Lời bào chữa

Lời Bào Chữa

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Tựa.

❊ ❊ ❊

Không tài liệu nào có thể xác định chính xác “Lời biện hộ” của Plato liên quan thế nào đến bản bào chữa thực sự của Socrates. Tác phẩm này chắc chắn có chung giọng điệu và tính chất với lời kể của Xenophon, người từng viết trong tập “Memorabilia” rằng Socrates lẽ ra đã được tha bổng “nếu ngài chịu nhượng bộ lòng của các thẩm phán dẫu chỉ đôi chút”; và trong một đoạn khác, dựa trên lời kể của Hermogenes – bạn của Socrates, Xenophon cho hay ngài vốn không thiết tha gì sự sống. Thêm vào đó, dấu hiệu thần thánh đã ngăn cản ngài chuẩn bị bài biện hộ, bản thân Socrates cũng tuyên bố việc đó là thừa thãi, bởi suốt cả cuộc đời ngài đã luôn chuẩn bị cho thời khắc ấy. Toàn bộ bài phát biểu thấm đượm một tinh thần ngạo nghễ, thách thức, khiến người ta có cảm giác ngài “không giống một kẻ khẩn khoản xin xỏ hay một bị cáo, mà tựa như một bậc thầy hay một vị chúa tể đang đứng trên các thẩm phán” (Cic. “de Orat.” i. 54). Lối hành văn tản mạn, phóng khoáng ấy chính là sự mô phỏng lại “phong cách quen thuộc” mà Socrates thường dùng khi trò chuyện ở “nơi công cộng và giữa những quầy hàng của các đổi tiền gia”. Lời ám chỉ trong tác phẩm “Crito” (45 B) có lẽ cũng có thể được viện dẫn như một minh chứng bổ sung cho độ chính xác từng câu chữ của một vài phần (37 C, D). Dù vậy, nhìn chung, tác phẩm này phải được xem là hình mẫu lý tưởng về Socrates theo quan niệm của Plato, xuất hiện tại sân khấu vĩ đại và công khai nhất trong cuộc đời ngài – vào đỉnh cao của sự khải hoàn, dẫu ngài là kẻ yếu thế nhất, nhưng quyền uy của ngài đối với nhân loại lại đạt đến độ lớn lao nhất, nơi sự mỉa mai quen thuộc khoác lên mình một ý nghĩa mới và mang một vẻ bi tráng trước ngưỡng cửa cái chết. Những sự kiện trong cuộc đời ngài được tổng kết lại, và những nét tính cách của ngài được khắc họa rõ nét tựa như một sự tình cờ trong suốt tiến trình của bài biện hộ. Lối trò chuyện đàm đạo, vẻ như thiếu đi sự sắp đặt bố cục, cùng sự ngây thơ mang tính mỉa mai, tất cả hòa quyện để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ, chính là bức chân dung đích thực về Socrates.

Tuy vậy, một số chủ đề trong đó có lẽ đã thực sự được Socrates sử dụng, và âm hưởng từ chính những lời của ngài có thể vẫn còn văng vẳng bên tai người học trò. “Lời biện hộ” của Plato nhìn chung có thể được đặt lên bàn cân so sánh với những bài diễn thuyết trong tác phẩm của Thucydides – nơi nhà sử học đã gửi gắm quan niệm của mình về tầm vóc cao cả cùng đường lối chính trị của vị nguyên thủ vĩ đại Pericles, đồng thời đưa ra những lời bình giải về cục diện thời cuộc dưới lăng kính của người chép sử. Tương tự như vậy, trong “Lời biện hộ”, ta bắt gặp một chân lý mang tính lý tưởng nhiều hơn là xác thực theo từng con chữ; có rất nhiều điều được bày tỏ vốn chưa từng được nói ra, và đó chỉ là góc nhìn của riêng Plato về hoàn cảnh lúc bấy giờ. Plato không phải là một người ghi chép biên niên sử các sự kiện như Xenophon; trong bất kỳ trước tác nào của mình, ông dường như chưa từng theo đuổi sự chính xác tuyệt đối theo nghĩa đen. Do đó, ta không thể dùng các tác phẩm Memorabilia và Symposium của Xenophon – một cây bút thuộc trường phái hoàn toàn khác – để bổ khuyết cho tác phẩm này. Bản Biện hộ của Plato không phải là biên bản ghi lại những lời Socrates đã thốt lên, mà là một công trình nghệ thuật được trau chuốt công phu, thậm chí điều này đúng đến mức có thể sánh ngang với bất kỳ tác phẩm Đối thoại nào. Thậm chí, ta có thể mạn phép thả mộng rằng bản bào chữa thực sự của Socrates có lẽ còn vĩ đại hơn bản bào chữa dưới ngòi bút của Plato, cũng giống như người thầy vĩ đại hơn người học trò. Dẫu ở trường hợp nào đi nữa, hẳn là một số từ ngữ ngài từng dùng đã được ghi nhớ, và một số sự kiện được thuật lại hẳn đã thực sự diễn ra. Thật đáng chú ý khi Plato được cho là đã có mặt tại phiên tòa xét xử (Apol.), trong khi ông lại vắng mặt trong cảnh tượng cuối cùng của tác phẩm “Phædo”. Phải chăng ta đang suy diễn viển vông khi cho rằng ông ngầm gán ấn tín xác thực cho tác phẩm này mà không làm thế với tác phẩm kia? – nhất là khi ta ngẫm ra rằng hai đoạn văn này là những nơi duy nhất Plato tự nhắc đến chính mình. Chi tiết cho hay Plato từng là một trong những người đứng ra bảo lãnh cho khoản tiền phạt mà Socrates tự đề xuất mang vẻ rất xác thực. Đáng ngờ hơn là giai thoại cho rằng Socrates nhận được nguồn cảm hứng đầu tiên thôi thúc ngài dấn thân vào sứ mệnh ưa thích là chất vấn thiên hạ bắt nguồn từ Sấm ngôn Delphi; bởi lẽ ngài chắc hẳn đã phải nổi danh từ trước khi Chaerephon đến cầu cứu nhà tiên tri (Riddell), và câu chuyện đó mang mô típ rất dễ được thêu dệt nên. Nhìn chung, chúng ta đi đến kết luận rằng “Lời biện hộ” hoàn toàn trung thành với khí chất của Socrates, nhưng ta không thể chứng minh được có đúng là từng câu từng chữ trong đó đã thực sự được thốt ra từ miệng ngài hay không. Tác phẩm mang đậm hơi thở của Socrates, nhưng đã được đúc nặn lại trong khuôn hình của Plato.

