Mắt Nào Xanh Nhất

Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mùa xuân

❊ ❊ ❊

Những cành con đầu mùa mảnh mai, xanh tốt và dẻo dai. Chúng uốn mình thành vòng tròn vành vạnh, nhưng không gãy. Hy vọng khấp khởi thanh tao, khoe mẽ của chúng đâm lên từ những bụi nghinh xuân và tử đinh hương chỉ có nghĩa là cách thức quất roi đã thay đổi. Vào mùa xuân họ quất chúng tôi kiểu khác. Thay vì cái đau âm ỉ của nịt da mùa đông, những ngọn roi xanh non quất xong thật lâu mới hết tê tái. Những cành con dài này chứa đựng ác ý nóng nảy, thứ khiến chúng tôi mong mỏi cái quất điềm đạm của nịt da hay cái tét rắn chắc nhưng thật thà của lược chải tóc. Ngay cả bây giờ đối với tôi mùa xuân cũng vọt qua với nỗi đau đớn hằn ghi của roi vọt, và hoa nghinh xuân cũng không phấn chấn gì.

Nằm lún trong cỏ trên lô đất trống một ngày thứ Bảy giữa xuân, tôi nhắm mắt tách mấy cọng hoa bông tai và nghĩ về kiến và hạt đào và cái chết và chuyện thế giới sẽ đi về đâu. Tôi hẳn đã nằm trong cỏ khá lâu, bởi cái bóng đổ trước mặt khi tôi rời nhà đã biến mất khi tôi quay về. Tôi bước vào nhà khi căn nhà đang căng tức trong yên lặng bứt rứt. Rồi tôi nghe mẹ hát gì đó về những đoàn tàu và Arkansas. Mẹ vào bằng cửa sau với vài tấm màn vàng gấp lại mà mẹ để thành đống trên bàn bếp. Tôi ngồi bệt xuống sàn lắng nghe câu chuyện trong bài hát, và nhận thấy mẹ đang cư xử kỳ lạ làm sao. Mẹ vẫn đội mũ, giày lấm bụi, như thể nãy giờ mẹ giẫm chân trong đất. Mẹ bắc nước lên đun rồi ra quét hiên; rồi mẹ lôi cái giá phơi màn ra, nhưng thay vì vắt màn ẩm lên, mẹ lại đi quét hiên lần nữa. Suốt lúc đó vẫn hát về những đoàn tàu và Arkansas.

Khi mẹ hát hết bài, tôi đi tìm Frieda. Tôi thấy chị nằm trên giường chúng tôi trên lầu, tiếng khóc thút thít, mệt mỏi theo sau những nức nở ban đầu - chủ yếu chị nấc và người rung bần bật. Tôi nằm xuống giường nhìn những bó hồng dại bé xíu lấm tấm trên váy chị. Giặt nhiều nên chúng đã bạc màu và nhạt nhòa đường nét.

“Có chuyện gì vậy Frieda?”

Chị ngẩng gương mặt sưng húp lên khỏi khuỷu tay. Vẫn rung bần bật, chị ngồi thẳng người, thòng chân bên thành giường. Tôi quỳ trên giường, kéo lai váy lên chùi nước mũi lòng thòng cho chị. Chị không bao giờ thích chùi mũi lên áo quần, nhưng lần này chị để tôi làm. Mẹ cũng làm vậy bằng cái tạp dề.

“Chị bị quất hả?”

Chị lắc đầu nói không.

“Vậy sao chị khóc?”

“Vì.”

“Vì gì?”

“Ông Henry.”

“Ổng làm gì?”

“Cha đánh ổng một trận.”

“Vì chuyện gì? Tuyến phòng thủ Maginot hả? Cha biết ra chuyện Tuyến phòng thủ Maginot hả?”

“Không phải.”

“Ơ vậy thì vì cái gì? Nói đi, Frieda. Sao em không được biết hả?”

“Ổng... chọc chị.”

“Chọc chị sao? Ý chị là giống như Nhà Thờ Đầu Xà Phòng hả?”

“Giống giống vậy.”

“Ổng khoe chỗ kín cho chị thấy hả?”

“Khônggg. Ổng sờ chị.”

“Chỗ nào?”

“Đây rồi đây.” Chị chỉ hai bầu ngực bé tí mà, như hai quả sồi rơi, làm vương vãi dăm chiếc lá hồng phai trên váy.

“Thật hả? Thấy sao?”

“Ôi trời, Claudia.” Chị nghe có vẻ cáu tiết. Tôi hỏi sai câu rồi.

“Không thấy sao cả.”

“Nhưng đáng ra nó phải vậy mà? Ý em là thấy thích đó?” Frieda chít chít chân răng. “Ổng làm gì? Cứ bước tới rồi nhéo sao?”

Chị thở dài. “Ban đầu ổng nói chị xinh. Rồi ổng nắm cánh tay chị rồi sờ chị.”

“Mẹ với cha đâu?”

“Ngoài vườn nhổ cỏ.”

“Khi ổng làm vậy chị nói sao?”

“Không nói gì hết. Chị chỉ bỏ bếp chạy ra vườn.”

“Mẹ dặn mình không bao giờ được băng qua đường ray một mình mà.”

“Ủa, là em thì em làm sao? Đứng yên đó để cho ổng nhéo à?”

Tôi nhìn xuống ngực mình. “Em có gì đâu mà nhéo. Em sẽ không bao giờ có gì cả đâu.”

“Ôi trời Claudia, cái gì em cũng tị nạnh hết. Em muốn ông nhéo hả?”

“Không, em chỉ phát chán cái gì cũng có sau cùng thôi.”

“Có phải vậy đâu. Vậy sốt ban thì sao? Em bị trước mà.”

“Thì đúng, nhưng không được lâu. Mà thôi, rồi ngoài vườn sao?”

“Chị kể mẹ nghe, rồi mẹ kể cha nghe, rồi cả ba về nhà thì ổng đi rồi, nên cha mẹ với chị chờ ổng, rồi khi cha thấy ông bước lên hiên, cha liệng chiếc xe đạp ba bánh cũ của bọn mình vào đầu ổng làm ổng té khỏi hiên.”

“Ông có chết không?”

“Khồng. Ổng đứng dậy rồi mở miệng hát bài ‘Càng gần Chúa hơn’. Rồi mẹ lấy chổi quật ổng và nói ổng không được nhắc tên Chúa, nhưng ổng không chịu dừng, rồi cha chửi rủa, rồi ai cũng la hét ầm lên.”

“Ôi chán chưa. Em lúc nào cũng không được xem gì cả.”

“Rồi ông Buford xách súng chạy ra, rồi mẹ nói ổng đi chỗ khác ngồi xuống, rồi cha nói không, đưa súng cho cha, rồi ông Buford đưa, rồi mẹ gào thét, rồi ông Henry câm miệng lại bỏ chạy, rồi khi cha bắn thì ông Henry vất giày rồi chân mang tất chạy tiếp. Rồi con Rosemary bước ra nói cha sẽ đi tù, rồi chị đánh nó.”

“Thật mạnh hả?”

“Thật mạnh.”

“Có phải khi đó mẹ quất chị không?”

“Mẹ không quất chị, chị nói em rồi mà.”

“Vậy sao chị khóc?”

“Khi mọi người im hết rồi thì cô Dunion bước vào, rồi mẹ với cha la lối về chuyện mà sao ai cho ông Henry ở trọ, rồi cổ nói là mẹ nên dẫn chị đi bác sĩ, vì lỡ chị bị hư, rồi mẹ lại bắt đầu la hét.”

“La chị?”

“Không phải. La cô Dunion.”

“Vậy sao chị khóc?”

“Chị không muốn bị !”

“Hư cái gì?”

“Em biết mà. Như Tuyến phòng thủ Maginot đó. Chị ta bị hư rồi. Mẹ nói vậy.” Nước mắt lại trào ra.

Hình ảnh Frieda to béo nục nịch hiện ra trong óc. Cặp giò gầy nhẳng của chị sưng vù lên, mặt viền từng lớp da đỏ ửng. Tôi cũng bắt đầu thấy cay mắt.

“Nhưng Frieda ơi, chị tập thể dục và nhịn ăn được mà.”

Chị nhún vai.

“Với lại, còn Trung Hoa với Ba Lan thì sao? Họ cũng bị hư, đúng không? Mà họ đâu có mập.”

“Là vì họ uống uýt-ki. Mẹ nói uýt-ki ăn mòn họ.”

“Thì chị uống uýt-ki đi.”

“Chị kiếm đâu ra uýt-ki bây giờ?”

Chúng tôi ngẫm nghĩ. Sẽ không ai chịu bán cho chúng tôi đâu, mà đằng nào chúng tôi cũng không có tiền. Trong nhà chúng tôi không bao giờ có. Ai sẽ có nhỉ?

“Pecola,” tôi nói. “Cha nó lúc nào cũng say. Nó có thể lấy cho mình một ít. “

“Em nghĩ vậy sao?”

“Chắc mà. Cholly lúc nào cũng say. Mình đi hỏi nó đi. Mình đừng nói nó là để làm gì.”

“Đi giờ hả?”

“Đi giờ chứ sao nữa.”

“Mình nói mẹ sao đây?”

“Đừng nói gì hết. Mình cứ ra cửa sau. Từng đứa thôi. Vậy thì mẹ sẽ không để ý.”

“Được. Em đi trước đi, Claudia.”

Chúng tôi mở cổng rào cuối sân sau rồi chạy xuống hẻm.

Pecola sống ở phía bên kia Broadway. Chúng tôi chưa từng đến nhà nó, nhưng chúng tôi biết nhà nó ở đâu. Một tòa nhà xám hai tầng, tầng dưới từng là cửa tiệm và tầng trên là căn hộ.

Chúng tôi gõ cửa trước nhưng không ai ra mở, nên chúng tôi đi vòng qua cửa hông. Khi lại gần, chúng tôi nghe có tiếng nhạc trên radio nên ngó nhìn xem nó phát ra từ đâu. Trên đầu chúng tôi là ban công tầng hai, với lan can xiêu vẹo, mục nát, và ngồi trên ban công chính là Tuyến phòng thủ Maginot. Chúng tôi nhìn lên chằm chằm và tự động tìm tay nhau. Cả một núi thịt, chị ta nằm thì đúng hơn là ngồi trên ghế bập bênh. Chị ta không mang giày, hai bàn chân chọc vào giữa thanh lan can: ngón chân bé xíu như em bé nơi đầu bàn chân múp míp; mắt cá sưng vù khiến da căng mịn; hai giò đồ sộ như gốc cây xoạc rộng nơi đầu gối, bên trên chạy dài hai con đường là hai đùi non mềm oặt lạch phạch hôn nhau sâu hút phía trong bóng râm dưới váy nơi chúng cùng đường. Một chai xá xị nâu sẫm, trông như cành cây cháy, mọc ra từ bàn tay mũm mĩm. Chị ta nhìn xuống chúng tôi qua lan can và buột một tiếng ợ trầm, dài. Mắt chị ta trong vắt như mưa, và lần nữa tôi nhớ tới cái thác nước. Hai đứa tôi không ai mở miệng được. Cả hai hình dung mình đang thấy Frieda tương lai. Tuyến phòng thủ Maginot nhoẻn cười với chúng tôi.

“Mấy đứa tìm ai hả?”

Tôi phải rút lưỡi dưới cuống họng lên mới trả lời được, “Pecola - phải nó sống ở đây không ạ?”

“Ừ hửm, nhưng giờ nó không có nhà. Nó tới đằng chỗ mẹ nó làm để lấy đồ giặt rồi.”

“Dạ, chị. Nó có về lại không?”

“Ừ hửm. Nó phải phơi đồ trước khi mặt trời lặn mà.”

“Dạ.”

“Mấy đứa chờ nó đi. Muốn lên trên đây chờ không?”

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Tôi lại nhìn lên hai con đường nâu vàng thênh thang giao nhau trong bóng râm dưới váy chị ta.

Frieda nói, “Thôi, chị.”

“Thì thôi,” Tuyến phòng thủ Maginot có vẻ để tâm đến vấn đề của chúng tôi. “Mấy đứa tới chỗ mẹ nó làm đi, nhưng ở tận bên hồ đó nghe.”

“Bên hồ mà chỗ nào ạ?”

“Căn nhà trắng to có cái xe cút kít chở đầy hoa đó.”

Căn nhà đó chúng tôi biết vì đã từng trầm trồ ngưỡng mộ cái xe cút kít trắng to chúc xuống trên bánh xe có nan và trồng hoa theo mùa.

“Mấy đứa đi bộ thì có xa quá không?”

Frieda gãi gãi đầu gối.

“Sao mấy đứa không chờ nó? Mấy đứa cứ lên đây đi. Muốn uống nước ngọt không?” Đôi mắt đẫm nước mưa sáng lên, và nụ cười tròn đầy, không giống cái cười múm mím nín nhịn của mấy người lớn khác.

Tôi dợm bước lên cầu thang, nhưng Frieda nói, “Thôi chị, bọn em không được phép.”

Tôi kinh ngạc vì sự can đảm của chị, và hốt hoảng vì sự hỗn xược của chị. Nụ cười của Tuyến phòng thủ Maginot lặn mất. “Không được phép sao?”

“Không chị.”

“Không được phép gì?”

“Lên nhà chị.”

“Vậy sao?” Thác nước im re. “Sao vậy?”

“Mẹ em nói vậy. Mẹ em nói chị bị hư rồi.”

Thác nước lại đổ. Chị ta kê chai xá xị lên môi nốc cạn. Bằng một động tác cổ tay uyển chuyển, cử chỉ nhanh và nhỏ đến nỗi chúng tôi không thật sự nhìn thấy, mà về sau mới nhớ lại, chị ta liệng cái chai qua lan can xuống chỗ chúng tôi. Nó vỡ toác ngay chân chúng tôi, thủy tinh nâu văng từng mảnh lấm tấm lên giò trước khi chúng tôi kịp nhảy lui. Tuyến phòng thủ Maginot đặt bàn tay béo ú lên một ngấn mỡ bụng và cười. Mới đầu chỉ ngậm miệng cười tiếng khùng khục trầm đục, rồi cười tiếng lớn hơn, ấm hơn. Tiếng cười vừa đẹp vừa đáng sợ. Chị ta nghiêng đầu một bên, mắt nhắm lại, cả tấm thân đồ sộ rung lên, để tiếng cười rơi như một trận lá đỏ khắp quanh chúng tôi. Những vụn lá cành cong của tiếng cười đuổi theo khi chúng tôi bỏ chạy. Hơi thở muốn đứt ra theo hai giò. Khi chúng tôi dựa lên cây rồi, đầu tì trên hai tay bắt tréo, tôi nói, “Thôi mình về nhà đi.”

Frieda vẫn còn tức giận - chị tin mình phải giành giật lại mạng sống của bản thân. “Không được, mình phải đi lấy bây giờ.”

“Mình không đi bộ tới tận hồ nổi đâu.”

“Được mà. Đi.”

“Mẹ sẽ đi tìm mình đó.”

“Không đâu. Với lại, mẹ chỉ biết quất mình thôi chứ có làm gì được đâu.”

Đúng vậy. Mẹ đâu thể giết chúng tôi, hay cười cái điệu khủng khiếp với chúng tôi, hay liệng chai vào chúng tôi.

Chúng tôi đi dọc các con phố có hai hàng cây với nhà cửa xám xịt mờ nhạt đổ nghiêng như những bà chủ nhà mệt mỏi... Đường phố biến đổi; nhà cửa trông có vẻ chắc chắn hơn, nước sơn mới hơn, cột hàng hiên thẳng hơn, sân sâu hơn. Rồi đến những nhà gạch cách xa mặt đường, phía trước có sân viền cây bụi cắt tỉa thành những hình nón phẳng phiu và hình cầu xanh mướt.

Những ngôi nhà ven hồ là đẹp nhất. Đồ nội thất trong vườn, đồ bài trí, cửa sổ như kính mắt sáng bóng, và không có bóng dáng sự sống. Sân sau các nhà này đổ xuôi xuống một dải cát thành những con dốc xanh rì, rồi hồ Erie xanh ngắt, sóng vỗ đến tận Canada. Bầu trời loang lổ màu cam ở khu xưởng luyện thép không bao giờ đến được vùng này thành phố. Bầu trời nơi này luôn xanh.

Chúng tôi tới được công viên Bờ Hồ, một công viên thành phố bài trí nụ hồng, đài phun nước, trảng cỏ chơi bóng, bàn dã ngoại. Lúc này nơi đó vắng vẻ, nhưng dịu dàng chờ đợi lũ trẻ con da trắng sạch sẽ, ngoan ngoãn và cha mẹ chúng, những người thường đến đó chơi vào mùa hè rồi mới chạy nhào xuôi con dốc xuống mặt nước dang tay mời đón. Dân da đen không được phép vào công viên, vì vậy mà nó lấp đầy những giấc mơ của chúng tôi.

Ngay trước lối vào công viên là căn nhà trắng lớn có xe cút kít chở đầy hoa. Lá nghệ tây ngắn ôm ấp những trái tim tím trắng mơ ước được bung nở đầu tiên đến mức chúng sẵn lòng chịu đựng cái lạnh và cơn mưa đầu xuân. Lối đi lát đá phiến lộn xộn theo trật tự, giấu đi cái đối xứng xảo quyệt. Chỉ vì sợ bị phát hiện và biết rằng nơi đó không dành cho mình chúng tôi mới không cà kê. Chúng tôi đi vòng qua căn nhà kiêu kỳ ra phía sau.

Trên bậc cửa nhỏ xíu có lan can Pecola mặc áo len đỏ tươi và quần vải xanh lam đang ngồi. Một xe đẩy nhỏ xíu để gần nó. Nó có vẻ mừng khi thấy chúng tôi.

“Chào.”

“Chào.”

“Mấy bạn làm gì đây?” Nó nhoẻn cười, và vì rất hiếm khi thấy nó cười, tôi ngạc nhiên khi điều đó làm mình vui.

“Bọn mình đi tìm bạn.”

“Ai nói là mình ở đây vậy?”

“Tuyến phòng thủ Maginot.”

“Là ai?”

“Chị béo ú đó. Chị ta sống bên trên nhà bạn.”

“A, ý bạn là chị Marie. Chị đó tên Marie.”

“Thì ai cũng gọi chị ta là Tuyến phòng thủ Maginot. Bạn không sợ sao?”

“Sợ gì?”

“Tuyến phòng thủ Maginot đó.”

Pecola có vẻ ngơ ngác thật tình. “Sao lại sợ?”

“Mẹ bạn cho bạn vào nhà chị ta sao? Rồi ăn chung dĩa với chị ta?”

“Mẹ không biết mình lên đó. Chị Marie tử tế mà. Họ ai cũng tử tế.”

“Ờ phải rồi,” tôi nói, “chị ta cố giết bọn mình đó.”

“Ai? Chị Marie hả? Chị có làm phiền ai đâu.”

“Nếu chị ta tử tế vậy thì sao mẹ bạn không cho bạn lên nhà chị ta?”

“Mình không biết. Mẹ nói chị xấu xa, nhưng họ không xấu xa. Họ lúc nào cũng cho mình đồ.”

“Đồ gì?”

“Ồ nhiều đồ lắm, váy đẹp, giày nữa. Mình có nhiều giày mang không hết. Rồi nữ trang rồi kẹo rồi tiền. Họ dẫn mình đi xem phim, có lần bọn mình còn đi hội hóa trang. Trung Hoa sẽ dẫn mình đi Cleveland xem quảng trường, còn Ba Lan sẽ dẫn mình đi Chicago xem khu trung tâm. Bọn mình đi đâu cũng đi chung.”

“Xạo. Bạn có cái váy đẹp nào đâu.”

“Có mà.”

“Thôi đi, Pecola, bạn bịa mấy chuyện nhảm đó với bọn mình để làm gì?” Frieda hỏi.

“Không nhảm đâu.” Pecola đứng lên sẵn sàng bênh vực lời mình thì cửa mở.

Chị Breedlove thò đầu ra cửa hỏi, “Chuyện gì ngoài đây vậy hả? Pecola, mấy đứa này là ai đây?”

“Là Frieda với Claudia, thưa bà Breedlove.”

“Bây con nhà ai?” Chị bước hẳn ra ngoài bậc cửa. Chị trông tươm tất hơn mọi lần tôi thấy, mặc đồng phục trắng và vấn tóc lên thành búi nhỏ gọn.

“Con bà MacTeer, thưa bà.”

“À ra vậy. Sống đằng phố 21 phải không?”

“Dạ phải thưa bà.”

“Bây làm gì tận đây?”

“Đi dạo thôi ạ. Tụi cháu đến gặp Pecola.”

“Thôi bây về đi. Bây cứ về với Pecola. Vào trong đây chờ tao lấy đồ giặt đã.”

Chúng tôi bước vào bếp, một phòng rộng mênh mông. Da chị Breedlove loáng lên như lụa bóng trong ánh phản chiếu của đồ sứ trắng, đồ gỗ trắng, tủ đánh véc-ni, đồ đồng sáng loáng. Mùi thịt, rau và đồ gì mới nướng lẫn với hương thơm xà phòng giặt Fels Naptha.

“Tao đi lấy đồ giặt. Bây đứng yên đó và đừng làm lộn xộn gì cả.” Chị biến ra đằng sau cửa xoay trắng, chúng tôi còn nghe tiếng bước chân loẹt xoẹt không đều khi chị bước xuống hầm.

Cánh cửa khác mở ra, một đứa con gái bước vào, nhỏ người hơn và nhỏ tuổi hơn cả mấy đứa tôi. Nó mặc chiếc áo đầm hai dây hở lưng màu hồng và mang đôi dép lông hồng có hai tai thỏ vểnh lên ở mũi. Tóc nó màu râu bắp và buộc ruy băng dày. Khi nó thấy chúng tôi, nỗi sợ hãi thoáng vụt qua mặt nó. Nó lo lắng nhìn quanh bếp.

“Polly đâu rồi?” nó hỏi.

Tính hung bạo quen thuộc trào lên trong tôi. Nó gọi chị Breedlove là Polly trong khi ngay cả Pecola cũng gọi mẹ nó là bà Breedlove, có vẻ đã đủ lý do để cào nó rồi.

“Bả ở dưới nhà,” tôi nói.

“Polly!” nó kêu.

“Nhìn kìa,” Frieda nói nhỏ, “nhìn kia kìa.” Trên mặt quầy gần lò có cái chảo bạc đựng bánh nướng nhân việt quất. Thứ nước tím lục bục trào chỗ này chỗ kia qua lớp vỏ bánh. Chúng tôi bước lại gần.

“Nó còn nóng,” Frieda nói.

Pecola đưa tay ra sờ cái chảo, nhẹ nhàng, để xem nó có nóng không.

“Polly, tới đây,” con bé lại gọi.

Có thể là do căng thẳng, lóng ngóng, nhưng cái chảo đổ nghiêng dưới ngón tay Pecola rồi rơi xuống sàn, làm việt quất đen văng tung tóe. Phần lớn nước đường bắn lên giò Pecola, và mảng da bị bỏng hẳn phải đau rát lắm, vì nó hét lên rồi nhảy cẫng đúng lúc chị Breedlove xách giỏ đồ giặt đầy căng bước vào. Vọt một cái chị đã tới bên Pecola, và đánh nó té ngửa ra sàn bằng mu bàn tay. Pecola trượt trong nước bánh, một chân quặp lại dưới người. Chị Breedlove nắm cánh tay giằng nó lên, lại tát nó, và bằng giọng the thé tức giận, mắng thẳng mặt Pecola và mắng xéo Frieda và tôi.

“Đồ ngu... sàn nhà của tao, tanh bành... nhìn coi mày... công việc... cút ra đi... giờ thì... đồ ngu... sàn nhà của tao, sàn nhà của tao... sàn nhà của tao.” Lời chị nóng hơn và đen hơn bánh việt quất nghi ngút khói, và chúng tôi khiếp đảm lủi đi.

