Khi tôi đến nơi, hai thi thể đang được khiêng ra khỏi nhà. Tôi đỗ xe trên bãi cỏ giữa hai chiếc xe cảnh sát và nhìn lên ngôi nhà xây bằng kính và gỗ đỏ lộng lẫy, hiện đại.
Đám đông tránh đường cho những nhân viên y tế đưa cáng xuống cầu thang, hai thi thể được đẩy vào khoang sau của chiếc xe hòm. Tuy không biết Annemarie và Joseph Sarducci, tôi vẫn bị một nỗi buồn câm lặng xâm chiếm.
Tôi lách qua đám đông đi về phía cửa, một tay cảnh sát mặc quân phục đang đứng gác trong tư thế nghỉ, tay chắp sau lưng.
Tôi biết ngay tay này là dân chuyên nghiệp vì anh chàng cười thân thiện nhưng nhìn tôi bằng cái nhìn sắc lạnh. Tôi nhân cơ hội giơ thẻ cảnh sát
— Sếp đang ở trong đó, thưa Trung úy.
Tôi bấm chuông.
Những âm thanh đầu tiên trong bản giao hưởng Bốn mùa của Vivaldi vang lên.
Sếp Stark mở cửa, và khi nhìn thấy tôi, quai hàm ông ta nghiến lại.
— Cô làm cái quái gì ở đây thế? - ông ta nói, gằn từng tiếng một.
Tôi trả lời từ đáy lòng mình, vì đó là sự thật.
— Tôi muốn giúp, khỉ ạ. Tôi có thể vào được không?
Chúng tôi chằm chẳm nhìn nhau qua ngưỡng cửa cho đến khi Sếp Stark cuối cùng cũng chớp mắt.
— Đã có ai bảo với cô rằng cô là một cái nhọt dai dẳng ở mông chưa? - ông ta nói, nép sang một bên cho tôi đi vào.
— Rồi. Cảm ơn ông.
— Đừng có cảm ơn tôi. Tôi có gọi cho một người bạn ở sở cảnh sát San Francisco. Charlie Clapper nói rằng cô là một cảnh sát cừ. Cô ta thường đúng trong một nửa trường hợp. Đừng làm tôi phải hối hận.
— Ông thực sự nghĩ rằng ông sẽ có lúc hối hận hơn lúc này sao?
Tôi đi qua Stark bước qua hành lang vào một phòng khách có mặt tường bằng kính nhìn xuống mặt nước. Đồ đạc trong nhà bài trí theo kiểu Scandinavi đơn giản: vuông vắn, thảm dệt trơn, tranh trừu tượng, và tuy vợ chồng nhà Sarducci đã chết, nhưng tôi vẫn còn cảm nhận được sự có mặt của họ trong những đồ vật họ để lại.
Ngay cả khi thầm liệt kê những đồ vật tôi đang nhìn thấy, tôi vẫn để ý được vật bị thiếu. Không có hình tròn, không dấu vết, không một vật gì để lại trên sàn. Vậy tên giết người đã vào nhà bằng đường nào?
Tôi quay sang nhìn cảnh sát trưởng. - Phiền ông tả lại hiện trường cho tôi nghe.
— Thằng khốn lọt vào qua cửa sổ trên mái - Stark nói.
Phòng ngủ không chỉ lạnh lẽo mà còn trống trải như thể chính căn phòng phải chịu đựng sự mất mát khủng khiếp.
Cửa sổ mở toang, và những chiếc chuông lanh canh trước gió nghe như tiếng xương người chết kêu răng rắc. Ga trải giường màu xanh lục nhàu nát vấy đầy máu, cảnh tượng ấy làm cho căn phòng lại càng lạnh lẽo hơn.
Một nửa tá nhân viên kỹ thuật bên khám nghiệm hiện trường đang bỏ các đồ vật lặt vặt trên bàn phấn vào túi, hút bụi thảm, phủ phấn để lấy dấu vân tay. Thật lạ là ngoài vết máu, căn phòng dường như không bị xáo trộn.
Tôi mượn một đôi găng tay, rồi cúi xuống nhìn bức ảnh nghệ thuật dựng trên bàn giấy có hình gia đình nhà Sarducci. Annemarie xinh đẹp nhỏ nhắn. Joe nhìn như một gã khổng lồ lịch lãm kiêu hãnh quàng tay qua vai vợ con.
Sao lại có người muốn hai vợ chồng này phải chết?
— Annemarie bị cứa cổ - Stark nói, giọng nói của ông ta phá tan suy nghĩ của tôi. - Suýt bị cắt mất đầu.
Ông ta chỉ xuống tấm thảm đẫm máu bên cạnh giường. - Cô ta ngã xuống chỗ này. Joe không có ở trong phòng khi cô ta bị giết.
Stark chỉ cho tôi thấy máu của Annemarle bắn tung toé khắp giường và vệt máu trải đều.
— Không có dấu vết cho thấy cô ta đã đánh trả lại - Sếp nói. - Joe bị sát hại trong buồng tắm.
Tôi theo Stark đi qua tấm thảm màu vàng tới phòng tắm có lát đá cẩm thạch trắng. Máu loãng dồn hết về một bên của buồng tắm, máu phun ra từ vết cắt vấy đầy lên tường cao đến tận đầu gối. Máu trên tường đang nhỏ xuống hoà vào với vũng máu đang đông trên sàn. Tôi có thể nhìn thấy đường nét cơ thể Joe nơi anh ta ngã xuống.
Tôi cúi xuống để nhìn cho rõ.
— Kẻ đột nhập chắc hẳn phải tìm thấy nạn nhân nữ trong phòng một mình - sếp nói giả thuyết của mình, nhìn tôi dò xét. - Có thể hắn đã đặt tay lên miệng cô ta, hỏi, "Chồng mày đâu?" Hoặc có thể hắn nghe tiếng giật nước trong buồng tắm. Hắn xử lý Annemarie nhanh chóng. Rồi hắn làm Joe bất ngờ trong nhà vệ sinh. Joe nghe có tiếng cửa mở và hỏi, "Em yêu à...?" Anh ta nhìn lên. "Khoan đã. Ai thế này? Cần gì ở đây?"
— Vết máu từ vết căt cổ của anh ta - tôi nói, chỉ vào vệt máu dưới chân tường.
— Kẻ sát nhân đã phải vật sấp Joe xuống để hắn có thể kiểm soát được anh ta. Joe cao to hơn.
— Ờ - Stark nói mệt mỏi. - Có lẽ hắn đã đẩy anh ta ngã xuống, đứng đằng sau, nắm lấy tóc Joe và... Sếp đưa ngón tay chạy ngang cổ.
Tôi hỏi vài câu hỏi và cảnh sát trưởng trả lời: Không một vật gì bị lấy mất. Bọn trẻ không nghe thấy có tiếng động nào. Bạn bè và hàng xóm có nói rằng nhà Sarducci rất hạnh phúc, không có bất kỳ một kẻ thù nào.
— Cũng giống như nhà Daltry - Stark nói. - Cũng chẳng khác nào nhà O'Malley. Không vũ khí, không manh mối, không có điều gì đáng ngờ về tình hình tài chính, không động cơ rõ ràng. Nạn nhân không quen biết nhau. Khuôn mặt của sếp cau lại. Trong khoảnh khắc ông ta bị tổn thương, và tôi có thể nhìn thấy nỗi đau.
— Tất cả những người này chỉ có chung một điểm duy nhất, họ đều có gia đình - ông ta nói. - Nhưng mà điều đó thì nói lên cái gì? 80% dân cư của Vịnh Nửa Vầng Trăng có gia đình.
— Cả thành phố đang khiếp đảm. Tôi cũng vậy.
Sếp dừng lời. Ông ta nhìn đi chỗ khác, nhét lại sơ mi vào quần, vuốt lại mái tóc. Cố định thần để không biểu lộ sự tuyệt vọng ra ngoài. Rồi ông ta nhìn vào mắt tôi.
— Cô nghĩ thế nào, Trung uý? Cô làm tôi ngạc nhiên đi chứ.
Tôi không nhìn thấy thi thể nạn nhân, và phải mất vài ngày mới có kết quả khám nghiệm tử thi của vụ án mạng dã man này. Nhưng kệ, tôi lờ đi sự mỉa mai của sếp và nói với ông ta những gì tôi đang nung nấu.
— Có hai kẻ giết người - tôi nói.
Đầu của Stark ngả ra đằng sau. ông ta gần như quát lên, - Vớ vẩn.
— Này nhé - tôi nói. - Không hề có dấu vết đánh trả lại, đúng không? Tại sao Joe không thử áp đảo kẻ tấn công? Anh ta rất cao lớn. Như một con gấu vậy.
— Ông thử nghĩ mà xem - tôi tiếp tục. - Joe bị lôi ra ngoài bằng dao và anh ta làm theo vì anh ta không còn cách nào khác. Kẻ giết người thứ hai vẫn còn ở trong phòng với Annemarie.
Mắt của cảnh sát trưởng đảo nhanh, nhìn hiện trường vụ án từ một góc độ mới, tưởng tượng cảnh tượng mà tôi vừa nói.
