Mắt Nào Xanh Nhất

Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mùa thu

❊ ❊ ❊

Nữ tu đi qua lặng lẽ như dục vọng và đàn ông say rượu, mắt mũi thao láo hát hò trong sảnh khách sạn Hi Lạp. Rosemary Villanucci, con bé hàng xóm sống bên trên quán cà phê của bố nó, ngồi trong chiếc Buick đời 1939 ăn bánh mì với bơ. Nó hạ cửa xe xuống để nói với chị Frieda và tôi là chúng tôi không được vào. Chúng tôi nhìn nó chằm chặp, thèm thuồng bánh mì của nó, nhưng còn thèm moi cái ngạo nghễ trong mắt nó ra và đập bẹp cái kiêu hãnh được sở hữu làm cong cớn cái miệng nhai chóp chép của nó hơn. Bao giờ nó ra khỏi xe chúng tôi sẽ cho nó một trận, quẹt vài vết đỏ trên làn da trắng của nó, rồi thì nó sẽ bù lu bù loa và hỏi chúng tôi có muốn tụt quần nó xuống không. Chúng tôi sẽ nói thôi khỏi. Chúng tôi không biết phải cảm thấy thế nào hay làm gì nếu nó làm vậy, nhưng mỗi lần nó hỏi, chúng tôi biết nó định mời chúng tôi thứ gì đó quý giá và lòng kiêu hãnh của chúng tôi phải được khẳng định bằng cách từ chối không nhận.

Năm học đã bắt đầu, Frieda với tôi được tất nâu mới và viên dầu cá. Người lớn nói giọng cáu kỉnh, mệt mỏi về hãng than Zick và dẫn chúng tôi theo đến chỗ đường ray lúc chiều tối để lượm than vụn vương vãi bỏ đầy bao. Sau đó chúng tôi về nhà, vừa đi vừa ngoái lại xem người ta đổ từng xe to xỉ than, nóng đỏ và bốc khói, xuống con mương chạy men xưởng luyện thép. Lửa sắp tắt thắp sáng bầu trời một quầng cam đục. Frieda với tôi tụt lại phía sau, mắt nhìn chằm chằm mảng màu viền màu đen. Không sao khỏi thấy run rẩy khi bàn chân rời lối đi rải sỏi và giẫm lún trong cỏ úa ngoài đồng.

Căn nhà chúng tôi cũ kĩ, lạnh lẽo và sơn màu xanh lá. Ban đêm một ngọn đèn dầu thắp sáng căn phòng rộng. Những phòng khác chìm trong bóng tối, lúc nhúc gián chuột. Người lớn không nói chuyện với chúng tôi - họ sai bảo. Họ ra lệnh mà không giải thích. Khi chúng tôi vấp ngã họ liếc mắt nhìn; nếu chúng tôi rách tay đứt chân hay bầm mình bầm mẩy, họ hỏi chúng tôi bị khùng rồi hay sao. Khi chúng tôi cảm lạnh, họ lắc đầu ngao ngán vì chúng tôi không biết để ý. Họ hỏi, bây nghĩ còn ai làm ăn gì được nếu bây lăn ra bệnh cả lũ? Chúng tôi không biết trả lời sao. Họ chữa bệnh cho chúng tôi với cái nhìn khinh miệt, thuốc xổ Black Draught hôi ùm, và dầu cá làm mụ cả đầu óc.

Một ngày nọ, đi lượm than về, tôi ho một tiếng, thật to, qua phế quản đặc trít đờm, mẹ tôi cau mày. “Trời đất ơi. Trèo lên giường đi. Tao phải nói mày kiếm cái gì đội đầu bao nhiêu lần đây? Mày chắc là đứa ngu nhất hạng trong thành phố này rồi. Frieda đâu? Kiếm giẻ bịt cái cửa sổ lại.”

Frieda bít lại cửa sổ. Tôi lết tới giường, thấy có lỗi và tủi thân quá chừng. Tôi mặc đồ ngủ đi nằm, kim loại nơi nịt tất đen cạ vào hai giò đau điếng, nhưng tôi không cởi ra, vì nằm không mang tất thì quá lạnh. Mất hồi lâu người tôi mới làm ấm chỗ trên giường. Tạo được quầng hơi ấm rồi thì tôi không dám cục cựa nữa, vì nhích ra phía nào nửa phân cũng lạnh ngắt. Không ai mở miệng nói gì với tôi hay hỏi xem tôi thấy sao. Một hai giờ sau thì mẹ đi lại. Hai bàn tay mẹ to nhám, và khi mẹ chà thuốc mỡ Vicks lên ngực tôi, tôi cứng người vì đau. Mẹ quẹt thuốc một lần đầy hai ngón tay, rồi chà xát ngực tôi cho đến kì tôi ngất đi. Đúng lúc tôi tưởng mình sắp ré lên rồi thì mẹ quẹt chút thuốc trên ngón trỏ rồi đút vào miệng tôi, bắt tôi nuốt. Một tấm vải dạ nóng quấn quanh cổ và ngực tôi. Tôi bị trùm mấy tấm chăn chần dày đụp và ra lệnh phải đổ mồ hôi, mà tôi đổ - ngay tức khắc.

Lát sau tôi nôn thốc ra thì mẹ nói, “Sao mày lại nôn ra khăn trải giường vậy hả? Mày không đủ khôn mà đưa đầu ra ngoài giường à? Coi mày làm gì đó. Mày nghĩ tao rảnh không có việc gì làm chỉ đi giặt bãi nôn cho mày hả?”

Bãi nôn sóng sánh chảy xuôi gối xuống khăn trải giường - xám xanh, vẩy đốm cam. Nó chảy như lòng trứng sống. Lì lợm dính một khối, không chịu nhả ra cho chùi. Tôi tự hỏi sao nó có thể vừa gọn gàng lại vừa dơ bẩn cùng lúc?

Giọng mẹ cứ rề rề. Mẹ không nói với tôi. Mẹ nói với bãi nôn, nhưng mẹ gọi nó bằng tên tôi: Claudia. Mẹ cố hốt hết rồi thả tấm khăn xù xì lên chỗ ướt lan rộng. Tôi nằm xuống lại. Giẻ trên khe cửa số đã rơi xuống, và không khí lạnh ngắt. Tôi không dám gọi mẹ lại mà cũng không sẵn lòng rời chỗ ấm của mình. Cơn giận của mẹ làm tôi thấy nhục; lời mẹ nói xát lên má tôi, và tôi khóc. Tôi không biết là mẹ không giận tôi, mà giận chuyện tôi bệnh. Tôi nghĩ mẹ khinh thường tôi yếu đuối nên để cho “bị” bệnh. Rất sớm thôi tôi sẽ không bị bệnh nữa, tôi sẽ không chịu vậy. Còn giờ thì tôi đang khóc. Tôi biết mình đang chảy thêm nước mũi, nhưng tôi không nín được.

Chị tôi bước vào. Mắt chị buồn xo. Chị hát cho tôi nghe: “Khi màu tím thẫm buông xuống những tường vườn im ngủ, ai đó nghĩ đến tôi...” Tôi thiu thiu ngủ, đầu nghĩ đến những quả mận, những vách tường, và “ai đó”.

Nhưng có thật vậy không? Đau lòng như tôi nhớ? Chỉ vừa phải. Hay nói đúng hơn, đó là nỗi đau đơm hoa kết trái. Tình yêu, đặc sệt và sẫm màu như xi rô Alaga, rịn vào ô cửa sổ nứt. Tôi còn ngửi được nó - nếm nó - ngọt lịm, mông mốc, với chút vị lộc đề dưới đáy - khắp cùng trong căn nhà đó. Cùng với lưỡi tôi, nó dính chặt vào ô kính cửa sổ bám sương giá. Nó tráng một lớp trên ngực tôi, cùng với thuốc mỡ, và khi tấm khăn bung ra trong lúc tôi ngủ, những đường khí uốn lượn rõ ràng, sắc cạnh in rõ sự tồn tại của mình trên cổ họng tôi. Rồi trong đêm, khi tiếng ho của tôi khô và khàn, đôi chân bước nhẹ vào phòng, đôi tay tém lại tấm khăn, chỉnh lại tấm chăn chần, và để một lúc trên trán tôi. Nên khi nghĩ đến mùa thu, tôi nghĩ đến một người có bàn tay không muốn tôi chết.

Khi ông Henry dọn đến cũng là mùa thu. Người ở trọ nhà chúng tôi. Người ở trọ nhà chúng tôi. Mấy chữ đó căng phồng lên như bong bóng trên môi rồi lơ lửng bên đầu chúng tôi - im lặng, tách biệt, và bí hiểm theo cách thật thú vị. Mẹ tôi hết sức hài lòng và khoan khoái khi bàn chuyện ông sắp đến.

“Mấy chị biết y mà,” mẹ nói với mấy bà bạn. “Henry Washington. Lâu nay y sống với chị Della Jones trên phố 13. Nhưng giờ chị ta lẩn thẩn quá rồi không ở tiếp được nữa. Nên y tìm một chỗ khác.”

“À, ra vậy.” Mấy bà bạn của mẹ không che giấu tò mò. “Lâu nay tôi cứ thắc mắc y định ở lại đó với chị ta đến bao giờ. Nghe nói chị ta yếu lắm rồi. Hết nửa thời gian không nhận ra y là ai, cũng không nhận ra ai khác cả.”

“Chậc, tên mọi đen khùng chị ta cưới đó chả giúp gì cái đầu chị ta cả.”

“Chị nghe hắn nói sao với mọi người khi hắn bỏ chị ta mà đi chưa?”

“Ừ hửm. Nói sao?”

“Thì hắn bỏ đi theo con Peggy ngờ nghệch đó - dân Elyria. Chị biết mà.”

“Phải là con gái mụ Bessie Xệ không?”

“Chính nó đó. Đấy, có người hỏi sao hắn bỏ một người đàn bà sùng đạo tử tế như Della mà theo con bò cái tơ đó. Chị biết Della bao giờ cũng coi sóc nhà cửa đâu ra đó. Rồi hắn nói lý do thật sự có Chúa-chứng-giám là hắn chịu hết nổi cái thứ nước màu tím Della Jones dùng. Nói là hắn cần một người đàn bà có mùi cho ra đàn bà. Nói Della quá sạch đối với hắn.”

“Chó má. Dơ quá!”

“Còn gì nữa. Lý sự kiểu gì vậy không biết?”

“Rõ thế. Vài thằng đàn ông đúng chó mà.”

“Có phải vì vậy mà chị ta đột quỵ không?”

“Chắc cũng góp phần. Nhưng chị biết không, mấy đứa con gái đó không đứa nào sáng sủa gì cho lắm. Nhớ con Hattie nhăn nhở không? Nó chẳng bình thường bao giờ. Còn dì Julia của tụi nó thì vẫn lon ton lên xuống phố 16 lảm nhảm một mình.”

“Mụ ta không bị hốt đi sao?”

“Khồng. Hạt không chịu đưa mụ đi. Nói mụ có làm hại gì ai đâu.”

“Thì mụ ta làm hại tôi. Ai muốn có gì để sợ đái ra quần thì cứ dậy lúc năm rưỡi sáng như tôi rồi thấy mụ phù thuy đó đội cái mũ vải lướt qua. Xin Chúa rủ lòng thương!”

Họ cười ồ.

Frieda với tôi đang rửa mấy hũ Mason. Chúng tôi không nghe được họ nói gì, nhưng với người lớn chúng tôi căng tai nghe và dò theo giọng họ.

“Chậc, tôi chỉ mong đừng ai để tôi lang thang như vậy lúc tôi già rục. Xấu hổ lắm.”

“Còn Della thì họ định làm gì? Chị ta không có bà con nào sao?”

“Có bà em ở Bắc Carolina đang lên coi sóc chị ta. Tôi nghĩ thế nào ả cũng muốn hốt nhà của Della.”

“Ôi thôi mà. Nghĩ vậy thì đúng ác quá.”

“Chị muốn cá gì không? Henry Washington nói bả đó phải đến mười lăm năm không đến thăm Della.”

“Tôi cứ tưởng ít nữa Henry cũng sẽ cưới chị ta chứ.”

“Bà già đó sao?”

“Thì Henry có trẻ trai gì.”

“Phải, nhưng y cũng chưa khú đế.”

“Y cưới ai bao giờ chưa?”

“Chưa.”

“Sao vậy? Có ai dứt tình sao?”

“Y kén chọn thôi.”

“Không phải y kén đâu. Chị thấy quanh đây có thứ gì chị cưới nổi không?”

“Ờ... không có.”

“Y khôn thôi. Đi làm ổn định sống kín đáo. Tôi mong chuyện suôn sẻ.”

“Suôn sẻ thôi mà. Chị tính bao nhiêu?”

“Năm đô la hai tuần trả một lần.”

“Khoản đó giúp chị nhiều đó.”

“Chứ sao.”

Cuộc chuyện trò của họ giống một vũ điệu có phần hiểm ác: âm đối âm, nhún gối chào, lắc hông vai, đoạn lui về. Một âm thanh nữa nhập vào nhưng lại bị một âm thanh khác át đi: cả hai đi vòng quanh nhau rồi dừng. Lời họ lúc xoáy lên cao vút; lúc nhảy giậm đinh tai, và tất cả đều bị ngắt quãng bởi tiếng cười rộn ràng nóng ấm - như cái thập thình của một quả tim thạch đông. Nét cạnh sắc, nét cong cớn, nét đâm chọc trong cảm xúc của họ luôn rõ ràng với Frieda và tôi. Chúng tôi không, chưa thể, hiểu hết ý nghĩa trong lời họ, vì chúng tôi mới chín mười tuổi đầu. Nên chúng tôi quan sát mặt họ, tay họ, chân họ, và nghe dò sự thật trong âm sắc.