Con bé mặc đồ hồng òa khóc. Chị Breedlove quay qua nó. “Nín đi cưng, nín đi. Lại đây. Ôi Chúa ơi, xem váy con này. Đừng khóc nữa. Polly sẽ thay cho.” Chị đi lại chậu rửa vặn nước vào tấm khăn sạch. Chị phun ra sau cho chúng tôi mấy chữ như những miếng táo úng. “Cầm đồ giặt đó lên rồi ra khỏi đây đi, để tao còn dọn dẹp cái đống tanh bành này.”

Pecola cầm giỏ giặt lên, nặng trịch quần áo ướt, còn chúng tôi cuống quýt ra cửa. Khi Pecola bỏ giỏ giặt lên xe đẩy, chúng tôi còn nghe tiếng chị Breedlove vỗ về dỗ nín đứa bé gái áo hồng tóc vàng.

“Mấy người đó là ai vậy hả, Polly?”

“Đừng lo gì cả, bé cưng.”

“Bà có làm lại cái bánh khác không?”

“Tôi sẽ làm mà.”

“Mấy người đó là ai, Polly?”

“Thôi nín đi. Đừng lo mà,” chị thủ thỉ, và mật ngọt trong lời chị đổ thêm vào ánh tà dương tràn trên mặt hồ.

NHÌNMẸXEMMẸRẤTDỄCHỊUMẸNÀYCHƠIVỚIJANENGHEMẸCƯỜICƯỜIĐIMẸÀCƯỜIĐICƯ

Cách dễ nhất là bắt đầu câu chuyện từ bàn chân chị. Chính chị cũng làm vậy. Nhưng để biết thật sự những ước mơ tàn lụi ra sao, ta không bao giờ nên tin lời kẻ mơ mộng. Cái kết cho khởi đầu dễ thương của chị có lẽ là chỗ sâu trên răng cửa. Thế nhưng chị vẫn thích nghĩ đến bàn chân mình hơn. Dù chị là đứa thứ chín trong mười một người con và sống trên dãy đất sét đỏ Alabama cách cung đường gần nhất bảy dặm, việc chị dửng dưng hoàn toàn với cây đinh gỉ sét đâm xuyên chân mình lúc lên hai giúp Pauline Williams không đến nỗi vô hình hẳn. Vết thương để lại cho chị một bên chân vẹo, không vòm cứ lạch bạch khi chị bước - không phải bước đi khập khiễng rốt cuộc sẽ làm chị vẹo cột sống, mà là cách chị nhấc bàn chân tật như thể đang rút chân khỏi những xoáy nước nhỏ chực kéo nó xuống. Dù nhẹ là vậy, dị tật này giải thích được cho chị nhiều thứ mà nếu không có nó đã vô cùng khó hiểu: tại sao trong bao đứa trẻ chỉ mình chị không có biệt danh; tại sao không có câu bông đùa hay giai thoại nào về những chuyện ngộ nghĩnh chị làm; tại sao chưa từng có ai để ý sở thích ăn uống của chị - không để dành phần cánh hay cổ cho chị - không nấu đậu trong nồi riêng không trộn gạo vì chị không thích cơm; tại sao không ai trêu chị; tại sao chị chưa bao giờ cảm thấy dễ chịu ở bất cứ đâu, hay cảm thấy mình thuộc về nơi nào. Cảm giác cô lập và bất xứng chung chung chị đổ lỗi cho bàn chân. Ngày còn nhỏ, gò bó trong cái kén gia đình dệt nên này, chị vun vén những thú vui yên tĩnh riêng tư. Chị thích sắp xếp đồ đạc hơn hết thảy. Xếp mọi thứ thành hàng - hũ lọ trên giá ở chỗ đóng hộp, hạt đào trên bậc thềm, cành que, đá sỏi, lá cây - và người nhà để yên cho chị sắp xếp. Khi ai đó sơ ý làm xô lệch tứ tung các hàng dãy của chị, họ luôn dừng lại lượm cho chị, và chị không giận bao giờ, vì chị được xếp lại lần nữa. Tìm được bất cứ gì có nhiều mà cầm đi được, chị đều sắp xếp thành hàng gọn gàng, theo kích cỡ, hình dạng hay cấp độ màu sắc. Cũng như chị không bao giờ xếp một lá thông với lá cây bông gòn, chị không bao giờ để hũ cà chua cạnh hũ đậu cô ve. Trong bốn năm đi học, chị say mê con số và nản lòng với chữ nghĩa. Chị thấy nhớ - mà không biết mình nhớ gì - màu vẽ và bút chì màu.

Gần khi bắt đầu Thế chiến thứ nhất, nhà Williams phát hiện ra, từ hàng xóm và bà con quay trở về, khả năng sống tử tế hơn ở một nơi khác. Họ di cư thành từng ca, từng lô, từng đợt, nhập chung với các gia đình khác, trong sáu tháng và bốn chuyến đi, đến Kentucky, nơi có hầm mỏ cùng vật liệu xây dựng.

“Khi cả nhà tôi bỏ quê để đi và chờ xe tải bên kho hàng thì đã là ban đêm. Bọ da bay vèo vèo khắp nơi. Chúng thắp sáng một lá cây, và chốc chốc tôi lại thấy một vệt xanh lá. Đó là lần cuối tôi thấy bọ da hẳn hoi. Những thứ ở trên này không phải bọ da. Chúng là cái gì khác. Dân ở đây gọi chúng là đom đóm. Ở quê chúng khác. Nhưng tôi nhớ cái vệt xanh lá đó. Tôi nhớ rất rõ.”

Đến Kentucky họ sống trong một thành phố hẳn hoi, mười đến mười lăm nhà trên nhõn một con phố, có đường ống nước chạy vào tận bếp. Ada và Fowler Williams tìm được một căn nhà năm phòng cho gia đình. Mẹ Pauline trồng hoa dựa vào hàng rào từng sơn trắng và nuôi dăm ba con gà trong sân. Vài anh trai đi quân dịch, một chị qua đời, và hai người lập gia đình, khiến không gian sống được mở rộng và toàn bộ vụ đầu tư Kentucky có cảm giác xa xỉ. Cuộc chuyển dời này đặc biệt dễ chịu với Pauline, người đã đủ lớn để nghỉ học. Bà Williams tìm được công việc dọn dẹp nấu nướng cho một mục sư da trắng ở bên kia thành phố, nên Pauline, giờ là con gái lớn nhất ở nhà, đảm đương việc nhà cửa. Chị lo sửa sang hàng rào, dựng thẳng lại mấy cọc nhọn, lấy dây thép cột cho chắc, lượm trứng gà, quét tước, nấu nướng, giặt giũ, và trông nom hai đứa em - cặp sinh đôi Gà và Bánh vẫn còn đang đi học. Chị không chỉ giỏi việc nhà mà còn thích. Khi cha mẹ đi làm còn mấy đứa khác đi học hay đi làm ở hầm mỏ, căn nhà thật yên tĩnh. Cái tĩnh lặng và cô quạnh giúp chị bình tâm nhưng cũng thêm hăng hái. Chị được sắp xếp dọn dẹp liền một hơi đến hai giờ, khi Gà và Bánh đi học về.

Khi chiến tranh kết thúc và cặp sinh đôi lên mười, chúng cũng nghỉ học đi làm. Pauline mười lăm, vẫn lo việc nhà, nhưng đã bớt nhiệt tình. Những mơ màng về đàn ông, tình yêu và động chạm xác thịt kéo đầu óc và đôi tay chị khỏi công việc. Những biến trở trong thời tiết bắt đầu tác động đến chị, cũng như một số cảnh tượng thanh âm. Những cảm xúc này biến thành nỗi u sầu tột cùng trong chị. Chị nghĩ đến cái chết của những thứ vừa sinh ra, những con đường hiu quạnh, và người lạ bỗng đâu xuất hiện chỉ để cầm tay ta, những cánh rừng nơi mặt trời luôn lặn. Những mơ màng này nảy nở nhiều nhất trong nhà thờ. Những bài ca vuốt ve chị, và dù chị dằn lòng nghĩ đến hậu quả của tội lỗi, thân chị lại run lên kêu cầu cứu chuộc, cứu rỗi, một sự tái sinh kỳ bí cứ vậy xảy ra thôi mà chị không phải cố gắng gì. Chị không bao giờ hăng hái trong những mơ màng này; thường chị đang tha thẩn bên bờ sông, hay hái quả mọng ngoài đồng thì có người xuất hiện, với đôi mắt dịu dàng soi thấu, không nói gì mà vẫn thấu hiểu; bàn chân chị thẳng ra và mắt cụp xuống trước cái nhìn của người ấy. Một người không dung mạo, không hình hài, không giọng nói, không mùi hương. Anh ta chỉ là một Hiện Diện, âu yếm bao trùm mà rắn rỏi và hứa hẹn viễn cảnh thư thái nghỉ ngơi. Chẳng sao nếu chị không biết nói gì hay làm gì với Hiện Diện ấy - sau cái cảm hiểu vô ngôn và sờ chạm vô thanh, những mơ màng của chị tan biến. Nhưng Hiện Diện ấy sẽ biết phải làm gì. Chị chỉ cần tựa đầu lên ngực anh và anh sẽ dẫn chị đi thật xa đến đại dương, đến thị thành, đến rừng cây... mãi mãi.

Người đàn bà tên Ivy dường như nắm giữ mọi thanh âm của tâm hồn Pauline trong miệng. Đứng hơi tách khỏi dàn đồng ca, Ivy hát lên cái ngọt ngào âm u mà Pauline không làm sao định danh; cô hát lên cái chết thách thức cái chết mà Pauline mong ngóng; cô hát về Người Lạ thấu suốt đó...

Chúa kính yêu cầm tay con

Dẫn con đi, dìu con đứng

Con mệt mỏi, con kiệt sức, con tàn hơi.

Qua bão giông, qua đêm đen

Dẫn con đi tới ánh dương

Cầm tay con, Chúa kính yêu, dẫn con đi.

Khi đường con dặm thê lương

Chúa kính yêu đến gần bên,

Khi thân con sức cùng lực kiệt

Nghe con khóc con cầu than

Cầm tay con cho khỏi ngã

Chúa kính yêu, cầm tay con, dẫn con đi.

Vì vậy mà khi Người Lạ, chính người đó, bỗng đâu xuất hiện, Pauline thấy biết ơn nhưng không ngạc nhiên.

Anh ta đến, nghênh ngang bước ra từ mặt trời Kentucky vào ngày nóng nực nhất trong năm. Anh ta đến với vẻ to cao, anh ta đến với vẻ khỏe mạnh, anh ta đến với đôi mắt vàng, lỗ mũi tòe, và anh ta đến với điệu nhạc của riêng mình.

Pauline khi ấy đang nhàn tản đứng bên hàng rào, hai cánh tay tì trên thanh ngang giữa các cọc. Chị vừa bỏ xuống ít bột nhồi bánh quy và đang cạy bột dưới móng tay. Một quãng sau lưng chị nghe tiếng huýt sáo. Đoạn nhạc nhịp nhanh, cao vút mà bọn con trai da đen ứng khẩu trong khi quét dọn, xúc đất, hay chỉ đang đi. Một kiểu âm nhạc đường phố mà trong đó tiếng cười để lộ nỗi lo âu, còn niềm vui thì ngắn và thẳng như lưỡi dao bấm. Chị chăm chú lắng nghe tiếng nhạc và để nó kéo môi mình ra thành nụ cười. Tiếng huýt sáo to hơn, nhưng chị vẫn chưa quay lại, vì chị muốn nó kéo dài. Trong khi mỉm cười một mình và bám chặt vào khoảng ngắt giữa những ý nghĩ âm u, chị cảm thấy có gì đang cù bàn chân mình. Chị bật cười thành tiếng và quay lại nhìn. Người huýt sáo đang cúi xuống cù bàn chân tật của chị và hôn giò chị. Chị không nín cười được - mãi đến khi anh ta ngước lên nhìn chị và chị thấy mặt trời Kentucky thấm đẫm hai mắt vàng hoe mí dày của Cholly Breedlove.

“Khi mới thấy Cholly, tôi muốn mọi người biết cho là nó giống như thể mọi vệt màu từ thời ở quê khi cả mấy anh chị em tôi đi hái mâm xôi sau đám tang rồi tôi bỏ ít trái trong túi váy mặc Chủ nhật, rồi chúng dập nát và dính hai bên hông tôi. Cả váy tôi mặc lấm lem màu tím, giặt không đi. Chiếc váy hay tôi cũng vậy. Tôi cảm nhận được màu tím đó sâu thẳm trong mình. Và nước chanh mẹ thường pha khi ba đi làm đồng về. Nó mát lạnh và vàng nhạt, hạt lơ lửng gần dưới đáy. Và vệt xanh lá mà đám bọ da tạo thành trên cây cái đêm chúng tôi lìa bỏ quê nhà. Mọi màu đó đều ở trong tôi. Cứ đọng lại đó. Nên khi Cholly đi lại cù bàn chân tôi, nó giống như thể hết thảy những trái mâm xôi ấy, nước chanh ấy, mấy vệt xanh lá bọ da tạo ra ấy, tất cả tụ hội về. Ngày ấy Cholly gầy, mắt nhẹ nhàng lắm. Ảnh thường huýt sáo, và khi tôi nghe thấy ảnh, da tôi run rẩy.”

Pauline và Cholly yêu nhau. Anh ta có vẻ thích có chị bên cạnh và lại còn thích cách cục gái quê và sự thiếu hiểu biết về những thứ thị thành của chị. Anh ta nói với chị về bàn chân chị và hỏi, khi họ đang đi trong thành phố hay ngoài đồng, rằng chị có mệt không. Thay vì lờ đi khuyết tật của chị, giả như nó không tồn tại, anh ta khiến nó có vẻ như cái gì đặc biệt và thân thương. Lần đầu tiên trong đời Pauline cảm thấy bàn chân tật của mình là một tài sản.

Rồi anh ta cũng chạm vào chị, rắn chắc nhưng dịu dàng, hệt như chị đã mơ. Nhưng trừ đi cảnh âm u những lần mặt trời lặn và những bờ sông hoang liêu. Chị thấy yên tâm và biết ơn, anh ta hiền lành và hoạt bát. Chị chưa từng biết có nhiều tiếng cười như vậy trên đời.

Họ bằng lòng cưới nhau và đi lên phía bắc, nơi mà Cholly nói các xưởng luyện thép đang rất cần nhân công. Trẻ trung, tràn đầy tình yêu và sức sống, họ đến Lorain, Ohio. Cholly tìm được việc trong xưởng luyện thép ngay, còn Pauline bắt đầu chăm lo việc nhà.

Rồi chị gãy chiếc răng cửa. Nhưng chắc hẳn đã có một đốm nhỏ, một đốm nhỏ màu nâu dễ nhầm là thức ăn song không chịu trôi đi, đọng trên men răng nhiều tháng, rồi to dần, đến khi nó ăn vào bề mặt và rồi vào phần tủy nâu bên dưới, cuối cùng ăn mòn đến chân răng, nhưng tránh dây thần kinh, thế nên sự hiện diện của nó không dễ thấy hay gây khó chịu. Rồi những chân răng vốn đã yếu, quen dần với chất độc, một ngày nọ phản ứng lại sức ép nặng nề, vậy là cái răng rụng ra, để lại phần gốc lởm chởm. Nhưng thậm chí trước cả cái đốm nhỏ màu nâu hẳn ban đầu đã có điều kiện, có bối cảnh cho phép nó tồn tại.

Trong thành phố Ohio non trẻ đang phát triển mà ngay cả đường phụ cũng được lát bê tông, nằm giáp một hồ nước xanh phẳng lặng, khoe vẻ tương đồng với Oberlin, nhà ga dưới lòng đất cách đó chỉ mười ba dặm, cái nơi tụ cư trên bờ môi nước Mỹ nhìn qua Canada lạnh lẽo nhưng chào đón này - có gì không ổn được?

“Ngày ấy tôi với Cholly hòa thuận. Chúng tôi đi lên miền Bắc, được cho là có nhiều việc làm hơn này kia. Chúng tôi dọn vào hai phòng bên trên một tiệm bán đồ nội thất, và tôi bắt đầu lo việc nhà. Cholly làm ở xưởng luyện thép, mọi thứ có vẻ tốt đẹp. Tôi không biết mọi chuyện xảy ra thế nào. Mọi thứ đã khác. Khó mà làm quen dần trên này, nên tôi nhớ người ở quê. Tôi vốn không quen có nhiều người da trắng như vậy. Những người tôi thấy trước kia cũng đáng ghét, nhưng họ không đến nhiều. Ý tôi là chúng tôi không thấy nhiều xe tải chở họ như vậy. Chỉ thỉnh thoảng ngoài đồng, hay ở cửa hàng. Nhưng họ muốn tất cả chúng tôi. Trên miền Bắc đâu đâu cũng thấy họ - nhà bên, dưới tầng, khắp phố - còn dân da màu thì không có mấy ai. Dân da màu ở miền Bắc cũng khác. Hợm hĩnh. Xấu tính thì cũng không thua gì dân da trắng. Họ cũng làm ta cảm thấy mình là đồ bỏ, có điều tôi không ngờ họ lại vậy. Đó là quãng thời gian đơn độc nhất đời tôi. Tôi nhớ cứ nhìn ra cửa sổ trước chờ Cholly về lúc ba giờ. Tôi còn không có một con mèo để trò chuyện.”

Trong cảnh cô quạnh, chị quay qua chồng tìm niềm an ủi, giải khuây, tìm những thứ khỏa lấp khoảng trống. Việc nhà vẫn chưa đủ; chỉ có hai phòng, và không có sân để coi sóc hay loay hoay. Đàn bà trong thành phố mang giày cao gót, và khi Pauline cố mang, nó làm dáng đi của chị khập khiễng thấy rõ. Cholly vẫn hiền lành, nhưng bắt đầu chống báng chuyện chị hoàn toàn phụ thuộc vào anh ta. Họ bắt đầu nói chuyện với nhau ngày càng ít, Anh ta dễ dàng tìm được người khác và thứ khác để bận bịu - đàn ông lúc nào cũng lên nhà tìm anh ta, và anh ta vui vẻ đi cùng họ, bỏ chị một mình.

Pauline cảm thấy không thoải mái với mấy người đàn bà da đen chị gặp. Họ buồn cười vì chị không chải thẳng tóc. Khi chị cố trang điểm như họ, mặt chị thành ra kỳ cục. Ánh mắt hả hê của họ và điệu cười khúc khích với nhau về cách nói chuyện (nói “con ních”) và cách ăn mặc của chị làm nảy nở trong chị mong ước có quần áo mới. Khi Cholly bắt đầu cãi cọ về số tiền chị cần, chị quyết định đi làm. Làm công nhật cũng có chút tiền sắm sửa quần áo, còn thêm ít thứ trong nhà, nhưng không làm quan hệ với Cholly tốt hơn. Anh ta không hài lòng chuyện chị sắm sửa và bắt đầu nói thẳng. Hôn nhân của họ rách tưa theo những trận cãi vã. Chị vẫn không hơn gì cô thiếu nữ, vẫn đợi chờ miền hạnh phúc ấy, bàn tay của Chúa kính yêu ấy, người mà, khi đường chị dặm thê lương, sẽ luôn đến gần bên. Giờ đây chị mới có ý niệm rõ ràng hơn thế nào là thê lương. Tiền đã thành trọng tâm trong mọi cuộc bàn bạc của họ, chị thì để mua sắm quần áo, anh ta thì để rượu chè. Điều đáng buồn là Pauline không hẳn bận tâm chuyện áo xống phấn son. Chị chỉ muốn những đàn bà khác có cái nhìn thiện chí với chị.

Làm công nhật được vài tháng thì chị đi làm đều đặn trong nhà một gia đình không mấy dư dả nhưng lại có thói nóng nảy, tự phụ.

“Cholly bắt đầu ngày càng xấu tính và suốt ngày muốn đánh tôi. Tôi đưa anh ta gần hết tiền mình kiếm được. Phải vậy. Có vẻ như tôi chỉ có mỗi làm việc cho người đàn bà đó và tranh cãi với Cholly. Mệt nhoài. Nhưng tôi cố giữ việc, dù rằng làm cho bả không chỉ là ý niệm không. Chẳng phải bả ti tiện mà bả ngu ngốc. Cả nhà bả đều vầy. Không biết hòa thuận với nhau gì sất. Ta tưởng với căn nhà đẹp như vầy và cả đống tiền họ có thể giữ rịt thì họ sẽ vui vẻ với nhau. Hở chút là bả bỏ đi kêu ca khóc lóc. Nếu một bà bạn cắt ngang cuộc nói chuyện điện thoại, bả sẽ bỏ đi khóc lóc. Bả nên mừng là mình có điện thoại. Tôi còn chưa có đây. Tôi nhớ có lần thằng em út mà bả cho học trường nha khoa không mời họ tới dự bữa tiệc lớn anh ta tổ chức. Họ làm như chuyện gì to tát gớm lắm. Mọi người cứ chực điện thoại nhiều ngày liền. Làm trận và giãy nảy. Bả hỏi tôi, “Pauline, nếu em trai cô có buổi tiệc mà không mời cô thì cô làm sao?” Tôi nói nếu tôi thật lòng muốn đến buổi tiệc đó, chắc là tôi vẫn tìm cách đi thôi. Anh ta muốn gì không cần biết. Bả chỉ chít chít chân răng chút chút rồi làm như điều tôi nói là ngu ngốc. Trong khi đó tôi chỉ nghĩ xem sao bả ngu thế. Ai nói em trai là bạn bả? Thiên hạ không thể ưa người nào khác chỉ vì họ một mẹ đẻ ra. Tôi đây cũng cố thích người đàn bà đó. Bả được cái hay cho tôi thứ này thứ nọ, nhưng tôi không sao thích bả cho nổi. Hễ tôi vừa cố có thiện cảm với bả thì bả lại làm gì ngu dốt và bắt đầu chỉ vẽ tôi cách lau dọn và làm việc. Nếu tôi bỏ mặc bả tự làm một mình, chắc bả sẽ chết chìm trong bụi. Với Gà và Bánh tôi cũng chẳng phải đi theo dọn đống bừa bộn như phải dọn cho bọn họ. Đến chùi đít mà cũng không ai trong họ biết cách. Tôi biết, vì tôi phải lo chùi rửa. Cũng không biết tè cho ra hồn. Chồng bả còn không tè nổi vào trong bồn. Dân da trắng bẩn thỉu thì đúng là thứ bẩn thỉu nhất hạng rồi. Nhưng tôi đã ở lại nếu Cholly không tới chỗ tôi làm mà chửi rủa như vậy. Anh ta say mèm tới đó xin ít tiền. Khi cái bà da trắng đó thấy anh ta, bả đỏ lựng lên. Bả cố làm ra vẻ mạnh mẽ, nhưng bả sợ muốn chết. Ngã nào thì bả cũng nói Cholly ra khỏi nhà không thì bả gọi cảnh sát. Anh ta chửi rủa bả rồi kéo tôi. Tôi những muốn đập đầu anh ta, nhưng tôi không muốn dính tới cảnh sát. Nên tôi thu dọn đồ và bỏ đi. Tôi cố quay lại, nhưng bả không cần tôi nữa chừng nào tôi còn ở lại với Cholly. Bả nói bả sẽ để tôi ở lại nếu tôi bỏ anh ta. Tôi suy nghĩ chuyện đó. Nhưng rồi có vẻ không khôn ngoan gì lắm khi một đàn bà da đen bỏ một đàn ông da đen mà chọn một phụ nữ da trắng. Bả cũng không bao giờ trả mười một đô bà còn nợ tôi. Đau lòng kinh khủng. Người cung cấp ga đã cắt ga, tôi không nấu nướng gì được. Tôi cũng đã năn nỉ bà đó trả tiền. Tôi đến gặp bả. Bả nổi khùng lên như con gà mái ướt. Cứ nói tôi nợ bả đồng phục và cái giường cũ gãy nát nào đó bả cho tôi. Tôi không biết có nợ bả không, nhưng tôi cần tiền của tôi. Bả cũng vẫn không chịu bỏ qua, ngay cả khi tôi hứa là Cholly sẽ không quay lại đó nữa. Rồi tôi cùng quẫn đến mức tôi hỏi bả có thể cho tôi mượn không. Bả nín thinh một hồi, rồi bả nói tôi không nên để một người đàn ông lợi dụng. Rằng tôi nên có lòng tự trọng hơn, trả tiền hóa đơn là phận sự của chồng, và nếu anh ta không lo nổi, tôi nên bỏ đi và đòi tiền cấp dưỡng. Đơn giản thế thôi. Anh ta lấy gì mà cấp dưỡng cho tôi? Tôi thấy bả không hiểu rằng tôi chỉ cần bả trả lại tôi mười một đô mua ga để còn nấu ăn. Bà không nhét được chuyện đó vào cái đầu đất của bả. “Cô có định bỏ hắn không, Pauline?” bà cứ hỏi. Tôi tưởng nếu tôi nói sẽ bỏ thì bả sẽ trả tiền cho tôi, nên tôi nói “Có, thưa bà.” “Tốt rồi,” bà nói. “Cô bỏ hắn đi, rồi quay lại đây làm, rồi ta sẽ cho qua mọi chuyện.” “Cho tôi nhận tiền hôm nay được không?” tôi hỏi. “Không được,” bà nói. “Chỉ khi nào cô bỏ hắn. Tôi chỉ nghĩ cho cô và tương lai của cô thôi. Hắn thì được tích sự gì, Pauline, hắn có được tích sự gì cho cô đâu?” Làm sao ta trả lời một người đàn bà như vậy, người không biết đàn ông có tích sự gì, và miệng thì nói nghĩ về tương lai của ta nhưng không chịu trả tiền cho ta để ta còn mua cái gì bỏ vào mồm ngoài chuyện tào lao? Nên tôi nói, “Không tích sự gì, thưa bà. Anh ta chẳng ích gì cho tôi. Nhưng cũng vậy thôi, tôi nghĩ tôi nên ở lại.” Bả đứng lên còn tôi bỏ về. Ra đến ngoài, tôi cảm thấy đau dưới đáy quần, tôi đã ngồi ép chặt cứng hai chân khi cố làm cho người đàn bà đó hiểu. Nhưng giờ tôi nghĩ bả không sao hiểu được. Bả cưới một người đàn ông có cái khe trên mặt thay vì miệng. Nên làm sao bả hiểu được?”