— Tôi muốn xem phòng của đứa trẻ - tôi nói.
Khi tôi bước qua ngưỡng cửa, nhìn những đồ vật trong phòng tôi có thể nói Anthony Sarducci là một đứa trẻ thông minh. Nó đọc những cuốn sách hay, nhà kính đầy những loài côn trùng khoẻ mạnh và một máy tính tốc độ cao đặt trên bàn. Nhưng điều làm tôi quan tâm nhất là những vết lõm trên sàn nơi bình thường là chỗ để ghế. Có người đã mang ghế đi đâu đó. Tại sao?
Tôi quay đầu nhìn xung quanh và thấy nó ngay ngoài hành lang.
Tôi nghĩ về tay cảnh sát đứng gác bên ngoài nhà và chợt lóe ra một ý.
Thằng bé không nghe thấy gì cả.
Nhưng nếu nó nghe thấy, chuyện gì sẽ xảy ra?
Tôi chỉ tay về phía cái ghế hỏi Sếp.
— Có ai chuyển cái ghế này phải không? - tôi hỏi.
— Chưa có ai vào phòng này cả.
— Tôi đổi ý rồi - tôi nói với ông ta. - Không chỉ có hai kẻ đột nhập. Mà có ba người. Hai tên giết. Một tên canh phòng khi đứa bé tỉnh giấc. Hắn ngồi trên ghế ngay ngoài kia.
Cảnh sát trưởng cứng đờ người, đi xuống cuối hành lang, rồi quay trở lại với một nữ nhân viên kỹ thuật của đội khám nghiệm hiện trường. Cô ta chờ ngoài cửa, tay cầm cuộn băng cho đến khi chúng tôi bước ra khỏi phòng. Rồi cô ta niêm phong phòng.
— Tôi không thể tin được, Trung uý ạ. Phải giải quyết một thằng tâm thần đối với chúng ta cũng đủ mệt lắm rồi.
Tôi sững người nhìn ông ta. Rồi chỉ trong một giây, ông ta cười.
— Đừng có nhắc lại lời tôi nhé - ông ta nói, - Nhưng tôi nghĩ là tôi vừa nói chúng ta.
***
Phải chập tối tôi mới ra được khỏi nhà Sarducci. Lái xe về hướng đông nam dọc đường Cabrillo, trong tâm trí tôi chỉ toàn những chi tiết của vụ án và cuộc nói chuyện với cảnh sát trưởng. Khi ông ta xác nhận rằng vợ chồng nhà Sarducci, cũng như tất cả những nạn nhân khác, bị đánh, tôi nói với ông ta rằng bản thân tôi đã từng va phải những tên giết người này.
Tôi kể cho ông ta nghe về John Doe 24. vẫn chưa thể xác định chắc chắn mối liên hệ giữa vụ ám sát ở Vịnh Nửa Vầng Trăng và John Doe, nhưng tôi biết mình có lý. 10 năm điều tra các vụ giết người đã dạy cho tôi biết rằng cho dù cách thức giết người có thể thay đổi, dấu hiệu để lại vẫn giữ nguyên. Đánh bằng roi và cứa cổ là một dấu hiệu hiếm thấy, có thể là độc nhất vô nhị.
Khi tôi đến ngã tư chỉ cách nhà Sarducci có vài con phố thì gặp đèn đỏ. Tôi phanh lại, nhìn vào gương chiếu hậu và thấy một chiếc xe thể thao đỏ đang phóng tới. Tôi nghĩ chiếc xe sẽ dừng lại, nhưng nó thậm chí không giảm tốc độ.
Tôi không thể tin nổi mắt mình. Tôi dán mắt vào gương chiếu hậu, nhìn chiếc xe tiến thẳng như muốn đâm sầm vào xe tôi.
Tôi nhấn còi, nhưng chiếc xe cứ to dần lên trong gương chiếu hậu. Cái quái gì thế này? Lái xe đang nghe di động à? Hắn có nhìn thấy tôi không?
Máu tôi bắt đầu sôi lên, và thời gian ngày càng gấp rút. Tôi nhấn ga và cho xe quay đầu để tránh bị đâm, tôi lái xe lên bãi cỏ, đâm vào một chiếc xe chứa cỏ rồi dừng lại ở gốc cây thông.
Tôi lùi chiếc Explorer ra khỏi bãi cỏ và lại phóng ra đường. Rồi tôi nhìn theo thằng khùng suýt đâm sầm vào sau xe tôi đang vụt chạy mất. Thằng cha còn không thèm đứng lại nhìn xem hắn suýt nữa đã gây nên cái gì. Thằng khốn tí nữa thì giết chết tôi.
Tôi không rời mắt khỏi chiếc xe màu đỏ, phóng tới đủ sát để có thể nhận ra nó tuyệt đẹp. Đó là một chiếc Porsche.
Mặt tôi nóng phừng phừng vì cảm giác vừa tức vừa sợ. Tôi rồ ga, bám theo chiếc Porsche đang luồn lách qua hàng xe, hai lần vượt đèn vàng.
Lần cuối cùng tôi nhìn thấy chiếc xe này là khi Keith đang thay dầu máy.
Đó là chiếc xe của Dennis Agnew.
Qua hàng chục dặm. Tôi vẫn theo đuôi chiếc Porsche lên đồi vào San Mateo và đi về phía nam trên đường E1 Camino Real, một con phố lớn xơ xác nằm bên cạnh tuyến đường sắt. Rồi không xi nhan, chiếc Porsche ngoặt phải vào một con phố buôn bán nhỏ.
Tôi đi theo, quẹo gấp, dừng xe ở một bãi xe gần như hoang tàn. Tôi tắt máy, và khi tim đã hạ nhịp đập, tôi nhìn quanh.
Con phố buôn bán nhỏ gồm những cửa hàng rẻ tiền: phụ tùng ô tô, cửa hàng bán đồ lặt vặt, cửa hàng bán rượu. Cuối phố là một ngôi nhà xi măng có đèn nêông đỏ nhấp nháy trên cửa sổ: “Bạn tình. XXX Gái nhảy".
Đỗ trước cửa ngôi nhà có dán áp phích ấy là chiếc xe của Dennis Agnew.
Tôi khoá Explorer và đi bộ khoảng 20 mét đến cửa hàng dành cho người lớn. Tôi mở cửa và bước vào.
"Bạn tình" là một nơi xấu xí, ánh sáng rất gắt và nhấp nháy đèn nê-ông. Bên trái tôi là những thứ đồ chơi khiêu dâm: dương vật giả màu sắc loè loẹt và hình nộm người bằng nhựa. Bên phải là máy bán nước giải khát cho những người yêu phim trong những cái ô bé tí đang xem video, đầu óc quay cuồng trong trí tưởng tượng, tay nắm chặt của quý.
Tôi thấy mọi cặp mắt đang đổ dồn về tôi khi tôi đi qua lối đi xếp đầy băng video. Tôi là phụ nữ duy nhất lang thang ở đây, và tôi nghĩ rằng trong cái quần dài và áo cộc tay tôi còn có giá hơn là nếu tôi trần như nhộng.
Tôi đang định hỏi tay phục vụ trước mặt thì cảm thấy có ai đó chạm vào tay mình.
— Lindsay à?
Tôi đang định nổi khùng - nhưng Dennis Agnew có vẻ rất mừng khi nhìn thấy tôi.
— Sao rồng lại đến nhà tôm thế này, Trung uý?
Đứng giữa một đống những đồ chơi khiêu dâm trong một cái nhà thổ, tôi chẳng khác nào con thỏ mắc bẫy và chẳng còn cách nào khác hơn là tiến lên.
Văn phòng của Dennis sáng sủa, nhỏ và không có cửa sổ. Hắn ta rút cái ghế từ dưới gầm bàn poócmica có hình vân gỗ và ra hiệu cho tôi ngồi xuống một cái ghế sôfa đã từng có những ngày tháng tươi đẹp hơn.
— Tôi sẽ đứng. Không lâu đâu - tôi nói, đứng ở cửa, nhìn quanh phòng.
Khắp tường treo đầy ảnh đóng khung của một tay - Randy Long - từ những bộ phim khiêu dâm với những cảnh quay nóng bỏng của Randy Long và bạn diễn. Tôi cũng thấy có vài bức ảnh Agnew chụp cùng với mấy tay mặc veston đang cười ngoác miệng.
Tôi bắt đầu nhận ra những tấm ảnh mấy anh chàng thanh niên non nớt bóng lộn chính là những tên tội phạm có trong hồ sơ của chúng tôi. Ít nhất hai trong số những tên mặc veston trong ảnh đã chết.
Mất thêm vài giây nữa để tôi nhận thức được rằng Dennis Agnew và anh chàng Randy Long trẻ trung, tóc dài trong những bức ảnh chính là một người. Agnew đã từng là siêu sao phim khiêu dâm.
— Nào, trung úy, tôi có giúp được gì cho cô không? - Dennis Agnew hỏi, mỉm cười, sắp xếp lại giấy tờ và đeo chồng nhẫn đặt trên bàn vào ngón tay, truyền từ tay nọ sang tay kia như đồng xu, rồi đặt xuống mặt bàn.
