Gương mặt cha tôi thật khác thường. Mùa đông tiến vào rồi ngụ lại đó. Mắt ông thành núi tuyết chực lở xuống, lông mày uốn cong như cành cây trụi lá đen thui. Da ông nhuốm sắc vàng nhợt nhạt, ủ ê của nắng đông; quai hàm ông là bờ ruộng tuyết phủ lác đác gốc rạ; vầng trán cao là dải sông Erie băng giá, ẩn giấu dòng suy tư rét buốt cuộn xoáy trong bóng tối. Kẻ giết sói thành kẻ đánh đuổi chim ưng, ông làm đêm làm ngày để con này không vào cửa lớn còn con kia không đậu bên cửa sổ. Là thần Vulcan canh giữ lửa, ông dặn dò chúng tôi cửa nào phải đóng hay mở để nhiệt tản đều, ông để dành mồi nhen lửa, bàn về chất lượng than, và chỉ chúng tôi cách cời, đun thêm, ủ lửa. Và ông không chịu mở miệng mãi đến mùa xuân.
Mùa đông thít chặt đầu chúng tôi bằng dải băng lạnh đến chảy nước mắt. Chúng tôi cho tiêu vào trong tất, thoa Vaseline lên mặt, và xuyên qua những buổi mai như tủ ướp lạnh tối om chúng tôi nhìn về bốn miếng mận hầm, từng cục yến mạch trơn tuột, và ca cao đóng váng bên trên.
Nhưng chủ yếu chúng tôi chờ đến mùa xuân, khi ấy sẽ có vườn.
Trước lúc mùa đông này cứng ngắc lại thành cái gút hằn học không gì gỡ được, có thứ đã nới lỏng nó ra, hay đúng hơn có người đã nới lỏng nó. Một ai đó xé cái gút rách tưa thành từng sợi chỉ bạc xoắn bện chúng tôi, giăng lưới chúng tôi, khiến chúng tôi khát thèm cái xơ cùn nhàm chán trước đó.
Kẻ phá vỡ tiết khí này là đứa con gái mới nhập học tên Maureen Peal. Một đứa nhỏ da đen sáng màu như mơ có mái tóc nâu dài tết thành hai sợi thòng lọng thả xuống ngang lưng. Nó con nhà giàu, ít nhất theo chuẩn của chúng tôi, giàu bằng đứa con gái da trắng giàu nhất, được bao bọc trong sung túc chăm lo. Chất lượng áo quần nó mặc chỉ chực làm Frieda và tôi loạn trí. Giày da bóng lộn có khóa, mà phiên bản rẻ tiền hơn của nó chúng tôi chỉ có vào lễ Phục Sinh và đến cuối tháng Năm đã rách bung. Áo len xù màu kẹo chanh tém trong chân váy xếp nếp tươm tất đến mức chúng tôi phải kinh ngạc. Tất ngang gối tươi màu có viền trắng, áo khoác nhung nâu viền lông thỏ trắng, và mũ lông cùng màu. Trong đôi mắt xanh lá màu mận gai của nó phảng phất hơi xuân, trong sắc da điểm chút vị hè, và trong bước chân nồng nàn sắc thu đượm chín.
Nó hút hồn cả trường. Khi thầy cô gọi nó, họ nhoẻn cười khích lệ. Nam sinh da đen không ngáng chân nó trong hành lang; nam sinh da trắng không ném đá nó, nữ sinh da trắng không chít chít chân răng khi được xếp làm nhóm với nó; nữ sinh da đen tránh qua một bên khi nó muốn dùng chậu rửa trong nhà vệ sinh nữ, và chúng cụp mắt he hé liếc nhìn. Nó chưa bao giờ phải tìm người ngồi ăn chung trong căng tin - chúng lũ lượt kéo tới bàn nó chọn, nơi nó mở những bữa trưa cảnh vẻ, biến bánh mì lem nhem mứt của chúng tôi thành trò cười trước xăng-uých xa lát trứng cắt thành bốn ô vuông điệu đà, cupcake phủ kem hồng, cần tây và cà rốt đầy ụ, táo sẫm màu, kiêu sa. Nó lại còn mua và thích sữa tươi.
Frieda và tôi lúng túng, tức tối và mê mẩn vì nó. Chúng tôi cố tìm bằng được khuyết điểm để lấy lại cân bằng trong mình, nhưng mới đầu phải đành lòng chế giễu tên nó, đổi Maureen Peal thành Meringue Pie[1]. Sau đó chúng tôi có được khoảnh khắc đốn ngộ nhỏ nhoi khi phát hiện ra nó có một cái răng nanh - duyên dáng thì rõ - nhưng dẫu gì cũng là răng nanh. Rồi khi chúng tôi biết được rằng nó sinh ra có sáu ngón trên mỗi bàn tay và ở chỗ mỗi ngón thừa được cắt bỏ có một bướu nhỏ, chúng tôi nhoẻn cười. Đó là những thắng lợi nho nhỏ, nhưng chúng tôi tận dụng cái mình có - cười khúc khích sau lưng nó và gọi nó là Bánh Kem Chanh Răng Nanh Sáu Ngón. Nhưng chúng tôi phải làm vậy một mình, vì không đứa con gái nào khác chịu hợp tác với thái độ thù địch của chúng tôi. Chúng tôn sùng nó.
Khi nó được phân tủ để đồ cạnh tủ tôi, tôi có thể tha hồ ganh ghét bốn lần mỗi ngày. Cả hai chị em tôi đều ngờ rằng mình đang thầm sẵn sàng làm bạn nó, nếu nó bằng lòng, nhưng tôi biết đó sẽ là tình bạn nguy hiểm, vì khi mắt tôi dò theo đường diềm trắng của đôi tất ngang gối màu xanh lục Ireland đó, cảm thấy cái kéo rì và chùng nhão nơi đôi tất nâu của mình, tôi muốn đá nó. Thế là khi nghĩ đến cái kiêu kỳ không làm mà có trong mắt nó, tôi bày kế vô ý dập mạnh cửa tủ để đồ lên tay nó.
Tuy vậy, là bạn tủ bên, chúng tôi cũng quen nhau chút ít, tôi thậm chí còn đủ sức nói chuyện tử tế với nó mà không mường tượng ra cảnh nó ngã khỏi vách đá, hay cười rúc rích khi nghĩ ra thứ mà mình cho là một câu sỉ nhục tài tình.
Ngày nọ, khi tôi đang chờ Frieda ở chỗ tủ để đồ, nó đến bên cạnh.
“Chào.”
“Chào.”
“Chờ chị hả?”
“Ừ hửm.”
“Hai bạn về nhà đường nào?”
“Xuống phố 21 về phía Broadway.”
“Sao không đi phố 22?”
“Vì mình sống trên phố 21.”
“À. Mình nghĩ mình đi đường đó cũng được. Cũng một đoạn thôi.”
“Đất nước tự do mà.”
Frieda đi lại chỗ chúng tôi, đôi tất nâu kéo căng nơi đầu gối vì chị cắm ngón chân xuống để che đi cái lỗ thủng dưới bàn chân.
“Maureen sẽ đi với mình một đoạn.”
Frieda và tôi liếc nhìn nhau, mắt chị năn nỉ tôi kiềm chế, mắt tôi không hứa hẹn gì.
Đó là một ngày xuân giả mà, như Maureen, đã đâm thủng vỏ bọc một mùa đông tê tái. Những vũng nước, bùn sình, và cái ấm áp mời gọi đánh lừa chúng tôi. Kiểu ngày mà chúng tôi trùm áo khoác qua đầu, bỏ giày cao su ở trường, rồi hôm sau bị bạch hầu thanh quản. Chúng tôi luôn phản ứng chỉ với chút biến trở trong thời tiết, chút xê dịch thời gian trong ngày. Rất lâu trước khi hạt mầm cựa mình, Frieda và tôi đã vầy mó rồi xoi lỗ trong đất, nuốt không khí, uống nước mưa...
Từ trường đi ra với Maureen, chúng tôi tức thì thay lông. Chúng tôi nhét khăn trùm đầu trong túi áo khoác, và trùm áo khoác lên đầu. Tôi đang nghĩ làm sao bẻ cái mũ lông của Maureen thành ống máng thì trong sân chơi có tiếng nhốn nháo làm chúng tôi xao lãng. Một tốp con trai đang quây thành vòng tròn cách xa một khoảng an toàn với nạn nhân ở giữa, Pecola Breedlove.