Trong các tác phẩm Đối thoại khác, không có nhiều trang viết đủ sức sánh ngang với “Lời biện hộ”. Dư âm về người thầy kính yêu ấy có lẽ vẫn hiển hiện trong tâm trí Plato khi ông phác họa những nỗi thống khổ của người Công chính trong tác phẩm “Republic”. Tác phẩm “Crito” cũng có thể được xem như một thứ phần phụ lục cho “Lời biện hộ”, nơi Socrates – dù từng thách thức các thẩm phán – lại được khắc họa là kẻ tuân thủ luật pháp một cách vô cùng cẩn trọng và nghiêm ngặt. Quá trình lý tưởng hóa con người chịu đựng ấy còn được đẩy đi xa hơn nữa trong “Georgias”, nơi chủ trương “chịu đựng bất công vẫn hơn là gây điều ác” được kiên trì bảo vệ; đồng thời nghệ thuật hùng biện cũng bị xem là thứ chỉ hữu ích cho mục đích tự tố giác chính mình. Những điểm tương đồng xuất hiện trong cái gọi là “Lời biện hộ” của Xenophon không đáng để bận tâm, bởi văn bản chứa đựng chúng hiển nhiên là một ngụy thư. Những lời kể trong “Memorabilia” về phiên tòa và cái chết của Socrates nhìn chung đồng điệu với Plato; nhưng chúng đã đánh mất đi thứ hương vị mỉa mai đặc trưng của Socrates vốn có trong ngòi bút của Xenophon.

“Lời biện hộ” hay bản bào chữa cho Socrates dưới ngòi bút Plato được chia thành ba phần: Thứ nhất, phần biện hộ theo đúng nghĩa đen; Thứ hai, lời phát biểu ngắn gọn nhằm xin giảm nhẹ hình phạt; Thứ ba, những lời cuối cùng mang tính chất cảnh báo mang màu sắc tiên tri cùng lời huấn thị.

Phần đầu tiên mở đầu bằng lời tạ lỗi về phong cách đối thoại đời thường của ngài; ngài vẫn luôn là kẻ thù của nghệ thuật hùng biện như từ trước đến nay, và không biết đến thứ hùng biện nào khác ngoài chân lý; ngài sẽ không làm vấy bẩn nhân cách của mình bằng cách ngụy tạo một bài diễn văn. Kẻ buộc tội ngài sau đó được chia thành hai nhóm: Đầu tiên là kẻ buộc tội vô danh – chính là dư luận xã hội. Hầu hết mọi người từ thuở ấu thơ đều từng nghe đồn rằng ngài là kẻ làm đồi bại giới trẻ, và từng tận mắt thấy ngài bị đem ra chế giễu qua những bức biếm họa trong vở kịch “Clouds” của Aristophanes. Thứ hai là những kẻ cáo buộc chuyên nghiệp, những kẻ thực chất chỉ là phát ngôn viên cho đám đông kia. Lời buộc tội của cả hai phe có thể được tóm gọn trong một công thức. Nhóm thứ nhất cho rằng: “Socrates là kẻ làm điều ác và là một kẻ tò mò, chuyên soi mói những sự vật dưới lòng đất và trên bầu trời; kẻ biến điều tồi tệ thành điều hay ho hơn và truyền dạy tất cả những điều đó cho người khác.” Nhóm thứ hai buộc tội: “Socrates là kẻ làm điều ác và làm đồi bại thanh niên, kẻ không tôn thờ những vị thần mà nhà nước tôn thờ, lại đi tôn vinh những thần linh mới lạ khác.” Những lời cuối này có lẽ chính là bản cáo trạng đích thực (so sánh với Xen. Mem.); và công thức trước đó, vốn là sự tóm lược ý kiến công chúng, cũng mang phong cách pháp lý tương tự.