Một mùa đông nọ Pauline phát hiện ra mình có thai. Khi chị nói cho Cholly, chị ngạc nhiên vì anh ta hài lòng. Anh ta bắt đầu bớt nhậu nhẹt và về nhà thường xuyên hơn. Họ trở lại mối quan hệ giống những ngày mới cưới hơn, khi anh ta hỏi chị có mệt không hay có muốn anh ta mua gì ở tiệm về cho chị không. Trong trạng thái dễ chịu này, Pauline bỏ đi làm công nhật và quay lại lo việc nhà. Nhưng nỗi cô quạnh trong hai căn phòng đó vẫn không mất đi. Khi mặt trời mùa đông chạm lớp sơn xanh lá tróc lở của ghế ngồi trong bếp, khi giò xông khói sôi trong nồi, khi tất cả những gì chị nghe thấy là tiếng xe tải giao đồ nội thất dưới nhà, chị nghĩ về mái nhà xưa, ngày ấy hầu như lúc nào chị cũng chỉ thui thủi một mình, nhưng cái cô quạnh này thì khác. Rồi chị thôi nhìn đăm đăm mấy cái ghế sơn xanh, xe tải giao hàng; thay vì vậy chị đi xem phim. Trong bóng tối ở đó ký ức chị sống lại, và chị không chống nổi những mộng mơ ngày trước. Cùng với ý niệm về tình yêu lãng mạn, chị được làm quen với một thứ khác - vẻ đẹp hình thể. Có lẽ là những ý niệm có tính tàn phá nhất trong lịch sử suy tư của con người. Cả hai bắt nguồn trong ganh ghét, nảy nở trong bất an và tàn lụi trong vỡ mộng. Khi đánh đồng cái đẹp hình thể với đức hạnh, chị lột trần đầu óc mình ra, trói nó, và gom niềm khinh bỉ bản thân lại thành từng đống. Chị quên mất ham muốn và sự quan tâm giản dị. Chị xem tình yêu là ăn nằm chiếm hữu, còn lãng mạn là mục đích của tinh thần. Với chị nó là suối nguồn để chị hút lấy những cảm xúc mang tính hủy hoại nhất, lừa dối kẻ yêu và tìm cách cầm tù kẻ được yêu, cắt xén tự do bằng đủ mọi cách.

Sau khi được giáo dục bằng phim ảnh, chị không bao giờ có thể nhìn một gương mặt mà không gán cho nó một thứ hạng nào trong thang bậc của vẻ đẹp tuyệt đối, và thang bậc này chị thấm nhuần đầy đủ từ màn bạc. Cuối cùng nơi đó cũng có những khu rừng sẫm tối, những con đường hoang liêu, những bờ sông, đôi mắt dịu dàng thấu suốt. Nơi đó kẻ khiếm khuyết thành lành lặn, kẻ mù lòa thành sáng mắt, và kẻ què cụt tập tễnh quẳng nạng đi. Nơi đó cái chết đã chết, còn con người làm mọi cử chỉ trong một đám mây âm nhạc. Nơi đó hình ảnh đen trắng tụ hội, tạo nên một toàn thể kỳ vĩ - thảy đều được chiếu qua tia ánh sáng từ bên trên và từ đằng sau.

Thực chất là một thú vui đơn sơ, nhưng chị học được từ đó có những gì để yêu và có những gì để hận.

“Lần duy nhất tôi hạnh phúc dường như là khi tôi đang xem chiếu bóng. Hễ có thời gian là tôi đi xem. Tôi thường đến sớm, trước khi chiếu bóng. Họ tắt hết đèn, bốn bề tối om. Rồi màn ảnh sáng lên, vậy là tôi cuốn ngay theo phim. Đàn ông da trắng rất quan tâm đến vợ, và họ đều ăn mặc đẹp trong những căn nhà to rộng sạch sẽ có bồn tắm cùng phòng với bồn cầu. Mấy phim đó tôi thích lắm, nhưng chúng khiến tôi khó mà về nhà, và khó mà nhìn Cholly. Tôi không biết nữa. Tôi nhớ có lần tôi đi xem Clark Gable và Jean Harlow. Tôi bới tóc cao lên như tóc cô ta, hình mà tôi thấy trên tạp chí. Rẽ một bên, có tí lọn xoăn trước trán. Trông hệt như cổ. À thì, cũng gần giống. Mà thôi, tôi ngồi xem phim mà tóc bởi cao như vậy và xem thú lắm. Vốn định xem từ đầu đến cuối lần nữa, nên tôi đứng lên đi mua ít kẹo. Tôi ngồi lại vào ghế, rồi cắn một miếng kẹo to, và kéo luôn một cái răng trong miệng ra. Tôi muốn khóc. Răng tôi tốt mà, có cái răng sâu nào đâu. Tôi không nghĩ có bao giờ tôi nguôi ngoai được chuyện đó. Tôi ngồi đó, bầu năm tháng, cố trông như Jean Harlow, và gãy mất một răng cửa. Rồi đi hết. Có vẻ như tôi không còn thiết gì nữa sau chuyện đó. Tôi xổ tóc ra lại, tết lên, và đành lòng cứ xấu xí vậy. Dù vậy tôi vẫn đi xem chiếu bóng, nhưng ngày càng xấu tính tợn. Tôi muốn có lại cái răng. Cholly chọc quê tôi, và chúng tôi bắt đầu cãi vã lại. Tôi cố giết anh ta. Anh ta không đánh tôi mạnh lắm, chắc vì tôi đang bầu, nhưng những trận cãi vã, một khi đã bắt đầu lại thì cứ liên miên. Anh ta bắt đầu làm tôi điên chưa từng thấy, và tôi không nhịn được đánh anh ta. Thế rồi tôi sinh đứa bé đó - một thằng con trai - rồi sau đó lại bầu một đứa nữa. Nhưng chuyện không như tôi nghĩ. Tôi nghĩ mình cũng yêu thương chúng, nhưng có lẽ vì không có tiền, cũng có thể vì Cholly, nhưng chúng đúng là quấy rầy tôi hết sức. Đôi lúc tôi vô cớ hò hét và đánh đập chúng, rồi tôi thấy tội chúng, nhưng dường như tôi không dừng được. Khi tôi sinh đứa thứ hai, con gái, tôi nhớ mình đã nói mình sẽ yêu thương nó cho dù nó trông có ra sao. Nó trông như một quả bóng bằng tóc đen thui. Tôi không nhớ là lần đầu mình cố có bầu. Nhưng lần thứ hai, tôi quả đã cố có bầu. Có lẽ vì tôi có một đứa rồi nên không sợ nữa. Mà thôi, tôi hài lòng, và không nghĩ về chuyện mang bầu, chỉ nghĩ về đứa bé thôi. Tôi thường trò chuyện với nó lúc nó còn trong bụng. Chúng tôi như bạn thân. Mọi người biết mà. Kiểu như tôi đi phơi đồ và biết bưng bê là không tốt cho nó. Tôi nói nó là ráng chút mẹ phơi mấy miếng giẻ này, đừng quẫy đạp như cóc; sắp xong rồi. Nó sẽ không đạp chọi hay gì cả. Hoặc kiểu như tôi trộn cái gì trong chén cho đứa kia tôi cũng nói với nó luôn. Mọi người biết đó, chỉ là trò chuyện thân tình. Cứ vậy cho đến lúc cuối tôi hài lòng về đứa bé đó. Tôi đi bệnh viện khi đã đến lúc sinh. Để tôi được thoải mái. Tôi không muốn sinh nó ở nhà như khi sinh thằng bé. Họ đưa tôi vào một phòng rộng có cả đám đàn bà. Những cơn đau đẻ đến, nhưng không đau lắm. Một bác sĩ già nhỏ thó đến khám cho tôi. Ông ta có đủ thứ đồ nghề. Ông ta đeo găng vào và đổ gì như thạch lên tay rồi thọc nó lên giữa hai giò tôi. Khi ổng bỏ đi thì có thêm mấy bác sĩ đến. Một người già và vài người trẻ. Ông bác sĩ già dạy cho mấy người trẻ về em bé. Chỉ họ xem làm như nào. Khi đến chỗ tôi ổng nói giờ mấy chị này các anh không gặp khó gì đâu. Họ đẻ cái ào và không đau gì. Cứ như ngựa. Mấy bác sĩ trẻ cười mỉm. Họ nhìn bụng tôi và giữa hai giò tôi. Họ không nói tiếng nào với tôi. Chỉ có một người nhìn tôi. Ý tôi là nhìn mặt tôi. Tôi nhìn thẳng mặt anh ta. Anh ta cụp mắt xuống và đỏ lựng. Tôi nghĩ anh ta biết rằng có lẽ tôi không phải là ngựa đang đẻ. Nhưng mấy người kia. Họ không biết. Họ cứ tiếp tục. Tôi thấy họ nói chuyện với mấy đàn bà da trắng: “Chị thấy thế nào? Sinh đôi hả?” Cứ chọc giỡn bọ, tất nhiên, nhưng nói chuyện tử tế. Nói chuyện thân tình tử tế. Tôi đâm cáu, và khi mấy cơn đau đẻ nặng hơn, tôi thấy mừng. Mừng có cái gì khác để nghĩ đến. Tôi rên to dữ lắm. Không đau như tôi làm bộ đâu, nhưng tôi phải để mấy người họ biết sinh con không chỉ là rặn ra. Tôi cũng đau như mấy đàn bà da trắng kia. Trước tôi không gào rú thì không có nghĩa là tôi không thấy đau. Họ nghĩ gì vậy? Rằng chỉ vì tôi biết sinh con không ồn ào mà mông tôi không rặn và đau như mông họ à? Còn nữa, ông bác sĩ đó không biết mình nói cái gì. Chắc ông ta chưa từng thấy ngựa cái đẻ. Ai nói nó không đau? Chỉ vì nó không khóc à? Vì nó không nói ra được nên họ nghĩ nó không đau ư? Nếu họ nhìn vào mắt nó và thấy nhãn cầu lộn ngược ra sau, thấy cái vẻ buồn khổ, họ sẽ biết. Mà thôi, đứa bé chui ra. Một đứa to khoẻ. Nó trông khác với cái tôi hình dung. Chắc là do tôi đã nói chuyện với nó nhiều đến độ vẽ ra trong đầu hình ảnh nó. Nên khi tôi thấy nó thì như thể nhìn bức ảnh mẹ ta ngày bà còn con gái. Ta biết cổ là ai nhưng trông không giống. Họ đưa đứa bé cho tôi để cho bú, và nó thích day núm vú của tôi ngay. Nó lanh lắm. Không giống Sammy, thằng bé là đứa khó cho ăn nhất. Còn Pecola thì trông như nó biết ngay phải làm gì. Nó đúng là một đứa bé tinh khôn. Tôi thường thích nhìn nó. Mọi người biết chúng phát ra những tiếng tham lam mà. Mắt mềm mủi và ướt. Nửa như con cún nửa như người sắp chết. Nhưng tôi biết nó xấu xí. Đầu cả tóc là tóc, nhưng Chúa ơi nó xấu tợn.”

Lúc Sammy với Pecola còn nhỏ Pauline đã phải đi làm lại. Giờ chị lớn tuổi rồi, không còn thời gian mà mơ mộng và xem phim. Giờ là lúc ráp nối mọi chuyện, sắp xếp theo dòng mạch lạc mà trước kia không có. Bọn trẻ tạo ra cho chị nhu cầu này, chính chị cũng không còn là trẻ con nữa. Nên chị trưởng thành, và quá trình trưởng thành của chị giống hầu hết chúng ta: chị dần căm ghét những thứ làm chị hoang mang hay cản trở chị; có được những đức tính dễ duy trì; giao cho mình một vai trong bộ máy tổng thể; và lần ngược lại quãng đời đơn sơ hơn nhằm kiếm tìm niềm mãn nguyện.

Chị lãnh hết trách nhiệm và nhận vai trò trụ cột trong gia đình và lại đi nhà thờ. Tuy nhiên, trước hết chị dọn ra khỏi căn hộ hai phòng xuống tầng trệt rộng rãi của tòa nhà được xây làm cửa tiệm. Chị khẳng định mình trước những người đàn bà từng khinh khi chị bằng cách sống đạo đức hơn họ; chị trả thù Cholly bằng cách buộc anh ta mặc sức thể hiện những khuyết điểm chị khinh. Chị gia nhập một nhà thờ nơi người ta cau mày khi ai đó to tiếng, phụng sự trong Ban Phụng Vụ số 3, và thành người của Hội Phụ nữ số 1. Trong buổi cầu nguyện chị than ngắn thở dài về cách cuộc của Cholly, và mong Chúa phù hộ chị giữ cho bầy con tránh xa tội lỗi của cha chúng. Chị không nói “con ních” nữa mà nói “con nứt”. Chị làm gãy thêm một chiếc răng nữa, và phẫn nộ với đám gái màu mè chỉ nghĩ đến áo xống và đàn ông. Xem Cholly như hình mẫu tội lỗi và thất bại, chị đội anh ta như mão gai, và vác các con như thánh giá.

Chị may mắn tìm được việc làm thường xuyên trong nhà một gia đình khá giả mà người nhà trìu mến, biết cảm kích, và rộng lượng. Chị nhìn nhà họ, ngửi đồ vải lanh, sờ khăn màn lụa, và thấy cái gì cũng thích. Váy ngủ hồng của đứa trẻ, từng xấp vỏ gối trắng viền thêu, khăn trải giường có móc hoa thanh cúc xanh dương ở viền trên. Chị thành cái gọi là gia nhân lý tưởng, vì vai trò như vậy thỏa đáp gần hết mọi nhu cầu của chị. Khi chị tắm cho đứa bé gái Fisher thì đó là trong bồn sứ có vòi bạc tha hồ mở nước nóng và sạch. Chị lau khô cho nó bằng khăn lông trắng rồi mặc cho nó đồ ngủ êm ái. Rồi chị chải mái tóc vàng, mân mê mấy lọn óng mượt. Không có bồn tráng kẽm, không có từng xô nước đun trên lò, không có khăn tắm ngả xám, cứng ngắc, sờn tróc giặt trong chậu rửa chén, phơi trong sân sau bụi bặm, không có từng đùm tóc như len đen cứng rối nùi phải chải gỡ. Chẳng bao lâu chị ngừng cố gắng chăm sóc nhà mình. Những thứ chị đủ tiền mua thì không bền, không đẹp đẽ không kiểu cọ, và bị nhấn chìm trong cửa tiệm bẩn thỉu. Chị ngày càng bỏ bê nhà cửa, chồng con - họ chẳng khác nào ý nghĩ muộn màng ta có trước khi ngủ, viền cạnh lúc sáng sớm và chiều hôm trong ngày, những viền cạnh tối tăm khiến đời sống mỗi ngày với nhà Fisher sáng sủa hơn, thanh tao hơn, đáng yêu hơn. Ở đây chị được dọn dẹp, lau chùi, sắp xếp mọi thứ thành hàng gọn ghẽ. Ở đây bàn chân chị lép bép trên thảm lông tuyết dày, và không có tiếng tập tễnh. Ở đây chị tìm thấy cái đẹp, trật tự, sự sạch sẽ và lời ngợi khen. Ông Fisher nói, “Tôi thà bán bánh việt quất chị ta làm còn hơn bán bất động sản.” Chị cai quản các tủ chén xếp đầy nhóc thực phẩm sẽ không ai động đến trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng; chị là nữ hoàng của rau củ đóng hộp mua từng thùng, kẹo mềm đặc biệt và kẹo ruy băng cuộn trong những dĩa bạc bé xíu. Đám chủ nợ và viên chức làm chị bẽ mặt khi chị đến lo việc của mình giờ nể nang chị, thậm chí sợ chị, khi chị đại diện cho gia đình Fisher. Chị không chịu thịt bò hơi tái màu hay cạnh cắt không gọn ghẽ. Cá hơi có mùi mà chị chấp nhận cho gia đình mình chị sẽ ném trả hết vào mặt người bán cá nếu anh ta gửi nó đến nhà Fisher. Quyền hành, lời khen ngợi và sự xa xỉ là của chị trong gia đình này. Họ còn cho chị cái chị chưa từng có - biệt danh - Polly. Chị sung sướng đứng trong căn bếp của mình lúc cuối ngày và kiểm tra công trình của mình. Biết rằng bánh xà phòng xếp thành tá, thịt muối thành khoanh, và thích thú nồi chảo sáng loáng và sàn nhà sạch bong. Nghe, “Nhà mình sẽ không bao giờ để chị ta đi. Ta sẽ không bao giờ tìm được ai như Polly. Chị ta không chịu rời bếp cho đến chừng nào mọi thứ đều ngăn nắp. Chị ta đúng là một gia nhân lý tưởng.”

Pauline giữ sự ngăn nắp này, cái đẹp này cho mình, một thế giới riêng, và không bao giờ đưa nó vào nhà mình, hay với con chị. Chúng thì chị uốn nắn cho thành đáng kính, và khi làm vậy chị dạy chúng biết sợ: sợ vụng về, sợ giống cha chúng, sợ không được Chúa yêu thương, sợ phát điên phát khùng như mẹ của Cholly. Chị tôi rèn cho con trai mong muốn bỏ nhà đi quyết liệt, và cho con gái nỗi sợ trưởng thành, sợ người khác, sợ cuộc đời.

Toàn bộ nghĩa lý đời chị nằm trong công việc. Bởi những đức tính của chị vẫn nguyên vẹn. Chị là một người đàn bà đi nhà thờ đều đặn, không rượu bia, thuốc lá, hay ăn chơi, hết sức bảo vệ mình trước Cholly, vượt lên trên anh ta về mọi mặt, và cảm thấy mình đang tận tụy làm tròn vai trò người mẹ khi vạch ra những thiếu sót của cha chúng để chúng không mắc phải, hay phạt con khi chúng tỏ ra chút lười biếng cẩu thả nào, dù nhỏ cách mấy, khi chị đã làm mười hai đến mười sáu tiếng mỗi ngày để nuôi nấng chúng. Và thiên hạ cũng đồng tình với chị.

Chỉ đôi khi, thi thoảng, rồi hoạ hoằn, chị mới nghĩ về những ngày cũ, hay nghĩ xem đời chị đã thành ra cái gì. Đó là những trầm ngâm, những ý nghĩ vu vơ, đôi khi toàn những mơ màng cũ, nhưng không phải thứ chị muốn nghĩ nhiều.

“Có lần tôi cũng định bỏ anh ta, nhưng rồi có chuyện xảy ra. Có lần, sau khi anh ta cố châm lửa đốt nhà, tôi quyết lòng dứt áo đi. Giờ tôi còn không nhớ nổi cái gì giữ mình lại nữa. Anh ta rõ ràng không cho tôi được đời sống ra gì. Nhưng chuyện cũng không đến nỗi. Nhiều lúc mọi chuyện cũng không đến nỗi nào. Thỉnh thoảng anh ta lẳng lặng chui vào giường, không say lắm. Tôi giả như đã ngủ, vì khuya rồi, và sáng đó anh ta lấy độ ba đô la trong ví tôi. Tôi nghe anh ta thở, nhưng không ngoái lại. Tôi mường tượng hai cánh tay đen của anh ta kê sau đầu, cơ bắp như hạt đào to mài láng, gân máu như những chi lưu dâng tràn chạy dọc cánh tay. Không chạm vào anh ta tôi cũng cảm thấy mấy gờ đó trên đầu ngón tay. Tôi thấy lòng bàn tay anh ta chai sần đến thành đá hoa cương, và mấy ngón tay dài cuộn lại yên tĩnh. Tôi nghĩ về đám lông rậm, xoăn xít trên ngực anh ta, và hai chỗ gồ to mà cơ ngực anh ta tạo ra. Tôi muốn chà mặt thật mạnh lên ngực anh ta và cảm thấy lông cứa vào da. Tôi biết chính xác lông mọc thưa đi chỗ nào - ngay bên trên rốn - rồi nó lại tiếp tục và tràn ra ra sao. Có lẽ anh ta sẽ xê dịch một chút, và giò anh ta sẽ chạm vào tôi, hay tôi cảm thấy sườn anh ta sượt nhẹ lên mông tôi. Tôi vẫn không nhúc nhích. Rồi anh ta ngóc đầu lên, xoay qua, và đặt tay lên eo tôi. Nếu tôi không động đậy, anh ta sẽ đưa tay qua để kéo và vỗ bụng tôi. Nhẹ nhàng và chậm rãi. Tôi vẫn không động đậy, vì tôi không muốn anh ta dừng. Tôi muốn giả ngủ và để anh ta tiếp tục xoa bụng mình. Rồi anh ta sẽ nghiêng đầu xuống cắn ti tôi. Lúc đó tôi không muốn anh ta xoa bụng mình nữa. Tôi muốn anh ta đặt tay vào giữa hai giò tôi. Tôi giả thức giấc, quay qua anh ta, nhưng không xoạc giò ra. Tôi muốn anh ta xoạc ra cho tôi. Anh ta làm, và tôi sẽ mềm mại ướt át ở nơi mấy ngón tay anh ta mạnh mẽ rắn chắc. Tôi sẽ mềm hơn bao giờ hết. Toàn bộ sức lực tôi nằm trong tay anh ta. Não tôi cuộn lại như lá héo. Cảm giác nhột nhạt, trống trải trong hai tay tôi. Tôi muốn nắm lấy cái gì đó, nên ôm đầu anh ta. Miệng anh ta dưới cằm tôi. Rồi tôi không muốn bàn tay anh ta giữa hai giò tôi nữa, vì tôi nghĩ mình đang mềm nhũn đi. Tôi xoạc hai chân ra, và anh ta nằm trên tôi. Nặng quá không giữ được, và nhẹ quá không thể không giữ. Anh ta bỏ thứ đó vào trong tôi. Trong tôi. Trong tôi. Tôi quặp hai chân quanh lưng anh ta để anh ta không thoát ra được. Mặt anh ta bên mặt tôi. Lò xo giường nghe như dế kêu ở quê nhà. Anh ta đan mấy ngón tay vào ngón tay tôi, và chúng tôi dang tay ra như Jesus trên thánh giá. Tôi giữ chặt. Mấy ngón tay tôi và bàn chân tôi giữ chặt, vì mọi thứ khác đang tan trôi, tan trôi. Tôi biết anh ta muốn tôi ra trước. Nhưng tôi không làm được. Phải đến khi anh ta ra. Phải đến khi tôi cảm thấy anh ta yêu tôi. Chỉ mình tôi. Chìm vào tôi. Phải đến khi tôi biết da thịt tôi là tất cả những gì trong đầu anh ta. Rằng anh ta không dừng được nếu phải dừng. Rằng anh ta thà chết còn hơn rút thứ đó ra khỏi tôi. Khỏi tôi. Phải đến khi anh ta buông hết mọi thứ mình có, và dâng cho tôi. Cho tôi. Cho tôi. Khi anh ta làm vậy, tôi cảm thấy có sức mạnh. Tôi mạnh mẽ, tôi xinh đẹp, tôi trẻ trung. Và rồi tôi chờ. Anh ta rùng mình và ngửa đầu. Giờ tôi đủ mạnh mẽ, đủ xinh đẹp, và đủ trẻ trung để mà anh ta làm tôi ra. Tôi rút mấy ngón tay ra khỏi tay anh ta và để hai tay lên mông anh ta. Hai giò tôi buông xuống giường lại. Tôi không tạo tiếng động, vì sợ đám con ních nghe thấy. Tôi bắt đầu cảm thấy mấy mảng màu nhỏ xíu đó lơ lửng bay lên vào trong tôi - sâu trong tôi. Vệt xanh lá từ ánh sáng của bọ da, màu tím từ mâm xôi nhỏ long tong trên đùi tôi, màu vàng nước chanh mẹ pha chảy ngọt lịm trong tôi. Rồi tôi cảm thấy như mình đang cười giữa hai giò, rồi tiếng cười đâm lẫn lộn với sắc màu, và tôi sợ mình sẽ ra, rồi sợ mình sẽ không ra. Nhưng tôi biết mình sẽ ra. Và tôi ra thật. Và rồi khắp bên trong là cầu vồng. Và nó cứ còn mãi còn mãi còn mãi. Tôi muốn cảm ơn anh ta, nhưng không biết làm cách nào, nên tôi vỗ về anh ta như dỗ em bé. Anh ta hỏi tôi có ổn không. Tôi nói có. Anh ta ra khỏi tôi và nằm xuống ngủ. Tôi muốn nói gì đó, nhưng không nói. Tôi không muốn dứt tâm trí khỏi cái cầu vồng. Tôi cần trở dậy vào nhà vệ sinh, nhưng tôi không dậy. Vả lại, Cholly đang ngủ vắt một chân qua người tôi. Tôi không nhúc nhích được và cũng không muốn.

