị cháy hỏng rồi.
[6] Một tổ hợp luật lệ giải pháp nhằm đưa Hoa Kỳ thoát khỏi đại suy thoái kinh tế 1929-1933.
[7] Chỉ Kyoto, Osaka và khu vực lân cận.
[8] 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở (cấp hai), 3 năm trung học phổ thông (cấp ba). Trước đó, chế độ giáo dục dưới đại học của Nhật áp dụng hệ 6-5 (có một giai đoạn trong chiến tranh là 6-4).
[9] Obon là một dịp lễ tưởng nhớ tổ tiên ở Nhật, có nguồn gốc từ ngày Rằm tháng Bảy/Vu Lan. Khi chuyển sang sử dụng lịch dương, phần lớn các địa phương ở Nhật cũng chuyển thời điểm tổ chức lễ Obon sang 15 tháng Tám dương lịch.
[10] Thường được dùng cho người làm các nghề chuyên môn, trí thức…
[11] Khách của làng.
[12] Chỉ phong tục gửi quà cảm ơn người đã quan tâm giúp đỡ mình vào dịp giữa năm (thường trong khoảng tháng Bảy, tháng Tám) của người Nhật.
[13] Lễ Obon đầu tiên của một người sau khi qua đời.
[14] Ăn thịt người.
[15] Cỏ giết quan.
[16] Cryptobranchoidea.