Nên khi ông Henry tới vào một tối thứ Bảy, chúng tôi ngửi ông. Ông có mùi tuyệt diệu. Giống cây cối và kem dưỡng ẩm hương chanh, thêm sáp vuốt tóc Nu Nile và viên ngậm Sen-Sen.

Ông cứ nhoẻn cười, khoe hàm răng nhỏ đều có kẽ hở thân tình ở giữa. Frieda với tôi không được giới thiệu với ông - chỉ được trỏ ra thôi. Giống như, phòng tắm đây; tủ áo đây; còn đây là mấy nhóc nhà tôi, Frieda và Claudia; để ý cái cửa sổ này; nó không mở ra hết được.

Chúng tôi liếc qua ông, không mở miệng và tưởng ông cũng sẽ không nói gì. Chỉ gật gù, như ông gật với tủ áo, công nhận sự tồn tại của chúng tôi. Ngạc nhiên thay, ông mở miệng nói.

“Chào mấy cháu. Cháu đây chắc là Greta Garbo, còn cháu chắc là Ginger Rogers.”

Chúng tôi cười khinh khích. Ngay cả cha cũng phải nhoẻn cười.

“Muốn một xu không?” Ông chìa cho chúng tôi một đồng xu sáng bóng. Frieda cúi đầu, ưng bụng quá không nói gì được. Tôi chìa tay ra lấy. Ông búng tróc hai ngón tay, và đồng xu biến mất. Chúng tôi vừa sửng sốt vừa khoái trá. Hai đứa tìm khắp người ông, chọt ngón tay vào tất, nhìn ngược lên mặt trong lưng áo khoác. Nếu niềm vui là chờ đợi mà biết chắc điều gì đang tới thì chúng tôi đang vui. Và trong khi chờ đồng xu hiện ra lại, chúng tôi biết mình đang làm mẹ và cha buồn cười. Cha tươi cười, mắt mẹ dịu đi khi nhìn theo tay chúng tôi lần mò trên người ông Henry.

Chúng tôi mến ông. Ngay cả sau chuyện xảy ra sau này, ký ức về ông cũng không có vị đắng.

Nó ngủ chung giường với chị em tôi. Frieda nằm ngoài vì chị can đảm - chị chưa từng chợt nghĩ rằng nếu chị thả tay qua thành giường lúc ngủ thì “thứ gì đó” sẽ chui ra từ dưới và ngoạm mất mấy ngón tay. Tôi nằm sát vách vì tôi từng nghĩ đến chuyện đó rồi. Vì vậy Pecola phải nằm giữa.

Hai hôm trước mẹ bảo chúng tôi là sắp có một “vụ” - một đứa con gái không còn biết đi đâu. Hạt thu xếp cho nó ở nhà chúng tôi ít hôm cho đến khi họ quyết định được phải làm gì, hay, nói đúng hơn, đến khi gia đình đó đoàn tụ. Chúng tôi phải tử tế với nó và không cãi cọ. Mẹ không hiểu “thiên hạ bị gì rồi” mà tên chó già Breedlove đó lại đi thiêu rụi nhà mình, đập đầu vợ, rồi cả nhà, và vì vậy phải ra đường ở.

Ra đường ở, chúng tôi biết, thật sự là nỗi hãi hùng. Thời đó cứ dăm bữa nửa tháng lại có nguy cơ ra đường ở. Mọi cơ hội tiêu hao vượt quá mức bình thường đều bị nó xén đi. Ai ăn quá nhiều, người đó có thể phải ra đường ở. Ai dùng quá nhiều than, người đó có thể phải ra đường ở. Thiên hạ có thể đánh bạc để rồi phải ra đường ở, nhậu nhẹt để rồi phải ra đường ở. Đôi khi mấy bà mẹ đuổi con trai ra đường, và khi chuyện đó xảy ra, bất kể thằng con đã làm gì, mọi cảm thông đều dồn về phía nó. Nó phải ra đường ở, và chính máu mủ của nó gây ra. Bị chủ nhà đuổi ra đường ở là một lẽ - không may, nhưng là một khía cạnh đời sống ta không làm chủ được, bởi ta không làm chủ được thu nhập của mình. Nhưng phất phơ đến độ để mình phải ra đường ở, hay nhẫn tâm đến độ để máu mủ của mình phải ra đường ở - đó là tội ác.

Có khác biệt giữa bị đuổi ra đường và phải ra đường ở. Nếu bị đuổi ra đường, ta sẽ đi chỗ khác; nếu ta phải ra đường ở, không có chỗ nào mà đi. Sai khác khó thấy nhưng chắc chắn hiện diện. Ra đường ở là kết cục của một thứ, một sự kiện thực hữu, không thể vãn hồi, xác quyết và theo kèm thân phận siêu hình của ta. Là thiểu số trong cả đẳng cấp lẫn giai tầng, ta loanh quanh men rìa đời sống, loay hoay gom góp những yếu kém của mình và bám víu, hay tự mình bò lên những nếp gấp lớn trên y phục. Tồn tại bên lề của ta, tuy vậy, là thứ ta đã học cách đối phó - có lẽ bởi nó trừu tượng. Còn cái cụ thể của việc ra đường ở lại là chuyện khác - như sự khác biệt giữa ý niệm chết và thật sự chết. Cái chết không thay đổi, và ra đường ở thì vẫn còn đây.

Biết rằng có thứ như ra đường ở tồn tại cấy vào chúng tôi khao khát tài sản, khao khát sở hữu. Nắm chắc trong tay một khoảnh sân, một hàng hiên, một giàn nho. Dân da đen có nhà đổ hết thảy sức lực, hết thảy tình yêu vào tổ ấm của mình. Như lũ chim cuống cuồng, tuyệt vọng, họ trang hoàng tô đắp mọi thứ; lăng xăng lọ mọ cho mái ấm khó khăn lắm mới kiếm được; cả mùa hè lo đóng hộp, làm mứt, và bảo quản để chất đầy tủ chén ngăn kệ; họ sơn quét, cạy cọ, đào khoét mọi xó xỉnh trong nhà. Và những căn nhà này lù lù như hoa mặt trời trồng trong nhà kính giữa từng hàng cỏ dại nhà thuê. Dân da đen ở nhà thuê lấm lét liếc nhìn những sân và hàng hiên có chủ này, và hạ quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa phải mua cho mình “một chỗ con con tử tế”. Trong khi chờ, họ dành dụm, và quơ cào, và dồn chất mọi thứ kiếm được trong túp nhà thuê, trông tới ngày có nhà có cửa.

Cholly Breedlove, hồi đó, một gã da đen ở thuê, sau khi khiến cả nhà phải ra đường ở, đã văng ra quá tầm suy xét của con người. Anh ta nhập bầy với hạng súc sinh; nói đúng ra, là một con chó già, một con rắn, một tên mọi đen đê tiện. Chị Breedlove ở lại nhà người đàn bà chị giúp việc; thằng con, Sammy, ở với một gia đình khác; còn Pecola sẽ phải ở với chúng tôi. Cholly vào tù.

Nó đi tay không tới. Không có túi giấy nhỏ đựng váy để thay, hay cái váy ngủ, hay hai cái quần túm bằng vải ngả màu. Nó cứ vậy xuất hiện cùng một phụ nữ da trắng rồi ngồi xuống.

Chúng tôi được vui vẻ trong mấy ngày Pecola tới ở cùng. Frieda với tôi không cãi nhau nữa mà chú tâm vào vị khách, gắng hết sức làm sao để nó khỏi có cảm giác phải ra đường ở.

Khi nhận ra nó rõ ràng không muốn lấn át chúng tôi, chúng tôi thích nó. Nó cười khi tôi làm hề cho nó xem, và nhoẻn cười nhã nhặn nhận lấy đồ ăn chị tôi cho nó.

“Bạn muốn ăn bánh quy giòn không?”

“Mình sao cũng được.”

Frieda cho nó bốn cái bánh quy giòn để trên dĩa trà và chút sữa trong cốc Shirley Temple xanh trắng. Nó nhấm nháp sữa hồi lâu, ngây nhìn trìu mến bóng hình gương mặt lúm đồng tiền của Shirley Temple. Frieda với nó thân tình nói với nhau về chuyện Shirley Temple dễ-ễ thương ra sao. Tôi không hùa vào sùng bái với họ được vì tôi ghét Shirley. Không phải vì con bé đó xinh, mà vì nó nhảy nhót với Bojangles, ông là bạn của tôi, chú của tôi, cha của tôi, lẽ ra ông phải nhảy giày mềm và cười khúc khích với tôi. Thay vì vậy ông chơi đùa, chia sẻ, cho đi màn nhảy múa đáng yêu với một trong mấy con bé da trắng thuộc loại không bao giờ để tất tuột xuống dưới gót chân. Nên tôi nói, “Em thích Jane Withers.”

Bọn họ nhìn tôi ngơ ngác, cho là tôi khó hiểu, rồi tiếp tục hồi tưởng về con Shirley mắt nheo nheo.

Vì nhỏ tuổi hơn cả Frieda lẫn Pecola, tôi chưa đến cái bước ngoặt trong quá trình phát triển tâm lý để mà yêu thích nó. Cái tôi cảm thấy lúc đó thuần túy là căm ghét. Nhưng trước đó nữa tôi đã có một cảm xúc kỳ lạ hơn, đáng sợ hơn cả nỗi căm ghét mọi Shirley Temple trên đời.

Chuyện bắt đầu từ Giáng Sinh và món quà búp bê. Món quà lớn, món quà đặc biệt, món quà yêu thương luôn là một Búp Bê Em Bé to tướng, mắt xanh. Từ tiếng cười khúc khích của người lớn tôi biết rằng con búp bê tượng trưng cho cái họ nghĩ là niềm ao ước thiết tha nhất của tôi. Tôi lại lúng túng vì thứ đó, và vẻ ngoài của nó. Tôi biết làm gì với nó bây giờ? Giả làm mẹ nó? Tôi không hứng thú gì với em bé hay ý niệm làm mẹ. Tôi chỉ quan tâm đến người tầm tuổi tôi, tầm vóc tôi, và không sao tạo được chút nhiệt tình nào trước triển vọng làm mẹ. Làm mẹ nghĩa là già đi, và vô vàn những khả năng mơ hồ khác nữa. Thế nhưng tôi nhanh chóng biết mình phải làm gì với con búp bê: ru nó, bịa ra tình huống truyện xoay quanh nó, kể cả ôm nó đi ngủ. Truyện tranh đầy rẫy bé gái ẵm búp bê đi ngủ. Thường là búp bê vải Raggedy Ann, nhưng chúng thì khỏi bàn. Bên ngoài tôi thấy gớm còn trong bụng thì khiếp sợ hai con mắt tròn xoe khờ dại đó, khuôn mặt như bánh tráng, mái tóc như lũ sâu cam.

Mấy con búp bê kia, đáng ra phải khiến tôi mê mẩn, chỉ giỏi làm điều ngược lại. Khi tôi ẵm nó đi ngủ, tay chân cứng đờ khó bẻ vặn của nó cưỡng lại da thịt tôi - mấy đầu ngón tay đúc hình búp măng trên hai bàn tay múp míp đó làm tôi trầy xước. Lúc ngủ, nếu tôi trở mình, cái đầu lạnh như xương va cộp vào đầu tôi. Đó là thứ bạn ngủ chung hết sức bất tiện, hung hăng rành rành. Bồng bế nó cũng không thích thú gì hơn. Lớp vải sa cứng như đanh hay ren trên váy vải bông làm tôi cứ ôm vào là ngứa. Tôi chỉ muốn một điều: bẻ tay bẻ chân nó ra. Để xem nó làm bằng gì, để phát hiện ra cái đáng yêu, để tìm thấy cái đẹp, cái đáng khao khát đã vuột khỏi tôi, nhưng dường như chỉ mình tôi. Người lớn, bọn con gái lớn hơn, các cửa tiệm, tạp chí, báo giấy, biển hiệu cửa hàng - cả thiên hạ đều đồng tình rằng một con búp bê mắt xanh, tóc vàng, da hồng là thứ mọi bé gái đều cưng quý. “Đây,” họ nói, “con này đẹp, và nếu ngày hôm nay con ‘xứng đáng’ thì con sẽ có nó.” Tôi sờ mó gương mặt, thấy lạ làm sao cặp mày chỉ có một nét; khều hai cái răng trắng ngọc trai như phím dương cầm cắm giữa đôi môi đỏ hình cánh cung. Sờ theo cái mũi hếch, chọt hai nhãn cầu xanh trong veo, xoắn vặn mớ tóc vàng. Tôi không sao thích nó được. Nhưng tôi có thể săm soi nó để xem cái thứ mà ai cũng bảo đáng yêu là thứ gì. Ngắt mấy ngón tay xíu xiu, bẻ cong hai bàn chân thẳng băng, xổ bung tóc ra, vặn đầu ra sau, và thứ đó phát ra một tiếng - cái âm thanh người ta nói là tiếng kêu than van dễ thương “Mẹ ơi,” nhưng tôi lại nghe như tiếng be be của con cừu sắp chết, hay, nói đúng hơn, tiếng cánh tủ ướp lạnh nhà tôi mở trên bản lề gỉ sét trong tháng Bảy. Moi nhãn cầu lạnh ngắt và ngu ngốc ra rồi, nó vẫn be be, “Eeeeece,” bẻ cái đầu ra, giũ mạt cưa đi, đập rắc lưng lên thành giường bằng đồng thau, nó vẫn be be. Cái lưng bọc vải sa rách toạc, tôi thấy được miếng tròn có sáu lỗ, cái bí ẩn đằng sau âm thanh đó. Chỉ là miếng tròn kim loại.