Phần đáp từ bắt đầu bằng việc làm sáng tỏ một sự hiểu lầm. Qua sự thể hiện của các nhà thơ trào phúng và trong mắt đại đa số quần chúng, ngài từng bị đánh đồng với những bậc thầy nghiên cứu tự nhiên học và phái Biện sĩ (Sophists). Nhưng đó là một sự nhầm lẫn. Trước tòa, ngài bày tỏ lòng tôn trọng đối với cả hai nhóm này, điều tạo nên sự tương phản rõ rệt với cách ngài nói về họ ở những nơi khác (Về Anaxagoras, hãy xem Phædo, Laws; về phái Biện sĩ, hãy xem Meno, Republic, Tim., Theaet., Soph., v.v.). Song song đó, ngài cũng chứng minh rằng bản thân mình không thuộc về họ. Ngài hoàn toàn mù tịt về triết học tự nhiên; không phải vì ngài coi thường những bộ môn ấy, mà thực tế là ngài chẳng biết gì về chúng và chưa từng thốt ra một lời nào về chúng. Ngài cũng không nhận tiền thù lao để dạy học – đó lại là một quan niệm sai lầm khác: ngài chẳng có gì để dạy cả. Tuy vậy, ngài vẫn ca ngợi Evenus vì đã dạy về đức hạnh với mức học phí “khiêm tốn” là năm mina. Đâu đó ẩn giấu tại đây là chút ít “sự mỉa mai quen thuộc”, thứ mà người ta có lẽ nên mong đợi sẽ trôi tuột đi mà không lọt vào tai đám đông.

Ngài tiếp tục giải thích nguyên nhân khiến danh tiếng của mình lại tồi tệ đến vậy. Điều đó bắt nguồn từ một sứ mệnh đặc biệt mà ngài đã tự nguyện gánh vác trên vai. Chàng thanh niên đầy nhiệt huyết Chaerephon (có lẽ tiên đoán trước được câu trả lời mà mình sẽ nhận được) đã đến Delphi và thỉnh cầu thần linh xem có ai khôn ngoan hơn Socrates hay không; và câu trả lời nhận được là chẳng có ai khôn ngoan hơn cả. Điều này có thể mang ý nghĩa gì – khi mà một kẻ chẳng biết gì, và thừa nhận mình chẳng biết gì, lại được nhà tiên tri tuyên bố là người khôn ngoan nhất trong thiên hạ? Ngẫm nghĩ về câu trả lời ấy, ngài quyết tâm bác bỏ nó bằng cách đi tìm “một kẻ khôn ngoan hơn”; và trước tiên ngài tìm đến các chính trị gia, rồi tới các nhà thơ, kế đến là những người thợ thủ công, nhưng kết quả thu về vẫn y một giuộc – ngài nhận ra rằng họ chẳng biết gì, hoặc hầu như chẳng biết gì nhiều hơn ngài; và chút lợi thế ít ỏi mà một số người trong số họ sở hữu đã bị lu mờ hoàn toàn bởi sự kiêu ngạo về tri thức của chính họ. Ngài chẳng biết gì, và tự biết rõ mình chẳng biết gì: họ thì biết rất ít hoặc chẳng biết gì sảng, nhưng lại ảo tưởng rằng mình thông tuệ tất cả mọi thứ. Cứ thế, ngài đã trải qua phần lớn cuộc đời như một thứ nhà truyền giáo đi vạch trần cái gọi là trí tuệ giả tạo của nhân loại; và công việc này đã chiếm trọn tâm trí ngài, cuốn ngài ra khỏi cả những công việc chung lẫn việc riêng của gia đình. Những thanh niên thuộc tầng lớp giàu có đã coi việc theo đuổi ngài như một trò tiêu khiển, “và điều đó cũng không kém phần thú vị”. Cũng vì thế mà những mối hận thù cay đắng đã sinh sôi; những kẻ tự xưng là trí thức đã trả thù bằng cách gán cho ngài cái danh kẻ đồi bại thanh niên đê tiện, đồng thời nhắc lại những điệp khúc sáo rỗng về chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa duy vật và triết lý ngụy biện – những lời buộc tội muôn thuở nhằm vào mọi nhà triết học khi người ta chẳng còn gì khác để chỉ trích họ nữa.

Đối mặt với lời buộc tội thứ hai, ngài tiến hành chất vấn Meletus, kẻ đang có mặt tại tòa và hoàn toàn có thể bị chất vấn. “Nếu ta là kẻ làm đồi bại, vậy ai là kẻ làm cho các công dân tốt lên?” (So sánh Meno). “Là tất cả mọi người ở khắp mọi nơi.” Nhưng điều đó thật vô lý làm sao, thật trái ngược với mọi quy luật tương tự làm sao! Thật không thể tưởng tượng nổi rằng ngài lại đi làm cho các công dân trở nên tồi tệ hơn trong khi bản thân ngài lại phải sống chung với họ. Chắc chắn điều này không thể xuất phát từ dụng ý xấu; và nếu đó là sự vô tình, lẽ ra Meletus phải dạy bảo ngài chứ không phải lôi ra tòa xét xử.

Nhưng bản cáo trạng còn có một khía cạnh khác, cáo buộc rằng ngài dạy con người ta không tôn thờ những vị thần mà thành phố tôn thờ, mà lại thờ phụng những vị thần mới khác. “Đó có phải là cách mà ta bị cho là đang làm đồi bại giới trẻ hay không?” “Phải, chính là thế.” “Ta chỉ có những vị thần mới, hay hoàn toàn chẳng có vị thần nào cả?” “Hoàn toàn không có vị thần nào.” “Cái gì, thậm chí cả mặt trời và mặt trăng cũng không ư?” “Không; chao ôi, hắn ta bảo rằng mặt trời là một hòn đá, còn mặt trăng là đất.” Socrates đáp lại rằng, đó chỉ là sự nhầm lẫn muôn thuở về Anaxagoras; người dân Athens không đến nỗi vô tri đến mức quy cho ảnh hưởng của Socrates những tư tưởng vốn đã len lỏi vào các vở kịch và có thể học được ngay tại nhà hát. Socrates đứng ra chỉ ra rằng Meletus (có phần không mảy may chính xác) đang cố nhồi nhét một câu đố vào phần này của bản cáo trạng: “Không có thần linh nào cả, nhưng Socrates lại tin vào sự tồn tại của những người con của thần linh, điều đó thật vô lý.”

