Martha và tôi đi khỏi San Francisco dưới bầu trời xám xịt, u ám. Tôi bật đài lên nghe dự báo thời tiết, cùng lúc phải đối mặt với tình trạng ùn tắc giao thông thường nhật.
Khi đang nảy tưng tưng trên phố Portrero, tôi nghĩ đến Sếp Tracchio. Hôm qua, khi gặp nhau tại Toà thị chính, ông ta đã yêu cầu tôi trở lại làm việc, và tôi rộn ràng như thể ông ta mời tôi đi ăn tối vậy.
Tất cả những gì tôi phải làm là bắt tay đồng ý.
Nếu tôi làm vậy, sáng nay tôi đã lái xe đến Sở, phát biểu vài câu với cả đội là phải tiến lên, lại chìm ngập trong đống giấy tờ và những vụ án còn dang dở. Lấy lại quyền chỉ huy của mình.
Nhưng, tuy sếp rất van nài, tôi đã từ chối.
— Tôi vẫn còn ít thời gian nghỉ phép, Sếp ạ. Tôi phải tận dụng nốt.
Sếp nói ông ta hiểu, nhưng ông ta hiểu thế nào được? Đến tôi còn chẳng biết bản thân mình muốn gì, và tôi có cảm giác mình sẽ mãi mãi không biết cho đến khi tìm được ra sự thật về những vụ giết người ở Vịnh Nửa Vầng Trăng.
Những vụ án mạng còn dang dở này là một phần của cuộc đời tôi.
Trong thâm tâm tôi biết rằng nếu tôi cố hết sức, nếu tôi kiên trì, tôi sẽ tìm ra thằng khốn đã giết John Doe và tất cả những người khác.
Ngay lúc này, đó là tất cả những gì tôi quan tâm.
Tôi hướng theo đường 280 chạy về phía nam, khi đã ra khỏi thành phố, tôi hạ kính xe và chuyển kênh.
10 giờ sáng, gió thổi bay tóc tôi, và trên đài, Sue Hall đang cho phát những bản nhạc yêu thích của tôi trên sóng 99.7 FM.
— Sáng hôm nay trời không mưa - cô ấy nói. - Mồng 1 tháng 7, một ngày âm u tuyệt đẹp của San Francisco, mây bồng bềnh bay. Và chẳng phải chính những đám mây làm cho chúng ta thêm yêu San Francisco sao?
Rồi, bài hát tuyệt vời vang lên qua loa: - Hãy bay như một con đại bàng.
Tôi cùng hoà theo bài hát, lồng ngực căng phồng, và tâm hồn tôi lên đến tận chín tầng mây.
Tôi tự do.
Phiên toà kinh khủng đã chỉ còn lại trong gương chiếu hậu, và tương lai của tôi bỗng rộng mở như con đường xa lộ trước mặt.
Cách thành phố 18 dặm tôi dừng lại bãi đỗ xe của Taco Bell ở Pacifica vì Martha cần phải xuống nghỉ. Đó là một công trình tồi tàn xây từ những năm 60 trước khi uỷ ban quy hoạch được thành lập. Giờ công trình xấu xí nhất thế giới này đứng sừng sững tại một trong những địa điểm đẹp nhất của bờ biển.
Không như phần lớn những con đường cao tốc khác, chạy cao hẳn so với mặt biển, quán ăn nhanh nằm bằng với mực nước. Những rặng đá phân cách mặt đường với bãi biển, và bên ngoài là Thái Bình Dương xanh thẳm chảy tới tận chân trời.
Tôi mua bánh quế rắc đường hấp dẫn đến chảy bọt mép và mang bịch càfê đen ra ngoài ngồi trên một tảng đá mòn. Tôi ngắm nhìn những chàng trai thân hình cuồn cuộn xăm trổ khắp mình đang lướt ván, lái những đợt sóng, còn Martha chạy trên cát xám long lanh cho đến tận khi mặt trời gần như xua tan những đám mây.
Khi khoảnh khắc tuyệt vời này đã khắc sâu trong tâm trí, tôi gọi Martha về lại xe. Hai mươi phút sau, chúng tôi đi vào vành đai của Vịnh Nửa Vầng Trăng.
Tôi lái xe qua gara của anh chàng lập dị và bóp còi liên tục cho đến tận khi Keith ló mặt ra khỏi văn phòng. Cậu ta bỏ mũ lưỡi trai xuống, giũ mái tóc vàng, lại đội mũ lên, cười toét và thong thả đi về phía tôi.
— Ái chà. Xem ai đến này. Người đàn bà của năm - Keith nói, đặt tay lên đầu Martha.
— Ồ, tôi đấy, đúng rồi - tôi nói, phá lên cười. Tôi rất mừng là mọi chuyện đã kết thúc.
— Ừ, tôi hoàn toàn hiểu cô. Tôi nhìn thấy Sam Cabot trên tivi. Nó thật đáng thương. Tôi thật sự rất lo cho cô, Lindsay ạ, nhưng giờ cô đã vượt qua rồi. Chúc mừng cô.
Tôi lí nhí cảm ơn vì anh ta đã quan tâm và nhờ Keith đổ đầy bình xăng. Trong lúc đó, tôi lấy cái nùi cao su trong xô ra lau kính.
— Nào, thế cô dự định sẽ làm gì, Lindsay? Cô có phải quay về chốn đô thị làm việc không?
— Ngay bây giờ thì không. Cậu biết đấy, tôi vẫn chưa sẵn sàng.
Đúng lúc tôi còn chưa nói hết câu thì một chiếc xe đỏ chạy vù qua ngã tư. Lái xe cho xe chạy chậm lại, nhìn thẳng vào mặt tôi rồi lại rồ máy và vọt xuống phố Main.
Tôi quay lại thị trấn chưa đầy năm phút và Dennis Agnew đã lại xuất hiện.
— Tôi để chiếc Bonneville ở chỗ chị gái - tôi nói khi dõi theo vệt khói của chiếc Porsche. - Và tôi có một vài việc chưa giải quyết xong ở thị trấn này.
Keith quay sang, nhìn thấy tôi dõi theo chiếc xe của Agnew đang khuất dần xuống phố.
— Tôi không thể hiểu được - cậu ta nói, cho vòi xăng vào bình xăng, lắc đầu. Tiếng chuông kêu báo hiệu xăng đã được đổ đầy bình. - Hắn đúng là một gã công tử bột đểu cáng. Vậy mà sao phụ nữ lại thích những loại người như thế nhỉ.
— Cậu điên à - tôi nói. - Cậu nghĩ là tôi quan tâm đến thằng cha này à?
— Thế không phải à?
— Rất quan tâm. Nhưng không phải theo kiểu cậu nghĩ đâu. Tôi quan tâm đến Dennis Agnew hoàn toàn vì lý do công việc.
***
Khi về đến nhà Cat, Martha nhảy vọt từ ghế sau lên trước, sủa điên loạn. Tôi vừa dừng xe lại nó đã lao qua cửa kính để ngỏ và chạy tới cửa, nó đứng đó vẫy đuôi và sủa váng lên.
— Bình tĩnh nào Boo, tôi nói. - Kiên nhẫn chút đi chứ.
Tôi lách cách cho khoá vào ổ mở cửa trước: Martha chạy tọt vào nhà.
Tôi gọi cho Joe và để lại lời nhắn: - Molinari à, em đang ở nhà Cat. Khi nào có thời gian anh gọi cho em nhé. Rồi tôi gọi cho Carolee, nhắn là tôi đã về và như vậy bà ta và Allison không phải chăm sóc chú lợn nữa.
Cả ngày vừa dọn dẹp căn nhà tôi vừa suy nghĩ về những vụ án mạng ở Vịnh Nửa Vầng Trăng. Tôi nấu mỳ và đậu hộp cho bữa tối, nhẩm tính xem sáng mai đi chợ cần mua những gì.
Rồi tôi mang máy tính xách tay vào phòng của hai cô cháu gái và đặt lên bàn. Những dây khoai lang đã lại vươn thêm vài phân nữa qua ô cửa sổ, nhưng những ghi chép mà Joe và tôi đính lên bảng vẫn còn nguyên vẹn.
Những nét chữ nguệch ngoạc chúng tôi viết mô tả chi tiết về hoàn cảnh và hành vi tàn bạo trong những vụ giết vợ chồng Whittaker, Daltry, Sarducci và O'Malley vẫn không dẫn đến đâu. Và tất nhiên John Doe đơn độc của tôi cũng vẫn được đính trên tường.
Tôi bật máy tính, vào trang dữ liệu VICAP của FBI. VICAP là một trang web quốc gia với mục đích giúp các đặc vụ ở khắp nơi trên đất nước thông báo cho nhau biết những manh mối riêng lẻ của những vụ giết người hàng loạt. Trang web có một chương trình tìm kiếm rất mạnh và thông tin được các cảnh sát từ khắp nơi trên đất nước cập nhật thường xuyên.
Tôi viết những từ khoá có thể làm đảo ngược tình huống, hi vọng tìm được một vài câu trả lời.
Tôi thử tất cả: đánh lúc đang hấp hối, các cặp vợ chồng bị giết hại trên giường, và tất nhiên là cả cắt cổ, chương trình cho ra một loạt thông tin. Quá nhiễu.
Hàng giờ trôi qua, và mắt tôi bắt đầu nhoà đi, đặt máy tính sang chế độ nghỉ, tôi đặt mình xuống cái giường nhỏ xíu của hai bé gái để chợp mắt vài phút.
Khi tôi tỉnh dậy, ngoài trời đã tối đen như mực. Như thể có cái gì đó đánh thức tôi vậy. Một tiếng động nhẹ bất thường. Trên màn hình đồng hồ điện tử của bọn trẻ đã chỉ 2 giờ 17 phút, và tôi có cảm giác mình đang bị theo dõi.
Tôi nhìn ra ngoài tối và thấy một chiếc xe đỏ chạy vụt qua. Đó là dư ảnh của chiếc Porsche màu đỏ và nó làm tôi nghĩ đến những cuộc đối mặt khó chịu với Agnew. Lần ở Quán Chim cốc và ở gara của Keith. Rồi lần hắn gần như đâm vào tôi trên đường.
Tôi vẫn đang suy nghĩ về Agnew. Đó là lý do duy nhất giải thích được tại sao tôi bị theo dõi.
Tôi định đứng dậy và đi vào phòng ngủ tiếp thì một loạt những tiếng nổ mạnh và tiếng kính vỡ vang lên trong đêm tĩnh lặng.
Mảnh kính vỡ rơi tung toé xung quanh tôi.
— Súng! Súng! Súng của tôi ở đằng quái nào rồi?
Phản xạ của Martha nhanh hơn của tôi. Nó lao xuống giường, chui vào gầm. Tôi theo sau nó, vừa bò xuống sàn nhà vừa cố nhớ xem mình đã để súng ở đâu.
Rồi tôi nhớ ra.
Nó nằm trong cái túi tôi để ngoài phòng khách, và điện thoại cũng ở ngoài đó. Sao tôi có thể ở vào thế bị động thế này được cơ chứ. Không lẽ tôi sẽ chết rấp trong căn phòng này sao? - tim tôi đập đến tức cả ngực.
Tôi nhấc đầu lên cách mặt đất chỉ vài cm và nhìn quanh căn phòng qua ánh sáng màu xanh mờ mờ phát ra từ đồng hồ điện tử.
Tôi nhìn vào tất cả các đồ vật và khắp mọi góc phòng, tìm một cái gì đó, bất kỳ thứ gì tôi có thể dùng để tự vệ.
Căn phòng toàn thú nhồi bông và cả hàng chục con búp bê, nhưng không hề có bất kỳ một cây gậy bóng chày hay gậy chơi khúc côn cầu, không có bất kỳ thứ gì mà tôi có thể dùng để đánh được. Tôi thậm chí còn không thể dùng TV để ném vì nó được bắt vít vào tường.
Tôi bò trên sàn gỗ, với tay lên khoá cửa phòng ngủ.
Đúng lúc đó, lại có tiếng súng - một trận mưa đạn lia vào trước nhà, vào phòng khách và phòng ngủ ở cuối hành lang. Mục đích của kẻ giết người thế là đã rõ.
Tôi đáng ra đã phải ngủ trong căn phòng kia.
Trườn tới cái ghế, tôi nắm lấy chân ghế, đặt nó nằm nghiêng về phía hai chân trước và dùng lưng ghế ấn vào dưới nắm đấm cửa. Rồi tôi cầm một chiếc ghế khác lên, đập mạnh vào tủ.
Cầm chân ghế trong tay, tôi áp lưng vào tường.
Thật là thảm hại. Ngoài một chú chó dưới gầm giường, vật phòng thủ duy nhất của tôi là cái chân ghế.
Nếu có ai bước vào căn phòng này để giết tôi thì tôi sẽ chết chắc.
Trong lúc nghe ngóng xem có tiếng chân người đi lại trên ván sàn ngoài cửa phòng ngủ hay không, tôi tưởng tượng cánh cửa bị đá mở toang và tôi dùng chân ghế đánh kẻ đột nhập, hi vọng có thể đập vỡ đầu hắn.
Nhưng trên đồng hồ điện tử từng phút vẫn nhảy và im lặng kéo dài, thần kinh tôi căng như sợi dây đàn.
Rồi tôi bắt đầu phát điên lên.
Tôi đứng đó, tai áp sát vào cửa cho đến khi không nghe thấy gì nữa rồi mở cửa và lọ mọ đi dọc hành lang, lưng áp vào tường.
Ra đến ngoài phòng khách, tôi với lấy cái túi đặt trên sô-pha.
Tôi cho tay vào túi và nắm lấy khẩu súng.
“Ơn Chúa"
Trong lúc gọi 911, tôi hé nhìn qua rèm cửa sổ. Phố xá vắng lặng, nhưng tôi nghĩ mình đã nhìn thấy có tia sáng loé lên trên bãi cỏ trước nhà. Cái gì vậy?
Tôi nói với người trực tổng đài tên, chức danh và số thẻ, rồi về những phát súng ở số nhà 265 đường Sea View.
— Có ai bị thương không?
— Không, tôi ổn, nhưng hãy báo cho cảnh sát trưởng Stark biết về vụ này.
— Tôi đã gọi rồi, thưa Trung úy. Sếp đang trên đường tới đó.
Có tiếng còi cảnh sát và ánh đèn xe nhấp nháy tiến vào đường Sea View. Khi chiếc xe đầu tiên đến gần, tôi mở cửa trước, và Martha chạy sượt qua tôi. Nó chạy về phía một vật trông như con rắn đang nằm dưới ánh trăng.
Nó khịt khịt đánh hơi.
— Martha, mày tìm thấy cái gì vậy? Cái gì thế bé?
Tôi ngồi thụp xuống cạnh Martha trong lúc sếp Peter Stark bước ra khỏi xe. Ông ta đi về phía chúng tôi, tay cầm đèn pin và quỳ xuống cạnh tôi.
— Cô không sao chứ?
— Không sao, tôi ổn.
— Cô cũng nghĩ đây đúng là nó chứ? - ông ta hỏi.
Cả hai chúng tôi cùng nhìn vào cái thắt lưng đàn ông. Nó dài khoảng 1 mét và rộng khoảng hơn một phân, một cái thắt lưng da hẹp, khoá bạc hình vuông. Một cái thắt lưng bình thường: chắc phải có đến nửa số người sống trong bang này treo một chiếc như vậy trong tủ quần áo.
Nhưng trên khoá bạc như có vài vết máu đỏ.
— Có tuyệt không chứ - tôi nói, cố không nghĩ tới những phát súng khủng khiếp vừa nổ vài phút trước - những phát súng chắc chắn dành riêng cho tôi - thật tuyệt - tôi nói với Sếp Stark, - nếu đây là cái thắt lưng bằng chứng.
Ba chiếc xe cảnh sát đỗ bên lề đường. Tiếng radio hoạt động liên tục, các nhà sống trên phố Sea View đều sáng đèn, mọi người chạy ra ngoài cửa, vẫn mặc pygiama, váy ngủ, áo phông và quần cộc, tóc dựng ngược, nỗi sợ hãi hằn trên những gương mặt ngái ngủ.
Đèn từ các xe cảnh sát chiếu sáng trưng sàn nhà Cat, cảnh sát ra khỏi xe, nhận lệnh của cảnh sát trưởng và toả ra các phía. Một vài người bắt đầu xem xét hiện trường bên ngoài, và vài thanh tra bắt đầu yêu cầu mọi người vào trong nhà.
Tôi đưa Stark vào nhà, chúng tôi cùng kiểm tra những mảng cửa sổ vỡ vụn, đồ đạc tung toé, và đầu giường trong phòng ngủ của tôi - bị đạn xuyên thủng.
— Cô có nghi ai làm vụ này không? - Stark hỏi tôi.
— Không - tôi nói. - Xe của tôi đỗ trước cửa nhà, ai cũng nhìn thấy nhưng tôi không nói với bất kỳ một ai là tôi về đây cả.