Bay Boy, Woodrow Cain, Buddy Wilson, Junie Bug - như sợi dây chuyền đá bán quý, chúng vây quanh nó. Lâng lâng trong mùi xạ hương của chính mình, ngây ngất bởi thứ quyền lực dễ có của số đông, chúng hớn hở chọc phá con bé.
“Đen thui thủi. Đen thùi thui. Chamàyngủởtruồng. Đen thui thủi đen thùi thui cha mày ngủ ở truồng. Đen thui thủi...”
Chúng ứng khẩu bài vè gồm hai câu lăng mạ về những chuyện nạn nhân không làm chủ được: màu da của nó và những đồn thổi về thói quen ngủ của một người lớn, mà cái không ăn nhập lại ăn khớp cực kỳ. Rằng bản thân chúng cũng da đen, hay bản thân cha chúng cũng có những thói quen ngủ nghỉ tương tự lại không hề can dự. Chính bởi chúng tự khinh bỉ màu da đen của mình mà câu vè đầu mới thành lời lăng mạ. Chúng dường như gom hết thảy sự dốt nát được trau dồi trơn tru, lòng căm hận bản thân được tôi rèn bài bản, sự vô vọng được đặt bày tinh vi rồi ra sức hút hết vào một cái phễu khinh miệt hừng hực đã rực cháy hàng bao lâu nay trong những vùng thấp trũng nơi đầu óc chúng - nó nguội lại - và tràn qua đôi môi oán giận, ngấu nghiến bất cứ thứ gì ngáng đường. Chúng nhảy điệu ba lê tử thần quanh nạn nhân, kẻ mà, vì bản thân mình, chúng sẵn sàng hiến tế cho hố lửa.
Đen thui thủi Đen thùi thui Cha mày ngủ ở truồng.
Tèng téng teng tèng téng teng
Tèng tèng tèng téng teng
Pecola vừa khóc vừa đi men vòng tròn. Nó đã làm rơi cuốn vở, đưa hai tay lên che mắt.
Chúng tôi đứng nhìn, sợ chúng nhận thấy rồi quay qua chúng tôi. Thế rồi Frieda, với đôi môi mím lại và ánh mắt của mẹ, giật phăng áo khoác trên đầu liệng xuống đất. Chị chạy đến chỗ chúng rồi nện chồng sách vở lên đầu Woodrow Cain.
Vòng tròn tản ra. Woodrow Cain ôm đầu.
“Ê con kia!”
“Mày thôi đi, nghe chưa?” Tôi chưa bao giờ nghe giọng Frieda to và rõ như vậy.
Có thể vì Frieda cao hơn nó, có thể vì nó thấy ánh mắt chị, có thể vì nó đã mất hứng với trò chơi, cũng có thể vì nó phải lòng Frieda, vì gì đi nữa thì Woodrow cũng mang vẻ kinh hoảng vừa đủ lâu để cho chị thêm can đảm.
“Để nó yên, không tao đi kể hết cho mọi người nghe mày làm gì đấy!”
Woodrow không nói gì, nó chỉ cụp mắt.
Bay Boy lên giọng, “Cứ kể đi, con kia. Không ai cản mày đâu.”
“Mày câm miệng lại, Đầu Đạn.” Tôi đã nói lại được.
“Mày kêu ai Đầu Đạn?”
“Tao kêu mày Đầu Đạn đó, Đầu Đạn.”
Frieda nắm tay Pecola. “Mình đi.”
“Mày có muốn phù mỏ không?” Bay Boy dứ nắm đấm lại tôi.
“Muốn đó. Đấm thử tao xem.”
“Rồi mày coi.”
Maureen lù lù xuất hiện ngay cạnh tôi, bọn con trai có vẻ miễn cưỡng tiếp tục dưới cặp mắt mùa xuân mở to đầy hứng thú của nó. Chúng lúng túng cụp đuôi, không sẵn lòng nện ba đứa con gái dưới cái nhìn canh chừng của nó. Nên chúng nghe theo bản năng giống đực mới chớm khuyên bảo chúng giả đò như chúng tôi không đáng để chúng bận tâm.
“Đi thôi mày.”
“Ờ. Đi thôi. Bọn mình không rảnh đâu mà giỡn tụi nó.”
Miệng làu bàu dăm tính ngữ dửng dưng, chúng bỏ đi.
Tôi lượm vở của Pecola và áo khoác của Frieda lên, rồi bốn đứa chúng tôi rời sân chơi.
“Thằng Đầu Đạn, nó lúc nào cũng ăn hiếp con gái.”
Frieda đồng tình với tôi. “Cô Forrester nói nó bất trị.”
“Thật hả?” Tôi không biết từ đó nghĩa là gì, nhưng nó có đủ âm vang tận diệt để đúng là Bay Boy.
Trong lúc Frieda với tôi tiếp tục cười khùng khục về vụ ẩu đả hụt thì Maureen, bỗng sôi nổi lên, khoác cánh tay mặc áo nhung vào cánh tay Pecola rồi làm như chúng là bạn thân nhất đời.
“Mình mới chuyển đến đây. Mình tên Maureen Peal. Còn bạn tên gì?”
“Pecola.”
“Pecola? Không phải đó là tên đứa con gái trong Ảo ảnh cuộc đời sao?”
“Mình không biết. Đó là gì?”
“Phim đó mà. Trong đó đứa con gái da trắng lai đen căm ghét mẹ nó vì bà da đen và xấu xí nhưng rồi lại khóc ở đám tang. Câu chuyện thật là buồn. Trong đó ai cũng khóc. Cả Claudette Colbert luôn.”
“À.” Giọng Pecola không hơn một tiếng thở dài.
“Mà thôi, nó cũng tên Pecola. Nó xinh lắm. Bao giờ họ chiếu lại, mình sẽ đi xem lần nữa. Mẹ mình xem bốn lần rồi.”
Frieda và tôi đi đằng sau, ngạc nhiên vì Maureen thân thiện với Pecola, nhưng cũng hài lòng. Có thể thực ra nó cũng không xấu xa lắm. Frieda trùm lại áo khoác lên đầu, và hai chị em tôi, cứ trùm như vậy, vừa lon ton đi vừa thưởng thức làn gió ấm và hành động anh hùng của Frieda.
“Bạn học chung lớp thể dục với mình đúng không?” Maureen hỏi Pecola.
“Phải.”
“Hai giò cô Erkmeister đúng là cong vòng. Mình dám chắc cô nghĩ giò cô đẹp. Sao cô được mặc quần soóc hẳn hoi, còn bọn mình phải mặc mấy cái quần túm xưa rích đó? Mỗi lần mặc mình muốn chết quách cho xong.”
Pecola nhoẻn cười nhưng không nhìn Maureen.
“Ê.” Maureen đứng phắt lại. “Có một tiệm Isaley kìa. Muốn ăn kem không? Mình có tiền đây.”
Nó kéo dây khóa một cái túi giấu trong mũ lông rồi rút ra tờ một đô xếp nhỏ. Tôi tha thứ cho nó về mấy đôi tất ngang gối.
“Chú mình kiện tiệm Isaley.” Maureen nói với ba đứa tôi. “Chú kiện tiệm Isaley ở Akron. Họ nói chú mất trật tự và vì vậy họ sẽ không bán cho chú, nhưng một người bạn của chú là cảnh sát vào làm chứng, nên vụ kiện trôi chảy.”
“Kiện là gì?”
“Đó là khi nếu muốn ta có thể cho họ một trận mà sẽ không ai làm gì. Gia đình mình làm vậy luôn luôn. Nhà mình tin vào các vụ kiện.”
Đến bên cửa vào tiệm Isaley, Maureen quay qua Frieda và tôi hỏi, “Mấy bạn có vào mua kem không?”
Chị em tôi nhìn nhau. “Không,” Frieda đáp.
Maureen biến vào trong tiệm với Pecola.
Frieda điềm nhiên nhìn xuôi con phố; tôi mở miệng, nhưng mau chóng khép lại. Việc cực kỳ quan trọng là thiên hạ không biết rằng tôi khấp khởi mong Maureen mua kem cho chị em tôi, rằng trong một trăm hai mươi giây vừa qua tôi đã chọn vị, rằng tôi đã đâm thích Maureen, và rằng hai chị em tôi không ai có xu nào.
Chúng tôi đoán là Maureen đang tỏ ra tử tế với Pecola vì chuyện đám con trai, và ngượng khi bị bắt quả tang - ngay cả giữa chị em với nhau - khi nghĩ rằng nó sẽ đãi chúng tôi, hay rằng chúng tôi cũng xứng đáng được đãi như Pecola.