Gác lại Meletus – kẻ đã ngốn quá nhiều lời lẽ, ngài quay trở lại với cáo buộc ban đầu. Người ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao ngài cứ khăng khăng theo đuổi một nghề nghiệp đẩy bản thân đến cõi chết? Tại sao ư? – bởi vì ngài buộc phải bám trụ lấy vị trí của mình ở nơi mà thần linh đã đặt để, giống như cách ngài từng đứng vững tại Potidaea, Amphipolis, và Delium, nơi các vị tướng đã phân công ngài ở lại. Hơn thế nữa, ngài không hề thông thái đến mức tự ảo tưởng rằng mình biết rõ cái chết là điều lành hay điều dữ; nhưng ngài chắc chắn một điều rằng việc đào ngũ khỏi nhiệm vụ của mình mới chính là điều ác. Anytus hoàn toàn có lý khi nói rằng lẽ ra họ không nên đưa ngài ra tòa nếu họ có ý định thả cho ngài đi. Bởi vì ngài chắc chắn sẽ vâng lời thần linh hơn là vâng lời con người; và ngài sẽ tiếp tục rao giảng cho mọi người ở mọi lứa tuổi về sự cần thiết của đức hạnh và sự tự hoàn thiện; và nếu họ khước từ việc lắng nghe, ngài vẫn sẽ kiên định tới cùng và quở trách họ. Đó chính là cách ngài làm đồi bại giới trẻ, và ngài sẽ không ngừng tuân theo mệnh lệnh của thần linh để thực hiện nó, dẫu cho hàng ngàn cái chết đang chờ đón phía trước.

Ngài tha thiết mong họ để cho mình được sống – không phải vì lợi ích của bản thân, mà vì lợi ích của chính họ; bởi vì ngài là sứ giả do trời phái xuống dành cho họ (và họ sẽ chẳng bao giờ tìm được một người thứ hai như thế), hay nói theo cách trào phúng, ngài chính là con ruồi trâu luôn đánh thức con chiến mã cao quý bừng tỉnh và chuyển động. Vậy tại sao ngài chưa từng tham gia vào các công việc chính sự công cộng? Bởi vì tiếng nói thần thánh quen thuộc đã ngăn cản ngài; nếu ngài bước chân vào chính trường và chiến đấu cho lẽ phải, như ngài chắc chắn sẽ chiến đấu chống lại đám đông, ngài đã chẳng thể sống sót và do đó chẳng thể làm được điều ích lợi gì. Đã hai lần trong các vấn đề công cộng, ngài đánh cược cả sinh mạng vì sự công bằng – một lần trong phiên tòa xét xử các vị tướng; và một lần nữa khi chống lại những mệnh lệnh chuyên quyền của nhóm Bốn Mươi (Thirty).

Nhưng dẫu không phải là một chính trị gia, ngài vẫn dành trọn những ngày tháng đời mình để hướng dẫn các công dân mà chẳng đòi hỏi bất kỳ khoản phí hay phần thưởng nào – đó chính là sứ mệnh của ngài. Dù cho các môn đồ của ngài sau này có trở nên tốt hay xấu, ngài cũng không thể gánh chịu trách nhiệm một cách bất công về kết quả ấy, bởi ngài chưa từng hứa hẹn sẽ dạy dỗ họ bất cứ điều gì. Họ có thể đến nếu muốn, và có thể ở nhà nếu không thích: và họ đã đến, bởi họ tìm thấy niềm vui trong việc nghe những kẻ giả danh trí thức bị vạch trần. Nếu họ đã bị tiêm nhiễm thói hư tật xấu, những người thân thích lớn tuổi của họ (nếu không muốn nói là chính bản thân họ) hoàn toàn có thể bước lên tòa để làm chứng chống lại ngài, và cơ hội để họ xuất hiện vẫn còn đó. Thế nhưng, tất cả các người cha và người anh của họ đều có mặt tại tòa (bao gồm cả “vị” Plato này), để đứng lên làm chứng cho ngài; và nếu như những người thân của họ đã bị làm cho đồi bại, thì chí ít bản thân những người trẻ ấy vẫn hoàn toàn trong sáng; “và họ chính là những nhân chứng của tôi. Bởi vì họ thừa biết rằng tôi đang nói sự thật, còn Meletus đang dối trá.”

Đó hầu như là tất cả những gì ngài muốn bày tỏ. Ngài sẽ không cầu xin các vị thẩm phán tha thiết rủ lòng thương xót để giữ lại mạng sống cho mình; ngài cũng sẽ không dựng lên tấn trò đời với những đứa trẻ đang khóc lóc thảm thiết, dẫu cho bản thân ngài cũng không hề được tạc bằng “đá hay gỗ sồi”. Bản thân một số vị thẩm phán có lẽ từng nhượng bộ trước tiền lệ này trong những hoàn cảnh tương tự, và ngài tin rằng họ sẽ không nổi giận với ngài chỉ vì ngài từ chối noi theo tấm gương ấy. Nhưng ngài cảm thấy rằng hành vi đó chỉ mang lại vết nhơ cho danh dự của Athens; ngài cũng cảm nhận sâu sắc rằng một vị thẩm phán đã tuyên thệ là không thiên vị khi ban phát công lý; và ngài không thể phạm vào tội bất kính khi cất lời nài nỉ một vị thẩm phán phá bỏ lời thề thiêng liêng ấy, trong khi chính bản thân ngài đang bị xét xử vì tội bất kính.