— Thế tại sao cô lại ở đây, Trung uý?
Tôi đang cân nhắc nên trả lời ông ta thế nào thì nghe có tiếng Allison và Carolee gọi. Một cảnh sát trẻ măng, mặt đỏ tía tai lao vào cửa nói với Stark rằng tôi có khách.
— Họ không thể vào đây được đâu - Stark nói. - Chúa ạ, có ai chăng dây chặn ngoài phố chưa hả?
Khuôn mặt của tay cảnh sát thiếu kinh nghiệm lại càng đỏ lựng lên khi anh ta lắc đầu.
— Tại sao lại chưa? Số 1: Phải ổn định hiện trường. Đi làm ngay đi.
Tôi theo tay cảnh sát ra ngoài cửa, Caroleee và Allison nhào vào ôm lấy tôi, hai vòng tay mà tôi đang quá cần.
— Một đứa trẻ trong trường nhìn thấy cảnh sát - Carolee nói. - Ngay lập tức tôi chạy đến đây. Trời ơi, Lindsay. Tay của cô kìa.
Tôi liếc nhìn xuống. Những mảnh kính vỡ đã khía vào cánh tay tôi, máu chảy thành vệt làm vấy bẩn áo sơ mi.
Trông quả thật là rất tệ.
— Tôi không sao - tôi nói với Carolee. - Chỉ vài vết xước thôi mà.
— Cô không có ý định sẽ ở đây chứ, Lindsay? Bởi vì thế thì thật điên rồ. Carolee nói, trên khuôn mặt bà ấy hiện rõ sự hốt hoảng và nỗi sợ hãi. Trong nhà tôi có rất nhiều chỗ cho cô.
— Hay đấy - Stark nói, tiến tới sau lưng tôi. - Đi với người bạn tốt bụng của cô đi. Tôi phải gọi bên khám nghiệm hiện trường tới, họ sẽ cạy những viên đạn ra khỏi tường và lục tung cả chỗ này lên cả đêm đấy.
— Không sao đâu. Tôi ở đây cũng ổn mà - tôi nói với ông ta. - Đây là nhà chị gái tôi. Tôi không đi đâu.
— Thôi được. Nhưng đừng quên rằng vụ án này là của chúng tôi, Trung uý nhé. Cô không có quyền hành gì đâu. Đừng có giở trò cao bồi liều lĩnh đấy.
— Giở trò cao bồi liều lĩnh? Ông có biết ông đang nói chuyện với ai không?
— Này. Tôi rất xin lỗi, nhưng có người vừa mới định giết cô.
— Cảm ơn. Tôi hiểu rồi.
Sếp đưa tay lên vuốt tóc theo thói quen. - Tôi sẽ cho xe cảnh sát canh ngoài cửa đêm nay. Có thể là cả mấy hôm tới nữa.
Khi tôi nói lời tạm biệt với Carolee và Allison, Sếp ra xe và trở lại với một túi tài liệu, ông ta lấy bút bi móc cái thắt lưng cho vào túi trong lúc tôi vào trong nhà và đóng cửa.
Tôi đi nằm, nhưng tất nhiên không tài nào ngủ được. Cảnh sát đi lại khắp nhà, đập cửa rầm rầm và cười nói, thêm vào đó, đầu óc tôi đang chạy đua vũ trang.
Tôi vô tình đập tay vào đầu Martha khi nó khẽ rùng mình. Một ai đó đã bắn tung cả nhà lên và để lại dấu vết.
Đây có phải là cách cảnh cáo tôi đừng có lùng sục ở Vịnh Nửa Vầng Trăng nữa hay không?
Hay kẻ sát nhân thật sự muốn giết tôi?
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn phát hiện ra là tôi vẫn còn sống?
Tôi thấy giấy dán tường màu xanh, bức tranh của mẹ tôi treo trên tủ - và tôi nhớ ra.
Nắng chiếu qua khung cửa sổ làm tôi tỉnh giấc.
Tôi đang ở trong giường của Cat - bởi vì vào lúc 2 giờ sáng, đạn đã xuyên qua căn nhà, bắn thủng đầu giường trong phòng ngủ Cat dành cho tôi, chỉ cách nơi đã có thể là đầu tôi vài cm.
Martha dụi cái mũi ướt vào tay tôi cho tới lúc tôi buộc phải ra khỏỉ giường. Tôi lôi quần áo của Cat ra mặc - quần bò bạc màu và áo sơ mi đỏ, cổ khoét sâu, xếp nếp. Không phải màu của tôi mà cũng chẳng phải là phong cách của tôi.
Tôi lấy lược cào lên tóc, đánh răng và bước ra phòng khách.
Các nhân viên hiện trường đang nạy đạn ra khỏi tường, tôi làm càfê và nướng bánh mỳ cho mọi người và hỏi họ những câu hỏi giúp tôi có thêm được dữ kiện.
12 viên đạn 9mm rải đều khắp phòng khách và phòng ngủ, một viên xuyên qua khung cửa nhỏ nằm tít trên cao trong buồng bọn trẻ. Lõi đạn và vỏ đạn được cho vào túi, đánh dấu, những lỗ thủng được chụp ảnh và đội hiện trường đang thu gom đồ đạc. Trong vòng một tiếng nữa, tất cả những thứ này sẽ được chuyển đến phòng thí nghiệm.
— Cô không sao chứ, Trung úy? - một nhân viên kỹ thuật to cao khoảng ngoài 30 tuổi với đôi mắt màu nâu nhạt và nụ cười rạng rỡ hỏi tôi.
Tôi nhìn quanh đống hoang tàn, kính và bụi thạch cao phủ lên khắp mọi vật.
— Trời ơi. Tất cả những thứ này làm tôi phát ốm - tôi nói. Tôi sẽ phải quét dọn, sửa cửa sổ, làm gì đó với đống hỗn độn này.
— Tôi là Artie - người nhân viên kỹ thuật nói, chìa tay về phía tôi.
— Rất hân hạnh - tôi nói và bắt tay anh ta.
— Cậu Chris của tôi có một công ty gọi là Bậc thầy của những thảm hoạ. Cô có muốn tôi gọi cho cậu tôi không? Cậu ấy có thể cho người đến dọn dẹp, làm chỗ này sạch bóng lên ngay tức khắc. Ý tôi là cô cũng là cảnh sát, Trung uý, chúng ta cùng hội cùng thuyền mà.
Tôi cảm ơn Artie và nhận lời đề xuất của anh ta. Rồi tôi cầm túi và cùng Martha đi ra lối cửa sau. Tôi cho Cô lợn ăn, rồi vòng qua chiếc xe cảnh sát đậu trước cửa và cúi xuống nhìn vào cửa xe.
— Noonan phải không?
— Vâng, thưa Trung uý.
— Vẫn gác à?
— Vâng thưa Trung úy. Chúng tôi sẽ còn ở lại đây thêm một lát nữa. Cả đội đang canh gác cho cô. Sếp và tất cả chúng tôi. Vụ này có vẻ không đơn giản đâu.
— Tôi rất cảm kích vì các anh chu đáo với tôi như vậy.
Và tôi cảm động thật. Trong ánh sáng ban ngày hiện trường vụ nổ súng lại càng thảm hại hơn. Có ai đó đã lái xe xuống khu phố ấm cúng này, lấy súng tàn phá nhà Cat.
Tôi mất hết cả tinh thần, và phải đi ngay khỏi đây. Tôi rung chìa khoá mạnh đến mức Martha dựng đứng tai lên và vẫy đuôi gần liên tục.
— Phải đi chợ thôi - tôi nói với nó. - Mình sẽ lấy chiếc Bonneville và đi một chuyến thử nghiệm nhé, mày nghĩ sao?
Martha nhảy lên ngồi trên chiếc ghế băng dài của - con tàu vàng to lớn. Tôi kéo dây an toàn và vặn chìa khoá. Phải đến lần thứ hai máy mới nổ và tôi lái chiếc Bonneville cổ kính về phía thị trấn.
Tôi định đi đến cửa hàng bán thực phẩm cao cấp trên phố Main, nhưng khi đang còn trong khu nhà Cat, tôi bắt đầu để ý thấy một chiếc Tauros xanh trong gương chiếu hậu. Dường như nó đang cố tình bám theo tôi nhưng vờ như thờ ơ.
Cái cảm giác sởn tóc gáy vì bị theo dõi lại chạy dọc khắp sống lưng tôi.
Tôi đang có đuôi bám ư?
Hay tôi đang ở trong trạng thái tưởng tượng là luôn có người theo dõi mình?
Tôi đi qua đường Magnolla để ra xa lộ và vào phố Main, lướt rất nhanh qua những cửa hàng nhỏ: Túp lều Âm nhạc, Tin tức trên Mặt trăng, Cửa hàng bán thực phẩm và xăng xe. Tôi muốn thuyết phục bản thân là mình chỉ đang hoang tưởng, nhưng khỉ thật - nếu tôi tưởng như đã qua vài ngã tư không bị chiếc Taurus bám sát thì đến chỗ rẽ kế tiếp nó lại hiện ra.
— Bám chặt vào nhé. Chúng ta chuẩn bị cất cánh đấy, tôi nói với Martha, nó đang cười ngoác ra với gió.
Đến cuối phố Main, tôi quặt phải sang Đường 92, con đường nối Vịnh Nửa Vầng Trăng với phần còn lại của California.
Xe cộ chạy vùn vụt trên con đường hai làn xe đầy gió, tôi hoà mình vào dòng xe đang nối đuôi nhau với tốc độ 50 dặm một giờ trong khu vực chỉ được phép chạy 25. Hai vạch vàng kép đã qua - cả một làn đường 5 dặm không được phép quành lại cho đến tận khi đường 92 gặp khu hồ tự nhiên và nối ra đường cao tốc.
Tôi tiếp tục lái, mơ hồ nhận biết có một cái dốc đầy bụi rậm và cây bên trái và một dốc cao khoảng 6 mét chỉ cách bên phải xe tôi khoảng vài mét. Ba chiếc xe đằng sau tôi, chiếc xe xanh vẫn bám sát.
Tôi không nhầm. Tôi có đuôi.
Đây là một cách để làm tôi sợ chăng?
Hay có kẻ sát nhân ngồi trong xe, chờ có dịp bắn tôi?
Cuối đường 92 cắt đường Skyline, và ở góc bên phải có bãi đậu xe rải sỏi với 5 cái bàn picnic.
Tôi không xi-nhan mà cho xe quặt thẳng vào. Tôi muốn ra khỏi xa lộ, chờ chiếc Taurus vượt qua để có thể nhìn được khuôn mặt hắn, đọc được biển xe. Thoát khỏi tầm ngắm của hắn.
Nhưng thay vì bám đường như chiếc Explorer, Bonneville lắc mạnh trên con đường rải sỏi, làm tôi văng trở lại đường 92, ra vạch vàng và lại đi vào trong làn xe cộ tấp nập.
Chiếc Taurus chắc chắn đã vượt tôi, nhưng tôi không nhìn thấy nó.
Tôi đánh tay lái chiếc xe đang xoay tròn trong khi đèn báo hiệu nháy liên tục.
Tay lái và phanh hoàn toàn bất trị, máy dao điện chết đứng, máy xe như sắp nổ, và tôi quay tròn giữa đường.
Tôi nhấn phanh, một chiếc xe tải đen phải ngoặt sang bên để tránh đâm sầm vào tôi. Lái xe nhấn còi, gào lên toàn những câu chửi rủa, nhưng tôi thật mừng ông ta không đâm vào tôi, tôi chỉ muốn ôm hôn ông ta.
Rồi cuối cùng xe tôi cũng dừng lại bên đường, một màn khói bụi bốc lên xung quanh tôi làm tôi không thể nhìn thấy gì qua kính xe.
Tôi ra khỏi chiếc Bonneville và đứng tựa vào nó. Chân tôi nhũn ra, tay run rẩy.
Cuộc rượt đuổi giờ đã kết thúc.
Nhưng tôi biết mọi thứ giờ mới bắt đầu.
Tôi đang ở trong tầm ngắm của hắn, tôi không biết đó là ai và tại sao.
Tôi gọi về trạm xăng lập dị và nghe tiếng Keith trong máy.
— Keith, tôi đang gặp chút rắc rối. Lindsay đây. Cậu làm ơn nhấc máy đi.
Khi Keith trả lời, tôi chỉ cho cậu ta đường đi. Hai mươi phút trôi qua như cả tiếng đồng hồ rồi cuối cùng cậu ta cũng đến với chiếc xe kéo. Cậu ta cho Bonneville lên và đưa nó về nhà trong ô nhục còn tôi leo lên ngồi cùng cậu ta trên buồng lái.
— Đây là một chiếc xe xa xỉ, Lindsay ạ - Keith mắng tôi. - Cô không được làm tàng với nó đâu. Nó hơn 20 năm tuổi rồi, Trời ạ.
— Tôi biết rồi, tôi biết rồi.
Im lặng.
— Áo đẹp nhỉ.
— Cảm ơn.
— Không, thật đấy - cậu ta nói, làm tôi bật cười. - Cô nên mặc những đồ như thế này nhiều hơn.
Khi về đến ga ra, Keith mở nắp Bonneville.
— Ha. Dây quạt gió đứt rồi - cậu ta nói.
— Ha. tôi cũng biết thế.
— Cô có biết là trong lúc cần cô có thể thay nó bằng ống quần liền tất không?
— Có, tôi biết. Nhưng thật không may là trong hộp đồ phụ tùng xe của tôi trên đường chẳng có cái quần liền tất nào cả.
— Tôi có ý này. Sao không để tôi mua lại chiếc xe này? Trả cho cô thêm 150 đô la nữa.
— Để tôi nghĩ đã. Không.
Keith cười, nói cậu ta sẽ đưa tôi về nhà và bắt tôi phải chấp nhận lời đề nghị của cậu ta. Vì đằng nào cậu ta cũng sẽ biết nên tôi kể với Keith điều tôi chưa kể với mấy người bạn và cũng chưa kể với Joe.
Tôi kể cho cậu ta nghe về vụ bắn súng đêm hôm trước.
— Và bây giờ cô nghĩ có người đang theo dõi cô à? Sao cô không về nhà đi hả Lindsay? Tôi nói nghiêm chỉnh đấy.
— Bởi vì tôi không thể rời mắt khỏi những vụ giết người này được. Bây giờ thì chưa. Nhất là khi có ai đó nã đạn vào nhà chị tôi.
Keith nhìn tôi đầy thương cảm, ấn mũ lưỡi trai lên đầu, lái xe khéo léo ra đường.
— Đã có ai nói với cô là cô rất bướng chưa?
— Tất nhiên. Người ta coi đó là một phẩm chất tốt mà một người cảnh sát phải có.
Tôi hiểu cậu ta định nói gì. Tôi không biết là tôi đang dũng cảm hay điên rồ nữa.
Nhưng tôi vẫn chưa sẵn sàng.
Khi Keith và tôi về đến nhà Cat, trước cửa nhà đẩy xe: chiếc Explorer của tôi, xe cảnh sát, một xe tải bóng loáng với dòng chữ "Chúng tôi làm cửa sổ" và một chiếc xe màu xanh bạc to tướng có dán "Chuyên gia giải quyết thảm hoạ" trên cửa.
Tôi cảm ơn Keith đã đưa tôi về rồi bước vào nhà, Martha chạy lon ton bên cạnh. Một người đàn ông to lớn với bộ ria nhỏ bé và mái tóc bạc hình móng ngựa đang hút bụi ghế bành, ông ta tắt máy hút bụi và "Chú Chris" tự giới thiệu.
— Một đám phóng viên chõ mũi vào đây - ông ta nói. Tôi nói với họ cô dọn đi ở chỗ khác cho đến khi chỗ này được sửa chữa lại. Có được không?
— Tuyệt quá. Rất hay.
— Và Sếp Stark vừa ghé qua. Nhắn cô gọi cho ông ấy khi nào về.
Tôi phớt lờ 47 tin nhắn đang nhấp nháy trên máy điện thoại và gọi đến sở cảnh sát bằng điện thoại trong bếp. Tôi gặp sỹ quan trực.
— Sếp đang trả lời phỏng vấn - cô ấy nói. Tôi sẽ nhắn ông ấy gọi lại cho cô được không?
— Tôi rất mong vậy.
— Tôi se nói với ông ấy, Trung úy ạ.
Tôi bỏ máy và đi xuống hành lang đến phòng của hai cô cháu gái.
Khăn vẫn còn vứt trên sàn nhà. Cửa sổ vỡ toang và một cọng khoai lang đang héo dần. Tôi đã dùng ghế đập lõm cả tủ và căn phòng đầy thú bông dường như đang quở trách tôi.
Nhỡ bọn trẻ ở trong này thì sao?
Thì làm thế nào, hả Lindsay?