Hai đứa con gái bước ra. Pecola có hai viên kem vị cam dứa, Maureen có vị mâm xôi đen.
“Mấy bạn lẽ ra nên mua,” nó nói. “Họ có bán đủ loại. Đừng ăn xuống tận đuôi cây ốc quế,” nó khuyên Pecola.
“Tại sao?”
“Vì trong đó có ruồi.”
“Sao bạn biết?”
“Ồ, cũng không hẳn. Có con bé kể mình nghe có lần nó thấy một con dưới đuôi cây kem, nên từ đó nó vất chỗ đó đi.”
“À.”
Chúng tôi đi ngang nhà hát Dreamland, và Betty Grable nhoẻn cười nhìn xuống chúng tôi.
“Bạn không thích cô ta sao?” Maureen hỏi.
“Ừ hửm,” Pecola đáp.
Tôi nói khác. “Hedy Lamarr hay hơn.”
Maureen đồng tình. “Ồồồồồ phải. Mẹ kể mình nghe có con nhỏ tên Audrey, nó đến tiệm làm đẹp chỗ nhà mình sống trước kia, rồi yêu cầu bà chủ tiệm làm tóc cho nó giống Hedy Lamarr, rồi bà chủ nói, ‘Ừ, khi nào cháu mọc được ít tóc như Hedy Lamarr đã’.” Nó cười hồi lâu, vẻ dễ thương.
“Nghe như bị điên vậy,” Frieda nói.
“Đúng đấy. Bạn có biết nó còn chưa có kinh nữa, mà nó mười sáu tuổi rồi. Bạn có chưa?”
“Rồi.” Pecola liếc nhìn chúng tôi.
“Mình cũng rồi.” Maureen không tìm cách che giấu niềm hãnh diện. “Mình bắt đầu có hai tháng trước. Nhỏ bạn của mình ở Toledo, chỗ nhà mình sống lúc trước, nói khi nó mới bị nó sợ muốn chết. Tưởng nó tự giết mình rồi không.”
“Bạn có biết cái đó để làm gì không?” Pecola hỏi như thể hy vọng chính nó sẽ trả lời.
“Để có con.” Maureen nhướng cặp mày như nét bút chì trước câu hỏi hiển nhiên. “Em bé cần máu khi ở trong bụng mình, nên nếu có thai, mình sẽ không có kinh. Nhưng khi không có thai thì mình không phải để dành máu, nên nó tuôn ra ngoài.”
“Em bé nhận máu cách nào?” Pecola hỏi.
“Qua cuống rốn. Bạn biết đó. Nơi có lỗ rốn ấy. Đó là nơi cuống rốn mọc lên và bơm máu cho em bé.”
“Vậy, nếu lỗ rốn là để mọc cuống rốn truyền máu cho em bé, mà chỉ con gái mới có con, sao con trai cũng có rốn?”
Maureen ngập ngừng. “Mình không biết,” nó thú nhận. “Nhưng bọn con trai có đủ thứ chúng không cần.” Tiếng cười khanh khách của nó không hiểu sao mạnh hơn tiếng cười căng thẳng của chúng tôi. Nó uốn lưỡi quanh mép cây ốc quế, liếm lên một cục màu tím làm tôi ứa nước mắt. Chúng tôi chờ đèn đường đổi màu. Maureen cứ đưa lưỡi liếm kem quanh mép cây ốc quế, nó không gặm quanh mép như tôi nếu tôi ăn. Lưỡi nó liếm vòng quanh cây ốc quế. Pecola đã ăn xong kem của mình, còn Maureen rõ ràng là cái gì cũng thích cà kê. Trong khi tôi nghĩ về cây kem của nó, chắc hẳn nó đang nghĩ về câu nó vừa nói, vì nó nói với Pecola, “Bạn thấy đàn ông ở truồng bao giờ chưa?”
Pecola chớp mắt, rồi ngoảnh mắt đi. “Chưa. Mình thấy đàn ông trần truồng ở đâu được?”
“Mình không biết. Hỏi vậy thôi.”
“Có thấy thì mình cũng không nhìn đâu. Vậy là tục tĩu. Ai mà muốn thấy đàn ông trần truồng?” Pecola căng thẳng. “Không có người cha nào lại đi trần truồng trước mặt con gái mình cả. Trừ khi ông ta cũng tục tĩu?”
“Mình có nói ‘cha’ đâu. Mình chỉ nói ‘đàn ông trần truồng’ mà.”
“Thì...”
“Sao bạn lại nói ‘cha’?” Maureen muốn biết.
“Chứ nó còn thấy ai nữa hả, răng nanh?” Tôi mừng húm khi có dịp nổi cơn tam bành. Không chỉ vì cây kem, mà còn vì chúng tôi đã thấy cha mình trần truồng và không cần được nhắc nhớ lại chuyện đó rồi cảm thấy nỗi xấu hổ dâng lên bởi khi thấy cha chúng tôi không xấu hổ. Ông luôn đi dọc hành lang từ nhà tắm về phòng ngủ, ngang qua cánh cửa mở nơi phòng chị em tôi. Chúng tôi nằm đó mắt mở thao láo. Ông dừng lại ngó đầu vào, cố nhìn trong bóng tối xem liệu chúng tôi đã ngủ hẳn chưa - hay là ông đang tưởng tượng ra những con mắt mở đang nhìn mình? Dường như ông tự thuyết phục mình là chúng tôi đang ngủ. Ông bỏ đi, tin chắc rằng mấy cô con gái nhỏ của mình sẽ không nằm mở mắt như vậy, trừng trừng, trừng trừng. Khi ông đi qua rồi, bóng tối chỉ mang ông, chứ không mang cái trần truồng của ông đi. Thứ đó ở lại trong phòng với chúng tôi. Thật thân tình.
“Tao không nói với mày,” Maureen nói. “Với lại, tao không cần biết nó có thấy cha nó trần truồng không. Nếu muốn thì nó cứ nhìn ông ta cả ngày cũng được. Ai quan tâm?”
“Mày chứ ai,” Frieda nói. “Mày chỉ nói mỗi chuyện đó.”
“Không phải thế.”
“Có phải thế. Con trai, em bé, rồi người cha trần truồng của ai đó. Chắc hẳn mày là đồ mê trai.”
“Mày im đi.”
“Ai bắt tao được nào?” Frieda đưa tay lên chống nạnh, vênh mặt lên với Maureen.
“Tụi mày rặt một khuôn. Mẹ đẻ ra.”
“Cấm mày nhắc đến mẹ tao.”
“Thì cấm mày nhắc đến cha tao.”
“Ai nhắc gì đến cha mày đâu?”
“Mày nhắc.”
“Ủa, mày nói trước mà.”
“Tao còn chẳng nói với mày nữa kìa. Tao đang nói với Pecola mà.”
“Phải rồi. Nói chuyện thấy cha nó trần truồng.”
“Vậy nó thấy thì sao nào?”
Pecola gào lên, “Tao chưa bao giờ thấy cha trần truồng. Chưa bao giờ.”
“Mày cũng ở truồng,” Maureen độp lại. “Bay Boy nói vậy đó.”
“Tao không có.”
“Mày có.”
“Tao không có.”
“Có. Cha mày cũng vậy nữa!”
Pecola rụt đầu lại - một động tác buồn cười, buồn bã, và bất lực. Một kiểu khom vai, rụt cổ, như thể nó muốn bịt tai lại.
“Cấm mày nói về cha nó,” tôi nói.
“Tao quan tâm quái gì ông già da đen của nó?” Maureen hỏi.
“Đen hả? Mày kêu ai đen?”
“Mày!”
“Mày nghĩ mày xinh quá đấy!” Tôi vung tay lên đánh nó nhưng trật, tay văng trúng mặt Pecola. Giận sôi vì sự vụng về của mình, tôi liệng vở vào nó, nhưng vở bay trúng phía sau thắt lưng áo nhung của nó, vì nó đã quay người chạy ù qua làn xe trên đường.
An toàn bên kia rồi, nó ré về phía chúng tôi, “Tao mới xinh! Còn tụi mày xấu xí! Đen và xấu xí đen thủi đen thui. Tao mới xinh!”
