Ngày 4 Tháng 7

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Hai: Kỳ Nghỉ Ngoài Dự Kiến

❊ ❊ ❊

Một người đàn ông ngồi lặng lẽ trong chiếc xe màu xám tại khu đẹp nhất của Vịnh Nửa Vầng Trăng - California, trên đường Ocean Colony. Mặc dù không phải là người ở đây nhưng hắn không phải là tuýp người dễ gây sự chú ý. Và hắn cũng không có quyền theo dõi những người sống trong ngôi biệt thự màu trắng với những chiếc xe đắt tiền đỗ trước cửa ngôi nhà này.

Kẻ theo dõi đưa chiếc máy ảnh chỉ to bằng một bao diêm lên mắt. Một thiết bị tối tân với bộ nhớ không lồ và độ phóng to gấp 10 lần.

Hắn mở máy, chụp cảnh gia đình đang trò chuyện bên bàn ăn sáng trong bếp.

Vào đúng 8:06, Caitlin O'Malley mở cửa trước. Cô bé mặc đồng phục, khoác ba lô màu tím, đeo đồng hồ trên cả hai cánh tay. Mái tóc màu nâu nhạt của cô bé ánh lên sáng bóng.

Kẻ theo dõi chụp Caitlin khi cô bé ngồi vào ghế trước của chiếc Lexus suv đậu trước cửa. Chẳng bao lâu sau hắn bắt đầu nghe loáng thoáng tiếng nhạc rốc từ đài FM.

Đặt máy ảnh xuống trước mặt, kẻ theo dõi lôi từ trong hộc giữa của xe ra cuốn vở màu xanh một cây bút bi và ghi chép bằng một nét chữ cẩn thận, tuyệt đẹp.

Phải ghi chép lại tất cả. Sự thật đòi hỏi như vậy.

Vào lúc 8:09 cửa trước lại mở. Bác sỹ Ben O'Malley mặc bộ veston màu xám bằng vải len nhẹ, một cái nơ đỏ cột chặt trên cổ áo sơ mi trắng được hồ cứng, ông ta quay sang vợ, Lorelei, hôn nhẹ lên môi rồi đi ra ngoài.

Tất cả đều đúng giờ.

Cái máy ảnh nhỏ xíu lại lia lịa chụp hình.

Bác sỹ xách túi rác đến thùng rác nằm trên vỉa hè. Ông hít khí trời, nhìn ngược xuôi xuống phố, lướt qua chiếc xe màu xám và người ngồi trong xe mà không mảy may dừng lại. Rồi ông ta vào xe với cô con gái. Một lát sau, xe của bác sỹ O'Malley đã lùi ra đường Ocean Colony và đi về phía bắc đến xa lộ Cabrillo.

Đã ghi chép xong xuôi. Kẻ theo dõi cất cuốn vở, bút và máy ảnh vào lại hộc xe.

Giờ hắn đã nhìn thấy họ: cô bé trong bộ đồng phục mới là và đôi tất trắng dài đến đầu gối, khuôn mặt xinh xắn đầy tâm tư. Điều này khiến Kẻ theo dõi cảm động đến ứa nước mắt. Cô bé thật tuyệt, thật khác xa với ông bố, tay bác sỹ có cái về bề ngoài tầm thường vô vị.

Nhưng một điều làm hắn thích ở bác sỹ Ben O'Malley là sự chính xác của một nhà phẫu thuật. Kẻ theo dõi trông đợi nhiều vào điều này.

Hấn không thích bị bất ngờ.

***

Có tiếng nói trong tôi vang lên, - Sara!

Bật dậy, với tay lấy súng tôi mới phát hiện là mình không cử động được. Dưới ánh sáng trắng tù mù, một khuôn mặt tối lờ mờ hiện ra trước mắt tôi.

— Sugar Plum Eairy - tôi thốt lên. (tên một ban nhạc Thụy Điển)

— Nhiều người đã từng gọi mình bằng những cái tên tệ hơn thế nhiều. - Cô ấy cười. Đó là Claire. Tôi đang ở trên bàn mổ của cô ấy, thế là tôi đi đời thật rồi.

— Claire? Cậu nghe thấy mình nói không?

— Rõ mồn một, cưng ạ - Cô ấy ôm nhẹ lấy tôi bằng vòng tay mẹ âu yếm.

— Cậu lại về đây rồi.

— Mình đang ở đâu?

— Bệnh viện đa khoa San Francisco. Phòng hồi sức.

Tôi bắt đầu tỉnh táo và nhớ lại những gì xảy ra trên phố Larkin. Bọn trẻ. Jacobi bị hạ.

— Jacobi - tôi đưa mắt tìm Claire. - Jacobi không qua khỏi?

— Anh ấy đang ở phòng điều trị tích cực. Anh ấy đang chiến đấu.

Claire cười nhìn tôi. - Xem ai đến này, Lindsay, cậu quay đầu sang đây.

Tôi đau kinh khủng nhưng vẫn cố quay cái đầu nặng chịch sang bên phải, và gương mặt điển trai của anh hiện ra. Anh chưa kịp cạo râu, mí mắt trĩu nặng vì âu lo và mệt mỏi. Nhưng chỉ cần nhìn thấy Joe Molinari là trái tim tôi lại đập rộn ràng.

— Joe. Anh đang ở Washington mà.

— Anh đang ở đây, em yêu ạ. Nghe tin là anh chạy tới liền.

Anh hôn tôi và tôi cảm nhận được những giọt nước mắt lăn dài trên má anh. Tôi muốn nói với anh là tôi đã hoàn toàn sụp đổ.

— Joe, con bé chết rồi. Trời ơi, em đã làm hỏng bét cả rồi.

— Em yêu, theo anh được biết thì em không còn lựa chọn nào khác.

Anh áp nhẹ má lên mặt tôi.

— Số di động của anh ở ngay cạnh điện thoại Lindsay? Em nghe anh nói gì không? Sáng mai anh sẽ lại tới - anh nói.

— Gì cơ, Joe? Anh nói gì?

— Em cố ngủ đi, Lindsay.

"Vâng, Joe. Em sẽ ngủ...."

Y tá Heather Grace, một vị thánh nếu trên đời này có thần thánh, đã kiếm cho tôi một chiếc xe đẩy. Tôi ngồi trên xe đẩy bên cạnh giường của Jacobi, ánh nắng chiếu rọi qua cửa sổ phòng điều trị tích cực và dừng lại trên sàn nhà trải thảm xanh. Hai viên đạn đã xuyên qua người anh ấy. Một viên phá hỏng phổi, viên kia đâm thủng thận, và cú đá vào đầu của thằng bé làm anh gãy mũi, biến gương mặt anh thành màu cà tím.

Đây là lần thứ ba tôi đến thăm anh trong mấy ngày hôm nay, dù rất cố gắng, tôi vẫn không thể làm cho tâm trạng của Jacobi vui lên chút nào. Đang ngắm anh ngủ thì tôi thấy đôi măt sưng húp bắt đầu hé mở.

— Ê, Warren!

— Ê, cô em.

— Anh thấy thế nào?

— Như một thằng đại đểu. Anh ho khó nhọc và tôi nhăn mặt cảm thông.

— Cứ bình tĩnh, anh bạn ạ!

— Hâm quá, Boxer ạ.

— Em biết.

— Tôi không thể không nghĩ đến chuyện ấy được. Mơ thấy chuyện ấy. Anh ngừng lời, lấy tay chạm vào cái mũi bị băng kín. - Lúc thằng bé ấy bắn, tôi đang cầm cái ấy của mình.

— Hừm. Tôi nghĩ đó là cái di động của anh thì đúng hơn, Jacobi ạ.

Anh không cười. Nguy kịch thật rồi.

— Không gì có thể thanh minh cho việc ấy cả. - Nhưng chúng ta đã hành động theo mách bảo của con tim.

— Con tim à? Lần sau dùng cái đầu thì tốt hơn. Anh ấy nói đúng, tất nhiên. Tôi đồng ý với anh về tất cả chuyện đó, tôi gật đầu, suy nghĩ mông lung. Chẳng hạn, liệu tôi có bao giờ còn cảm thấy đủ tự tin để cầm súng trong tay nữa không? Tôi có lưỡng lự không nếu tôi không cầm? Có bắn trước khi kịp suy nghĩ? Tôi rót cho Jacobi một ly nước.

— Tôi làm hỏng bét hết cả. Lẽ ra tôi phải còng tay con bé.

— Thôi đi Boxer. Lẽ ra chúng ta phải - và có lẽ cô cũng đã cứu sống tôi.

Thoáng có bóng người ở cửa ra vào. Sếp Anthony Tracchio với mái đầu bóng mượt trong bộ quần áo thường phục được là phẳng phiu ngó vào, ông ta đang ôm trong tay một hộp kẹo. Trông ông chẳng khác nào một cậu thiếu niên trong buổi hẹn hò đầu tiên.

— Jacobi, Boxer. May quá tôi gặp cả hai ở đây. Khoẻ không? - Tracchio không phải là người xấu, và ông đối xử với tôi khá tốt; tuy vậy, không thể nói là chúng tôi thích nhau được, ông ta hơi dướn người lên một chút rồi đi lại chỗ Jacobi.

— Tôi có tin mới đây.

Cả hai chúng tôi cùng tròn mắt.

— Lũ trẻ nhà Cabot để lại dấu vân tay tại hiện trường khách sạn Lorenzo. Mắt ông ta sáng lên. - Và Sam Cabot đã tự thú.

— Chúa ơi. Thật thế sao? - Jacobi thở khò khè.

— Tôi thề có mẹ tôi đấy. Thằng bé kể với một y tá là nó và chị gái nó đang chơi một trò chơi với những đứa trẻ trốn nhà. Chúng gọi trò đó là “ăn đạn hay vào bồn tắm".

— Y tá sẽ ra toà làm chứng chứ? - Tôi hỏi.

— Tất nhiên. Cô ấy đã thề với tôi như vậy.

— “Ăn đạn hay vào bồn tắm". Lũ mất dạy. Jacobi khịt mũi. - Một trò chơi.

— Ờ, nhưng trò chơi đó kết thúc rồi. Chúng tôi còn tìm thấy vở và hàng tập truyện trinh thám trong phòng ngủ của con bé ở nhà. Nó hoàn toàn bị những vụ tự sát ám ảnh. Này hai người, chóng khỏi đi nhé. Đừng lo gì hết.

— À, cái này là của cả đội gửi - ông ta nói, đưa hộp kẹo sô-cô-la Ghirardelli và một tấm thiệp chúc sức khoẻ với rất nhiều chữ ký cho tôi. - Chúng tôi rất tự hào vì hai bạn.

Chúng tôi trò chuyện thêm lát nữa, gửi lời cảm ơn tới những người bạn ở Toà án. Rồi ông ta đi. Tôi cầm lấy tay của Jacobi. Suýt chết cùng nhau đã làm cho tình bạn của hai chúng tôi thêm khăng khít.

— Đấy, bọn trẻ đúng là bẩn thỉu - tôi nói.

— Ờ, mở sâm-panh uống mừng thôi.

Tôi không thể tranh cãi với anh. Việc lũ trẻ nhà Cabot là những tên giết người cũng không làm cho tình thế thay đổi. Và nó cũng chẳng làm thay đổi những ý nghĩ tôi vẫn nung nấu từ mấy ngày hôm nay.

— Tôi muốn nói với anh chuyện này, Jacobi. Tôi nghĩ tôi nên rút lui. Nên thôi việc.

— Thôi đi, nào. Cô đang nói chuyện với tôi đấy.

— Tôi nghiêm túc đấy.

— Cô sẽ không thôi việc đâu.

Tôi vuốt thẳng chăn cho anh, rồi nhấn nút gọi cô y tá đưa tôi về lại phòng mình.

— Ngủ ngon nhé, cộng sự của tôi.

— Được rồi. Đừng lo lắng về bất cứ điều gì.

Tôi nghiêng người và lần đầu tiên trong đời tôi hôn lên cái má lởm chởm của anh. Anh mỉm cười tuy tôi biết rằng với anh đó là cả một cố gắng.

***

Đó là một ngày đẹp như trong tranh. Nắng vàng chói chang. Chim kêu ríu rít khắp nơi và hương hoa tràn ngập không khí, cả những cái cây bị đốn ngọn trong vườn của bệnh viện cũng đã kiêu hãnh vươn chồi non ra kể từ lần cuối cùng tôi được ở ngoài trời, ba tuần trước.

Đúng là một ngày tuyệt đẹp, nhưng nó cũng không giúp tôi gạt được ý nghĩ là chẳng có chuyện gì ổn thoả cả. Có phải tôi đang hoang tưởng - hay tai hoạ thật sự sắp ập xuống?

Chiếc xe Subaru Forester màu xanh của Cat đỗ ở cửa bệnh viện, tôi nhìn thấy hai cô cháu gái đang vẫy tay rối rít và nhảy tưng tưng trên ghế sau của xe. Khi đã ngồi vào xe, tâm trạng tôi phấn chấn hơn. Tôi thậm chí còn bắt đầu hát, - Thật là một ngày tuyệt đẹp cho một kẻ hay mộng mơ.

— Dì Lindsay, cháu tưởng dì không biết hát - Brigid sáu tuổi hét lên từ ghế sau.

— Đương nhiên là dì biết hát. Dì chơi đàn ghi-ta và hát suốt thời học đại học, đúng không Cat?

— Mọi người thường gọi dì ấy là Tốp 40 - chị gái tôi nói. - Dì con chẳng khác nào một máy hát di động.

— Máy hát di động là gì cơ? - Meredith, mới có hai tuổi rưỡi hỏi.

Chúng tôi bật cười và tôi phải giải thích, - Đó là một cái đài khổng lồ chơi các đĩa hát - và rồi tôi cũng phải giải thích đĩa hát là gì.

Tôi kéo kính xuống và để gió thổi tung mái tóc vàng. Chúng tôi đi theo hướng đông trên phố 21, về phía những dãy nhà hai, ba tầng màu sáng xây theo kiểu Victory nằm trên đường lên đỉnh ngọn đồi Portrero.

Cat hỏi tôi định sẽ làm gì, tôi nhún vai một cách thờ ơ. Tôi nói với chị ấy vụ án vẫn còn trong giai đoạn điều tra và tôi còn nhiều thời gian để nghỉ ngơi vì tôi bị thương trong lúc thi hành công vụ. Tôi sẽ soạn tủ quần áo, sắp xếp lại mấy cái hộp đựng những tấm ảnh cũ.

— Chị có cái này hay hơn cho em. Đến nhà chị và nghỉ ngơi cho khoẻ hẳn đi - Cat nói. - Một tuần nữa cả nhà sẽ đi Aspen. Chị xin em, hãy đến nhà chị đi. Penelope sẽ rất thích em đấy.

— Penelope là ai?

Hai cô bé khúc khích cười sau lưng tôi.

— Aaaaai là Penelope?

— Là bạn của chúng cháu. Bọn trẻ cùng đồng thanh.

— Để em nghĩ đã - tôi nói với chị gái khi chúng tôi quẹo trái sang Mississipi và đến trước ngôi nhà màu xanh của tôi.

Trong lúc Cat giúp tôi ra khỏi xe thì Cindy chạy ào xuống bậc tam cấp, Martha đáng yêu chạy trước cô ấy.

Chú chó quấn quýt suýt làm tôi ngã lăn, nó liếm mặt tôi và sủa to đến mức tôi chỉ dám hi vọng là Cindy nghe thấy tiếng tôi cảm ơn cô ấy vì đã chăm sóc bé yêu của mình.

Tôi vẫy chào tạm biệt tất cả và đi lên gác, đang mơ tưởng được tắm dưới làn nước nóng và ngủ một giấc ngon lành trên cái giường của mình, thì có tiếng chuông cửa.

— Ok, Ok - tôi càu nhàu. Gì vậy nhỉ? Không lẽ có ai tặng hoa cho tôi chăng?