Người lớn cau mày làm ầm lên: “Mày-không-biết-giữ-gìn-cái-gì-bao-giờ. Cả-đời-tao-chưa-bao-giờ-có-một-con-búp-bê-và-từng-khóc-đòi-hết-cả-nước-mắt. Giờ-mày-có-một-con-một-con-xinh-đẹp-nữa-vậy-mà-mày-đi-phá-tanh-bành-ra-mày-bị-gì-vậy-hả?”

Nỗi oán giận của họ mạnh mẽ quá chừng. Nước mắt chực xóa nhòa khoảng cách quyền uy. Cảm xúc bao năm ước ao không toại điểm trong giọng họ. Tôi không biết tại sao mình phá nát mấy con búp bê đó. Nhưng tôi có biết rằng chưa ai từng hỏi tôi muốn gì cho kỳ Giáng Sinh. Ví thử có người lớn nào có khả năng giúp tôi toại nguyện mà lưu tâm hỏi tôi muốn gì, họ đã biết rằng tôi không muốn có gì, hay sở hữu thứ gì cả. Thay vì vậy tôi muốn cảm thấy gì đó vào ngày Giáng Sinh. Câu hỏi đúng ra phải là, “Claudia yêu dấu ơi, con muốn ngày Giáng Sinh thế nào?” tôi đã có thể lên tiếng, “Con muốn được ngồi trên ghế đẩu thấp trong bếp của bà ngoại mà trong lòng đầy ắp tử đinh hương và nghe ông ngoại chơi vĩ cầm cho một mình con thôi.” Độ thấp của ghế đẩu dành riêng cho dáng người tôi, vẻ an toàn và ấm áp trong căn bếp của bà ngoại, mùi tử đinh hương, tiếng nhạc, và, vì dùng hết mọi giác quan thì cũng hay, nên cả vị đào nữa, có lẽ vậy, lúc sau đó.

Thay vì vậy tôi phải nếm và ngửi vị cay sè của dĩa cốc thiếc dành cho các tiệc trà làm tôi phát ngán. Thay vì vậy tôi ghê tởm nhìn những chiếc váy mới mà tôi phải hậm hực tắm trong bồn mạ kẽm trước khi mặc. Trượt té oành oạch trên kẽm, không thời gian đâu mà chơi đùa hay ngâm nước, vì nước lạnh quá nhanh, không thời gian đâu mà thưởng thức cái trần truồng của mình, chỉ kịp đổ những màn nước xà phòng xuôi giữa hai giò. Rồi đến mấy tấm khăn xù xì và cái sạch bong không một hạt bụi dễ sợ và nhục nhã. Cái sạch sẽ thiếu tính tưởng tượng, làm người ta phát bực. Thế là đi tong những vết mực trên giò trên mặt, mọi sáng tạo và tích cóp trong ngày của tôi mất sạch, thay vào đó là lỗ chân lông nổi da gà.

Tôi phá tanh bành mấy con búp bê da trắng.

Nhưng chuyện vặt tay bẻ đầu búp bê không phải là điều khủng khiếp thật sự. Thứ thật sự khủng khiếp là chuyển dịch cũng những thôi thúc đó sang mấy đứa con gái da trắng. Thái độ thản nhiên khi bổ chúng ra nếu tôi có bổ chúng ra được chỉ bị lung lay vì tôi muốn làm vậy. Để khám phá ra cái tôi không nắm bắt được: bí mật của thứ yêu thuật chúng phù phép lên người khác. Cái gì khiến mọi người nhìn chúng thì kêu, “Uiiii,” nhưng với tôi thì không? Cái liếc mắt của đàn bà da đen khi đến gần chúng ngoài đường, và cái ân cần chăm bẵm khi họ sờ mó chúng.

Nếu tôi nhéo chúng, mắt chúng - không như tia sáng lóe ngây dại trong mắt búp bê - sẽ nhắm tịt lại vì đau, và tiếng chúng kêu sẽ không phải tiếng cửa tủ ướp lạnh, mà là một tiếng kêu đau thú vị. Khi tôi hiểu ra sự hung bạo thản nhiên này xấu xa thế nào, rằng nó xấu xa vì nó thản nhiên, nỗi xấu hổ trong tôi loay hoay tìm chỗ trú. Nơi ẩn mình tốt nhất là tình yêu. Do vậy mà có cuộc chuyển đổi từ tàn bạo đơn thuần sang căm ghét ngụy tạo, đến yêu thương giả trá. Đây là một bước nhỏ đến Shirley Temple. Mãi về sau tôi mới học cách tôn sùng nó, cũng như tôi học cách ham thích sự sạch sẽ, dầu vẫn biết, kể cả trong lúc học, rằng thay đổi này chỉ là điều chỉnh mà không cải thiện.

“Ba quart[1] sữa. Hôm qua có chừng đó trong tủ ướp lạnh. Ba quart đầy. Giờ chả còn tí nào. Không một giọt. Tao không để bụng chuyện thiên hạ vào muốn lấy gì thì lấy, nhưng mà ba quart sữa! Ai lại cần ba quart sữa làm quái quỷ gì không biết?”

“Thiên hạ” mẹ tôi nói đây ám chỉ Pecola. Ba đứa tôi, Pecola, Frieda và tôi lắng tai nghe mẹ trong bếp dưới nhà làm ầm lên về chỗ sữa Pecola đã uống mất. Chúng tôi biết nó thích cái cốc Shirley Temple và tranh thủ mọi dịp uống sữa chỉ để cầm xem gương mặt dễ thương của Shirley. Mẹ biết Frieda và tôi ghét sữa cũng như cho là Pecola uống vì tham. Tất nhiên chúng tôi không được “cãi” mẹ. Chúng tôi không bắt chuyện với người lớn, chúng tôi trả lời khi họ hỏi.

Xấu hổ vì những nhục mạ đổ lên đầu bạn, chúng tôi chỉ ngồi đó: tôi cạy móng chân, Frieda gặm sạch móng tay, còn Pecola lần ngón tay theo mấy vết thẹo trên đầu gối - đầu nó ngoẹo sang bên. Những màn độc thoại om sòm của mẹ luôn làm chúng tôi bực và nản. Chúng liên tu bất tận, đặc tính sỉ nhục, và dù gián tiếp (mẹ không bao giờ nêu đích danh ai - chỉ nói về thiên hạ và vài người), chúng đâm cực kỳ đau. Mẹ sẽ thao thao bất tuyệt như vậy hàng giờ, xâu vi phạm này vào vi phạm kia cho đến khi bao điều làm mẹ phiền muộn đều phun ra hết. Thế rồi, trách mắng mọi người mọi thứ xong rồi, mẹ sẽ hát rống lên rồi cứ thế hát hết ngày. Nhưng phải lâu lắm lắm mới đến phần hát. Trong khi chờ, bụng nhũn nhão và cổ họng khát khô, chúng tôi lắng nghe, tránh chạm mắt nhau, rồi cạy móng chân hay gì đó.

“... Tao không biết tao phải nuôi cái gì ở đây nữa, nhà thương thí chắc. Đến lúc tao bỏ hàng phát chẩn mà vào đứng trong hàng nhận phát chẩn rồi. Chắc là tao sẽ chẳng còn gì. Mai đây tao sẽ phải vào nhà tế bần mất thôi. Coi bộ tao có làm gì thì cũng không thoát chỗ đó được. Thiên hạ cứ tối ngày cố nghĩ cách tống tao vào nhà tế bần. Tao có trăm công ngàn chuyện phải làm để nuôi một miệng ăn nữa như mèo mẹ nuôi con ghép đàn. Cứ như là tao chưa đủ mệt khi cố nuôi con tao và tránh xa nhà tế bần không bằng, giờ lại còn thêm thứ khác ở đây cứ định uống hết nhà tao trong đó. Gớm, khồng, nó không làm vậy được đâu. Chừng nào tao còn sức trong thân và lưỡi trong miệng. Cái gì cũng vừa vừa phai phải thôi. Tao không có cái gì để mà đem vất đi. Không ai cần ba quart sữa cả. Henry Ford không cần ba quart sữa. Đúng là phải tội chứ còn gì. Tao sẵn lòng làm được gì cho thiên hạ thì làm. Không ai nói được là tao không sẵn lòng. Nhưng chuyện này phải dừng ngay, và tao là người sẽ dừng nó lại. Kinh Thánh dạy phải dè chừng lẫn cầu nguyện đấy. Thiên hạ cứ đem quăng con cho mình rồi đi lo công chuyện. Không ai thèm ló mắt vào đây xem đứa nhỏ đó có nổi ổ bánh mì không nữa. Xem ra họ chỉ cần ló mắt vào xem tao có ổ bánh mì cho nó không. Nhưng khồng. Họ chẳng hề nghĩ tới chuyện đó. Cái thằng Cholly giẻ rách đó ra tù cả hai ngày rồi mà vẫn chưa thèm vác xác tới đây xem con đẻ mình còn sống hay chết rồi. Với hắn thì con nhỏ cũng cầm bằng như chết rồi. Còn bà mẹ đó nữa. Kiểu gì lạ vậy?”

Khi mẹ nói đến chỗ Henry Ford và hết mấy người không cần biết mẹ có ổ bánh mì hay không thì đã đến lúc đứng lên. Chúng tôi muốn bỏ qua chỗ Roosevelt và các trại Bảo tồn Dân sự[2].

Frieda đứng lên đi xuống cầu thang. Pecola với tôi theo sau, quành thật xa để tránh cửa bếp. Chúng tôi ngồi trên bậc thềm hàng hiên, ở đó lời mẹ chỉ bập bõm tới tai chúng tôi.

Hôm ấy là một ngày thứ Bảy đìu hiu. Căn nhà có mùi Fels Naptha và mùi hăng của cải bẹ xanh đang nấu. Thứ Bảy là ngày đìu hiu, la lối, ngày xà phòng. Khốn khổ chỉ thua những Chủ nhật chật căng, đầy tinh bột, thuốc ho, toàn những “không được” và “ngồi yên đó”.

Nếu mẹ đang có hứng hát hò thì cũng không đến nỗi nào. Mẹ sẽ hát về những lúc khốn khó, những lúc buồn phiền, và những lúc có người-đi-mất-bỏ-tôi-ở-lại. Nhưng giọng mẹ ngọt ngào và đôi mắt biết hát long lanh đến mức tôi thấy mình ao ước những lúc khốn khó đó, khao khát được làm người lớn không “một xu-u-u dính túi”. Tôi trông tới cái lúc hay ho khi “người đàn ông của tôi” bỏ tôi đi, khi tôi “ghét phải thấy mặt trời ban tối lặn...” vì lúc ấy tôi sẽ biết “người đàn ông của tôi đã rời thành phố này”. Nỗi khốn khổ nhuộm màu xanh lam xanh lá trong giọng mẹ lấy đi hết buồn phiền trong lời lẽ và làm tôi tin chắc rằng nỗi đau không chỉ chịu đựng được, nó còn ngọt ngào.

Nhưng nếu không hát hò, những thứ Bảy ấy đè trên đầu tôi như thùng đựng than, và nếu mẹ đang la lối, như lúc này đây, thì như có ai đang ném đá vào nó.

“... mà tao đây nghèo rớt mồng tơi. Họ tưởng tao là ai? Một ông già Noel nào đó chắc? Gớm, họ lấy tất xuống đi được rồi vì đâu phải Giáng Sinh...”

Chúng tôi nhấp nhổm.

“Mình làm gì đi,” Frieda nói.

“Chị muốn làm gì?” tôi hỏi.

“Chị không biết. Không gì cả.” Frieda ngây nhìn lên đọt cây. Pecola nhìn xuống chân.

“Chị muốn lên phòng ông Henry xem mấy tạp chí con gái không?”

Frieda nhăn mặt. Chị không thích xem hình tục tĩu. “Thôi,” tôi nói tiếp, “thì mình xem cuốn Kinh Thánh của ông. đẹp cực.” Frieda chít chít chân răng rồi chu môi làm tiếng phịt. “Vậy thôi. Mình đi xâu kim cho cái bà bị lòa đi. Bà sẽ thưởng cho mình một xu.”

Frieda khịt mũi. “Mắt bà ta trông như nước mũi. Chị không ham nhìn đâu. Còn bạn muốn làm gì Pecola?”

“Mình sao cũng được,” nó trả lời. “Tùy mấy bạn.”

Tôi có một ý nữa. “Mình lại đầu hẻm xem mấy thùng rác có gì không.”

“Lạnh lắm,” Frieda đáp. Chị chán nản và cáu kỉnh.

“Em biết. Thì mình làm ít kẹo mềm.”