— Tôi không hiểu ông có ý đồ gì - tôi nói, - Nhưng ở đây, phóng xe như điên khi có đèn đỏ là phạm tội.
— Thật sự, Lindsay ạ. Tôi gọi cô là Lindsay được chứ? - Agnew khoanh tay trước ngực và nhìn tôi với nụ cười rạng ngời. Tôi không biết cô đang nói gì.
— Vớ vẩn. Hai mươi phút trước ông vừa định đâm tôi trên đường. Rất có thể đã xảy ra tai nạn. Tôi có thể đã phải chết.
— Ồ, không. Không thể là tôi được - Agnew nói, nhíu lông mày và lắc đầu. Thế thì tôi phải để ý chứ. Không, tôi nghĩ là cô đến vì cô muốn gặp tôi.
Phát điên lên mất. Không những Agnew là thằng khốn đi xe phân khối cao không thèm để ý đến bất cứ điều gì mà cách nghĩ của hắn thật sự còn làm tôi phát rồ.
— Cô nhìn thấy những cô gái này không? - hắn nói, chỉ về phía bức tường danh giá. - Cô biết tại sao họ lại đóng những bộ phim này không? Lòng tự trọng của họ thấp đến nỗi họ nghĩ rằng bằng cách hạ thấp phẩm giá của mình trước đàn ông, họ sẽ cảm thấy mạnh mẽ hơn. Lạ không? Và nhìn cô kia. Hạ thấp mình bằng cách đến đây. Cô có cảm thấy mạnh mẽ lên không?
Tôi đang định ngắt lời gã nhảm nhí này, lắp bắp - Đồ đểu vênh váo thì có tiếng nói.
"Trời. Xin cô làm ơn nói cho tôi biết là cô đến đây xin việc".
Một người đàn ông bé nhỏ mặc áo khoác xanh rẻ tiền với cái bụng bia xuất hiện ở cửa văn phòng. Hắn ta dựa vào khung cửa, chỉ cách chỗ tôi đứng khoảng một cánh tay, đưa mắt nhìn tôi từ dưới lên bằng cái nhìn làm tôi phát cuồng.
— Rick Monte, đây là Trung uý Lindsay Boxer. Cô ấy là cảnh sát điều tra đến từ San Francisco - Agnew nói. - Cô ấy đang đi nghỉ - hay ít ra là cô ấy nói thế.
— Đang nghỉ ngơi thoải mái chứ hả Trung uý? - Rick hỏi mắt không rời khỏi bộ ngực của tôi.
— Nghỉ ngơi rất thoải mái, nhưng tôi cũng có thể biến chuyến đi này thành chuyến công tác bất kỳ lúc nào.
Ngay khi vừa nói vậy, tôi cảm thấy tim mình đập thình thịch.
Tôi đang làm gì thế này?
Tôi đang bị đình chỉ công tác và bị kiện. Tôi đã đuổi một công dân bằng xe riêng. Tôi không có yểm trợ, và nếu hai thằng cha dâm dục này đâm đơn kiện, tôi sẽ bị kỷ luật.
Đây là điều không hề nên xảy ra chút nào trước phiên toà của tôi.
— Nếu không biết cô, tôi sẽ nghĩ là cô đang cáu - Dennis nói băng cái giọng ngọt xớt của hắn. Tôi không làm gì hại cô, cô biết đấy.
— Lần sau nhìn thấy tôi - tôi nghiến răng - Hãy bước đi đường khác.
— Ồ, xin lỗi cô. Thế tôi nhầm à. Tôi tưởng cô mới là người đi theo tôi.
Tôi muốn bật lại ngay lập tức, nhưng lần này tôi kiềm chế được. Hắn nói đúng. Hắn chưa hề làm gì tôi. Hắn thậm chí còn không gọi tên tôi.
Tôi rời khỏi phòng Agnew, điên tiết với bản thân vì đã đến cái ổ chuột ngớ ngẩn này.
Tôi đi về phía cửa, muốn đi ngay khỏi cái vở kịch chết tíệt này, thì bị một tay thanh niên vạm vỡ tóc nhuộm sọc vàng với hình ngọn lửa xăm thò ra dưới cổ áo sơ mi chắn đường.
— Tránh đường ra, anh chàng nóng bỏng - tôi nói, cố lách qua anh ta.
Thằng cha giang tay ra và đứng như khúc gỗ giữa cửa hàng. Hắn ta mỉm cười, thách thức.
— Lại đây nào. Lại với Rocco nào hắn nói.
— Được rồi, Rocco - Agnew nói. - Quý cô đây là khách của tôi. Tôi sẽ đưa cô ra, Lindsay.
Tôi tiến về phía cửa, nhưng Agnew nghiêng người, chặn tôi lại. Hắn đứng gần đến nỗi tôi chỉ nhìn thấy được khuôn mặt hắn: từng lỗ chân lông, từng mao dẫn trong đôi mắt đỏ ngầu của hắn. Hắn nhét một cuộn băng video vào tay tôi. Bên ngoài có quảng cáo về diễn xuất hoành tráng của Randy Long trong Một đêm dài nóng bỏng.
— Khi nào rỗi thì xem nhé. Tôi viết số điện thoại của tôi lên mặt sau rồi đấy.
Tôi đẩy Agnew ra và cuộn băng rơi đánh keng xuống sàn nhà.
— Lui ra - tôi nói.
Hắn ta lui lại, vừa đủ để tôi có thể mở cửa. Khuôn mặt hắn nhăn nhở một nụ cười và tay hắn đang đặt vào đúng chỗ ấy của mình khi tôi đi ra.
***
Sáng hôm sau thức dậy tôi nghĩ ngay đến Dennis Agnew, thằng cha tởm lợm. Tôi mang càfê ra ngoài hiên và trong khi đợi càfê nguội, tôi trút hết nỗi bực bội lên chiếc Bonnneville.
Tôi đang cầm trong tay dụng cụ đo khe hở và chốt ván thì một chiếc xe đi tới đỗ trước cổng. Cửa xe đóng sầm.
— Lindsay à? Xin chào. Tôi nghĩ cô bị con thuyền vàng ngoài kia nuốt chửng mất rồi.
Tôi ló ra từ dưới mui xe, lấy một cái giẻ lau đôi tay đầy dầu mỡ, giang tay ra ôm Cindy và Claire bằng một cái ôm thật lớn. Chúng tôi hét lên và nhảy tưng tưng, và Martha, đang ngủ trên hiên cũng cùng tham gia.
— Chúng mình có tí việc ở gần đây - Claire nói khi chúng tôi buông nhau ra. Tôi nghĩ nên đến và xem cậu thế nào. Cái gì thế này hả Lindsay? Tớ tưởng đống sắt này bị nghiền nát hay bị cấm không cho ra đường rồi chứ.
— Đừng có nói xấu bé yêu của tớ - tôi nói, cười phá lên.
— Nó có chạy không?
— Không hề, Bươm bướm ạ. Nó bay.
Hai cô bạn đưa cho tôi một cái giỏ buộc nơ mua từ cửa hàng Nordstrom đựng đầy những loại dầu tắm làm thư giãn tuyệt vời, và sau khi đã biểu quyết nhất trí, tất cả chúng tôi chui vào chiếc Bonneville đi một vòng.
Tôi bấm cửa điện xuống, và khi chiếc xe trắng lao ra đường, gió mát từ vịnh thổi vào làm tóc chúng tôi tung bay. Chúng tôi vòng ra khỏi xóm nhà Cat và tiến về phía rặng núi khi Claire đưa cho tôi một phong bì.
— Suýt thì mình quên. Jacobi gửi cái này.
Tôi liếc nhìn cái phong bì to tướng trong tay cô ấy. Đêm hôm trước, tôi đã gọi cho Jacobi và nhờ anh ta tìm cho tôi bất kỳ thứ gì về Dennis Agnew, hay Randy Long.
Tôi kể cho Cinđy và Claire nghe về cuộc gặp tình cờ đầu tiên với Agnew tại quán Chim cốc, cuộc ẩu đả ở trạm xăng của Keith, và lần hắn suýt đâm tôi. Rồi tôi tả lại lần đến “Bạn tình" một cách chi tiết.
— Hắn nói thế với cậu à? - Cindy thốt lên sau khi nghe tôi nhắc lại lời Agnew rằng - đàn bà hạ thấp mình với đàn ông để họ có được cảm giác mạnh mẽ. Má cô ấy đỏ ửng; cô ấy giận đến điên người. - Có người phải bị nghiền nát và cấm không được ra đường đây.
Tôi bật cười và nói với cô ấy, - Agnew có cả một bức tường danh tiếng, giống cái mà cậu nhìn thấy trong văn phòng của Tony trong phim Bada Bing ấy. Đầy ảnh của những ông hoàng và bà hoàng của màn ảnh khiêu dâm. Không thể tưởng tượng nổi. Claire, cậu mở ra cho mình được không?
Claire lấy ra ba tờ giấy từ phong bì. Chúng được ghim lại với nhau và có dính một mẫu giấy ghi vài dòng từ Jacobi.