Tôi lại khó nhọc đi xuống cầu thang và mở cửa. Một thanh niên mặc quần kaki và áo len hiệu Santa Clara đang đứng ở ngưỡng cửa, tay cầm phong bì. Trong một giây tôi không hiểu nụ cười đang ngoác ra của anh chàng mang hàm ý gì.

— Chỉ có phải là Lindsay Boxer?

— Không, nhầm địa chỉ rồi - tôi nói. Tôi nghi cô ấy sống ở Kansas cơ.

Cậu thanh niên vẫn ngoác miệng - và tôi có cảm giác như mình đang ở trong một giấc mơ.

— Giết! - tôi nói với Martha. Nó ngước mắt lên nhìn tôi, vẫy đuôi. Giống chó cô-li biết tuân theo rất nhiều mệnh lệnh, nhưng - Giết - không phải là một trong số những mệnh lệnh mà nó biết tuân thủ. Cậu thanh niên đưa tôi phong thư rồi vừa lùi lại vừa giơ hai tay lên trời. Tôi dùng cây nạng đóng sập cửa.

Đây rõ ràng là một lá thư kiện. Tôi mang nó lên nhà, ra ban công ngắm phong cảnh nhìn xuống vịnh San Francisco. Tôi thận trọng đặt cặp mông đáng thương xuống ghế.

Martha ngả đầu vào đùi tôi. Vừa vuốt ve nó, tôi vừa chăm chăm nhìn ra dòng nước lấp lánh.

Thời gian chậm chạp trôi, đến khi không thể chịu được nữa, tôi xé phong bì và mở lá thư.

Những ngôn từ của luật pháp, toàn những "trát", "lệnh triệu tập" và "đơn kiện" ào ra bủa vây không để tôi kịp hiểu bức thư nói gì. Bức thư cũng chẳng nói gì nhiều. Tiến sỹ Andrew Cabot kiện tôi vì "giết người vô cớ, lạm dụng quyền hành và không làm đúng theo quyền hạn của cảnh sát", ông ta yêu cầu triệu tập một phiên toà sơ thẩm trong tuần tới để có thể tịch biên nhà và tài khoản ngân hàng của tôi cung bất kỳ tài sản có giá trị nào tôi có ý định giấu diếm trước khi có phiên toà chính thức.

Cabot kiện tôi ư?

Tôi vừa ớn lạnh vừa cảm thấy nóng phừng phừng khi cảm giác bất công tràn ngập cơ thể. Tôi nhớ lại toàn bộ sự việc. Vâng, tôi đã phạm sai lầm là đã quá tin tưởng hai đứa trẻ, nhưng lạm dụng quyền hành, không làm đúng quyền hạn cảnh sát? Giết người bất hợp pháp?

Lũ trẻ sát nhân ấy có súng kia mà.

Chúng bắn tôi và Jacobi khi súng của chúng tôi nằm gọn trong bao. Tôi đã ra lệnh cho chúng bỏ súng xuống trước khi bắn trả! Jacobi là nhân chứng của tôi. Đây rõ ràng là một trường hợp tự vệ. Rõ mồn một!

Nhưng tôi vẫn thấy sợ. Không, thực ra phải nói là tôi khiếp đảm.

Tôi bắt đầu nhìn thấy những dòng tít trên báo. Dư luận sẽ phẫn nộ: gương mặt đáng yêu của những đứa trẻ bị cảnh sát bắn hạ. Báo chí sẽ kết tội tôi. Tôi sẽ bị đem ra bêu riếu trên chương trình Toà án.

Tôi phải lập tức gọi cho Tracchio, kiếm luật sư bào chữa, dàn xếp mọi việc. Nhưng tôi chưa thể làm gì được. Người tôi cứng đờ trên ghế, tê liệt bởi ý nghĩ là tôi đã quên một điều gì đó quan trọng.

Một điều gì đó có thể thật sự làm hại tôi.

***

Tôi tỉnh dậy, người ướt đẫm mồ hôi, tấm ga trải giường bằng vải cotton Ai Cập bị vò thành một đống nhau nát. Tôi lấy vài viên Tylenol để giảm đau và một viên Valium xanh da trời mà bác sỹ tâm thần đã kê đơn cho tôi, rồi nhìn chằm chằm vào ánh đèn đường rọi trên trần nhà.

Tôi thận trọng nghiêng mình sang phía bên hông không bị thương và nhìn đồng hồ: 12 giờ 15 phút Tôi mới thiếp đi được khoảng một tiếng đồng hồ nhưng có cảm giác như mình đã qua cả một đêm dài.

— Martha. Bé cưng, lại đây.

Cô bạn nhảy lên giường và cuộn tròn vào trong lòng tôi. Chỉ sau một phút, chân nó giật giật khi nó thiếp đi còn tôi vẫn tiếp tục trằn trọc nghĩ đến kiểu an ủi nước đôi của Tracchio.

Tức là:

— Cô sẽ cần hai luật sư, Boxer ạ! Mickey Sherman sẽ đại diện cho cô dưới danh nghĩa cảnh sát San Francisco, nhưng cô cũng sẽ cần một luật sư bào chữa của riêng mình, trong trường hợp..., e hèm, trong trường hợp cô đã hành động ngoài phạm vi công việc.

Tôi đã tưởng thuốc sẽ giúp tôi thoát khỏi sự phũ phàng của thực tại để đi vào giấc ngủ dịu êm, nhưng không. Tôi bắt đâu nhớ lại những sự kiện xảy ra trong ngày, những cuộc hẹn tôi đã lên lịch với Sherman và luật sư của tôi, một cô gái trẻ với cái tên Castellano. Molinari rất ca ngợi cô ta - một nhận xét tích cực từ Phó Cục trưởng Cục An ninh Quốc gia là rất có ý nghĩa.

Tôi lại một lần nữa tự kết luận là mình đã thu xếp chu đáo. Nhưng tuần tới sẽ rất cam go. Tôi cần có một cái gì đó để giải khuây.

Tôi nghĩ đến nhà của Cat. Tôi đã không tới đó từ khi chị ấy chuyển tới ở sau khi ly hôn hai năm về trước, nhưng tôi vẫn hình dung rõ mồn một nơi chị sống. Chỉ cách San Francisco 40 phút về phía nam, vịnh Nửa vầng trăng gần như là một thiên đàng. Bờ vịnh hình lưỡi liềm, bãi biển cát, rừng gỗ đỏ, toàn cảnh đại dương, và tháng sáu tiết trời vừa đủ ấm để tôi có thể thư giãn trên mái hiên và xoá sạch những bức tranh xấu xí trong óc mình.

Tôi không thể đợi đến khi trời sáng. Tôi gọi cho Cat lúc 1 giờ kém 15 phút. Giọng chị ấy khàn đặc vì ngái ngủ.

— Lindsay, tất nhiên là được rồi. Em cứ đến bất kỳ lúc nào. Em biết chỗ để chìa khoá rồi đấy.

Tôi cố chỉ nghĩ đến Vịnh Nửa Vầng Trăng, nhưng lần nào choàng tỉnh dậy sau giấc mơ về thiên đường, tim tôi lại đập như trống triều. Phiên toà sắp tới đã choán hết tâm trí tôi và không còn bụng dạ nào để nghĩ tới bất kỳ điều gì khác.

***

Mây đen kéo đến che phủ mái nhà Trung tâm Toà án thành phố ở số 400 đường McAllister. Mưa ào ào rơi xuống mặt đường. Đã bỏ nạng từ sáng, tôi phải vịn vào Mickey Sherman, luật sư của thành phố San Francisco để leo lên những bậc thang bóng loáng của Toà án. Tôi dựa vào ông ấy không chỉ theo một nghĩa đen.

Chúng tôi đi qua Tiến sỹ Andrew Cabot và luật sư của ông ta, Mason Broyles. Họ đang trả lời phỏng vấn báo chí dưới một rừng ô đen. Niềm an ủi duy nhất của tôi là không có camera nào chĩa vào tôi cả.

Tôi liếc nhanh sang nhìn Mason Broyles khi chúng tôi đi qua. Ông ta có đôi mắt hùm hụp, mái tóc đen mượt, và đôi môi cong lên một cách ác độc. Tôi nghe ông ta nói gì đó về "hành vi tàn nhẫn của Trung uý Boxer" và tôi biết ông ta sẽ rút ruột tôi nếu ông ta có thể. Về phần Tiến sỹ Cabot, nỗi đau đã biến khuôn mặt ông ta thành một cái mặt nạ đá.

Mickey đẩy cánh cửa kính khung thép nặng chịch và chúng tôi bước vào phòng giải lao của Toà án. Mickey là một luật sư có tuổi giàu kinh nghiệm, bển bỉ đến phi thường, thông minh và rất có duyên, ông ta ghét bị thua cuộc và cũng chẳng mấy khi bị thua.

— Lindsay này - ông ta vừa nói, vừa cụp ô lại. - Hắn ta hiên ngang thế vì đây là một vụ lớn. Đừng để hắn làm cô nhụt chí. Cô có rất nhiều bạn bè ở đây.

Tôi gật đầu, nhưng tôi nghĩ về việc tôi đã buộc Sam Cabot phải ngồi xe đẩy suốt đời và khiến chị gái thằng bé mãi mãi nằm dưới nấm mồ nhà Cabot. Bố chúng không cần ngôi nhà hay cái tài khoản ngân hàng ít ỏi đáng thương của tôi. Ông ta muốn tiêu diệt tôi. Và ông ta đã thuê được đúng người để làm việc đó.

Mickey và tôi dùng cầu thang phía sau để lẻn vào phòng xử án C trên tầng hai. Chỉ vài phút nữa tất cả sẽ xảy ra trong căn phòng bé nhỏ, đơn sơ có giấy dán tường màu xám và cửa sổ nhìn ra con đường rợp bóng cây này.

Tôi cài phù hiệu của cảnh sát San Francisco vào ve bộ veston màu xanh lục để có thể cảm thấy trang trọng tuy không mặc đồng phục. Khi ngồi xuống ghế cạnh Mickey, tôi điểm lại những lời căn dặn của ông: - Khi Broyles hỏi, đừng giảỉ thích dài dòng. Chỉ cần "Vâng, thưa ngài", "Không thưa ngài" - là đủ. Hắn sẽ cố tìm cách khiêu khích để cho thấy cô rất nóng nảy và đó chính là lý do khiến cô đã bóp cò.

Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một người biết căm hận nhưng giờ đây tôi đang rất hận. Đó đã là một phát súng đúng. Một phát súng đúng! Công tố uỷ viên đã minh oan cho tôi! Và giờ tôi lại có cảm giác mình là một cái đích nhắm. Khi các hàng ghế bắt đầu có người ngồi, tôi cảm thấy những lời bàn tán đang xì xào phía sau lưng tôi

“Đấy là viên cảnh sát đã bắn trẻ em. Cô ta đấy!"

Bất chợt một bàn tay mạnh mẽ, đầy an ủi đặt lên vai tôi. Tôi quay lại, và mắt tôi nhoè lệ khi nhìn thấy Joe. Tôi đặt tay mình lên tay anh, và đúng lúc đó tôi bắt gặp ánh mắt người luật sư thứ hai của mình, một cô gái gốc Nhật trẻ với cái tên lạ lẫm, Yuki Castellano. Chúng tôi gật đầu chào khi cô ấy ngồi xuống cạnh Mickey.

Tiếng xì xào trong phòng bất chợt tắt ngấm khi người công tố viên lên tiếng: "Tất cả đứng dậy!".

Chúng tôi đứng dậy khi Chủ tọa phiên toà Bà Rosa Algierri ngồi xuống băng ghế. Thẩm phán Algierri có thể bác đơn kiện và tôi có thể bước khỏi phòng xử án, chữa lành cả vết thương tinh thần lẫn thể xác và tiếp tục cuộc sống của mình. Hoặc cung có thể bà sẽ chuyển tiếp vụ này lên trên và tôi sẽ phải đối mặt với một phiên toà có thể lấy mất của tôi tất cả những gì tôi có.

— Cô không sao chứ, Lindsay?

— Chưa bao giờ tôi thấy ổn như lúc này - tôi nói với Mickey.

Ông ta hiểu sự mỉa mai của tôi và chạm nhẹ vào tay tôi. Một phút sau, tim tôi bắt đầu nện thình thịch. Mason Broyles đứng dậy buộc tội tôi.

Luật sư của Cabot hất cổ tay áo choàng và đứng sừng sững, im lặng lâu đến nỗi tất cả đều có thể hít không khí căng thẳng như sợi dây đàn trong căn phòng. Ai đó ho một cách bồn chồn.

— Bên nguyên cho gọi bác sỹ pháp y trưởng Claire Washbum - cuối cùng Broyles cất giọng, và người bạn của tôi ra làm chứng cho bên nguyên.

Tôi muốn vẫy chào, mỉm cười, nháy mắt - làm một cái gì đó, nhưng tất nhiên tôi chỉ có thể ngồi nhìn. Broyles khởi động bằng vài câu đưa đẩy nhưng từ sau đó chỉ toàn là những lời lẽ đanh thép.

— Tối hôm mồng mười tháng năm có phải cô đã khám nghiệm tử thi của Sara Cabot? - Broyles hỏi.

— Đúng vậy.

— Cô có thể nói cho chúng tôi biết về những vết thương trên người cô bé?

Mọi cặp mắt đổ dồn về phía Claire khi cô ấy lật qua tập giấy bọc da trước khi tiếp tục.

— Tôi tìm thấy hai vết thương khá gần nhau trên ngực do bị bắn. Phát súng gây vết thương đã xuyên qua phần ngực trên, nằm dưới vai trái 15 cm và cách đường giữa ngực khoảng 6 cm.

Lời khai của Claire là lời khai quyết định nhưng tâm trí tôi vẫn trôi ra khỏi căn phòng về lại với quá khứ. Tôi thấy mình đang đứng trên vỉa hè dưới ánh đèn tối mờ mờ trên phố Larkin. Tôi nhìn thấy Sara rút súng ra khỏi áo và bắn tôi. Tôi ngã xuống, nằm sóng soài.

— Bỏ súng xuống!

— Mẹ mày, đồ khốn.

Tôi nổ súng hai lần, và Sara ngã xuống chỉ cách tôi có vài mét. Tôi đã giết con bé, tuy tôi có thoát khỏi những lời buộc tội nhưng lương tâm tôi vẫn cảm thấy có tội, có tội.

Tôi lắng nghe Claire mô tả phát súng thứ hai, xuyên qua xương ức Sara.

— Chúng tôi gọi đó là K-5 - Claire nói. Viên đạn xuyên qua màng ngoài tim, tiếp tục xuyên qua tim và dừng lại ở cột sống ngực số 4. Tại điểm này tôi lôi ra được một viên đạn bọc màu đồng, đã bị biến dạng đôi chút, cỡ trung.

— Viên đạn này có giống với một viên đạn 9 mm không?

— Giống.

— Cảm ơn Bác sỹ Washbum. Tôi đã hỏi xong thưa quý toà.

Mickey đặt tay lên bàn bào chữa và đứng dậy.

— Bác sỹ Washbum, Sara Cabot có chết ngay lập tức không?

— Theo tôi thì có. Chết trong vòng một hoặc hai nhịp tim. Cả hai phát súng đều xuyên thủng tim.

— À. Bác sỹ này, người quá cố có bắn súng không?

— Có! Tôi thấy cuối ngón trỏ của cô ấy có màu xám hơn có thể là do thuốc súng.

— Làm sao cô biết được đó là thuốc súng?

— Cũng như tôi biết mẹ tôi là mẹ tôi vậy - Claire nói, mắt cô ấy long lanh. - Bởi vì trông nó đúng y như vậy. Cô ấy ngừng một lát chờ cho những tiếng cười lắng xuống rồi tiếp tục. - Hơn nữa tôi đã chụp ảnh, quay phim lại và đã làm xét nghiệm thuốc súng, đưa đến phòng xét nghiệm và kết quả là dương tính.

— Liệu người quá cố có bắn Trung uý Boxer sau khi cô ta đã bị bắn hay không?