“Em giỡn hả? Khi mẹ đang la à? Em biết mẹ mà, đã bắt đầu la lối với mấy bức tường thì mẹ sẽ la cả ngày. Mẹ không cho mình đi đâu.”

“Thôi thì mình tới đằng khách sạn Hy Lạp nghe họ chửi thề đi.”

“Ôi dào, cái đó ai mà thèm? Với lại họ có chừng đó chữ chửi đi chửi lại hoài thôi.”

Nguồn ý tưởng đã cạn, tôi xoay qua chăm chú tìm mấy hạt gạo trên móng tay. Tổng số hạt tượng trưng cho số bạn trai tôi sẽ có. Bảy.

Màn độc thoại của mẹ trôi vào im lặng “... Kinh Thánh dạy phải nuôi kẻ đói. Được thôi. Chuyện đó cũng chẳng sao. Nhưng tao không có nuôi voi... Ai cần đến ba quart sữa để sống thì phải biến khỏi đây thôi. Đến nhầm chỗ rồi. Đây là cái gì hả? Nông trại sữa nào đó chắc?”

Bất chợt Pecola đứng bật dậy, mắt trợn tròn khiếp đảm. Miệng nó phát ra tiếng ư ử.

Bạn bị gì vậy?” Frieda đứng lên theo.

Rồi cả hai chị em tôi nhìn về nơi Pecola đang nhìn chằm chằm. Máu chảy dọc hai giò nó. Mấy giọt rơi trên thềm. Tôi nhỏm đứng lên. “Ê. Bạn bị đứt đâu hả? Nhìn kìa. Dính đầy váy bạn kìa.”

Một vết nâu đỏ đổi màu vạt sau váy nó. Nó cứ ư ử, đứng xoạc hai chân.

Frieda nói, “Ôi. Chúa ơi! Mình biết rồi. Mình biết chuyện gì rồi!”

“Gì?” Pecola đưa mấy ngón tay lên miệng.

“Là có kinh.”

“Là sao?”

“Bạn biết mà.”

“Mình sắp chết hả?” nó hỏi.

“Khôngggg. Bạn không chết đâu. Nó chỉ nghĩa là bạn có con được!”

“Hả?”

“Sao chị biết?” Tôi phát chán việc Frieda cái gì cũng biết.

“Mildred nói chị biết, mẹ nữa.”

“Em không tin đâu.”

“Em không phải tin, con khờ. Nghe này. Chờ đây. Ngồi xuống đi, Pecola. Ngay đó.” Frieda đầy uy quyền và hăng hái. “Còn em,” chị nói tôi, “đi lấy ít nước đi.”

“Nước hả?”

“Ừ, đồ ngu. Nước. Mà khẽ thôi, không mẹ nghe thấy bây giờ.”

Pecola ngồi xuống lại, ánh mắt đã bớt hoảng sợ. Tôi đi vào bếp.

“Mày cần gì hả con?” Mẹ đang giặt màn trong chậu rửa.

“Ít nước ạ.”

“Ngay chỗ tao đang làm việc, đương nhiên rồi. Thôi được rồi, lấy cái ly. Mà cũng không còn cái ly sạch nào. Dùng cái hũ kia kìa.”

Tôi lấy một hũ Mason rồi hứng đầy nước từ vòi. Tôi thấy như hứng lâu mãi mới đầy.

“Không ai cần gì cả cho đến khi thấy tao đứng bên chậu rửa. Lúc đó thì ai cũng cần uống nước...”

Khi hũ đầy, tôi dợm ra khỏi phòng.

“Mày đi đâu đó?”

“Ra ngoài ạ.”

“Uống chỗ nước đó ngay trong này đi!”

“Con sẽ không làm bể gì đâu.”

“Mày không biết mày sẽ gây ra cái gì đâu con.”

“Có mà, mẹ. Con biết. Cho con cầm ra ngoài. Con sẽ không làm đổ giọt nào đâu.”

“Thì phải vậy.”

Tôi bước ra hiên và cầm hũ Mason đựng nước đứng đó. Pecola đang khóc.

“Sao bạn lại khóc? Đau hả?”

Nó lắc đầu.

“Vậy thì đừng có thò lò mũi xanh nữa.”

Frieda mở cửa sau bước ra. Chị giấu cái gì dưới áo. Chị kinh ngạc nhìn tôi và chỉ cái hũ. “Cái đó để làm gì?”

“Chị nói em mà. Chị kêu đi lấy ít nước.”

“Không phải lấy một hũ nhỏ xíu. Phải thật nhiều nước kìa. Để chà bậc thềm, con khờ này!”

“Sao mà em biết được?”

“Phải rồi. Sao em biết được. Đi.” Chị xốc Pecola dậy. “Mình quay lại đằng đây đi.” Họ đi về phía hông nhà có bụi cây rậm rạp.

“Ê. Còn em? Em cũng muốn đi.”

“Immm,” Frieda nháy nhó. “Mẹ nghe thấy đó. Em chà rửa bậc thềm đi.”

Bọn họ khuất dạng nơi góc nhà.

Tôi sẽ bỏ lỡ cái gì đó cho xem. Lại vậy nữa. Đây là việc quan trọng, vậy mà tôi phải ở lại rồi không được thấy gì hết. Tôi rưới nước lên mấy bậc thềm, đưa chân chà chà mấy cái rồi chạy theo họ.

Frieda đang quỳ, một miếng khăn trắng hình chữ nhật đặt dưới đất bên cạnh. Chị đang kéo quần Pecola xuống. “Nào. Bỏ chân ra đi.” Chị xoay xở kéo cái quần dính dơ xuống rồi liệng cho tôi. “Nè.”

“Em làm gì cái này bây giờ?”

“Đem chôn đi, con khờ.”

Frieda bảo Pecola kẹp tấm khăn giữa hai chân.

“Vậy rồi sao nó đi được?” tôi hỏi.

Frieda không trả lời. Thay vì vậy chị lấy hai cây kim băng trên viền váy rồi ghim hai đầu miếng khăn vào váy Pecola.

Tôi nhón tay lượm cái quần lên rồi nhìn quanh quất tìm cái gì để đào hố. Một tiếng loạt soạt trong bụi cây làm tôi giật mình, và quay về phía đó, tôi thấy một cặp mắt háo hức trên gương mặt trắng như cục bột. Rosemary đang theo dõi chúng tôi. Tôi đưa tay chộp mặt nó và vừa hay làm trầy mũi nó. Nó ré lên, nhảy lùi lại.

“Bà MacTeer! Bà MacTeer ơi!” Rosemary la làng. “Frieda với Claudia làm trò bậy ngoài này này! Bà MacTeer!”

Mẹ mở cửa sổ nhìn xuống chúng tôi.

“Hả?”

“Tụi nó làm trò bậy kìa, bà MacTeer. Xem kìa. Claudia còn đánh cháu vì cháu thấy tụi nó!”

Mẹ đóng sập cửa sổ rồi chạy ra cửa sau.

“Tụi bây làm gì hả? A. À hả. À hả. Làm trò bậy hả?” Mẹ thò tay vào bụi bẻ cây roi. “Tao thà nuôi heo còn hơn mấy đứa con gái hay làm bậy. Ít ra heo tao còn xẻo thịt được !”

Chúng tôi ré lên. “Không phải đâu mẹ. Không đâu mẹ ơi. Bọn con không làm trò bậy! Nó nói láo đó! Đừng mẹ, mẹ! Đừng mẹ ơi, mẹ!”

Mẹ thộp vai Frieda, xoay chị lại, rồi quất ba bốn roi đau điếng vào giò. “Còn bậy nữa không hả? Khồng, mày không dám đâu!”

Frieda tan nát. Trận đòn làm chị tổn thương và xúc phạm chị.

Mẹ nhìn Pecola. “Mày nữa!” Mẹ nói. “Phải con tao hay không cũng vậy hết!” Mẹ túm Pecola xoay ngoắt nó lại. Cây kim băng một đầu miếng khăn bung ra, thế là mẹ thấy miếng khăn rơi ra từ dưới váy nó. Cây roi chờn vờn trên không còn mẹ chớp mắt. “Chuyện quái quỷ gì vậy hả?”

Frieda nức nở. Tôi, sắp là đứa kế tiếp, mở miệng giải thích. “Nó bị chảy máu. Bọn con chỉ đang cố làm máu ngừng chảy thôi mà!”

Mẹ nhìn qua Frieda để kiểm chứng. Frieda gật đầu. “Nó có kinh. Bọn con chỉ giúp thôi.”

Mẹ buông Pecola ra rồi đứng nhìn nó. Rồi mẹ kéo cả hai đứa vào lòng, áp đầu họ lên bụng mẹ. Mắt mẹ hối lỗi. “Được rồi, được rồi. Thôi nín đi. Mẹ không biết. Thôi đi nào. Vào nhà thôi. Vào nhà đi Rosemary. Hết phim rồi.”

Chúng tôi kéo nhau vào nhà, Frieda thút thít, Pecola kéo theo cái đuôi trắng, tôi thì cầm cái quần bé-gái-biến-thành-đàn-bà.

Mẹ dẫn chúng tôi vào phòng tắm. Mẹ xô dụi Pecola vào trong rồi lấy cái quần lót trong tay tôi, bảo chị em tôi tránh ra.

Chúng tôi nghe được tiếng nước chảy vào bồn.

“Chị nghĩ mẹ có trấn nước nó không?”

“Ôi trời Claudia. Em đần quá vậy. Mẹ chỉ giặt áo quần cho nó này kia thôi.”

“Mình có nên cho con Rosemary một trận không?”

“Thôi. Kệ nó đi.”

Nước chảy tồ tồ, và vọng trên tiếng nước chúng tôi còn nghe thấy tiếng nhạc trong giọng cười của mẹ.

Đêm đó, trên giường, ba đứa tôi nằm im. Chúng tôi vô cùng nể sợ Pecola. Nằm cạnh một người thật đang có kinh thật không hiểu sao cũng thiêng liêng. Giờ nó khác chúng tôi rồi - như người lớn. Bản thân nó cũng cảm thấy khoảng cách ấy, nhưng không chịu lên mặt với chúng tôi.

Một hồi sau nó thỏ thẻ. “Có thật là giờ mình có con được không?”

“Phải,” Frieda ngái ngủ trả lời. “Thật mà.”

“Nhưng... làm sao?” Giọng nó khô khốc nỗi băn khoăn.

“À,” Frieda nói, “phải có ai yêu bạn mới được.”

“À.”

Một quãng lặng hồi lâu, Pecola và tôi ngẫm nghĩ chuyện này. Tôi cho là chuyện đó phải bao gồm “người đàn ông của tôi,” mà trước khi bỏ tôi, từng yêu tôi. Nhưng trong mấy bài mẹ hát không có bé con nào cả. Chắc vì vậy mà đàn bà họ buồn: đàn ông bỏ đi trước khi họ kịp có con.

Rồi Pecola hỏi một câu chưa bao giờ nảy ra trong óc tôi. “Làm sao làm được vậy? Ý là làm sao khiến ai đó yêu mình?” Nhưng Frieda ngủ mất rồi. Còn tôi thì không biết.

[1]

1 quart = 0.95 lít. (Mọi chú thích đều là của người dịch - ND)

[2]

Civilian Conservation Corps: chương trình trợ giúp việc làm cho hàng triệu thanh niên trong giai đoạn Đại suy thoái.

ĐÂYLÀNGÔINHÀNÓMÀUXANHTRẮNGNÓCÓCỬAĐỎNÓRẤTXINHXẮNNÓRẤTXINHXẮNXINHXẮNXINHXẮNXI

Tại góc đông nam Broadway và phố 35 ở Lorain, Ohio có một cửa tiệm bỏ hoang. Nó không chìm trong nền trời màu chì, cũng không hài hòa với mấy căn nhà xám xịt và cột điện thoại đen thui xung quanh. Đúng hơn, nó đập vào mắt người qua đường theo kiểu vừa chọc tức vừa u buồn. Khách chạy xe vào thành phố nhỏ xíu này thắc mắc sao nó chưa bị đập bỏ, còn người đi bộ, cư dân trong khu này, chỉ ngoảnh mắt khi đi qua.

Có thời, khi tòa nhà này là tiệm bánh pizza, thiên hạ chỉ thấy đám thiếu niên lờ đờ túm tụm một góc. Mấy thằng này gặp nhau ở đó để vọc háng, hút thuốc, và toan tính những trò nghịch phá. Chúng hít khói thuốc vào thật sâu, ép đầy phổi, tim, bắp đùi, và đuổi xa cái run rẩy, sinh lực tuổi trẻ của chúng. Chúng cử động lờ đờ, cười nói lờ đờ, nhưng lại búng tàn thuốc quá nhanh quá liên tục, để rồi tự tố cáo, cho những ai để ý, là chúng mới học đòi thói này. Nhưng rất lâu trước khi có tiếng chúng gào rống và cảnh chúng tỉa tót, tòa nhà được một thợ làm bánh người Hungary thuê, ông này cũng nổi tiếng vừa phải nhờ món bánh mì hoa cúc và bánh cuộn hạt anh túc. Trước đó nữa, ở đó có một văn phòng bất động sản, rồi cả trước trước đó nữa, vài người di gan dùng nó làm căn cứ hoạt động. Gia đình di gan trang trí cho cửa sổ kính lớn nét riêng biệt và cá tính chưa từng có. Mấy cô con gái trong gia đình thay nhau ngồi giữa từng thước màn nhung và thảm Đông phương buông bên cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và thi thoảng nhoẻn cười, hay nháy mắt, hay vẫy tay - chỉ thi thoảng thôi. Chủ yếu họ nhìn, váy xống cầu kì, ống tay dài và tà váy dài che đi cái trần trụi trong mắt.