— Cậu đọc to lên đi, được không - Cindy nói, nghiêng người ra ghế sau.
— Có mấy lần bị phạt không đáng kể: lái xe khi say rượu, tấn công, bạo lực gia đình, nghiện ngập và đã từng có thời ngồi nhà tù Folsom. Nhưng đây rồi, Linds, bị bắt vì giết người năm năm trước. Vụ án đã được bãi bỏ.
Tôi với tay bóc tờ giấy dán có ghi chép của Jacob: - nạn nhân là bạn gái của Agnew. Luật sư của hắn là Ralph Brancusi.
Tôi không còn gì để nói. Tất cả mọi người đều biết Brancusi là một luật sư bào chữa có tiếng tăm. Chỉ những người giàu có mới có tiền trả ông ta. Brancusi cũng là luật sư mà những người dân thường mong mỏi có được.
Khi chúng tôi quay trở lại nhà Cat, có chiếc xe cảnh sát đỗ ở cửa, Sếp Stark đi về phía chúng tôi. Trông ông ta vẫn cau có như mọi khi, trán nhăn lại, sự ảm đạm trên khuôn mặt ông ta làm tôi cũng thấy bồn chồn.
— Có chuyện gì thế Sếp? Xảy ra việc gì à?
— Bên xét nghiệm tử thi đã khám nghiệm thi thể vợ chồng Sarducci - ông ta nói, măt nheo lại vì năng. Tôi đến để mời cô đi.
Tôi phấn khởi đến tột độ nhưng phải cố nén vì có mặt cảnh sát trưởng ở đó. Tôi giới thiệu Cindy và Claire.
— Bác sỹ Washbum là pháp y trưởng của San Francisco, tôi nói. - Cô ấy đi cùng được không?
— Tất nhiên rồi, tại sao không? - Sếp lầm bầm. - Cô cứ mang theo tất cả nhưng ai có thể giúp được tôi. Tôi đang học mà, đúng không?
Cindy nhìn ba người chúng tôi và hiểu rằng mình có lẽ sẽ không nhận được lời mời nào cả. Làm thế nào được, cô ấy là phóng viên mà.
— Mình hiểu rồi - cô ấy nói hiền hậu. - Mình sẽ ở đây, không vấn đề gì. Mình có mang theo máy tính xách tay và có việc phải làm gấp. Với cả mình cũng bị hủi nữa.
Claire và tôi quay lại vào chiếc Bonneville và đi theo xe của cảnh sát trưởng ra xa lộ.
— Tuyệt thật - tôi nói, tràn trề phấn khởi, - ông ấy cho mình vào vụ này.
— Mình đang làm gì thế này? - Claire nói, lắc đầu. - Giúp đỡ và khích lệ cậu tham gia vào cái vụ này khi cả hai chúng ta đều biết rằng cậu đáng lẽ phải ngồi ngoài hiên với ly rượu trong tay, gác chân lên hàng rào.
Tôi bật cười. - Cậu thừa nhận đi - tôi nói. - Cậu cũng phấn khởi bỏ xừ. Cậu cũng không quay đầu khỏi vụ này được đâu.
— Cậu điên thật - cô ấy gầm lên. Rồi cô ấy quay sang nhìn tôi. Nụ cười toe toét của tôi làm cô ấy chùn lại.
— Cậu giết mình đấy, Lindsay ạ. Đúng thế đấy. Nhưng đấy là việc của cậu, cưng ạ. Mười phút sau, chúng tôi bám sát chiếc xe của cảnh sát trưởng đi vào Bãi biển Moss.
Nhà xác nằm dưới tầng hầm của Trung tâm y tế Seton. Đó là một căn phòng lát gạch trắng mới tinh và mát như quầy bán hàng đông lạnh ở siêu thị. Máy điều hoà nhẹ nhàng phả hơi.
Tôi gật đầu chào hai nhân viên kỹ thuật kiểm nghiệm bằng chứng đang vừa gói quần áo của nạn nhân vào một cái túi giấy màu nâu vừa càu nhàu vì mấy thủ tục hành chính vớ vẩn.
Tôi bị hút ngay vào bàn mổ xác nằm giữa phòng, nơi một người trợ lý pháp y đang dùng bọt biển và vòi nước lau chùi thi thể của vợ chồng Sarducci. Anh ta đóng vòi nước và đứng lùi sang một bên khi tôi tiến đến gần.
Joseph và Annemarie nằm trần truồng, phơi bày dưới ánh sáng. Thi thể sáng lấp lánh của họ không có tì vết nào ngoại trừ vết cứa ở cổ, và khuôn mặt của họ khi đã chết nhẵn nhụi không một nếp nhăn như khuôn mặt của trẻ em.
Claire gọi tên tôi, ngắt quãng sự đồng cảm của tôi với những người chết.
Tôi quay sang, cô ấy giới thiệu tôi với một người đàn ông mặc quần áo phẫu thuật, đeo tạp dề và đội mũ lưới trên mái đầu bạc. Ông ta nhỏ bé và có một nụ cười nhếch mép, như thể ông ta bị liệt một bên mặt hay vừa bị đột quỵ vậy.
— Lindsay, đây là Bác sỹ Bill Ramos, bác sỹ của toà án. Bill, đây là Trung úy Lindsay Boxer, đội điều tra án mạng của sở cảnh sát San Francisco. Có thể có mối liên hệ giữa những vụ án mạng này và một vụ án chưa được giải quyết của cô ấy.
Tôi đang bắt tay Ramos thì cảnh sát trưởng Stark đi tới.
— Bác sỹ, ông hãy nói với cô ấy những gì ông đã nói với tôi qua điện thoại.
Ramos nói:
— Để tôi cho cô xem.
Ông ta nói với người trợ lý:
— Này Samir, tôi muốn xem lưng của nạn nhân nữ nên anh lật cô ta lên. Đặt cô ta nằm nghiêng.
Samir bắt chéo cổ chân của Annemarie, bác sỹ với tay cầm cổ tay trái của cô ấy. Rồi họ kéo cái xác để thi thể nằm ở tư thế nghiêng.
Tôi nhìn sát vào 7 vết vàng chồng chéo lên nhau trên mông người phụ nữ, mỗi vết rộng khoảng 2 cm và dài khoảng hơn 7 cm.
— Cú đánh rất mạnh - Ramos nói. - Nhưng vẫn rất khó nhận ra. Samir, chúng ta cùng lật ông Sarducci nào.
Bác sỹ cùng người trợ lý lật nghiêng người đàn ông, đầu của ông ta lật lủng lẳng một cách thảm hại khi họ làm vậy.
— Giờ nhìn này - bác sỹ nói, - Đây cũng vậy. Rất nhiều vệt dài, da trầy xước do bị đánh. Chúng không có màu nâu đỏ như nếu ông ta bị đánh khi còn sống, và chúng cũng không có màu vàng nếu bị đánh sau khi chết.
Bác sỹ nhìn tôi để xem tôi có hiểu ông ta muốn nói gì không.
— Nếu tôi bị đấm vào mặt, rồi lại bị bắn hai phát vào ngực. Sẽ không đủ huyết áp để tôi bị bầm tím trên mặt, những sẽ có nếu tim tôi vẫn đập thêm một lúc nữa.
Bác sỹ cầm dao mổ, cắt những vết trên lưng người đàn ông qua một lần băng.
— Cô có thể nhìn thấy màu nâu dưới vết da bị trầy, cái đó gọi là trục của vòng máu tụ.
— Bằng ngôn ngữ thông thường - Ramos tiếp tục, - và bác sỹ Washbum sẽ đồng ý với tôi chứ? Vết roi qua huyết mạch và dây thần kinh phế vị làm ngừng nhịp đập của tim gần như ngay lập tức, nhưng lại không hẳn vậy. Người đàn ông này vẫn còn đập một nhịp tim cuối cùng khi ông ta bị đánh.
— Những vết roi bị đánh lúc đang hấp hối - vừa đúng lúc trước khi chết hay ngay lúc tắt thở. Trong ý nghĩ của kẻ giết người, nạn nhân vẫn còn có thể cảm nhận mình bị đánh.
— Có vẻ như trả thù cá nhân - Stark nói.
— Vâng. Tôi có thể nói là kẻ giết người căm thù nạn nhân.
Cả phòng im lặng khi nghe bác sỹ nói.
— Những vết trên người Joe hẹp hơn trên người Annemarie - Claire để ý.
— Vâng - Ramos đồng tình. - Bị đánh bằng phương tiện khác.
— Như thắt lưng chẳng hạn - tôi nói. - Những vết đánh này có thể bị đánh bằng hai cái thắt lưng khác nhau chăng?
— Tôi không thể nói chắc chắn, nhưng rất có thể là như vậy - Ramos nói.
Claire nom không những rất ưu tư mà còn rất buồn. - Cậu nghĩ sao? - tôi hỏi cô ấy.
— Mình không muốn nói lên điều này, Lindsay à, nhưng đúng là vụ này làm mình nhớ lại hồi trước. Những vết này giống những vết mà mình nhớ là đã nhìn thấy trên người John Doe.