Tôi kéo cái ghế còn nguyên vẹn đến trước bảng, ngồi xuống và nhìn vào ghi chép của tôi về những án mạng. Mắt tôi nhìn thẳng vào thứ làm tôi băn khoăn nhất.
Đôi khi những dữ kiện ý nghĩa nhất nằm ngay trước mắt chúng ta mà chúng ta không nhìn thấy chúng.
Giờ tôi thấy nó rồi - những cái lỗ nằm trong tủ quần áo của nhà O'Malley.
Tôi thay quần áo và cho Martha ra ngoài với Penelope. - Hai em chơi ngoan nhé. Rồi tôi cẩn thận cho chiếc Explorer đi vòng qua xe tải và lái ra ngoài đường.
Tôi lái xe quay trở lại thành phố.
***
Kẻ theo dõi cho chiếc Taurus xanh chạy về phía bắc trên phố 280, bám sát đường xa lộ qua Hillsborough. Suy nghĩ của hắn phân tán, nhưng phần lớn hắn nghĩ về Lindsay Boxer.
Hắn nghĩ về Lindsay với cảm giác lẫn lộn. Hắn gần như hãnh diện một cách kỳ quặc về cô ta, vì cô ta vẫn thoát nạn, còn sống, phản công lại. Cái cách cô ta không chịu lùi bước, thôi hãy chạy trốn về thành phố.
Nhưng cô ta cũng không nên tiếp tục là cái gai trong mắt bọn chúng. Không nên chút nào.
Nói cho đúng ra, chúng không muốn giết cô ta. Giết một cảnh sát, có nghĩa là bọn chúng tự xúi người ta tìm kiếm chúng, cả sở cảnh sát San Francisco sẽ tràn ra đường và điều tra vụ giết cô ta. Có thể là cả FBI nữa.
Khi đến lối rẽ vào đường Trousdale, Kẻ theo dõi chạy chậm lại, rồi cho chiếc xe phân khối cao nhỏ nhắn trượt xuống dốc. Đi tiếp hơn một dặm, hắn rẽ vào Bệnh viện Peninsula, và thẳng tới E1 Camino Real, đi về hướng bắc.
Hắn tìm thấy trạm xăng Exxon cách đó hai ngã tư và bước vào Siêu thị nhỏ của trạm xăng. Hắn lang thang ở đó vài phút, lấy vài thứ: một chai nước suối, thanh kẹo Clif, một tờ báo.
Hắn đưa 4,20 đô la cho cô bé nở nang ở quầy tính tiền mua mấy thứ đồ ăn và 20 đô la nữa trả tiền xăng. Khi giở tờ báo trong lúc bước ra khỏỉ cửa hàng, hắn nhìn thấy bài báo trên trang nhất:
“VỤ NỔ SÚNG Ở NHÀ CẢNH SÁT"
Có một bức ảnh Lindsay trong bộ quân phục và ở cột bên phải là bài báo về vụ án của nhà Cabot. Sam Cabot bị kết tội tham gia vào hai vụ án mạng. (Xem tiếp trang 27)
Kẻ theo dõi đặt tờ báo gọn gàng trên ghế xe và đổ đầy bình xăng. Rồi hắn nổ máy đi về nhà. Hắn sẽ nói chuyện với Sự thật sau. Có lẽ bọn chúng sẽ không giết Lindsay theo cách bọn chúng đã giết mấy người kia. Có thể chúng sẽ chỉ làm cho cô ta biến mất.
***
Văn phòng của bác sỹ quá cố O'Malley nằm trong một ngôi nhà gạch hai tầng trên phố Kelly, tên của ông ta được khắc trên một tấm bảng bằng đồng đặt bên phải lối ra vào.
Tôi hơi hồi hộp khi nhấn chuông. Tôi biết cảnh sát trưởng sẽ đá đít tôi vì đã qua mặt ông ta, nhưng tôi phải làm một cái gì đó. Thà xin lỗi sau còn hơn là xin phép để rồi không được phép.
Tiếng chuông reo, tôi đẩy cửa. Phòng chờ ở phía bên trái: nhỏ bé và vuông vắn, đồ đạc màu xám được bọc kín và hàng mét thiệp chia buồn dán đầy trên tường.
Sau bàn tiếp tân, sau lớp kính có ô cửa là một phụ nữ trung tuổi tóc bạc, môi bôi son đỏ choét.
— Tôi là Trung úy Boxer, sở cảnh sát San Francisco - tôi giơ phù hiệu. Tôi nói với bà ta mình đang điều tra một vụ giết người dã man có những điểm tương đồng với cái chết bất hạnh của Bác sỹ O'Malley.
— Chúng tôi đã nói chuyện với cảnh sát rồi - bà ta nói, săm soi phù hiệu và nụ cười lấy lòng mà tôi cố tình ngoác riêng ra cho bà ta. - Hàng giờ.
— Tôi chỉ xin vài phút thôi.
Bà ta đóng ô cứa kính và một lát sau xuất hiện ô cửa văn phòng.
— Tôi là Rebecca Falcone - bà ta nói. - Mời cô vào. Hai người phụ nữ trung tuổi khác đang ở trong văn phòng.
— Đây là Mindy Heller, y tá - bà ta nói, chỉ vào y tá có mái tóc nhuộm vàng mặc đồng phục trắng và hàng tấn phấn son trên mặt, đang cho những đĩa bánh quy có bọc nilông vào sọt rác. - Còn đây là Hariet Schwartz, quản lý văn phòng của chúng tôi - Rebecca nói về người phụ nữ to béo mặc áo len đỏ ngồi sau cái máy tính cũ kỹ. Tất cả chúng tôi làm cho bác sỹ Ben từ lâu lắm rồi.
Tôi bắt tay, nhắc lại tên mình và giải thích tại sao tôi ở đây. - Tôi xin được chia buồn với tổn thất của các chị - tôi nói. Rồi tôi giải thích với ba người phụ nữ tại sao lại cần họ giúp. - Bất cứ điều gì các chị biết đều có thể làm sáng tỏ sự việc.
— Cô muốn sự thật? - Harriet Schwartz. Bà ta rời ra khỏi máy tính, ngả người ra sau, và bắt đầu nhớ lại. - Ông ta chẳng khác nào một bức tranh của Picasso. Những đường vạch mà nhìn vào chúng, ta có thể đoán biết con người, ở giữa những đường vẽ, những khoảng trống...
Mindy Heller nói xen vào: - ông ta là một bác sỹ tốt, nhưng ông ta hà tiện, căn cơ, tinh vi. Và ông ta nhiều lúc đối xứ rất tệ với những người làm thuê cho ông ta. Bà ta liếc nhìn sang hai người đồng nghiệp. - Nhưng tôi không tin là ông ta bị giết vì ông ta ngu xuẩn, và ông ta cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó mà thôi.
— À. Vậy bà nghĩ vợ chồng nhà O'Malley đơn thuần chỉ là nạn nhân tình cờ.
— Chính xác. Được chọn một cách tình cờ. Tôi lúc nào cũng nói thế.
Tôi hỏi có ai trong số những nạn nhân khác đã từng là bệnh nhân của bác sỹ O'Malley hay không và ngay lập tức bị phản đối.
— Chúng tôi phải bảo toàn thông tin về bệnh nhân - cô Heller nói, - nhưng tôi tin chắc rằng sếp Stark sẽ nói cho cô những gì cô cần biết.
Được thôi.
Tôi để lại số di động trên bàn của Harriet Schwartz. Tôi cảm ơn tất cả mọi người đã giành thời gian cho tôi, nhưng tôi cảm thấy như quả bóng xì hơi. Bác sỹ O'Malley có thể đúng như những gì nhân viên của ông ta nói, nhưng thực tế là tôi đã lại lâm vào ngõ cụt.
Vừa mở cửa bước ra phố thì có người nắm chặt cánh tay tôi. Đó là Rebecca Falcone, cái nhìn khẩn thiết làm cho khuôn mặt bà ta chảy xệ xuống.
— Tôi có chuyện phải nói với cô - bà ta nói, - Nói riêng với cô.
— Tôi có thể hẹn bà ở đâu đó không? - tôi hỏi.
— Công ty càfê của Vịnh Nửa Vầng Trăng. Cô có biết chỗ đấy không?
— Trong trung tâm thương mại trên phố Main đúng không?
Bà ta gật đầu. - 12 giờ rưỡi tôi sẽ ra đó.
— Tôi sẽ chờ bà ở đó.
***
Chúng tôi ngồi ở cuối nhà hàng góc gần nhà vệ sinh, đầu gối gần như chạm vào nhau dưới cái bàn nhỏ. Chúng tôi gọi sa-lát và càfê, nhưng Rebecca không ăn. Và bà ta cũng chưa sẵn sàng nói.
Bà ta kéo qua kéo lại cây thánh giá vàng bé xíu trên sợi dây đeo cổ.
Tôi nghĩ mình hiểu băn khoăn của bà ta. Bà ta muốn là người nói lên sự thật, nhưng đồng thời cũng không muốn phanh phui ở nơi mà đồng nghiệp bà ta có thể nghe được.
— Tôi không biết gì hết đâu đấy nhé, cô hiểu chưa? - Cuối cùng Rebecca nói. - Và tôi chắc chắn không biết gì hết về những vụ giết người. Nhưng Ben mấy lâu nay có vẻ rất bí ẩn.
— Bà có thể nói rõ hơn được không, Rebecca?
— Thì ông ấy rất đồng bóng, ông ấy cáu kỉnh với bệnh nhân, mà, để tôi nói cho cô biết, điều ấy rất hiếm khi xảy ra. Khi tôi hỏi ông ấy có chuyện gì, ông ấy chối là không có gì cả.
— Bà biết Lorelei chứ?
— Tất nhiên. Họ gặp nhau ở nhà thờ, và nói thật tôi không ngờ là Ben lại lấy cô ta. Tôi nghĩ ông ấy cô đơn và cô ta ngưỡng mộ ông ấy. Rebecca thở dài. - Lorelei rất đơn giản. Cô ấy giống một đứa trẻ thích mua sắm. Không ai ghét cô ta cả.
— Một nhận xét rất thú vị - tôi nói. Và Rebecca chỉ cần một lời khích lệ như vậy để nói lên những gì bà ta muốn nói từ rất lâu.
Nom bà ta như thể đang bị đưa ra pháp trường.
Bà ta lấy một hơi và tiếp tục.
— Cô có biết Bà O'Malley đầu tiên không? - bà ta hỏi tôi. - Cô có biết là Sandra O'Malley tự tử không? Treo cổ tự tử trong ga-ra nhà mình?
Tóc tôi dựng ngược và đó thường là điềm báo có tiến triển tốt.
— Có - tôi nói, Tôi có biết Sandra O'Malley đã tự tử. Bà biết gì về điều đó?
— Thật đột ngột - Rebecca nói. - Không một ai biết... Tôi không biết bà ấy đã trầm cảm đến vậy.
— Vậy bà nghĩ tại sao bà ấy lại tự tử?
Rebecca dùng dao gạt món sa-lát Xêda quanh cái đĩa, cuối cùng bà ta đặt cái dĩa xuống mà không hề ăn chút nào.
— Tôi không bao giờ tìm ra được sự thật - bà ta nói. - Ben không nói, nhưng nếu phải đoán, tôi sẽ nói là ông ta đã rất tệ bạc với bà ấy.
— Tệ bạc với bà ấy, thế nào cơ?
— Sỉ nhục bà ta. Đối xử với bà ta như thể bà ấy là một cái giẻ rách. Khi tôi nghe ông ta nói với bà ấy, tôi cũng phải thấy sợ. Bà ta làm cử chỉ rùng mình.
— Bà ta có kêu ca về điều đó không?
— Không. Sandra không bao giờ làm điều dó. Bà thật là ngoan ngoãn thật dễ thương. Bà ta thậm chí còn không hề than vãn khi ông ta bắt đầu ngoại tình.
Cỗ máy trong đâu tôi đang quay cuồng, nhưng vẫn chưa tìm ra được manh mối nào.... Rebecca bĩu môi ghê tởm.
— Ông ta quan hệ với người đàn bà này hàng năm, tiếp tục quan hệ với bà ta kể cả sau khi đã lấy Lorelei, tôi biết chắc điều đó. Bà ta gọi đến văn phòng cho đến ngày ông ta chết.
— Rebecca - tôi nói một cách kiên nhẫn, tuy không thể chịu đựng thêm một giây nào nữa. - Rebecca. Người đàn bà kia tên là gì?
Rebecca ngả người ra sau ghế khi có hai người đàn ông đi qua chúng tôi về phía nhà vệ sinh. Khi cửa nhà vệ sinh đã khép lại, bà ta chúi đầu ra đằng trước và thì thào.
— Emily Harris - bà ta nói.
Tôi biết cái tên ấy. Tôi nhớ cái miệng đầy son phấn cua bà ta. Bộ vét hồng của bà ta.
— Có phải bà ta làm cho Bất động sản Thái Bình Dương không?
— Đúng là bà ta đấy.
***
Emily Harris đang ngồi bên bàn khi tôi bước vào căn phòng làm việc hẹp có một dãy bàn kê sát tường. Cái miệng xinh đẹp của bà ta toét thành một nụ cười máy móc, ngoác rộng hơn khi nhận ra tôi.
— Ô, xin chào bà ta nói. Tôi có gặp hai vợ chồng cô vài tuần trước ở ngôi nhà trên đường Ocean Colony rồi đúng không? Cô có con chó rất đẹp.
— Đúng - tôi nói với bà ta. Tôi là Trung úy Boxer. Tôi ở sở cảnh sát San Francisco. Rồi tôi cho bà ta xem phù hiệu.
Khuôn mặt bà ta ngay lập tức sắt lại.
— Tôi đã nói chuyện với cảnh sát rồi.
— Rất tuyệt. Thế thì tôi chắc bà sẽ không phản đối nếu phải nói chuyện thêm một lần nữa.
Tôi kéo ghế ngồi xuống cạnh bà ta.
— Tôi hiểu cô và Bác sỹ O’Malley từng có quan hệ rất thân thiết - tôi nói với bà ta.
— Tôi không xấu hổ vì điều cô đang định ám chỉ đâu. Một người đàn ông tội nghiệp, một cuộc hôn nhân bất hạnh, nhưng tôi không hề làm tổn hại tới hôn nhân của anh ấy và cũng hoàn toàn không dính líu tí nào tới vụ án.
Cô Harris sắp xếp lại hồ sơ, bút, giấy tờ trên bàn. Dọn dẹp. Xếp đặt mọi thứ lại ngăn nắp và đúng mực. Mái đầu gọn gàng này đang nghĩ gì trong lúc này? Bà ta biết gì về nhà O’Malley?
— Và cô môi giới bán ngôi nhà này?
— Đó không phải là động cơ để giết người, Trời ạ. Cô điên rồi à? Tôi là một trong số những nhà môi giới số một ở đây.
— Cứ bình tĩnh, Cô Harris. Tôi không ám chỉ là cô đã giết người. Tôi chỉ muốn tìm hiểu thêm về nạn nhân vì tôi đang điều tra một vụ án mạng lâm vào ngõ cụt.
— Được. Tôi vẫn còn hơi buồn, cô hiểu chứ.
— Tất nhiên. Tôi hiểu. Thực ra cô đã bán được nhà chưa?
— Chưa, nhưng tôi đang có một khách.
— Tốt. Cô cho tôi xem nhà chứ, Cô Harris? Tôi có một vài câu hỏi hi vọng cô có thể trả lời. Có lẽ cô sẽ giúp tôi phá được vụ án mạng của Ben O'Malley.
Tập tờ rơi của Bất động sản Thái Bình Dương đặt trên bàn ngoài tiền sảnh, và hoa đã được thay kể từ lần tôi và Joe tự tham quan ngôi nhà xinh đẹp trên đường Ocean Colony này.
— Cô lên với tôi được không? - tôi hỏi người môi giới bất động sản.
Cô Harris nhún vai, quẳng chìa khoá xuống bên cạnh đám hoa lili, và đi lên cầu thang trước tôi.
Khi chúng tôi bước đến cửa phòng ngủ lớn, bà ta chùn bước.
— Tôi không muốn vào trong căn phòng này - bà ta nói, liếc nhìn quanh căn phòng xanh nhạt trải thảm xanh mới tinh.
Tôi có thể tưởng tượng được cảnh giết người sống động gần như bà ta. Mới ba tuần trước, Lorelei O'Malley đã bị đâm thủng bụng chỉ khoảng vài mét cách chỗ chúng tôi đứng.
Emily Harris thở dài, rồi miễn cưỡng cùng tôi bước vào căn phòng đến trước tủ đựng quần áo. Tôi chỉ cho bà ta thấy cái lỗ dưới lớp sơn và vết móng tay của Joe vẫn còn hằn trên cái lõi gỗ được dùng để nhét vào cái lỗ.
— Bà nghĩ đây là cái gì? - tôi hỏi bà ta.