Dân cư trong khu đó biến động đến mức có lẽ không ai còn nhớ đã lâu, lâu lắm rồi, trước cả thời gia đình di gan và thời đám thiếu niên, gia đình Breedlove từng sống ở đó, chen chúc nhau trước cửa tiệm. Hôi thối với nhau trong đống đổ nát tuỳ hứng của người môi giới địa ốc. Họ chui ra chui vào cái hộp xám tróc lở, không gây náo động trong khu xóm, không gây ồn ào trong lực lượng lao động, và không gây sóng gió trong văn phòng thị trưởng. Mỗi thành viên gia đình ở trong xà lim ý thức riêng, mỗi người khâu tấm chăn chần thực tại riêng mình - nhặt nhạnh từng vụn kinh nghiệm chỗ này, từng mẩu thông tin chỗ kia. Từ những ấn tượng vụn vặt lượm lặt được về nhau, họ tạo một cảm giác gắn bó và cố bằng lòng với cách họ tìm thấy nhau.

Sơ đồ khu vực sinh hoạt thiếu sáng tạo hết mức mà chủ nhà người Hy Lạp đời đầu nghĩ ra. Khu vực “tiệm” rộng được ngăn thành hai phòng bằng ván ép mỏng không kín lên tới trần. Có một phòng khách, mà gia đình gọi là phòng trước, và phòng ngủ, nơi mọi sinh hoạt diễn ra. Trong phòng trước có hai xô-pha, một cây dương cầm dạng đứng, và một cây thông giả nhỏ xíu đã ở đó, trang hoàng và bám bụi, suốt hai năm trời. Phòng ngủ có ba giường: một giường sắt hẹp cho Sammy, mười bốn tuổi, một giường nữa cho Pecola, mười một tuổi, và một giường đôi cho Cholly và chị Breedlove. Ngay chính giữa phòng ngủ, để nhiệt tỏa đều, họ đặt một lò than. Rương, ghế, bàn cà phê nhỏ, và “tủ áo” bằng giấy bìa kê quanh tường. Bếp nằm phía cuối căn nhà, một phòng tách riêng. Nhà tắm không trang bị gì. Chỉ một bồn cầu, khuất mắt, chưa nói là khuất tai, người thuê nhà.

Không còn gì để kể thêm về đồ nội thất. Chúng không cách nào tả nổi, sau khi được hình dung, chế tạo, gửi đi, và bán tháo với đủ thứ trạng thái vô tâm, tham lam, và dửng dưng. Đồ nội thất cũ đi mà không bao giờ thành thân thuộc. Người ta có nó, nhưng không bao giờ quen nó. Không ai để mất một xu lẻ hay cây trâm cài áo dưới nệm chiếc xô-pha nào mà còn nhớ được thời gian nơi chốn đánh mất hay tìm lại được. Không ai tặc lưỡi nói, “Nhưng nó mới vừa ở đây thôi mà. Mình đang ngồi ngay đó nói chuyện với...” hay “Đây rồi. Chắc nó lọt xuống khi mình đang đút cho con bé!” Chưa ai từng sinh con trên một trong những chiếc giường đó - hay trìu mến nhớ những vệt sơn bong tróc, vì đó là chỗ mà đứa bé, khi nó học đứng thẳng lên, từng cạy ra. Không đứa trẻ tằn tiện nào từng nhét miếng kẹo gôm dưới gầm bàn. Không kẻ quá chén nào vui vẻ - một người bạn của gia đình, cổ nung núc, chưa vợ, mọi người biết đấy, nhưng trời đất xem y ăn kìa! - y ngồi xuống bên dương cầm và đàn “You Are My Sunshine”. Không đứa con gái nào nhìn đăm đăm cây thông nhỏ xíu rồi nhớ lúc mình trang hoàng cho nó, hay băn khoăn quả châu màu xanh lam đó có dính không, hay ÔNG TA có bao giờ quay về mà thấy không.

Không có ký ức nào giữa những món đồ đó. Chắc chắn

không có ký ức nào để nâng niu. Thỉnh thoảng một món đồ gợi một phản ứng cơ thể: tăng kích thích axit đường tiêu hóa trên, ửng mồ hôi sau gáy khi nhớ lại các tình tiết xung quanh món đồ nội thất. Cái xô-pha chẳng hạn. Đồ mua mới, nhưng khi giao đến thì vải rách toạc một đường ở lưng. Tiệm không chịu lãnh trách nhiệm...

“Nghe này ông bạn. Khi tôi chất nó lên xe tải thì nó không sao. Một khi nó lên xe rồi thì tiệm không làm gì được đâu...” Hơi thở có mùi Listerine và thuốc lá Lucky Strike.

“Nhưng đã mua mới thì tôi không muốn có cái tràng kỷ rách.” Ánh mắt khẩn nài và tinh hoàn thít lại.

“Quá đen, ông bạn. Ông đen quá...”

Tất nhiên, ta có thể ghét cái xô-pha - đấy là, nếu ta có thể ghét một cái xô-pha. Nhưng không hề gì. Ta vẫn phải lo gom 4.8 đô la mỗi tháng. Nếu ta phải trả 4.8 đô la mỗi tháng cho một cái xô-pha đã rách từ đầu, không tốt, và ê chề - thì ta không làm sao vui sướng khi sở hữu nó. Và cái không vui bốc mùi, ngấm ngập mọi thứ. Mùi hôi của nó ngăn ta không sơn tường ván ép; không mua tấm vải cùng màu cho cái ghế; không cả khâu lại chỗ rách đã thành vết rạch sâu, rồi thành một khe nứt toang hoác phơi ra phần khung rẻ tiền và đồ bọc nệm còn rẻ tiền hơn. Nó ngăn cản cái sảng khoái trong giấc ngủ ngả mình trên đó. Nó ép buộc cuộc ân ái phải vụng trộm vần nhau trên đó. Như cái răng sâu không chịu nhức riêng một chỗ, mà phải lan truyền cơn đau của nó sang những chỗ khác trong người - khiến hơi thở khó khăn, tầm nhìn hạn chế, thần kinh bất ổn, thế là một món đồ nội thất bị ghét bỏ cũng gây ra tâm trạng khó chịu bực dọc cứ chường mặt khắp nhà và giảm bớt niềm ham thích những thứ không liên quan đến nó.

Thứ duy nhất sống động trong nhà Breedlove là cái lò than, sống độc lập với mọi thứ và mọi người, lửa của nó “tắt”, “un”, hay “bốc lên” tự ý, bất kể gia đình cho nó ăn và rành rẽ chế độ ăn của nó: rải xuống, đừng đổ một đống, đừng cho nhiều quá... Lửa dường như sống, tàn, hay tắt ngóm theo biểu đồ riêng của nó. Tuy nhiên, sáng nào nó cũng thấy cần phải tắt ngóm.

ĐÂYLÀCẢNHÀMẸCHADICKVÀJANESỐNGTRONGCĂNNHÀXANHTRẮNGHỌRẤTHẠ

Nhà Breedlove không sống trước cửa tiệm vì họ tạm thời khó thích nghi với những đợt cắt giảm nhân công ở xưởng. Họ sống ở đó vì họ nghèo và da đen, và họ ở lại đó vì họ tin mình xấu xí. Mặc dù cái nghèo đã ăn sâu và làm họ trì độn, nó không là duy nhất. Nhưng cái xấu xí của họ thì lại là duy nhất. Không ai thuyết phục được họ là họ không xấu tàn nhẫn và trông gớm ghiếc. Không kể người cha, Cholly, bởi cái xấu trai của anh ta (kết quả của thất vọng, phóng đãng, và hung bạo nhằm vào những chuyện vụn vặt và kẻ yếu thế) đã là hành vi, những người còn lại trong gia đình - chị Breedlove, Sammy Breedlove, và Pecola Breedlove - mặc lên vẻ xấu xí, có thể nói là khoác vào, dù nó không thuộc về họ. Cặp mắt, hai mắt nhỏ xích lại gần nhau dưới trán thấp. Đường chân tóc thấp, xiên lệch trông còn xiên lệch hơn trong tương phản với cặp mày thẳng băng, rậm rì gần như giao nhau. Mũi nhọn nhưng khoằm, hai lỗ mũi xấc xược. Xương gò má họ cao, tai họ úp. Cặp môi đầy đặn không làm người ta chú ý đến nó mà đến những phần khác trên mặt. Ta nhìn họ rồi tự hỏi sao họ xấu đến vậy, ta nhìn kỹ cũng không tìm được nguồn cơn. Rồi ta nhận ra nó đến từ xác tín, xác tín của họ. Như thể một vị chủ nhân thông tuệ bí ẩn nào đã phát cho mỗi người họ một tấm áo choàng xấu xí để mặc, và ai nấy đều nhận mà không thắc mắc. Chủ nhân nói, “Bọn bây là lũ người xấu xí.” Họ nhìn quanh mình và không thấy có gì để cãi lại phán quyết này; sự thật là, họ thấy hậu thuẫn cho phán quyết ấy đổ chồm về phía họ từ mọi bảng hiệu, mọi cuốn phim, mọi ánh nhìn. “Phải,” họ nói. “Chủ nhân nói đúng.” Rồi họ cầm lấy cái xấu xí trong tay, khoác lên mình như tấm áo choàng, rồi mặc vậy khắp nơi khắp chốn. Mỗi người xử trí nó theo một cách riêng. Chị Breedlove cầm cái xấu xí của chị như diễn viên cầm đạo cụ: để nhân vật nói năng lưu loát, để trợ lực cho vai diễn mà chị thường xuyên hình dung là của chị - kẻ tử vì đạo. Sammy dùng cái xấu xí của mình như vũ khí làm đau kẻ khác. Thằng nhỏ chỉnh lại hành vi theo nó, lấy nó làm cơ sở chọn bạn: kẻ nào thấy lôi cuốn, thậm chí sợ sệt cái xấu xí đó. Còn Pecola. Con bé nấp đằng sau cái xấu xí của mình. Che đậy, ngụy trang, lu mờ - họa hoằn mới he hé nhìn từ sau lớp phủ, để rồi mong mỏi có lại lớp mặt nạ của mình.

Gia đình này, một sáng thứ Bảy tháng Mười, bắt đầu, từng người một, cựa mình tỉnh dậy khỏi những giấc mơ sung túc và phục thù rồi về lại nỗi khốn khổ không tên của cửa tiệm mình.

Chị Breedlove tụt xuống giường không tiếng động, tròng thêm áo len bên ngoài váy ngủ (là chiếc váy mặc ngày cũ rích), rồi bước tới bếp. Bên chân lành lặn tạo tiếng động cứng cục, xương xẩu; bên chân bị vẹo thì thầm trên vải dầu lót sàn. Trong bếp chị ồn ào nơi cửa, vòi, nồi chảo. Những tiếng ồn khô rỗng, nhưng những đe dọa chúng ngụ ý thì không. Pecola mở mắt rồi nằm nhìn đăm đăm cái lò than tắt ngóm. Cholly ú ớ, vật mình trên giường một lát, rồi im.

Kể cả từ chỗ nằm Pecola vẫn ngửi thấy mùi uýt-ki của Cholly. Những tiếng ồn trong bếp đã to hơn và bớt rỗng. Trong động tác của chị Breedlove có đường hướng và dụng ý không dính dáng gì đến việc sửa soạn bữa sáng. Nhận thức này, hậu thuẫn bởi vô vàn bằng chứng trong quá khứ, khiến Pecola thóp cơ bụng lại, nín thở.

Cholly đã về nhà trong tình trạng say khướt. Chẳng may anh ta say quá không cãi cọ, nên toàn bộ chuyện này sẽ phải nổ ra sáng nay. Vì nó không diễn ra ngay, trận giao tranh sắp tới sẽ thiếu đi tính bộc phát; nó sẽ có tính toán, thiếu cảm hứng, và tàn khốc.

Chị Breedlove bước nhanh vào phòng rồi đứng bên chân giường Cholly.

“Tôi cần ít than bỏ trong nhà này.”

Cholly không nhúc nhích.

“Có nghe không đó?” Chị Breedlove thọc mạnh bàn chân Cholly.

Cholly từ từ mở mắt. Chúng đỏ ngầu và hăm doạ. Không ngoại lệ, Cholly có cặp mắt hung hãn nhất thành phố.

“Ốiiiii, đồ đàn bà!”

“Tôi nói tôi cần ít than. Trong nhà này lạnh như vú phù thủy. Cái đít uýt-ki của ông lửa địa ngục cũng không cảm thấy đâu, nhưng tôi lạnh. Tôi phải làm cả lô lốc việc, nhưng tôi không chịu lạnh cóng đâu.”

“Để tao yên.”

“Đến khi nào ông lấy cho tôi ít than. Nếu nai lưng như lừa mà tôi cũng không có quyền được ấm thì tôi làm để làm gì? Nào ông có đem về cái gì bao giờ. Nếu để hết cho ông, cả nhà có mà chết nhăn răng...” Giọng chị như khoan vào não. “... Nếu ông nghĩ tôi sẽ lội ra ngoài trời lạnh để lấy, ông nên xem lại đi.”