Nó chạy xuôi đường, đôi tất ngang gối màu xanh lục khiến giò nó trông như cọng bồ công anh dại không hiểu sao đã mất hoa. Sức nặng trong câu nói của nó làm chúng tôi lặng người, và phải một hai giây sau Frieda và tôi mới hoàn hồn đủ để gào lên, “Bánh Kem Chanh Răng Nanh Sáu Ngón!” Chúng tôi ê a thứ uy lực nhất trong kho vũ khí thóa mạ mình có chừng nào chúng tôi còn thấy hai cọng xanh lá và lông thỏ.
Người lớn cau mày với ba đứa con gái bên vệ đường, hai đứa trùm áo khoác trên đầu, cổ áo đóng khung lông mày như áo nữ tu, nịt tất đen ló ra đoạn bấu chặt vào phần cổ đôi tất nâu chỉ vừa che đầu gối, gương mặt giận dữ sưng sỉa như những bông súp lơ đen.
Pecola đứng cách chúng tôi một quãng, mắt xoay về hướng Maureen đã bỏ chạy. Nó có vẻ gập người lại, như chiếc cánh xếp. Nỗi đau của nó làm tôi khổ sở. Tôi muốn mở nó ra, vò nhàu các mép, cắm cái que dọc sống lưng khom gập đó, buộc nó phải đứng thẳng người lên và nhổ toẹt nỗi khốn khổ xuống đường. Nhưng con bé giữ trong lòng để nỗi khổ sở dềnh lên mắt nó.
Frieda giật áo khoác trên đầu xuống. “Về thôi, Claudia. Chào nghe Pecola.”
Mới đầu chị em tôi bước nhanh, rồi chậm lại, chốc chốc dừng chân để buộc lại nịt tất, thắt dây giày, gãi, hay săm soi mấy vết thẹo cũ. Chúng tôi đang chìm nghỉm dưới cái thông thái, súc tích và thích đáng trong mấy chữ cuối của Maureen. Nếu nó xinh đẹp - và nếu có gì tin được thì nó xinh thật - vậy thì chúng tôi không xinh. Mà thế nghĩa là sao? Chúng tôi thấp kém hơn. Tử tế hơn, thông minh hơn, nhưng vẫn thấp kém hơn. Búp bê chúng tôi có thể phá nát, nhưng chúng tôi không thể đập nát cái giọng mía lùi của cha mẹ cô dì, cái ngoan ngoãn trong mắt bọn đồng trang lứa, ánh lung linh trong mắt thầy cô khi họ bắt gặp những Maureen Peal trên đời. Bí ẩn là gì? Chúng tôi thiếu gì? Sao nó lại quan trọng? Mà vậy thì đã sao? Chân thật và không tự phụ mà nói thì chúng tôi vẫn yêu bản thân mình. Chúng tôi thấy thoải mái trong da thịt mình, vui thích những gì giác quan cho mình biết, thán phục cáu ghét của mình, vun vén những vết thẹo của mình, nên không hiểu nổi cái bất xứng này. Ganh tị thì chúng tôi hiểu và cho là tự nhiên - mong muốn có cái người khác có; nhưng đố kỵ là cảm giác mới mẻ, lạ lùng đối với chúng tôi. Và trong khi đó chúng tôi vẫn biết rằng Maureen Peal không phải Kẻ Thù và không đáng bị căm ghét dữ dội như vậy. Thứ đáng sợ là Thứ làm cho nó xinh đẹp, còn chúng tôi thì không.
Căn nhà im ắng khi chúng tôi mở cửa vào. Mùi hăng của củ cải đang sôi làm hai bên má chúng tôi tứa đầy nước bọt chua.
“Mẹ ơi!”
Không có tiếng đáp, nhưng có tiếng chân. Ông Henry lệt bệt xuống cầu thang. Một cẳng chân to, nhẵn nhụi chìa ra ngoài áo choàng tắm.
“Ơi chào Greta Garbo, chào Ginger Rogers.” Chúng tôi khinh khích cười với ông theo kiểu ông đã quen thuộc. “Chào ông Henry. Mẹ cháu đâu?”
“Bà lại nhà bà mấy đứa rồi. Nhắn mấy đứa tắt nồi củ cải rồi ăn chút bánh quy giòn chờ bả về. Bánh trong bếp.”
Chúng tôi không nói không rằng ngồi bên bàn bếp, bẻ vụn bánh làm ụ kiến. Lát sau ông Henry lại xuống cầu thang. Giờ ông mặc quần dài bên dưới áo choàng.
“Nói nghe này. Mấy đứa thích ăn kem không?”
“Dạ có, thưa ông.”
“Đây. Hai nhăm xu đây. Lại đằng Isaley mua kem ăn đi. Mấy đứa ngoan mà phải không?”
Mấy chữ màu xanh lá nhạt của ông trả lại sắc màu cho ngày hôm đó. “Dạ phải, thưa ông. Cảm ơn ông Henry. Nếu mẹ về thì ông nói mẹ giùm bọn cháu được không?”
“Được. Nhưng cũng phải lát nữa bả mới về.”
Không mặc áo khoác, chúng tôi rời nhà và đã đi đến tận góc đường thì Frieda mới nói, “Chị không muốn tới Isaley.”
“Cái gì?”
“Chị không muốn ăn kem. Chị muốn ăn khoai tây chiên.”
“Ở Isaley cũng có khoai tây chiên mà.”
“Chị biết, nhưng sao phải đến tận đó? Bà Bertha cũng có khoai tây chiên.”
“Nhưng em thích ăn kem.”
“Không đâu, Claudia.”
“Em thích mà.”
“Vậy thì em cứ tới Isaley đi. Chị tới tiệm bà Bertha.”
“Nhưng chị cầm hai nhăm xu mà, với lại em cũng không muốn đi tít tới đó một mình.”
“Vậy mình đến tiệm bà Bertha đi. Em thích kẹo của bả mà đúng không?”
“Nó lúc nào cũng ôi, mà bả thì lúc nào cũng hết đồ.”
“Bữa nay thứ Sáu. Bà đặt hàng mới mỗi thứ Sáu.”
“Rồi còn lão điên Nhà Thờ Đầu Xà Phòng sống ở đó nữa.”
“Thì có sao đâu? Mình đi với nhau mà. Nếu lão làm gì thì mình bỏ chạy.”
“Lão làm em thấy sợ.”
“Chị thì không muốn tới Isaley. Bánh Kem Chanh còn quanh quẩn ở đó thì sao. Em muốn đụng mặt nó hả, Claudia?”
“Thì đi, Frieda. Em sẽ mua kẹo.”
Bà Bertha có một tiệm nhỏ bán kẹo, thuốc hít, và thuốc lá. Một căn phòng gạch đứng trong sân trước nhà bà. Ta phải ló mắt nhìn qua cửa, và nếu bà không có đó, ta phải gõ cửa nhà bà ở đằng sau. Ngày hôm đó bà ngồi sau quầy đọc Kinh Thánh dưới vạt nắng.
Frieda mua khoai tây chiên, rồi chúng tôi mua ba thanh kẹo Powerhouse giá mười xu, và còn lại một hào. Chúng tôi nhanh chân về nhà để ngồi dưới mấy bụi tử đinh hương bên hông nhà. Chị em tôi luôn nhảy Vũ điệu Kẹo ở đó để Rosemary thấy và ghen tị. Vũ điệu Kẹo kết hợp giữa ngâm nga, nhảy chân sáo, giậm chân, ăn, nhai chóp chép mà chúng tôi bất chợt nổi hứng làm khi ăn đồ ngọt. Đang chui vào giữa mấy bụi cây và hông nhà thì chúng tôi nghe thấy có tiếng cười nói. Chúng tôi nhìn vào cửa sổ phòng khách, tưởng sẽ thấy mẹ. Thế nhưng chúng tôi thấy mỗi ông Henry và hai người phụ nữ ở đó. Theo kiểu bông đùa, cách mà các ngoại vẫn làm với bé con, ông mút ngón tay của một chị, mà tiếng cười của chị ta lấp đầy khoảng không bé xíu trên đầu ông. Chị kia thì đang cài nút áo khoác. Chúng tôi biết ngay họ là ai, và chúng tôi nổi da gà. Một người là Trung Hoa, còn người kia gọi là Tuyến phòng thủ Maginot. Gáy tôi râm ran. Đây là mấy cô gái điếm móng tay sơn đỏ thẫm mà mẹ và bà ngoại ghét. Mà lại trong nhà chúng tôi.