— Tôi không hiểu liệu một cô gái đã chết thì còn bắn được ai nữa không thưa ông Sherman?

Mickey gật đầu. - Cô có để ý tới đường bắn của những vết thương không Bác sỹ Washbum?

— Có, tôi có để ý. Các vết thương do súng bắn từ góc 47 và 49 độ.

— Vậy để hoàn toàn rõ ràng, Bác sỹ, Sara Cabot bắn Trung úy Boxer trước - và Trung úy bắn trả ngược lên từ nơi cô ấy bị ngã trên mặt đất.

— Theo tôi, sự việc đúng là đã diễn ra như vậy.

— Cô có thể gọi đó là "lạm dụng quyền lực" hay "giết người bất hợp pháp" hay "không làm đúng quyền hạn của cảnh sát" không?

Quan toà chấp nhận lời phản đối đầy tức tối của Broyles. Mickey cảm ơn Claire và để cô ấy đi. Ông mỉm cười khi tiến lại phía tôi. Các cơ bắp của tôi như giãn ra, và tôi thậm chí còn mỉm cười với Mickey. Nhưng phiên tòa mới chỉ đang bắt đầu.

Tôi thoáng sợ hãi khi nhìn thấy ánh mắt của Mason Broyles. Cái nhìn của ông ta như báo trước một điềm gở. Ông ta rất nóng lòng được phỏng vấn nhân chứng tiếp theo.

— Hãy cho biết họ tên - Broyles nói với một phụ nữ nhỏ nhắn tóc nâu khoảng ngoài 30 tuổi.

— Betty D'Angelo

Đôi mắt sẫm màu đằng sau cặp kính to lớn gọng sừng của cô ấy liếc nhanh về phía tôi, rồi lại hướng về phía Broyles. Tôi nhìn sang Mickey Sherman và nhún vai.

Tôi nhớ là tôi chưa từng gặp người phụ nữ này.

— Cô làm gì?

— Tôi là y tá của Bệnh viện đa khoa San Francisco.

— Cô có mặt tại ca cấp cứu vào buổi tối và đêm ngày mồng 10 tháng 5 không?

— Tôi có.

— Cô có lấy máu của bị can, Lindsay Boxer không?

— Có.

— Tại sao lại phải lấy máu?

— Chúng tôi chuẩn bị phẫu thuật, để rút viên đạn và... Cô ấy ở trong tình trạng nguy kịch. Cô ấy mất rất nhiều máu.

— Ờ, tôi biết, tôi biết - Broyles nói, xua lời bình luận của người y tá đi như xua ruồi. - Cô hãy nói cho chúng tôi biết về xét nghiệm máu.

— Lấy máu là thủ tục thông thường. Chúng tôi phải có mẫu máu để đề phòng trường hợp cần truyền máu.

— Cô D'Angelo, tôi đang có trong tay báo cáo kết quả xét nghiệm của Trung úy Boxer từ đêm hôm đó. Đúng là một tập báo cáo rất dày. Broyles đặt phịch tập giấy dày cộp lên trước mặt nhân chứng và dùng ngón trỏ gõ lên tập giấy. - Đây có phải là chữ ký của cô không?

— Đúng.

— Tôi muốn cô nhìn vào dòng chữ được in đậm ở đây.

Nhân chứng ngả đầu ra phía sau như thể cảm thấy một điều gì đó bất ổn. Bác sỹ và y tá của phòng cấp cứu thường đứng về phía cảnh sát và tìm cách giúp đỡ chúng tôi. Tôi không hiểu, nhưng cô y tá này rõ ràng muốn né tránh câu hỏi của Broyles.

— Cô có thể nói cho tôi biết cái này là gì không? - Broyles hỏi nhân chứng.

— Cái này? ông muốn nói ETOH ư?

— Đây là viết tắt của nồng độ ethyl alcohol, có đúng không?

— Đúng. Đúng là như vậy.

— Vậy - 067 có nghĩa là gì?

— À... Có nghĩa là nồng độ cồn trong máu là 67 miligam trên một dêxilit. Broyles cười và hạ giọng xuống gần như thành tiếng gầm gừ. "Trong trường hợp này đây là nồng độ cồn trong máu của Trung uý Boxer, đúng không?

— Ờ, vâng, đúng như vậy.

— Cô D'Angelo, 067 - có nghĩa là bị say, đúng không? 

— Chúng tôi gọi đó là - bị ảnh hưởng - nhưng...

— Đúng hay sai?

— Đúng.

Tôi không còn câu hỏi nào nữa - Broyles nói.

Tôi cảm thấy như vừa bị búa bổ vào đầu. Trời ơi, mấy ly rượu Margarita chết tiệt ở quán Susie.

Tôi có cảm giác mặt mình trăng bệch và tôi gần như ngất đi.

Mickey quay sang phía tôi, nét mặt ông như muốn nói: Tại sao cô không nói trước với tôi?

Tôi nhìn người luật sư của mình, há hốc miệng, gần như tê liệt vì hối hận. Tôi không thể chịu đựng nổi cái nhìn ngờ vực của Mickey khi ông đứng lên đi về phía nhân chứng, trong tay không còn vũ khí nào khác ngoài sự nhanh trí.

Chỉ có 12 hàng ghế trong phòng xử án C tại Toà án trung tâm thành phố San Francisco và không có bồi thẩm đoàn. Khó có thể kiếm được một phòng xử án nào kín đáo hơn phòng xử án này. Tôi nghĩ tất cả đều ngừng thở khi Mickey bước đến chỗ nhân chứng.

Ông chào cô D'Angelo, người nom như vừa trút được gánh nặng vì đã thoát khỏi Mason Broyles.

— Tôi chỉ có một vài câu hỏi - ông nói. - Người ta thường vẫn dùng gạc tẩm cồn etylic để lau những vết thương, có đúng không? Liệu lượng cồn đó có thể lẫn với lượng cồn trong máu chăng?

Betty D'Angelo trông như muốn khóc. - Chúng tôi thường dùng Betadin để lau các vết thương. Chúng tôi không dùng cồn.

Mickey xin rút lại câu hỏi và quay về phía thẩm phán. Ông xin được hoãn phiên toà và thẩm phán chấp nhận. Cánh phóng viên lao ra khỏi cửa và khi đã tương đối có được chút riêng tư, tôi thành thật xin lỗi.

— Tôi thấy mình như một thằng ngu - ông nói, vẫn đầy ân cần. Tôi đã đọc bản báo cáo kết quả xét nghiệm đó và không hề để ý đến ETOH.

— Tôi hoàn toàn quên biến đi mất cho đến tận bây giờ - tôi nói. - Chắc tôi đã xoá sạch nó ra khỏi trí nhớ.

Tôi nói với Mickey là ở Susie khi Jacobi gọi, tôi đã hết giờ làm việc. Tôi nói với ông ấy tôi đã uống những gì và nếu tôi không cảm thấy mình hoàn toàn tỉnh táo, tôi đã không ngồi vào xe cùng Jacobi.

— Cô vẫn thường uống vài ly vào bữa tối à? - Mickey hỏi tôi.

— Vâng. Vài lần trong một tuần.

— Thế đấy. Uống rượu vào bữa tối với cô là lệ thường nhưng kiểu gì thì "067" cũng là ranh giới. Sau đó một bi kịch lớn đã xảy ra. Cô bị bắn. Cô bị đau đớn. Cô có thể chết. Cô đã giết một ai đó - và đó là điều ám ảnh cô. Một nửa số nạn nhân của những vụ bắn giết thường bị suy sụp. Cô khá ổn, qua tất cả những gì cô đã xảy ra.

Tôi buột thở dài. - Bây giờ làm thế nào đây?

— Ít ra chúng ta cũng đã biết tình hình bây giờ thế nào. Có lẽ họ sẽ gọi Sam Cabot ra làm chứng, và nếu họ cho tôi một cơ hội hỏi thằng ranh con đó, chúng ta sẽ thoát.

Phòng xử án lại đầy người và Mickey tiếp tục vào việc. Chuyên gia về đạn dược xác nhận đạn lấy được trong người tôi đúng là những viên đạn bắn ra từ súng của Sara Cabot, và chúng tôi được xem cuốn băng lấy lời khai của Jacobi từ trên giường bệnh. Anh ấy là nhân chứng tại hiện trường của tôi.

Mặc dù rất đau đớn, nhưng Jacobi vẫn mô tả lại đêm hôm mồng 10 tháng 5. Đầu tiên anh tả lại vụ đâm xe.

— Tôi đang gọi cho xe cứu thương thì có tiếng súng nổ - anh nói. Tôi quay sang và thấy Trung uý Boxer bị bắn. Sara Cabot đã bắn cô ấy hai phát, và Boxer không cầm súng trong tay. Rồi thằng bé bắn tôi bằng súng lục. Jacobi thận trọng đặt tay lên bộ ngực bị băng kín.

— Đó là điều cuối cùng tôi nhớ được trước khi ngất đi.

Lời khai của Jacobi rất tốt, nhưng vẫn chưa đủ để có thể làm nhẹ vụ mấy ly margarita.

Giờ chỉ một người có thể giúp tôi. Tôi đang mặc quần áo của cô ấy, ngồi trên ghế của cô ấy. Tôi cảm thấy trong người nôn nao và những vết thương lại nhói đau. Tôi thật tình không biết tôi sẽ cứu được bản thân hay lại làm cho mọi việc còn tệ hơn.

Luật sư của tôi quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt nâu ấm áp.

— Cứ bình tĩnh, Lindsay.

Tôi lảo đảo đứng dậy khi nghe thấy tên mình vọng vang khắp phòng.

Mickey Sherman gọi tôi ra làm chứng.

Tôi đã làm chứng hàng chục lần trong sự nghiệp, nhưng đây là lần đầu tiên tôi phải bảo vệ cho chính mình. Và qua từng ấy năm bảo vệ công chúng, giờ chính tôi là kẻ bị buộc tội. Tôi thấy trong người mệt mỏi, nhưng tôi không thể để lộ điều đó ra ngoài.

Tôi đứng dậy, thề với Chúa trên một cuốn Kinh thánh đã sờn cũ, và đặt số phận mình vào bàn tay luật sư.

Mickey đi thẳng vào việc. - Lindsay, đêm mồng 10 tháng 5 cô có bị say không?

Thẩm phán xen ngang: - ông Sherman, xin ông đừng gọi thân chủ của ông bằng tên.

— Vâng. Trung úy, cô có bị say đêm hôm đó không?

— Không.

— Được, chúng ta sẽ tiếp tục. Đêm hôm đó có phải ca trực của cô không?

— Không. Giờ làm việc của tôi kết thúc vào lúc 5 giờ chiều.

Mickey cùng tôi tỉ mỉ đi lại từng chi tiết của những sự kiện xảy ra tối ngày hôm đó. Tôi tả lại những ly rượu tôi đã uống ở quán Susie và cú điện thoại của Jacobi. Tôi khẳng định rằng tôi đã nói với Jacobi là mình đủ tỉnh táo để có thể đi cùng anh đêm ấy, và điều đó là đúng.

Khi Mickey hỏi tại sao tôi lại trả lời điện thoại khi thực ra tôi đã hết giờ làm việc, tôi nói, "Tôi là một cảnh sát 24 giờ một ngày. Bất cứ khi nào đồng sự của tôi cần, tôi sẽ có mặt".

— Cô có tìm được chiếc xe đang được nói đến không? - Mickey hỏi tôi.

— Chúng tôi có.

— Rồi sau đó chuyện gì xảy ra? 

— Chiếc xe phóng đi rất nhanh và chúng tôi đuổi theo nó. Tám phút sau, chiếc xe mất lái và bị đâm.

— Sau khi chiếc xe bị đâm, cô nhìn thấy Sara và Sam Cabot trong tình trạng kiệt sức, cô có sợ chúng không?

— Không, chúng chỉ là những đứa trẻ. Tôi nghĩ chúng đã lấy cắp chiếc xe hoặc đã làm một điều gì đó sai trái. Những điều như vậy vẫn xảy ra thường xuyên.

— Thế rồi cô đã làm gì?

— Thanh tra Jacobi và tôi cất súng và tìm cách giúp đỡ bọn trẻ.

— Và cho đến khi nào cô lại rút súng ra?

— Đến khi cả Thanh tra Jacobi và tôi đều bị bắn sau đó khi đã yêu cầu chúng phải bỏ súng xuống.

— Cảm ơn Lindsay. Tôi không còn câu hỏi nào khác.

Tôi nhẩm lại lời khai của mình và tự cho mình điểm tốt. Tôi nhìn quanh phòng và thấy Joe đang cười, gật đầu khi Mickey rời khỏi chỗ tôi.

— Nhân chứng giờ là của ông - ông nói với Mason Broyles.

Im lặng bao trùm lên cả tôi và Broyles, người đang trừng trừng nhìn tôi lâu đến mức tôi chỉ muốn hét lên. Đó là một mánh khoé chất vấn cũ rích và ông ta sử dụng nó rất điêu luyện. Tiếng xì xào lan khắp căn phòng nhỏ màu xám cho đến khi thẩm phán đập búa và Broyles bắt đầu vào việc.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta khi ông ta tiến tới gần.

— Hãy nói cho tôi biết, Trung uý Boxer, thủ tục phải được tiến hành khi cảnh sát đi bắt tội phạm

— Tiến tới, trong tay cầm súng, ra lệnh cho những kẻ tình nghi ra khỏi xe, lột vũ khí của chúng, khoá tay chúng, kiểm soát tình hình một cách an toàn.

— Và cô đã làm đúng như thế, Trung uý?

— Chúng tôi đã tiến đến, tay cầm súng, nhưng chúng không tự mình ra khỏi xe được. Chúng tôi cất súng đi để có thể giúp chúng ra khỏi xe.

— Cô đã vi phạm thủ tục tiến hành, đúng không?

— Chúng tôi có trách nhiệm phải giúp đỡ.

—Vâng, tôi hiểu. Cô đã cố tử tế với những đứa trẻ. Nhưng cô cũng thừa nhận là cô đã không theo thủ tục, đúng không?

— Tôi đã phạm sai lầm - tôi buột miệng. - Nhưng bọn trẻ đang chảy máu và nôn oẹ. Chiếc xe có thể nổ bất cứ lúc nào, thưa quý toà?

— Xin cô hãy tập trung vào câu hỏi, Trung úy Boxer.

Tôi ngồi dính vào ghế. Tôi đã từng thấy Broyles trong rất nhiều vụ xử án và biết ông ta có biệt tài tìm ra điểm gây áp lực với đối phương.

Ông ta vừa tìm ra điểm của tôi.

Tôi vẫn tự trách mình đã không còng tay bọn trẻ, và Jacobi, với hơn 20 năm trong nghề cũng đã phạm sai lầm. Nhưng trời ạ, trong lúc đó, đâu có thể làm khác được.

— Tôi xin đặt lại câu hỏi - Broyles nói một cách tự nhiên. - Cô có thường làm theo thủ tục không?

— Có.

— Thế quy định của cảnh sát nói thế nào về việc bị say khi thi hành công vụ?

— Phản đối - Mickey hét to, đứng bật dậy. - Có bằng chứng cho thấy nhân chứng đã uống rượu nhưng không có bằng chứng là cô ấy bị say.

Broyles mỉm cười tự mãn và quay lưng về phía tôi. "Tôi không còn câu hỏi nào khác thưa quý toà!"

Tôi cảm thấy dưới hai cánh tay ướt đẫm. Bước xuống ghế nhân chứng, tôi quên mất cái chân bị thương cho tới khi cơn đau nhói làm tôi phải để ý. Tôi khập khiễng đi về chỗ ngồi, cảm thấy tồi tệ hơn bao giờ hết.

Tôi quay sang, Mickey đang cười khích lệ, nhưng tôi biết nụ cười của ông là giả tạo.

Trán ông nhăn lại đầy âu lo.

Mason Broyles làm tôi bất ngờ, ông ta đã đảo ngược những sự kiện đêm hôm mồng 10 và đổ tất cả tội ác lên đầu tôi. Ông ta quá giỏi, con rắn đó, tôi phải cố hết sức mới không để lộ điều gì và ngồi bình tĩnh khi Broyles đọc lời kết luận.