***
Quá nửa đêm Kẻ Theo Dõi mới đi từ bãi biển vào. Hắn trèo lên cồn cát, rồi đi khoảng 3/4 dặm qua con đường cắt cồn cỏ, chạy về hướng đông từ vách đá. Kẻ theo dõi cuối cùng cũng ra đến con đường quanh co bên vịnh.
Hắn đang chăm chăm nhìn vào một ngôi nhà thì vấp phải thanh gỗ trên đường. Hắn ngã sấp xuống, bị đập bụng, tay đầy cát và mặt ập xuống cỏ.
Kẻ Theo dõi nhanh chóng đứng dậy, sờ tay vào túi áo ngực - máy ảnh của hắn đã rơi mất.
— Khỉ ạ, khỉ ạ, khỉ ạ! - hắn hét lên cáu bẳn.
Hắn bò, tìm trên cát, cảm thấy mồ hôi trên môi trên của hắn khô lại trước gió.
Càng lâu, hắn càng tuyệt vọng. Cuối cùng hắn cũng tìm thấy chiếc máy ảnh nhỏ xíu quý giá - ống kính ngập trong cát.
Hắn thổi cát ra khỏi máy ảnh, hướng về phía ngôi nhà, và nhìn vào ống kính. Hắn lờ mờ nhìn thấy những vết xước qua ống kính nhựa.
“Chết thật!"
Vừa thầm chửi rủa, Kẻ theo dõi vừa kiểm tra giờ: 12 giờ 14 phút, rồi lại chĩa máy ảnh về phía ngôi nhà nơi Lindsay đang sống.
Giờ khi thiết bị phóng to đã hỏng, hắn phải đến gần hơn.
Kẻ Theo dõi bước qua lan can rào bãi cỏ và đứng trên vỉa hè, ánh đèn đường rọi xuống đầu hắn.
Ở cuối đường có hai ngôi nhà, nhà của Cat Boxer có ánh đèn.
Hắn chui vào chỗ tối và đứng nhìn từ phía sân bên hông nhà, cúi khom người núp dưới hàng rào cây thủy lạp sát với phòng khách của Boxer.
Tim hắn đập thình thịch, hắn đứng nhìn qua cửa sổ.
Tất cả đều có ở đó: Lindsay mặc áo phông của sở cảnh sát San Francisco và quần bó; Claire, bác sỹ pháp y người da đen, trong bộ áo captan vàng, và Cindy, mái tóc vàng buộc túm trên đỉnh đầu, áo choàng che kín chỉ để hở ống quần pygiama màu hồng và đôi bàn chân.
Ba người phụ nữ đang trò chuyện rôm rả, thỉnh thoảng lại cười phá lên, rồi lại nghiêm trang trở lại. Giá mà hắn có thể biết được họ đang nói cái quái gì.
Kẻ Theo dõi lật lại những sự kiện, những việc vừa xảy ra, những tình huống. Cái ghế trong phòng đứa trẻ. Nó không chỉ ra bất kỳ điều gì, nhưng đó là sai lầm mà hắn mắc phải. Tiếp tục hành động liệu có an toàn không?
Còn quá nhiều việc phải làm.
Kẻ Theo dõi cảm thấy sự căng thẳng đang đè lên người hắn. Tay hắn run rẩy, và ngực hắn như cháy lên. Hắn không thể đứng đây được nữa, hắn không thể.
Hắn nhìn quanh, khi biết chắc không có ai đưa chó đi dạo hay đi đổ rác, hắn bước ra hàng rào cây và nhanh chóng đi vào ánh đèn đường. Hắn nhảy lên lan can và dọc theo con đường tối chạy về phía bãi biển.
Phải có quyết định với Lindsay Boxer.
Một quyết định cứng rắn.
Cô ta là cảnh sát.
***
Tôi dậy sớm với một ý nghĩ nung nấu trong đầu. Tôi thả Martha ra ngoài, đặt ấm càfê lên bếp và bật máy tính.
Tôi nhớ Bob Hinton có nói còn hai người nữa bị giết ở Vịnh Nửa Vầng Trăng hai năm về trước: Ray và Molly Whittaker. Họ đến đây nghỉ hè, Hinton đã nói vậy. Ray là một nhiếp ảnh gia, Molly là diễn viên đóng vai phụ ở Hollywood.
Tôi lên mạng vào cơ sở dữ liệu của NCIC và tìm họ. Tôi vẫn còn sốc khi lên phòng ngủ để đánh thức hai người bạn.
Khi họ đã mặc quần áo, càfê và bánh nướng đã chuẩn bị đầy đủ trước mặt, tôi nói với họ những điều mình tìm thấy về Ray và Molly Whittaker.
— Họ làm phim khiêu dâm, cả hai người. Ray đứng sau máy quay, và Molly diễn với bọn trẻ. Con trai, con gái, đều được cả - tôi nói. - Họ bị bắt vì tội đó và được tha bổng. Luật sư của họ ư? Lại là Brancus.
Hai người bạn đã quá biết tôi. Họ động viên tôi, nhắc tôi phải cẩn thận trong bất kỳ hoàn cảnh nào và vì mục đích gì tôi cũng là dân thường và rất có thể có liên hệ giữa Whittaker và Dennis Agnew, đây không phải là địa bàn hoạt động của tôi, không ai yểm trợ cho tôi, và tôi sẽ gặp rắc rối lớn.
Tôi đã phải nói "Mình biết, mình biết" đến cả chục lần, khi chúng tôi tạm biệt nhau tôi đã hứa hẹn sẽ là một cô bé ngoan.
— Cậu nên nghĩ đến việc về nhà đi, Lindsay - cuối cùng Claire nói, lấy tay ôm mặt tôi.
— Được - tôi nói. - Mình chắc chắn sẽ cân nhắc điều đó.
Cả hai ôm hôn tôi như thể họ không bao giờ còn gặp lại tôi nữa, nói thật là tôi rất cảm động. Khi xe của Claire đi xuôi xuống phố, Cindy thò đầu ra cửa sổ.
— Tối nay mình sẽ gọi cho cậu. Nghĩ đến những gì chúng mình nói nhé. Nghĩ đi đấy, Lindsay.
Tôi hôn gió và đi vào trong nhà. Tôi thọc tay vào cái túi treo trên tay nắm cửa tìm cho đến khi sờ thấy di động, phù hiệu và súng.
Một phút sau tôi nổ máy chiếc Explorer.
Tôi đi vào thành phố - tâm trí rối tung lên cho đến khi tôi cho xe đỗ vào bãi đậu trước sở cảnh sát.
Tôi tìm thấy cảnh sát trưởng trong phòng, đang chăm chăm nhìn vào máy tính, tách càfê trong tay, một hộp bánh rán để bên cạnh ghế.
— Mấy thứ kia sẽ giết ông đấy - tôi nói.
Ông ta đặt hộp bánh ra chỗ khác để tôi có thể ngồi xuống
— Chết bằng bánh rán cũng hay chứ sao. Cô đến gặp tôi có chuyện gì, Trung úy?
— Cái này - tôi nói. Tôi mở tập hồ sơ của Dennis Agnew ra và đặt xuống đống giấy bừa bộn trên bàn. - Ray và Molly Whittaker cũng bị đánh, đúng không?
— Đúng, họ là những người đầu tiên.
— Ông có nghi cho ai không? - Cảnh sát trưởng gật đầu.
— Hồi đó không có bằng chứng, giờ cũng không, nhưng chúng tôi đã theo dõi tay này lâu rồi.
Ông ta cầm tập hồ sơ của Agnew lên và đưa trả lại tôi. - Chúng tôi biết hết về Dennis Agnew. Hắn là nghi phạm chính của chúng tôi.
***
Tôi ngồi ngoài hiên gảy vài nốt nhạc trên cây đàn ghi ta trong ánh chiều tà thì thấy ánh đèn trườn dần từ cuối phố lên, dừng lại trước cửa nhà Cat.
Khi người lái xe bước ra và mở cửa sau của xe, tôi đã tiến gần tới chiếc xe.
— Em hiểu rồi - tôi nói, mặt rạng ngời tới mức có thể thắp sáng được cả bầu trời đang nhá nhem tối. - Anh tình cờ có việc đi ngang qua à.
— Đúng thế - Joe nói, với tay quàng qua eo tôi. - Anh nghĩ sẽ làm em ngạc nhiên.
Tôi đặt tay lên ngực áo sơ mi trắng hồ cứng của anh.
— Claire gọi cho anh.
— Cả Cindy nữa. Joe phá lên cười hơi ngượng ngập. - Để anh đưa em đi ăn tối nhé.
— Thế còn nấu bữa tối ở nhà thì sao?
— Quá hay.
Joe đập lên trần xe, và chiếc xe mui kín chuyển bánh.
— Lại đây - anh nói, ôm tôi trong vòng tay mình, hôn tôi, lại một lần nữa làm tôi kinh ngạc là sao một nụ hôn lại có thể nóng bỏng được đến vậy. Tôi có ý nghĩ hơi điên khi hơi nóng trườn đi khắp cơ thể tôi: Lại nữa rồi. Lại thêm một ga xép lãng mạn trên đường tàu của cuộc đời tôi.