“Tao cóc cần biết mày lấy cách nào.” Một bọt bóng bạo lực vỡ toác trong cổ họng anh ta.

“Ông có chịu nhấc cái xác say xỉn ra khỏi giường đi lấy cho tôi ít than hay là không đây?”

Im lặng.

“Cholly!”

Im lặng.

“Sáng nay đừng có mà thách tôi, ông kia. Ông mà nói tiếng nữa là tôi chẻ toác ông ra!”

Im lặng.

“Được rồi. Được rồi. Nhưng tôi mà hắt hơi một cái, chỉ một cái thôi, thì có Chúa mới cứu được cái mông ông!”

Lúc này Sammy cũng đã thức, nhưng giả như đang ngủ. Pecola vẫn nín căng cơ bụng và giữ lại hơi thở. Chúng đều biết là chị Breedlove có thể, sẽ, và đã, lấy than trong kho, hoặc có thể sai Sammy hay Pecola đi lấy. Nhưng buổi tối chưa cãi cọ lửng lơ như nốt đầu một bài hát truy điệu trong không khí chờ đợi buồn thảm. Một cuộc trốn nhà đi nhậu nhẹt say sưa, dù có là lệ thế nào đi nữa, cũng phải có nghi lễ kết thúc của nó. Từng ngày nhỏ nhoi, xoàng xĩnh chị Breedlove sống được xác định, tập hợp và phân loại bằng những trận cãi vã này. Chúng tô đậm những phút những giờ mà nếu không đã mịt mờ không được nhớ đến. Chúng làm vơi cái mệt mỏi của cảnh nghèo, tô vẻ uy nghi cho những căn phòng không sinh khí. Ở những khoảng gián đoạn dữ dội trong nếp sống hằng ngày mà tự chúng đã là nếp sống hằng ngày này, chị được phô diễn phong cách và trí tưởng tượng của cái mà chị tin là con người thật của mình. Tước mất của chị những màn đôi co này là tước mất của chị mọi niềm hăng say và cái phải lẽ của đời sống. Cholly, băng tình trạng say sưa và xấu tính quen thuộc, cung cấp cho cả hai chất liệu họ cần để chịu được đời mình. Chị Breedlove tự xem mình là một nữ giáo dân Cơ Đốc và đoan chính, phải gánh vác một gã đàn ông vô dụng mà Chúa muốn chị trừng phạt. (Cholly tất nhiên là vô phương cứu chuộc, mà cứu chuộc cũng chẳng phải điểm chính - chị Breedlove không để tâm đến Chúa Cứu Thế mà chỉ để tâm tới Chúa Phán Xét.) Lắm lúc người ta nghe thấy chị đàm đạo với Jesus về Cholly, cầu xin Người giúp chị “nện cho tên khốn té khỏi cái cao ngạo khốn kiếp của hắn”. Và có lần khi một động tác say rượu làm Cholly văng vào lò nướng nóng đỏ, chị thét lên, “Đem hắn đi đi, Jesus! Đem hắn đi đi!” Ví thử Cholly dừng nhậu nhẹt, chị sẽ không bao giờ tha thứ cho Jesus. Chị quá sức cần những tội lỗi của Cholly. Anh ta lún càng sâu, anh ta càng điên loạn và vô trách nhiệm, chị và nghĩa vụ của chị càng vẻ vang hơn. Nhân danh Jesus.

Cholly cũng cần chị chẳng kém. Chị là một trong ít thứ anh ta ghê ghét mà có thể động vào và do vậy làm đau. Anh ta trút hết lên chị mọi thịnh nộ không thành lời và dục vọng không thỏa. Khi căm ghét chị, anh ta có thể để mình nguyên vẹn. Ngày còn nhỏ, Cholly bị hai gã da trắng bắt quả tang trong bụi cây khi anh ta vừa bắt đầu nhưng hăm hở khơi gợi dục tình của một đứa con gái thôn quê. Bọn chúng rọi đèn pin ngay trên mông anh ta. Anh ta dừng lại, khiếp đảm. Chúng cười khúc khích. Tia đèn rọi không xê dịch. “Tiếp đi,” chúng nói. “Làm tiếp cho xong đi. Với lại, thằng mọi đen kia, làm cho ngon vào.” Ánh đèn pin không xê dịch. Vì lý do nào đó Cholly không căm hận mấy gã da trắng; anh ta căm ghét, khinh bỉ đứa con gái. Dù chỉ lờ mờ nhớ lại cảnh này, cùng vô vàn những ê chề, thất bại, và nhục nhã khác, anh ta cũng có thể sa vào những trò đồi bại làm chính bản thân mình ngạc nhiên - nhưng chỉ bản thân anh ta thôi. Không hiểu sao anh ta không khiến người khác sửng sốt được. Anh ta chỉ có thể tự thấy sửng sốt. Nên anh ta cũng dẹp luôn chuyện đó.

Cholly và chị Breedlove giao tranh với cái hình thức tàn bạo hung hiểm mà chỉ có màn làm tình của họ sánh được. Họ ngầm thỏa thuận sẽ không giết chết nhau. Anh ta đánh chị theo kiểu một thằng hèn đấu với một người đàn ông - bằng bàn chân, lòng bàn tay, và răng. Đến lượt mình, chị đánh trả theo kiểu thuần đàn bà - bằng chảo và cây cời, và thỉnh thoảng một cái bàn ủi sẽ bay vèo vào đầu anh ta. Những khi động tay động chân như vậy họ không nói, rên siết hay chửi rủa. Chỉ có tiếng đồ vật rơi im, da thịt trên da thịt đã không còn thấy ngạc nhiên nữa.

Phản ứng của lũ con trước những trận chiến này có khác. Sammy chửi rủa một hồi, hay ra khỏi nhà, hay đi đánh đấm. Mới mười bốn nó đã có tiếng là bỏ nhà đi không dưới hai mươi bảy bận. Có lần nó lên tận Buffalo và ở lại đó ba tháng. Những lần nó về, dù là do ép buộc hay do hoàn cảnh, đều sưng sỉa. Pecola, trái lại, vì bó buộc bởi tuổi nhỏ và giới tính, nên nó thử nghiệm các cách chịu đựng. Dù phương thức có khác, nỗi đau vẫn vậy và sâu hoắm tột cùng. Nó giằng co giữa mong muốn ứa tràn rằng người này sẽ giết chết người kia, và ước muốn sâu xa rằng chính mình chết đi được. Giờ nó lẩm nhẩm, “Đừng mà, bà Breedlove. Đừng.” Pecola, cũng như Sammy và Cholly, luôn gọi mẹ là bà Breedlove.

“Đừng mà, bà Breedlove. Đừng.”

Nhưng chị Breedlove vẫn làm.

Rõ ràng, nhờ ơn Chúa, chị Breedlove đã hắt hơi. Duy nhất một cái.

Chị chạy vào phòng ngủ với cái thau lớn đầy nước lạnh rồi hắt vào mặt Cholly. Anh ta ngồi dậy, sặc nước, phun phì phì. Trần trùng trục và xám tro, anh ta vọt khỏi giường, bằng một cú ôm ngang người, anh ta túm eo vợ, họ ngã lăn ra sàn. Cholly xốc chị dậy, đánh chị té nhào bằng mu bàn tay. Chị ngã ngồi ra sau, lưng có khung giường của Sammy đỡ. Chị vẫn chưa buông cái thau, nên chị dùng nó đánh vào đùi và háng Cholly. Anh ta đạp chân lên ngực chị, chị buông cái thau. Quỳ phịch gối, anh ta đánh liên tiếp vào mặt chị, có lẽ chị đã đầu hàng sớm nếu anh ta không đánh tay trúng khung giường kim loại khi vợ né. Chị Breedlove lợi dụng phút tạm ngưng đòn này để chuồi ra khỏi tầm tay anh ta. Sammy, nãy giờ nằm im theo dõi cuộc vật lộn bên giường, bất thần dùng cả hai nắm đấm nện túi bụi lên đầu cha, vừa nện vừa gào “Thằng khốn trần truồng!” lặp đi lặp lại. Chị Breedlove, tay đã chộp cái nắp lò tròn dẹt, nhón gót chạy đến chỗ Cholly khi anh ta đang nhấc mình dậy, giáng hai cú làm anh ta rơi trở lại tình trạng mê man mà chị đã khích anh ta ra. Thở hồng hộc, chị thảy tấm chăn chần lên mình anh ta và để anh ta nằm.

Sammy hét lên, “Giết lão đi! Giết lão đi!”

Chị Breedlove ngạc nhiên nhìn Sammy. “Đừng ồn nữa con.” Chị bỏ nắp lò lại chỗ cũ rồi bước tới bếp. Bên cửa chị dừng vừa đủ để nói với thằng con, “Thôi thì dậy luôn đi. Mẹ cần chút than.”

Bấy giờ, sau khi để bản thân thở bình thường lại, Pecola kéo chăn chần lên trùm đầu. Cảm giác lợm họng nó cố ngăn bằng cách thóp bụng dâng lên nhanh chóng dù nó đã đề phòng. Trào lên trong nó cơn buồn nôn, nhưng như mọi lần, nó biết mình sẽ không nôn được.

“Lạy Chúa,” nó bụm miệng nói thầm. “Xin hãy làm con biến mất.” Nó nhắm nghiền mắt. Từng bộ phận bé nhỏ trên cơ thể nó mờ dần đi. Khi thì từ từ, lúc lại ào ạt. Lại từ từ. Ngón tay nó biến mất, từng ngón một; rồi hai cánh tay nó tan biến dần lên tận cùi chỏ. Giờ đến hai bàn chân. Đúng rồi, tốt quá. Hai giò đi một lượt. Phía trên đùi là khó nhất. Nó phải nằm thật yên và thít người lại. Bụng nó không chịu mất. Nhưng cuối cùng, bụng nó cũng biến đi. Rồi đến ngực nó, cổ nó. Mặt cũng khó nữa. Gần xong rồi, sắp rồi. Chỉ còn lại hai con mắt nó nhắm nghiền, nhắm tịt. Chúng luôn còn lại.

Có cố cách mấy nó cũng không bao giờ làm cho hai mắt biến đi được. Nên ích gì? Chúng là tất cả. Mọi thứ ở đó, trong chúng. Mọi hình ảnh đó, mọi gương mặt đó. Từ lâu nó đã bỏ cái ý định bỏ nhà đi để thấy những hình ảnh mới, những gương mặt mới, như Sammy thường làm. Anh không bao giờ dẫn nó theo, anh đi cũng không bao giờ tính trước, nên chuyện đó chưa bao giờ được lên kế hoạch. Mà dù gì thì chuyện đó cũng không thành. Chừng nào bề ngoài của nó còn như vậy, chừng nào nó còn xấu xí, thì nó vẫn phải ở lại với mấy người này. Không hiểu sao nó thuộc về họ. Hàng giờ nó ngồi soi gương, cố phát hiện ra bí mật đằng sau cái xấu xí, cái xấu xí làm nó bị thầy cô cũng như bạn học ở trường phớt lờ hoặc coi khinh. Trong lớp duy chỉ có nó ngồi bàn đôi một mình. Chữ cái đầu trong họ của nó buộc nó lúc nào cũng ngồi đầu lớp. Vậy Marie Appolonaire thì sao? Marie ngồi trước mặt nó, nhưng con bé ngồi chung bàn với Luke Angelino. Thầy cô luôn đối xử với nó thế này. Họ cố để không bao giờ liếc nhìn nó, và gọi nó chỉ khi cả lớp ai cũng phải trả lời. Nó còn biết rằng khi một nữ sinh ở trường muốn đặc biệt nhục mạ một nam sinh, hay muốn có phản ứng tức thì từ thằng đó, con bé có thể nói, “Bobby yêu Pecola Breedlove! Bobby yêu Pecola Breedlove!” và lần nào cũng nhận được những tràng cười từ đám đứng gần, và vẻ giận dữ vờ vịt từ kẻ bị tố.

Ít lâu trước Pecola chợt nghĩ rằng nếu mắt nó, đôi mắt giữ những hình ảnh, quen các cảnh tượng - nếu đôi mắt đó của nó khác đi, có nghĩa là xinh đẹp, nó cũng sẽ khác. Hàm răng nó đẹp, và ít ra mũi nó cũng không to bè như mấy đứa được cho là dễ thương. Nếu nó trông khác đi, xinh đẹp, có lẽ Cholly sẽ khác, bà Breedlove cũng vậy. Biết đâu họ sẽ nói, “Ơ, nhìn Pecola có đôi mắt đẹp kìa. Vợ chồng mình không được làm chuyện tệ hại trước cặp mắt xinh đẹp đó.”

Đôi mắt xinh đẹp. Đôi mắt xanh xinh đẹp. Đôi mắt xanh to xinh đẹp. Chạy đi, Jip, chạy đi. Jip chạy, Alice chạy. Alice có đôi mắt xanh. Jerry có đôi mắt xanh. Jerry chạy. Alice chạy. Chúng chạy với đôi mắt xanh. Bốn con mắt xanh. Bốn con mắt xanh xinh đẹp. Mắt màu thiên thanh. Mắt xanh như áo xanh của bà Forrest. Mắt-xanh-ánh-ban-mai. Mắt-xanh-trong-quyển-truyện-Alice-và-Jerry.