— Thưa Quý toà - ông ta nói, - Sara Cabot đã chết bởi vì Lindsay Boxer giết cô bé. Và Sam Cabot, mới chỉ có 13 tuổi, phải ngồi xe đẩy suốt đời. Bị cáo công nhận là cô ta đã không làm theo đúng thủ tục. Tất nhiên những thân chủ của tôi cũng có phần sai, nhưng chúng tôi cho rằng trẻ vị thành niên chưa thể có những phán xét đúng đắn. Cảnh sát thì lại được đào tạo để xử lý những trường hợp bất thường, và bị cáo đã không thể xử lý được một trường hợp bất thường vì cô ấy bị say.

— Nói tóm lại, nếu Trung úy Boxer làm đúng bổn phận và trách nhiệm của mình, bi kịch đã không xảy ra và tất cả chúng ta hôm nay sẽ không phải ở đây.

Bài nói của Broyles làm tôi kinh hoàng, nhưng tôi phải công nhận ông ta rất có sức thuyết phục và nếu tôi không phải ngồi ở ghế dành cho bị cáo có thể tôi cũng sẽ đồng ý với ông ta. Đến lúc Mickey đứng dậy để đọc kết luận của mình, máu tôi đã đông cứng trong tai đến mức tôi có cảm gỉác cả một ban nhạc rốc đang đập trong đầu mình.

— Thưa Quý toà, Trung uý Lindsay Boxer không đặt súng vào tay Sara và Samuel Cabot - Mickey nói, giọng ông vang lên đầy phẫn nộ. Tự chúng đã làm như vậy. Chúng đã vô cớ bắn các cảnh sát không vũ trang và thân chủ tôi bắn trả hoàn toàn vì lý do tự vệ. Lỗi lầm duy nhất của cô ấy là cô ấy đã quá tử tế với những công dân đã không đáp lại lòng tốt của cô ấy.

— Để công bằng, thưa Quý toà, phiên toà này phải được bãi bỏ và người cảnh sát xuất sắc này phải được trở về với công việc của mình mà không có một vết nhơ hay một lỗi lầm nào trong hồ sơ xuất sắc của cô ấy.

Mickey đã kết thúc bài nói sớm hơn tôi tưởng. Một khoảng trống hé mở ra sau khi ông nói những lời cuối cùng và nỗi sợ hãi của tôi lấp đầy khoảng trống ấy. Khi ông ngồi xuống cạnh tôi, phòng xử án sột soạt đầy kích động: tiếng gỉấy loạt soạt, tiếng gõ vào máy tính xách tay, tiếng động cựa trên ghế.

Tôi năm lấy tay Mickey dưới bàn và tôi thậm chí còn cầu nguyện. "Lạy Chúa để bà ấy hủy bỏ hết những lời buộc tội".

Thẩm phán sửa lại kính, nhưng khuôn mặt bà ta không để lộ bất kỳ điều gì.

Khi bà ta cất lời, mỗi câu nói đều chính xác và mệt mỏi.

— Tôi tin là bị cáo đã làm tất cả những gì cô ấy có thể để cứu vãn một tình thế đã đến bước đường cùng - thẩm phán Algierri nói. - Nhưng vấn đề về lượng cồn trong máu vẫn làm tôi không an tâm. Một mạng sống đã bị lấy đi. Sara Cabot đã chết. Có đủ chứng cứ ở đây để chuyển vụ án này lên bồi thẩm đoàn.

Tôi cứng người lại vì sốc khi phiên toà phúc thẩm được sắp xếp trong vòng vài tuần tới. Tất cả đều đứng khi thẩm phán bước ra khỏi phòng, rồi một đám đông vây xung quanh tôi. Tôi nhìn thấy nhũng bộ quân phục màu xanh lẫn trong đám đông, những ánh mắt tránh nhìn thẳng vào mắt tôi, và hàng loạt micrô chĩa thẳng vào tôi. Tôi vẫn nắm lấy tay Mickey.

Lẽ ra chúng ta phải nhận được lệnh bãi bỏ.

Lẽ ra chúng ta phải thắng.

Mickey giúp tôi đứng dậy, tôi theo sát ông khi đi qua đám đông. Joe ôm lấy vai tôi khi cả ba chúng tôi và Yuki Castellano bước ra khỏi phòng xử án đi về phía cầu thang. Chúng tôi dừng lại ở dưới chân cầu thang tầng trệt.

— Khi bước ra ngoài, hãy ngẩng cao đầu - Mickey khuyên tôi. - Khi bọn họ hét lên, Tại sao mày giết cô bé? - cứ bước thẳng vào xe. Đừng cười, đừng nhếch mép và đừng để cánh nhà báo hạ gục cô. Cô không làm gì sai trái cả. Hãy về nhà và đừng nghe điện thoại. Tôi sẽ đến nhà cô sau.

Cơn mưa vừa dứt khi chúng tôi bước ra khỏi toà án. Một buổi chiều xám xịt. Tôi vẫn bị sốc khi nhìn thấy hàng trăm người tụ tập bên ngoài toà án để nhìn viên cảnh sát đã bắn chết một cô bé.

Mickey và Yuki tách khỏi chúng tôi để gặp cánh nhà báo, và tôi biết là toàn bộ tâm trí Mickey giờ tập trung vào việc sẽ bào chữa cho sở cảnh sát San Francisco và thành phố San Francisco như thế nào.

Joe và tôi đi qua đám đông đang chen lấn, la ó, tiến về phía con đường nơi chiếc xe của chúng tôi đang đỗ. Tôi nghe thấy khẩu hiệu “Đồ giết trẻ em, đồ giết trẻ em" và các câu hỏi xả vào tôi như đá.

— Cô đã nghĩ gì, Trung uý?

— Cô cảm thấy thế nào khi cô bắn bọn trẻ?

Tôi biết mặt những phóng viên của đài truyền hình: Carlos Vega, Sandra Dunne, Kate Morley, tất cả bọn họ đã từng phỏng vấn tôi khi tôi làm nhân chứng cho bên nguyên. Giờ tôi cố hết sức để lờ họ đi, không nhìn vào máy quay và những tấm áp phích có dòng chữ Phạm tội hành động tàn ác.

Tôi giữ mắt nhìn thẳng về phía trước và bước đi đều với nhịp chân của Joe cho đến lúc chúng tôi đến chiếc xe màu đen.

Ngay khi vừa đóng sập cửa xe, người lái xe cho xe chạy lùi ra phố Polk. Anh quay ngược xe lại và lái về phía đồi Portrero.

— Hắn ta đã giết chết em ở trong đó - tôi nói với Joe khi chúng tôi trên đường.

— Thẩm phán đã nhìn thấy em, hiểu em là người thế nào. Chỉ tiếc là bà cảm thấy bà phải làm những gì cần thiết.

— Cánh cảnh sát đang theo dõi em, Joe ạ, những người cảnh sát dưới quyền em và trông chờ em hành động đúng đắn. Sau vụ này em còn có được sự tôn trọng của họ chăng?

— Lindsay, những người chính trực của thành phố này ủng hộ em. Em là một người tốt, và một cảnh sát cừ.

Những câu nói của Joe cho tôi cảm giác trái ngược hẳn với những lời lẽ cay độc của Mason Broyles. Tôi gục đầu vào cái áo sơ mi màu xanh rất đẹp của anh và để cho những dòng nước mắt bị dồn nén tuôn trào trong khi anh ôm tôi an ủi.

— Em ổn rồi - cuối cùng tôi nói. Tôi cầm lấy khăn mùi xoa anh đưa. - Em bị dị ứng phấn hoa đấy mà. Phấn hoa lúc nào cũng làm em sụt sùi.

Molinari cười và ôm chặt lấy tôi khi chiếc xe thẳng hướng về nhà. Chúng tôi đi qua phố 20 và những ngôi nhà sáng màu đứng xen kẽ nhau dần hiện ra.

— Có lẽ em sẽ xin thôi việc - tôi nói, - nhưng điều đó càng làm cho mọi người nghĩ là em có tội.

— Lindsay ạ, không có bất kỳ một bồi thẩm đoàn nào sẽ đứng về phía lũ trẻ sát nhân kia đâu. Điều đó là không thể.

— Anh hứa chứ?

Joe lại siết chặt tay tôi, nhưng anh không trả lời. Tôi biết anh tin tưởng tôi hoàn toàn, nhưng anh không thể hứa một lời hứa anh không chắc chắn.

— Anh sẽ đi ngay à? - cuối cùng tôi hỏi.

— Ước gì anh không phải đi. Nhưng đúng, anh phải đi.

Công việc của Joe hiếm khi cho phép anh có thời gian cho tôi.

— Một ngày nào đó anh sẽ có một cuộc sống của riêng mình - anh nói dịu dàng.

— Vâng, em cũng vậy.

Đó là sự thật? Hay chỉ là một viễn cảnh mơ hồ? Tôi lại gục đầu vào vai Joe. Chúng tôi cầm tay nhau và tận hưởng khoảnh khắc có thể là những giây phút cuối cùng của chúng tôi trong vài tuần, im lặng cho tới khi chúng tôi hôn nhau và chào tạm biệt trước thềm nhà.

Về đến nhà, trong căn phòng tĩnh lặng, tôi cảm nhận được tinh thần mình kiệt quệ tới mức nào. Những thớ thịt đau nhừ vì đã phải cố giữ tôi đứng vững, cơn đau vẫn còn dai dẳng. Thay vì giải thoát cho tôi khỏi lời buộc tội, sự bôi nhọ thanh danh và niềm tin của tôi vào chính mình, phiên toà hôm nay chỉ là một buổi tổng duyệt cho phiên toà sắp tới.

Tôi thấy mình như đang bơi ngược dòng. Tôi ngả lưng xuống chiếc giường mềm mại cùng Martha, kéo chăn lên ngang cằm và để giấc ngủ ập đến như một đám sương mù dày.

***

Nắng sớm mai xuyên qua những đám mây khi tôi ném chiếc va-li cuối cùng vào sau xe, thắt dây an toàn, và lùi chiếc Explorer ra đường. Tôi nóng lòng muốn thoát khỏi thành phố và Martha cũng vậy, nó ngồi thò đầu ra cửa sổ và vẫy đuôi phần phật.

Giao thông tắc nghẽn như trong bất kỳ một ngày làm việc nào, vì vậy tôi cho chiếc Explorer chạy theo hướng nam và ngồi nhớ lại cuộc nói chuyện cuối cùng với sếp Tracchio.

— Nếu là tôi, tôi sẽ đi khỏi đây, Boxer ạ - ông ta nói với tôi. - Cô đang bị đình chỉ công tác, cứ coi đó là một kỳ nghỉ và hãy đi đâu đó.

Tôi hiểu những gì ông ta nghĩ mà không nói ra. Trong lúc vụ án của tôi chưa được giải quyết, tôi là cái gai trong mắt cả sở cảnh sát. Cút đi?

— Được, thưa Sếp. Không vấn đề gì, thưa sếp.

Những ý nghĩ đầy hỗn loạn về phiên toà sơ thẩm và nỗi sợ hãi trước phiên toà phúc thẩm sắp tới nhảy múa trong đầu tôi.

Rồi tôi nghĩ đến chị gái mình đã trải thảm đón chào tôi và nghĩ mình thật may mắn.

Chưa đầy 20 phút, tôi đã có mặt trên đường cao tốc 1, con đường chạy cắt qua một ngọn núi tảng cao 10 mét. Sóng biển Thái bình dương đập vào sườn núi bên phải tôi và những ngọn núi phủ cây xanh rờn trập trùng bên trái.

— Này, Boo tôi gọi chú chó của tôi bằng cái tên âu yếm của nó. - Đây gọi là một kỳ nghỉ. Mày có thể nói k-ỳ n-g-h-ỉ không?

Martha quay gương mặt đáng yêu sang nhìn tôi bằng đôi mắt nâu đầy trìu mến, rồi lại chĩa mũi ra hóng gió và tiếp tục tận hưởng cảnh đẹp ven biển. Nó đã làm quen với chương trình mới, và giờ đến lượt tôi.

Tôi mang theo vài thứ đồ cho kỳ nghỉ: khoảng dăm bảy cuốn sách mà từ lâu tôi vẫn muốn đọc; vài cuốn băng video hài; và cây đàn ghita, một cây đàn cũ kỹ hiệu Seagull mà trong suốt 20 năm qua thi thoảng tôi vẫn bập bùng.

Khi ánh mặt trời toả sáng con đường, dường như tâm trạng tôi cũng sáng sủa hơn. Một ngày tuyệt đẹp và chỉ là của riêng tôi. Tôi bật radio và dò sóng cho đến khi tìm được đài phát những bản nhạc rock&roll.

Người dẫn chương trình như đọc được ý nghĩ của tôi, cho phát toàn những bản nhạc từ những năm 70 và 80, đưa tôi về lại với thời thơ ấu, về với những tháng ngày còn học đại học và những kỷ niệm của ngàn lẻ một đêm hát cùng ban nhạc nữ của mình ở các quán bar và quán cà-fê.

Lại là tháng sáu, trường học đã đóng cửa - có lẽ là mãi mãi.

Tôi vặn to âm thanh.

Tiếng nhạc làm tôi phấn chấn, tôi hít đầy không khí vào phổi và ngân nga hát những bản nhạc rốc LA và những ca khúc khác. Tôi ngâm nga "Khách sạn California" và "Em làm cho tình yêu thật thú vị" rồi khi Springsteen gầm lên bài hát "Chạy trốn cả cuộc đời" tôi nhấn ga, cảm nhận toàn bộ bài hát đến từng chân tơ kẽ tóc.

Tôi thậm chí còn kéo cả Martha vào cuộc, bắt nó hú theo bài "Chạy trốn tay không" của Jackson Browne.

Và đó là lúc mà tôi phát hiện ra.

Tôi quả là đang chạy tay không. Đèn báo hiệu hết xăng nháy điên loạn cho hay bình xăng của tôi đã trống trơn.

Tôi thả cho xe chạy vào một trạm bán xăng nằm trên địa hạt của Vịnh Nửa Vầng Trăng. Một công ty nhỏ bằng cách nào đó đã tránh không bị nuốt chửng bởi những tập đoàn dầu mỏ khổng lồ, một nơi thô sơ với những cây xăng có mái sắt mạ kẽm và biển chỉ dẫn bằng giấy viết tay dán trên cửa vào văn phòng: Một trạm xăng lạ lùng.

Một anh chàng tóc màu nâu nhạt khoảng gần 30 tuổi chùi tay vào cái giẻ, tiến về phía tôi khi tôi bước ra khỏi xe và lê cái chân đau.

Chúng tôi qua lại vài câu về chất lượng xăng, rồi tôi đi tới máy bán nước ngọt tự động đặt trước văn phòng. Tôi nhìn quanh sân, cỏ dại mọc um tùm, hàng chồng lốp xe hỏng, vài thứ bỏ đi khác.

Vừa đưa lon Coca Cola mát lạnh lên miệng thì tôi nhìn thấy chiếc xe nằm dưới bóng râm của ga ra, một chiếc xe làm trái tim tôi đập mạnh.

Một chiếc Pontiac Bonneville 81 màu đồng, giống hệt chiếc xe mà chú Dougie của tôi từng có khi tôi còn học trung học. Tôi lại gần, hé nhìn vào trong xe, rồi tôi ngó xuống mui xe đang để mở. Pin đã đóng cặn, dây đánh lửa khởi động đã bị chuột cắn đứt, nhưng những thứ còn lại vẫn còn tốt.

Một ý nghĩ chợt nảy đến với tôi.

Khi đưa thẻ tín dụng cho tay nhân viên phục vụ trạm xăng, tôi trỏ ngón cái ngược về phía sau lưng mình và hỏi, - Chiếc Bonneville kia có phải để bán không?