Joe khum tay đỡ gương mặt tôi và lại hôn tôi, trái tim tôi đầu hàng vô điều kiện. Chúng tôi vào nhà, và tôi đá sập cửa.
Tôi đứng nhón chân, tay vòng qua cổ Joe và để anh dẫn vào nhà, đặt tôi lên giường và cởi quần áo của tôi. Anh bắt đầu từ đôi giầy và hôn bất cứ thứ gì lộ ra từ gót cho đến môi tôi.
Trời ơi, anh đã làm tan chảy mọi thừ chỉ trừ có cái vòng đeo cổ của tôi.
Tôi hổn hển thở, với tay tìm anh nhưng anh đã đi mất.
Tôi mở mắt và ngắm anh cởi quần áo. Anh thật tuyệt vời. Cân đối, rám nắng, rắn chắc. Và chỉ dành riêng cho tôi.
Tôi mỉm cười đầy mãn nguyện. Năm phút trước, tôi chỉ chờ đến giờ chiếu phim Luật pháp và trật tự trên tivi. Giờ thì được thế này! Tôi giang cánh tay và Joe ngả xuống người tôi.
— Này em - anh nói. - Anh nhớ em lắm.
— Thôi nào anh - tôi nói, dịu dàng cắn môi dưới của anh, rồi hé môi hôn anh và quấn tay chân vòng quanh người anh.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau chúng tôi ra khỏi phòng ngủ, chân trần, đầu tóc rối bù, ngoài trời đã tối đen như mực. Martha vẫy đuôi theo kiểu cho tôi ăn đi, và tôi cho nó ăn.
Rồi tôi làm món sa lát ngọt ba màu trộn với mù tạt dâu giấm và phô-ma Parmesan thái lát mỏng, nấu một chút mỳ trong khi Joe trộn húng quế, rau mùi và tỏi vào nước sốt cà chua. Ngay lập tức mùi thơm tràn ngập không khí.
Chúng tôi ăn ở bàn bếp, trao đổi những tin tức cho nhau nghe. Tin tức của Joe chẳng khác nào trên CNN. Những vụ đánh bom ô tô, gián điệp ở sân bay, và những thông tin tuyệt mật về tranh chấp chính trị. Khi cùng nhau rửa bát, tôi kể cho Joe nghe một cách sơ lược nhất, ít nóng bỏng nhất về cuộc chạm trán với Agnew.
Anh siết quai hàm khi nghe tôi kể.
— Cứ coi như em chưa từng kể cho anh nghe - tôi nói, hôn lên trán anh khi rót thêm rượu vang cho anh.
— Cứ coi như anh không cáu về chuyện em đối đầu với nguy hiểm như thế.
Trời ơi, chẳng lẽ tất cả đã quên hết rằng tôi là cảnh sát rồi chăng? Và lại còn là một cảnh sát thông minh nữa. Trung uý nữ đầu tiên trong lịch sử của cảnh sát San Francisco.
— Anh nghĩ sao về Cary Grant? - tôi hỏi anh. - Anh có thích Katharine Hepbum không?
Chúng tôi cuộn tròn trong ghế sôfa và xem Nuôi em bé, một trong những chương trình hài mà tôi thích nhất. Tôi cười khúc khích như thường lệ khi đến đoạn Caiy Grant chạy xung quanh đuổi chú chó đang ngậm trong miệng miếng xương khủng long và Joe cười cùng tôi, ôm tôi vào lòng.
— Nếu có lúc anh thấy em và Martha như vậy thì đừng ngạc nhiên.
Tôi bật cười.
— Anh yêu em lắm, Lindsay.
— Em cũng rất yêu anh.
Tối khuya hôm ấy, tôi ngủ cuộn tròn trong lòng anh, suy nghĩ, thật tuyệt quá, mình chẳng thể chán được anh chàng này.
Joe rán thịt ướp muối và trứng tráng trong ánh nắng mặt trời chiếu sáng qua cửa sổ. Tôi rót đầy một cốc càfê và Joe đọc được câu hỏi trong cái liếc nhìn của tôi.
— Anh ở đây cho đến khi nào bị gọi. Nếu em muốn, anh sẽ giúp em rà soát lại vụ án.
Chúng tôi ngồi vào chiếc Explorer, Joe ngồi sau tay lái và Martha ngồi trên đùi tôi. Tôi kể cho Joe nghe những chi tiết về vợ chồng nhà Sarducci trong lúc chúng tôi từ từ đi qua ngôi nhà kính của họ bên vịnh.
Rồi chúng tôi đi về phía Crescent Heights, qua con đường ngoằn ngoèo bẩn thỉu tới cửa ngôi nhà nhỏ bỏ hoang của vợ chồng Daltry.
Nếu có ngôi nhà nào bị một vụ giết người làm điêu tàn thì chính là ngôi nhà này. Bãi cỏ trước nhà úa tàn, cửa sổ và cửa ra vào bị niêm phong bằng ván gỗ và những mảnh băng dán hiện trường vụ án phấp phới như những con chim sẻ cánh vàng trong bụi cây.
— Đúng là một tầng lớp xã hội rất khác biệt với nhà Sarducci - Joe nói.
— Vâng. Em không nghĩ những vụ ám sát này là vì tiền.
Chúng tôi cho chiếc Explorer đi xuống núi và sau vài phút đã có mặt ở khu Ocean Colony, khu phố cạnh sân gotf nơi nhà O'Malley đã sống và đã chết. Tôi chỉ ngôi biệt thự màu trắng có những cánh cửa chớp xanh khi chúng tôi đến gần. Trên sân trước giờ có biển “Bán Nhà", một chiếc xe Lincoln đậu trước cổng.
Chúng tôi đỗ xe bên lề đường, một phụ nữ tóc vàng mặc bộ vét Lilly Pulitzer hồng đi ra khỏi nhà và khoá cửa trước. Khi cô ta nhìn thấy chúng tôi, khuôn mặt cô ta giãn ra thành một nụ cười đầy son phấn.
— Xin chào cô ta nói, Tôi là Emily Harris, Công ty Bất động sản Thái bình dương. Tôi xin lỗi. Tôi không thể cho hai vị xem nhà được bởi vì tôi có cuộc hẹn phải đi
Có lẽ nom tôi thất vọng lắm và Cô Harris nhìn chúng tôi như những khách hàng tiềm năng.
— Nghe này. Khi ra hai vị bỏ chìa khoá vào két nhé. Được chứ?
Chúng tôi ra khỏi xe, và tôi khoác tay Joe. Trông chẳng khác nào một cặp vợ chồng đi mua nhà mới, Joe và tôi bước lên bậc thềm, mở khoá cửa nhà O'Malley.
Bên trong ngôi nhà đã được làm vệ sinh, tân trang và quét vôi lại. Tôi đứng một lúc trong sảnh giữa rồi theo Joe lên cầu thang xoáy.
Khi tôi vào phòng ngủ lớn, tôi thấy anh đang đứng trước cửa buồng để quần áo.
— Có một cái lỗ nhỏ ở đây, đúng tầm mắt - em thấy không, Linds? Nó được bịt lại rồi. Anh lấy móng tay cậy lớp vừa vẫn còn mềm.
— Một cái lỗ để nhìn trộm?
— Một cái lỗ để nhìn trộm trong tủ quần áo - Joe nói. Thật lạ lùng, em có nghĩ thế không? Trừ phi nhà O'Malley muốn làm phim tại gia.
Đầu óc tôi quay cuồng khi tôi nghĩ giữa video phim khiêu dâm gia đình và cửa hàng của Randy Long có thể có mối liên hệ. Liệu cảnh sát có tìm thấy dụng cụ quay phim không?
Và nếu họ tìm thấy thì sao?
Những người trưởng thành đồng ý cho quay phim có gì là phạm pháp đâu.
Tôi bước vào trong phòng để quần áo vừa được quét vôi lại, gạt đám mắc áo bằng sắt sang một bên, rồi giữ để chúng không đập lanh canh vào nhau.
Đúng lúc đó tôi nhìn thấy một vết vữa nữa dưới lớp vôi.
Tôi lấy ngón tay chọc vào và thấy tim mình đập mạnh. Còn một cái lỗ nữa ở sau phòng để quần áo và nó xuyên qua tường.
Tôi nhấc một cái mắc áo ra và bẻ thẳng thành một que sắt rồi nhét nó vào lỗ.
— Joe, anh có thể đi nhìn xem cái này dẫn đi đâu không?
Que sắt ngoe nguẩy cho đến khi ra được đến đầu bên kia. Joe quay lại chỉ sau mấy giây. - Nó xuyên sang một phòng ngủ khác. Em nên sang mà nhìn, Lindsay ạ.
Căn phòng bên cạnh vẫn còn lại một ít đồ đạc, giường bốn cọc có viền đăng ten, vài đồ trang điểm và một cái gương dài được trang trí công phu gắn vào tường. Joe chỉ cái lỗ được che bởi một hình hoạ tiết hoa trong khung gương gỗ.