Nhưng chuyện không còn giống như vậy nữa. Hầu như lúc nào anh ta cũng cứ quẫy bên trong tôi trước khi tôi thức, và khi tôi thức thì đã xong. Còn lại thì tôi thậm chí chẳng thể ở bên cạnh cái con người say sưa bốc mùi của anh ta. Nhưng tôi không bận tâm chuyện đó nữa. Chúa của tôi sẽ lo cho tôi. Tôi biết Ngài sẽ lo. Tôi biết Ngài sẽ lo. Hơn nữa, chuyện đó cũng chẳng làm thay đổi gì trái đất già nua này. Chắc chắn sẽ có hiển vinh. Thứ duy nhất thỉnh thoảng tôi thấy nhớ là cầu vồng đó. Nhưng như tôi nói, tôi không còn nhớ nhiều nữa.”

NHÌNCHAXEMÔNGTOKHỎECHANÀYCHƠIVỚIJANENGHECHAĐANGNHOẺNCƯỜI NHOẺNCƯỜIĐICHAÀNHOẺNCƯỜIĐINHOẺN

Khi Cholly mới bốn ngày tuổi, mẹ quấn nó trong hai tấm chăn và một tờ báo rồi đặt nó trên đống rác cạnh đường ray. Bà dì Jimmy, thấy cháu gái ôm một bọc ra cửa sau, liền cứu nó. Bà lấy dây da mài dao quất mẹ nó và không cho đến gần đứa bé sau chuyện đó. Bà dì Jimmy tự tay nuôi nấng Cholly, nhưng thỉnh thoảng lấy làm khoái trá kể nó nghe mình đã cứu nó ra sao. Theo lời bà thì nó hiểu là mẹ mình đầu óc không bình thường. Nhưng nó chưa bao giờ có dịp tìm hiểu, vì mẹ nó bỏ nhà đi ít lâu sau vụ quất roi da, và từ đó không ai nghe gì về bà nữa.

Cholly biết ơn vì đã được cứu. Trừ ra thỉnh thoảng. Thỉnh thoảng khi nó nhìn bà dì Jimmy ăn bốc cải làn, chít chít bốn cái răng vàng, hay ngửi thấy bà khi bà đeo cái túi a ngùy quanh cổ, hay khi bà bắt nó ngủ với bà cho ấm vào mùa đông và nó thấy được bộ ngực già nua, nhăn nheo của bà chảy xệ trong váy ngủ - lúc ấy nó băn khoăn có nên chết ngay đó cho xong hay không. Dưới vành bánh xe dưới bầu trời đen kịt dịu dàng của Georgia.

Nó đi học được bốn năm rồi mới có đủ can đảm hỏi bà dì cha mình là ai và ở đâu.

“Tao chắc là thằng Fuller đó,” bà dì trả lời. “Lúc đó hắn lảng vảng quanh đây, nhưng hắn chuồn đi khá nhanh trước khi mày chào đời. Tao nghĩ hắn đi Macon. Hắn hoặc là thằng em. Cả hai không chừng. Có lần tao nghe ông bố nhà Fuller nói gì về chuyện đó.”

“Ông ta tên gì?” Cholly hỏi.

“Fuller, Thằng Ngu[1].”

“Ý cháu là tên riêng kìa?”

“À.” Bà nhắm mắt lại để nghĩ, rồi thở dài. “Không nhớ được gì nữa cả. Phải là Sam không? Ờ. Samuel. Không, không phải. Là Samson. Samson Fuller.”

“Sao mọi người không đặt tên cho cháu là Samson?” Cholly hỏi nhỏ.

“Để làm gì? Khi mày chào đời thì hắn có ở đó đâu. Mẹ mày không đặt tên gì cho mày cả. Chưa được chín ngày thì nó đã liệng mày ra đống rác. Khi tao lượm lại mày chính tao đặt tên cho mày vào ngày thứ chín. Mày được đặt theo tên đứa em trai đã chết của tao. Charles Breedlove. Một người tốt. Không Samson nào ra trò trống gì cả.”

Cholly không hỏi gì thêm.

Hai năm sau nó bỏ học để làm việc ở Vựa Ngũ cốc và Thức ăn chăn nuôi Tyson. Nó lo quét dọn, chạy việc vặt, cân bao hạt rồi nhấc bỏ lên xe bò. Thỉnh thoảng họ cho nó đi với người đánh xe. Một ông già tử tế tên Blue Jack. Blue thường kể cho nó nghe chuyện đời xưa khi Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ tới. Dân da đen hò reo, khóc lóc, hát hò ra sao. Và câu chuyện ma về ông da trắng chặt đầu vợ rồi chôn trong đầm lầy, rồi đêm đêm cái xác không đầu ngoi lên và loạng choạng trong sân, đụng đổ đồ đạc vì không thấy đường, và cứ khóc đòi cái lược. Họ nói về những người đàn bà Blue từng có, những vụ đánh đấm ông góp mặt ngày còn trai trẻ, và chuyện có lần ông dùng miệng lưỡi thuyết phục để khỏi bị tử hình, còn mấy người khác thì không.

Cholly quý Blue. Rất lâu sau khi đã thành đàn ông, nó vẫn còn nhớ những lúc vui vẻ cùng ông. Ngày bốn tháng Bảy tại buổi dã ngoại của nhà thờ một gia đình chuẩn bị bổ quả dưa hấu. Vài đứa trẻ đứng quanh nhìn theo. Blue đứng lảng vảng ở ngoài vòng tròn - nụ cười chờ đợi thoáng qua làm mặt ông hiền dịu đi. Người cha trong gia đình nâng quả dưa lên quá đầu - Cholly thấy như hai cánh tay to của ông cao hơn cây cối, còn quả dưa che khuất mặt trời. Dáng người cao, đầu cúi tới, mắt nhìn chăm chăm vào một tảng đá, hai cánh tay cao hơn cây thông, hai bàn tay cầm quả dưa hấu to hơn mặt trời, ông dừng một lát để nhắm và giữ chắc cánh tay. Nhìn dáng hình in trên bầu trời xanh rực rỡ, Cholly cảm thấy da gà nổi khắp cánh tay và cổ. Nó thắc mắc liệu Chúa trông có giống vậy không. Không. Chúa là một ông già da trắng tử tế, mái tóc dài bạc phơ, chòm râu bạc tha thướt, và cặp mắt xanh nhỏ trông buồn bã khi mọi người chết và trông hằn học khi họ xấu xa. Chắc phải quỷ dữ mới trông như vậy - nắm thế giới trong tay, sẵn sàng quật nó xuống đất và làm đổ tung tóe ruột đỏ ra để đám mọi đen ăn phần ruột ngọt, ấm. Nếu quỷ dữ trông như vậy thật, Cholly thích hắn hơn. Nó chưa bao giờ cảm thấy gì khi nghĩ về Chúa, nhưng riêng cái ý niệm về quỷ dữ thôi cũng làm nó hào hứng. Và giờ con quỷ đen đúa, vạm vỡ đang che khuất mặt trời và chuẩn bị sẵn sàng bổ toác thế giới.

Xa xa có người chơi khẩu cầm; tiếng nhạc len qua đồng mía vào rừng thông; nó cuộn xoáy quanh thân cây và trộn lẫn với mùi thông, nên Cholly không sao phân biệt được đâu là tiếng và đâu là mùi lửng lơ trên đầu mọi người.

Người đàn ông vung quả dưa xuống gờ tảng đá. Một tiếng kêu khẽ khàng thất vọng đi kèm tiếng vỏ dưa dập nát.

Cú đập không chính xác. Quả dưa toác ra lam nham, từng khúc vỏ lẫn ruột đỏ rơi vãi trên cỏ.

Blue nhảy nhổm lên. “Ối - ôiiii,” ông rên, “thế là đi đời quả tim.” Giọng ông vừa buồn vừa hài lòng. Ai nấy đều nhìn để xem khúc đỏ to ngay chính giữa quả dưa, không dính vỏ và ít hạt, đã lăn tới cách chân Blue một quãng. Ông cúi xuống lượm nó lên. Đỏ như máu, các mặt cùn đụt đi vì vị ngọt, mép căng tức những nước là nước. Quá rõ ràng, gần như tục tĩu, trong niềm vui nó hứa hẹn.

“Cứ ăn đi, Blue,” người cha cười. “Phần ông đó.”

Blue nhoẻn cười bỏ đi. Lũ trẻ nhốn nháo tìm những miếng dưa trên đất. Đàn bà gỡ hạt cho mấy đứa nhỏ nhất và bẻ từng miếng nhỏ cho mình. Mắt Blue bắt gặp mắt Cholly. Ông ra hiệu cho nó. “Lại đây, nhỏ. Mày với tao ăn quả tim.”

Ông già và thằng nhỏ ngồi giữa cỏ cùng nhau và chia nhau quả tim dưa. Khúc ruột ngọt ngào dơ bẩn của đất.

Mùa xuân năm ấy, một mùa xuân rất giá rét, bà dì Jimmy qua đời vì bánh nhân đào. Bà đến buổi họp trại diễn ra sau một cơn mưa dông, và gỗ ấm trên ghế băng không tốt cho bà. Bốn năm ngày sau đó, bà cảm thấy không được khỏẻ. Bạn bè đến chăm sóc bà. Người pha trà hoa cúc, người xoa dầu cho bà. Bà Alice, bạn thân nhất của bà, đọc Kinh Thánh cho bà nghe. Nhưng bà cứ suy sút dần. Mọi người khuyên đủ thứ, nhưng trái ngược nhau.

“Đừng ăn lòng trắng trứng.”

“Uống sữa tươi đi.”

“Nhai rễ này này.”

Bà dì Jimmy lờ đi hết trừ chuyện nghe bà Alice đọc Kinh Thánh. Bà lơ mơ gật gù tán thưởng những lời trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Corinth lâm râm rót vào tai bà. Những tiếng amen dịu dàng từ môi bà rơi ra khi bà chịu trừng phạt cho mọi tội lỗi của mình. Nhưng thân xác bà không chịu phản ứng.

Cuối cùng họ quyết định đi mời M’Dear. M’Dear là một phụ nữ trầm lặng sống trong lán nhỏ gần rừng. Bà là bà mụ mát tay đồng thời là một thầy thuốc chẩn bệnh quyết đoán. Không mấy người nhớ được lúc M’Dear chưa tới đây. Hễ có bệnh gì không chữa được bằng cách thức thông thường - bằng phương pháp quen thuộc, bằng trực giác, hay bằng việc chịu đựng - người ta luôn nói, “Đi mời M’Dear.”

Khi bà tới nhà bà dì Jimmy, Cholly kinh ngạc ngay giây phút nó thấy bà. Nó vẫn luôn hình dung bà nhăn nheo và lưng còng, vì nó biết bà đã già lắm lắm rồi. Nhưng M’Dear sừng sững cao hơn ông mục sư đi cùng. Chắc bà phải cao hơn sáu thước. Bốn búi tóc to bạc trắng thêm nét mạnh mẽ và quyền uy cho khuôn mặt đen hiền dịu của bà. Người thẳng như cây cời, dường như bà cần cây gậy gỗ mại châu không phải để chống mà để giao tiếp. Bà gõ nhẹ gậy xuống sàn khi nhìn xuống gương mặt nhăn nheo của bà dì Jimmy. Ngón cái tay phải bà xoa xoa đầu gậy trong khi tay trái sờ nắn khắp người bà dì Jimmy. Bà áp mặt ngoài mấy ngón tay dài lên má người bệnh, rồi áp lòng bàn tay lên trán. Bà lần ngón tay qua tóc người đàn bà đau ốm, cào nhẹ da đầu, rồi nhìn xem móng tay tiết lộ điều gì. Bà cầm bàn tay bà dì Jimmy lên xem kỹ - móng tay, da trên mu, thịt trong lòng bàn tay bà ấn bằng ba đầu ngón tay. Sau đó bà áp tai lên ngực và bụng bà dì Jimmy để nghe. Theo lời M’Dear, cánh đàn bà lôi cái bô dưới giường ra cho bà kiểm phân. M’Dear vừa gõ cây gậy vừa nhìn.

“Đem chôn bô cùng mọi thứ trong đó đi,” bà nói với đám đàn bà. Với bà dì Jimmy bà nói, “Bà bị lạnh bụng. Uống nước luộc thôi chứ không được uống gì khác cả.”

“Có khỏi được không?” bà dì Jimmy hỏi. “Tôi có khỏe lại không?”

“Tôi nghĩ vậy.”

M’Dear quay người rời phòng. Mục sư đỡ bà lên xe độc mã của ông để chở bà về.

Tối đó cánh đàn bà đem qua từng chén nước luộc từ đậu trắng, từ mù tạt, từ bắp cải, từ cải xoăn, từ cải làn, từ củ cải, từ củ cải đường, từ đậu cô ve. Thậm chí nước dùng từ má heo luộc.

Hai tối sau bà dì Jimmy đã lại sức nhiều. Khi bà Alice và bà Gaines ghé qua xem bà thế nào, họ nhận thấy bà đã khá hơn. Ba người đàn bà ngồi trò chuyện về đủ chứng bệnh họ từng bị, cách họ chữa trị hay làm thuyên giảm, cái gì có công hiệu. Họ cứ liên tục quay trở lại bệnh tình của bà dì Jimmy. Nhắc đi nhắc lại nguyên nhân, đã có thể làm gì để khỏi mắc bệnh, khả năng chữa bệnh như thần của M’Dear. Giọng họ quyện với nhau thành một bài điếu ca hoài niệm về nỗi đau. Lên bổng xuống trầm, phức hợp trong hòa âm, ngập ngừng trong cao độ, nhưng không đổi trong đoạn hát nói về nỗi đau. Họ ôm rịt những ký ức ốm đau bệnh tật vào lòng. Họ liếm môi tặc lưỡi trìu mến nhớ lại những đớn đau mình đã chịu - sinh nở, thấp khớp, bạch hầu thanh quản, bong gân, đau lưng, trĩ. Mọi vết bầm tích tụ khi họ làm lụng trên mặt đất - thu hoạch mùa màng, quét dọn, bưng bê, đập giã, lom khom, lúi húi, cuốc thuổng - bao giờ cũng có bầy con thơ dưới chân.

Nhưng họ cũng đã từng trẻ trung. Mùi nách và háng trộn lẫn thành một mùi xạ hương dễ thương; ánh mắt vụng trộm, đôi môi hé mở, và cái quay đầu ý tứ trên chiếc cổ đen mảnh mai chẳng khác nào con nai cái. Tiếng cười của họ là cái chạm hơn là thanh âm.

Rồi họ lớn lên. Rón rén vào đời từ cửa sau. Trưởng thành. Người trong thiên hạ ai cũng có quyền sai phái họ. Đàn bà da trắng kêu, “Làm cái này.” Trẻ con da trắng kêu, “Đưa tôi cái kia.” Đàn ông da trắng gọi, “Lại đây.” Đàn ông da đen kêu, “Nằm xuống.” Những người duy nhất họ không cần nghe lệnh là trẻ con da đen và giữa họ với nhau. Nhưng họ hứng chịu hết thảy rồi tái hiện nó trong hình dung của mình. Họ trông coi nhà của người da trắng, và rành rẽ về nó. Khi đàn ông da trắng đánh đập chồng họ, họ lau dọn máu me rồi về nhà để lãnh màn hành hạ từ nạn nhân. Một tay họ đánh con cái còn tay kia trộm đồ về cho chúng. Hai bàn tay đốn cây cũng cắt cuống rốn; đôi tay bẻ cổ gà và mổ lợn cũng chăm bẵm cho tử linh lan ra hoa; cánh tay ôm từng bánh rơm, bó rạ và bao hạt cũng ru con thơ ngủ. Họ vỗ từng miếng bột bánh quy thành những hình trái xoan ngây thơ lấm tấm bột - và khâm liệm người chết. Họ cày bừa cả ngày rồi về nhà e ấp như quả mận dưới chân tay chồng. Hai giò ngồi giạng trên lưng lừa cũng là đôi giò xoạc hai bên hông chồng. Và có khác chăng là ở chỗ đó.

Rồi họ già đi. Cơ thể xương xẩu, mùi chua lè. Ngồi xổm ngoài đồng mía, lom khom trong đồng bông, quỳ gối bên bờ sông, họ đội cả thế giới trên đầu. Họ để con cái tự lo đời chúng rồi chăm lo cho bầy cháu. Họ nhẹ nhõm quấn giẻ trên đầu, vải quanh ngực; xỏ chân vào nỉ. Họ đã không còn thèm khát và tiết sữa, đã kinh qua hết mọi nước mắt và kinh hoàng. Mình họ có thể cuốc bộ trên những con đường Mississippi, những con hẻm Georgia, những cánh đồng Alabama mà không bị gạ gẫm. Họ đủ già để cáu gắt bất cứ nơi đâu và lúc nào họ muốn, đủ mệt để trông chờ cái chết, đủ thản nhiên để chấp nhận ý niệm đau đớn trong khi mặc kệ nỗi đau hiện diện. Họ, thật ra và cuối cùng, đã tự do. Và cuộc đời của những bà lão da đen này được tổng hợp lại trong mắt họ - một thứ bột nghiền giữa bi và hài, độc địa và an nhiên, thực chất và mộng tưởng.

Họ hàn huyên đến tận khuya. Cholly lắng tai nghe rồi buồn ngủ. Bài hát ru sầu đau bao bọc nó, đu đưa nó, và cuối cùng làm nó mụ mị. Trong giấc ngủ mùi phân hôi thối của một bà già biến thành mùi phân ngựa lành mạnh, và giọng của ba người đàn bà khe khẽ thành những nốt khẩu cầm êm tai. Trong giấc ngủ, nó biết mình nằm cuộn trong ghế, hai tay kẹp giữa đùi. Trong giấc mơ dương vật nó hóa thành cây gậy gỗ mại châu dài, và đôi tay vuốt ve nó là tay của M’Dear.

Một đêm thứ Bảy mưa gió, trước khi bà dì Jimmy thấy đủ khỏe để ra khỏi giường, Essie Foster đem qua cho bà một ổ bánh nhân đào. Bà cụ ăn một miếng, rồi sáng ra khi Cholly đi đổ bô, bà đã chết. Miệng bà nhệu ra thành chữ O trễ nải, còn hai bàn tay, mấy ngón dài móng cứng như của đàn ông, đã xong bổn phận giữ gìn, giờ có thể điệu đà trên chăn trải. Một mắt mở nhìn nó như thể nói, “Cầm cái bô cẩn thận đó, nhỏ.” Cholly trân trân nhìn lại, không nhúc nhích được, cho đến khi một con ruồi đậu bên khóe miệng bà. Nó giận dữ xua con ruồi đi, nhìn lại con mắt, và nghe lời nó.

Đám tang bà dì Jimmy là đám tang đầu tiên Cholly từng dự. Là người nhà, tang quyến, nó trở thành trung tâm sự chú ý. Các bà đã chùi dọn nhà cửa, phơi phóng mọi thứ, thông báo cho mọi người, và khâu một cái váy trông như váy cưới trắng cho bà dì Jimmy, một bà cô chưa chồng, để mặc khi bà gặp Jesus. Họ còn khâu một bộ đồ màu sẫm, áo trắng, cà vạt cho Cholly. Chồng một bà cắt tóc cho nó. Nó được mọi người trìu mến lo cho từng chút. Không ai nói chuyện với nó; tức là, họ đối xử với nó như con nít, không bao giờ nói chuyện nghiêm túc với nó; nhưng họ lo liệu trước những mong ước nó chưa bao giờ có: những bữa ăn cứ hiện ra, nước nóng đổ đầy bồn gỗ, áo quần xếp sẵn. Lúc thức canh người chết nó được ngủ, rồi những cánh tay ẵm nó vào giường. Đến ngày thứ ba - ngày phát tang - nó mới phải chia phần chú ý. Người thân của bà dì Jimmy từ các thành phố và nông trại lân cận đến. Ông anh O. V. cùng vợ con, và rất nhiều anh chị em họ. Nhưng Cholly vẫn là nhân vật chính, vì nó là “thằng nhỏ của Jimmy, thứ sau cùng bà yêu thương”, và “người phát hiện ra bà”. Sự ân cần của cánh đàn bà, những cái vỗ đầu của cánh đàn ông làm Cholly hài lòng, và những cuộc chuyện trò mềm nhẹ làm nó mê mẩn.

“Sao bà cụ qua đời vậy?”

“Miếng bánh của Essie.”

“Phải không đó?”

“Ừ hửm. Bà cụ đang khỏe, tôi mới gặp bả mới hôm trước đây thôi. Nói tôi đem cho bả ít chỉ đen để vá vài thứ cho thằng nhỏ. Lẽ ra tôi phải biết bà cần chỉ đen là một điềm triệu.”

“Đúng vậy rồi.”

“Cũng hệt như Emma. Nhớ không? Bà ấy cứ đòi chỉ. Lăn ra chết ngay tối đó.”

“Phải. Chậc, bà ấy cứ một đòi hai đòi. Cứ nhắc tôi. Tôi nói bà là ở nhà tôi có, nhưng khồng, bả cứ muốn chỉ mới. Nên tôi kêu June bé đi mua đúng cái buổi sáng bả nằm chết. Tôi đang định mang sang, cùng với miếng bánh mì ngọt. Chị biết bà ấy thèm bánh mì ngọt của tôi sao rồi đó.”

“Chắc rồi. Lúc nào cũng đem khoe chuyện đó. Bà ấy là bạn tốt với chị mà.”

“Tôi tin. Chậc, tôi vừa mới mặc đồ xong thì Sally xộc vào cửa rú lên là Cholly đây đã qua nhà bà Alice báo tin bà cụ chết. Tôi phải nói đúng là sững sờ.”