Đúng như những gì ngài đã đoán trước, và có lẽ cũng là điều ngài thầm mong muốn, ngài bị kết án có tội. Và giờ đây, thay vì trở nên mềm mỏng hơn, giọng điệu trong bài phát biểu của ngài lại càng trở nên cao ngạo và đanh thép hơn. Anytus đề xuất mức án tử hình: và ngài sẽ đưa ra hình phạt đối ứng nào đây? Bản thân ngài – ân nhân của người dân Athens, người đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời để làm những điều tốt đẹp cho họ – ít ra cũng phải được hưởng phần thưởng dành cho nhà vô địch Olympic là được nuôi dưỡng tại tòa thị chính Prytaneum. Hoặc hà cớ gì ngài phải đề xuất một hình phạt thay thế nào khác trong khi ngài còn chẳng biết cái chết – thứ mà Anytus đang đề nghị – là phúc hay họa? Hơn nữa, ngài chắc chắn rằng cảnh ngục tù là một điều tệ hại, và việc sống lưu vong cũng là một thảm họa. Mất mát tiền bạc có lẽ cũng là một điều xấu, nhưng ngài lại chẳng có xu dính túi nào để mà dâng nộp; có lẽ ngài chỉ gom góp lại được chừng một mina. Hãy để đó là mức phạt, hoặc nếu các bằng hữu của ngài muốn, thì là ba mươi mina; và họ sẽ là những người bảo lãnh vô cùng xuất sắc cho khoản tiền đó.

[Ngài bị kết án tử hình.]

Ngài vốn đã là một ông lão từ lâu, và người dân Athens sẽ chẳng thu về được gì ngoài sự ô nhục khi tước đoạt đi của ngài vài năm ngắn ngủi cuối đời. Có lẽ ngài đã có thể trốn thoát, nếu ngài chọn cách hạ vũ khí đầu hàng và quỳ lạy van xin ơn tha mạng. Nhưng ngài không hề hối hận chút nào về cách thức mà ngài đã chọn để biện hộ cho mình; ngài thà chết theo cách của riêng mình còn hơn phải sống theo cách của họ. Bởi vì hình phạt dành cho kẻ bất nghĩa đến nhanh hơn cả cái chết; hình phạt đó đã giáng xuống những kẻ cáo buộc ngài, cũng như cái chết sẽ sớm trùm lên ngài vậy.

Và giờ đây, với tư cách là một kẻ sắp bước sang thế giới bên kia, ngài sẽ cất lời tiên tri cho họ. Họ đã kết án tử hình ngài nhằm trốn chạy khỏi nghĩa vụ phải giải trình về lối sống của chính họ. Thế nhưng cái chết của ngài “sẽ là hạt giống” gieo mầm cho vô số môn đồ mới, những kẻ sẽ vạch trần con đường tội lỗi của họ, và sẽ xuất hiện để quở trách họ bằng những lời lẽ cay nghiệt hơn, bởi họ còn trẻ tuổi hơn và bồng bột hơn.

Ngài muốn được nói đôi lời, khi thời gian vẫn còn cho phép, gửi đến những người đã muốn tha bổng cho ngài. Ngài muốn họ biết rằng dấu hiệu thần thánh chưa từng một lần cất tiếng ngăn cản ngài trong suốt tiến trình của bản biện hộ; lý do cho điều đó, theo ngài phỏng đoán, là bởi cái chết mà ngài sắp sửa bước vào là một phước lành chứ không phải tai họa. Bởi vì cái chết hoặc sẽ là một giấc ngủ dài, một giấc ngủ ngon nhất, hoặc là một cuộc hành trình sang một thế giới khác – nơi linh hồn của những người đã khuất quy tụ lại với nhau, và là nơi người ta có thể nuôi hy vọng được diện kiến các anh hùng thuở xưa – nơi cũng có những vị thẩm phán công minh; và vì tất cả đều bất tử, sẽ chẳng còn phải sợ hãi việc bất kỳ ai bị phán án tử hình chỉ vì những quan điểm của mình.

Chẳng có điều tồi tệ nào có thể giáng xuống một người tốt dù là khi sống hay lúc chết, và cái chết của ngài đã được các vị thần ưng thuận, bởi vì việc ra đi lúc này là tốt hơn cho ngài; và do đó ngài tha thứ cho các thẩm phán bởi họ chưa từng gây tổn hại gì cho ngài, dẫu cho họ chẳng bao giờ có ý định làm điều tốt cho ngài cả.

Ngài còn một thỉnh cầu cuối cùng muốn gửi gắm đến họ – rằng hãy làm phiền những đứa con trai của ngài y như cách ngài từng làm phiền họ, nếu chúng tỏ ra chuộng sự giàu sang hơn là đức hạnh, hay ảo tưởng rằng mình là một cái gì đó trong khi chúng chẳng là gì cả.