— Khỉ thật, Joe. Đây là buồng của con gái họ. Bọn khốn đó theo dõi Caitlin à? Bọn chúng quay phim cô bé chăng?
Khi chúng tôi lái xe về lại nhà Cat, tôi nhìn chằm chằm ra cửa sổ. Tôi không thể không nghĩ đến cái lỗ thứ hai. Nhà O'Malley là loại người gì? Tại sao họ lại đặt máy quay phim đứa bé?
Liệu đó có phải là một loại máy quay phim thay cho người trông trẻ như hồi xưa chăng?
Hay đó là một cái gì đó kinh khủng hơn nhiều?
Tâm trí tôi quay cuồng xung quanh mọi khả năng về cái lỗ. Nhưng tất cả đều trở lại với một câu hỏi: Liệu những điều này có liên quan đến những vụ ám sát chăng?
Buổi trưa chúng tôi về lại nhà Cat. Joe và tôi đi vào phòng của hai cô cháu gái để có thể dùng cái bảng gỗ trong phòng dựng lên những gì chúng tôi đã biết về những vụ án mạng.
Tôi tìm thấy bút dạ và bìa cứng, và kéo hai chiếc ghế nhựa nhỏ ra để ngồi.
— Chúng ta đã biết những gì nào? - Joe hỏi, ghim tờ giấy màu vàng lên bảng. - Hiện trường vụ án cho thấy có ba tên giết người. Bác sỹ pháp y nói theo ông có lẽ chúng không chỉ dùng một loại dao và thắt lưng, điều này phù hợp với giả thuyết của em là có nhiều kẻ tham gia, nhưng em chỉ biết có vậy. Không một sợi tóc, không một dấu vân tay, không một vết gì của ADN. Chẳng khác nào phải phá một vụ án từ những năm 40 vậy. Đội khám nghiệm hiện trường không thể giúp gì trong vụ này.
— Em nghĩ điểm chung của những án mạng này là gì? Nói anh nghe xem nào. - Em còn chưa rõ lắm - tôi nói, đưa tay lên như thể đang vòng qua một quả cầu pha lê tưởng tượng.
— Stark nói với em tất cả các nạn nhân đều có gia đình. Rồi ông ta nói, - Điều đó chẳng nói lên điều gì. 80% dân số ở đây đã lập gia đình.
Joe viết tên nhưng nạn nhân lên giấy.
— Em tiếp đi - anh nói.
— Họ đều có con, trừ vợ chồng nhà Whittaker. Nhà Whittaker làm phim khiêu dâm trẻ em, và Caitlin O'Malley rất có thể là một nạn nhân. Đó chỉ là em đoán thế. Khía cạnh khiêu dâm làm em nghĩ có thể có mối liên hệ tới mấy tay làm phim khiêu dâm sống ở đây, và đó là tội phạm có tổ chức - lại cũng chỉ là đoán. Và cuối cùng, John Doe của em có vẻ khác với những nạn nhân còn lại.
— Có thể vụ án mạng đầu tiên là do bốc đồng - Joe nói, - còn những vụ sau đã được lên kế hoạch.
— Hừm - tôi nói, đưa mắt nhìn ra cửa sổ, khoai lang được trồng trong dung dịch nước, tua và những chiếc lá xanh đang vươn ra ngoài mép.
— Rất có thể. Có thể John Doe đã bị giết vì tình. Nếu đúng vậy, kẻ giết người hay những tên giết người rất lâu sau đó đã không có động cơ để tiếp tục. Ký hiệu để lại sau mỗi án mạng giống nhau. Nhưng mối liên hệ nằm ở chỗ nào?
— Anh chưa biết. Em thử tóm tắt lại cho anh nghe đi.
— Chúng ta có 8 án mạng có liên quan đến nhau trong phạm vi mười dặm. Tất cả các nạn nhân đều bị cứa cổ, riêng chỉ có Lorelei O'Malley bị đâm thủng bụng. Tất cả các nạn nhân kể cả John Doe đều bị đánh. Động cơ không rõ ràng. Và nghi phạm chính là một diễn viên đóng phim khiêu dâm, một thằng đểu có vẻ ngoài hào nhoáng.
— Anh sẽ gọi vài cuộc điện thoại - Joe nói.
Khi Joe đã kết thúc những cuộc gọi cho FBI, tôi cầm bút dạ còn Joe tóm tắt lại nhưng điều anh vừa biết.
— Không một nạn nhân nào là mối nguy hiểm, không ai phạm tội, không ai có biệt danh, không liên quan gì đến Dennis Agnew. Còn nếu nói về mấy tay ở Bạn tình - Joe nói, - Ricardo Montefiore, hay còn gọi là Rick Monte, từng bị buộc tội gây rối, tội có hành vi dâm dục ngoài nơi công cộng, và tội tấn công người khác, đó là tất cả về hắn ta.
— Rocco Benuto, tay đã chặn đường em ở “Bạn tình" là võ sĩ hạng nhẹ. Một lần bị bắt vì tàng giữ trái phép. Một lần bị bắt vì cướp phá siêu thị ở New Jersey khi hắn 19 tuổi. Không vũ khí.
— Khó lòng là chân dung của một kẻ giết người hàng loạt.
Joe gật đầu, rồi tiếp tục. - Cả ba tên đều là những kẻ cướp từ hạng thấp đến hạng trung. Chúng đã tham dự một vài bữa tiệc trác táng, làm ma cô. Còn về Dennis Agnew thì em đã biết về vụ giết người năm 2000 mà hắn được tha bổng rồi.
— Ralph Brancussi là luật sư đã bào chữa cho hắn.
Joe lại gật đầu. - Nạn nhân là một ngôi sao phim khiêu dâm đang lên, quê ở Urbana, Illinois. Cô ấy khoảng ngoài 20, nghiện ma tuý, từng bị bắt vài lần vì tội bán dâm. Và cô ấy đã từng là bạn gái của Agnew trước khi hoàn toàn biến mất.
— Biến mất ư? Theo đúng nghĩa à? Không tìm thấy xác à?
— Thật đáng tiếc, Lindsay. Không tìm thấy xác.
— Vậy là ta không biết được liệu cô ấy có bị cứa cổ và bị đánh hay không.
— Ừ.
Tôi ôm cằm. Thật nản lòng khi đã đến trọng tâm của nỗi kinh hoàng này rồi mà vẫn không có được một manh mối nào tử tế.
Nhưng mẫu hình thì đã rõ ràng. Những vụ án mạng ngày càng có liên hệ với nhau. John Doe của tôi bị giết 10 năm về trước, nhà Whittaker 8 năm trước, nhà Daltiy một tháng rưỡi trước. Giờ có án mạng kép trong vòng một tuần.
Joe ngồi xuống ghế đẩu bên cạnh tôi. Anh cầm lấy tay tôi, và chúng tôi nhìn những ghi chép trên bảng. Khi tôi nói, giọng tôi vang vọng khắp căn phòng nhỏ của hai cô bé.
— Chúng đang tiến hành ngày càng thường xuyên hơn, Joe ạ. Ngay bây giờ, chúng đang lên kế hoạch tiếp tục hành động.
— Em biết chắc sao? - Joe nói.
— Em biết. Em có thể cảm nhận được điều đó.
***
Tiếng điện thoại chói tai làm tôi thức giấc. Tôi nhấc máy sau hồi chuông thứ hai, để ý thấy rằng Joe đã đi mất và có một mảnh giấy trên ghế nơi anh đã để quần áo.
— Joe?
— Yuki đây. Lindsay, tôi có làm chị thức giấc không?
— Không, tôi dậy rồi - tôi nói dối.
Chúng tôi nói chuyện năm phút bằng tốc độ nói nhanh đến kinh hoàng của Yuki, và khi bỏ máy xuống, tôi không còn buồn ngủ nữa. Tôi đọc tờ giấy tạm biệt ngọt ngào của Joe, làm vài động tác thể dục, choàng dây vào cổ Martha, và chúng tôi cùng chạy ra bãi biển.
Ngọn gió trong lành từ biển thổi vào khi Martha và tôi chạy về phía bắc. Đi chưa được bao xa thì tôi nghe có tiếng gọi. Một vóc dáng nhỏ bé chạy về phía tôi.
— Cô Lindsay, cô Lindsay!
— Allison! Chào cháu.
Cô bé mắt sẫm ôm chặt lấy eo tôi, rồi ngồi phịch xuống cát ôm Martha.
— Ali, cháu không ở đây một mình chứ?
— Chúng cháu đang đi chơi - cô bé nói, chỉ về phía một đám người ngoài bãi biển. Đến gần, tôi nghe tiếng bọn trẻ hát - ô lê- ôlê- ô lê - điệp khúc của bài hát từ bộ phim Người sống sót, và thấy Carolee đi về phía tôi.
Chúng tôi ôm hôn nhau, rồi Carolee giới thiệu tôi với những đứa con của bà ấy.
— Kia là loại chó lại gì thế? - một đứa bé khoảng 11 hay 12 tuổi gì đó với mái tóc xù màu nâu nhạt hỏi tôi.
— Không phải là chó lai. Martha đáng yêu là chó săn.