“Chắc Essie thấy dằn vặt dữ lắm.”

“Ôi trời, phải rồi. Nhưng tôi nói bà ấy là Chúa cho thì Chúa cũng lấy đi. Cũng không phải lỗi bà ấy. Bà ấy làm bánh nhân đào ngon lắm. Nhưng bà ấy cứ nhất quyết tin là do cái bánh, mà tôi cũng nghĩ bà ấy đúng.”

“Thôi, lẽ ra bả không nên lo nghĩ chuyện đó. Cái bả làm thì ta ai cũng sẽ làm.”

“Phải. Vì tôi quả là đang gói cái bánh mì ngọt đó, và nó cũng có thể gây chuyện nữa.”

“Tôi không nghĩ vậy đâu. Bánh mì ngọt lành mà. Nhưng bánh ngọt mà đem cho người bệnh thì tệ hơn. Tôi thấy lạ là Jimmy không biết đấy.”

“Có biết thì bà cụ cũng không để lộ ra đâu. Bả sẽ cố làm người ta vui lòng. Chị biết bả sao rồi mà. Quá tốt.”

“Phải quá. Bà cụ có để lại gì không?”

“Một cái khăn tay cũng không. Căn nhà thuộc về mấy người da trắng ở Clarksville.”

“Vậy sao? Tôi tưởng nhà của bà cụ.”

“Có lẽ có lúc đã từng như vậy. Nhưng hết rồi. Tôi nghe nói dân bảo hiểm đã xuống nói chuyện với ông anh.”

“Nó được nhiêu?”

“Tôi nghe nói tám mươi lăm đô.”

“Chừng đó thôi sao?”

“Chừng đó thì bà cụ có xuống huyệt được không?”

“Chắc không đâu. Tháng Tư năm ngoái ông già tôi tốn hết một trăm năm mươi đô la. Tất nhiên là nhà tôi phải lo mọi thứ cho chu đáo. Giờ hết bà con Jimmy chắc phải hùn tiền. Gã nhà đòn liệm cho dân da đen mình cũng không rẻ gì lắm.”

“Nghĩ mà tiếc. Bà cụ đóng khoản bảo hiểm đó cả đời đấy chứ.”

“Ai cũng biết vậy.”

“À, còn thằng nhỏ thì sao? Nó sẽ làm gì?”

“Chậc, không ai tìm được bà mẹ đó, nên ông anh của Jimmy đến đưa nó về nhà mình. Nghe nói ông ta có một chỗ tử tế. Trong có nhà vệ sinh rồi đủ hết.”

“Tốt quá. Ông ta có vẻ là giáo dân Cơ Đốc ngoan đạo đấy. Mà thằng nhỏ cũng cần bàn tay đàn ông luôn.”

“Đám tang lúc mấy giờ vậy?”

“Hai giờ. Bà cụ phải được hạ huyệt trước bốn giờ.”

“Đãi ăn ở đâu? Tôi nghe nói Essie muốn tổ chức đằng nhà bả.”

“Không, ở nhà Jimmy. Ông anh bà cụ cũng muốn vậy.”

“Chà, sẽ lớn lắm đây. Ai cũng mến bà cụ Jimmy. Chắc chắn sẽ thấy nhớ bà trên bục ngồi ở nhà thờ.”

Bữa ăn là một tràng vui sau vẻ đẹp rền vang của lễ tang. Giống vở bi kịch đường phố mà sự ngẫu hứng được ém đi trong các góc của một cấu trúc vô cùng trang trọng. Người đã khuất là anh hùng bi thảm, người sống sót là nạn nhân vô tội; thần linh hiện diện khắp nơi, phần mở đầu và đối ứng của dàn đồng ca khóc thuê được dẫn dắt bởi nhạc trưởng mục sư. Người ta tiếc thương cho đời sống phí hoài, trầm trồ sửng sốt trước lời răn của Chúa, và để tự nhiên khôi phục lại trật tự của nó trong nghĩa trang.

Do vậy buổi tiệc là hân hoan, là hài hòa, là chấp nhận cái mong manh thể xác, là vui mừng vì cái khổ đã tận. Tiếng cười, sự nhẹ nhõm, cơn thèm ăn cồn cào.

Cholly vẫn chưa nhận thức được đầy đủ rằng bà dì đã không còn. Mọi thứ đều thật thú vị. Ngay cả ở nghĩa trang nó cũng không cảm thấy gì ngoài tò mò, và khi đến lượt nó bước đến nhìn mặt người chết ở nhà thờ, nó còn chìa tay ra sờ thi hài xem có thật là lạnh ngắt như mọi người nói không. Nhưng nó vội rụt tay lại. Bà dì Jimmy trông rất riêng tư, và dường như quấy rầy sự riêng tư ấy là việc làm sai trái. Nó lê bước về lại bục ngồi mắt ráo hoảnh giữa những tiếng gào la khóc lóc của người khác, và thắc mắc mình có nên cố khóc hay không.

Về nhà, nó được tha hồ dự phần trong cái hân hoan và thưởng thức cái nó thật sự cảm thấy - một kiểu tinh thần lễ hội. Nó ăn ngốn ngấu và cảm thấy đủ vui vẻ để cố làm quen các anh chị họ. Theo người lớn, chuyện chúng có đúng là anh chị họ của nó không vẫn còn là dấu hỏi, vì ông anh O. V. của Jimmy chỉ là anh cùng cha khác mẹ, còn mẹ Cholly là con của em gái Jimmy, nhưng người em đó là kết quả cuộc hôn nhân thứ hai của cha Jimmy, còn O. V. là kết quả cuộc hôn nhân đầu.

Một anh họ đặc biệt chú ý đến Cholly. Nó độ mười lăm mười sáu. Cholly đi ra ngoài thì thấy thằng này đứng với vài đứa khác gần cái bồn bà dì Jimmy thường trụng áo quần.

Nó liều nói một chữ “Chào” dè dặt. Chúng đáp lời y hệt. Thằng mười lăm tuổi tên Jake mời Cholly một điếu thuốc lá cuốn tay. Cholly nhận lấy, nhưng khi nó cầm điếu thuốc rồi dang tay ra xa và cắm đầu thuốc vào lửa que diêm thay vì đưa lên miệng rít, chúng cười nó. Tẽn tò, nó liệng điếu thuốc đi. Nó cảm thấy quan trọng là phải làm gì để lấy lại vị thế với Jake. Nên khi thằng nhỏ hỏi Cholly có quen đứa con gái nào không, Cholly nói, “Có chứ.”

Hết thảy mấy đứa con gái Cholly quen đều có mặt tại buổi đãi ăn, nên nó chỉ về một đám con gái đang đứng, đu, chồm người trên lan can hiên sau. Darlene cũng vậy. Cholly hy vọng Jake sẽ không chọn con bé.

“Mình kiếm vài đứa rồi đi quanh chơi đi,” Jake nói.

Hai thằng đủng đỉnh đi lại hàng hiên. Cholly không biết phải bắt đầu sao. Jake quấn hai giò quanh hàng lan can kẽo kẹt trên hiên và cứ ngồi đó nhìn vào khoảng không vô định như thể nó không để ý gì đến chúng. Nó để bọn con gái nhìn qua nó, còn nó thận trọng đánh giá chúng.

Bọn con gái giả như không thấy hai thằng con trai và cứ tiếp tục huyên thuyên. Chẳng mấy chốc cuộc trò chuyện của chúng thành cay cú; mấy trò chọc ghẹo nhẹ nhàng với nhau bấy giờ thành chua ngoa, một kiểu chọc quê thật sự. Đó là tín hiệu cho Jake; bọn con gái đang phản ứng với nó. Chúng hít được một hơi nam tính và đang run run giành giật chút chú ý của nó.

Jake tụt xuống lan can và bước thẳng tới chỗ đứa con gái tên Suky, đứa trêu chọc chua ngoa nhất.

“Muốn dẫn mình đi xem xung quanh không?” Nó còn không thèm nhoẻn cười.

Cholly nín thở, chờ Suky làm Jake ngậm miệng. Con bé giỏi chuyện đó, và có tiếng là miệng lưỡi sắc sảo. Nó ngạc nhiên hết sức khi con bé vui vẻ bằng lòng, lại còn cụp mi mắt. Lấy hết can đảm, Cholly quay qua Darlene nói, “Đi chung đi. Bọn mình chỉ xuống chỗ bờ sông thôi.” Nó chờ con bé nhăn mặt lại nói không, hay để làm gì, hay thứ gì giống vậy. Những cảm xúc nó có đối với con bé chủ yếu là e sợ - sợ con bé sẽ không thích nó, và sợ con bé sẽ thích.

Nỗi sợ thứ hai thành hiện thực. Con bé nhoẻn cười và tụt xuống ba bậc xuôi để đi với nó. Mắt con bé đầy trắc ẩn, Cholly nhớ là mình đang để tang.

“Nếu bạn muốn,” con bé nói, “nhưng đừng đi xa quá. Mẹ nói nhà mình phải về sớm, mà trời sắp tối rồi.”

Bốn đứa dắt nhau đi. Vài thằng còn lại đã đến bên hiên và sắp bắt đầu màn tán tỉnh vài phần thù địch, vài phần dửng dưng, vài phần tuyệt vọng đó. Suky, Jake, Darlene và Cholly băng qua vài khoảng sân sau cho đến khi chúng tới một cánh đồng trống. Chúng chạy cắt ngang cánh đồng đến lòng sông cạn viền cây cỏ. Đích của chuyến đi dạo là một vườn nho dại có nho xạ mọc. Còn non quá, còn căng quá chưa thể có nhiều đường, nhưng chúng vẫn ăn. Không đứa nào muốn - vào lúc đó - quả nho dễ dàng dâng hết thứ nước sẫm màu của mình. Cái kiềm chế, cái trì hoãn, cái hứa hẹn ngọt ngào chưa hé mở làm chúng hào hứng hơn cái chín mọng. Cuối cùng răng đã ê buốt, bọn con trai hái nho ném bọn con gái cho vui. Cổ tay con trai mảnh khảnh đen thui tạo thành những khóa Sol trong không trung khi chúng ném. Cuộc rượt đuổi đưa Cholly với Darlene đi xa lòng sông, và khi chúng dừng lại thở thì không thấy Jake và Suky đâu nữa. Váy vải trắng của Darlene lấm lem nước nho. Chiếc nơ xanh lam to tướng trên đầu đã sút ra, làn gió lúc hoàng hôn hất nơ bay lất phất bên đầu con bé. Chúng hết hơi và nằm phịch xuống trảng cỏ xanh tím bên rìa rừng thông.

Cholly nằm ngửa thở hồng hộc. Miệng đầy vị nho xạ, nó lắng nghe lá thông xào xạc chờ đợi mưa. Mùi cơn mưa sắp đến, mùi thông và nho xạ làm nó choáng váng. Mặt trời đã lặn và thu hết nắng lại. Quay đầu để xem mặt trăng ở đâu, Cholly thoáng thấy Darlene trong ánh trăng đằng sau nó. Con bé ngồi cuộn người thành chữ D - hai cánh tay ôm đầu gối co lên, đầu tựa lên gối. Cholly thấy được quần túm của con bé và các cơ đùi trẻ trung.

“Bọn mình nên về thôi,” nó nói.

“Ừ.” Con bé duỗi thẳng chân trên đất rồi cột lại ruy băng trên tóc. “Mẹ sẽ quất mình cho xem.”

“Không đâu.”

“Ừ hửm. Mẹ nói mẹ sẽ quất nếu mình lấm đất.”

“Bạn không lấm đâu mà.”

“Có mà. Nhìn đây nề.” Con bé thả tay khỏi ruy băng và vuốt thẳng một mảng trên váy mà vết nho đậm nhất.

Cholly cảm thấy ái ngại cho con bé, chuyện đó cũng gần như lỗi nó. Bất giác nó nhận ra là bà dì Jimmy không còn nữa, vì nó thấy nhớ nỗi sợ bị quất. Không còn ai làm vậy ngoài ông cậu O. V., mà ông thì cũng đang để tang.

“Để mình,” nó nói. Nó nhỏm dậy quỳ xoay mặt về con bé và cố buộc ruy băng lại. Darlene thò hai tay dưới chiếc áo không cài nút của nó và xoa làn da căng ẩm ướt. Khi nó ngạc nhiên nhìn con bé, con bé dừng tay và cười. Nó nhoẻn cười và tiếp tục thắt nơ. Con bé lại thò tay dưới áo nó.

“Yên coi,” nó nói. “Làm sao mình buộc được đây?”

Mấy đầu ngón tay con bé cù hai bên sườn nó. Nó cười rúc rích và ôm mạng sườn. Chẳng mấy chốc đứa này đã nằm trên đứa kia. Con bé xoắn hai tay vào áo quần nó. Nó chơi lại trò đó, thọc tay vào cổ áo con bé, rồi đến dưới váy nó. Khi nó thò tay vào quần túm của con bé, con bé chợt dừng cười và tỏ vẻ nghiêm trang. Cholly hoảng hồn, toan cất tay đi, nhưng con bé nắm cổ tay nó nên nó không rút tay đi được. Mấy ngón tay nó bèn thăm dò con bé, còn con bé hôn lên mặt và miệng nó. Cholly bị xao lãng theo đôi môi vị nho xạ của con bé. Darlene buông đầu nó ra, nhấc người lên, kéo quần xuống. Loay hoay với mấy cái nút một lát, Cholly cũng tụt quần xuống đầu gối. Nó bắt đầu hiểu ra cơ thể hai đứa, và chuyện đó không khó như nó tưởng. Con bé khẽ rên rỉ, nhưng cái háo hức tích tụ trong thằng bé làm nó nhắm mắt và xem những tiếng rên của con bé không hơn tiếng thông lao xao trên đầu. Đúng lúc nó cảm thấy mình chực bùng nổ, Darlene cứng người lại và hét lên. Nó tưởng mình làm đau con bé, nhưng khi nó nhìn mặt con bé thì con bé đang hoảng loạn nhìn cái gì sau vai nó. Nó quay ngoắt lại.

Hai gã đàn ông da trắng đứng đó. Một tên cầm cây đèn cồn, tên kia cầm đèn pin. Không thể nào lầm chuyện chúng là dân da trắng, nó thậm chí còn ngửi được. Cholly nhỏm dậy, cố quỳ, đứng và kéo quần lên một lượt. Hai gã đàn ông có súng trường.

“Hi hi hi hiiiii.” Tiếng cười hi hi là tiếng ho hen suyễn hồi lâu.

Tên kia lia đèn pin khắp người Cholly và Darlene.

“Làm tiếp đi, mọi đen,” tên cầm đèn pin nói.

“Dạ?” Cholly hỏi trong khi cố tìm khoen nút.

“Tao kêu làm tiếp đi. Và làm cho ngon vào, mọi đen, làm cho ngon vào.”

Cholly không biết nhìn đi đâu. Mắt nó lấm lét lia quanh tìm chỗ nấp, trong khi người nó vẫn tê liệt. Tên cầm đèn pin hạ khẩu súng trên vai xuống, Cholly nghe tiếng kim loại kêu lộp cộp. Nó quỳ thụp xuống lại. Darlene đã ngoảnh đầu đi, mắt trân trối nhìn xa hơn ánh đèn pin vào bóng tối bao quanh và trông gần như bàng quan, như thể chúng không can dự gì vào vở kịch đang diễn ra xung quanh. Bằng sự hung bạo sinh ra từ tột cùng tuyệt vọng, nó kéo váy con bé lên, tụt quần dài và quần lót của mình xuống.

“Hi hi hi hi hiiiii.”

Darlene đưa hai tay lên che mặt khi Cholly bắt đầu mô phỏng cái việc vừa diễn ra trước đó. Nó không còn biết làm gì hơn là giả vờ. Đèn pin chiếu một mặt trăng trên mông nó.

“Hi hi hi hi hiiiii.”

“Làm đi, thằng nhọ. Nhanh nữa đi. Mày chẳng làm gì cho nó cả.”

“Hi hi hi hi hiiiii.”

Cholly làm nhanh hơn, mắt nhìn Darlene. Nó căm ghét con bé. Nó gần như mong mình có thể làm chuyện đó - mạnh, lâu, và đau đớn, nó căm ghét con bé quá chừng. Ánh đèn pin ngoằn ngoèo rọi vào ruột gan nó và biến vị nho xạ ngọt ngào thành mật úng thối. Nó nhìn chằm chằm hai bàn tay Darlene che mặt dưới ánh trăng và ánh đèn. Chúng trông như hai cái càng con.

“Hi hi hi hi hiiiii.”

Vài con chó tru lên. “Chúng đó. Là chúng đó. Tao biết con Honey đó.”

“Phải,” tên cầm đèn cồn nói.

“Thôi đi.” Tên cầm đèn pin quay đi, và một trong hai tên huýt sáo gọi Honey.

“Khoan đã,” tên cầm đèn cồn nói, “thằng nhọ vẫn chưa ra.”

“Chậc, nó phải ra khi nào nó thấy cần. May mắn nghe, nhọ con.”

Chúng đạp lá thông răng rắc dưới chân. Cholly còn nghe chúng huýt sáo hồi lâu, rồi lũ chó không còn đáp lời bằng tiếng tru, mà bằng những tiếng ăng ẳng háo hức ấm áp vì nhận ra người quen.

Cholly nhấc người lên và lẳng lặng cài nút quần. Darlene không nhúc nhích. Cholly muốn bóp cổ con bé, nhưng thay vì vậy nó đưa bàn chân chạm chân con bé. “Mình phải chuồn thôi, bạn. Đi nào!”

Con bé mắt nhắm với tay lấy đồ lót nên không tìm được. Hai đứa vỗ vỗ xung quanh mò quần dưới ánh trăng. Khi tìm được rồi, con bé mặc vào bằng những động tác của một bà già. Chúng rời rừng thông tiến về phía đường cái. Nó đi trước, con bé lạch bạch theo sau. Trời đổ mưa. “Vậy cũng hay,” Cholly nghĩ. “Mưa sẽ thanh minh cho áo quần của hai đứa.”

Khi chúng về tới nhà, chừng mươi mười hai khách vẫn còn ở đó. Jake đã về, Suky cũng vậy. Một số khách quay lại lấy thêm phần ăn - bánh khoai tây, sườn nướng. Ai nấy đều mải mê trong hồi tưởng đầu hôm về những giấc mơ, bóng hình, điềm triệu. Cái đủ đầy no nê gây buồn ngủ, tạo ra hồi ức và thêu dệt ảo giác.

Cholly với Darlene bước vào chỉ gây chút phản ứng.

“Hai đứa bây ướt mèm rồi hả?”

Mẹ Darlene chỉ la lối qua loa. Bà đã ăn và uống quá nhiều. Giày bà dưới ghế, khóa bên hông váy mở bung. “Con gái. Vào đây đi. Mẹ tưởng đã dặn con...”

Một số khách nghĩ họ sẽ chờ cho mưa ngớt. Số khác đi xe kéo đến thì nghĩ họ nên về luôn. Cholly đi vào kho nhỏ đã được làm thành phòng ngủ cho nó. Ba đứa bé đang ngủ trong giường cũi của nó. Nó cởi bỏ quần áo đẫm mưa và mùi thông rồi tròng bộ áo liền quần vào. Nó không biết đi đâu. Phòng của bà dì Jimmy không được rồi, đằng nào chốc nữa ông cậu O. V. và vợ cũng sẽ dùng. Nó lấy tấm chăn chần trong rương, trải ra giữa sàn, rồi nằm xuống. Ai đó đang pha cà phê, và nó thèm quay quắt, ngay trước khi ngủ thiếp đi.

Hôm sau lại là ngày vơ vét, tính sổ, chia chác đồ đạc của bà dì Jimmy. Những cái miệng thành trăng lưỡi liềm trễ xuống, mắt he hé, bàn chân nhấp nhỏm.

Cholly vu vơ đi loanh quanh, ai bảo gì làm nấy. Mọi hào nhoáng và nồng ấm người lớn dành cho nó ngày hôm trước thay bằng cái gay gắt hợp tâm trạng nó. Nó chỉ nghĩ đến ánh đèn pin, nho xạ, và hai bàn tay Darlene. Còn lúc nó không nghĩ đến, cái trống lốc trong đầu nó giống như khoảng trống mà cái răng mới nhổ để lại khi vẫn còn ý thức được sự mục ruỗng từng choán chỗ. Sợ gặp phải Darlene, nó không dám đi xa nhà, nhưng nó cũng không chịu nổi bầu không khí trong nhà bà dì vừa qua đời. Người ta lục lọi đồ của bà, bình phẩm về “tình trạng” đồ đạc của bà. Ủ ê, cáu gắt, nó ôm lòng căm hận Darlene. Nó không một lần nghĩ đến chuyện hướng lòng căm hận đến mấy tên đi săn. Cảm xúc ấy sẽ tàn phá nó. Bọn đàn ông to cao, da trắng, có vũ khí. Còn nó thì nhỏ thó, da đen, đầy bất lực. Tiềm thức nó biết cái mà ý thức nó không chắc - rằng căm ghét chúng sẽ ăn mòn nó, thiêu rụi nó như hòn than xốp, chỉ để lại tàn tro và làn khói cuộn hình dấu hỏi. Rồi cuối cùng nó cũng sẽ phát hiện ra nỗi căm hận người da trắng đó - nhưng giờ thì chưa. Không phải trong bất lực mà về sau, khi nỗi căm hận tìm được cách biểu lộ ngọt ngào. Còn lúc này, nó hận người đã gây ra tình huống đó, người chứng kiến nó thảm bại, nó bất lực. Người nó không đủ sức bảo vệ, tránh đỡ, chở che trước quầng sáng đèn pin tròn như vầng trăng. Tiếng hi hi hi. Nó nhớ lại ruy băng buộc tóc nhỏ nước long tong của Darlene bay lật phật lên mặt nó khi chúng lẳng lặng về nhà dưới cơn mưa. Cái căm ghét lồng lộn trong nó làm nó run bần bật. Không có ai để trò chuyện. Ông Blue dạo này quá thường xuyên say mèm không biết trời đất gì. Vả lại, Cholly không tin mình dám thổ lộ nỗi nhục với Blue. Nó sẽ phải nói dối một chút khi kể cho Blue, Blue sát gái. Nó thấy như đơn độc thì đỡ hơn một mình nhiều.

Ngày ông cậu của Cholly sẵn sàng lên đường, khi mọi thứ đã được đóng gói, khi những tranh cãi xem ai được gì đã ngấm xuống thành lớp nước thịt dính dáp trên lưỡi mọi người, Cholly ngồi chờ trên hiên sau. Nó chợt nghĩ rằng lỡ như Darlene có thai. Một ý nghĩ hết sức phi lý, hoàn toàn vô căn cứ, nhưng nỗi sợ nó tạo ra cũng quá đủ.

Nó phải trốn đi. Mặc dù nó sắp ra đi chính hôm đó. Đi xa một hai thành phố thì chưa đủ, nhất là vì nó không ưa hay tin tưởng ông cậu, rồi thì mẹ Darlene chắc chắn sẽ tìm ra ông, và ông cậu O. V. sẽ nộp nó cho bà. Cholly biết bỏ rơi một đứa con gái đang có thai là sai, và nhớ lại, với lòng cảm thông, rằng cha nó cũng đã làm hệt như vậy. Giờ thì nó hiểu. Nó biết ngay mình phải làm gì - đi tìm cha. Cha nó sẽ hiểu. Bà dì Jimmy nói ông đã đi Macon.

Không nghĩ lâu hơn một con gà tách vỏ chui ra, nó bước khỏi hàng hiên. Nó đi được một đoạn rồi mới nhớ ra kho báu; bà dì Jimmy đã để lại cái gì đó, và nó quên khuấy mất. Trong một ống khói bỏ không, bà giấu một túi đựng thức ăn nhỏ mà bà gọi là kho báu của bà. Nó lẻn vào nhà và thấy trong phòng không có ai. Moi trong ống khói, nó đụng phải mạng nhện và bồ hóng, và rồi cái túi mềm. Nó phân loại tiền ra; mười bốn tờ một đô, hai tờ hai đô, và rất nhiều đồng bạc... cả thảy hai mươi ba đô. Chắc chừng đó sẽ đủ để đi Macon. Một từ hay ho, nghe mạnh mẽ làm sao, Macon.