Giọng nói của Emily đanh lại, bà ta rít lên. - Đây là cái làm tôi phát điên lên được - bà ta nói. Rõ ràng quá rồi còn gì, đúng không? Hắn đã quay cảnh hắn làm tình với Lorelei. Hắn nói với tôi hắn không còn ngủ với bà ta nữa, nhưng thế này tức là hắn nói dối.
Rồi khuôn mặt bà ta nhăn lại, bà ta bắt đầu khóc vào nhúm khăn mùi soa xanh kéo ra từ trong túi.
— Ôi Trời ơi, Trời ơi - bà ta rên rỉ. Một lát sau bà ta xỉ mũi, đằng hắng giọng, nói. - Mối quan hệ của tôi với Ben không liên quan chút nào đến vụ ám sát ông ấy. Chúng ta có thể đi được chưa?
Kiểu gì tôi cũng phải ngăn bà ta lại. Nếu muốn có được thông tin từ Emily Harris, thì bây giờ là lúc tốt nhất, đây là nơi phù hợp nhất.
— Cô Harris.
— Trời ạ. Cô gọi tôi là Emily đi. Tôi kể hết cho cô nghe những chuyện riêng tư nhất của mình rồi còn gì.
— Emily. Tôi thật sự cần nghe câu chuyện từ phía cô.
— Được. Cô biết Sandra chứ?
Tôi gật đầu, và như thể tôi vừa mở đập nước vậy, bà ta tuôn ra.
— Cô không nghĩ rằng tôi băn khoăn là cô ta tự tử vì Ben quan hệ với tôi à? - Bà ta chạm tay lên đôi mắt sưng mọng, và nước mắt lại càng tuôn trào.
— Ben nói Sandra mắc bệnh tâm thần, và đó là lý do tại sao anh ấy không thể bỏ bà ta. Nhưng sau khi bà ta tự tử, tôi đã thôi không gặp Ben trong vòng một năm.
— Rồi Lorelei xuất hiện. Nàng công chúa. Ben nghĩ rằng anh ấy lấy vợ sớm chừng nào thì tốt chừng ấy cho Caitlin, thế tôi còn biết nói gì nữa? Lúc ấy tôi vẫn có gia đình, Trung uý ạ.
— Rồi chúng tôi nối lại quan hệ.
— Phần lớn thì ở nhà tôi. Thỉnh thoảng đi nhà nghỉ. Thật nực cười, tôi không nghĩ Lorelei quan tâm đến Caitlin.
— Nhưng Ben và tôi tận dụng triệt để cơ hội. Chúng tôi chơi trò chơi. Anh ấy gọi tôi là Camilla. Tôi gọi anh ấy là Charles. Hoàng tử. Thật thú vị. Và tôi rất nhớ anh ấy. Tôi biết Ben yêu tôi. Tôi biết anh ấy có yêu tôi.
Tôi không nói, Tình yêu của một thằng mất dạy đáng khinh bỉ - nhưng tôi có mở cánh cửa vào phòng để quần áo và mời bà ta theo vào.
— Emily, mời cô.
Tôi chỉ cho bà ta thấy cái lỗ thứ hai trong tường.
— Lỗ này đi qua tường... sang phòng Caitlin.
Emily há hốc miệng và đặt hai tay lên che mặt.
— Tôi chưa từng nhìn thấy nó. Tôi không biết gì về nó. Tôi phải đi đây - bà ta nói, quay đi và chạy ra khỏi phòng. Tôi có thể nghe tiếng gót giầy gõ lạch cạch khi bà ta chạy xuống cầu thang.
Tôi đuổi kịp Emlly khi bà ta cầm chìa khoá trên bàn và mở cửa trước. Bà ta bước ra ngoài.
— Emily.
— Hết rồi - cô ta nói, ngực phập phồng, đóng cửa và khoá lại. - Điều này đối với tôi quá đau đớn. Cô không hiểu sao? Tôi đã yêu anh ấy!
— Tôi có thể thấy điều đó - tôi nói, bước bên cạnh bà ta, rồi đứng cạnh cửa xe trong khi bà ta nổ máy.
— Xin hãy nói thêm cho tôi biết điều này nữa thôi - tôi khẩn khoản. - Ben có biết ai tên là Dennis Agnew không?
Emily tháo phanh tay và quay khuôn mặt đầy nước mắt về phía tôi.
— Cái gì cơ? Cô nói gì? Hắn bán băng video của chúng tôi cho thằng mất dạy đó à?
Emily không chờ câu trả lời. Cô ta vù xe đi và nhấn ga.
— Vậy câu trả lời là có biết - tôi nói với chiếc Lincoln đang chạy biến đi.
Tôi cho xe chạy từ từ qua chiếc xe cảnh sát đỗ ở cuối đường Sea View, giơ tay lên vẫy khi tôi đi qua. Rồi tôi quẹo phải vào cửa nhà Cat và đỗ chiếc Explorer bên cạnh Bonneville. Rõ ràng là Keith đã đem trả cô gái già khi tôi không có nhà.
Tôi thả Martha vào nhà và cho nó bánh quy. Rồi nhìn sang máy điện thoại đang liên tục nhấp nháy. Tôi nhấn nút play rồi bắt đầu ghi chép vào tờ giấy nháp.
Cả Joe, Claire và Cindy đều gọi và nhắn tôi gọi lại. Tin thứ tư là của Carolee Brown mời tôi đến trường ăn tối.
Rồi, một tin nhắn của cảnh sát trưởng Stark, giọng ông ta rã rời như thể phát ra từ một cái máy nói vậy.
— Boxer, chúng tôi đã có kết quả từ phòng thí nghiệm về cái thắt lưng ấy rồi. Gọi cho tôi.
Cảnh sát trưởng Stark và tôi cả ngày hôm nay đang chơi ú tim bằng điện thoại. Tôi rủa thầm khi lật tìm trong tập giấy nháp lấy số điện thoại của ông ta. Rồi tôi nhấn số.
— Cô chờ chút, Trung uý - người trực tổng đài nói. - Để tôi nối máy.
Tôi nghe tiếng người nói léo nhéo. Tôi gõ tay lên mặt bàn bếp và đếm đến 79 mới có tiếng Sếp trên máy.
— Boxer
— Phòng thí nghiệm có kết quả sớm nhỉ - tôi nói. - Chúng ta có gì nào?
— Sớm là có lý do. Không có dấu vân tay, tất nhiên điều đó chẳng có gì là lạ. Nhưng ngoài ADN của bò ra thì chẳng còn gì khác cả. Lindsay, bọn khốn đã nhỏ vài giọt máu bò lên cái khoá.
— Ôi giời ơi, cho tôi xin!
— Tôi biết. Khỉ thật. À này, tôi phải đi đây. Thị trưởng muốn gặp tôi.
Sếp bỏ máy, và có Chúa chứng giám, tôi cảm thấy thương hại ông ấy.
Tôi bước ra ngoài hiên, ngồi vào cái ghế nhựa, và vắt chân lên hàng rào như Claire đã từng khuyên tôi. Tôi nhìn chằm chằm qua đôi xăng đan trên chân và qua vườn nhà hàng xóm ra vịnh xanh thẳm.
Tôi lại nghĩ về cái thắt lưng nằm trên cỏ sáng hôm nay, và vết máu cuối cùng lại chẳng là gì cả.
Một việc đã quá rõ.
Kẻ giết người không định giết tôi.
Cái thắt lưng là một lời đe doạ để tôi bỏ đi.
Tôi không hiểu tại sao chúng lại quan tâm đến điều đó.
Tôi không phá được vụ án của John Doe, và mười năm sau tôi vẫn sa vào chính vũng lầy ấy.
Còn những tên sát nhân vẫn ở ngoài kia, và những câu hỏi "giá mà" và "sao lại" cũng chẳng dẫn đến đâu.
Chúng tôi không biết tại sao.
Chúng tôi không biết!
Và chúng tôi không biết chúng sẽ tiếp tục hành động ở đâu Ngoài điều đó ra, tất cả vẫn chỉ là một bài toán đố.
***
Gia đình, thuốc độc của nền văn minh hiện đại, nơi cặn bã của lịch sử được nuôi sống, và chăm nom. Ít nhất đó là cách nhìn nhận của Kẻ theo dõi đêm hôm nay.
Hắn mở cánh cửa phòng ngách và bước vào ngôi nhà trát vữa hồng nằm cao tít trên tường Cliff. Nhà Farley hôm nay đi vắng, quá an toàn trong cái kén của sự giàu có và ưu đãi đến nỗi họ còn không thèm khoá cửa.
Phòng khách dẫn đến một phòng bếp bằng kính đầy ánh hoàng hôn.
Đây chỉ là theo dõi thôi, Kẻ theo dõi tự nhắc bản thân. Vào và ra trong vòng 5 phút vẫn như mọi khi.
Hắn lôi máy ảnh ra từ túi áo trong của chiếc áo da mềm và lia khắp phòng, chụp hàng loạt tấm ảnh những bức tường kính, những chấn song thưa đến mức đủ để một người có thể chui vào.
Hắn di chuyển nhanh trong bếp đến phòng sinh hoạt nằm chìa hẳn ra ngoài mỏm núi của gia đình Farley. Ánh sáng màu hổ phách chiếu vào khu rừng, làm những cây khuynh diệp xù xì nom gần như người thật, những cái cây nom như những ông già đang dõi theo bước đi của hắn. Như thể chúng hiểu và ưng thuận.
Chỉ theo dõi thôi, hắn lại nói với bản thân. Mọi việc giờ quá phức tạp, quá nguy hiểm để chúng có thể tiếp tục kế hoạch.
Hắn nhanh nhẹn leo cầu thang đằng sau lên phòng ngủ, để ý xem bậc cầu thang nào kẽo kẹt to nhất, bám vào lan can chắc nịch. Hắn đi dọc hành lang tầng hai, bước vào từng căn phòng để ngỏ, chụp ảnh, ghi nhớ từng chi tiết. Lục lọi căn phòng như thể hắn là một cảnh sát đang khám xét kẻ tình nghi.
Kẻ theo dõi nhìn đồng hồ khi hắn bước vào phòng ngủ chính, sắp hết 3 phút rồi. Hắn nhanh nhẹn mở cửa phòng để quần áo, hít mùi hương của Vera Wang và Hermes, rồi đóng cửa.
Hắn chạy qua bậc thang xuống bếp và chuẩn bị rời khỏi căn nhà thì nghĩ đến tầng hầm. Có đủ thời gian để ngó qua.
Hắn mở cửa đi xuống.
Một kho rượu nho rộng lớn bên trái hắn, và phòng giặt quần áo trước mặt hắn. Nhưng mắt hắn dán vào cánh cửa ở phía bên phải.
Cánh cửa ở trong bóng tối, được khoá bằng khoá số. Kẻ theo dõi rất biết mở khoá số. Hắn rất khéo tay. Hắn quay vòng sang bên trái cho tới tận khi có cảm giác cứng lại, rồi lại sang bên phải, rồi lại sang trái. Khoá mở toang, và Kẻ theo dõi đẩy then cửa.
Hắn nhận dạng đồ vật trong căn hầm tranh tối tranh sáng: máy tính, máy in laze, và hàng xấp giấy ảnh chất lượng cao. Video và máy quay phim có khả năng nhìn trong bóng tối.
Một tệp ảnh in ra nằm trên bàn.
Hắn bước nhanh vào trong và đóng cửa lại. Bật công tắc đèn.
Đây chỉ là một trong những chuyến theo dõi vô hại, một trong hàng bao nhiêu chuyến.
Nhưng cái hắn nhìn thấy khi ánh đèn bật sáng gần như làm hắn dựng tóc gáy.
***
Bước trên con đường dẫn đến ngôi nhà kiểu Victoria được dùng làm trường nội trú của Carolee tôi đã ngửi thấy mùi nước sốt Marinara ngập trong không khí. Tôi lấy tay che những tia mặt trời cuối cùng rọi qua ô cửa kính và đập vòng gõ cửa bằng đồng trên cánh cửa lớn.
Một cậu bé da đen khoảng 12 tuổi mở cửa, - Chào cô, cô cảnh sát.
— Cháu là Eddie, đúng không?
— Eddie-ghét đi - nó nói, toe toét. - Sao cô biết?
— Cô có trí nhớ tốt lắm - tôi nói với nó.
— Thế là tốt, vì cô là cảnh sát mà.
Bọn trẻ rộn ràng cất lời chào khi tôi bước vào "hành lang bừa bộn" một phòng ăn rộng lớn, nhìn ra mặt đường cao lộ.
Carolee ôm tôi và mời tôi ngồi vào đầu bàn. - Đó là chỗ của "khách mời danh dự", bà ta nói. Allison ngồi vào ghế bên trái tôi và Fem, một cô bé nhỏ xíu có mái tóc đỏ, tranh ngồi bên phải tôi, tôi cảm thấy thật nồng hậu và dễ chịu trong cái "gia đình" vĩ đại này.
Những bát mỳ spaghetti và sa-lát to bự trộn dầu giấm được chuyền khắp bàn, và những ổ bánh mỳ Ý được bọn trẻ con ném vèo vèo qua bàn kể cả trong lúc chúng xả hàng loạt câu hỏi và câu đố vào tôi - thường tôi giữ thế thủ và thỉnh thoảng mới tung át chủ bài ra.
— Khi cháu lớn - Ali thì thào, - Cháu muốn được giống hệt cô.
— Cháu biết cô muốn gì không? Khi cháu bé, cô muốn cô giống hệt cháu. Carolee vỗ tay, cười thích thú.
— Để cô Lindsay nghỉ đi con - bà ấy nói. - Cho cô ấy còn ăn tối nữa chứ. Cô ấy là khách của chúng ta chứ không phải là thức ăn để các con ngấu nghiến với đồ ăn khác đâu.
Khi bà ấy đứng lên để mang chai Cola từ tủ lại, Carolee đặt tay lên vai tôi và cúi xuống để nói, - Cô không thấy phiền chứ? Chúng yêu cô đấy.
— Tôi cũng yêu chúng.
Khi bát đĩa đã được dọn khỏi bàn và bọn trẻ đã lên gác học bài, Carolee và tôi mang tách càfê ra hàng hiên có mành che nhìn ra sân chơi. Chúng tôi ngồi trên ghế xích-đu và nghe tiếng dế kêu trong đêm tối. Thật tuyệt vời khi có một người bạn ở đây, và đêm nay tôi cảm thấy đặc biệt thân thiết với Carolee.
— Có tin gì về vụ bắn nhà Cat không? - Carolee hỏi, nỗi âu lo hiện rõ trong giọng nói.
— Không. Nhưng cô có nhớ thằng cha chúng ta đã chạm trán ở quán Chim cốc không?
— Dennis Agnew ư?
— Vâng. Hắn quấy rối tôi, Carolee ạ. Và cảnh sát trưởng không giấu diếm rằng ông ta nghi Agnew có dính líu tới mấy vụ án mạng.
Carolee nom rất ngạc nhiên, thậm chí sốc. Thật ư? Tôi không thể hình dung nổi điều đó. Ý tôi là, hắn đúng là một thằng đểu - bà ngừng lại. - Nhưng tôi không nghĩ hắn lại là một kẻ gỉết người.
— Người ta cũng đã từng nói y hệt như vậy về Jeferey Dahmer - tôi bật cười.
Rồi tôi gõ ngón tay lên thành ghế; Carolee bắt chéo tay trước ngực, và tôi nghĩ là trong đầu cả hai chúng tôi đều nghĩ về những tên sát nhân.
— Yên tĩnh quá nhỉ? - cuối cùng Carolee nói
— Rất yên tĩnh. Tôi thích thế này.
— Cô bắt cái thằng tâm thần đó sớm nhé.
— Này, nếu cô băn khoăn về bất kỳ điều gì, Carolee - thậm chí nếu nghĩ đó chỉ là tưởng tượng - hãy gọi cho 911. Rồi gọi cho tôi.
— Tất nhiên, cảm ơn. Tôi sẽ làm vậy. Sau một lát im lặng, Carolee nói, - Cuối cùng kiểu gì chúng cũng bị bắt, đúng không, Lindsay?
— Đúng thế - tôi trả lời, tuy đó không hẳn là sự thật. Những kẻ thật sự thông minh không những không bị bắt mà chúng còn không bị để ý.
***
Cả đêm tôi trằn trọc, những cơn ác mộng với những vụ bắn giết, những thi thể bị đánh vào mông và những khuôn mặt không hình dạng của những tên sát nhân không tên liên tục hiện ra. Tôi tỉnh giấc, một buổi sáng ảm đạm và xám xịt, những ngày như thế này chẳng ai muốn chui ra khỏi giường.
Nhưng Martha cần phải ra ngoài, và thế là tôi mặc bộ quần áo màu xanh cho súng vào bao đeo vai và nhét di động vào túi áo bò.
Rồi Martha thân yêu và tôi đi ra bãi biển.