Hằng đêm, không sót đêm nào, nó cầu xin có được đôi mắt xanh. Cả năm rồi nó thành khẩn cầu xin. Dù cũng hơi nản chí, nó không mất hy vọng. Để điều kỳ diệu như vậy xảy ra phải chờ lâu thật lâu.

Bị ném như vậy vào cái xác tín trói buộc rằng chỉ có phép mầu mới cứu giúp được mình, con bé không bao giờ biết vẻ đẹp của nó. Nó chỉ thấy cái sờ sờ trước mặt: ánh mắt của kẻ khác.

Nó đi dọc đại lộ Garden đến một tiệm tạp hóa nhỏ bán kẹo một xu. Ba xu nằm trong giày nó - trượt tới trượt lui giữa tất và mặt trong đế giày. Cứ mỗi bước nó lại cảm thấy mấy đồng xu nhấn lên chân đau điếng. Cái sưng tấy ngọt ngào, chịu đựng được, thậm chí được nâng niu, đầy hứa hẹn và bảo đảm mong manh. Có vô khối thời gian để nghĩ xem mua gì. Thế nhưng, lúc này, nó đi xuôi một đại lộ đâu cũng nhác thấy những hình ảnh thân thuộc và do vậy thân thương. Bồ công anh dưới chân cột điện thoại. Tại sao, nó thắc mắc, thiên hạ gọi chúng là cỏ dại? Nó thấy chúng dễ thương. Nhưng người lớn nói, “Cô Dunion chăm vườn đẹp quá. Không thấy một cọng bồ công anh nào.” Mấy bà to bè trùm khăn đen xách giỏ ra đồng nhổ chúng. Nhưng họ không cần phấn hoa màu vàng - chỉ cần phần lá răng cưa. Họ nấu xúp bồ công anh. Rượu bồ công anh. Không ai thích phần hoa bồ công anh. Có lẽ vì chúng quá nhiều, mạnh mẽ và lên nhanh.

Trên vỉa hè có vết nứt như hình chữ Y, và một vết nữa làm bê tông nhô lên khỏi nền đất. Bước đi lệt bệt lắm lúc khiến nó vấp phải chỗ đó. Ván trượt sẽ lướt ro ro trên vỉa hè này - vì nó cũ, và trơn láng; nó làm bánh xe trượt đều, chỉ hơi rù rù. Những lối đi mới lát thì gồ ghề bất tiện, tiếng bánh xe ván trượt trên lối đi mới nghe lạo xạo.

Mấy thứ này và những thứ vô tri khác nó đã thấy và trải qua. Với nó chúng thực hữu. Nó quen chúng. Chúng là chuẩn tắc và chuẩn mực của thế giới, có thể diễn dịch và sở hữu. Nó sở hữu cái vết nứt làm nó vấp té đó, nó sở hữu mấy cụm bồ công anh mà đầu hoa trắng thu trước nó đã thổi, đầu hoa vàng thu này nó ló mắt nhìn vào. Sở hữu chúng biến nó thành một phần của thế giới, và thế giới thành một phần của nó.

Nó bước bốn bậc cấp gỗ dẫn lên cửa Tiệm Thịt rau tươi và Tạp hóa của Yacobowski. Chuông kêu lanh canh khi nó mở cửa. Đứng trước quầy, nó đưa mắt nhìn từng dãy kẹo. Mua hết Mary Jane, nó quyết ý. Một xu ba cái. Vị ngọt cứng đầu cuối cùng cũng vỡ ra để tỏa vị bơ lạc - dầu và muối thêm vào cái sức hút ngọt lịm của ca-ra-men. Nỗi hồi hộp làm bụng nó nôn nao.

Nó tháo giày lấy ba xu ra. Mái đầu bạc của ông Yacobowski lù lù bên quầy. Ông ép mắt mình rời khỏi ý nghĩ để đối mặt nó. Mắt xanh. Kèm nhèm. Chậm rãi, như tiết trời nóng ẩm cuối hạ chuyển mình êm ả sang thu, ông nhìn tới nó. Đâu đó từ võng mạc đến vật thể, từ cái nhìn đến cái thấy, mắt ông thu lại, ngập ngừng, và lửng lơ. Ở một điểm nhất định nào đó trong thời gian và không gian ông đánh hơi thấy mình không cần phải phí sức liếc nhìn. Ông không thấy nó, vì với ông chẳng có gì để thấy. Làm sao một chủ tiệm di cư da trắng năm mươi hai tuổi miệng có vị khoai tây và bia, óc đã khoan sâu hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh mắt nai, tri giác đã cùn đụt đi vì nhìn đâu cũng thấy mất mát, lại thấy một con bé da đen? Trong đời ông không có gì dù chỉ là gợi ý rằng cố gắng đó là khả dĩ, nói gì đáng mong hay cần thiết.

“Gì?”

Nó ngước nhìn ông và thấy khoảng chân không ở nơi lẽ ra phải đọng cái hiếu kỳ. Còn thứ gì nữa. Hoàn toàn không có ghi nhận nào về con người - chỉ có cái gạt ra đờ đẫn. Nó không biết cái gì khiến ánh nhìn ông ngưng đọng. Có lẽ vì ông là người lớn, hay đàn ông, còn nó là con gái. Nhưng nó đã thấy niềm vui thích, khinh ghét, thậm chí cơn giận dữ trong mắt đàn ông lớn tuổi. Song khoảng chân không này không mới với nó. Nó có một cạnh sắc, đâu đó ở mí mắt dưới là nỗi chán ghét. Nó đã thấy thứ này lẩn khuất trong mắt mọi người da trắng. Vậy nên. Nỗi chán ghét hẳn là dành cho nó, màu da đen của nó. Trong nó tất thảy đều biến đổi và chờ đợi. Nhưng màu da đen của nó lại tĩnh tại và dễ sợ. Và chính màu da đen mới là thứ góp phần, thứ tạo ra, khoảng chân không bo viền nỗi chán ghét trong mắt người da trắng.

Nó chỉ ngón tay vào chỗ kẹo Mary Jane - ngón tay như ngọn giáo nhỏ màu đen, đầu ngón tay ấn lên tủ kính. Cái quả quyết lặng câm không hàm ý xúc phạm của một đứa nhỏ da đen tìm cách trao đổi với một người lớn da trắng.

“Đó.” Chữ này giống tiếng thở dài hơn là mang nghĩa.

“Gì? Đây hả? Mấy cái này hả?” Đờm dãi và sự sốt ruột lẫn trong giọng ông.

Nó lắc đầu, đầu ngón tay giữ yên ở chỗ mà, trong tầm mắt nó, nhìn thế nào cũng thấy tay đang chỉ kẹo Mary Jane. Ông không thấy được từ tầm mắt nó - góc nhìn của ông, ngón tay chênh chếch của nó, làm ông không sao hiểu được. Bàn tay đỏ tấy sưng múp khoắng trong thùng kính như cái đầu kích động của con gà giận dữ vì mất thân.

“Trời đất. Mày không nói được hả?”

Mấy ngón tay ông lướt qua chỗ kẹo Mary Jane.

Nó gật.

“Ờ, sao mày không nói vậy đi? Một hả? Mấy?” Pecola xòe tay ra, để lộ ba xu. Ông thảy ba gói Mary Jane về phía nó - ba hình chữ nhật vàng trong mỗi gói. Nó chìa tiền cho ông. Ông ngập ngừng, không muốn chạm vào tay nó. Nó không biết làm sao cất được ngón tay bên bàn tay phải khỏi tủ kính hay lấy được mấy đồng xu trên bàn tay trái ra. Cuối cùng ông cúi tới lấy mấy đồng xu trên tay nó. Móng tay ông sượt qua lòng bàn tay nó ẩm ướt.

Ra ngoài, Pecola cảm thấy nỗi nhục không sao giải thích được vơi đi.

Những bông bồ công anh. Một phi tiêu đem lòng thương mến phóng vọt từ nơi nó đến chỗ chúng. Nhưng chúng không nhìn nó và không gửi lại yêu thương. Nó nghĩ, “Chúng thật xấu xí. Chúng là cỏ dại.” Lơ đãng vì khám phá đó, nó vấp trúng vết nứt trên vỉa hè. Cơn giận cựa mình thức dậy trong con bé; thứ đó há miệng, và như con cún con có khuôn miệng nóng ấm, liếm sạch những lắng cặn trong nỗi nhục của nó.

Tức giận thì đỡ hơn. Trong cơn giận người ta thấy mình tồn tại. Thấy mình thực hữu và hiện diện. Ý thức được mình xứng đáng. Ấy là sự trào dâng dễ chịu. Nó lại nghĩ đến đôi mắt ông Yacobowski, giọng nói khản đặc của ông. Cơn giận không giữ được lâu; con cún con quá dễ ngán. Cơn khát được thỏa quá nhanh, nó ngủ. Nỗi nhục lại trào lên, những chi lưu bùn sình rịn vào mắt con bé. Phải làm gì trước khi nước mắt trào ra. Nó nhớ ra mấy cái kẹo Mary Jane.

Trên mỗi miếng giấy gói màu vàng chanh có một hình vẽ. Hình vẽ Mary Jane bé bỏng, có tên được đặt cho kẹo. Gương mặt trắng trẻo tươi cười. Mái tóc vàng hoe lòa xòa, đôi mắt xanh nhìn nó từ một thế giới sung túc sạch sẽ. Đôi mắt hờn dỗi, tinh quái. Pecola thấy chúng chỉ đẹp thôi. Nó ăn kẹo, và vị ngọt thật ngon. Ăn cái kẹo cũng gần giống như ăn hai con mắt, ăn Mary Jane. Yêu Mary Jane. Là Mary Jane.

Ba xu mua được cho nó chín lần ngây ngất dễ chịu với Mary Jane. Mary Jane dễ thương, có tên được đặt cho kẹo.

Ba cô gái điếm sống trong căn hộ phía trên cửa tiệm nhà Breedlove. Trung Hoa, Ba Lan, và chị Marie. Pecola quý họ, lên chơi với họ, và chạy việc vặt cho họ. Đến lượt họ, họ không coi khinh nó.

Một sáng tháng Mười, buổi sáng có thắng lợi nắp lò, Pecola trèo cầu thang lên căn hộ của họ.

Nó gõ cửa và ngay cả khi chưa ai ra mở, nó đã nghe tiếng Ba Lan hát - giọng chị ngọt ngào săn chắc, như dâu tươi:

Tôi có nỗi buồn trong thùng bột

Nỗi buồn cất tận trên giá

Tôi có nỗi buồn trong thùng bột

Nỗi buồn cất tận trên giá

Nỗi buồn trong phòng ngủ

Vì tôi ngủ một mình

“Ê, bánh hấp. Tất em đâu?” Marie chẳng mấy khi gọi Pecola bằng tên gì hai lần, nhưng tính ngữ chị dùng lúc nào cũng là những từ trìu mến được chọn từ các thực đơn và món ăn muôn đời đứng nhất trong óc chị.

“Chào chị Marie. Chào chị Trung Hoa. Chào chị Ba Lan.”

“Em nghe rồi đó. Tất đâu? Em đi chân trần như chó chạy ngoài sân vậy.”

“Em không tìm thấy cái nào.”

“Không tìm thấy cái nào? Chắc trong nhà em có thứ gì thích tất đấy.”

Trung Hoa cười khúc khích. Hễ mất thứ gì, Marie đều nghĩ nó biến đi là do “trong nhà có gì thích nó”. “Trong nhà này có thứ gì đó thích áo ngực,” chị thường thảng thốt nói.

Ba Lan và Trung Hoa đang sửa soạn cho buổi tối. Ba Lan, muôn đời ủi áo quần, muôn đời hát hò. Trung Hoa, ngồi trên ghế sơn xanh nhạt trong bếp, muôn đời cuốn tóc. Marie không bao giờ lo sửa soạn.

Mấy chị này thân thiện, nhưng khó bắt chuyện. Pecola luôn bắt đầu từ Marie, chị này một khi đã có hứng thì khó mà dừng.

“Sao chị có nhiều bạn trai vậy được, chị Marie?”

“Bạn trai? Bạn trai sao? Lòng heo ơi, chị chưa gặp cậu trai nào từ một chín hai bảy rồi.”

“Vậy là mày không gặp ai cả.” Trung Hoa cắm đồ cuốn tóc nóng vào hộp sáp vuốt tóc Nu Nile. Dầu xèo xèo khi kim loại nóng chạm vào.

“Tại sao vậy, chị Marie?” Pecola nằn nì.

“Tại sao cái gì? Tại sao chị không gặp cậu trai nào từ một chín hai bảy hả? Vì kể từ đó chẳng trai trẻ nào. Đó là khi bọn họ dừng lại. Người ta bắt đầu đẻ ra đã già.”

“Ý mày đó là khi mày bắt đầu già,” Trung Hoa nói.

“Tao chả già đi bao giờ. Chỉ béo thôi.”

“Như nhau.”

“Mày nghĩ vì mày gầy nhom mà thiên hạ tưởng mày còn trẻ hả? Cỡ mày đến ma cũng phải mua nịt bụng.”

“Còn mày trông giống cái mông lừa.”

“Tao chỉ biết là cặp giò nhỏ choắt vòng kiềng của mày thì cũng già nua như giò tao thôi.”