— Tuyệt đẹp, đúng không? - Anh chàng nhe răng ngước lên nhìn tôi qua chiếc mũ lưỡi trai. Anh ta quẹt thẻ tín dụng của tôi vào máy, rồi đưa hoá đơn cho tôi ký.

— Chú tôi hồi trước mua một chiếc xe như thế này đúng lúc nó vừa ra.

— Thật à? Một con xe cổ đấy.

— Nó còn chạy không?

— Nó sẽ chạy. Tôi đang sửa nó. Bán dẫn vẫn còn tốt. Cần một bộ khởi động mới, máy dao điện, thêm vài thứ này nọ.

— Thực ra tôi muốn tự mình nghịch máy một chút. Thử nghiệm ý mà, cậu hiểu không?

Cậu chàng bán xăng lại nhe răng và có vẻ khoái ý tưởng của tôi. Cậu ta để tôi trả giá, và tôi giơ 4 ngón tay lên. Cậu ta nói, - Đừng tưởng bở nhé, ít nhất thì nó cũng đáng 1000.

Tôi xoè bàn tay, 5 ngón tay ve vẩy trong gió.

— Mua xe tù mù thế này thì không thể hơn 500 được.

Cậu chàng nghĩ rất lâu, làm tôi lại càng khao khát có được chiếc xe. Tôi đang định nâng giá thì cậu ta nói - Được, nhưng bán nguyên trạng đấy nhé, cô hiểu không. Không đảm bảo gì hết.

— Có sách hướng dẫn không?

— Trong hộp để đồ trong xe. Tôi sẽ cho thêm cái cờ lê và vài cái tuốcnơvít nữa.

— Xong - tôi nói.

Chúng tôi xoè tay đập vào nhau đánh bốp, cụng cùi chỏ và bắt tay cho một vụ mua bán thành công.

— Tiện thể tôi tên là Keith Howard.

— Tôi là Lindsay Boxer.

— Thế tôi sẽ phải chuyển đống sắt này đến đâu đây hả Lindsay?

Đến lượt tôi toe toét. Đúng là tôi sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về chiếc xe này. Tôi viết cho Keith địa chỉ nhà chị gái và chỉ cậu ta đường đến đó.

— Đi lên đồi, rồi rẽ sang Miramontes, sau đó đến Sea View. Ngôi nhà màu xanh bên phải, ngôi nhà thứ hai tính từ cuối đường.

Keith gật đầu. - Ngày kia tôi sẽ mang nó đến nếu được.

— Quá tuyệt - tôi nói, chui lại vào chiếc Explorer. Keith nháy mắt và nhìn tôi đầy tình tứ.

— Hình như tôi đã gặp cô ở đâu rồi thì phải, Lindsay ạ!

— Không - tôi nói, bật cười. - Nhưng có cố gắng đấy. Cậu chàng bán xăng định tán tỉnh tôi! Tôi đủ lớn để làm chị gái nó.

Thằng bé bật cười cùng tôi.

— Thôi được, Lindsay. Khi nào cần thì gọi cho tôi vậy, để kéo xe chẳng hạn.

— OK, tôi sẽ gọi - tôi nói, trong bụng nghĩ hoàn toàn ngược lại. Nhưng tôi vẫn mỉm cười khi bóp còi tạm biệt.

***

Sea View là một đường nối trong một chuỗi những con đường cụt. Nó nằm cách hẳn khỏi đường vòng của vịnh qua một cồn cỏ rộng khoảng ba dặm. Tôi mở cửa xe, Martha nhảy vọt ra ngoài và tôi gần như bị choáng ngợp bởi mùi hương hăng hăng của hoa hồng núi theo luồng gió mát từ biển thổi vào.

Tôi đứng khoảng một phút, ngắm nhìn căn nhà vui mắt của Cat. Những khung cửa sổ, hàng hiên rồi một hàng rào hoa hướng dương ở vườn trước. Rồi tôi lấy chìa khoá từ một ô nhỏ ở rầm đỡ cửa và mở cửa bước vào cuộc sống của chị gái mình.

Bên trong, nhà của Cat là một mớ bòng bong vô số đồ đạc các chủng loại, những giá sách chật cứng, các phòng đều nhìn ra hướng Vịnh. Tôi cảm thấy toàn bộ cơ thể như được thư giãn, và cái ý tưởng thôi không làm cảnh sát lại ập đến trong tôi.

Tôi rất thích sống ở một nơi như thế này.

Tôi sẽ thích thức dậy vào buổi sáng để nghĩ về sự sống chứ không phải là cái chết. Đúng thế không nhỉ?

Tôi mở cửa sau và nhìn thấy một căn chòi của trẻ em ở sau vườn. Nó được sơn bằng màu xanh da trời sẫm như căn nhà và được rào bằng cọc xung quanh. Martha chạy chúi đầu xuống bậc tam cấp còn tôi theo sát nó.

Tôi ngờ là tôi sắp được gặp Penelope.

Penelope là một chú lợn ỉn to lớn bụng phệ, đen sì và lông lá. Cô nàng lạch bạch đi lại phía tôi, thở hổn hển, tôi nghiêng qua hàng rào và xoa đầu cô nàng.

— Chào người đẹp - tôi nói.

“Chào Lindsay"

Có một tờ giấy đính ở căn nhà gỗ bé nhỏ của Penelope, tôi cầm lên đọc:

“Những quy định của nhà lợn - do Penelope - soạn.

Lindsay yêu quý,

Dưới đây là tất cả những gì bạn cần biết về tôi.

Ngày nào tôi cũng muốn được ăn hai bữa và muốn có một bát nước sạch.

Tôi thích cà chua, bánh Saltine quết bơ lạc và đào.

Xin hãy ra chơi và nói chuyện với tôi hàng ngày. Tôi thích các câu đố và thích bài hát trong phim Sponge Bob Square Pants

Trong trường hợp cần thiết, bác sỹ của tôi là Bác sỹ Monghil trong thành phố và những chị em lợn của tôi là Carolee và Allison Brown. Allison là người bạn thân nhất của tôi. Số điện thoại của họ để bên cạnh điện thoại trong bếp.

Đừng cho tôi vào nhà nhé.

Nếu bạn gãi dưới cằm tôi, bạn sẽ được ước ba điều. Bất cứ điều gì bạn muốn trên thế giới rộng lớn này."

Tờ giấy được ký bằng những chữ X viết hoa và vết chân bé xíu của Penelope. Quy định của nhà lợn. Đúng là! Cat thật hài hước.

Tôi phục vụ Penelope những thức ăn đồ uống cần kíp rồi đi thay quần áo, mặc một chiếc quần bò sạch, một cái áo len màu tím rồi đưa Martha và Seagull ra hiên trước. Khi tôi gẩy vài âm trên đàn, mùi hoa hồng và vị mặn của biển đưa tâm hồn tôi trở lại với lần đầu tôi đến Vịnh Nửa vầng trăng.

Cũng đúng vào dịp này của năm. Cũng vẫn mùi thơm của biển trong không khí, và tôi đã điều tra vụ án mạng đầu tiên trong đời. Nạn nhân là một thiếu niên bị sát hại dã man trong một căn phòng tại một nhà trọ bẩn thỉu ở Tenderloin.

Cậu thiếu niên chỉ mặc áo phông và đi một chiếc tất trắng. Mái tóc đỏ chải gọn gàng, đôi mắt màu xanh trợn trừng, cổ họng bị rạch một nhát xuyên từ tại này sang tai kia, đầu gần như bị chém. Khi chúng tôi lật sấp thằng bé lại, tôi thấy lớp da trên mông bị lột thành từng mảng có lẽ vì đã bị đánh bằng roi.

Chúng tôi đặt tên thằng bé là John Doe, vào thời điểm đó tôi tin chắc là mình sẽ tìm được kẻ giết người. Chiếc áo phông của John Doe được bán tại một cứa hàng ở Distlllery, một quán ăn cho khách du lịch nằm ở bãi biển Moss, phía bắc của Vịnh Nửa vầng trăng.

Đó là manh mối duy nhất của chúng tôi - tuy tôi đã lùng sục khắp cả thị trấn nhỏ này và những vùng lân cận, nhưng cuộc điều tra vẫn không có kết quả.

10 năm sau, John Doe 24 vẫn chưa được hệ thống luật pháp nhận dạng, chưa được đền tội nhưng cậu bé sẽ không bao giờ là một tập hồ sơ khô khan với tôi. Nó như một vết thương nhói đau mỗi khi trái nắng trở trời.

Tôi đang định lái xe vào thành phố ăn tối thì một tờ báo rơi bịch xuống thảm cỏ. Tôi nhấc lên, mở tờ báo, và dòng tít đập vào mắt tôi:

“CẢNH SÁT THẢ TỰ DO CHO NGHI PHẠM CHÍNH TRONG VỤ ÁN Ở ĐỒI CRESCENT."

Tôi đọc một mạch hết bài báo.

Khi tìm thấy Jake và Alice Daltry bị giết hại trong nhà ở Đồi Crescent vào ngày mồng 5 tháng 5, cảnh sát trưởng Peter Stark tuyên bố Antôniô Ruiz đã nhận tội. Hôm nay theo lời cảnh sát trưởng, lời thú tội không tương thích với các chứng cứ. - Ông Ruiz đã được minh oan khỏi mọi tội danh - ông Stark nói.

Những nhân chứng nói Ruiz, 34 tuổi, một nhân viên của Công ty Điện và Ga California không thể có mặt tại nhà Daltry vào hôm xảy ra án mạng bởi vì trong thời điểm đó ông ta đang làm việc ở nhà máy dưới sự chứng kiến của tất cả đồng nghiệp.

Ông và Bà Daltry bị cắt cổ. Cảnh sát không xác nhận là hai vợ chồng bị tra tấn trước khi bị giết.

Bài báo cho biết thêm là Ruiz, người đã từng làm việc cho nhà Daltry thú tội là do bị ép buộc. Và cảnh sát trưởng Stark có nói thêm rằng cảnh sát hiện đang điều tra những manh mối và nghi phạm khác.

Tôi cảm thấy tim mình đập mạnh theo phản xạ. Điều tra những manh mối và nghi phạm khác - không khác nào nói "Chúng tôi đã cùng đường" - và máu nghề nghiệp trong tôi muốn biết tất cả, thế nào, tại sao, và đặc biệt là ai. Ở đâu thì tôi đã biết rồi.

Đồi Crescent là một trong những thị trấn nằm trên Cao lộ 1. Nó nằm ngoài vành đai của Vịnh Nửa Vầng Trăng - chỉ cách nơi tôi đang đứng khoảng từ 5 đến 6 dặm.

***

“Vào và ra trong vòng dưới 5 phút. Tuyệt đối không được quá 5 phút."

Kẻ theo dõi đánh dấu chính xác thời gian hắn bước ra khỏi chiếc xe tải màu xám để đi vào đường Ocean Colony. Sáng nay hắn ăn mặc như một công nhân đo đạc: áo bảo hộ lao động liền quần tối màu với miếng đắp màu đỏ và trắng trên túi ngực. Hắn kéo mũ lưỡi trai xuống sát mặt, vỗ nhẹ vào hai túi, con dao gấp ở túi bên này, máy chụp ảnh ở túi bên kia. Hắn cầm bìa kẹp hồ sơ và kẹp một ống keo dán dưới nách.

Hơi thở của hắn nhanh dần khi hắn bước đến gần nhà 0 Malley. Rồi hắn dừng lại trước cửa sổ ở tầng hầm, đeo găng tay cao su, lấy dao cắt kính để cắt một lỗ vuông có kích thước 60x50 cm.

Hắn dừng lại, chờ nghe tiếng chó sủa từ phía nhà hàng xóm, rồi chui qua lỗ hổng xuống tầng hầm.

Hắn đã vào trong. Không vấn đề gì. Cầu thang ở tầng hầm chạy lên cửa bếp để mở, trong bếp đầy những vật dụng đắt tiền, nhiều dụng cụ một cách không bình thường. Kẻ theo dõi để ý thấy mã số của hệ thống báo động ghi cạnh điện thoại. Hắn ghi nhớ những con số.

“Cảm ơn nhé, bác sỹ. Đồ ngu."

Hắn lôi chiếc máy ảnh nhỏ xíu, tuyệt hảo ra, chụp liên tiếp ba kiểu ảnh, và lia nó quanh phòng.

Kẻ theo dõi lên gác, hắn thấy cửa phòng ngủ mở toang. Hắn dừng một lát trước cửa phòng, chụp lại tất cả đồ vật của một cô gái mới lớn: cái giường bốn cọc, diềm xếp nếp màu tím xanh và màu hồng kem. Những tấm áp phích của Creed và thiên nhiên hoang dã.

“Caitain, Caitain... một cô bé rất ngoan."

Hắn chĩa máy ảnh vào bàn phấn của cô bé, chụp những thỏi son và những lọ nước hoa, hộp đựng bông để ngỏ. Hắn hít hà mùi thơm của bé gái, đưa ngón tay cái chạy dọc cái lược chải đầu, bỏ vào túi một sợi tóc màu đỏ đồng.

Rời khỏi phòng cô bé, Kẻ theo dõi bước vào căn phòng lớn bên cạnh. Nó được trang trí với những màu sắc đa dạng, thơm phức mùi hoa khô.

Ở chân giường có một màn hình TV plasma khổng lồ. Kẻ theo dõi mở ngăn kéo bàn phấn, lục lọi và tìm thấy nửa tá tập ảnh buộc bằng dây chun.

Hắn mở một tập ảnh và xoè ra như xoè những quân bài. Rồi hắn xếp lại và đóng ngăn kéo. Hắn lại chậm rãi lia máy ảnh quanh phòng.

Đúng lúc đó hắn để ý thấy một ống kính bé xíu, nhỏ hơn một cái khuy áo, nhấp nháy từ cửa phòng để quần áo.

Hắn rùng mình vì sợ. Hắn đang bị quay trộm chăng?

Hắn mở tung cửa phòng để quần áo và tìm thấy một máy quay phim trên giá treo trên tường. Máy để ở chế độ tắt.

Máy quay phim không hoạt động.

Kẻ theo dõi thở phào. Hắn cảm thấy thật phấn chấn. Hắn lướt máy ảnh chụp hết các phòng trên tầng hai, tất cả mọi ngóc ngách rồi đi xuống và ra bằng lối cửa tầng hầm. Hắn đã ở trong nhà được 4 phút và vài giây.

Giờ khi đã ra ngoài, hắn chạy một đường keo dán trên cửa kính và nhét miếng kính lại vào cửa. Lớp keo sẽ giữ cho đến khi hắn lại sẵn sàng lọt vào nhà - để tra tấn và giết bọn chúng.

***

Tôi mở cửa ra vào, Martha chạy trước dây buộc, kéo tôi ra với ánh nắng chan hoà. Đang đi ra bãi biển chỉ cách nhà có vài bước chân thì một con chó đen chạy sượt qua đâm vào Martha - Martha lồng ra khỏi sợi dây tôi đang giữ và chạy lao đi.

Tiếng thét của tôi bị ngắt quãng bởi một cái gì đó đâm sầm vào sau lưng. Tôi ngã, và cái gì đó, một ai đó, trèo lên người tôi. Cái quái gì thế này?

Tôi vùng dậy khỏi đống thịt và kim loại, sẵn sàng hành động.

Khỉ ạ. Một thằng ngốc nào đó đã đè lên tôi cùng chiếc xe đạp của hắn. Thằng ngốc cố tìm cách đứng dậy. Hắn ngoài 20 tuổi, tóc mỏng dính, cặp kính gọng màu hồng treo lơ lửng một bên tai.

— So-phieee - hắn hét lên về phía hai chú chó đang chạy ra mép nước. - Sophie, Không!

Chú chó đen dừng lại, ngoái nhìn về phía tay đua xe đạp đang vừa chỉnh lại kính vừa quay sang tôi nhìn đầy lo lắng.

— Tôi thật x-x-xin lỗi. Cô có sao không? - cậu ta hỏi. Rõ ràng là cậu chàng nói lắp.