“Sẽ hiếm có ai ước rằng Socrates đã tự biện hộ theo một cách khác đi,” – nếu như, như chúng ta phải nói thêm, bản bào chữa của ngài chính là những gì mà Plato đã trang bị cho ngài. Nhưng gác lại câu hỏi này, thứ vốn không có lời giải chính xác tuyệt đối, chúng ta hãy tiếp tục chất vấn xem ấn tượng mà Plato muốn truyền tải qua “Lời biện hộ” về nhân cách và hành xử của người thầy trong cảnh tượng vĩ đại cuối cùng là gì? Phải chăng ông có ý định khắc họa ngài (1) là kẻ dùng những lý lẽ ngụy biện; (2) là kẻ cố tình chọc giận các thẩm phán? Hay những ngụy biện ấy phải được xem là thuộc về thời đại mà ngài đang sống cùng với cá tính riêng của ngài, và vẻ kiêu kỳ hiển hiện đó chỉ tuôn chảy từ sự cao cả tự nhiên trong vị thế của ngài?

Chẳng hạn, khi ngài nói rằng thật vô lý khi cho rằng chỉ có một kẻ duy nhất làm đồi bại giới trẻ còn tất cả phần nhân loại còn lại thì làm họ tốt lên; hay khi ngài lập luận rằng ngài chưa bao giờ có thể làm đồi bại những kẻ mà ngài phải sống chung; hoặc khi ngài chứng minh niềm tin của mình vào các vị thần chỉ vì ngài tin vào những người con của thần linh, thì ngài đang nghiêm túc hay chỉ nói đùa? Có thể nhận thấy rằng tất cả những ngụy biện này đều xuất hiện trong màn chất vấn của ngài với Meletus – kẻ vốn rất dễ bị khuất phục và đánh bại trong tay vị đại biện sĩ này. Có lẽ ngài coi những câu trả lời đó là quá đủ đối với kẻ cáo buộc mình, một kẻ mà ngài hoàn toàn xem nhẹ. Thêm vào đó, ẩn chứa trong những câu nói ấy là một chút sắc thái mỉa mai, giúp đưa chúng ra khỏi phạm trù của thói ngụy biện. (So sánh Euthyph.)

Khó lòng có thể chối cãi rằng cách thức ngài tự bào chữa về lối sống của các môn đồ nhà mình là chưa thỏa đáng. Hằn sâu trong trí nhớ của người dân Athens, và đáng bị căm ghét đúng như những gì họ xứng đáng phải chịu đựng trước nền dân chủ vừa mới được khôi phục, chính là tên tuổi của những kẻ như Alcibiades, Critias, Charmides. Hiển nhiên là sẽ không đủ sức thuyết phục nếu chỉ đáp lại rằng Socrates chưa từng mở lớp dạy bảo họ bất cứ điều gì, và do đó không thể gánh chịu trách nhiệm một cách công bằng về những tội ác của họ. Thế nhưng, nếu gột bỏ lớp vỏ mỉa mai ấy đi, bản bào chữa thực ra lại rất vững chắc: rằng việc dạy học của ngài chẳng dính dáng gì đến lối sống đồi trụy của họ. Ở đây, thói ngụy biện nằm ở hình thức nhiều hơn là bản chất, dẫu cho chúng ta có thể ao ước rằng trước một cáo trạng nghiêm trọng nhường ấy, Socrates đã đưa ra một câu trả lời mang tính nghiêm túc hơn.

Mang đậm dấu ấn đặc trưng của Socrates là một điểm khác trong câu trả lời của ngài, thứ cũng có thể bị xem là mang tính ngụy biện. Ngài nói rằng “nếu ngài đã làm đồi bại giới trẻ, thì ngài hẳn phải làm điều đó một cách bất đắc dĩ”. Nhưng nếu như, theo lập luận của Socrates, mọi sự dữ đều xảy ra một cách không tự nguyện, thì tất cả những kẻ tội phạm lẽ ra phải được nhắc nhở khuyên bảo chứ không phải chịu trừng phạt. Trong những lời này, học thuyết Socratic về tính không tự nguyện của cái điều ác rõ ràng được ngài ngầm truyền tải. Lại một lần nữa, giống như trường hợp trước, lời biện hộ của Socrates hoàn toàn không đúng đắn trên thực tế, nhưng có thể lại đúng ở một tầng nghĩa lý tưởng hoặc siêu việt nào đó. Câu trả lời sáo rỗng rằng nếu ngài thực sự phạm tội làm đồi bại thanh niên thì những người thân thích của họ chắc chắn đã đứng ra làm chứng chống lại ngài – câu nói mà ngài dùng để khép lại phần này của bài biện hộ – lại mang tính thuyết phục hơn.