Bỏ nhà đi đối với một thằng bé da đen Georgia không phải chuyện lớn. Ta cứ lẻn ra khỏi nhà rồi cuốc bộ. Đêm xuống ta ngủ trong nhà kho nếu không có chó, một đồng mía, hay một nhà máy cưa bỏ không. Ta ngồi bệt dưới đất mà ăn và mua xá xị với cam thảo trong các tiệm nhỏ miền quê. Bao giờ cũng dễ có một câu chuyện đau buồn để kể cho người lớn da đen tò mò, còn người da trắng thì không cần biết, trừ khi họ đang tìm trò tiêu khiển.

Đi độ mấy ngày đường nó có thể mò đến cửa sau các nhà tử tế và nói đầu bếp da đen hay bà chủ nhà da trắng rằng nó cần việc làm nhổ cỏ, cày, cuốc, rửa dọn, và rằng nó sống gần đó. Quãng một tuần ở đó hoặc hơn, rồi nó có thể cuốn gói. Nó sống kiểu này hết mùa hè, và phải đến tháng Mười năm sau nó mới tới được một thành phố đủ lớn để có xe buýt chạy đều đặn. Miệng khô khốc vì háo hức và e sợ, nó đi lại phía quầy dành cho người da màu để mua vé.

“Đến Macon bao nhiêu, thưa ông?”

“Mười một đô. Năm đô rưỡi cho trẻ dưới mười hai.”

Cholly có mười hai đô bốn xu.

“Mày mấy tuổi rồi?”

“Vừa được mười hai, thưa ông, nhưng mẹ cho cháu có mười đô thôi.”

“Mày chắc là đứa mười hai tuổi to xác nhất tao từng thấy.”

“Xin ông, cháu phải tới Macon. Mẹ cháu bị bệnh.”

“Tưởng mày nói mẹ cho mày mười đô.”

“Đó là mẹ nuôi cháu. Mẹ ruột cháu thì đang ở Macon, thưa ông.”

“Tao nghĩ hễ thấy một thằng mọi đen nói láo là tao biết, nhưng để phòng khi mày không phải, phòng khi một trong mấy bà mẹ đó sắp chết thật và muốn gặp cột nhà cháy của bả trước khi bả đi gặp Chúa, tao sẽ bán cho.”

Cholly không nghe thấy gì. Sỉ nhục là một phần phiền toái của đời sống, như chấy rận. Nó nhớ mình chưa bao giờ vui sướng hơn vậy, không kể lần với Blue và dưa hấu. Bốn giờ nữa xe mới xuất phát, và từng phút trong những giờ đó vật vã như ruồi nhuế trên giấy bẫy ruồi - chết từ từ, kiệt sức vì vùng vẫy để sống. Cholly không dám bỏ đi đâu, ngay cả đi tiểu. Lỡ đâu xe buýt chuyển bánh khi nó đi. Cuối cùng, cứng người vì táo bón, nó lên xe buýt đi Macon.

Nó tìm được một ghế cạnh cửa sổ phía sau chỉ có mình nó, rồi cả Georgia lướt đi trước mắt nó, đến khi mặt trời nhún vai khuất dạng. Ngay cả trong bóng tối, nó cũng thèm khát được nhìn, và chỉ sau khi đã đấu tranh khốc liệt để mở căng mắt nó mới ngủ thiếp đi. Khi nó thức giấc thì trời đã sáng bảnh, và một bà da đen to béo đang huých nó bằng cái bánh quy có lát thịt nguội. Với vị thịt nguội vẫn còn trong răng nó, họ lịch xịch dần vào Macon.

Ở cuối con hẻm nó thấy đàn ông túm tụm cả chùm như nho. Một giọng hô vang cuộn lên quá đầu những dáng người khom xuống. Những dáng quỳ, những dáng cúi, thảy đều chăm chú vào một điểm trên đất. Lại gần hơn, nó hít vào một mùi đàn ông nồng nặc và kích thích. Đám đàn ông tụ tập, đúng như cái lão trong phòng bi a bảo, vì và về xúc xắc và tiền. Mỗi dáng người trang hoàng một kiểu bằng những tờ xanh mỏng manh. Một số đã chia tiền ra, quấn mấy tờ tiền quanh ngón tay, nắm chặt ngón lại thành nắm đấm, nên các đầu tờ tiền gọn ghẽ thò ra vừa điệu đà vừa hung bạo. Số khác xếp tiền thành xấp, đè nhàu ở giữa, và cầm xấp tiền như thể họ sắp chia bài. Số khác nữa để tiền thành từng nắm hơi nhàu. Một người để tiền chìa dưới mũ. Người nữa vuốt vuốt mấy tờ tiền bằng ngón cái và ngón trỏ. Trong mấy bàn tay đen đúa đó có nhiều tiền hơn Cholly từng thấy trong đời. Nó phấn khích cùng họ, và nỗi e sợ đến khô miệng khi gặp cha nhường chỗ cho dòng nước bọt hào hứng. Nó liếc nhìn mấy bộ mặt, tìm người có thể là cha nó. Nó nhận ra ông cách nào đây? Ông sẽ trông giống nó mà cao to hơn? Phút đó Cholly không nhớ mình trông ra sao. Nó chỉ biết mình mười bốn tuổi, da đen, và đã cao sáu thước. Nó dò tìm những bộ mặt và chỉ thấy mắt, những con mắt khẩn khoản, những con mắt lạnh lùng, những con mắt ti hí ranh ma, số khác len thêm sợ hãi - thảy đều chăm chú vào chuyển động của hai con xúc xắc mà một người đang tung lên, chộp lấy, rồi lại tung lên. Lâm râm một kiểu kinh cầu mà mấy người kia hưởng ứng, xoa xoa xúc xắc như thể chúng là hai hòn than nóng, ông ta thì thầm với chúng. Rồi hô một tiếng hai khối vuông văng từ tay ông ta tới nơi dàn đồng ca thảy những kinh ngạc và thất vọng. Rồi kẻ tung xúc xắc hốt tiền, và ai đó hét, “Ẵm hết rồi đi bằng bốn chân đi, đồ chó săn lội nước, mày là số một rồi.” Vài ba tiếng cười vang lên, dễ thấy căng thẳng đã được giải tỏa, trong lúc đó vài người đổi tiền.

Cholly vỗ nhẹ lên lưng một ông già tóc bạc.

“Cho cháu hỏi quanh đây có Samson Fuller nào không?”

“Fuller?” Cái tên quen thuộc trên lưỡi ông ta. “Tao không biết, hắn ở đâu đây thôi. Hắn kia kìa. Mặc áo khoác nâu.” Ông ta chỉ.

Một người đàn ông mặc áo khoác nâu sáng đứng ở đầu kia nhóm người. Ông ta đang khua tay múa chân ra điều nóng nảy, cãi cọ với một người khác. Cả hai cau có mặt mày giận dữ. Cholly nhích dần đến chỗ họ đứng, khó mà tin mình đã đến cuối hành trình. Kia là cha nó, một người đàn ông như bao đàn ông khác, nhưng đó đúng là mắt nó, miệng nó, cả cái đầu nó. Vai ông ta khuất bên dưới áo khoác, giọng ông ta, hai bàn tay - thảy đều có thật. Chúng tồn tại, thật sự tồn tại, đâu đó. Ngay đây. Cholly vẫn luôn nghĩ cha là người to cao, nên khi đến thật gần thì nó sửng sốt phát hiện ra mình còn cao hơn cha. Thật vậy, nó đang nhìn chằm chằm một chỗ hói dần trên đầu cha mà nó bỗng thấy muốn xoa. Trong khi nó thích thú cái khoảng nhẵn nhụi tội nghiệp viền mấy túm len bơ phờ như vậy, người đàn ông quay bộ mặt đanh rắn, hung hăng qua nó.

“Mày muốn gì, thằng kia?”

“Ùm. Dạ là... phải ông là Samson Fuller?”

“Ai sai mày tới?”

“Dạ?”

“Mày là con Melba hả?”

“Không, thưa ông, cháu là...” Cholly chớp mắt. Nó không nhớ tên mẹ. Nó đã bao giờ biết chưa? Nó biết nói gì đây? Nó là con ai? Nó đâu thể nói, “Cháu là con ông.” Vậy nghe vô lễ quá.

Người đàn ông sốt ruột. “Đầu mày bị làm sao hả? Ai kêu mày đi theo tao?”

“Không ai cả.” Hai bàn tay Cholly rịn mồ hôi. Mắt ông ta làm nó hoảng. “Cháu chỉ nghĩ... ý cháu là, cháu chỉ đi loanh quanh, rồi, ừm, cháu tên Cholly...”

Nhưng Fuller đã quay về với trò chơi sắp bắt đầu lại. Ông ta cúi xuống để thảy một tờ tiền trên đất, chờ họ tung xúc xắc. Khi tờ tiền mất, ông ta đứng lên và bằng giọng bực tức càu nhàu quát Cholly, “Nói con chó cái đó mụ ta sẽ có tiền. Còn giờ thì cút mẹ đi cho khuất mắt tao!”

Phải hồi lâu Cholly mới nhấc chân lên được. Nó muốn lùi lại và bỏ đi. Phải cố lắm nó mới khiến thớ cơ đầu tiên hợp tác. Khi được rồi, nó đi lui lại đầu hẻm, ra khỏi bóng râm, về phía ánh sáng chói chang ngoài đường. Ra ngoài nắng, nó thấy có gì trong hai giò rủn ra. Một sọt cam dán hình hai bàn tay chắp lại bên hông lật úp trên vỉa hè. Cholly ngồi xuống đó. Nắng như rót mật lên đầu nó. Một xe ngựa kéo bán trái cây đi qua, người đánh xe ê a: “Mới hái trên cây, ngọt như đường, đỏ như rượu đây.”

Tiếng ồn có vẻ tăng âm lượng. Tiếng lách cách giày cao gót của đàn bà, tiếng cười của đàn ông ngồi vẩn vơ bên cửa. Đâu đó có tàu điện. Cholly vẫn ngồi. Nó biết nếu cứ ngồi im phắc thì nó sẽ không sao. Nhưng rồi dấu vết nỗi đau viền trên mắt nó, và nó phải dùng mọi cách gạt đi. Nếu nó im phắc, nó nghĩ, và nhìn chăm chăm vào một thứ, nước mắt sẽ không trào ra. Nên nó ngồi dưới ánh dương như rót mật, vận dụng hết mọi dây thần kinh và cơ bắp để ngăn nước mắt tuôn rơi. Trong khi gắng sức như vậy, dồn tất cả năng lượng lên mắt, ruột nó bất chợt mở ra, và trước khi nó kịp hiểu chuyện gì thì phân lỏng đã chảy dọc hai giò. Ở đầu con hẻm nơi có cha nó, trên một sọt cam dưới nắng, trên một con phố đầy đàn ông đàn bà, nó đã làm bậy ra quần như con nít.

Đang lúc hoảng hốt nó băn khoăn liệu mình có nên chờ ở đó, không nhúc nhích cho đến tối không? Không. Cha nó chắc chắn sẽ đi ra rồi thấy nó và cười cợt. Ôi Chúa ơi. Ông sẽ cười. Ai cũng sẽ cười. Chỉ có một việc phải làm.

Cholly chạy xuôi đường, ý thức được duy nhất sự im ắng. Miệng mồm thiên hạ mấp máy, bàn chân xê dịch, xe hơi bình bịch chạy qua - nhưng không có tiếng. Cánh cửa đóng sầm tịnh không một tiếng động. Hai chân nó cũng không tạo tiếng động. Không khí như bóp nghẹt nó, ghìm chân nó lại. Nó đang lấn tới một thế giới nhựa thông vô hình chực làm nó ngạt thở. Nhưng nó cứ chạy, mắt chỉ thấy những thứ im lặng chuyển động, cho đến khi nó đến cuối các tòa nhà, nơi khoảng trống mở ra, và thấy sông Ocmulgee uốn khúc phía trước. Nó chạy ù xuống một con dốc rải sỏi đến cầu tàu nhô ra trên vùng nước nông. Tìm được bóng râm tối nhất dưới cầu tàu, nó ngồi lom khom dưới đó, đằng sau một cây cọc. Nó cứ thu lu ở đó trong tư thế bào thai, tê liệt, hai nắm tay bịt mắt hồi lâu. Không âm thanh, không cảnh sắc, chỉ bóng tối, cái nóng và mấy khớp ngón tay đè lên mí mắt. Nó còn quên hẳn cái quần bê bết của mình.

Trời tối. Bóng tối, hơi ấm, sự tĩnh lặng bao bọc lấy Cholly như vỏ và thịt quả cơm cháy chở che cho hạt.

Cholly cục cựa. Tất cả những gì nó cảm thấy là cơn đau trong đầu. Chẳng mấy chốc, như những mảnh thủy tinh sáng rỡ, các sự kiện chiều hôm đó cắt cứa nó. Thoạt tiên nó chỉ thấy tiền trong mấy ngón tay đen, rồi nó nghĩ mình đang ngồi trên một chiếc ghế không được thoải mái, nhưng khi nó nhìn thì hóa ra đó là đầu một người đàn ông, một cái đầu có chỗ hói to bằng quả cam. Khi cuối cùng những mảnh này nhập lại thành ký ức trọn vẹn, Cholly mới ngửi thấy mình. Nó đứng lên và thấy mình yếu ớt, run rẩy và chóng mặt. Nó dựa vào cọc cầu tàu một lát, rồi cởi quần dài, quần lót, tất, và giày. Nó bốc từng nắm đất chà lên giày rồi bò xuống mé sông. Nó phải đưa tay tìm đầu nguồn nước, vì nó không nhìn thấy rõ. Nó chậm rãi đảo áo quần trong nước và vò cho đến khi nó nghĩ chúng đã sạch. Quay lại gần cọc, nó cởi áo quấn quanh thắt lưng, rồi trải quần dài và quần lót trên đất. Nó ngồi xổm xuống cạy gỗ mục nơi cầu tàu. Bỗng nó nghĩ đến bà dì Jimmy, cái túi a ngùy, bốn chiếc răng vàng, và miếng giẻ tím bà quấn quanh đầu. Với nỗi khát khao muốn chẻ toác thân người, nó nhớ bà chia cho nó một miếng giò xông khói trong dĩa của bà. Nó nhớ cách bà cầm miếng giò - lóng ngóng, bằng ba ngón tay, nhưng rất đỗi trìu mến. Không nói gì, chỉ bốc một miếng thịt chìa cho nó. Thế là nước mắt giàn giụa trên má, tạo một chùm dưới cằm nó.

Ba phụ nữ thò người ra qua hai cửa sổ. Họ thấy cái cổ cao sạch sẽ của một thanh niên mới nên gọi với xuống. Anh ta đi lên chỗ họ. Bên trong tối và ấm. Họ mời anh ta nước chanh đựng trong hũ Mason. Khi anh ta uống, mắt họ lướt lên anh ta qua đáy hũ, qua dòng nước ngọt lịm. Họ trả lại vẻ nam tính cho anh ta, và anh ta bâng quơ nhận lấy.

Các khúc đoạn trong đời Cholly chỉ có thể trở nên mạch lạc trong đầu một nhạc công. Chỉ những ai kể câu chuyện của họ qua lớp vàng kim loại uốn cong, hay bằng cách sờ chạm những hình chữ nhật đen trắng, mặt da căng và dây vang vọng từ những hành lang gỗ, mới có thể nhào nặn đời anh ta vào khuôn đúng. Chỉ họ mới biết cách liên kết quả tim dưa hấu đỏ mọng với túi a ngùy với nho xạ với ánh đèn pin trên mông với những nắm tay cầm tiền với nước chanh đựng trong hũ Mason với người đàn ông tên Blue và gói gọn ý nghĩa mọi thứ đó trong niềm vui, trong nỗi đau, trong giận dữ, trong tình yêu, và cho nó cái đau đớn sau cuối và thấm đượm của tự do. Chỉ một nhạc công mới cảm được, biết được, mà còn không biết rằng mình biết, rằng Cholly đã tự do. Cái tự do nguy hiểm. Tự do cảm thấy bất cứ gì anh ta cảm thấy - sợ hãi, hối lỗi, hổ thẹn, yêu thương, buồn đau, thương xót. Tự do dịu dàng hay hung bạo, huýt sáo hay khóc than. Tự do ngủ bên bậc cửa hay giữa những tấm chăn trắng của một người đàn bà thích hát hò. Tự do tìm việc làm, tự do bỏ đi. Anh ta có thể vào tù mà không cảm thấy bị cầm tù, vì anh ta đã thấy cái lấm lét trong mắt quản giáo, tự do nói, “Không, thưa ông,” rồi nhoẻn cười, vì anh ta đã giết ba gã da trắng. Tự do hứng những lời thóa mạ của đàn bà, vì thân anh ta đã chinh phục thân chị ta. Thậm chí tự do đập đầu chị ta, vì anh ta đã nâng niu cái đầu đó bằng hai tay. Tự do dịu dàng khi chị ta bệnh, hay chùi sàn cho chị ta, vì chị ta biết cái đàn ông của anh ta là gì và ở đâu. Anh ta tự do uống đến bất lực ngớ ngẩn, vì anh ta từng là lao công đường sắt, từng thụ án ba mươi ngày trong một nhóm tù bị xích với nhau, và nhổ viên đạn của một mụ đàn bà ra khỏi bắp vế mình. Anh ta tự do sống những mơ tưởng của mình, và thậm chí tự do chết, cách thức và thời gian chết không mảy may làm anh ta bận tâm. Những ngày ấy, Cholly thật sự tự do. Bị mẹ bỏ rơi trong đống rác, bị cha xua đuổi vì một trò chơi rẻ tiền, không còn gì để mất nữa. Anh ta một mình với những tri giác và thèm muốn của mình, và chỉ chúng mới khiến anh ta để tâm.

Chính trong tình trạng thần thánh này anh ta gặp Pauline Williams. Và chính Pauline, hay đúng hơn là việc cưới chị, đã cho anh ta những gì mà ánh đèn pin không làm được. Cái bất biến, sự thiếu đa dạng, chỉ riêng sức nặng của tính đơn điệu cũng dồn anh ta đến chỗ tuyệt vọng và làm đông cứng trí tưởng tượng. Phải ngủ suốt đời với một người đàn bà duy nhất là ý niệm khó hiểu và trái tự nhiên đối với anh ta; phải vét hết nhiệt tình cho những trò cũ, và những mánh khóe hằng ngày; anh ta ngạc nhiên vì sao mà giống cái lại cao ngạo đến vậy. Khi anh ta gặp Pauline ở Kentucky, chị đang chồm người bên một hàng rào mà gãi bằng bên bàn chân tật. Cái gọn gàng, duyên dáng, niềm vui anh ta đánh thức trong chị làm anh ta muốn xây tổ với chị. Anh ta vẫn chưa phát hiện ra cái gì đã triệt tiêu mong muốn đó. Nhưng anh ta không nghĩ ngợi nhiều. Đúng hơn anh ta nghĩ xem chuyện gì đã xảy ra với sự tò mò mà mình từng cảm thấy. Giờ đây không có gì, tuyệt không gì làm anh ta bận tâm. Bản thân mình không, người khác cũng không. Chỉ khi say thì mới có chút kẽ nứt, chút ánh đèn, và khi chút đó khép lại thì chỉ còn lãng quên.

Nhưng khía cạnh trong đời sống hôn nhân khiến anh ta tê liệt và làm anh ta hỏng hoại hẳn là con cái. Không biết gì về nuôi dạy con, và chưa từng thấy cha mẹ nào nuôi mình, anh ta thậm chí không hiểu nổi mối quan hệ như vậy phải thế nào. Nếu chí thú tích cóp của cải, anh ta đã có thể xem chúng như người thừa kế tài sản của mình; nếu cần chứng tỏ mình với một số “kẻ khác” không tên, anh ta đã có thể muốn chúng tài giỏi theo hình dung của anh ta và vì chính anh ta. Nếu anh ta không côi cút giữa đời từ năm mười ba, chỉ biết có một bà già hấp hối cảm thấy có trách nhiệm với mình, nhưng tuổi tác, giới tính, và mối bận tâm của bà lại quá khác với của anh ta, ắt anh ta đã cảm thấy mối liên kết bền vững giữa mình và con cái. Đã thế, anh ta sẽ phản ứng lại chúng, và phản ứng của anh ta dựa trên cảm xúc anh ta lúc đó.

Cho nên một chiều thứ Bảy, trong ánh sáng mùa xuân nhàn nhạt, anh ta lật đật say khướt về nhà và thấy con gái trong bếp.

Nó đang rửa chén. Tấm lưng nhỏ cúi khom bên chậu rửa. Cholly thấy nó lờ mờ và không rõ mình nhìn thấy gì hay cảm thấy gì. Rồi anh ta nhận ra mình không thoải mái, tiếp đến anh ta cảm thấy cái khó chịu tan thành vui thú. Chuỗi cảm xúc của anh ta gồm ghê sợ, hối lỗi, thương hại, rồi yêu thương. Nỗi ghê sợ là phản ứng lại hiện diện non nớt, bơ vơ, vô vọng của nó. Tấm lưng nó khom lại như vậy, đầu nghiêng một bên như né cú đánh thường trực không ngừng nghỉ. Sao nó lại phải trông như bị quất vậy? Nó còn nhỏ - chưa nặng gánh - sao nó lại không vui? Cái tuyên bố rõ ràng về nỗi khốn khổ của nó là một lời tố cáo. Anh ta muốn bẻ cổ nó - nhưng thật dịu dàng. Cảm giác hối lỗi và bất lực dâng lên cả cặp như mật đắng. Có bao giờ anh ta làm được gì cho nó không? Cho nó cái gì? Nói gì với nó? Một gã đàn ông da đen cùng kiệt có thể nói gì với cái lưng khom của đứa con gái mười một tuổi? Nếu nhìn vào mặt nó, anh ta sẽ thấy đôi mắt ám ảnh, yêu thương đó. Cái ám ảnh sẽ làm anh ta bực tức - tình thương sẽ khiến anh ta nổi nộ. Sao nó dám yêu thương anh ta? Nó không biết nghĩ sao? Anh ta phải làm gì với chuyện đó? Đáp lại? Bằng cách nào? Hai bàn tay chai sần của anh ta có thế chìa ra cái gì để khiến nó nhoẻn cười? Hiểu biết nào của anh ta về thế giới và cuộc đời có thể hữu ích cho nó? Hai cánh tay nặng nề và bộ não mụ mị của anh ta làm được gì để anh ta tôn trọng chính mình, để rồi cho phép anh ta chấp nhận lòng yêu của con bé? Nỗi căm ghét con bé đóng váng trong bụng anh ta và chực thành nôn mửa. Nhưng ngay trước khi cơn buồn nôn đi từ trạng thái nôn nao sang cảm giác, con bé dịch sức nặng thân mình và đứng trên một chân đưa ngón chân gãi bắp vế. Một cử chỉ lẳng lặng và tội nghiệp. Hai bàn tay nó khoắng trong chảo, cạo vảy đen vào nước rửa chén lạnh ngắt, dầu mỡ. Vẻ rụt rè, co lại của ngón chân đang gãi - đó là việc Pauline làm trong lần đầu anh ta thấy chị ở Kentucky. Chồm người bên hàng rào nhìn vô định. Ngón mịn màng trên bàn chân trần gãi cái giò láng mịn. Một cử chỉ thật nhỏ và đơn giản, nhưng lúc đó nó lấp đầy anh ta bằng sự dịu dàng bâng khuâng. Không phải cái ham muốn đưa chân mình vạch cặp giò săn chắc ra như mọi lần, mà lòng trìu mến, mong muốn chở che. Mong muốn đưa tay úp lên bàn chân chị và kê răng nhẹ nhàng gặm hết cái ngứa ngáy trên giò. Lúc đó anh ta đã làm vậy, và khiến Pauline bật cười. Giờ anh ta cũng làm vậy.