— Một phút nữa tôi sẽ cho anh biết - tôi nói cáu kỉnh. Tôi tập tễnh đi về phía Martha, nó đang lóc cóc chạy lại với tôi, tai dựng ngược, trông như vừa bị đánh, khổ thân nó.

Tôi lấy tay xoa khắp người nó, kiểm tra lại vết cắn, không để ý tới lời thanh minh của anh chàng kia là Sophie chỉ là một con chó con và không có ý định làm ai bị thương.

— Này - cậu chàng nói, - tôi sẽ đi l-l-lấy xe và đưa cô đến bệnh viện.

— Cái gì? Không, tôi ổn. Martha cũng ổn. Nhưng tôi vẫn cáu. Tôi muốn nện cho anh chàng một trận nhưng đây chỉ là một tai nạn thông thường thôi có gì ghê gớm đâu.

— Chân cô có sao không?

— Đừng lo.

— Cô có chắc không...?

Cậu chàng dắt xe đạp buộc Sophie lại và tự giới thiệu. - Bob Hinton - cậu ta nói. - Nếu cô cần một luật sư giỏi, đây là danh thiếp của tôi. Và tôi thật sự rất xin lỗi.

— Lindsay Boxer - tôi nói, cầm tấm danh thiếp. - Và đúng là tôi đang cần một luật sư giỏi. Chủ một chú chó con đè lên tôi bằng chiếc xe Cannondale của hắn.

Cậu chàng cười lúng túng. - Tôi chưa gặp cô ở đây bao giờ.

— Chị gái tôi, Catherine, sống ở đằng kia. Tôi chỉ về phía ngôi nhà màu xanh xinh xắn. Và vì đi cùng đường, chúng tôi sánh bước dọc con đường bộ đầy cát cắt ngang cồn cỏ.

Tôi nói với Hinton tôi là cảnh sát của San Francisco và đang ở nhà chị tôi trong khi nghỉ phép.

— Cảnh sát à? Cô đến đúng cho rồi đấy. Có mấy vụ án vừa xảy ra ở đây.

Tôi vừa sởn gai ốc vừa toát mồ hôi. Má tôi nóng bừng nhưng ruột gan lạnh như cắt. Tôi không muốn nghĩ đến án mạng ở quanh đây. Tôi muốn khử độc. Muốn được nghỉ ngơi và hồi phục. Và chắc chắn là tôi không hề muốn tiếp tục nói chuyện với anh chàng luật sư phiền toái này nữa, tuy anh ta có vẻ khá dễ chịu.

— Tôi phải đi đây - tôi nói. Tôi kéo chặt sợi dây buộc Martha để nó đi sát cạnh tôi và rảo bước. - Chào nhé - tôi nói với qua vai. Và nhớ nhìn đường đấy!

Tôi đi về phía bờ biển, cố thoát khỏi Bob Hinton càng sớm càng tốt.

Xa mặt. Cách lòng.

Nước biển quá lạnh để có thể bơi nên tôi ngồi bắt chân chữ ngũ gần mép nước và nhìn đăm đăm về phía chân trời nơi vịnh xanh thẳm tiếp giáp với Thái Bình Dương cuồn cuộn.

***

Martha đang chạy dọc bãi biển, cát bắn tung lên sau chân nó, còn tôi đang tận hưởng nắng mặt trời toả ấm trên mặt thì cảm thấy có ai đập mạnh vào gáy.

Tôi cứng người.

Tôi thậm chí còn không dám thở.

— Mày đã giết người - một giọng nói cất lên. - Lẽ ra mày không nên làm vậy.

Ban đầu tôi không nhận ra giọng ai. Tâm trí tôi rã rời, tìm một cái tên, một lời giải thích, tìm đúng từ để nói. Tôi với tay ra sau lưng để lấy súng, trong tích tắc tôi nhìn thấy khuôn mặt thằng bé.

Tôi nhìn thấy sự căm thù trong đôi mắt nó. Tôi nhìn thấy nỗi sợ hãi của nó.

— Im - thằng bé hét lên, chọc mạnh họng súng vào cột sống của tôi. Mồ hôi tôi chảy ướt đầm khắp người. - Mày đã giết chị tao. Mày đã vô cớ giết chị tao!

Tôi nhớ lại cái nhìn trống rỗng của Sara Cabot khi nó ngã xuống.

— Tôi xin lỗi - tôi nói.

— Mày xin lỗi để làm gì? Mày cứ chờ đấy. Không ai quan tâm đâu.

Người ta bảo bạn không nghe được tiếng súng bắn bạn, nhưng chắc chắn đó chỉ là một lời đồn. Tiếng súng nó xuyên qua cột sống tôi nghe như tiếng bom.

Tôi ngã vật xuống đất. Tôi không thể nói và cũng không ngăn được dòng máu đang tuôn trào chảy hoà vào dòng nước lạnh của vịnh.

Nhưng sao lại thế này? Phải có một lý do nào đó mà tôi chưa nghĩ ra. Một điều gì đó đáng lý tôi đã phải làm.

Còng tay chúng. Đáng lẽ tôi phải làm thế.

Đó là điều mà tôi nghĩ tới khi tôi mở mắt.

Tôi đang nằm nghiêng, trong tay nắm đầy cát. Martha đang thở vào mặt tôi, nhìn tôi chăm chăm.

Có người quan tâm.

Tôi ngồi dậy, với tay quàng lấy nó, vùi mặt vào cổ nó.

Cảm giác khó chịu của giấc mơ vẫn còn. Chẳng cần phải học chuyên ngành tâm lý tôi mới biết được điều này có nghĩa là gì. Tôi đang bị những sự kiện xảy ra tháng trước ám ảnh.

Tôi lún sâu đến tận cổ rồi.

— Không sao, không có gì - tôi nói với Martha.

Tôi đang nói dối chú chó nhỏ của mình.

***

Trong lúc Martha chạy đuổi đàn chim, tôi thơ thẩn ngắm bầu trời và vờ như mình đang trôi lơ lửng trên đó cùng những con mòng biển. Đang trầm ngâm suy nghĩ về quá khứ đã qua và tương lai mù mịt bỗng tôi nhìn sang bên và thấy anh.

Tim tôi đập mạnh. Nụ cười của anh rạng rỡ, nhưng đôi mắt xanh nheo lại vì ánh nắng chói chang.

— Chào người đẹp - anh nói.

Trời ơi, sóng biển đưa cái gì đến thế này..!

Tôi để anh đỡ tôi đứng dậy. Chúng tôi hôn nhau, và tôi cảm giác luồng hơi nóng lạ thường đang đốt cháy ruột gan tôi.

— Anh làm thế nào mà kiếm được một ngày nghỉ? - Cuối cùng tôi hỏi và ôm chặt lấy anh.

— Em không hiểu à. Đây là công việc. Anh đang sục sạo ven biển để tìm kiếm bọn khủng bố - anh đùa. - Các bến cảng và bờ biển, đó là địa bàn hoạt động của anh.

— Em lại tưởng việc của anh là chọn màu báo hiệu đấy.

— Cả thế nữa - anh nói. Anh vẫy vẫy cái cà vạt về phía tôi. - Em thấy không? Màu vàng.

Tôi thích cách đùa của anh về công việc của mình, bởi vì nếu không làm vậy mọi thứ sẽ trở nên quá u uất.

— Đừng có đùa - anh nói, rồi chúng tôi lại hôn nhau. - Công việc này vất vả lắm đấy.

Tôi bật cười. - Làm việc nhiều quá là phát điên lên đấy anh ạ.

— Này, anh có cái này cho em - anh nói khi chúng tôi sánh bước đi trên cầu tàu. Anh rút một gói giấy ra khỏi túi và đưa cho tôi. - Anh tự gói đấy.

Gói giấy được dán bằng băng dính, và Joe viết một dây các chữ X và O thay vì thắt nơ. Tôi mở gói giấy, lấy ra một sợi dây bạc.

— Cái này là để cho em an toàn - Joe nói.

— Anh yêu, đây là Kokopelli. Sao anh biết em thích? - Tôi giơ cái mặt đá nhỏ xíu lên mắt.

— Lọ gốm Hopi trong nhà em đã gợi ý cho anh.

— Em thích lắm. Không những thế, em rất cần nó - tôi nói, quay lưng lại phía anh để anh đeo sợi dây vào cổ tôi.

Joe gạt sợi tóc ở sau gáy tôi và hôn vào đúng chỗ đó. Đôi môi anh, cái má ráp ên gáy tôi, làm tôi khẽ rùng mình. Tôi hổn hển, rồi quay lại vào vòng tay anh. Tôi thích được như thế này lắm.

Tôi hôn anh nhẹ nhàng, và nụ hôn của anh mạnh mẽ hơn, cuồng nhiệt hơn. Cuối cùng tôi tuồn ra khỏi vòng tay anh.

— Đi bỏ bớt mấy thứ áo quan này ra nào - tôi nói.

Phòng ngủ dành cho khách của Cat được quét vôi màu hồng đào và rất thoáng mát. Một giường ngủ đôi đặt sát cửa sổ. Áo vét của Joe bay lên ghế, tiếp đến là sơ mi bò và cà vạt vàng.

Tôi giơ tay lên, và anh nhẹ nhàng kéo áo quây sát người của tôi qua đầu. Tôi cầm tay anh đặt lên ngực, hơi ấm của anh làm tôi gần như bay bổng. Tôi hổn hển thở khi quần soóc rơi xuống chạm sàn nhà.

Tôi nằm trên giường ngắm nhìn cho đến lúc Joe cởi xong quần áo và lên giường nằm cạnh tôi. Trời ơi, anh đẹp quá. Rồi tôi lao vào vòng tay anh.

— Anh có cái này nữa cho em, Lindsay ạ - Joe nói.

Cái mà anh có thật quá rõ ràng. Tôi cười vào cổ anh.

— Không chỉ có cái đấy đâu - Joe nói. - Cái này cơ.

Tôi mở mắt và nhìn thấy dòng chữ nhỏ viết nguệch ngoạc trên ngực bằng bút bi. Anh đã viết tên tôi lên trái tim anh.

Lindsay

— Anh thật hài hước - tôi cười.

— Không, anh lãng mạn - Joe nói.

Với tôi Joe không chỉ là người bạn tình. Anh quá tuyệt và quá tử tế để tôi chỉ nghĩ đến anh như một anh chàng bảnh choẹ. Nhưng tôi đã từng phải trả giá cho tình yêu. Trong những lúc thế này, khi công việc của chúng tôi cho phép, chúng tôi gần gũi không thể tả xiết Rồi buổi sáng Joe phải quay về Washington, và tôi không biết liệu tôi còn gặp lại anh không - hay có còn bao giờ được cảm thấy thế này nữa không.

Người ta từng nói tình yêu tìm đến bạn khi bạn đã sẵn sàng.

Liệu tôi đã sẵn sàng chưa?

Lần cuối cùng tôi yêu một người đàn ông, anh ấy đã chết thê thảm.

Thế còn Joe?

Anh đã từng bị tổn thương vì cuộc ly hôn. Liệu anh có khi nào lấy lại được niềm tin?

Ngay lúc này, tôi đang nằm trong vòng tay anh, trái tim tôi bị chia đôi giữa quyết định mở rộng lòng mình với anh và việc phải bảo vệ bản thân khỏi nỗi đau ly biệt.

— Em ở đâu thế Lindsay?

— Ở đây, em ở ngay đây.

Tôi ôm chặt lấy Joe, cố ép mình quay lại với hiện tại. Chúng tôi hôn và vuốt ve nhau, nghĩ đến lúc rời xa nhau là tôi không thể chịu đựng nổi. Chúng tôi lại hoà quyện vào nhau, ăn khớp hoàn hảo.

— Anh yêu em, Lindsay - anh lẩm bẩm.

Tôi gọi tên anh, nói với anh rằng tôi yêu anh khi khoái cảm lại dâng lên và tôi để cho những ý nghĩ sợ hãi xa rời.

Chúng tôi nằm ôm nhau rất lâu sau đó, chỉ nghe nhịp thở của nhau, tưởng như trái đất ngừng quay thì có tiếng chuông cửa.

— Khỉ thật - tôi nói. - Kệ nó.

— Phải xuống mở cửa em ạ - Joe nói nhẹ nhàng. - Có thể có người cần tìm anh.

Tôi trèo qua người Joe, khoác áo sơ mi của anh và đi xuống mở cửa. Một phụ nữ ngoại ngũ tuần xinh đẹp đang đứng trên hiên với nụ cười trên môi. Với một người đi xin tiền quyên góp thì bà ta quá sành điệu trong bộ đồ thể thao và cái áo len hiệu Lilly Pulitzer, với một đặc vụ FBI thì trông lại quá hồ hởi.

Bà ta tự giới thiệu là Carolee Brown.

— Tôi sống ở dưới đường Cabrillo, khoảng nửa dặm về phía bắc. Ngôi nhà màu xanh có dãy xích kia kìa.

— À, vâng. Tôi biết chỗ đó rồi. Trường học thì phải?

— Vâng, đúng nó đấy.

Tôi không có ý nổi nóng, nhưng tôi cảm thấy không thoải mái chút nào khi phải đứng đó với khuôn mặt vừa bị cọ râu và một mái tóc rối bù vì chuyện đó.

— Tôi có thể giúp gì cho bà, thưa Bà Brown?

— Thực ra tôi là Tiến sỹ Brown, nhưng xin cứ gọi tôi là Carolee. Lindsay phải không? Tôi và con gái tôi giúp chị cô chăm sóc Penelope. Cái này là cho cô.

Bà ta đưa cho tôi một cái đĩa đậy giấy bạc.

— Ôi, đúng là Cat có nhắc đến bà. Tôi xin lỗi. Đáng lẽ tôi phải mời bà vào, nhưng...

— Không cần đâu. Tôi không sang chơi. Tôi chỉ sang đưa bánh thôi. Chào mừng cô đến với Vịnh Nửa Vầng Trăng.

Tôi cảm ơn Carolee, và chúng tôi trao đổi thêm vài lời trước khi bà ấy chào tạm biệt và ra xe. Tôi cúi xuống nhặt tờ báo, liếc qua trang đầu trong lúc đi vào phòng ngủ. Hôm nay trời nắng, chỉ số Nasdaq tụt xuống mười điểm, vụ án ở Đồi Crescent vẫn chưa đi đến đâu. Thật khó có thể tin nổi là ở một nơi tuyệt đẹp như thế này lại có thể xảy ra án mạng.

Tôi nói với Joe về vụ án mạng, rồi bóc lớp giấy bạc trên đĩa.

— Bánh sôcôla - tôi nói. - Của bà Carolee.

— Bà Carolee. Như kiểu Con thỏ ngày Phục sinh?

— Chắc thế. Chắc cũng giống nhau.

Joe nhìn tôi chằm chằm đầy mơ màng.

— Em mặc cái áo đấy đẹp lắm. Áo của anh ấy.

— Cảm ơn anh.

— Em không mặc nó thì còn đẹp hơn.

Tôi bật cười và bỏ cái đĩa xuống. Rồi tôi từ từ cởi khuy áo sơ mi xanh và để nó tuột xuống khỏi vai.

***

— Hồi trước anh cũng nuôi một con lợn như thế này - Joe nói khi chúng tôi đang nghiêng người qua hàng rào nhà lợn tối hôm đó.

— Thôi đi anh! Anh sống ở khu Queen cơ mà.

— Ở khu Queen cũng có vườn chứ sao. Con lợn của anh tên là Alphonse Pignole, anh thường cho nó ăn mỳ với nước sốt rau diếp áp chảo có rưới rượu vang Cinzano. Nó thích lắm.

— Anh bốc phét.

— Không.

— Thế giờ nó đâu rồi?

— Cả nhà anh đã nướng nó lên đánh chén cùng nước sốt táo rồi.

Joe nhìn thấy ánh mắt ngờ vực của tôi.

— Rồi rồi, đoạn ấy là anh nói dối. Lúc anh học đại học, nhà anh đã gửi nó đến một gia đình tuyệt vời ở vùng nông thôn ở New York. Anh sẽ cho em xem cái này.