Lại nữa, khi Socrates lập luận rằng ngài buộc phải tin vào các vị thần bởi vì ngài tin vào những người con của thần linh, chúng ta phải ghi nhớ rằng đây không phải là một sự bác bỏ đối với bản cáo trạng ban đầu vốn rất mạch lạc – “Socrates không tôn thờ các vị thần mà thành phố tôn thờ, mà lại thờ phụng những thần linh mới khác” – mà là sự bác bỏ cách giải thích xuyên tạc được gán cho những câu chữ ấy bởi Meletus, kẻ từng khẳng định rằng ngài đích thực là một kẻ vô thần tận gốc. Đối lại điều này, Socrates đưa ra câu trả lời rất xác đáng, phù hợp với hệ tư tưởng thời đại bấy giờ, rằng một kẻ vô thần tận gốc thì không thể nào tin vào những người con của thần linh hay những sự vật thần thánh. Quan niệm cho rằng các á thần hay các bậc thần linh thứ cấp chính là con của các vị thần không nên bị xem là mang tính mỉa mai hay hoài nghi. Ngài đang lập luận theo phương thức “ad hominem” dựa trên những quan niệm thần thoại đang thịnh hành trong thời đại của ngài. Dẫu vậy, ngài vẫn tránh né việc tuyên bố rằng bản thân ngài tôn thờ những vị thần được Nhà nước chuẩn nhận. Ngài không tự biện hộ bằng cách viện dẫn thực hành tôn giáo của mình như cách Xenophon đã làm cho ngài. Có lẽ ngài không hoàn toàn tin tưởng, nhưng cũng chẳng hoàn toàn hoài nghi về sự tồn tại của các vị thần dân gian; ngài chẳng có phương tiện nào để thấu tỏ về họ cả. Theo Plato (so sánh Phædo; Symp.) lẫn Xenophon (Memor.), ngài luôn vô cùng cẩn trọng trong việc thực thi dù là những nghĩa vụ tôn giáo nhỏ nhặt nhất; và ngài chắc chắn phải có niềm tin vào dấu hiệu tiên tri của chính mình, thứ mà ngài cảm nhận được như một thứ chứng nhân nội tại. Thế nhưng, sự tồn tại của Apollo hay Zeus, hay những vị thần khác được Nhà nước công nhận, hẳn đã hiển hiện trong mắt ngài vừa mơ hồ vừa kém phần quan trọng khi đặt lên bàn cân so sánh với sứ mệnh tự vấn bản thân, cùng những nguyên tắc về chân lý và lẽ phải mà ngài vẫn đinh ninh là nền móng của tôn giáo. (So sánh Phaedr.; Euthyph.; Republic.)

Câu hỏi thứ hai, liệu Plato có cố tình khắc họa Socrates là kẻ đang thách thức hay chọc giận các thẩm phán hay không, cũng phải được trả lời bằng một chữ “không”. Sự mỉa mai, sự vượt trội, vẻ táo bạo của ngài – thứ “không màng đến thân phận của bất kỳ kẻ phàm trần nào” – hoàn toàn tuôn chảy một cách tự nhiên từ sự cao cả trong vị thế của ngài. Ngài không hề đang diễn một vở kịch trong một sự kiện trọng đại, mà ngài chính là con người mà ngài vẫn hằng là trong suốt cuộc đời mình, một “vị vua của muôn người”. Ngài thà không tỏ ra xấc láo nếu như có thể tránh được điều đó (ouch os authadizomenos touto lego). Ngài cũng chẳng hề tha thiết đẩy nhanh cái chết của chính mình, bởi sự sống và cái chết đối với ngài vốn dĩ chỉ là những thứ dửng dưng như nhau. Nhưng ngài không có bản tính để cất lên một bài biện hộ làm vừa lòng các thẩm phán hay có thể đem lại cho ngài một phán quyết tha bổng. Ngài sẽ không nói hay làm bất cứ điều gì có thể làm lệch lạc dòng chảy của công lý; lưỡi của ngài không thể bị bịp kín ngay cả khi đang ở “ngưỡng cửa của cái chết”. Với những kẻ cáo buộc mình, ngài chỉ đùa giỡn và đấu kiếm, hệt như cách ngài từng đấu kiếm với những “kẻ làm cho giới trẻ tốt lên” khác, đáp trả những lời ngụy biện của phái Biện sĩ xuyên suốt cả cuộc đời ngài. Ngài chỉ thực sự nghiêm túc khi nói về sứ mệnh của chính mình, điều dường như tách biệt ngài khỏi tất cả các nhà cải cách nhân loại khác, và khởi nguồn từ một sự tình cờ. Việc ngài hiến dâng bản thân cho công cuộc cải thiện đời sống của các đồng bào mình không đáng kinh ngạc bằng tinh thần mỉa mai mà ngài mang theo khi dấn thân làm việc thiện, vốn chỉ để minh oan cho uy tín của nhà tiên tri, và nuôi hy vọng viển vông là tìm kiếm một kẻ khôn ngoan hơn chính mình. Thế nhưng, tính chất kỳ lạ và hầu như mang tính tình cờ ấy trong sứ mệnh của ngài lại hoàn toàn ăn khớp với dấu hiệu thần thánh – thứ, theo quan niệm của chúng ta, cũng mang tính ngẫu nhiên và phi lý y như vậy, nhưng dẫu thế vẫn được ngài đón nhận như nguyên tắc dẫn đường cho cuộc đời mình. Chẳng có đoạn nào miêu tả Socrates như một kẻ tự do tư tưởng hay một kẻ hoài nghi cả. Không có lý do gì để nghi ngờ sự chân thành của ngài khi ngài chiêm nghiệm về viễn cảnh có thể diện kiến và thấu hiểu các vị anh hùng trong cuộc chiến thành Troy ở một thế giới khác. Mặt khác, niềm hy vọng về sự bất tử trong ngài vẫn mang tính mơ hồ; ngài cũng hình dung cái chết như một giấc ngủ dài (điểm này khác với tác phẩm Phædo), và cuối cùng quay trở lại với sự phó mặc cho ý chí thần thánh cùng niềm tin chắc chắn rằng không một điều ác nào có thể giáng xuống người tốt dù là khi sống hay lúc chết. Sự chân thực tuyệt đối của ngài dường như ngăn cản ngài khẳng định một cách đoan chắc vượt quá giới hạn đó; và ngài không hề cố gắng che đậy sự dốt nát của mình đằng sau lớp vỏ thần thoại hay những ẩn dụ hoa mỹ. Sự ôn hòa ở phần đầu của bài phát biểu tạo nên sự tương phản mạnh mẽ với giọng điệu gay gắt, gần như mang tính đe dọa ở phần kết luận. Ngài có một nét đặc trưng là tuyên bố sẽ không cất lời như một nhà hùng biện, nghĩa là ngài sẽ không dựng lên một bài biện hộ bài bản giống như cách Lysias hay một diễn giả nào đó từng soạn sẵn cho ngài, hoặc theo một vài lời kể, đã thực sự soạn cho ngài. Nhưng trước hết ngài tự mở đường cho tiếng nói của mình được lắng nghe bằng những lời lẽ hòa dịu. Ngài không công kích phái Biện sĩ; bởi họ cũng phải đối mặt với những lời buộc tội y hệt như ngài; họ cũng chịu chung cảnh ngộ bị các nhà thơ trào phúng chế giễu, và mức độ bị căm ghét cũng xấp xỉ ngang ngửa trong mắt Anytus và Meletus. Dẫu vậy, một cách ngẫu nhiên, sự đối kháng ngầm giữa Socrates và phái Biện sĩ vẫn phảng phất xuất hiện. Ngài nghèo khó trong khi họ giàu sang; tuyên bố của ngài rằng bản thân chẳng dạy dỗ ai lại đối lập hoàn toàn với sự sẵn sàng truyền đạt mọi thứ của họ; thói quen trò chuyện ngoài chợ búa của ngài đối với những bài giảng riêng tư của họ; lối sống gắn bó một chỗ với quê nhà của ngài đối với hành trình rày đây mai đó qua các thành phố của họ. Giọng điệu mà ngài dùng đối với họ mang sắc thái của sự thân thiện thực sự, nhưng đồng thời cũng ẩn giấu sự mỉa mai sâu cay. Đối với Anaxagoras – kẻ từng làm ngài thất vọng trong những kỳ vọng được học hỏi về tâm thức và tự nhiên, ngài tỏ ra ít thiện cảm hơn, và đó cũng là thái độ của Plato trong những tác phẩm khác (Laws). Thế nhưng Anaxagoras đã qua đời từ ba mươi năm trước và nằm ngoài tầm với của mọi sự bức hại.