“Khỏi lo cho cặp giò vòng kiềng của tao. Đó là thứ đầu tiên họ xoạc ra mà.”

Cả ba chị cười ồ. Marie ngửa đầu ra sau. Từ sâu bên trong, tiếng cười của chị vang ra như tiếng rất nhiều con sông, tự do, sâu thẳm, ngập bùn, đổ về căn phòng biển rộng. Trung Hoa cười rúc rích từng cơn. Mỗi hơi thở như có bàn tay vô hình nắm sợi dây vô hình giật ra. Ba Lan, hiếm khi nói trừ lúc say, cười không thành tiếng. Khi tỉnh táo chị chủ yếu ngâm nga hay hát những bài blues[1] mà chị thuộc.

Pecola vân vê diềm khăn quàng vắt trên lưng xô-pha. “Em chưa từng thấy ai có nhiều bạn trai như chị đó, chị Marie. Sao mà họ đều yêu chị vậy?”

Marie khui một chai xá xị. “Họ làm gì được nữa? Họ biết chị giàu và dễ coi. Họ muốn xỏ ngón chân vào mái tóc xoăn của chị, và thò tay vào tiền của chị.”

“Chị giàu hả chị Marie?”

“Bánh gạo à, chị có của để dành mà.”

“Ở đâu chị có? Chị có đi làm đâu.”

“Phải đó,” Trung Hoa nói, “mày lấy đâu ra?”

“Hoover cho tao. Tao có lần giúp lão một việc, cho F. B. và I.”

“Chị làm gì?”

“Giúp lão một việc. Bọn họ muốn tóm tên lừa đảo này, hiểu chưa. Tên là Johnny. Hắn cũng đê tiện như...”

“Bọn tao biết chuyện đó rồi.” Trung Hoa xếp một lọn tóc.

“... F. B. với I. muốn tóm hắn tệ. Hắn giết còn nhiều người hơn cả bệnh lao. Còn mà chọc giận hắn hả? Chu cha Jesus ơi! Hắn sẽ săn đuổi đến cùng trời cuối đất. À, hồi đó chị còn nhỏ nhắn xinh xắn. Không quá chín mươi cân Anh, ướt sũng.”

“Mày có bao giờ ướt sũng đâu mà,” Trung Hoa cãi.

“Ờ, còn mày có bao giờ khô đâu. Im đi. Để chị kể cho nghe, cục cưng. Nói ngay ra thì chỉ mình chị trị được hắn. Hắn ra ngoài đi cướp nhà băng hay giết vài mạng, vậy la chị nói với hắn, nhỏ nhẹ, ‘Johnny, anh không nên làm vậy.’ Thì hắn nói hắn phải mang về cho chị những của xinh xắn. Quần túm ren này kia. Và mỗi thứ Bảy bọn chị đều mua một thùng bia và rán ít cá. Bọn chị chiên trong bột với đồ đánh trứng, biết chưa, rồi khi cá đã nâu đều và giòn rụm - nhưng chưa cứng nhé - bọn chị bật nắp chai bia lạnh...” Mắt Marie dịu đi khi ký ức về nhõn một bữa ăn như vậy lúc nào đó, đâu đó làm chị lặng người. Mọi câu chuyện chị kể đều bị ngắt ra những lúc mô tả món ăn. Pecola thấy răng Marie cắn xuống lưng con cá vược giòn tan; thấy mấy ngón tay béo múp đút vào miệng những miếng xíu xiu cá trắng nõn, nóng hổi rơi ra từ môi; nó nghe thấy tiếng “bụp” nắp chai bia; ngửi thấy vị nồng của tia bọt đầu tiên; cảm nhận được vị bia mát lạnh chạm lưỡi. Nó dừng cơn mơ màng rất lâu trước Marie.

“Còn tiền thì sao ạ?” nó hỏi.

Trung Hoa huýt một tiếng. “Nó làm như mình là Quý cô Áo đỏ chỉ điểm Dillinger không bằng. Dillinger chẳng đời nào chịu tới gần mày đâu trừ khi hắn đi săn ở châu Phi rồi bắn mày vì tưởng nhầm hà mã.”

“Ờ, con hà mã này đã có thời tưng bừng ở Chicago đó. Chu cha Jesus ơi, chín chín!”

“Sao chị lúc nào cũng nói ‘Chu cha Jesus ơi’ rồi thêm một số vậy?” Pecola đã muốn biết từ lâu.

“Vì mẹ dạy chị không bao giờ được chửi thề.”

“Mẹ mày có dạy mày không được tụt quần túm không?” Trung Hoa hỏi.

“Có cái nào đâu,” Marie trả lời. “Chưa từng được thấy cái nào cho đến lúc mười lăm, lúc tao rời Jackson rồi đi làm công nhật ở Cincinnati. Bà chủ da trắng cho tao vài cái quần cũ của bả. Tao cứ tưởng nó là kiểu mũ trùm gì đó. Tao đội lên đầu khi lau dọn. Khi bả thấy tao vậy, bả suýt té ngửa.”

“Mày chắc là đứa đần hay sao đó.” Trung Hoa châm điếu thuốc và để nguội bàn ủi.

“Sao tao biết được?” Marie ngưng lại. “Mà mặc thứ gì rồi cứ phải cởi ra thì để làm gì? Dewey chưa bao giờ để tao mặc đủ lâu mà quen.”

“Dewey nào cơ?” Người này Pecola chưa biết.

“Dewey nào sao? Gà con ơi! Em chưa bao giờ nghe chị kể về Dewey sao?” Marie sửng sốt vì sơ suất của nó.

“Chưa chị”

“Ôi trời cưng ơi, em bỏ lỡ nửa cuộc đời rồi. Chu cha Jesus ơi, một chín lăm. Phải gọi là êm ả! Chị gặp anh ta ngày chị mười bốn. Bọn chị trốn đi sống với nhau như vợ chồng được ba năm. Em biết hết mấy thằng cha khố rách áo ôm em thấy chạy lên đây không? Năm chục người họ bỏ trong cái chén cũng không bằng cái mắt cá chân của Dewey Prince. Ôi trời. Anh chàng đó yêu chị phải biết!”

Trung Hoa lấy ngón tay xoắn mớ tóc mái trước trán. “Nếu vậy sao hắn bỏ mày để mày phải đi bán trôn?”

“Gái à, khi tao biết ra là tao có thể bán nó - là có người chịu trả tiền tươi cho nó, tao đúng là kinh hồn bạt vía.”

Ba Lan bật cười. Không thành tiếng. “Tao cũng vậy. Bà dì tao quất tao một trận lần đầu tiên lúc tao nói là tao không lấy đồng nào hết. Tao nói ‘Tiền hả? Tại sao? Hắn có nợ nần gì cháu đâu.’ Bả nói, ‘Không nợ cái con khỉ!’”

Cả ba cười ngất.

Ba cái miệng ống máng hớn hở. Ba mụ già ác mó vui tươi. Thấy buồn cười một thời ngờ nghệch từ lâu lắm. Họ không thuộc về những thế hệ gái điếm được vẽ ra trong tiểu thuyết, với tấm lòng cao cả rộng lượng, bởi hoàn cảnh kinh hoàng, nên tận tụy cải thiện cuộc sống cằn cỗi, xui rủi của đàn ông, rồi nhân tiện và khiêm nhường nhận tiền đáp lại lòng “cảm thông” của họ. Họ cũng không xuất thân từ hạng thiếu nữ nhạy cảm, lầm lạc giữa số phận xoay vần, buộc phải tập tành vẻ ngoài gai góc để bảo vệ tuổi thanh xuân khỏi sang chấn thêm, nhưng biết rõ mình được định sẵn cho những điều tốt đẹp hơn, và có thể khiến người đàn ông đời mình hạnh phúc. Họ cũng không phải mấy ả điếm nhếch nhác, bất tài mà, do không kiếm sống nổi chỉ bằng mỗi việc đó, bèn quay qua tiêu thụ và buôn lậu ma túy hay quay qua bọn ma cô để làm trọn kế hoạch tự hoại, tránh tự tử chỉ để trừng phạt ký ức về người cha vắng mặt hay để kéo dài cái khốn khổ của người mẹ lặng câm. Không kể tình yêu hoang đường của Marie dành cho Dewey Prince, những phụ nữ này căm ghét đàn ông, tất thảy đàn ông, không xấu hổ, biện giải, hay phân biệt. Họ ngược đãi khách bằng sự khinh bỉ đã thành tự động vì quen dùng. Đàn ông da đen, đàn ông da trắng, Puerto Rico, Mexico, Do Thái, Ba Lan, bất kể ai - thảy đều bất tài và yếu đuối, thảy đều rơi dưới con mắt hằn học của họ và hứng chịu cơn thịnh nộ thản nhiên của họ. Họ lấy làm khoái trá khi lừa dối đàn ông. Có một dịp cả thành phố đều biết, họ dụ một tên Do Thái lên lầu, nhảy xổ vào anh ta, cả ba trói chân treo ngược anh ta lên, lắc cho mọi thứ trong túi quần rơi ra, rồi ném anh ta ra cửa sổ.

Họ cũng không nể nang gì đàn bà, những người, dù không phải đồng nghiệp với họ, có thể nói vậy, nhưng lừa dối chồng - đều đặn hay không đều đặn cũng không khác gì. “Mấy con điếm thớ lợ,” họ gọi đám đàn bà này, và không mong mỏi ở vào hoàn cảnh họ. Họ chỉ tôn trọng những người mà họ mô tả là “nữ giáo dân da màu Cơ Đốc ngoan đạo”. Người phụ nữ thanh danh không tì vết, chăm lo cho gia đình, không uống rượu hút thuốc hay đi hoang. Họ lén lút dành cho những phụ nữ này cảm tình bất diệt. Họ sẽ ngủ với chồng họ, nhận tiền của họ, nhưng lúc nào cũng nhận để phục thù.

Họ cũng chẳng bảo bọc quan tâm gì cái trong trắng ngây thơ thời con gái. Họ nhìn lại tuổi trẻ của mình như một đoạn đời ngờ nghệch, và tiếc mình đã không tận dụng nhiều hơn. Họ không phải mấy cô gái trẻ mặc đồ gái điếm, hay gái điếm tiếc nuối sự trong trắng đã mất. Họ là gái điếm mặc đồ gái điếm, gái điếm chưa từng trẻ và không biết ngây thơ là gì. Với Pecola họ cũng thoải mái tự nhiên như giữa họ với nhau. Marie bịa chuyện cho nó nghe vì nó là con nít, nhưng chuyện chị kể lại phơi phới và thô thiển. Nếu Pecola tỏ ý định sống cuộc đời họ sống, họ sẽ không cố can ngăn hay lên tiếng cảnh báo gì.

“Chị với Dewey Prince có con không, chị Marie?”

“Có. Có chứ. Bọn chị có vài đứa.” Marie ngọ ngoạy. Chị rút cây kim băng trên tóc xuống rồi xỉa răng. Nghĩa là chị không muốn nói chuyện nữa.

Pecola đi lại cửa sổ nhìn xuống con phố vắng. Một búi cỏ đã len lên qua kẽ nứt trên vỉa hè, để rồi gặp ngọn gió tháng Mười buốt giá. Nó nghĩ đến Dewey Prince và chuyện anh ta yêu chị Marie. Thế nào là yêu? Nó thắc mắc. Khi yêu nhau người lớn cư xử ra sao? Cùng ăn cá với nhau? Trước mắt nó hiện lên hình ảnh Cholly và bà Breedlove trên giường. Ông phát ra tiếng động như thể bị đau, như thể có thứ gì tóm cổ họng ông và không chịu buông ra. Dù những tiếng ồn của ông khủng khiếp là vậy, nhưng chúng cũng không tệ bằng việc không có tiếng ồn nào từ mẹ nó. Cứ như mẹ còn không ở đó. Có lẽ đó là tình yêu. Những tiếng nghẹn thở và im lặng.

Pecola rời mắt khỏi cửa sổ nhìn qua mấy bà chị.

Trung Hoa đổi ý về tóc mái và chải bởi lên một búi tóc phồng nhỏ nhưng chắc chắn. Chị khéo tay tạo ra vô số kiểu tóc, nhưng kiểu nào cũng làm chị có vẻ héo hon phiền não. Rồi chị trang điểm đậm sì. Giờ chị cho mình cặp mày ngạc nhiên và cái miệng hình cánh cung thần tình yêu. Sau đó chị sẽ kẻ lông mày lá liễu và quẹt cặp môi dữ tợn.

Ba Lan, với chất giọng ngọt như dâu, hát một bài khác:

Tôi quen một chàng trai da nâu mịn màng

Tôi quen một chàng trai da nâu mịn màng

Bụi vui sướng tung lên khi chân chàng chạm đất.

Dáng chàng đi khệnh khạng như chim công

Mắt chàng là đồng nung

Nụ cười là mật cao lương ngọt lịm nhỏ đến giọt cuối cùng

Tôi quen một chàng trai da nâu mịn màng

Marie ngồi lột vỏ đậu phộng thảy vào miệng. Pecola nhìn qua nhìn lại mấy chị. Họ có thật không? Marie ợ, nhẹ nhàng, rừ rừ, đáng yêu.

[1]

Blues là một loại nhạc có nguồn gốc từ dân ca châu Phi, được các nô lệ da đen mang sang Bắc Mỹ và dần trở nên phổ biến với cả cộng đồng da trắng.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.