Sự dịu dàng dâng lên trong lòng anh ta, và anh ta quỳ thụp xuống, mắt nhìn bàn chân con gái. Bò lồm cồm về phía nó, anh ta đưa tay vuốt ngược lên và nắm lấy bàn chân. Pecola mất thăng bằng và chực té nghiêng xuống sàn. Cholly đưa tay kia lên hông nó để đỡ nó khỏi ngã. Anh ta nghiêng đầu xuống và gặm sau chân nó. Miệng anh ta run run trước cái ngọt ngào săn chắc của thịt da. Anh ta nhắm mắt, để mấy ngón tay mình bấm vào eo nó. Tấm thân bàng hoàng cứng đờ của nó, cổ họng sững sờ câm lặng của nó hay hơn tiếng cười nhẹ dạ của Pauline. Những ký ức trộn lẫn rối rắm về Pauline và viễn cảnh làm điều ngông cuồng và cấm đoán kích thích anh ta, và ham muốn chạy lan xuống bộ phận sinh dục, làm nó dài ra, và làm mềm cơ vòng hậu môn. Rào quanh tất cả thèm khát này là một biên cương phép tắc. Anh ta muốn đụ nó - thật dịu dàng. Nhưng dịu dàng không được lâu. Âm đạo nó thít chặt quá sức chịu đựng của anh ta. Hồn anh ta dường như trôi tuột xuống ruột rồi bay vọt vào nó, và cú thọc kinh hồn lúc đó gây nên vẻn vẹn một âm thanh con bé tạo ra - tiếng hít không khí khô khốc nơi cuống họng nó. Như không khí trong quả khinh khí cầu nhanh chóng xì ra.

Theo sau cái rã rời - cái tan trôi - của nhục dục, anh ta ý thức được hai bàn tay ướt nhoét xà phòng của nó trên cổ tay mình, mấy ngón tay bấu chặt, nhưng cái nắm tay ấy là do nó vô vọng nhưng ương bướng vật lộn để vùng thoát, hay do một cảm xúc nào khác, anh ta không sao biết được.

Rút mình ra khỏi con bé đau đớn đến mức anh ta phải làm cho nhanh và giật bộ phận sinh dục ra khỏi bến cảng khô khốc nơi âm đạo nó. Có vẻ như nó đã ngất đi. Cholly đứng lên và chỉ thấy chiếc quần lót xam xám của nó, thật buồn bã và mềm lả quanh mắt cá chân nó. Một lần nữa nỗi căm hận pha lẫn với trìu mến. Nỗi căm hận không cho anh ta bế con bé dậy, sự trìu mến buộc anh ta che thân cho nó.

Nên khi đứa nhỏ tỉnh lại, nó đang nằm giữa sàn bếp dưới tấm chăn chần nặng, cố liên hệ cơn đau giữa hai giò với gương mặt mẹ nó đứng lù lù trước mặt.

[1]

Nguyên văn: “Fuller, Foolish.”

NHÌNCONCHÓXEMNÓSỦAGÂUGÂUMIMUỐNCHƠIKHÔNGMIMUỐNCHƠIVỚIJ ANEKHÔNGNHÌNCONCHÓCHẠYKÌACH

Ngày xưa có một lão già yêu thích đồ vật, vì chút tiếp xúc với con người khiến lão nổi cơn buồn nôn mơ hồ nhưng dai dẳng. Lão không nhớ nỗi chán ghét này bắt nguồn từ lúc nào, cũng không nhớ có bao giờ thoát được nó. Ngày còn trẻ lão bối rối ghê gớm vì nỗi khiếp sợ mà dường như người khác không có này, nhưng vì được giáo dục tử tế nên lão biết, ngoài những thứ khác, từ “kẻ ghét người”. Biết được nhãn dán của mình đem lại cho lão cả sự an ủi lẫn can đảm, lão tin rằng gọi tên cái xấu là cách vô hiệu hóa nếu không muốn nói là triệt tiêu nó. Lúc ấy, lão cũng đã đọc vài cuốn sách và làm quen với vài kẻ ghét người có tiếng mọi thời đại, mà sự bầu bạn mang tính tinh thần của họ xoa dịu và đem lại cho lão tiêu chuẩn so sánh để cân đo những ý thích bốc đồng, những khát khao, những ác cảm của mình. Hơn nữa, lão thấy tính ghét người là một phương cách tuyệt hảo để hình thành tính cách: khi lão chế ngự được nỗi ghê sợ và thỉnh thoảng động chạm, giúp đỡ, bảo ban, hay làm bạn ai đó, lão có thể nghĩ hành vi của mình quảng đại còn tâm ý của mình cao cả. Khi lão tức giận vì một nỗ lực hay khiếm khuyết nào của con người, lão có thể xem mình là biết suy xét, tỉ mỉ, và toàn những đắn đo tử tế.

Giống như nhiều kẻ ghét người khác, vì khinh thị con người nên lão làm cái nghề dành riêng để phục vụ họ. Lão làm trong lĩnh vực hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chiếm được lòng tin của người khác, và trong lĩnh vực đó những mối quan hệ gần gũi nhất là cần thiết. Sau khi phí thời gian học làm thầy tu trong Anh giáo, lão bỏ ngang để trở thành nhân viên nghiên cứu xã hội. Thế nhưng, thời gian và bất hạnh toa rập hại lão, vậy là cuối cùng lão chọn nghề đem lại cho lão cả tự do lẫn mãn nguyện. Lão trở thành “Nhà thông linh, Tư vấn và Giải mộng”. Một nghề rất hợp với lão. Ngày tháng là của lão, cạnh tranh không đáng kể, khách hàng chưa gì đã bị thuyết phục và do vậy dễ bảo, và lão có vô số dịp để chứng kiến cái ngu ngốc của con người mà không chung phần hay bị tổn hại, và để dung dưỡng tính tỉ mỉ của mình bằng việc xem xét cơ thể mục rã. Dù thu nhập không nhiều, lão không ham xa hoa - trải nghiệm của lão trong tu viện đã củng cố tính khổ hạnh bẩm sinh trong khi hình thành niềm ưa thích đơn độc của lão. Độc thân là bến đỗ, im lặng là khiên che.

Cả đời lão say mê đồ vật - không phải thụ đắc của cải hay đồ vật đẹp, mà là yêu chân thành những vật cũ mòn: ấm cà phê ngày xưa của mẹ lão, tấm thảm chà chân ở cửa một nhà trọ lão từng sống, tấm chăn chần mua ở quầy Cứu thế quân. Như thể nỗi khinh thị sự tiếp xúc với con người đã tự biến thành cơn thèm khát những thứ con người chạm vào. Tàn dư của tinh thần con người dính trên những vật vô tri là tất cả những gì lão chịu được từ loài người. Chẳng hạn, ngắm nghía dấu vết bước chân người trên thảm - hít hà mùi tấm chăn chần và đầm mình trong niềm tin chắc chắn ngọt ngào rằng nhiều tấm thân đã đổ mồ hôi, ngủ, nằm mơ, làm tình, đau ốm, thậm chí chết dưới nó. Đi đâu lão cũng mang các thứ này theo, và luôn tìm kiếm thêm. Khát khao những vật cũ mòn khiến lão tình cờ nhưng quen thói kiểm các thùng rác trong hẻm và giỏ rác nơi công cộng...

Tựu trung lại, tính cách lão là một kiểu trang trí đường lượn: rối rắm, đối xứng, cân bằng, và có kết cấu chặt chẽ - chỉ trừ một khuyết điểm. Thiết kế cẩn thận thỉnh thoảng cũng bị tì vết vì những nhục dục hiếm hoi nhưng mãnh liệt.

Lão đã có thể sống như người đồng tính nhưng lại thiếu can đảm. Thú tính lão chưa nghĩ đến, còn kê gian thì bất khả, vì lão không có những cơn cương cứng kéo dài và không chịu được ý nghĩ về cơn cương cứng của ai khác. Vả chăng, thứ làm lão ghê tởm hơn việc tiến vào và vuốt ve một người đàn bà là vuốt ve và được vuốt ve bởi một người đàn ông. Dù thế nào thì ham muốn của lão, dù mãnh liệt, không bao giờ ưa thích đụng chạm thể xác. Lão kinh tởm da thịt trên da thịt. Mùi cơ thể, mùi hơi thở làm lão ngợp. Thấy ghèn đóng khô trong khóe mắt, răng sâu hay rụng, ráy tai, mụn đầu đen, nốt ruồi, mụn rộp, vảy da - thảy những chất bài tiết và bảo vệ tự nhiên cơ thể có thể có - làm lão bồn chồn không yên. Do vậy dần dà lão chỉ để tâm đến những người có cơ thể đỡ gớm nhất - trẻ con. Và vì lão quá e dè không dám đối mặt với tình dục đồng tính, và vì mấy thằng nhỏ thì hỗn xược, đáng sợ, và lì lợm, lão lại giới hạn tiếp chỉ còn quan tâm đến mấy bé gái. Chúng thường dễ bảo và lắm lúc quyến rũ. Dục tình của lão không hề dâm tục, sự bảo bọc của lão đối với mấy bé gái thoảng chút ngây thơ và trong óc lão nó gắn liền với sự sạch sẽ. Ta có thể gọi lão là một lão già quá ư sạch sẽ.

Một người Tây Ấn mắt nâu nhạt có nước da nâu sáng.

Dù tên thật của lão in trên tấm biển nơi cửa sổ bếp, và trên danh thiếp lão phát cho mọi người, dân trong thành phố gọi lão là Nhà Thờ Đầu Xà Phòng. Không ai biết phần “Nhà Thờ” từ đâu ra - có lẽ ai đó nhớ lại những ngày lão đến làm khách trong buổi giảng đạo - đám cha xứ có danh nhưng không có giáo dân cũng không có nhóm hội, và liên tục đến các nhà thờ khác, ngồi trên bục với cha xứ giảng chính. Nhưng ai cũng biết “Đầu Xà Phòng” nghĩa là gì - mái tóc xoăn tít buộc chặt bóng láng và dợn sóng khi thoa nước bọt xà phòng. Một kiểu cách thô sơ.

Lão được nuôi dạy trong một gia đình tự hào về thành tích học tập và dòng máu pha trộn - thật ra, họ tin rằng cái trước dựa trên cái sau. Ngài Whitcomb nào đó, một quý tộc Anh sa sút, người lựa chọn rã nát thân mình dưới ánh mặt trời dễ chịu hơn mặt trời nước Anh, đã đưa dòng máu da trắng vào gia đình này đầu những năm 1800. Là một quý ông theo lệnh Nhà vua, ông đã xử trí văn minh với thằng con hoang lai tạp - chu cấp cho nó ba trăm bảng, khiến mẹ thằng bé vô cùng vừa ý, cảm thấy vận may mỉm cười với mình. Thằng con hoang cũng biết ơn, và xem việc tích trữ dòng giống da trắng này là mục tiêu đời mình. Anh ta ban ơn cho một đứa con gái mười lăm tuổi có dòng giống tương tự. Như vở kịch giễu nhại ra trò thời Victoria, nàng ta học từ chồng mọi cái đáng học - tách rời thân xác, đầu óc và tinh thần mình khỏi mọi thứ gợi nhắc đến châu Phi; tập tành những thói quen, thị hiếu, sở thích mà người cha chồng vắng mặt và người mẹ chồng ngu ngốc sẽ tán thành.

Họ truyền thói sùng bái Anh quốc này lại cho sáu người con và mười sáu đứa cháu. Không kể một kẻ thỉnh thoảng nổi loạn và kỳ quặc muốn chọn màu da đen bất kham, họ đều cưới “lên”, làm sáng nước da dòng họ và nhạt dần các đường nét gia đình.

Với lòng tự tin sinh ra từ xác tín về sự ưu việt của mình, họ học giỏi trên trường. Họ chăm chỉ, ngăn nắp, và năng nổ, với hy vọng chứng minh rằng không còn gì phải nghi ngờ giả thiết “mọi nền văn minh đều bắt nguồn từ chủng tộc da trắng, không nền văn minh nào có thể tồn tại mà không có nó giúp, cũng như một xã hội chỉ vĩ đại và rực rỡ chừng nào nó bảo tồn được dòng máu của nhóm người cao quý tạo ra nó” của de Gobineau. Do vậy, họ hiếm khi bị bỏ qua khi hiệu trưởng đề cử học sinh có triển vọng du học. Đàn ông thì học y, luật, thần học, và đều đều giữ các chức vụ nhà nước không có thực quyền dành cho dân bản xứ. Chuyện họ đồi bại trong việc công lẫn tư, vừa phóng đãng vừa dâm dật, được xem là quyền hạn cao quý của họ, và hầu hết đám dân không có phúc phận bằng lấy làm khoái trá vô cùng.

Năm tháng trôi qua, do sự bất cẩn của một số anh em nhà Whitcomb, ngày càng khó mà duy trì dòng máu da trắng của họ, một số bà con xa và một số không xa lắm cưới nhau. Không thấy hậu quả xấu rõ ràng nào từ những kết hợp dại dột này, nhưng một hai bà già giúp việc hay anh chàng làm vườn nhận thấy năng lực sút kém và khuynh hướng lập dị ở một số người con. Khiếm khuyết nào đó ngoài thói nghiện rượu và dâm đãng thông thường. Tuy vậy, họ đổ lỗi khiếm khuyết này cho hôn nhân khác chủng tộc trong gia đình họ, mà không phải nguồn gen ban đầu của tay quý tộc sa sút. Ngã nào cũng có thất thường. Tất nhiên cũng không hơn gì gia đình nào khác, nhưng nguy hiểm hơn vì quyền thế hơn. Một trong số họ là kẻ cuồng tín tự lập hội kín riêng và làm cha bốn đứa con trai, rồi một trong số đó trở thành ông hiệu trưởng có tiếng là công bằng chính xác và tiết chế bạo lực. Ông hiệu trưởng này cưới một cô gái gốc Hoa hiền lành, biếng nhác mà mang thai một thằng con là quá sức mệt nhọc với cô. Cô qua đời không lâu sau khi sinh con. Thằng con cô, tên Elihue Micah Whitcomb, đem lại cho ông hiệu trưởng vô vàn cơ hội để thực hành các lý thuyết giáo dục, kỷ luật và đời sống tử tế. Từ nhỏ Elihue đã học mọi thứ lão cần biết rõ, nhất là nghệ thuật tự huyễn. Lão đọc ngấu nghiến nhưng hiểu có chọn lọc, chỉ lựa những khúc đoạn trong tư tưởng của người khác mà ủng hộ niềm ham thích của lão lúc đó. Do vậy mà lão chọn nhớ Hamlet bạc đãi Ophelia, mà không nhớ tình yêu Chúa Jesus dành cho Mary Magdalene; nhớ chính trị phù phiếm của Hamlet, mà không nhớ tình trạng vô chính phủ nghiêm túc của Jesus. Lão thấy cái chua cay của Gibbon mà không thấy sự bao dung, thấy tình yêu Othello dành cho Desdemona xinh đẹp mà không phải tình yêu hư hỏng của Iago đối với Othello. Lão ngưỡng mộ nhất tác phẩm của Dante; lão xem khinh nhất tác phẩm của Dostoyevsky. Bất chấp mọi tiếp xúc với những đầu óc hàng đầu phương Tây, lão chỉ cho phép diễn giải hạn hẹp nhất chạm đến mình. Lão phản ứng lại thói hung bạo tiết chế của cha bằng cách ngày càng bộc lộ những thói quen cứng rắn và trí tưởng tượng mềm mỏng. Lão căm ghét, và say mê, bất cứ dấu hiệu hỗn loạn hay suy tàn nào.

Tuy vậy, lên mười bảy, lão gặp Beatrice của đời mình, hơn lão ba tuổi. Một cô gái chân to đáng yêu, hay cười, làm nhân viên bán hàng trong tiệm tạp hóa Hoa kiều. Velma. Tình cảm và nhiệt huyết cô dành cho cuộc sống mạnh mẽ đến mức cô không gạt Elihue mỏng manh, ốm yếu ra. Cô cảm động vì lão tỉ mỉ, hoàn toàn không có khiếu hài hước và mong mỏi giúp lão làm quen với ý niệm vui thú. Lão cưỡng lại việc làm quen này, nhưng cô vẫn cưới lão, để rồi phát hiện ra rằng lão vừa khổ sở vì và vừa ham thích một nỗi u sầu không sao đánh đổ. Cưới nhau được hai tháng, khi cô hiểu ra rằng nỗi u sầu quan trọng với lão nhường nào, rằng lão rất hứng thú biến niềm vui của cô thành nỗi ủ ê hàn lâm hơn, rằng lão đánh đồng ái ân với hiệp thông và Chén Thánh, cô bỏ đi. Cô không sống ven biển bao nhiêu năm đó, lắng nghe những bài ca của người làm ở cầu tàu suốt thời gian đó, để chịu mất cả đời trong cái hang động không thanh âm của đầu óc Elihue.

Lão không bao giờ khuây nguôi được chuyện cô bỏ đi. Cô lẽ ra phải là lời đáp cho câu hỏi lão không nói ra, không thừa nhận - đời sống phải chống lại cái phi đời sống đang ngày một xâm lấn ở đâu? Velma lẽ ra phải cứu lão ra khỏi cái phi đời sống lão học được bên bề phẳng dây nịt của cha. Nhưng lão kháng cự lại cô khéo léo đến mức cuối cùng cô bị dồn đến chỗ phải chạy trốn cái nhàm chán không thể tránh mà một đời cảnh vẻ như vậy tạo ra.

Elihue thời trẻ được cứu vớt khỏi chuyện đổ vỡ thấy rõ nhờ bàn tay vững vàng của cha, người nhắc lão nhớ thanh danh gia đình và thanh danh đáng ngờ của Velma. Lão bèn lao vào học hành hăng say hơn trước và cuối cùng quyết định theo nghề mục sư. Khi được khuyên rằng nghề này không có tương lai, lão rời đảo, đến Mỹ theo học lĩnh vực lúc đó hãy còn phôi thai là tâm thần học. Nhưng môn này đòi hỏi quá nhiều sự thật, quá nhiều đối chất, mà hỗ trợ quá ít cho một bản ngã khiếm khuyết. Lão nhảy qua xã hội học, rồi vật lý trị liệu. Tổ hợp giáo dục đa dạng này kéo dài được sáu năm thì cha lão không chịu chu cấp cho lão nữa, đến chừng nào lão “thấy ra” mình thì thôi. Elihue, bơ vơ không biết phương hướng, bị bỏ mặc phải tự xoay xở, và “thấy ra” mình hoàn toàn không có khả năng làm ra tiền. Lão bắt đầu lún sâu vào lối sống hào hoa nhanh chóng xơ mòn, thi thoảng điểm xuyết vài công việc văn phòng dành cho dân da đen, bất kể họ có hay không dòng máu quý tộc, ở Mỹ: lễ tân tại khách sạn cho dân da màu ở Chicago, môi giới bảo hiểm, chào hàng cho hãng mỹ phẩm phục vụ dân da đen. Cuối cùng lão an cư lập nghiệp ở Lorain, Ohio, năm 1931, tự xưng là mục sư, và làm người ta nể sợ với cung cách nói tiếng Anh của lão. Đàn bà trong thành phố sớm phát hiện ra lão còn độc thân, và do không hiểu nổi vì sao lão khước từ họ, họ quả quyết rằng lão siêu nhiên chứ không phải trái tự nhiên.

Khi hiểu ra quyết định của họ, lão lẹ làng bắt theo, chấp nhận cái tên (Nhà Thờ Đầu Xà Phòng) và vai trò họ trao cho lão. Lão thuê căn hộ kiểu phòng sau từ một bà cụ sùng tín tên Bertha Reese. Bà sạch sẽ, yên tĩnh, và gần như điếc đặc. Chỗ trọ lý tưởng về mọi mặt chỉ trừ một điểm. Bertha Reese có nuôi một con chó già, Bob, mà nó thì, dù cũng điếc đặc và yên tĩnh như bà, lại không sạch sẽ bằng. Hầu như ngày nào nó cũng ngủ vùi trên hiên sau, là lối vào phòng Elihue. Con chó già rục không còn ích dụng gì, còn Bertha Reese không còn đủ sức lực hay minh mẫn để lo cho nó tử tế. Bà cho nó ăn, và cho nó uống, bỏ nó một mình. Con chó bị ghẻ lở, cặp mắt kiệt sức chảy ghèn xanh lè mà xung quanh ruồi nhuế và ruồi bu nhặng xị. Đầu Xà Phòng ghê tởm Bob và ước gì nó chết cho mau. Với lão, ước muốn con chó chết là nhân đạo, vì, lão tự nhủ, lão không chịu nổi khi thấy bất cứ gì khổ sở. Lão không chợt nghĩ rằng thật ra lão lo lắng việc chính mình phải chịu đựng, bởi con chó đã tự thích nghi với tình trạng yếu ớt già nua. Cuối cùng Đầu Xà Phòng quyết định chấm dứt cảnh khốn khổ của con vật, và mua ít thuốc độc để làm chuyện đó. Chỉ có nỗi khiếp đảm phải đến gần nó mới ngăn Đầu Xà Phòng thực hiện sứ mệnh này. Lão chờ cơn giận dữ hay nỗi ghê tởm mù quáng xúi giục mình.

Sống ở đó giữa những thứ cũ mòn, sáng sớm thức dậy từ những giấc ngủ không mộng mị, lão khuyên bảo những ai đến xin lão lời khuyên. Lão kiếm tiền trên nỗi sợ. Mọi người đến gặp lão trong sợ hãi, thì thầm trong sợ hãi, thút thít và cầu xin trong sợ hãi. Và sợ hãi là thứ lão khuyên bảo.

Từng người một họ tìm đến cửa nhà lão, mỗi người quấn quanh người tấm vải liệm khâu bằng giận dữ, khát khao, kiêu hãnh, thù hằn, đơn độc, khốn khổ, thất bại và đói khát. Họ xin những thứ đơn sơ nhất: tình yêu, sức khỏe, bạc tiền. Hãy làm cho anh ta yêu tôi. Cho tôi biết giấc mơ này nghĩa là sao. Giúp tôi rũ bỏ được mụ đàn bà này. Khiến mẹ tôi trả lại áo quần cho tôi. Làm cho tay trái tôi hết run. Làm cho hồn ma bé con tôi tránh xa bếp lò. Hóa giải chuyện này chuyện kia. Lão đích thân giải đáp mọi yêu cầu này. Việc của lão là trả sao làm vậy - không phải gợi ý với bên nào rằng có lẽ yêu cầu này là chơi xấu, nhỏ nhen, hay vô vọng.

Cùng các cuộc gặp chỉ thỉnh thoảng, rồi càng lúc càng hiếm hoi, với các bé gái mà lão thuyết phục để lão tiếp đãi, lão sống khá bình yên giữa những món đồ của mình, không chút tiếc nuối. Tất nhiên lão biết có gì đó sai hỏng trong đời mình, và mọi cuộc đời, nhưng lão để yên vấn đề ở chỗ của nó, dưới chân Đấng Tạo Hoá. Lão tin rằng bởi suy đồi, xấu xa, ô trọc, hỗn loạn lan tràn khắp chốn, hẳn chúng nằm trong Bản chất Sự vật. Cái ác tồn tại vì Chúa Trời tạo ra nó. Ngài, Chúa Trời, đã phạm một lỗi cẩu thả và không tha thứ được khi phán xét: Ngài đã bày ra một vũ trụ bất toàn. Các nhà thần học biện minh rằng suy đồi hiện diện như một phương cách để con người phấn đấu, được thử thách, và chiến thắng. Thắng lợi của vũ trụ gọn gàng. Nhưng sự gọn gàng này, cái gọn gàng của Dante, nằm trong lớp lang ngăn chia phân cách mọi cấp độ xấu ác và suy đồi. Ở đời thì chuyện không như vậy. Các quý cô kiều diễm nhất cũng ngồi bồn cầu, còn những mụ gớm guốc nhất cũng có khát khao trong sáng và thánh thiện. Chúa Trời đã làm chẳng ra sao, và Đầu Xà Phòng ngờ rằng mình có thể làm tốt hơn. Quả đáng tiếc khi Đấng Tạo hóa đã không hỏi ý lão.