Người ta từng nhận xét rằng lời tiên tri về một thế hệ giáo viên mới – những kẻ sẽ quở trách và khuyên răn người dân Athens bằng những ngôn từ khắc nghiệt và bạo liệt hơn – cho đến nay chúng ta được biết, chưa bao giờ ứng nghiệm. Không thể rút ra bất kỳ suy luận nào từ hoàn cảnh này về xác suất liệu những lời lẽ được gán cho ngài có thực sự được thốt ra hay không. Chúng diễn tả khát vọng của vị tử đạo đầu tiên của triết học, rằng ngài sẽ để lại cho đời vô số môn đồ kế thừa, đi kèm với tâm lý hoàn toàn dễ hiểu rằng họ sẽ trở nên dữ dội và bồng bột hơn trong lời ăn tiếng nói một khi đã thoát khỏi sự kiềm tỏa của ngài.

Những nhận định trên phải được hiểu là chỉ áp dụng với bất kỳ mức độ chắc chắn nào cho riêng nhân vật Socrates dưới ngòi bút của Plato. Bởi vì, dẫu cho những lời lẽ này hoặc tương tự như vậy có thể từng được chính Socrates thốt lên, chúng ta không thể loại trừ khả năng rằng, giống như bao yếu tố khác – ví như sự khôn ngoan của Critias, bài thơ của Solon, hay những đức tính của Charmides – chúng có thể chỉ là sản phẩm xuất phát từ trí tưởng tượng của Plato. Lập luận của những ai chủ trương rằng tác phẩm Lời biện hộ được sáng tác ngay trong tiến trình phiên tòa, vốn không dựa trên bất kỳ bằng chứng nào, nên không cần phải đem ra phản bác một cách nghiêm túc. Những lý lẽ của Schleiermacher – người cho rằng bản bào chữa của Plato là sự tái hiện chính xác hoặc gần như chính xác từng câu chữ của Socrates, một phần vì Plato sẽ không phạm vào tội bất kính khi dám cải biên chúng, và cũng vì nhiều điểm trong bài biện hộ vốn có thể được trau chuốt và gia cố thêm – cũng chẳng hề mang tính thuyết phục hơn chút nào. (Xem Bản dịch tiếng Anh). Tác động mà cái chết của Socrates đã tạo ra trong tâm trí Plato là điều chúng ta không thể chắc chắn xác định; chúng ta cũng không thể khẳng định ông đã hoặc buộc phải viết thế nào trong hoàn cảnh ấy. Chúng ta nhận thấy rằng sự thù hận của Aristophanes đối với Socrates không hề ngăn cản Plato đưa họ xuất hiện cùng nhau trong tác phẩm Symposium khi họ đang trò chuyện vô cùng thân thiện. Đồng thời, trong các tác phẩm Đối thoại, hoàn toàn không có bất kỳ dấu vết nào cho thấy nỗ lực biến Anytus hay Meletus trở thành những kẻ đáng ghớm ghiếc trong mắt công chúng Athens.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.