Mây đen kéo đến, làm bầu trời như đổ ập xuống Vịnh, những chú chim hải âu đang lao qua những đám mây nom như những quả khí cầu trong phim thời sự từ Đại chiến thế giới thứ hai.
Có vài người đang chạy, vài người khác tản bộ tít xa phía trước chúng tôi, vì vậy tôi thả dây xích Martha. Nó chạy đuổi sau đàn chim choi choi, làm chúng bay tán loạn, còn tôi thả bộ đi về phía nam.
Tôi mới đi được chừng vài dặm thì mưa bắt đầu rơi. Ngày càng nặng hạt, rải lỗ chỗ xuống cát làm cát dưới chân tôi đặc lại.
Tôi quay sang tìm Martha, chạy ngược lại khá lâu mới thấy nó đang đứng cách tôi khoảng 100 dặm ngay sau một người đàn ông mặc áo mưa màu vàng có mũ.
Tôi sải bước chạy, mưa quật vào mặt tôi, tiếng sủa của Martha khiến tôi chú ý. Nó đang cắn vào gót chân của gã đứng đằng sau tôi. Nó đang chăn thằng cha!
— Martha - tôi hét lên - Đủ rồi đấy.
Đó là mệnh lệnh để nó quay trở về với tôi, nhưng Martha hoàn toàn phớt lờ. Thay vào đó, nó kéo thằng cha đi lên những đồi cỏ trên đụn cát.
Lúc đó tôi nhận ra rằng Martha không chỉ đùa nghịch với tay đó. Nó đang bảo vệ tôi.
Thằng mất dạy.
Tôi lại đang bị theo dõi!
Tôi hét lên, - Này. Đừng có chạy nữa thì nó sẽ thả ra - nhưng cả chó và người đều không quan tâm. Cuối cùng, tôi chạy theo cả hai, nhưng leo lên ngọn đồi dốc 6 mét chẳng khác nào chạy dưới nước.
Tôi cúi rạp người, cào tay vào cát, và cuối cùng cũng lên được đến bãi cỏ nơi là địa điểm cắm trại của Bãi biển Francis. Nhưng mưa làm tóc bay lên mặt tôi, và trong một lúc, tôi hoàn toàn mù.
Gỡ được tóc ra khỏi mặt thì tình thế đã vượt ngoài tầm kiểm soát. Tôi nhìn điên dại xung quanh, nhưng tôi thậm chí còn không thể nhìn thấy gã đã theo dõi tôi. Khỉ ạ! Hắn đã lại thoát rồi.
— Marthaaaaa -
Đúng lúc đó, một cái gì màu vàng lao ra từ phía sau dãy nhà vệ sinh, sượt qua tầm nhìn của tôi - Martha vẫn bám sát gót. Thằng cha đá con chó nhưng không thể gỡ nó ra khỏi chân, cả hai chạy qua bãi cỏ.
Tôi rút súng, hét to - Đứng yên. Cảnh sát đây.
Nhưng gã đàn ông mặc áo mưa đổi hướng chạy vòng qua mấy cái bàn cắm trại về phía chiếc xe bán tải đỗ ngoài bãi xe.
Martha vẫn bám lấy hắn, gầm gừ, miệng ngậm ống quần, ngăn không cho hắn vào xe. Tôi lại hét lên - Cảnh sát đây! - và chạy lại, chĩa súng trước mặt
— Quỳ xuống - tôi ra lệnh khi đến gần. - Bỏ tay ra để tôi có thể nhìn thấy. Nằm sấp xuống. Ngay lập tức!
Thằng cha mặc áo mưa làm đúng những gì tôi ra lệnh, và tôi áp sát nhanh gọn trong khi mưa vẫn phả xuống chúng tôi. Tôi kéo mũ hắn xuống, súng chĩa vào lưng hắn.
Tôi nhận ngay ra mái tóc vàng, nhưng cố không tin vào những gì mình nhìn thấy. Hắn ngẩng mặt lên về phía tôi, mắt hắn phát ra những tia giận dữ.
— Keith! Cậu đang làm gì thế? Có chuyện gì xảy ra vậy?
— Không có gì, không có gì. Tôi chỉ định cảnh báo cho cô thôi.
— Thật vậy sao? Vậy tại sao không gọi điện cho tôi? - tôi hổn hển thở.
Tim tôi đập thình thịch.
Trời ơi. Tôi lại đang cầm súng trong tay.
Tôi đá dạng hai chân của Keith ra và soát người cậu ta, tôi tìm thấy một con dao Buckmaster dài 20 cm để trong bao da đeo bên hông. Tôi rút con dao ra và quăng sang một bên. Đúng là mọi việc không hề đơn giản.
— Cậu nói là "không có gì" à?
— Lindsay, để tôi nói.
— Để tôi nói trước - tôi nói. - Cậu bị bắt.
— Tại sao?
— Vì mang vũ khí.
Tôi đứng để Keith có thể nhìn thấy rõ ràng trong ánh mắt tôi rằng nếu cần tôi sẽ sử dụng súng.
— Anh có quyền im lặng - tôi nói. - Bất cứ điều gì anh nói có thể và sẽ được dùng chống lại anh khi ra toà. Nếu anh không có luật sư, toà sẽ chỉ định một luật sư cho anh. Anh có hiểu quyền của mình không?
— Cô hiểu nhầm tôi rồi.
— Anh có hiểu quyền lợi của mình không?
— Có. Tôi hiểu!
Tôi lần trong túi áo khoác lấy di động. Keith động đậy, như thể cậu ta định chạy trốn vậy. Martha nhe răng.
— Nằm yên, Keith. Tôi không muốn phải bắn cậu đâu.
Cả ba chúng tôi cùng ngồi trong một căn phòng hỏi cung nhỏ tường xám trong sở cảnh sát. Trước đó cảnh sát trưởng nói với tôi là ông ta nghi ngờ.
Với ông ta Keith Howard hơn chục năm nay chỉ là một cậu thợ cơ khí không có gì khác trong đầu ngoài đồng lương ổn định và một chiếc xe tốt.
Nhưng cảnh sát trưởng cũng tin theo bản năng của tôi, may quá, bởi vì tôi đã nhìn thấy ánh mắt Keith, ánh mắt thật sự đã làm tôi sợ đến chết khiếp. Đó chính là cái nhìn tôi đã từng thấy trên khuôn mặt của những kẻ giết người bệnh hoạn trước đây.
Tôi ngồi đối diện với Keith bên cái bàn bằng kim loại cũ kỹ, cả hai chúng tôi sũng nước mưa, còn Sếp Stark đứng tựa vào tường trong góc phòng. Sau khung kính, những cảnh sát khác đang theo dõi, hi vọng là tôi đúng, rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ được làm những việc khác chứ không phải lần theo dấu vết một con dao và linh cảm.
Từ khi bị bắt, Keith có vẻ chịu thua, trông lại còn trẻ hơn cái tuổi 27 của cậu ta.
— Tôi không cần luật sư - cậu ta nói với tôi. Tôi chỉ theo dõi cô thôi. Các cô gái bao giờ chẳng biết khi được các chàng trai theo đuổi. Cô biết điều đó, vì thế cô nói với họ thế nhé, được không?
— Ý cậu là cậu lén theo đuổi tôi - tôi nói. - Đó là lời giải thích của cậu à?
— Không, tôi theo dõi cô. Khác chứ, Lindsay.
— Tôi biết nói gì đây? Tôi không hiểu. Tại sao cậu lại theo dõi tôi?
— Cô biết tại sao mà! Có người định hại cô.
— Có phải vì thế mà cậu bắn vào nhà chị tôi không?
— Tôi ư? Tôi không làm vậy - giọng nói của Keith vang lên, cậu ta trỏ ngón tay vào sống mũi. - Tôi thích cô, lúc nào tôi chẳng thích. Và bây giờ cô dùng điều đó để chống lại tôi.
— Mày đang làm tao cáu đấy, thẳng đểu ạ, cảnh sát trưởng hầm hè. Ông ta tiến ra trước và đập vào sau đầu Kelth. - Mày hãy là một thằng đàn ông đi. Mày đã làm gì?
Keith có vẻ thu lại. Cậu ta gục đầu xuống bàn, lăn lộn, rồi rên rỉ, tiếng khóc trống rỗng như đến từ nỗi khổ cực và sợ hãi không đáy.
Nhưng tất cả lời kêu khóc trên thế gian này cũng không thể giúp gì cho cậu ta được. Gần đây tôi đã từng bị những giọt nước mắt cá sấu làm mủi lòng, và đó đã từng là lỗi lầm khủng khiếp mà tôi sẽ không lặp lại.
— Keith, cậu làm tôi lo đấy, anh bạn ạ - tôi nói đều đều. - Cậu đang gặp vấn đề đấy. Nên đừng có dại dột. Hãy nói với chúng tôi cậu đã làm gì để chúng tôi có thể nói với uỷ viên công tố chứ. Tôi sẽ giúp cậu, Keith. Tôi nói thật đấy. Vì thế hãy nói với tôi. Liệu trên dao của cậu có vết máu không?
— Khôoong - cậu ta tru lên. Tôi không làm gì xấu cả.
Nét mặt tôi giãn ra. Rồi tôi cười. Tôi nắm lấy tay Keith.
— Cậu sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu chúng tôi bỏ còng tay ra chứ?
Tôi nhìn sang cảnh sát trưởng, ông ta gật đầu. Ông lôi chìa khoá trong túi áo ngực ra, mở khoá. Keith lấy lại được sự điềm tĩnh. Cậu ta giũ tay, cởi áo mưa, và hất nó ra sau ghế. Rồi cậu ta cởi cái áo len đang mặc.
Lúc đó mà đang đứng, đầu gối tôi sẽ khuỵu xuống và tôi sẽ lăn ra sàn.
Keith mặc áo phông màu cam có in logo của Distllley, nhà hàng phục vụ khách du lịch trên đường Cao lộ 1 ở Bãi biển Moss.
Nó giống như tạc chiếc áo phông mà John Doe 24 đã từng mặc khi cậu ta bị đánh và giết 10 năm trước.
Keith thấy tôi đang nhìn chằm chằm vào áo phông của cậu ta.
— Cô thích nó à? - cậu ta hớn hở, nụ cười của cậu ta trở lại như thể chúng tôi đang ở ga-ra của cậu ta vậy. - Cái áo này kinh điển đấy - cậu ta nói. - Distillery bây giờ chẳng bán áo phông nữa đâu.
Có thể là không, nhưng cái áo vấy máu giống hệt như thế này thì đang nằm trong phòng lưu trữ tang vật ở Toà Tư pháp.
— Đêm hôm qua cậu ở đâu, Keith? - tôi gây áp lực.
— Cậu có súng không?
— Cậu định cảnh báo tôi điều gì?
— Hãy nói cho tôi một điều mà tôi có thể tin được.
Đầu tiên cậu ta còn kháng cự, rồi hoang mang, rồi oà khóc, và có lúc cậu ta chỉ im lặng. Hàng giờ trôi qua, Stark thay tôi hỏi Keith, cậu ta có biết những nạn nhân trong những vụ giết người gần đây không.
Keith công nhận rằng cậu ta có biết họ.
Cậu ta cũng biết gần như bất kỳ ai sống ở Vịnh Nửa Vầng Trăng hay những ai đã ghé qua trạm xăng của cậu ta.
— Chúng tôi có nhân chứng - Sếp nói, đặt cả hai tay lên mặt bàn, ném về phía Keith cái nhìn có thể xuyên qua cả thép. - Cậu bạn ạ, người ta nhìn thấy cậu rời khỏi nhà Sarducci đêm xảy ra án mạng.
— Thôi đi Peter. Đừng làm tôi nực cười. Không được gì đâu.
Chúng tôi va phải ngõ cụt, bất kỳ lúc nào Keith cũng có thể nói, - Cứ buộc tội tôi mang dao đi và để tôi ra khỏi đây - để cậu ta sẽ hoàn toàn có quyền trả phạt và bước ra khỏi đây.
Tôi đứng dậy nói với cảnh sát trưởng qua đầu Keith, giọng nói của tôi đầy thương cảm.
— Ông biết không, cậu ta không làm mấy chuyện này đâu. Ông có lý. Cậu ta không có gan đâu. Ông nhìn kìa. Cậu ta đâu có thông minh xuất chúng, cũng chẳng có một thần kinh thép. Ý tôi là, tôi xin lỗi, Keith, cậu là một anh thợ máy khá giỏi, nhưng thật điên rồ khi nghĩ là cậu có đủ can đảm để tiến hành mấy vụ giết người kia. Và lại còn không để lại dấu vết nào. Tôi nghĩ là không.
— Ờ, chúng ta đang phí thời gian vô ích - cảnh sát trưởng nói, tiếp theo cách nói của tôi. Thằng cu này mà ăn cắp vặt ở máy tính tiền ngoài bãi xe cũng sẽ còn bị bắt ý chứ.
Keith quay sang nhìn cảnh sát trưởng, rồi nhìn tôi, rồi lại nhìn cảnh sát trưởng. - Tôi hiểu hai người đang làm gì - câu ta nói.
Tôi lờ cậu ta đi, tiếp tục nói những nhận xét của mình với cảnh sát trưởng.
— Và tôi nghĩ ông có lý về Agnew - tôi tiếp. - Đấy, đấy mới là thằng cha đủ can đảm để giết người không gớm tay. Nhìn họ quằn quại. Nhìn họ chết và hắn mới là kẻ đủ trí thông minh để không bị bắt.
— Đúng vậy. Hắn liên quan đến tất cả - cảnh sát trưởng nói, vuốt lại mái tóc. Thế mới có lý.
— Hai người không nên nói năng như vậy - Keith lẩm nhẩm.
Tôi quay về phía cậu ta dò hỏi.
— Keith, cậu biết Agnew - tôi nói. - Cậu nghĩ sao? Hắn có đúng là kẻ giết người chúng ta đang tìm không?
Như thể đã đến giờ và quả bom đã nổ dưới đất ngầm. Đầu tiên có một cơn động đất, rồi tiếng động ầm ầm, rồi mọi thứ nổ tung.
— Dennis Agnew á? Keith bật lại. - Cái thằng ngu đã từng đóng phim khiêu dâm. Nó gặp may là tôi chưa giết nó đấy. Và tin tôi đi, tôi đã từng nghĩ đến điều đó.
Keith vỗ tay rồi đập lên mặt bàn, làm bút, giấy và mấy lon nước ngọt nảy tung lên.
— Này. Tôi thông minh hơn cô tưởng nhiều, Lindsay ạ. Giết bọn người đó là điều dễ nhất tôi từng làm.
Trên mặt Keith là sự lạnh lùng điên dại tôi đã từng thấy khi dí súng vào cổ hắn. Tôi không biết anh chàng Keith này. Nhưng tôi phải biết.
— Các người không hiểu gì về tôi hết, cả hai người - hắn nói. Và thậm chí nếu hai người có định chơi tôi, cũng chẳng sao. Tôi phát ốm lên với mấy thứ này rồi. Không ai quan tâm.
Khi Keith nói - Không ai quan tâm - tôi ngồi chết cứng trên ghế. Hai đứa trẻ nhà Cabot đã dùng bình xịt sơn phun những từ này lên tường nơi chúng giết các nạn nhân. Và kẻ đã giết John Doe 24 mười năm trước cũng vậy.
— Ý cậu là sao, - Không ai quan tâm?
Keith chằm chằm nhìn tôi bằng đôi mắt xanh thẳm. - Cô thông minh lắm mà. Cô tự đi mà tìm hiểu.
— Đừng có chọc giận tôi, Keith. Tôi có quan tâm. Và tôi đang nghe đây.
Khi máy quay phim thu lời thú tội của hắn, giấc mơ của mọi cảnh sát đang thành hiện thực. Keith thú nhận tất cả: những cái tên, ngày tháng, những chi tiết mà chỉ có kẻ sát nhân mới có thể biết. Hắn kể đã sử dụng các loại dao khác nhau, và loại thắt lưng khác nhau, mô tả từng vụ sát nhân, kể cả việc hắn đã lừa Ben O'Malley thế nào.
—...Tôi đã lấy một hòn đá đập vào đầu ông ta rồi cắt cổ ông ta. Tôi ném con dao xuống - và Keith mô tả chi tiết một cách trình tự, giống như xếp bài ra trong một ván tú lơ khơ, và chi tiết đủ sức thuyết phục để có thể kết án hắn ta đến mấy lần. Nhưng tôi vẫn thấy khó tin là hắn đã thực hiện những vụ ám sát một mình.
— Cậu đã giết Joe và Annemarle Sarducal một mình? Không bị chống cự? Cậu là ai vậy, Người nhện à?
— Cô đang bắt đầu hiểu rồi đấy, Lindsay. Hắn nhoài người ra phía trước, kéo ghế xước sàn nhà, dí mặt sát mặt tôi.