Trung Hoa trông không khủng khiếp lắm, ít nhất trong tưởng tượng của chúng tôi. Chị ta gầy, già đi, đãng trí, và không hung hãn. Nhưng còn Tuyến phòng thủ Maginot. Đó là người mà mẹ tôi bảo “không đời nào để cho dùng dĩa của tao”. Đó là người mà hội phụ nữ đi nhà thờ không đời nào thèm để mắt nhìn. Đó là người từng giết người, châm lửa thiêu họ, đầu độc họ, nấu họ trong nước kiềm. Mặc dù tôi nghĩ mặt Tuyến phòng thủ Maginot ẩn dưới cơ man là mỡ đó thật ra rất dễ thương, tôi đã nghe quá nhiều điều xấu xa và giận dữ về chị ta, thấy quá nhiều khuôn miệng trề ra khi nghe nhắc tên chị ta, để mà nhìn ra được nét cứu rỗi nào chị ta có thể có.
Cười nhe hàm răng ố vàng, Trung Hoa có vẻ thật tình thích ông Henry. Cảnh tượng ông liếm ngón tay chị gợi nhắc đến đống tạp chí con gái trong phòng ông. Một cơn gió lạnh lùa đâu đó trong tôi, thổi tốc những chiếc lá bé nhỏ hãi hùng và khát khao u tối. Tôi nghĩ mình thấy chút hoang liêu thoảng qua mặt Tuyến phòng thủ Maginot. Nhưng cũng có thể cái tôi thấy là hình ảnh chính mình trong hai lỗ mũi từ từ phình ra của chị ta, trong đôi mắt làm tôi nghĩ đến những thác nước trong phim ảnh về Hawaii.
Tuyến phòng thủ Maginot ngáp và nói, “Về thôi, Trung Hoa. Mình không la cà ở đây cả ngày được đâu. Nhà người ta sắp về rồi.” Chị ta tiến tới cửa.
Frieda và tôi ngồi thụp xuống đất, hoảng loạn nhìn vào mắt nhau. Khi hai người phụ nữ đi được một quãng, chúng tôi vào nhà. Ông Henry đang ở trong bếp khui chai nước ngọt.
“Đã về rồi à?”
“Dạ, thưa ông.”
“Ăn hết kem rồi à?” Hàm răng nhỏ xíu của ông trông rất hiền lành và ngu ngơ. Có thật đó là ông Henry của chúng tôi với mấy ngón tay của Trung Hoa không?
“Bọn cháu mua kẹo rồi.”
“Vậy hả? Cô Greta Garbo hảo ngọt.”
Ông chùi hơi lạnh trên chai rồi đưa lên môi - một cử chỉ khiến tôi thấy không được thoải mái.
“Mấy chị đó là ai vậy ông Henry?”
Ông sặc nước ngọt và nhìn Frieda. “Cháu nói sao?”
“Mấy chị đó,” chị lặp lại, “mấy người vừa về. Họ là ai?”
“À.” Ông cười cái kiểu người-lớn-chuẩn-bị-sẵn-sàng-nói-dối. Điệu he he mà chúng tôi biết thừa.
“Họ là mấy người trong lớp Kinh Thánh của chú. Bọn chú đọc kinh với nhau, nên bữa nay họ đến để đọc với chú.”
“À,” Frieda nói. Tôi đang nhìn đôi dép ông mang trong nhà để khỏi thấy hàm răng thân thiện đó bày đặt một câu nói dối. Ông bước về phía cầu thang rồi quay lại phía chúng tôi.
“Thôi đừng nói mẹ chuyện đó. Bả không thích chuyện học Kinh Thánh gì mấy đâu và không thích chú có khách, dù cho họ là tín đồ Cơ Đốc tử tế.”
“Không đâu, thưa ông Henry. Bọn cháu không nói đâu.”
Ông lẹ làng lên cầu thang.
“Mình có nên nói không?” tôi hỏi. “Nói mẹ nghe?”
Frieda thở dài đánh sượt. Chị còn chưa mở thanh kẹo Powerhouse hay khoai tây chiên, và giờ đây chị lần ngón tay theo chữ in trên giấy gói kẹo. Bất chợt chị ngẩng đầu lên nhìn quanh quất trong bếp.
“Không. Chị nghĩ là không nên. Không thấy cái dĩa nào bị lấy ra cả.”
“Dĩa á? Chị nói gì vậy?”
“Không thấy cái dĩa nào bị lấy ra cả. Tuyến phòng thủ Maginot không lấy dĩa của mẹ ra ăn. Với lại, nói mẹ nghe rồi mẹ sẽ la lối cả ngày thôi.”
Chúng tôi ngồi xuống và nhìn mấy ụ kiến bánh quy xốp mình bày ra.
“Mình nên tắt nồi củ cải đi. Nó mà khét là mẹ quất bọn mình đó,” chị nói.
“Em biết rồi.”
“Nhưng nếu mình để cho nó khét luôn thì mình khỏi phải ăn.”
“Ái chà chà, ý hay quá,” tôi nghĩ.
“Em muốn cái nào? Bị ăn roi và không phải ăn củ cải, hay ăn củ cải thì khỏi ăn roi?”
“Em cũng không biết nữa. Hay là mình để nó khê chút thôi để mẹ với cha ăn được, còn mình thì nói mình không thể nào ăn nổi.”
“Được.”
Tôi biến ụ kiến của mình thành ngọn núi lửa.
“Frieda ơi?”
“Gì?”
“Woodrow làm gì mà chị định đi nói đó?”
“Đái dầm. Bà Cain nói mẹ là nó không chịu chừa.”
“Thấy gớm.”
Trời tối dần, tôi nhìn ra cửa sổ và trông thấy tuyết rơi. Tôi chọt ngón tay xuống miệng núi lửa, nó đổ nghiêng, văng những hạt vàng tan tác thành từng lốc xoáy nhỏ. Nồi củ cải nổ lét đét.
[1]
Bánh kem chanh.
NHÌNCONMÈOXEMNÓKÊUMEOMEOLẠIĐÂYCHƠIĐILẠICHƠIVỚIJANEMÈOCONKHÔNGCHỊUCHƠICHƠICHƠICHƠ
Họ từ Mobile đến. Aiken. Từ Newport News. Từ Marietta. Từ Meridian. Âm thanh những nơi này phát ra trong miệng họ khiến ta nghĩ đến tình yêu. Khi ta hỏi họ từ đâu tới, họ nghiêng đầu nói “Mobile” và ta nghĩ mình vừa được hôn. Họ nói “Aiken” và ta thấy một cánh bướm trắng lấp loáng bên hàng rào với một bên cánh rách. Họ nói “Nagadoches” và ta muốn nói “Được, tôi bằng lòng.” Ta không biết mặt mũi mấy thành phố này ra sao, nhưng ta thích cái không khí biến đổi khi họ mở miệng thốt ra những cái tên này.
Meridian. Âm thanh đó mở toang cửa sổ một căn phòng như bốn nốt đầu bài thánh ca. Không mấy người có thể nói tên quê nhà với cảm tình tinh quái như vậy. Có lẽ vì họ không có quê nhà, chỉ có nơi chốn sinh ra. Nhưng mấy cô gái này thấm sâu tinh túy nơi quê nhà, và nó còn mãi trong họ. Họ là đám con gái da nâu mảnh mai đã nhìn mãi hoa thục quỳ trong sân sau ở Meridian, Mobile, Aiken, và Baton Rouge. Và như hoa thục quỳ họ mảnh mai, dong dỏng, và thanh tĩnh. Rễ họ cắm sâu, thân họ vững chắc, và chỉ bông hoa trên cùng là gật đầu trong gió. Họ có đôi mắt của người biết xem giờ theo màu trời. Những cô gái như vậy sống trong những khu xóm da đen yên bình mà ai cũng làm công ăn lương. Nơi có xích đu treo trên dây xích. Nơi cỏ được cắt bằng lưỡi hái, nơi hoa mào gà và hoa mặt trời mọc trong sân, những chậu hoa huyết tâm, thường xuân và cây lưỡi hổ xếp hàng trên bậc thềm và bậu cửa sổ. Những cô gái như vậy mua dưa hấu và đậu cô ve từ xe người bán rau quả dạo. Bên cửa sổ họ để tấm bìa in đơn vị cân Anh trên cả ba cạnh - 10 cân, 25 cân, 50 cân - và in KHÔNG CÓ ĐÁ ở cạnh thứ tư. Mấy cô gái da nâu cá biệt đến từ Mobile và Aiken này không như một số chị em họ. Họ không gắt gỏng, nóng nảy, hay kêu la the thé; họ không có chiếc cổ đen yêu kiều rướn lên như thể đang choàng một cổ áo vô hình nào; mắt họ không châm chích. Mấy cô gái Mobile da bánh mật này đi qua phố mà không gây lao xao. Họ ngọt ngào và đơn sơ như bánh bông lan. Cổ chân thanh mảnh; bàn chân dài, hẹp. Họ tắm bằng xà phòng Lifebuoy màu cam, thoa phấn rôm Cashmere Bouquet, đánh răng bằng muối trên miếng giẻ, làm mịn da bằng sữa dưỡng thể Jergens. Họ có mùi như gỗ, giấy báo, và vani. Họ duỗi thẳng tóc bằng Dixie Peach, rồi rẽ một bên. Ban đêm họ cuốn tóc bằng giấy từ túi giấy xi măng, quấn khăn quàng in hoa trên đầu, và ngủ với hai tay xếp trên bụng. Họ không uống rượu, hút thuốc, hay chửi thể, và họ vẫn còn gọi tình dục là “giao hợp”. Họ hát giọng nữ trung trong dàn đồng ca, và dù giọng họ rõ và đều, họ không bao giờ được chọn lĩnh xướng. Họ đứng ở hàng thứ hai, áo trắng cứng như đanh, chân váy xanh gần như chuyển tím vì ủi.