Anh với tay lấy cái cào, và Penelope bắt đầu ủn ỉn khụt khịt.

Joe cũng ủn ỉn khụt khịt đáp lại.

— Tiếng Latinh của lợn đấy - anh nói và nhe răng cười.

Anh dùng cái cào gãi vào lưng chú lợn. Nó quỳ thụp xuống, ụt ịt thích thú rồi lăn quay ra chổng bốn chân lên trời.

— Tài năng của anh quả là không có giới hạn - tôi nói. - Nhân tiện, em nghĩ là anh được quyền có ba điều ước.

Joe, Martha và tôi ăn tối ngoài hiên dưới ánh hoàng hôn. Tôi lấy công thức nướng gà của mẹ ra để trổ tài, sau đó chúng tôi ăn kem Cheny Garcia và Chunky Monkey.

Chúng tôi ngồi ôm chặt lấy nhau hàng giờ đồng hồ, theo dõi trận đấu crickê và nghe nhạc trên đài phát thanh, ngắm những ngọn nến chập chờn trước cơn gió nhẹ oi bức.

Sau đó, chúng tôi ôm nhau ngủ, tỉnh giấc để rồi lại đến với nhau, cười với nhau, và yêu nhau. Chúng tôi ăn bánh sôcôla, kể cho nhau nghe về những giấc mơ của mình, rồi lại ngủ, không rời khỏi nhau.

Rạng sáng, di động của Joe đưa chúng tôi về với hiện tại. Joe nói, - Vâng thưa ngài. Tôi sẽ tiến hành - rồi gập điện thoại.

Anh mở rộng vòng tay và lại ôm tôi vào lòng. Tôi dướn người lên, hôn vào cổ anh.

— Bao giờ ô tô sẽ đến đón anh?

— Khoảng vài phút nữa em ạ.

Joe không nói quá lời. Tôi có 120 giây để ngắm anh mặc quần áo trong bóng tối, qua luồng ánh sáng rọi qua cửa sổ tôi thấy anh buồn thế nào khi phải đi.

— Em cứ nằm đi - Joe nói khi tôi kéo chăn. Anh đến bên ôm tôi và anh hôn tôi cả chục lần: lên môi, lên má, lên mắt.

— À mà anh đã ước ba điều rồi đấy.

— Ba điều gì?

— Anh sẽ không cho em biết đâu, nhưng một trong ba điều ấy là Cherry Garcia.

Tôi cười. Tôi hôn anh.

— Anh yêu em, Lindsay.

— Em cũng yêu anh, Joe!

— Anh sẽ gọi cho em.

Tôi không hỏi khi nào.

***

Bọn chúng gặp nhau tại Càfê Bean sáng sớm hôm đó, ngồi xuống ghế xếp ngoài hiên đá, tầm nhìn ra vịnh bị một màn sương mù chắn. Chỉ có mình bọn chúng ở ngoài, tranh luận gay gắt về vụ giết người.

Sự thật, mặc áo da màu đen và quần bò xanh, quay sang hai tên kia nói, - Được rồi, nói lại nghe xem nào.

Kẻ Tìm kiếm theo dõi thận trọng đọc những gì hắn viết trong sổ, thời gian, thói quen và kết luận của hắn về gia đình OMalley. Hắn không cần phải được thuyết phục. Chính hắn đã phát hiện ra gia đình này và hắn mừng là điều tra của Kẻ theo dõi trùng khớp với cảm nhận của hắn. Hắn bắt đầu huýt sáo theo điệu nhạc Blues - Giao lộ - cho đến tận khi Sự thật liếc sang nhìn hắn.

Sự thật không to cao nhưng trông hắn rất ấn tượng.

— Làm tốt đấy - Sự thật nói. - Nhưng chưa đủ sức thuyết phục.

Kẻ theo dõi bối rối. Hắn kéo cổ áo len, lật qua các bức ảnh. Hắn lấy ngón tay đâm vào những bức ảnh, dùng bút khoanh tròn những chi tiết.

— Khởi đầu thế là tốt. Kẻ tìm kiếm nói, thanh minh cho Kẻ theo dõi.

Sự thật khoát tay gạt đi. - Đừng có xỏ mũi. Phải có bằng chứng cụ thể. Rồi nói - Đặt đồ ăn đi.

Cô hầu bàn tên Maddie nhanh nhẹn ra ngoài hiên trong chiếc quần bò cạp trễ bó sát người và áo quây trên thắt lưng để lộ cả một mảng eo mượt mà.

— Eo thế mới là eo chú - Kẻ tìm kiếm nói, sự say mê của hắn bị sự thèm thuồng trong ánh mắt lấp đi.

Maddie mỉm cười nhìn hắn rồi rót càfê vào cốc. Cô ta rút cuốn sổ ra ghi lại đồ ăn Sự thật gọi: trứng rán, thịt xông khói và bánh bao quế nhân nho mới ra lọ.

Kẻ tìm kiếm và Kẻ theo dõi cũng gọi đồ ăn, nhưng khác với sự thật, chúng chỉ ăn rất ít. Chúng tiếp tục thì thào bàn luận.

Xem xét lại vấn đề.

Thử lại.

Sự thật nhìn ra màn sương mù, lắng nghe chăm chú khi kế hoạch bắt đầu được hình thành.

***

Một ngày mới trải dài trên bãi biển vàng nắng. Thật tiếc là Joe không có ở đây để cùng tôi tận hưởng.

Tôi huýt sáo gọi Martha vào xe, chúng tôi đi vào thành phố để mua sắm. Khi đi trên Cao lộ Cabrrillo, tôi nhìn thấy tấm biển: “Trường Bên biển, Sở Phúc lợi trẻ em, Bang California."

Một ngôi nhà xây theo kiểu kiến trúc Vìctoria màu xanh đứng sừng sững bên đường. Không định trước, tôi lùi xe vào bãi đỗ.

Tôi ngồi một lúc lâu, ngắm nhìn ngôi nhà, sân chơi, hàng rào lớn bằng sắt. Rồi tôi khoá xe và đi qua con đường rải sỏi đến cánh cửa gỗ sồi nặng chịch.

Một phụ nữ da đen rất đậm người, có lẽ khoảng ngoài 30 tuổi, ra mở cửa.

— Xin chào - tôi nói. Tôi muốn gặp Tiến sỹ Brown.

— Mời cô vào. Bà ấy đang ở trong phòng giáo viên. Tôi là Maya Abboud. Tôi là giáo viên ở đây.

— Đây là trường gì? - tôi hỏi khi đi theo bà ta qua dãy hành lang hẹp và lối dẫn lên tầng hai.

— Phần lớn trẻ em ở đây không có gia đình được nhà nước nuôi nấng. Chúng là những đứa trẻ may mắn.

Chúng tôi đi qua những phòng học nhỏ, một phòng xem TV và hàng chục trẻ em từ rất nhỏ cho tới độ tuổi thiếu niên. Khác xa với Oliver Twist, nhưng những đứa trẻ ở đây cũng không nhà cửa và thật tội nghiệp.

Cô Abboud để tôi lại trước ngưỡng cửa một căn phòng sáng sủa, có rất nhiều cửa sổ, Carolee Brown đang ở trong phòng. Bà đứng dậy đi về phía tôi.

— Lindsay. Thật mừng được gặp lại cô.

— Tôi đi ngang qua đây và tôi muốn xin lỗi vì hôm qua đã thật khiếm nhã.

— Ồ, không sao. Tôi đã đến mà không báo trước, và cô lại chẳng biết tôi là ai. Tôi rất mừng hôm nay cô đã đến. Tôi muốn cô gặp một người.

Tôi nói với Carolee tôi không thể ở lại lâu, nhưng bà ta nói sẽ chỉ mất một phút.

Tôi theo bà ta ra ngoài sân chơi và nhìn thấy một bé gái xinh xắn, tóc sẫm màu khoảng 8 tuổi, đang ngồi bên bàn dưới tán cây, chơi với đồ chơi Power Ranger.

— Đây là con gái tôi, Allison - Carolee nói. - Ali, đây là dì Lindsay của Brigid và Meredith. Cô ấy là trung uý cảnh sát.

Mắt cô bé chợt sáng lên nhìn sang tôi.

— Cháu biết chính xác cô là ai rồi. Cô đang chăm sóc Penelope.

— Đúng rồi, Ali, nhưng chỉ trong vài tuần thôi.

— Penelope thật tuyệt vời đúng không cô? Nó có thể đọc được suy nghĩ người khác đấy.

Cô bé tiếp tục líu lo nói chuyện về chú lợn khi theo mẹ tiễn tôi ra ngoài bãi đỗ xe.

— Thật tuyệt khi cô là một nữ cảnh sát - Allison nói, nắm tay tôi.

— Thật vậy sao?

— Chắc chắn rồi. Vì như thế có nghĩa là cô rất giỏi sữa chữa các thứ.

Tôi không hiểu cô bé định nói gì khi siết chặt ngón tay tôi đầy xúc động, rồi chạy nhanh về phía xe của tôi. Martha vẫy đuôi và sủa cho đến khi tôi phải cho nó ra khỏi xe. Rồi nó chạy quanh Allison và hôn cô bé bằng những cái hôn đầy dớt dãi.

Cuối cùng chúng tôi phải tách rời đứa trẻ và Martha, rồi Carolee và tôi lên kế hoạch cho lần gặp gỡ tới. Khi vẫy tay chào qua cửa kính ô tô, tôi thầm nghĩ, mình dã tìm được bạn mới.

***

Kẻ theo dõi bồn chồn đập tay vào vôlăng trong lúc đợi Lorelei O'Malley ra khỏi nhà. “Lại phải vào trong nhà, bực chết đi được. Cuối cùng, người đàn bà ngu dốt cũng khoá cửa ra khỏi nhà trong bộ đồ dạo phố". Bà ta phóng vọt chiếc xe Mercedes nhỏ nhắn màu đỏ dọc đường Colony mà không thèm nhìn lại.

Kẻ theo dõi ra khỏi xe. Hắn mặc áo khoác thể thao xanh, quần âu, kính râm đen - bộ cánh mà quản lý của các công ty bưu chính thường mặc. Hắn bước nhanh về phía ngôi nhà.

Cũng như lần trước, Kẻ theo dõi cúi xuống ô cửa sổ tầng hầm và đi găng tay. Dùng lưỡi dao cắt qua đường hồ dán, hắn dỡ tấm kính và tụt xuống tầng hầm.

Hắn di chuyển nhanh nhẹn quanh nhà, lên phòng ngủ của nhà O'Malley. Vào trong phòng, hắn mở cửa buồng để quần áo, gạt đống áo quần sang một bên, kiểm tra máy quay phim đặt trên giá sát tường.

Kẻ theo dõi lấy cuộn băng ra khỏi máy quay phim và nhét nó vào túi. Hắn cầm một cuộn băng bất kỳ từ đống băng trên giá, cố ngăn bản năng được dọn dẹp lại ngăn nắp. Rồi hắn lấy tập ảnh trong ngăn kéo bàn phấn.

Hắn mới chỉ ở trong nhà có hai phút và 20 giây thì nghe có tiếng mở cửa.

Cổ họng hắn đắng ngắt. Bao nhiêu ngày hắn theo dõi căn nhà này, có ai trở về sau khi đã đi khỏi nhà bao giờ đâu. Kẻ theo dõi đi vào phòng để quần áo và núp mình sau đống váy. Hắn với tay ra đóng cửa.

Thảm trải sàn làm hắn không nghe thấy tiếng bước chân, và Kẻ theo dõi sững sờ khi tay nắm cửa quay. Hắn không còn thời gian để nghĩ. Cánh cửa phòng để quần áo mở toang, quần áo bị gạt sang một bên và Kẻ theo dõi bị phát hiện, đang núp như một tên ăn trộm.

Lorelei O'Malley thở hổn hển, ôm lấy ngực, rồi bà sa sầm nét mặt.

— Tôi biết anh - bà ta nói. - Anh đang làm gì ở đây?

Con dao đã nằm sẵn trong tay hắn, nhìn thấy nó, Lorelei thét lên một tiếng kinh hoàng. Kẻ theo dõi biết hắn không còn lựa chọn nào khác. Hắn lao ra trước, lưỡi dao chém tung hết khuy áo, chiếc đầm lụa xanh rớt xuống eo bà ta.

Lorelei co rúm người, cố tìm cách chạy thoát, nhưng Kẻ theo dõi ôm chặt lấy bà ta trong một vòng tay cũng chẳng khác mấy với vòng tay người tình.

— Trời ơi. Tại sao anh lại làm vậy? - bà ta rên rỉ mắt cụp xuống, giọng hổn hển.

Ấn mạnh tay vào eo lưng, Kẻ theo dõi đưa lưỡi dao chạy dọc khoang bụng của Lorelei, cắt đứt động mạch chủ. Máu không phun ra mà chảy xối xả đẫm ướt cơ thể người phụ nữ cho đến lúc bà ta khuỵu gối, ngã xuống đống giầy dưới sàn.

Kẻ theo dõi quỳ xuống và đặt hai ngón tay vào huyết mạch. Mí mắt bà ta nhấp nháy yếu ớt. Chỉ vài giây nữa bà ta sẽ chết.

Vừa đủ thời gian để làm cái việc mà hắn cần làm. Hắn tụt váy bà ta, tháo thắt lưng quần và quất vào mông Lorelei O'Malley cho đến khi bà ta chết trong tủ quần áo của mình.

***

Phải tiếp tục hành động. Kẻ theo dõi ngồi trong xe tải đỗ ngoài bãi xe trên phố Kelly đối diện ngôi nhà hai tầng mà bác sỹ dùng làm văn phòng.

Hắn liếc nhanh về phía Kẻ tìm kiếm đang ngồi đờ đẫn hoang mang bên cạnh. Rồi hắn lại dõi mắt ra bãi đỗ xe. Hắn bồn chồn nhìn những người đi mua sắm, một vài chiếc xe vào ra.

Khi Bác sỹ Ben O'Malley bước ra, Kẻ theo dõi huých nhẹ Kẻ tìm kiếm. Mắt chúng gặp nhau. - Chuẩn bị đi.

Rồi Kẻ theo dõi bước ra khỏi xe. Hắn chạy về phía bác sỹ, theo kịp ông ta trước khi ông ta tới chiếc Suv.

— Bác sỹ, bác sỹ, may quá. Hãy giúp tôi.

— Có chuyện gì vậy hả con trai? - Bác sỹ hỏi, nom vừa giật mình vừa có vẻ hơi cáu.

— Bạn tôi. Xảy ra chuyện rồi. Tôi không biết là bị tai biến mạch máu hay nhồi máu cơ tim.

— Anh ấy đâu?

— Ở đằng kia - hắn nói, chỉ về phía chiếc xe tải đỗ cách đó khoảng 15 mét. - ông làm ơn đi nhanh lên cho.

Kẻ theo dõi chạy trước, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn xem bác sỹ có đi theo không. Ra tới chiếc xe hắn giật mạnh cửa, tránh sang một bên để bác sỹ có thể nhìn thấy Kẻ tìm kiếm đang nằm trong xe.

Bác sỹ ngó vào xe, mở mí mắt Kẻ tìm kiếm. Ông ta giật nảy người khi bị lưỡi dao sắc nhọn dí sát cổ.

— Vào xe - Kẻ theo dõi nói.

— Đừng có mở miệng - Kẻ tìm kiếm nói, dịu dàng, vô hại, điềm tĩnh, - nếu không bọn tao sẽ giết cả gia đình mày.

Bị trói chặt, bác sỹ nảy lên lăn và đập mạnh trong cốp xe tải khi Kẻ theo dõi lái xe lên dốc.

— Ở đây thì sao? - Hắn hỏi Kẻ tìm kiếm. Hắn nhìn gương chiếu hậu rồi cho xe quặt vào giữa những lùm cây. Hắn phanh lại.

Kẻ tìm kiếm nhảy ra khỏi xe, kéo mạnh cửa và dựng bác sỹ ngồi dậy.