— Tôi đã mê hoặc họ để họ phục tùng tôi - hắn nói. - Và cô nên tin điều đó. Tôi thực hiện một mình. Cứ nói thế với uỷ viên công tố, ừ, đúng, tôi là Người nhện.
— Nhưng tại sao? Những người này đã làm gì cậu?
Keith lắc đầu như thể hắn thấy thương hại tôi - Cô không hiểu, đúng không Llndsay.
— Thử xem
— Không hắn nói. Tôi nói hết rồi.
Và thế là hết. Hắn đưa tay lên vuốt tóc, tu cạn lon Cola, và cười khoái trá, như thế trên sân khấu màn đã buông xuống.
Tôi muốn đấm vào mặt hắn để hắn thôi không tự mãn như vậy. Tất cả những người này đã chết, và một cách vô lý. Tại sao hắn không chịu nói lý do hắn giết họ?
Nhưng dù sao đi chăng nữa, đây vẫn là một ngày tuyệt đẹp cho nhưng người tốt. Keith Howard đã bị cho vào sổ, lấy dấu vân tay, chụp ảnh, bị còng lại tay, và nhốt vào phòng tạm giam chờ ngày ra hầu toà ở San Francisco.
Tôi tạt qua văn phòng của sếp Stark khi ra về.
— Có chuyện gì vậy, Boxer? Không ăn mừng à?
— Tôi vẫn băn khoăn, Sếp ạ. Hắn đang bảo vệ nhưng người khác, tôi dám chắc là như vậy.
— Đó là thuyết của cô. Cô biết thế nào không? Tôi tin thằng cha đó. Hắn nói hắn thông minh hơn chúng ta tưởng, và tôi nghĩ là hắn xứng đáng với lời khen ngợi là một thiên tài như hắn nói.
Tôi nhìn sếp cười mệt mỏi.
— Khá thật, Boxer. Hắn đã thú tội rồi. Cô hãy vui lên. Con ngỗng này được nướng chín rồi. Hãy để tôi là người đầu tiên được chúc mừng cô, Trung uý. Khá lắm. Một buổi phỏng vấn rất tuyệt. Thế là xong, ơn Chúa, cuối cùng đã xong rồi.
***
Chuông điện thoại reo, đánh thức tôi dậy từ giấc ngủ sâu đến mức tôi tưởng mình đang ở Kansas. Tôi dò dẫm trong bóng tối tìm ống nghe.
— Ai đấy? - tôi càu nhàu.
— Anh đây, Lindsay. Xin lỗi đã gọi cho em sớm thế này.
— Joe. Tôi kéo đồng hồ lại để xem giờ, đồng hồ nhấp nháy 5 giờ 15 phút. Bất chợt tôi thấy lo lắng. - Anh có sao không? Có chuyện gì thế?
— Mọi chuyện với anh đều tốt - anh ấy nói giọng anh bình tĩnh, ấm áp, hấp dẫn. - Nhưng còn em thì có cả một đám đông đang ở ngoài cửa nhà em kia.
— Anh nhìn thấy qua hệ thống định vị toàn cầu à?
— Không, anh chỉ bật ti-vi lên thôi.
— Chờ em một lát - tôi nói.
Tôi bước qua phòng và vén một góc rèm che cửa sổ.
Vài phóng viên đã chiếm lĩnh thảm cỏ, và đoàn quay phim đang kéo dây cáp ra từ những chiếc xe đỗ quanh phố như những đoàn xe kéo từ thế kỷ 18.
— Em nhìn thấy rồi - tôi nói, chui lại vào phòng. - Họ đang bao vây em. Khỉ thật.
Tôi chui lại vào giường, kẹp ống nghe giữa mặt và gối, tôi cảm thấy Joe ở thật gần, có lẽ thậm chí anh đang ở trong cùng một múi giờ.
Chúng tôi nói chuyện cả 20 phút với nhau, hẹn sẽ gặp nhau khi tôi quay trở lại thành phố, và hôn gió qua điện thoại. Rồi tôi ra khỏi giường, mặc quần áo, trang điểm nhẹ và bước ra khỏi cửa nhà Cat.
Phóng viên lao tới, chĩa micrô vào mặt tôi. Tôi nhíu mắt trong ánh nắng sớm mai, chỉ nói, - Rất lấy làm tiếc phải làm các bạn thất vọng, nhưng tôi không thể bình luận gì cả. Đây là vụ án của Cảnh sát trưởng Stark, và các bạn phải nói chuyện với ông ấy. Chỉ có vậy thôi.
Tôi bước lại vào nhà, cười một mình, để những câu hỏi đang tuôn ra hàng tràng và những tiếng hét gọi tên tôi ở ngoài cửa. Tôi cài chốt cửa, tắt chuông điện thoại di động. Đang gỡ những ghi chép về vụ giết người từ trên bảng của bọn trẻ xuống thì Cindy và Claire gọi vào di động.
— Xong rồi - tôi nói với họ, nhắc lại điều mà cảnh sát trưởng nói. - ít nhất đó là điều mà mình được biết.
— Chuyện gì đang thực sự xảy ra vậy, Lindsay? - người bạn Cindy đầy linh tính, đầy hoài nghi của tôi hỏi.
— Cậu thông minh thật đấy.
— Uh-huh. Thế thực ra là có chuyện gì?
— Chỉ là không chính thức thôi nhé. Thằng bé rất hãnh diện vì nó được liệt vào danh sách những kẻ giết người hàng loạt bệnh hoạn lừng danh. Và mình không dám chắc là nó có đáng được hưởng điều đó hay không.
— Nó có thú nhận đã giết John Doe không? - Claire hỏi.
— Bươm bướm ạ - tôi nói. - Lại thông minh rồi.
— Sao cơ?
— Không, nó không nhận.
— Vậy cậu nghĩ sao?
— Mình không biết phải tin điều gì, Claire ạ. Mình thật sự đã nghĩ kẻ nào giết những người này cũng từng giết John Doe. Có lẽ mình sai.
Tôi ngồi ở một vị trí hiếm hoi: ghế sau xe cảnh sát cùng Martha. Tôi kéo kính xe xuống, cởi khuy chiếc áo cộc tay và hoà vào sự sôi nổi đang diễn ra trên phố Main.
Một ban nhạc diễu hành đang lên dây đàn trong một ngõ nhỏ, những cô cậu bé Hướng đạo sinh và lính cứu hoả mặc hình nộm trên người. Người ta trèo lên thang để treo băng cổ động, cờ bay phấp phới từ những cột đèn. Tôi gần như ngửi thấy mùi xúc xích nướng. Hôm nay là mồng 4 tháng 7.
Người bạn mới của tôi, cảnh sát Noonan đưa chúng tôi ra trước cổng sở cảnh sát, nơi Sếp Stark đang đứng trước đám đông toàn người qua đường và phóng viên vòng trong vòng ngoài.
Khi tôi len qua đám đông, Thị trưởng Tom Heffeton đang bước ra khỏi Sở cảnh sát, mặc quần soóc kaki, áo phông, mũ câu cá che cái đầu hói. Ông ta bắt tay tôi nói, - tôi hi vọng kỳ nghỉ nào cô cũng sẽ đến Vịnh Nửa Vầng Trăng, Trung uý ạ!
Rồi ông ta đập vào micro và đám đông im lặng.
— Xin cảm ơn tất cả đã tới. Hôm nay quả đúng là một ngày Quốc khánh đầy ý nghĩa - ông ta nói, giọng run run. - Chúng ta đã thoát nạn, thoát nạn để có thể tiếp tục sống.
Ông ta giơ tay lên ngăn tiếng vỗ tay. - Tôi sẽ để các bạn nói chuyện với cảnh sát trưởng của chúng ta. Peter Stark.
Cảnh sát trưởng mặc đồng phục một cách trang trọng, đầy đủ cả khuy đồng, phù hiệu sáng loáng và súng. Khi bắt tay thị trưởng, khoé miệng ông ta nhếch lên và vâng, ông ta mỉm cười. Rồi ông ta đằng hắng và cúi xuống micro.
— Chúng tôi đã bắt được kẻ tình nghi, và hắn thú nhận đã thực hiện tất cả những vụ ám sát đã làm những người dân của Vịnh Nửa Vầng Trăng khiếp đảm. Một tiếng tung hô vang lên trong sương mù buổi sáng, và một vài người ồ lên nhẹ nhõm. Một cậu bé cầm pháo bông đi lên bục đưa cho cảnh sát trưởng.
— Cảm ơn, Ryan. Đây là con trai tôi - ông ta nói với đám đông, giọng nghẹn lại. - Các bạn nhớ lấy nhé. Cảnh sát trưởng kéo thằng bé lại sát người, đặt tay lên vai con trai mình và tiếp tục bài phát biểu.
Ông ta nói rằng sở cảnh sát đã làm tròn nhiệm vụ, rằng tiếp đến sẽ là công việc của uỷ viên công tố và hệ thống pháp luật. Rồi ông cảm ơn tôi vì đã là một nguồn lực vô giá đối với sở cảnh sát này và, với đám đông đang hò reo chúc mừng ngày càng dữ dội hơn, ông đưa cho con trai mình mề đay bằng đồng đeo luồn qua dây nơ. Một cảnh sát giữ pháo bông cho cậu bé để Ryan đeo huy chương lên cổ Martha. Huân chương đầu tiên của nó.
— Một cô nàng chó cừ khôi - cảnh sát trưởng nói.
Stark sau đó tuyên dương cả sở vì những gì họ đã làm để ngăn chặn làn sóng tội ác đã lấy đi bao mạng sống của những công dân vô tội.
Còn với tôi, bắt được tên sát nhân, tôi đã lấy lại được danh tiếng của mình. Tôi vẫn là một cảnh sát cực kỳ.
Nhưng kể cả lúc đang say sưa với chiến thắng, vẫn có một ý nghĩ làm tôi bất ổn. Ý nghĩ đó như cậu bé đang vẫy cây pháo bông trong tay, kéo tay áo của bố để đòi bố để ý đến.
Suy nghĩ của tôi giống hệt như vậy.
Liệu "làn sóng tội ác" này đã thật sự dừng lại?
Đêm hôm đó, pháo hoa nổ không ngừng, từng chùm hoa bắn lên từ Đỉnh Pillar nở tung trên bầu trời. Tôi đặt gối lên đầu, nhưng cũng không ngăn được tiếng động.
Nàng chó anh hùng của tôi nằm bẹp dưới gầm giường, lưng dán vào tường.
— Không sao đâu, Boo. Sắp hết rồi. Ngẩng cao cằm lên.
Tôi vừa thiu thiu ngủ thì có tiếng chìa khoá lanh canh tra vào ổ.
Martha cũng nghe thấy tiếng động, nó lao ra khỏi phòng ngủ chạy về phía cửa ra vào, sủa dữ dội.
Có ai đó đang đi vào cửa.
Mọi việc diễn ra thật nhanh chóng.
Tôi nắm chặt súng, trườn từ trên giường xuống dưới thảm, tim đập thình thịch, tôi bò ra phòng ngoài.
Tôi áp sát vào tường, nhẩm tính khoảng cách giữa phòng tôi và phòng khách, cổ họng tôi tắc nghẹn, đúng lúc đó tôi nhìn thấy một bóng đen đang bước vào nhà.
Tôi núp người xuống, chĩa súng bằng cả hai tay, hét lên, - Giơ tay lên đầu để tao nhìn thấy. Ngay lập tức.
Có tiếng kêu thất thanh.
Ánh trăng ùa vào từ cửa soi sáng khuôn mặt khiếp đảm của chị tôi. Đứa bé chị ấy đang bế trên tay cũng thét lên.
Tôi gần như cũng gào lên.
Tôi đứng dậy, rút tay ra khỏi cò súng, và buông súng xuống.
— Cat, em đây mà. Em xin lỗi. Đủ rồi, Martha! Đủ rồi.
— Lindsay? - Cat bước về phía tôi, xốc lại Meredith trên tay. - Khẩu súng ấy đã lên đạn chưa đấy?
Brigid, mới có sáu tuổi, lon ton chạy sau chị gái tôi. Nó ấn con thú bông mềm mại vào mặt và gào lên thảm thiết.
Tay tôi vẫn còn run, và máu tràn lên trong tai tôi.
Ôi trời ơi! Tôi suýt nữa thì giết chết chị mình.
Tôi đặt súng xuống bàn, ôm chặt lấy Cat và Meredith.
— Em xin lỗi - tôi nói. - Em rất xin lỗi.
— Chị gọi mãi - Cat nói trong khi gục đầu vào cổ tôi. Rồi chị ấy buông tôi ra.
— Đừng có bắt chị đấy nhé.
Tôi nhấc Brigid lên và ôm chặt lấy nó, hôn cái má ướt đẫm nước mắt của nó, ôm chặt lấy mái đầu nó. - Martha và dì không định làm cháu sợ đâu cưng ạ.
— Dì có ở đây với chúng cháu không, dì Lindsay?
— Chỉ đêm nay thôi, cưng ạ!
Cat bật đèn rồi nhìn quanh những lỗ thủng trong tường.
— Em không nghe máy - Cat nói. Và máy nhận tin báo là đã đầy rồi.
— Toàn là phóng viên gọi đấy mà - tôi nói với chị, tim vẫn còn đập mạnh. Tha lỗi cho em vì đã làm chị hoảng sợ đến vậy.
Cat với cánh tay không bế Meredith ra, kéo đầu tôi vào mặt chị, hôn lên má tôi.
— Em là một cảnh sát rất đáng sợ, em có biết không?
Tôi và Cat cùng hai cô bé bước vào phòng bọn trẻ, chúng tôi hoàn hồn, dỗ dành hai đứa trẻ đang sụt sịt. Chúng tôi thay quần áo ngủ cho chúng và bế hai đứa trẻ vào giường.
— Chị có xem tin tức - Cat nói khi chị ấy đóng cửa buồng ngủ bọn trẻ. - Có đúng như thế không? Em bắt được kẻ sát nhân và hoá ra đó lại là Keith? Chị biết Keith. Chị rất quý nó.
— Ừ, em cũng vậy.
— Thế cái xe đậu trước cửa kia là thế nào? Trông nó giống hệt cái xe của cậu Dougie.
— Em biết, đó là quà cho chị đấy.
— Thật không?
— Quà vì chị đã cho em ở đây, Cat. Em muốn chị có nó.
Tôi lại ôm lấy chị gái mình thật chặt. Tôi muốn nói, - Giờ tất cả đã ổn rồi. Chúng ta đã bắt được thằng khốn. Nhưng thay vào đó tôi lại nói, - Ngày mai chúng ta sẽ lái thử nó.
Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon, trong lúc chị tôi vặn nước vào bồn tắm, tôi đưa Martha ra ngoàỉ hành lang và mở cửa buồng ngủ. Tôi bật đèn và đứng sững lại ngay ngưỡng cửa.
Thực ra tôi lại gần như gào lên lần nữa.
Cô con gái bé nhỏ của Carolee, Allison đang ngồi trên giường tôi. Thế là đủ sửng sốt lắm rồi - nhưng dáng vẻ của cô bé còn làm tôi sửng sốt hơn. Ali đi chân đất, mặc váy ngủ mỏng tang, và nó đang khóc thảm thiết.
Tôi bỏ súng xuống đi đến chỗ cô bé, quỳ xuống nắm lấy đôi bờ vai bé nhỏ của nó.
— Ali, Ali, có chuyện gì vậy? chuyện gì đã xảy ra? - Cô bé 8 tuổi ngả vào người tôi và vòng tay ôm chặt lấy cổ tôi. Nó đang run lên, toàn thân rung lên trong cơn nấc. Tôi ôm lấy nó, dồn dập hỏi nó, còn chẳng cho nó kịp thời gian để có thể trả lời.
— Cháu có bị thương ở đâu không? Sao cháu đến đây được, Ali? Có chuyện gì vậy?
Allison nói, - Cửa mở nên cháu đi vào.
Đúng lúc đó, những giọt nước mắt lại tuôn ra từ một vết thương bí ẩn vô đáy.
— Nói với cô đi, Ali - tôi nói, kéo nó ra khỏi người tôi, kiểm tra xem nó có bị thương không. Chân nó rách và bẩn thỉu. Ngôi nhà của Cat cách trường cả dặm và phải đi qua xa lộ. Allison đã đi bộ từ đấy đến đây.
Tôi lại cố bắt nó trả lời, nhưng Ali chỉ lắp bắp kể rời rạc. Nó ôm lấy tôi, nấc lên và cố nén tiếng khóc, tôi hoàn toàn không hiểu nó nói gì.
Tôi mặc quần bò ra ngoài bộ pyjama và đi giày thể thao. Tôi cho súng vào bao đeo vai và che bằng áo bò.
Tôi lấy áo len choàng lên người Ali rồi bế nó lên. Để Martha ở lại trong phòng ngủ, tôi và Ali đi ra cửa trước.
— Cưng ơi - tôi nói với đứa trẻ đang gào khóc, - Cô sẽ đưa cháu về.