Họ đi học trường được cấp đất công, trường sư phạm, và học cách phục vụ đàn ông da trắng sao cho tao nhã: học tề gia nội trợ để chuẩn bị thức ăn cho anh ta; học làm giáo viên để dạy trẻ con da đen vâng lời; học nhạc để xoa dịu ông chủ mệt mỏi và giải khuây cho tâm hồn cùn đụt của ông. Ở đây họ học phần còn lại của bài học đã bắt đầu trong những căn nhà nhu nhã có xích đu và mấy chậu hoa huyết tâm: cách cư xử. Cẩn thận tập tành tính dè sẻn, lòng kiên nhẫn, nền tảng đạo đức cao, và cư xử phải phép. Nói ngắn gọn là làm sao loại bỏ tính sôi nổi. Cái sôi nổi đáng sợ của đam mê, cái sôi nổi trong bản tính, sôi nổi của đủ mọi cung bậc cảm xúc con người.
Nơi nào nó bùng lên, thứ Sôi Nổi này, họ sẽ lau sạch đi; nơi nào nó đóng cứng, họ làm cho rã ra; nơi nào nó nhỏ giọt, ra hoa, hay bám dính, họ tìm ra nó và chiến đấu với nó cho đến khi nó chết thì thôi. Họ đánh trận này đến tận ngày xuống mồ. Tiếng cười hơi to quá, phát âm hơi tròn quá, cử chỉ hơi hào phóng quá. Họ thóp mông lại vì sợ mình đung đưa quá hồn nhiên; khi thoa son, họ không bao giờ thoa kín cả môi vì sợ quá dày, và họ lo, lo, lo ngay ngáy về viền tóc mình.
Họ dường như không bao giờ có bạn trai, nhưng họ luôn lấy chồng. Một số đàn ông nhìn họ, mà không có vẻ đang nhìn, biết rằng nếu có một cô gái như vậy trong nhà, anh ta sẽ ngủ trên chăn mền trụng trắng phau, phơi cho khô trên bụi cây bách xù, và ủi phẳng phiu bằng bàn ủi nặng. Sẽ có hoa giấy xinh xắn trang hoàng bức ảnh mẹ anh ta, một cuốn Kinh Thánh to để ở phòng trước. Họ thấy an tâm. Họ biết rằng áo quần đi làm của mình sẽ được khâu vá, giặt giũ, và ủi thẳng vào thứ Hai, rằng áo đi lễ Chủ nhật của họ sẽ căng phồng trên mắc áo nơi rầm cửa, được hồ cho cứng và trắng tinh. Họ nhìn hai bàn tay chị thì biết chị sẽ làm gì với bột nhồi bánh quy; họ ngửi thấy mùi cà phê và giăm bông chiên; thấy cháo yến mạch trắng thơm, nghi ngút khói với một miếng bơ bên trên. Hông chị cam đoan với họ rằng chị sẽ sinh con dễ dàng không đau đớn. Và họ đúng.
Cái họ không biết là cô gái da nâu giản dị này sẽ xây tổ ấm bằng từng cành cây một, biến nó thành thế giới bất khả xâm phạm của riêng mình, và đứng canh từng ngọn cây, cọng cỏ, và khăn lót, ngay cả là với anh ta. Chị sẽ lẳng lặng để ngọn đèn lại chỗ ban đầu chị để, dọn dĩa trên bàn khi họ vừa nuốt xong miếng cuối, chùi núm cửa sau khi có bàn tay dầu mỡ chạm vào. Một cái liếc mắt là đủ để anh ta biết phải hút thuốc ở hiên sau. Lũ con sẽ hiểu ngay tức thì là mình không được vào sân của chị để lượm lại trái bóng. Nhưng cánh đàn ông không biết những điều này. Họ cũng không biết rằng chị sẽ trao thân cho anh ta dè sẻn và từng chút một. Anh ta phải rón rén vào trong chị, vén tà áo ngủ của chị lên đến rốn mà thôi. Anh ta phải tì sức nặng thân mình lên cùi chỏ khi họ làm tình, bề ngoài để tránh làm đau hai bầu ngực chị nhưng kỳ thực là để chị khỏi phải động chạm hay cảm nhận anh ta quá nhiều.
Trong khi anh ta di chuyển bên trong chị, chị sẽ thắc mắc sao người ta không để các bộ phận cơ thể cần thiết nhưng riêng tư ở chỗ nào tiện hơn - như nách, chẳng hạn, hay lòng bàn tay. Một chỗ nào đó người ta có thể tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng nữa, mà không phải cởi đồ ra. Chị cứng người khi cảm thấy một lô cuốn tóc bằng giấy của chị bung ra do động tác ái ân, chị ghi nhớ trong đầu lô cuốn nào bung ra để còn nhanh chóng cài lại khi anh ta xong việc. Chị hy vọng anh ta sẽ không đổ mồ hôi - hơi ẩm có thể ngấm vào tóc chị; và giữa hai giò chị vẫn khô ráo - chị ghét tiếng lục khục hai giò tạo ra khi chị ẩm ướt. Khi chị đánh hơi thấy anh ta sắp co thắt, chị sẽ di chuyển hông nhanh, bấm móng tay vào lưng anh ta, nín thở, và giả như mình đang lên đỉnh. Chị có thể lại thắc mắc, lần thứ sáu trăm rồi, rằng cái cảm giác dương vật của chồng bên trong chị là như thế nào. Thứ gần giống cảm giác ấy nhất là lúc chị đang đi trên đường thì miếng giấy tuột khỏi đai vệ sinh. Nó xê dịch nhẹ giữa hai giò khi chị bước. Nhẹ nhàng, cứ nhẹ nhàng như vậy. Và rồi một cảm giác nhè nhẹ và khoái trá rõ rệt tụ lại nơi đáy quần chị. Vì cơn khoái cảm dâng lên, chị phải đứng lại giữa đường, kẹp hai đùi lại để kìm nén. Hẳn là nó giống như vậy, chị nghĩ, nhưng nó không bao giờ xảy ra khi anh ta ở trong chị. Khi anh ta rút lui, chị kéo áo ngủ xuống, nhẹ nhõm trườn khỏi giường để vào buồng tắm.
Đôi lúc một sinh vật sống nào đó chiếm được cảm tình của chị. Một chú mèo, chẳng hạn, chú sẽ thích sự trật tự, chính xác và nhất quán của chị; chú cũng sẽ sạch sẽ và yên ắng như chị. Chú mèo sẽ ngồi yên trên bậu cửa sổ và đưa mắt âu yếm chị. Chị có thể bồng chú, để hai chân sau của chú quơ cào tìm chỗ đặt chân trên ngực chị còn hai chân trước bám vào vai chị. Chị có thể xoa lớp lông mượt và cảm thấy da thịt thuận tình bên dưới. Chị chỉ chạm nhẹ là chú làm dáng, duỗi người và há miệng. Và chị sẽ chấp nhận cảm giác dễ chịu lạ lùng xảy đến khi chú uốn vặn dưới tay chị và mắt lim dim khoái trá. Khi chị đứng nấu nướng bên bàn thì chú quấn dưới ống quyển chị, và cái rung rung từ lớp lông chú cuộn theo hai giò chị lên đến đùi, để rồi mấy ngón tay chị hơi run run trong bột nhồi làm bánh.