— Nào, Bác sỹ, đến giờ rồi - hắn nói, giật băng dính ra khỏi miệng ông ta. - Có muốn trăn trối gì không? Hay mãi mãi câm miệng.

— Các anh muốn tôi nói gì? - Bác sỹ O' Malley hổn hển. - Cứ nói đi. Các anh cần tiền à? Tôi có thể đưa các anh tiền. Ma tuý? Bất cứ thứ gì các anh muốn.

— Ngu xuẩn quá đấy, Bác sỹ ạ - Kẻ tìm kiếm nói. Thậm chí là với một người như ông.

— Đừng làm thế. Hãy giúp tôi - ông ta van nài. - Xin hãy cứu tôi.

— Xin hãy cứu tôi - Kẻ theo dõi nhại.

— Tôi đã làm gì các anh? - Bác sỹ O' Malley rên rỉ.

Bác sỹ bị kéo giật ra khỏi xe và ấn ngã giúi xuống mặt đường đá.

— Đơn giản hơn mày tưởng nhiều - Kẻ tìm kiếm nói nhẹ nhàng, nghiêng người ghé vào tai bác sỹ.

— Chỉ cần nghĩ đến những điều mày yêu thích và nói lời vĩnh biệt.

Chúng lấy một hòn đá đập mạnh vào gáy Bác sỹ.

Kẻ tìm kiếm mở dao và cầm nhúm tóc muối tiêu để nhấc đầu ông. Gọn gàng như cắt một quả dưa hấu, hắn cắt cổ ông ấy.

Rồi Kẻ theo dõi lấy thắt lưng ra làm roi, quật mạnh, để lại những vệt bầm hằn trên mông O'Malley.

— Mày có cảm thấy gì không? - hắn hỏi, thở hồng hộc bên cạnh người hấp hối.

Kẻ tìm kiếm dùng đuôi áo của bác sỹ để lau vân tay trên con dao. Rồi hắn ném hòn đá và con dao xuống vực, để những bụi cây, những cây cổ thụ và những thảm cỏ che giấu chúng.

Cầm tay và chân, hai tên cùng nhấc thi thể của bác sỹ và lôi ông ta ra rìa vách đá bên đường. Chúng đu đưa thi thể mềm nhũn và đếm đến ba rồi ném nó xuống vực. Chúng đứng nghe tiếng thi thể đâm vào bụi rậm, lăn xuống vực tới một nơi thật xa để nằm đó, chúng hi vọng, cho đến khi những con sói tha đi cái xác vô giá trị.

***

Đang ngồi trên hiên dạo vài bản nhạc với cây đàn Seagull thì một tiếng xoảng khủng khiếp làm tôi giật mình. Một chiếc xe kéo đang rầm rầm chạy qua con đường Sea View yên ả. Tôi cáu kỉnh cho đến tận khi nhìn thấy chiếc xe đang kéo một chiếc Bonneville 1981.

Bonnevllle 1981 của tôi.

Tài xế vẫy tay khi nhìn thấy tôi.

— Quý cô. Tôi cô cái này cho cô đây.

À, anh chàng ngoài hành tinh. Tay bán xăng. Tôi nhe răng cười khi Keith cho xe xuống. Khi chiếc xe đã nằm trên mặt đường, anh chàng ra khỏi buồng lái và chạy về phía tôi một cách vênh vang.

— Sẽ làm thế nào để cái xe ọp ẹp này đi được? - anh ta ngồi lên bậc thềm và hỏi.

— Tôi có kinh nghiệm với vài cái xe như thế này rồi - tôi nói. - Phần lớn là xe cảnh sát.

— Cô là thợ cơ khí à? - Anh ta huýt sáo. - Khỉ thật. Tôi biết ngay là cô hay phết mà.

— Không hẳn thế đâu. Tôi là cảnh sát.

— Bốc phét.

— Thật đấy - tôi nói, bật cười khi thấy chàng trai tròn mắt kinh ngạc.

Cậu ta với cánh tay cơ bắp về phía tôi, cầm lấy cây đàn và liếc nhìn theo kiểu "Tôi chơi được chứ?"

— Cứ tự nhiên, anh bạn.

Cậu chàng đặt Seagull lên đùi, bập bùng vài hợp âm, rồi chơi vài đoạn nhạc của một bản nhạc đồng quê - Em đã bỏ tôi lại một mình. Cậu ta chơi hơi cường điệu quá, và tôi chỉ có thể đứng cười màn trình diễn của cậu ta.

Keith cúi đầu chào, rồi đưa trả lại tôi cây đàn.

— Thế còn cô chơi nhạc gì? - Cậu ta hỏi.

— Nhạc rốc. Nhạc blues. Tôi đang tự viết một bản nhạc. Ghép cái nọ với cái kia.

— Tôi nghĩ thế này, sao chúng ta không cùng đi ăn tối với nhau nhỉ? Tôi biết một quán chuyên đặc sản cá ở bãi Moss.

— Cảm ơn, Keith. Nghe hấp dẫn đấy, nhưng tôi có hẹn rồi. Tôi với tay lôi cái vòng Kokopelli mà Joe cho.

— Thế thì cô đang làm trái tim tôi tan nát đấy.

— Ái chà. Cậu sẽ ổn thôi.

— Không, thật mà. Tôi bị ấn tượng sâu sắc đấy. Cô vừa xinh đẹp, lại còn là thợ cơ khí khi cần. Cô đúng là giấc mơ của mọi chàng trai.

— Thôi nào Keith - tôi nói, vỗ nhẹ vào tay cậu ta. - Cho tôi xem cái xe mới đi. Tôi bước xuống hiên, Keith đi theo sau. Tôi đưa tay qua thanh chắn bùn, mở cửa buồng lái và ngồi vào. Chiếc xe rộng rãi thoải mái, và trên hộc xe đầy những đĩa hát và đồ đạc linh tinh, đúng như tôi nhìn thấy từ lần trước.

— Cô tinh đời đấy, Lindsay - Keith nói, nghiêng qua nóc xe. Tôi không đời nào lại bán cho cô thứ vứt đi. Hộp đồ nghề tôi để sau xe, nhưng có vấn đề gì cô cứ gọi.

— Tôi sẽ gọi.

Cậu ta mỉm cười ngượng nghịu, bỏ mũ xuống, vuốt lại mái tóc vàng, rồi đội mũ lên đầu và nói, "ok, cô bảo trọng nhé!"

Tôi vẫy tay khi cậu ta lái xe đi khỏi. Rồi tôi cho chìa vào và nổ máy.

Máy không nổ. Nó cũng chẳng ho, chẳng thở vắn than dài lấy một tiếng.

Nó chết đứng.

Tôi viết danh sách nhưng thứ cần mua rồi mất cả ngày hôm ấy đánh bóng Bonnevllle bằng những thứ tôi tìm được trong hộp đồ nghề của Keith. Tôi hạnh phúc tràn trề khi từ đống đất bụi nâu sòng bẩn thỉu chiếc xe chuyển sang màu đồng sáng bóng.

Tôi vẫn đang chiêm ngưỡng thành quả lao động của mình thì một tờ báo bay vụt từ một chiếc xe đang chạy qua. Tôi lùi nhanh lại và chộp gọn lấy tờ báo, anh chàng đưa báo hét lên - Bắt khá nhỉ! - Tôi mở tờ báo Gazette địa phương mỏng dính, và dòng chữ in đậm đập vào mắt tôi:

“VỢ MỘT BÁC SỸ ĐỊA PHƯƠNG BỊ GIẾT TẠI NHÀ. BÁC SỸ MẤT TÍCH"

Tôi đứng chôn chân trên bãi cỏ và đọc tiếp: Lorelei 0'Malley, vợ của bác sỹ Ben 0'Malley, bị giết trong nhà ở Đường Colony buổi trưa hôm nay, rất có thể đây là một vụ cướp không thành. Con gái riêng của chồng bà, Caitlin, 15 tuổi, tìm thấy thi thể mẹ kế trong phòng ngủ khi đi học về. Bác sỹ O'Malley, một bác sỹ đa khoa nổi tiếng trong vùng của cộng đồng, bị mất tích.

Chiều hôm ấy, Sếp Peter Stark yêu cầu đám đông bên ngoài sở cảnh sát bình tĩnh nhưng vẫn phải cảnh giác.

— Những vụ án mạng có nhiều điểm tương đồng - Stark nói. - Nhưng tôi không thể bình luận gì thêm bởi vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình điều tra. Hiện giờ điều duy nhất tôi có thể nói là cảnh sát sẽ không để yên cho đến lúc kẻ sát nhân bị bắt.

Để trả lời câu hỏi của các phóng viên, Sếp Stark nói, - tiến sỹ O'Malley được nhìn thấy lần cuối cùng vào buổi trưa. Khi ông đi ra ngoài ăn trưa nhưng không thấy về và cũng không gọi về. Hiện tại ông không phải là nghi phạm."

Tôi gấp tờ báo và nhìn đăm đăm về phía những ngôi nhà quét vôi màu sáng có lợp mái trên đường Sea View. Bản năng của tôi đang gào thét. Tôi là một cảnh sát không được phép điều tra, một cảnh sát không có việc. Tôi không muốn đọc về những vụ án mạng. Tôi muốn có thông tin trực tiếp.

Tôi cất những dụng cụ đang dùng để đánh bóng chiếc xe, rồi đi vào nhà và gọi cho các bạn.

Tôi bỗng thấy nhớ bạn bè của mình quá.

Người trực tổng đài nối đường dây cho Claire trước, và giọng nói dịu dàng của cô ấy làm tôi thấy ấm lòng.

— Chào bé. Đang ngủ à? Nghỉ ngơi dưỡng sức chăm sóc sắc đẹp à?

— Mình đang cố ngủ, bươm bướm ạ, nhưng đầu óc mình đang quay cuồng lên đây.

— Đừng làm phí thời gian rỗi, Lindsay, mình xin câu đấy. Trời ạ, ước gì mình cũng được đi nghỉ xả hơi nhỉ.

Cindy tham gia vào cuộc gọi, giọng nói trẻ trung của cô ấy vang lên sôi nổi lạ thường. - Không có cậu buồn lắm, Linds. Chán mớ đời.

— Mình mong có các cậu ở đây quá - tôi nói với các bạn. Trời trong xanh và cát vàng. Và Joe tối qua đã ngủ đêm ở đây.

Cindy kể về buổi hẹn hò thứ hai với anh chàng cầu thủ khúc côn cầu, hai chúng tôi huýt sáo cổ vũ, và tôi kể về Keith, chàng tóc vàng ở trạm xăng.

— Mình nghĩ cậu ta khoảng ngoài hai mươi, trông giống kiểu Brad Pitt. Cậu chàng đã tán tỉnh mình.

Claire nói - Hai cậu làm mình cảm thấy như một bà già cô chồng tẻ nhạt vậy.

— Tẻ nhạt được như cậu với Edmimd thì mình cũng muốn - Cindy nói. - Chắc chắn đấy.

Những tiếng cười và những câu nói đùa làm tôi có cảm giác chúng tôi đang vây quanh một cái bàn thắp nến ở quán Susie.

Rồi cũng giống như ở quán Susie, chúng tôi hàn huyên.

— Thế nào, thế còn những vụ ám sát mà mình được nghe nói thì sao? - Claire hỏi.

— Ôi trời. Cả thành phố đang phát điên lên đây. Một cặp vợ chồng trẻ bị giết vài tuần trước - một phụ nữ bị sát hại chỉ cách đây có vài dặm sáng hôm nay.

— Mình có nhận được tin rồi - Cindy nói. - Rất hãi hùng.

— Kẻ sát nhân có vẻ bắt đầu nhảy múa rồi đấy, và cậu biết là mình rất bực vì không thể làm gì được cả. Mình muốn lùng sục khắp hiện trường các vụ án. Mình không thể chịu đựng được khi không được tham gia.

— Ồ, thế thì cậu sẽ quan tâm đến tin này đấy - Claire nói. - Mình lấy được cái này từ hồ sơ của của các bác sỹ pháp y. Có đôi vợ chồng bị giết hại ở Đồi Crescent vài tuần trước đúng không? Họ đã bị đánh bằng roi.

Tôi đã phải thẫn thờ mất một lúc khi tâm trí quay trở lại với John Doe 24.

Cậu thanh niên đã bị cứa cổ và bị đánh bằng roi. - Họ bị đánh bằng roi sao? Claire, cậu có chắc không?

— Hoàn toàn chắc chắn, ở lưng và mông.

Đúng lúc đó, có tiếng bíp trong điện thoại và tên người gọi hiện lên như quá khứ xa xăm chợt dồn về hiện tại. Tôi nói, - Các cậu chờ mình chút - rồi nhấn vào nút đang nháy.

— Lindsay, Yuki Castellano đây. Cô có thời gian nói chuyện không?

— Thật may là tôi vẫn đang nói chuyện điện thoại với Claire và Cindy.

— Tôi cần cô thời gian để có thể chuyển nhịp sang nói chuyện với luật sư của tôi về vụ xảy ra trên phố Larkin.

Yuki nói cô ấy sẽ gọi lại vào buổi sáng, và tôi lại chuyển đường dây, tiếp tục nói chuyện với những người bạn, nhưng tâm trí tôi đang quay cuồng.

Mấy ngày vừa qua, tôi đã quên tất cả - trừ phiên toà xét xử cuộc đời tôi sắp tới.

***

Kẻ theo dõi đi trên con đường qua cồn cỏ dưới ánh trăng khuyết. Hắn đội mũ len, mặc áo len đen, và cầm chiếc máy ảnh siêu nhỏ có độ phóng lớn trong tay.

Hắn dùng nó để theo dõi một cặp tình nhân ở đầu kia bãi biển, rồi hắn dõi ống kính về phía những ngôi nhà cách vài trăm mét bên rìa đường Sea View.

Hắn thu hẹp ống kính tập trung vào một ngôi nhà: một ngôi nhà theo phong cách Cape Cod, có rất nhiều cửa sổ và hai cặp cửa kéo dẫn ra hiên. Hắn có thể nhìn thấy Trung uý Lindsay Boxer đang đi lại trong phòng khách.

Tóc buộc cao, cô đang mặc một chiếc áo phông mỏng màu trắng. Xoắn sợi dây đeo cổ trong lúc nghe điện thoại. Hắn có thể nhìn thấy đường nét ngực cô dưới lần áo.

Đầy đặn và tràn trề sức sống.

“Ngực đẹp đấy, thưa Trung úy".

Kẻ theo dõi biết rõ Lindsay là ai, cô làm gì, và tại sao cô lại đến Vịnh Nửa vầng Trăng. Nhưng hắn còn muốn biết nhiều hơn nữa.

Hắn muốn biết cô đang nói chuyện với ai. Có lẽ với anh chàng tóc sẫm đã ngủ lại đêm qua và được một chiếc xe đen của Chính phủ đến đón chăng. Hắn muốn biết về người đó: hắn ta là ai và liệu hắn ta có quay lại không.

Và hắn cũng muốn biết Lindsay để súng ở đâu.

Kẻ theo dõi chụp một vài bức ảnh của Boxer, đang mỉm cười, cau mày, tháo dây buộc tóc. Kẹp tai nghe vào cổ, ngực cô chuyển động khi cô với tay để buộc lại tóc.

Trong lúc hắn theo dõi, con chó chạy qua phòng nằm xuống gần cửa, nhìn ra ngoài - nó gần như đang nhìn thẳng vào hắn.

Kẻ theo dõi đi về phía bãi biển, nơi cặp tình nhân đang ôm hôn nhau, rồi băng qua cồn cỏ ra chỗ hắn đỗ xe. Vào trong xe, hắn lấy cuốn sổ và lật sang trang có tên của Lindsay viết bằng nét chữ tỉ mỉ.

“Trung úy Lindsay Boxer".

Ánh đèn đường vừa đủ sáng để hắn có thể viết thêm vào trang giấy.

Hắn viết: “Bị tổn thương. Cô đơn. Có vũ khí và nguy hiểm".

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.