Chiếc xe Forester của Cat đậu chắn ngay đằng sau chiếc Explorer của tôi. Chìa khoá của Bonneville vẫn nằm trong ổ khoá, và con tàu vàng hướng mũi ra đường.
Tôi đặt Ali ra ghế sau, thắt dây an toàn cho cô bé, ngồi vào sau tay lái và vặn chìa khoá. Máy rồ lên êm ái. Trên đường xa lộ 1, tôi lái về hướng bắc dưới một bầu trời đầy pháo hoa, về phía trường học. Thật bất ngờ, Allison hét lên, - Không!
Tôi nhìn vào gương chiếu hậu, nhìn thấy khuôn mặt tái mét của cô bé, mắt nó mở to. Cô bé chỉ tay về hướng nam.
— Cháu muốn cô đi về hướng ấy à?
— Lindsay, xin cô. Nhanh lên.
Nỗi sợ hãi và sự khẩn cấp của Ali thật đáng kinh hoàng. Tất cả những gì tôi có thể làm là tin tưởng cô bé, vì vậy tôi quay xe về hướng nam cho đến lúc Ali thì thào từ ghế đằng sau, - Rẽ vào đây - tại một ngã tư vắng vẻ.
Tiếng pháo hoa nổ đì đùng trong ngày mồng 4 tháng 7 trên đầu càng làm tôi căng thẳng. Gần đây đã có quá nhiều vụ bắn giết, và cứ mỗi một tiếng nổ lại làm tôi liên tưởng đến một vụ giết người.
Tôi nhấn ga trên con đường Cliff bẩn thỉu, cho xe chạy trượt qua các góc phố. Tôi nghe có tiếng Keith nói trong đầu: - Cô không thể làm thế được đâu, Lindsay. Cái xe này là đồ quý đấy.
Tôi lái xe qua một đường hầm tối om đầy cây khuynh diệp, cuối cùng trước mặt chúng tôi là cảnh núi. Nằm trên đồi phía bên trái là một ngôi nhà tròn trát vữa.
Tôi lại nhìn vào gương chiếu hậu. - Bây giờ đi đâu, Ali? Còn xa nữa không?
Allison chỉ tay vào ngôi nhà tròn trông như một ngọn tháp. Rồi cô bé lấy hai tay che mắt. Cô bé thì thào gần như không phát ra thành tiếng.
— Đến nơi rồi.
Tôi cho xe rẽ ra khỏi đường, nhìn lên ngôi nhà - một cái cột ba tầng toàn kính và vữa. Hai dải ánh sáng thỉnh thoảng lại rọi một lần ở tầng dưới.
Ánh đèn pin
Ngoài ra căn nhà tối om.
Rõ ràng những người đang ở trong căn nhà không phải là chủ nhân của ngôi nhà. Tôi chạm tay vào túi áo bò và có cảm giác chẳng lành còn trước cả khi tôi biết là mình có lý: tôi đã để di động lại trên bàn cạnh giường. Tôi nhớ nó đang nằm quay mặt vào đồng hồ.
Thật là tệ quá.
Tôi không có điện đàm trong xe, không ai yểm trợ, và tôi không mặc áo chống đạn. Nếu đang có án mạng xảy ra, đi một mình vào ngôi nhà không phải là một ý hay chút nào.
— Ali - tôi nói. - Cô phải đi tìm trợ giúp.
— Không được đâu, Lindsay - cô bé nói, thì thầm. - Tất cả sẽ chết đấy.
Tôi quàng tay chạm vào mặt cô bé. Mồm cô bé mím lại, sự tin tưởng trong đôi mắt cô bé thật nẫu lòng.
— Cháu nằm xuống ghế sau đi - tôi nói với cô bé. - Chờ cô và đừng động đậy cho tới khi cô quay trở lại.
Ali nằm úp mặt xuống ghế. Tôi đặt tay lên lưng cô bé, khẽ vỗ vào lưng nó. Rồi tôi ra khỏi xe và khoá cửa lại.
Ánh trăng sáng rọi khắp hàng hiên, những cái bóng ngả xuống làm người ta tưởng vực thẳm đang trải ra dưới chân. Tôi đi sát bụi cây bên đường, tránh chỗ có ánh sáng, lên đến ngôi nhà.
Một chiếc xe địa hình đời mới đỗ cạnh căn nhà trên đường lát gỗ. Nắm đấm cửa xoay nhẹ nhàng trong tay tôi, và cánh cửa mở toang vào phòng ngoài.
Tôi mò mẫm đi trong bóng tối, vào căn bếp rộng lớn. Từ đó, tôi bước vào một căn phòng rộng có trần cao, đầy ánh trăng.
Tôi bám sát tường, men theo ghế sô-pha da, những chậu cây cọ lớn và cỏ hoang. Tôi nhìn lên đúng lúc ánh đèn pin biến mất trên cầu thang.
Tôi rút súng, chạy lên cầu thang, đi hai bậc một, nhảy lên bậc trên cùng.
Tôi lắng tai nghe qua tiếng thở của chính mình, tiếng lẩm nhẩm khe khẽ từ căn phòng ở cuối hành lang
Rồi một tiếng kêu thất thanh xé lấy không gian. Tôi chạy về phía cửa, quay nắm đấm, đá cánh cửa mở toang.
Tôi nhìn chằm chằm vào cảnh tượng trong phòng. Một chiếc giường to, một phụ nữ đang ngồi quay lưng về đầu giường. Một người mặc đồ đen đang dí dao lên cổ người phụ nữ.
— Giơ tay lên - Tôi hét lên. - Bỏ dao xuống, ngay lập tức!
— Đã quá muộn rồi - một giọng nói cất lên. - Quay đi và xéo ngay khỏi đây.
Tôi với tay bật đèn.
Điều tôi nhìn thấy thật kinh hãi, khiếp đảm, không thể tưởng tượng nổi.
Kẻ đột nhập cầm dao là Carolee Brown.
Carolee đang chuẩn bị giết người. Đầu óc tôi cứng lại nhìn cảnh tượng không thể tin nổi. Khi định thần trở lại, tôi hành động, hét lạc cả giọng.
— Đứng xa khỏi cô ta ra, Carolee. Giơ tay lên cao.
— Lindsay - bà ta nói bằng một giọng nói bình tĩnh đến ghê người. Tôi yêu cầu cô ra khỏi đây. Cô ta sẽ chết dù có xảy ra bất kỳ điều gì. Cô không thể ngăn tôi lại đâu.
— Cơ hội cuối cùng - tôi nói, lên cò súng. - Bỏ dao xuống không tôi sẽ bắn. Người phụ nữ trên giường rên rỉ trong khi Carolee lấy mắt đo khoảng cách giữa hai chúng tôi và tính xem mất bao lâu thì cứa được cổ người phụ nữ trước khi tôi bắn một viên đạn vào đầu bà ấy.
Tôi cũng đang làm một con tính hệt như vậy.
— Cô đang phạm sai lầm - Carolee nói đầy hối tiếc. Tôi là người tốt, Lindsay. Cô đang nhìn thấy Melissa Farley, đây là một đống rác.
— Hãy thận trọng ném dao sang phía bên này, tôi nói, nắm chặt khẩu súng đến mức khớp tay tôi trắng bệch. Tôi có thể giết Carolee nếu cần không? Tôi thật sự không biết.
— Cô sẽ không giết tôi đâu - bà ta nói.
— Tôi nghĩ bà đã quên tôi là ai rồi.
Carolee lại định nói, nhưng vẻ mặt kiên định sắc lạnh của tôi đã ngăn bà lại. Tôi sẽ bắn bà ta. Và bà ta đủ thông minh để hiểu điều đó. Bà ta mỉm cười mệt mỏi. Rồi ném con dao xuống thảm.
Tôi đá con dao xuống dưới bàn, ra lệnh cho Carolee quỳ xuống sàn.
— Quỳ xuống! - tôi hét lên. - Để tay ra trước mặt.
Tôi ấn bà ta nằm xuống, ra lệnh cho bà ta đặt tay ra sau cổ, vắt chéo cổ chân, tôi khám người, chỉ tìm thấy một cái thắt lưng da nhỏ đeo trên người.
Rồi tôi nhìn sang người phụ nữ đang ngồi trên giường.
— Melissa, bà không sao chứ? Gọi 911 đi. Hãy nói với họ đang xảy ra một vụ án mạng và một cảnh sát cần hỗ trợ.
Người phụ nữ cầm điện thoại cạnh giường nhưng mắt vẫn dán chặt vào tôi. - Hắn bắt được chồng tôi - bà ta nói. - Một người đàn ông đang ở trong buồng tắm với Ed.
Tôi dõi theo ánh mắt của Melissa Farley qua bóng tối về phía cánh cửa bên trái giường.
Cánh cửa từ từ mở ra, một người đàn ông bước khó nhọc vào phòng ngủ, mắt hắn điên dại đằng sau cặp kính vấy máu.
Tôi để ý tất cả khi hắn tiến lại phía tôi: áo phông đen đầy máu, thắt lưng tháo ra khỏi quần, tay trái cầm khoá thắt lưng lủng lẳng, một con dao săn nắm trong tay phải.
Đầu óc tôi chạy hết tốc lực, không nghĩ đến việc giờ con dao đang nằm đâu mà nhẩm đoán nó sẽ nằm ở đâu.
— Hạ vũ khí xuống! - tôi hét lên. - Ngay lập tức không tao sẽ bắn.
Khuôn mặt hắn nhăn lại thành hình một nụ cười tàn nhẫn, cái nhìn lạnh lẽo của một người sẵn sàng chết. Hắn tiếp tục đi về phía tôi, chĩa con dao đầy máu ra.
Tôi thu hẹp tầm nhìn để có thể tập trung vào cái gì là quan trọng nhất nhằm tự cứu bản thân. Có quá nhiều thứ bắt tôi phải tập trung, quá nhiều thứ phải kiểm soát.
Carolee ở ngay đằng sau tôi, không bị khoá tay.
Thằng cha cầm dao cũng biết điều đó. Miệng hắn cong lên.
Hắn nói, - Dứng dậy đi! Ta có thể thủ tiêu nó.
Tôi tính xem điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bắn hắn. Hắn đứng chỉ cách tôi chưa đến 3 mét. Thậm chí nếu tôi có bắn trúng ngực, nếu tim hắn ngừng đập, khoảng cách là quá gần.
Hắn vẫn đang tiến lại.
Tôi nâng súng, đặt tay vào cò, đúng lúc đó Melissa Karlry bò qua giường, chạy về phía buồng tắm.
— Không - Tôi hét lên. Đứng yên tại chỗ.
— Tôi phải ra chỗ chồng tôi!
Tôi không nghe thấy tiếng cửa mở đằng sau lưng mình.
Tôi không nghe tiếng người bước vào phòng.
Nhưng bất chợt cô bé ở đó.
— Bobby, đừng - Allison hét lớn.
Và trong một phút, tất cả dừng lại.
Người đàn ông mà Allison gọi là Bobby sững đờ người, và tôi nhìn thấy mắt hắn ánh lên sự bối rối.
— Ailison - hắn nói, - Đáng ra em phải ở nhà chứ.
Bobby! Tật nói lắp của hắn không làm tôi nhớ ra, nhưng giờ tôi nhận ra gương mặt hắn. Đó là Bob Hinton, tay luật sư trong thị trấn đã đè lên tôi bằng xe đạp. Tôi không có thời gian để hiểu tại sao hắn lại ở đây trong lúc này.
Allison tiến tới từ sau lưng tôi như thể cô bé đang ở trong một giấc mơ vậy. Cô bé tiến lại chỗ Bob Hinton và ôm lấy hắn ta. Tôi muốn ngăn cô bé lại nhưng chưa kịp làm vậy, Hinton đã dang tay và ôm chặt lấy Allison.
— Em gái bé bỏng của anh - hắn thì thào, - Đáng ra em không được ở đây. Em không được thấy những cảnh này.
Tôi chùng hết người, mồ hôi trên tay tôi làm cho cò súng trơn trượt. Tôi tiếp tục nhìn Hinton dò xét. Tôi chọn tầm ngắm tốt hơn, và Hinton quay cô bé đang choáng váng về phía tôi. Tôi có thể thấy là bản thân hắn cũng mê muội.
— Bob, tôi nói, bằng cả trái tim mình. Tôi muốn hắn tin mình. - Đây là lựa chọn của cậu. Nhưng tôi sẽ bắn tung đầu cậu nếu cậu không bỏ dao xuống đất.
Bob cúi xuống, vùi mặt vào sau đầu Allison, biến cô bé thành bia đỡ đạn. Tôi biết sau đó hắn sẽ dí dao vào cổ cô bé và ép tôi vứt súng đi. Tôi sẽ phải hành động.
Tôi không nghĩ sẽ nhìn thấy nỗi buồn ghê gớm trên khuôn mặt hắn khi hắn áp má vào má Allison. - Ôi Ali, Ali, em chưa đủ lớn để hiểu.
Ali lắc đầu.
— Em biết tất cả, Bobby ạ. Anh phải thôi đi. Em phải kể hết với Lindsay.
Một cái gì đó màu đỏ làm ngắt quãng sự chú ý của tôi với những gì đang diễn ra trước mắt. Melissa Farley gần như ngã bên cửa buồng tắm. Vạt trước váy ngủ cô ta đẫm máu.
— Cấp cứu - cô ấy hổn hển. - Xin hãy làm ơn gọi cấp cứu. Ed vẫn còn sống.
Khoảng 10 phút sau, có tiếng còi hú, ánh đèn xe cảnh sát rọi lên từ con đường dưới nhà. Trực thăng vù vù bay trên trời.
Melissa Farley lại vào trong buồng tắm với chồng.
— Allison - tôi nói. - Hãy đi xuống dưới nhà và mở cửa cho cảnh sát vào. Bob vẫn giữ chặt Allison trong tay. Cô bé quay sang tròn mắt nhìn tôi. Môi cô bé run run kìm tiếng khóc.
— Đi đi, cưng - Carolee nói từ dưới sàn nhà. - Không sao đâu.
Đứng cách tôi 10 bước, mặt Bob dài ra, nét mặt của một người bị sụp đổ. Hắn bóp lấy vai Ali, rồi hắn thả cô bé.
Ali vừa ra khỏi phòng an toàn, cơn giận trong tôi bùng lên.
— Các người tưởng các người là ai? Sao các người nghĩ có thể thoát được?
Tôi bước đến chỗ Bob Hinton, giật con dao trong tay hắn và lệnh cho hắn đặt tay lên tường, đọc cho hắn nghe quyền lợi của hắn, khám người hắn.
— Anh có hiểu quyền của anh không?
Tiếng cười của hắn vang lên đầy khinh bỉ. - Hơn bất kỳ ai - hắn nói.
Tôi tìm được dụng cụ cắt kính và một máy ảnh trong người hắn. Rồi tôi đè hắn xuống đất và ngồi trên mép giường, chĩa súng vào hắn và Carolee.
Tôi thậm chí còn không chớp mắt cho đến tận lúc nghe có tiếng chân nặng nề chạy lên cầu thang.
Đã hơn 3 giờ sáng, và tôi lại quay trở lại sở cảnh sát. Sếp Stark đang ngồi cùng với Bob Hinton trong phòng hỏi cung, Bob tả lại chi tiết những vụ ám sát mà hắn, Carolee và Keith đã thực hiện ở Vịnh Nửa Vầng Trăng.
Tôi ngồi với Carolee trong phòng cảnh sát trưởng, một máy thu thanh Sony đặt trước chúng tôi trên mặt bàn bừa bộn của Peter Stark. Một thanh tra cảnh sát mang càfê đựng trong một cái hộp bằng bìa cứng vào phòng, rồi anh ta ngồi sát cửa trong lúc tôi tra hỏi Carolee.
Tôi nghĩ mình muốn nói chuyện với luật sư - Carolee nói lạnh nhạt.
— Ý bà là Bob ư? Bà có thể chờ vài phút không? tôi búng tay. Trong lúc này hắn đang khai báo và chúng tôi muốn làm cho xong vụ này.
Carolee cười kinh ngạc nhìn tôi.
Bà ta gỡ sợi tóc ra khỏi ngực chiếc áo lụa cổ lọ, rồi đặt đôi bàn tay được làm móng cẩn thận lên đùi. Tôi chỉ biết trố mắt nhìn.
Carolee đã từng là một người bạn. Chúng tôi đã kể cho nhau nghe những điều thầm kín nhất. Tôi đã nói bà ta hãy gọi cho tôi bất cứ khi nào cần. Tôi thần tượng con gái bà ta.
Ngay cả lúc này, bà ta vẫn trang trọng, lưu loát, rõ ràng là tỉnh táo.
— Có lẽ bà sẽ muốn có một luật sư khác chăng - tôi nói.
— Không sao đâu - bà ta nói. - Chẳng quan trọng đâu.
— Vậy được. Thế sao bà không kể cho tôi nghe đi.