Hoặc, khi chị ngồi đọc “Suy nghĩ Tích cực” trên Tạp chí Tự Do, chú mèo sẽ tót lên lòng chị. Chị sẽ vuốt ve chỗ lông mềm mại đùn lên đó và để hơi ấm từ thân con vật lan qua rồi lọt vào những chỗ kín quanh bụng. Có khi cuốn tạp chí rơi xuống, và chị tách hai giò ra chỉ chút xíu, và hai người họ sẽ im lìm cùng nhau, có lẽ xê dịch một chút với nhau, ngủ một chút với nhau, cho đến bốn giờ, khi kẻ đột nhập đi làm về lòng dợm băn khoăn bữa tối ăn gì.
Chú mèo sẽ luôn biết rằng chị yêu chú nhất. Ngay cả sau khi chị sinh một đứa con. Vì chị có sinh con - dễ dàng, và không đau đớn. Nhưng chỉ một đứa. Một thằng con trai. Tên Junior.
Một người con gái như vậy từ Mobile, hay Meridian, hay Aiken không đổ mồ hôi ở nách hay giữa hai đùi, có mùi gỗ và vani, làm bánh trứng rán phồng ở Khoa Nữ công Gia chánh, cùng với chồng là Louis chuyển đến Lorain, Ohio. Tên chị là Geraldine. Ở đó chị xây tổ ấm, ủi áo, trồng hoa huyết tâm trong chậu, chơi với mèo, và sinh ra Louis Junior.
Geraldine không cho phép thằng con Junior khóc. Chừng nào nhu cầu của nó còn là nhu cầu cơ bản thì chứng ấy chị sẽ đáp ứng - êm ấm và no nê. Nó luôn được chải tóc, tắm gội, thoa dầu, và mang giày. Geraldine không nói chuyện với nó, thủ thỉ với nó, hay tha hồ hôn hít nó, nhưng chị lo đáp ứng mọi mong muốn khác. Đứa trẻ sớm phát hiện ra sự khác biệt trong thái độ của mẹ với nó và với con mèo. Lớn hơn một chút, nó học cách hướng lòng căm hận mẹ sang con mèo, và tận hưởng những phút giây sung sướng nhìn con mèo chịu khốn khổ. Con mèo sống sót, vì Geraldine chẳng mấy khi xa nhà, và biết cách vỗ về con vật khi Junior hành hạ nó.
Geraldine, Louis, Junior và con mèo sống cạnh sân chơi của trường Washington Irving. Junior xem sân chơi là của riêng, còn bọn học trò thèm thuồng chuyện nó được tự do thức khuya, về nhà ăn trưa, và chiếm lĩnh sân chơi sau giờ học. Nó ghét thấy xích đu, cầu trượt, xà đu, và bập bênh vắng người nên cố xúi bọn trẻ ở lại càng lâu càng tốt. Bọn trẻ da trắng, mẹ nó không thích nó chơi với mọi đen. Chị giải thích cho nó sự khác biệt giữa dân da màu và mọi đen. Dễ nhận ra họ. Dân da màu tươm tất và yên tĩnh, mọi đen thì dơ bẩn và ồn ào. Nó thuộc về nhóm thứ nhất: nó mặc sơ mi trắng quần xanh; tóc cắt sát da đầu nhất có thể để tránh gợi nhớ đến len, thợ cắt tóc rẽ một đường ngôi trên tóc cho nó. Vào mùa đông mẹ nó thoa sữa dưỡng da Jergens lên mặt nó để da khỏi xám ngoét. Da thằng bé sáng nhưng vẫn có thể xám xịt đi. Lằn ranh phân định da màu và mọi đen không phải bao giờ cũng rõ ràng; những biểu hiện khó thấy và chí mạng chực xóa mờ lằn ranh đó, nên phải canh phòng thường trực.
Junior từng ao ước được chơi với bọn con trai da đen. Nó muốn chơi trò Vua Núi hơn hết thảy và để bọn chúng xô nó xuống gò đất rồi lăn mình lên nó. Nó muốn cảm nhận thân hình chúng cứng cáp đè trên nó, ngửi mùi da đen hoang dại của chúng, và thản nhiên dễ thương nói “Mả mẹ mày”. Nó muốn ngồi với chúng trên đá lát lề đường và đem so độ bén của dao xếp, độ xa và đường cong nước bọt chúng phun ra. Trong nhà vệ sinh nó muốn chia sẻ với chúng niềm vinh quang khi tè ra thật xa và lâu. Có thời Bay Boy và P. L. là thần tượng của nó. Dần dà nó mới đồng tình với mẹ rằng Bay Boy hay P. L. gì cũng không xứng với nó. Nó chỉ chơi với Ralph Nisensky thua nó hai tuổi, đeo kính cận, và không muốn làm gì cả. Càng ngày Junior càng khoái ăn hiếp bọn con gái. Khiến chúng ré lên bỏ chạy dễ quá chừng. Nó cười ngặt nghẽo khi chúng ngã kềnh ra để lộ quần túm. Khi chúng đứng dậy, mặt đỏ phừng nhăn nhúm, nó lấy làm hả hê. Mấy con bé mọi đen nó không chọc ghẹo nhiều. Chúng thường đi từng đám, và có lần nó ném đá vài đứa trong bọn, cả đám rượt theo, tóm được rồi đập cho nó một trận tởn thần. Nó nói dối mẹ, thưa là Bay Boy làm. Mẹ nó rất tức giận. Cha nó chỉ tiếp tục đọc Nhật báo Lorain.
Khi nổi hứng, nó sẽ gọi một đứa nhỏ đi ngang lại chơi xích đu hay bập bênh. Nếu đứa đó không chịu, hay chịu rồi về sớm quá, Junior sẽ ném sỏi vào nó. Nó thành tay ném cừ khôi.
Ở nhà hết buồn chán lại hoảng sợ, nó coi sân chơi là niềm vui. Vào một ngày đặc biệt rảnh rỗi, nó thấy một con bé đen thui thủi đi tắt qua sân chơi. Con bé đi mà đầu cứ cúi gằm. Nó đã thấy con bé này nhiều lần trước đây, đứng một mình, bao giờ cũng một mình, trong giờ ra chơi. Chưa từng có ai chơi với nó. Nó nghĩ chắc là vì con bé xấu hoắc.
Lúc này Junior gọi con bé. “Ê! Sao mày lại đi qua sân nhà tao thế?”
Con bé dừng bước.
“Không ai được đi qua sân này hết trừ khi tao cho.”
“Đây có phải sân của mày đâu. Của trường mà.”
“Nhưng tao cai quản nó.”
Con bé toan bỏ đi.
“Khoan đã.” Junior bước về phía nó. “Nếu muốn thì mày cứ chơi ở đó đi. Mày tên gì?”
“Pecola. Tao không muốn chơi.”
“Đi mà. Tao không phá mày đâu.”
“Tao phải về nhà.”
“Nói nghe, mày muốn xem cái này không? Tao cho mày xem cái này.”
“Không. Là gì đó?”
“Vào nhà tao đi. Thấy không, tao sống ngay kia kìa. Đi. Tao cho mày xem.”
“Xem cái gì?”
“Mèo con. Nhà tao có mấy con mèo con. Nếu muốn thì mày cứ bắt về một con.”
“Mèo con thật hả?”
“Ừ. Đi.”
Nó giật nhẹ váy con bé. Pecola cất bước về phía nhà thằng nhỏ. Khi biết con bé đã bằng lòng, Junior hứng chí chạy trước, chỉ dừng để quay lại ré lên kêu con bé đi tiếp. Nó giữ cửa cho con bé, nhoẻn cười khích lệ. Pecola bước lên mấy bậc tam cấp rồi ngập ngừng đứng đó, ngại không muốn theo thằng bé. Căn nhà có vẻ âm u. Junior nói, “Không có ai ở nhà đâu. Mẹ tao ra ngoài rồi, cha tao thì đi làm. Mày không muốn xem mèo con hả?”
Junior bật đèn. Pecola bước vào bên trong.