Một xế chiều nóng nực Đầu Xà Phòng đang ngẫm lại những ý này thì nghe có tiếng gõ cửa. Mở ra, lão thấy một con bé hoàn toàn xa lạ. Nó độ mười hai tuổi, lão nghĩ, và lão thấy nó xấu xí đến tội nghiệp. Khi lão hỏi nó cần gì, nó không đáp, mà chìa cho lão tấm danh thiếp quảng cáo các tài nghệ và dịch vụ của lão: “Nếu quý vị gặp phải các vấn đề và chứng bệnh không tự nhiên, tôi có thể chữa lành; Phá bùa, Giải vận, và Trừ tà Đuổi quỷ. Hãy nhớ, tôi là Thầy đồng và Nhà Thông linh chân chính, có khả năng thiên bẩm, tôi sẽ giúp quý vị. Hài lòng ngay lần đầu đến. Trong nhiều năm hành nghề tôi đã tác hợp nhiều cặp tiến đến hôn nhân và tái hợp nhiều cặp vốn đã ly thân. Nếu quý vị không hạnh phúc, nản lòng, hay đang khốn quẫn, tôi có thể giúp quý vị. Dường như vận rủi đang đeo bám quý vị? Người quý vị yêu đã đổi dạ thay lòng? Tôi có thể nói cho quý vị biết tại sao. Tôi sẽ cho quý vị biết ai là bạn ai là thù, và người quý vị yêu đang thật lòng hay giả dối. Nếu quý vị bệnh, tôi có thể cho quý vị thấy phương cách để khỏe mạnh. Tôi định vị các món đồ thất lạc và mất cắp. Bảo đảm sẽ hài lòng.”

Nhà Thờ Đầu Xà Phòng bảo nó vào.

“Ta làm gì được cho con hả nhỏ?”

Nó đứng đó, hai bàn tay xếp ngang bụng, cái bụng nhỏ xíu lồi ra. “Chắc vậy. Chắc ông giúp được con chuyện đó.”

“Giúp được con chuyện gì?”

“Con không được đến trường nữa. Nên con nghĩ chắc ông giúp được con.”

“Giúp con làm sao? Nói ta nghe. Đừng sợ.”

“Mắt con.”

“Mắt con làm sao?”

“Con muốn mắt có màu xanh.”

Đầu Xà Phòng mím môi, đưa lưỡi cà qua cái răng vàng. Lão nghĩ đó là thỉnh nguyện thú vị nhất mà cũng hợp lý nhất lão từng tiếp nhận. Đây là một đứa bé gái xấu xí cầu xin được đẹp. Trào dâng trong lão tình thương và lòng cảm thông, nhưng cảm xúc ấy nhanh chóng thay bằng giận dữ. Giận dữ vì lão bất lực không giúp được nó. Trong tất cả ước muốn người ta mang đến xin lão - tiền bạc, tình ái, phục thù - lão thấy đây là ước muốn cảm động nhất và cũng xứng đáng được toại nguyện nhất. Một con bé da đen muốn trèo ra khỏi cái hố đen thui của nó và nhìn thế giới bằng cặp mắt xanh. Cơn phẫn nộ của lão dâng lên và dường như biến thành sức mạnh. Lần đầu tiên lão thật lòng mong mình biết làm phép. Trước kia lão chưa bao giờ thật lòng muốn có quyền phép đích thực và thiêng liêng - lão chỉ muốn có khả năng làm người khác tin là lão có quyền phép. Đáng buồn làm sao, lố bịch làm sao, khi mà dường như duy chỉ xác phàm, chứ không phải phán quyết, ngăn lão có nó. Hay không phải vậy?

Bàn tay run run lão làm dấu thánh giá cho nó. Lão nổi da gà; trong căn phòng nhỏ nóng nực, tù mù những vật dụng cũ mòn đó, lão lạnh run người.

“Ta không thể làm gì cho con cả, con à. Ta không phải thầy pháp. Ta chỉ hành sự thông qua Chúa Trời. Thỉnh thoảng Ngài dùng ta để giúp mọi người. Ta chỉ có thể dâng mình cho Ngài như một công cụ để Ngài làm phép thôi. Nếu Ngài muốn ước muốn của con thành hiện thực, Ngài sẽ biến nó thành hiện thực.”

Đầu Xà Phòng bước tới cửa sổ, lưng xoay về đứa bé gái. Óc lão long lên, loạng choạng, rồi lại long lên. Soạn câu tiếp theo thế nào đây? Làm sao bám giữ cảm giác quyền lực. Mắt lão bắt gặp con Bob già nua đang ngủ trên hiên.

“Ta phải, ờm, dâng chút lễ, tức là, phải bắc chút cầu nối với tự nhiên. Có lẽ là một sinh vật đơn giản nào đó có thể làm phương tiện để qua đó Ngài phán dạy. Ta xem xem.”

Lão quỳ xuống bên cửa sổ, mấp máy môi. Sau một lúc chừng như đủ lâu, lão đứng lên đi lại cái tủ ướp lạnh kê gần cửa sổ bên kia. Từ trong đó lão lấy ra một gói nhỏ bọc giấy gói thịt hồng hồng. Từ trên giá lão lấy xuống một lọ nhỏ màu nâu rồi rắc rắc lên khối chất bên trong gói giấy. Lão đặt cái gói, mở he hé, trên bàn.

“Cầm đồ ăn này đem cho con vật đang ngủ trên hiên kia. Làm sao cho chắc là nó ăn nhé. Rồi để ý cho kỹ nó phản ứng thế nào. Nếu không có gì xảy ra, con sẽ biết rằng Chúa Trời đã từ chối con. Nếu con vật phản ứng kỳ lạ, ước muốn của con sẽ được ban cho vào ngày tiếp sau hôm nay.”

Đứa bé gái cầm cái gói lên; mùi thịt tối màu, nhớp nháp làm nó muốn nôn. Nó đặt một tay lên bụng.

“Can đảm lên. Can đảm lên, con. Những thứ này không được ban cho trái tim hèn yếu đâu.”

Nó gật đầu rồi nuốt ực thấy rõ, nén cơn buồn nôn. Đầu Xà Phòng mở cửa, và nó bước qua ngưỡng cửa.

“Tạm biệt, Chúa phù hộ con,” lão nói rồi lẹ làng đóng cửa lại. Bên cửa sổ lão đứng nhìn theo nó, cặp mày xâu lại thành những con sóng trắc ẩn, lưỡi vân vê cái răng vàng đã mòn ở hàm trên. Lão thấy đứa con gái cúi xuống chỗ con chó đang ngủ, mà nó, khi con bé chạm vào, mở một bên mắt chảy nước ra, dính bết ở khoé thứ gì trông như keo hồ xanh lá. Con bé chìa tay ra sờ đầu con chó, vuốt ve nhẹ nhàng. Nó để miếng thịt xuống hiên, gần mũi con chó. Mùi thịt đánh thức con chó; nó ngỏng đầu lên, rồi chồm dậy để đánh hơi kỹ hơn. Nó táp ba bốn miếng là hết. Đứa con gái lại vuốt đầu nó, và con chó nhìn lên nó với hai con mắt tam giác hiền lành. Bỗng nó khọt khẹt, tiếng khọt khẹt của một ông già long đờm - và nhỏm dậy. Đứa con gái giật mình. Con chó sặc sụa, miệng táp không khí, rồi tức thì ngã lăn ra. Nó cố nhỏm dậy, không được, cố lần nữa, và gần như té lăn xuống bậc thềm. Sặc nghẹn, lảo đảo, nó cử động như món đồ chơi hỏng quanh sân. Miệng đứa con gái há ra, thè chút đầu lưỡi. Nó đưa một tay làm cử chỉ cuống cuồng, vô nghĩa rồi cả hai tay bụm miệng. Nó đang cố không nôn. Con chó lại đổ vật xuống, cơn co giật xốc tung người. Rồi nó im. Hai tay bụm miệng, đứa con gái lùi lại vài bước, rồi quay người, chạy ra khỏi sân xuống lối đi.

Nhà Thờ Đầu Xà Phòng đi lại bàn. Lão ngồi xuống, hai tay đan nhau giữ trán thăng bằng trên hai đầu ngón cái. Rồi lão đứng lên đi lại chiếc bàn ngủ nhỏ xíu có hộc, rồi lấy ra trong đó tờ giấy và cây bút mực. Lọ mực để cùng giá đựng thuốc độc. Lão cầm những thứ này đi lại ngồi xuống bên bàn. Từ từ, cẩn thận, nhâm nhi văn phong của mình, lão viết thư:

GỬI NGƯỜI ĐÃ LÀM CHO NHÂN TÍNH CAO THƯỢNG VÔ CÙNG BẰNG CÁCH TẠO RA NÓ

Chúa Trời kính mến,

Mục đích của thư này là làm ngài quen với những sự việc mà hoặc ngài đã không nhận thấy, hoặc ngài đã chọn lờ đi.

Ngày xửa ngày xưa, tôi từng sống ngây thơ và trẻ dại trên một hòn đảo của ngài. Một hòn đảo thuộc quần đảo ở Nam Đại Tây Dương giữa Bắc và Nam Mỹ, bao bọc biển Caribbean và vịnh Mexico: chia thành Đại Antilles, Tiểu Antilles, và quần đảo Bahama. Không phải các cụm đảo thuộc quần đảo Windward hay Leeward, xin để ý cho, mà tất nhiên là bên trong Đại Antilles (mặc dù sự chính xác trong văn tôi có thể đôi lúc nặng nề, tôi cần xác định mình với ngài rõ ràng).

Còn giờ.

Trong cụm đảo này chúng tôi biến những đặc điểm gây ấn tượng sâu sắc nhất, và hiển nhiên nhất, của các ông chủ da trắng, đó, tất nhiên, là những cái tệ nhất của họ, thành của riêng. Trong khi giữ lại bản sắc chủng tộc mình, chúng tôi nắm chặt những đặc điểm vừa ý nhất để gìn giữ và ít phiền hà nhất để duy trì. Do vậy chúng tôi không vương giả nhưng trưởng giả, không quý tộc mà ý thức rõ giai cấp; chúng tôi tin uy quyền là tàn bạo với kẻ dưới mình, và giáo dục là được đến trường. Chúng tôi nhầm hung bạo là nhiệt tình, biếng nhác là nhàn hạ, và tưởng khinh suất là tự do. Chúng tôi nuôi dạy con cái và gieo trồng mùa màng; chúng tôi để con trẻ lớn lên, tài sản sinh sôi. Chúng tôi xác định vai trò đàn ông bằng sở đắc. Vai trò đàn bà bằng ưng thuận. Và mùi hoa trái của ngài và lao động tháng ngày của ngài chúng tôi ghét cay ghét đắng.

Sáng nay, trước khi con bé da đen đến, tôi khóc - vì Velma. Ồ, không phải khóc thành tiếng. Không có ngọn gió nào mang, chịu, hay thậm chí từ chối chịu, âm thanh trĩu nặng tiếc nuối nhường ấy. Nhưng theo cách thầm lặng lẻ loi của riêng mình, tôi khóc - vì Velma. Ngài phải biết về Velma mới hiểu việc tôi làm hôm nay.

Nàng (Velma) bỏ tôi như kiểu người ta bỏ phòng khách sạn. Phòng khách sạn là nơi để ở khi ta lo việc gì khác. Bản thân nó không hề quan trọng trong kế hoạch lớn của ta. Phòng khách sạn thì thuận tiện. Nhưng sự thuận tiện bị hạn chế theo thời gian ta cần nó khi ta ở riêng thành phố đó cho riêng công việc đó; ta hy vọng nó thoải mái, nhưng thích nó vô danh hơn. Suy cho cùng, nó không phải nơi ta sống.

Khi ta không cần nó nữa, ta trả chút tiền vì đã sử dụng nó; nói, “Cảm ơn ông,” và khi công việc trong thành phố đó xong xuôi, ta đi khỏi căn phòng. Có ai tiếc nuối khi phải rời phòng khách sạn không? Có ai, khi đã có một mái nhà, một mái nhà hẳn hoi đâu đó, muốn lưu lại đó không? Có ai ngoái nhìn đầy cảm mến, hay thậm chí chán ghét, phòng khách sạn khi họ rời đi? Ta chỉ có thể yêu mến hay khinh khi bất cứ hoạt động sống nào đã diễn ra trong phòng. Nhưng căn phòng ư? Nhưng ta lấy một món đồ lưu niệm. Không, ồ không, không phải để nhớ căn phòng. Đúng hơn là để nhớ khoảng thời gian và nơi chốn ta công tác, ta phiêu lưu. Ai có cảm xúc gì được với phòng khách sạn? Người ta không rung cảm với phòng khách sạn cũng như không mong mỏi phòng khách sạn rung cảm gì với người trọ trong đó.

Cha Trời thiêng liêng, đấy là cách nàng bỏ tôi; hay đúng hơn, nàng chưa bao giờ bỏ tôi, vì nàng chưa bao giờ ở đó.

Ngài còn nhớ mà đúng không, chúng tôi được tạo ra như thế nào và từ cái gì? Giờ để tôi nói ngài nghe về bộ ngực bé gái. Tôi xin tạ lỗi vì thiếu đứng đắn (Có phải thế không?), vì sự chênh vênh khi yêu thương chúng vào những lúc bất tiện trong ngày, và ở những nơi bất tiện, và vì cái vô vị khi yêu những gì thuộc về người trong gia đình tôi. Tôi có cần phải xin lỗi vì yêu người dưng không?

Nhưng ở đây cả ngài cũng sai rồi, Chúa Trời. Làm sao, tại sao ngài lại để chuyện đó xảy ra? Làm sao tôi lại rời mắt chiêm ngưỡng Thánh Thể của ngài để rồi say sưa chiêm ngưỡng cơ thể chúng? Những nụ hoa. Những nụ hoa trên vài cây con này. Chúng bé mọn, ngài biết không, bé mọn và mềm mại. Những nụ hoa nhỏ bé hèn mọn cưỡng lại sờ chạm, đàn hồi như cao su. Nhưng hung hăng. Thách tôi dám sờ chạm. Ra lệnh cho tôi sờ chạm. Không e thẹn chút nào, như ngài tưởng. Chúng chìa ra với tôi, ồ phải, tôi. Những thiếu nữ bờ ngực mảnh mai, bờ ngực như ngón tay. Ngài đã bao giờ thấy chúng chưa, Chúa Trời? Ý tôi là, thật sự thấy chúng? Ta không thể thấy chúng mà không yêu. Chính Ngài người tạo ra chúng hẳn cũng đã thấy chúng đáng yêu dù chỉ trong ý niệm - đáng yêu hơn nhường nào còn phải xem ý niệm đó biểu lộ ra sao. Chắc ngài cũng nhớ, tôi không thể rời tay, rời miệng khỏi chúng. Vừa mặn vừa ngọt. Như dâu chưa chín hẳn phủ lớp mồ hôi muối phơn phớt của bao ngày chạy đuổi và bao giờ nhảy lò cò, nhảy chân sáo, nhảy cẫng.

Tình yêu dành cho chúng - sờ chạm, ngửi nếm, cảm nhận chúng - không chỉ là thói xấu khoái lạc dễ dãi của con người; với tôi, những thứ đó là Việc Làm Để Thay Thế. Thay cho Cha, thay cho Thầy tu, thay cho Velma, và tôi chọn sống mà không thiếu chúng. Nhưng tôi không đi tu. Ít nhất tôi đã không làm vậy. Còn việc tôi đã làm? Tôi nói với thiên hạ là tôi đã biết hết về Ngài. Rằng tôi đã nhận được Quyền Năng của Ngài. Đó không hoàn toàn là dối trá; nhưng nó lại là dối trá hoàn toàn. Tôi thú nhận, lẽ ra tôi không bao giờ, không bao giờ nên nhận tiền của họ để đổi lấy những lời dối trá khéo léo, đúng chỗ, giả lả. Nhưng, ngài nhớ cho, tôi ghét điều đó. Không một giây nào tôi yêu những lời dối trá hay tiền bạc.

Nhưng hãy ngẫm: Người đàn bà rời bỏ căn phòng khách sạn.

Hãy ngẫm: Quãng đời thanh xuân, tươi vui của quần đảo.

Hãy ngẫm: Cặp mắt khấp khởi của chúng chỉ thua bộ ngực đầy hy vọng của chúng.

Hãy ngẫm: Chuyện tôi cần một thói xấu dễ chịu để ngăn tôi biết cái tôi không chịu nổi khi biết.

Hãy ngẫm: Chuyện tôi căm ghét và khinh khi tiền.

Còn giờ, hãy ngẫm: Không phải nhờ vào những gì tôi xứng đáng có được, mà nhờ vào lòng tốt của tôi, hôm nay con bé da đen khùng khùng điên điên xông vào tôi. Chúa Trời, nói tôi nghe, làm sao ngài lại để một đứa con gái đơn độc lâu đến nỗi nó tìm được đường tới tôi? Sao ngài lại như vậy? Tôi khóc cho ngài, Chúa Trời. Và chính vì tôi khóc cho Ngài mà tôi phải thay Ngài hành đạo.

Ngài có biết con bé tới vì cái gì không? Mắt xanh. Đôi mắt mới màu xanh, nó nói. Cứ như nó đi mua giày. “Tôi muốn một đôi mắt xanh mới.” Hẳn nó đã xin ngài lâu lắm rồi, mà ngài không hồi đáp. (Một thói quen, tôi có thể nói nó, một thói quen đã bỏ từ lâu vì Job - nhưng chỉ vậy thôi.) Con bé đến gặp tôi để xin chúng. Nó có giữ tấm danh thiếp của tôi. (Danh thiếp đính kèm.) Sẵn đây, tôi đã thêm vào Micah - Elihue Micah Whitcomb. Nhưng người ta gọi tôi là Nhà Thờ Đầu Xà Phòng. Tôi không nhớ làm sao hay tại sao tôi có tên đó. Điều gì làm cho tên này nghe giống người hơn tên khác? Nếu vậy, phải chăng cái tên mới là thứ thực hữu? Còn người ta chỉ răm rắp tuân theo? Có phải vì vậy mà với câu hỏi đơn giản và thân tình nhất: “Người tên gì?” mà Moses hỏi ngài, Ngài không chịu đáp lời, trái lại nói “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.” Như Popeye? Ta là ta như thế[1]? Ngài sợ xưng tên có phải không? Sợ họ biết tên rồi sẽ biết ngài? Bấy giờ họ sẽ không sợ ngài? Cũng được thôi. Xin đừng phật lòng. Tôi không có ý gì xúc phạm. Tôi hiểu. Tôi cũng từng là người xấu, đã vậy còn là kẻ bất mãn. Nhưng ngày nào đó tôi sẽ chết đi. Tôi vẫn luôn rất hiền lành. Sao tôi phải chết? Mấy bé gái. Mấy bé gái là những thứ duy nhất tôi sẽ thấy nhớ. Ngài có biết là khi tôi chạm vào núm vú nhỏ săn chắc của chúng và căn - chỉ chút xíu thôi - tôi cảm thấy mình đang thân tình? Tôi không muốn hôn môi chúng hay ngủ trên giường với chúng hay cưới một cô dâu trẻ con làm vợ. Tôi cảm thấy mình đang bông đùa và thân tình. Không phải như báo chí nói. Không phải như thiên hạ xì xầm. Mà chúng có phiền gì đâu. Không phiền chút nào. Có nhớ biết bao nhiêu đứa quay lại không? Không ai thèm cố hiểu điều đó. Nếu tôi làm đau chúng, chúng có quay lại không?

Hai đứa trong số đó, Doreen và Sugar Babe, chúng đi với nhau. Tôi cho chúng kẹo bạc hà, tiền, rồi chúng ăn kem mà xoạc chân ra trong khi tôi chơi với chúng. Giống như bữa tiệc vậy. Không có gì xấu xa, cũng không có gì bẩn thỉu, không có ai bốc mùi, cũng không có ai rên rỉ - chỉ có tiếng cười ngây thơ nhẹ nhàng của mấy bé gái và tôi. Và sau đó không có cái nhìn nào - cái nhìn là lạ hồi lâu nào - cái nhìn Velma là lạ hồi lâu nào. Sau đó không có cái nhìn nào khiến ta thấy dơ bẩn. Khiến ta muốn chết cho xong. Với mấy bé gái thì lúc nào cũng hoàn toàn sạch sẽ và tử tế và thân tình.

Ngài phải hiểu điều đó, Chúa Trời. Ngài nói, “Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn cấm.” Ngài quên rồi sao? Ngài quên lũ trẻ rồi sao? Phải. Ngài quên rồi. Ngài để chúng chịu cảnh thiếu thốn, ngồi bên vệ đường, kêu khóc bên người mẹ đã chết. Tôi từng thấy chúng cháy thành than, què quặt, tập tễnh. Ngài quên rồi, Chúa Trời. Ngài quên phải làm Chúa Trời ra sao và phải làm khi nào.

Vì vậy mà tôi đổi đôi mắt cho con bé da đen, và không động vào nó; tôi không động một ngón tay vào nó. Nhưng tôi cho nó đôi mắt xanh nó muốn. Không phải để vui thú, cũng không phải vì tiền. Tôi làm cái Ngài không làm, không thể làm, không chịu làm: tôi nhìn con bé da đen xấu xí đó, và tôi thương nó. Tôi đóng vai Ngài. Đó là một vở diễn tuyệt hay!

Tôi, tôi đã làm phép. Tôi cho nó đôi mắt. Tôi cho nó mắt xanh, xanh, hai con mắt xanh. Màu xanh thiên thanh. Một vệt màu đó lấy từ bầu trời xanh của ngài. Không ai khác thấy được đôi mắt xanh của nó. Nhưng nó sẽ thấy. Và nó sẽ sống hạnh phúc đến hết đời. Tôi, tôi đã thấy làm vậy là phù hợp và đúng đắn.

Giờ ngài ghen tị. Ngài ghen với tôi.

Ngài thấy chưa? Tôi cũng đã tạo tác. Không phải khởi tạo từ ban sơ, như ngài, nhưng tạo hóa là thứ rượu mạnh, đối với người nếm hơn là với người nấu.

Đã ngấm rượu tiên như thế rồi, có thể nói vậy, tôi không sợ Ngài, sợ Chết, hay thậm chí sợ Sống, và chuyện Velma cũng không sao; chuyện về Cha cũng không sao; về Đại Antilles và Tiểu Antilles cũng không sao. Hoàn toàn không sao. Hoàn toàn.

Trân trọng vô cùng,

Elihue Micah Whitcomb

Nhà Thờ Đầu Xà Phòng gấp mấy tờ giấy thành ba phần đều nhau rồi bỏ vào bì thư. Dù không có dấu niêm phong, lão ước gì mình có sáp niêm phong. Lão lôi hộp xì gà dưới giường ra lục lọi. Trong đó có vài món đồ quý giá nhất của lão: miếng ngọc thạch sút ra từ khuy măng sét ở khách sạn Chicago; mặt dây chuyền vàng hình chữ Y đính miếng san hô từng thuộc về người mẹ lão chưa một lần thấy mặt; bốn cây kẹp tóc lớn Velma bỏ lại trên thành bồn tắm; ruy băng nhám xanh lam trên đầu một bé gái tên Ngọc Quý; vòi nước đen kịt từ chậu rửa trong một xà lim ở Cincinnati; hai viên bi lão tìm thấy dưới ghế băng trong công viên Morningside vào một ngày xuân rất đẹp; cuốn danh mục Lucky Hart cũ vẫn còn mùi phấn nâu hai màu đậm nhạt và kem dưỡng da hương chanh. Xao nhãng bởi những thứ này, lão quên mất mình đang tìm gì. Nỗ lực nhớ lại quá lớn; đầu lão có tiếng vo vo, và cơn mệt mỏi tràn lên xâm chiếm. Lão đậy nắp hộp lại, trèo lên giường, và chìm vào giấc ngủ màu ngà nơi lão không còn nghe thấy tiếng the thé nhỏ xíu của một bà già vừa ra khỏi tiệm kẹo thì thấy cái xác bất động của con chó già tên Bob.

[1]

Nguyên văn: “I Yam What Yam,” câu nói nổi tiếng của thuỷ thủ Popeye nhại lại câu trả lời của Chúa dành cho Moses: “I am what I am” - “Ta là Đáng Tự Hữu Hằng Hữu.”

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.