Tôi bật máy ghi âm, nói tên mình, ngày tháng, số phù hiệu và tên vụ việc. Rồi tôi tua lại băng để đảm bảo máy ghi âm hoạt động tốt. Khi đã hài lòng, tôi ngả người ra sau cái ghế xoay của cảnh sát trưởng.
— Được rồi, Carolee. Bà nói đi - tôi nói.
Người phụ nữ xinh đẹp trong bộ quần áo đắt tiền mất một lúc để sắp xếp lại suy nghĩ rồi mới nói vào máy ghi âm.
— Lindsay - bà ta nói trầm ngâm, - cô phải hiểu rằng chúng đáng bị như thế. Nhà Whittaker làm phim khiêu dâm trẻ em. Nhà Daltry thực tế bỏ đói hai đứa trẻ sinh đôi. Họ đi theo một giáo phái lạ lùng nào đó đã nói với họ rằng con cái họ không được phép ăn thức ăn tử tế.
— Thế bà không nghĩ là phải báo cho Tổ chức Vì trẻ em sao?
— Tôi đã đi báo rồi. Nhưng Jake và Alice rất thông minh. Họ chất đầy tủ đồ ăn nhưng không bao giờ cho bọn trẻ ăn.
— Vậy còn Bác sỹ O'Malley? ông ta và vợ thì sao?
— Bác sỹ bán con đẻ của mình trên mạng, có máy quay phim trong phòng cô bé. Mụ Lorelei ngu si biết điều đó. Caitlin biết. Tôi chỉ hi vọng là ông bà cô bé sẽ giúp cô bé. Tôi ước gì chính mình được làm điều đó.
Bà ta càng nói, tôi càng hiểu mức độ tự mãn của bà ta. Carolee và đồng bọn của bà ta tự đặt ra sứ mệnh phải dọn sạch việc lạm dụng trẻ em ở Vịnh Nửa Vầng Trăng - như thể chúng là hệ thống pháp luật vậy: quan toà, bồi thẩm đoàn và những người thi hành. Và theo cái cách mà bà ta mô tả, nó gần như hợp lý.
Nếu không biết những việc bà ta đã làm.
— Carolee. Bà đã giết 8 người.
Chúng tôi bị ngắt quãng bởi tiếng gõ cửa. Thám tử hé mở, tôi nhìn thấy cảnh sát trưởng ở bên ngoài. Mặt ông ta xám xịt vì mệt mỏi. Tôi bước ra ngoài hành lang.
— Bệnh viện vừa gọi - ông ta nói với tôi. - Hinton đã kết liễu thêm một mạng sống nữa.
Tôi bước lại vào phòng cảnh sát trưởng. Ngồi xuống cái ghế quay.
— 9 người, Carolee. Ed Farley vừa chết.
— Ơn Chúa - Carolee nói. - Nếu các người mở cửa kho đằng sau nhà Farley, các người sẽ trao cho tôi huân chương. Nhà Farley buôn những em bé gái Mêhicô. Đến làm gái mại dâm khắp đất nước. Hãy gọi cho FBI, Lindsay. Vụ này lớn đấy.
Phong thái của Carolee vẫn bình thản trong khi tôi thất kinh khi nghe những điều này. Bà ta dướn người ra trước đầy bí mật. Sự sốt sắng của bà hoàn toàn làm tôi choáng váng.
Từ lúc gặp cô tôi đã muốn nói với cô điều này - bà ta nói. - Và điều này chỉ có ý nghĩa duy nhất với cô thôi. John Doe của cô, cái thằng chó đó, nó có tên là Brian Miller. Và tôi chính là người đã giết nó.
Tôi khó lòng mà tiêu hoá nổi những gì Carolee vừa nói.
Bà ta đã giết John Doe của tôi.
Cái chết của thằng bé nằm trong tâm trí tôi cả mười năm nay. Carolee là bạn của chị tôi. Giờ tôi cố hiểu cái thực tế là kẻ giết John Doe và tôi đã từng đi trên hai con đường sát nhau, hai con đường cuối cùng đã dẫn vào căn phòng này.
— Thường những người bị kết tội được phép hút một điếu thuốc, đúng không?
— Tất nhiên - tôi nói. - bà muốn hút bao nhiêu cũng được.
Tôi với tay lấy tút thuốc Marlboro trên tủ hồ sơ. Tôi mở túi thuốc và đặt bao thuốc và một bao diêm cạnh khuỷu tay Carolee, cố tỏ ra thản nhiên.
Tôi muốn biết đến chết đi được về cái chết mà tôi đã mang theo trong mình từng ấy năm.
— Cảm ơn - Carolee, cô giáo, người mẹ và vị cứu tinh của những đứa trẻ bị đàn áp nói.
Bà ta bóc lớp ni lông và đường viền vàng trên bao thuốc, rút ra một điếu. Diêm loé lên, mùi lưu huỳnh xộc vào không khí.
— Keith đến trường tôi khi nó mới có 12 tuổi. Cùng độ tuổi với con trai tôi, Bob - bà ta nói. - Hai cậu bé thật xinh xắn. Đầy hứa hẹn.
Tôi chăm chú nghe Carolee mô tả vóc dáng của Brian Miller, một cậu bé lớn tuổi hơn, một cậu bé trốn nhà đã tạo được lòng tin của bà ta và cuối cùng trở thành lớp trưởng.
— Brian liên tục hiếp bọn trẻ, cả Bob và Keith, hắn tiêm nhiễm tâm trí bọn trẻ. Hắn có một con dao Đặc công. Hắn nói sẽ biến bọn trẻ thành con gái nếu chúng nói cho bất kỳ ai biết những gì đã xảy ra.
Nước dâng tràn đôi mắt Carolee. Bà ta xua khói như thể khói làm bà ta chảy nước mắt. Bà ta run rẩy nâng tách càfê.
Tiếng động duy nhất trong phòng phát ra từ chiếc máy ghi âm khi cuộn băng rì rì chạy.
Carolee thì thào tiếp tục. Tôi cúi người về phía bà ta để không bỏ lỡ một lời nào.
— Khi Brian đã thôi không hành hạ bọn trẻ, hắn biết mất, mang theo sự trong trắng, phẩm giá và lòng tự trọng của chúng.
— Tại sao bà không gọi cho cảnh sát?
— Tôi có báo cảnh sát, nhưng đến lúc Bobby kể cho tôi nghe những gì xảy ra, đã quá muộn. Và cảnh sát không quan tâm mấy đến cái trường chứa trẻ em trốn nhà của tôi. Phải mất hàng năm tôi mới lại được nhìn thấy Keith cười. Carolee tiếp tục. - Bob còn bị tổn thương hơn. Khi nó cứa cổ tay, tôi phải làm gì đó.
Carolee nghịch cái đồng hồ đeo tay, một cử chỉ thật tao nhã, thật nữ tính, nhưng cơn hận hằn trên nét mặt bà ta, nỗi giận dữ giờ vẫn sống động như cả chục năm trước.
— Bà nói tiếp đi - tôi nói. Tôi đang nghe đây, Carolee.
— Tôi tìm thấy Brian trọ trong một khách sạn ở Tenderloin - bà ta nói. - Nó làm điếm đực ở đó. Tôi đưa nó đi ăn ở một nhà hàng sang trọng, chuốc cho nó thật nhiều rượu vang. Tôi nói với nó tôi đã từng rất yêu quý nó, và nó đã mắc bẫy. Nó tin rằng tôi vẫn còn yêu mến nó.
— Tôi nhẹ nhàng yêu cầu nó giải thích. Theo cách nói của nó, chuyện xảy ra giữa nó và bọn trẻ là tình yêu lãng mạn. Cô tin nổi không?
Carolee cười, gạt tàn thuốc vào cái khay nhôm.
— Tôi theo nó về chỗ nó ở trọ - Carolee tiếp tục. Tôi mang cho nó một số đồ vật của nó: một cái áo phông, một cuốn sách, và vài thứ khác.
— Khi nó quay lưng lại, tôi tóm lấy nó. Tôi cắt cổ nó bằng chính con dao của nó. Nó không tài nào hiểu nổi tại sao tôi lại làm vậy. Nó muốn hét lên, nhưng tôi đã cắt thanh quản của nó. Rồi tôi đánh nó bằng thắt lưng của tôi trong lúc nó nằm đó, hấp hối. Thật là tuyệt, Lindsay ạ. Khuôn mặt cuối cùng mà Brian nhìn thấy là khuôn mặt của tôi. Giọng nói cuối cùng mà nó nghe thấy là giọng nói của tôi.
Hình ảnh của John Doe 24 về lại với tôi, giờ lại càng sống động qua lời kể của Carolee. Thậm chí nếu cậu ta có là tất cả những gì mà bà ta nói, thằng bé vẫn là nạn nhân, bị kết án và hành quyết mà không có một phiên tòa.
Sự trùng hợp tối quan trọng, cũng chính là điều tệ hại nhất, là Carolee đã viết nguệch ngoạc - "Không ai quan tâm" lên tường khách sạn. Dòng chữ đó đã lên tất cả các mặt báo. Mười năm sau, dòng chữ đó lại có trong bộ sưu tập án mạng kỳ quái của Sara Cabot. Nó và em trai đã cướp lấy dòng chữ này.
Tôi đưa cho Carolee tập giấy và một cái bút. Tay bà ta run run khi bà bắt đầu viết. Bà ta ngẩng đầu lên. - Tôi sẽ viết vào đây là tôi làm như vậy vì bọn trẻ. Chúng tôi đã làm tất cả vì chúng.
— Được, Carolee. Không sao. Đó là chuyện của bà.
— Nhưng cô không hiểu à, Lindsay? Có ai đó phải cứu bọn chúng. Tôi chính là người đó. Tôi là một người mẹ tốt.
Khói thuốc lá vòng trên đầu chúng tôi khi bà ta nhìn tôi chằm chằm.
— Tôi hiểu tại sao bà căm ghét những kẻ lạm dụng trẻ em vô tội - tôi nói. - Nhưng giết người, không. Tôi sẽ không bao giờ hiểu được điều đó. Và tôi sẽ không bao giờ hiểu làm sao bà có thể làm điều này với Allison được.
***
Tôi bước dọc con đường ảm đạm với cái tên là phố Vàng cho đến khi nhìn thấy dòng chữ Bix khổng lồ màu xanh được rọi đèn nê-ông quảng cáo. Bước qua ngưỡng cửa viền gạch, tôi run lên khi nghe tiếng nhạc blue từ cây đàn piano nhỏ.
Trần cao, khói thuốc lá toả từng làn trên quầy bar bằng gỗ gụ, cách bài trí và những bộ đồ trang trí làm tôi liên tưởng tới một quán rượu lậu trong một bộ phim Hollywood từ những năm 20.
Tôi bước đến chỗ người phục vụ, anh ta nói với tôi rằng tôi là người đầu tiên đến.
Tôi đi theo anh ta lên tầng hai, ngồi vào ô ghế bọc vải hình móng ngựa nhìn xuống quầy rượu ở phía dưới.
Tôi gọi một ly Dark&stormy - rượu rum đen trộn với bia gừng - và đang nhâm nhi thì người bạn tốt nhất của tôi đi tới.
— Mình biết cậu - Claire nói, ngồi vào chỗ, ôm chặt lấy tôỉ. - Cậu là cô gái đã giải quyết tất cả những vụ ám sát mà không cần ai giúp cả.
— Và đã sống sót để kể lại chuyện - tôi nói.
— Chỉ qua loa thôi, theo như mình được biết.
— Gượm hẵng - Cindy nói, ngồi sang ghế đối diện. - Mình muốn nghe. Để ghi chép lại, nếu cậu không phản đối. Mình nghĩ nên viết một bài về con át chủ bài của Đội án mạng.
Tôi hôn nhẹ lên má cô ấy. - Cậu không được làm rùm beng lên đâu đấy - tôi nói với cô ấy.
— Cậu thật là - cô ấy nói, hôn lại tôi.
Claire và Cindy gọi mỗi người một ly cocktail nổi tiếng của quán, trong lúc đó Yuki đi thẳng từ văn phòng tới. Cô ấy vẫn mặc nguyên bộ vét luật sư nghiêm trang, nhưng mái tóc đen bóng mượt được nhuộm đỏ rất thời trang.
Sò và tôm nướng được đem ra, người phục vụ chuẩn bị món bít-tết ngay cạnh bàn. Trong lúc ăn, tôi kể cho các cô gái nghe về vụ bắt giữ ở ngôi nhà trát vữa trên đồi.
— Thật kỳ lạ là mình có thể coi bà ta như một người bạn - tôi nói về Carolee, - mà hoàn toàn chẳng biết bà ta.
— Linh tính đã đánh lừa cậu - Cindy nói.
— Đúng vậy. Và bà ta cũng lừa cả chị gái mình nữa.
— Cậu nghĩ bà ta chỉ thân thiện với cậu vì cậu đang điều tra vụ của Brian Miller thôi sao? - Claire hỏi.
— Ừ. Dõi theo từng bước chân của kẻ thù.
— Uống mừng John Doe 24. Vụ án của cậu ta đã đóng lại - Yuki nói, nâng ly.
— Vụ án đã đóng - chúng tôi đồng thanh, cụng vào ly của cô ấy.
Chúng tôi gọi cá đuối và măng tây, tôm hùm và bít-tết New York Angus đen, và không hiểu làm cách nào mà vừa nhai những món ăn tuyệt hảo vừa tranh nhau nói mà mỗi người vẫn kể được câu chuyện của mình.
Cindy đang viết về một tay cướp nhà băng bị bắt vì đã để lại dòng ghi chép về vụ cướp đằng sau chính những tờ séc của hắn.
— Hắn để lại séc và mang tiền đi - Cindy nói. - Cảnh sát chờ đến khi hắn về đến nhà. Chuyện này sẽ được đăng trên mục "Kẻ lừa đảo ngốc ngếch" của mình.
— Vụ này của tôi cũng rất thú vị! - Yuki tham gia. Thân chủ của tôi - giấu tên - là con ngoài giá thú của một trong những cổ đông của công ty, vì vậy tôi phải bào chữa cho cậu ta - cô ấy nói, quấn lọn tóc màu đỏ trong tay. - Cảnh sát đập cửa nhà cậu ta để tìm một nghi phạm trong vụ cướp. Cậu ta nói, "Mời vào!" bởi vì cậu ta hoàn toàn không biết gì về vụ cướp. Rồi cậu ta nói, Tìm ở đâu cũng được - trừ tầng mái".
— Kể tiếp đi, tiếp đi - chúng tôi giục cô ấy. Yuki làm một hớp Germain-Robin Sidecar và nhìn quanh bàn.
— Thẩm phán cho lệnh khám nhà, và cảnh sát tìm thấy một vườn cây của thân chủ tôi trên tầng mái. Cậu ta trồng đầy cần sa trên đó. Tuần sau sẽ kết án - cô ấy cười ngả nghiêng.
Nghe những câu chuyện họ kể, tôi cảm thấy thật hạnh phúc lại được ngôi cùng với họ. Tất cả chúng tôi cảm thấy thoải mái và cùng nhau chia sẻ thật nhiều thứ - thậm chí cả với cô bạn mới của chúng tôi, Yuki, người đã nhất trí đồng lòng hòa mình vào nhóm để bảo vệ mạng sống và cuộc đời tôi.
Chúng tôi chuẩn bị gọi đồ tráng miệng thì một người đàn ông nom quen quen tóc bạc khập khiễng đi lại phía chúng tôi.
— Boxer, Jacobi nói, thậm chí không thèm để ý đến những người còn lại. Tôi cần cô ngay bây giờ. Xe đang đỗ ngoài kia.
Tôi đặt tay theo phản xạ lên cái ly đá uống cạn. Trái tim tôi nảy tưng lên, hình ảnh cuộc rượt đuổi và bắn súng chớp nhoáng hiện ra trước mắt tôi.
— Có chuyện gì vậy? - tôi hỏi anh ta.
Anh ấy cúi đầu xuống chỗ tôi, nhưng thay vì nói thầm, anh ấy hôn lên má tôi.
— Không có chuyện gì cả, anh nói. Tôi định nhảy ra từ trong một cái bánh khổng lồ, nhưng các cô bạn gái của cô đây đã ngăn tôi lại.
— Cảm ơn, Jacobi - tôi nói, đứng dậy. Tôi đặt tay lên cánh tay anh. - Hãy ngồi xuống ăn tráng miệng cùng chúng tôi.
— Tôi ăn nhiều đừng trách nhé.
Jacobi ngồi vào chỗ, và chúng tôi tất cả đều ngồi dịch vào nhường chỗ cho anh. Người phục vụ mang Dom Perignon để lạnh ra - cảm ơn nhé, Jacobi - và khi chén của chúng tôi đã đầy, bạn bè cũ mới của tôi đều uống mừng sự trở về của tôi.
— Mừng Lindsay. Xin chào đón cô về nhà!