Đẹp quá, nó nghĩ bụng. Căn nhà đẹp quá chừng. Trên bàn ăn có một cuốn Kinh Thánh màu đỏ pha vàng kim to bự. Đâu đâu cũng lót những tấm khăn ren nhỏ - trên tay ghế và lưng ghế, ở chính giữa bàn ăn rộng, trên mấy bàn nhỏ. Cây kiểng để đầy trên tất cả bậu cửa sổ. Một bức ảnh Chúa Jesus in màu treo trên tường với hoa giấy thật xinh đính trên khung. Nó muốn xem hết mọi thứ thật từ từ, thong thả. Nhưng Junior cứ nói, “Ê mày. Đi. Đi nào.” Thằng nhỏ kéo nó vào một phòng khác, còn đẹp hơn phòng đầu tiên. Lại có khăn lót, một cây đèn to có đế màu vàng pha xanh lá và chao đèn trắng. Trên sàn còn trải cả thảm nữa, thêu hoa đỏ thẫm to tướng. Nó đang mải mê trầm trồ mấy bông hoa thì Junior nói, “Đây này!” Pecola quay lại. “Mèo con của mày nè!” thằng nhỏ rít lên. Rồi nó ném một con mèo đen to sụ vào ngay mặt con bé.
Con bé nín thở vì sợ hãi và ngạc nhiên rồi cảm thấy lông dính trong miệng. Con mèo cào vào mặt và ngực nó trong khi cố thẳng người lại, rồi lanh lẹ phóng xuống sàn.
Junior ôm bụng cười và khoải trá chạy vòng quanh.
Pecola sờ chỗ trầy trên mặt và thấy nước mắt chực trào. Khi nó toan bước về phía cửa, Junior vọt tới trước mặt.
“Mày không được đi. Mày là tù nhân của tao,” nó nói. Mắt nó hớn hở nhưng đanh rắn.
“Tránh cho tao đi.”
“Không!” Nó xô con bé xuống, chạy ra phía cánh cửa ngăn đôi hai phòng, và giữ chặt lại bằng cả hai tay. Pecola càng đập cửa càng làm cho tiếng cười của thằng nhỏ the thé, hổn hển hơn.
Nước mắt giàn giụa, con bé đưa tay lên ôm mặt. Khi có gì đó mềm mại và đầy lông động đậy quanh cổ chân nó, nó giật thót, rồi nhìn ra con mèo. Con mèo quấn ra quấn vào quanh chân nó. Quên nỗi sợ trong chốc lát, nó ngồi xổm xuống sờ con mèo, hai tay ướt nguyên nước mắt. Con mèo cụng cọ đầu gối nó. Con mèo đen tuốt cả thân mình, đen nhánh, còn hai mắt nó, chúc xuống phía mũi, có màu xanh lá ngả sang lam. Dưới ánh đèn chúng sáng như băng màu xanh lam. Pecola xoa xoa đầu con mèo; nó kêu rù rù, lưỡi lóp lép khoái trá. Cặp mắt xanh trên khuôn mặt đen tuyền cuốn hút con bé.
Tò mò vì không nghe con bé nức nở, Junior mở cửa, và thấy con bé ngồi xổm vuốt lưng con mèo. Nó thấy con mèo rướn đầu và lim dim mắt. Nó đã nhiều lần thấy dáng vẻ đó khi con vật phản ứng lại cái vuốt ve của mẹ nó.
“Trả con mèo đây cho tao!” Giọng nó vỡ ra. Bằng một động tác vừa lóng ngóng vừa dứt khoát nó nắm một chân sau của con mèo mà giật rồi xoay tít nó trên đầu.
“Thôi đi!” Pecola thét lên. Mấy bàn chân còn tự do của con mèo cứng quắp, chực chộp bất cứ thứ gì để lấy lại thăng bằng, miệng nó há ra, đôi mắt chỉ còn là hai vệt xanh lam khiếp đảm.
Pecola vừa thét lên vừa chộp lấy bàn tay Junior. Nó nghe váy mình rách toạc dưới cánh tay. Junior cố xô nó ra, nhưng nó chộp được cánh tay đang vung con mèo. Cả hai ngã lăn, và khi ngã, Junior buông con mèo, mà vì bị thả giữa chừng nên con mèo văng đập lên cửa sổ. Nó trượt vèo xuống trúng lò sưởi điện đằng sau xô-pha. Không kể dăm ba cái giần giật thì nó im phắc. Chỉ thoảng chút mùi lông cháy khét.
Geraldine mở cửa bước vào.
“Chuyện gì đây vậy?” Giọng chị ôn tồn, như thể hỏi một câu hết sức hợp lý. “Con nhỏ nào đây?”
“Nó làm con mèo nhà mình chết đó,” Junior nói. “Mẹ nhìn kìa.” Nó chỉ về cái lò sưởi, chỗ con mèo nằm, đôi mắt xanh lam khép lại, chỉ còn lại một bộ mặt trống rỗng, đen thui, vô vọng.
Geraldine đi lại lò sưởi xách con mèo lên. Nó mềm oặt trong tay chị, nhưng chị cạ mặt lên lông nó. Chị nhìn Pecola. Thấy chiếc váy rách bẩn thỉu, bím tóc vểnh trên đầu, tóc dính bết ở chỗ bím xổ ra, đôi giày nhơ nhuốc bùn lấp ló miếng kẹo gôm giữa hai đế giày rẻ tiền, tất lấm lem, một bên bị giẫm lún xuống gót giày. Chị thấy cây kim băng gài lai váy lên. Qua chỗ gồ trên lưng con mèo chị nhìn nó. Cả đời chị đã thấy con bé này. Thò người ra cửa sổ bên trên các quán rượu ở Mobile, bò trên hiên những ngôi nhà hẹp sâu hoắm ngoài rìa thành phố, ngồi bên bến xe buýt ôm túi giấy và khóc với người mẹ cứ luôn miệng nói “Nính ngay!” Tóc xù xợp, váy xộc xệch, giày sút dây và đóng khớm đất. Chúng nhìn chị chòng chọc với cặp mắt băn khoăn thắc mắc. Những cặp mắt không hỏi gì mà đòi đủ thứ. Không chớp mắt và không bối rối, chúng nhìn chị chằm chặp. Tận thế nằm trong mắt chúng, và khởi nguyên, và mọi điêu tàn xen giữa.
Chúng ở khắp mọi nơi. Chúng ngủ sáu đứa chung một giường, đêm nào nước tiểu chúng cũng trộn lẫn vào nhau bởi chúng đái dầm trong lúc mỗi đứa đang mơ giấc mơ kẹo-ngọt-và-khoai-tây-chiên riêng mình. Những ngày dài, nóng nực, chúng ngồi vẩn vơ, cạy vữa trên tường và dùng que chọt đất. Chúng ngồi từng hàng mấy đứa bên lề đường, chen chúc ngồi ghế trong nhà thờ, chiếm chỗ của bọn trẻ da màu tử tế, tinh tươm; chúng làm trò hề trên sân chơi, làm bể đồ trong tiệm tạp hóa, chạy trước mặt ta ngoài đường, biến vỉa hè dốc thành cầu tuột băng vào mùa đông. Bọn con gái lớn lên không biết gì về nịt tất, còn bọn con trai tuyên bố vẻ nam tính bằng cách xoay vành mũ lưỡi trai ra sau. Nơi chúng sống cỏ không mọc nổi. Hoa héo. Bóng râm đổ xuống. Nơi chúng sống lon hộp và lốp xe la liệt. Chúng sống bằng đậu trắng nguội lạnh và nước ngọt vị cam. Chúng chờn vờn như ruồi, chúng đậu như ruồi. Và đứa này đã đậu trong nhà chị. Chị nhìn qua chỗ gồ trên lưng con mèo.
“Cút ra,” chị nói, giọng chị điềm tĩnh. “Đồ chó cái da đen nhãi nhép bẩn thỉu. Cút khỏi nhà tao.”
Con mèo giật người và búng đuôi.
Pecola lùi khỏi phòng, mắt nhìn chằm chằm bà chủ da nâu xinh đẹp trong căn nhà vàng kim xanh lá xinh đẹp đang nói với nó qua lớp lông mèo. Lời của bà chủ xinh đẹp làm bộ lông con mèo động đậy, hơi thở từ mỗi chữ vạch lớp lông ra. Pecola quay người tìm cửa trước và thấy Jesus đang nhìn xuống nó với cặp mắt buồn bã và không bất ngờ, mái tóc nâu dài rẽ giữa, hoa giấy sặc sỡ quấn quanh mặt ông.
Ra ngoài, gió tháng Ba thốc vào đường rách nơi váy nó. Nó cúi gằm đầu xuống chống chọi cái lạnh. Nhưng nó không thể cúi đủ thấp để khỏi thấy những bông tuyết rơi và lịm tắt trên đá lát đường.