— Trông nó chẳng giống Lassie tí nào một bé gái tóc quăn chớp chớp đôi mắt đen nói.
— Không. Chó săn là loại chó khác. Chúng có gốc Anh và Xcốt-len, chúng có một nhiệm vụ rất quan trọng - tôi nói. - Chúng canh cừu và gia súc.
Bọn trẻ chăm chú nghe tôi nói, Martha nhìn tôi như thể nó biết là tôi đang nói về nó.
— Chó săn phải học cách nghe mệnh lệnh từ chủ, chúng rất thông minh, không những rất chăm chỉ mà còn coi đàn cừu và gia súc là của chúng - và chúng hiểu rằng chúng chịu trách nhiệm về đàn gia súc.
— Cô ra lệnh đi! Xem nó có nghe không, cô Lindsay - Ali van nài. Tôi cười nhìn cô bé.
— Ai muốn làm cừu nào? - tôi hỏi.
Bọn trẻ khúc khích cười, nhưng 4 đứa, trong đó có cả Ali xung phong. Tôi ra lệnh cho - cừu - chạy dọc ngang bãi biển và tháo dây xích cho Martha.
— Martha. Chăn cừu đi, tôi gọi, và nó chạy về phía năm đứa trẻ. Bọn trẻ kêu ré lên, cố tìm cách chạy trốn nhưng không thể nhanh bằng Martha. Nó nhanh và lanh lẹ, đầu cụp xuống, mắt chăm chăm nhìn lũ trẻ, nó chạy sau bọn trẻ, sủa váng lên, bọn trẻ túm tụm lại với nhau và cùng tiến trong một đội hình khép chặt.
— Lại đây - tôi hét và Martha đuổi bọn trẻ quay vào Vịnh. - Đi ra - tôi gọi to và Martha lại kéo bọn trẻ về phía mỏm đá, bọn trẻ rúc rích hân hoan.
— Đủ rồi đấy - tôi gọi to, và chú chó trắng đen của tôi làm bọn trẻ túm tụm chạy vòng tròn chân quýnh vào nhau, vừa thở phì phì, chao đảo nó vừa đuổi bọn trẻ quay về.
— Đứng lại, Martha - tôi nói. - Được lắm. Rất tốt, bé yêu.
Martha sủa tự ngợi khen. Bọn trẻ vỗ tay và la ó, Carolee đưa cho chúng tôi nước cam và uống mừng chúng tôi. Khi tôi và Martha không còn là tâm điểm của sự chú ý nữa, tôi kể cho Carolee nghe về cuộc nói chuyện với Yuki.
— Tôi cần chị giúp - tôi nói.
— Bất kỳ điều gì - Carolee Brown nói. Rồi bà ấy không nhịn được và nói, - Lindsay, cô sẽ là một người mẹ rất tuyệt.
Chỉ vài phút sau khi chia tay với Carolee và bọn trẻ, Martha và tôi leo lên mỏm đá và đi qua thảm cỏ đến phố Miramontes. Vừa đặt chân lên vỉa hè thì tôi thấy một người đàn ông đứng cách khoảng 100 mét đang chĩa một máy ảnh bé xíu về phía tôi.
Hắn ta đứng quá xa, tôi chỉ nhìn thấy ống kính loé lên, áo len màu cam của hắn và chiếc mũ lưỡi trai kéo sụp xuống mắt. Và hắn không để tôi lại gần. Vừa thấy tôi để ý, hắn quay đầu vội vã đi mất.
Có thể thằng cha chỉ đang chụp ảnh, hoặc cũng có thể báo giới lá cải cuối cùng đã tìm thấy tôi, hoặc cũng có thể tiếng đập thình thịch trong lồng ngực tôi chỉ là hoang tưởng, nhưng tôi vẫn cảm thấy bất an khi về nhà.
Có ai đó đang theo dõi tôi.
Ai đó không muốn tôi nhìn thấy hắn.
Trở lại nhà Cat, tôi lột ga trải giường và thu xếp đồ đạc. Rồi tôi cho Penelope ăn và thay nước cho nó.
— Có tin tốt này, Penny - tôi nói với chú lợn kỳ diệu. - Carolee và Allison đã hứa là sẽ sang chơi sớm. Tao nhìn thấy táo trong tương lai của mày rồi, cưng ạ.
Tôi cho tờ giấy tạm biệt của Joe vào túi xách và sau khi đã nhìn lại cẩn thận, tôi bước ra cửa.
— Về nhà thôi - tôi nói với Martha.
Chúng tôi chui vào chiếc Explorer và quay trở lại San Francisco.
Bảy giờ tối hôm đó, tôi mở cửa vào Indigo, một nhà hàng mới tinh trên phố McAllister, cách toà án làm tôi ăn mất ngon hai ngã tư. Tôi đi qua quầy bar làm bằng gỗ vào trong quán. Trong đó, người phục vụ kiểm tra tên tôi trong sổ và đưa tôi vào ngồi trên băng ghế nhung xanh nơi Yuki đang lật xem tài liệu.
Yuki đứng dậy ôm hôn tôi, và tôi ôm lại cô ấy, tôi rất mừng rỡ khi được gặp lại luật sư của mình.
— Thế nào rồi Lindsay?
— Rất tuyệt nếu không phải nghĩ đến việc thứ hai phiên toà đã bắt đầu rồi.
— Chúng ta sẽ thắng - cô ấy nói. Vì thế cô có thể chấm dứt mọi nỗi lo lại được rồi đấy.
— Tôi ngớ ngẩn thật, cứ than thở mãi - tôi nói.
Tôi mỉm cười, nhưng run hơn cô ấy thấy nhiều. Mickey Sherman đã thuyết phục toà án rằng sẽ có lợi cho tất cả nếu để một phụ nữ đứng ra làm đại diện pháp luât và rằng Yuki Castellano là rất tuyệt cho công việc này.
Tôi ước gì mình cũng chắc chắn được như vậy.
Tuy gặp nhau vào cuối một ngày làm việc dài, trông Yuki vẫn tươi tắn và vui vẻ, lạc quan. Và đặc biệt là trông cô ấy thật trẻ. Tôi nắm cái vòng Kokopelli theo phản xạ trong lúc cùng cô luật sư 28 tuổi của mình đặt đồ ăn tối.
— Tôi đã bỏ qua những gì kể từ ngày rời khỏi thành phố? - Tôi hỏi Yuki. Gạt món cá mú biển áp chảo và củ cải vàng đánh nhừ sang một bên, tôi chỉ nhấm nháp chút xa lát trộn lạc và giấm cà rốt.
— Tôi rất mừng là cô không ở đây, Lindsay ạ, vì những con hổ đói rất điên cuồng - Yuki nói. Tôi để ý thấy cô ấy nhìn thẳng vào mắt tôi nhưng tay cô ấy vẫn không ngừng di chuyển.
— Những bài báo và tin tức của các bậc phụ huynh oán hận được phát suốt ngày trên tivi,... Cô có xem chương trình Trực tiếp tối thứ bảy không?
— Tôi chẳng bao giờ xem chương trình đó.
— Thế để cô biết, có vở kịch trào phúng. Cô bị gán cho nhân vật Harriet bẩn thỉu.
— Thế thì phải náo loạn lắm nhỉ - tôi nói, nhăn mặt. Tôi nổi tiếng lắm nhỉ.
— Sẽ còn tệ hơn đấy - Yuki nói, kéo chun buộc mái tóc dài ngang vai. Thẩm phán Achacoso đã cho phép truyền hình trực tiếp trong phòng xử án. Và tôi vừa nhận được danh sách nhân chứng. Sam Cabot sẽ ra làm chứng.
— Như vậy thì sẽ ổn chứ, đúng không? Sam đã nhận tội gây ra mấy vụ án mạng bằng điện giật mà. Chúng ta có thể sử dụng điều đó!
— Tôi e là không đâu, Lindsay ạ. Luật sư của họ đã đề nghị huỷ lời khai lấy lý do là bố mẹ thằng bé không có mặt ở đó lúc nó lảm nhảm mấy lời thú tội đó với y tá.
— Này - Yuki nói, cầm lấy tay tôi, chắc chắn là bởi vì nhìn thấy khuôn mặt tôi đang đờ lại vì sốc. - Chúng ta không biết Sam sẽ nói gì - tôi sẽ xử lý nó; cô có thể yên tâm về điều đó. Nhưng chúng ta không thể nghi ngờ lời thú tội của nó. Đó là lời khai của cô chống lại lời khai của nó - và nó mới chỉ có 13 tuổi còn cô là một cảnh sát say rượu.
— Và vì thế mà cô khuyên tôi - Đừng lo bởi vì...?
— Bởi vì sự thật sẽ lộ ra. Bổi thẩm đoàn cũng là người, phần lớn trong số họ đã từng uống rượu trong đời. Tôi nghĩ họ sẽ cho rằng chị được phép và có thể là còn nên uống thi thoảng một vài ly.
— Chị đã cố giúp những đứa trẻ kia, Lindsay. Và đó không phải là tội.
— Đừng quên là người ta phán xử cô từ phút đầu tiên cô bước vào phòng xử án - Yuki nói khi chúng tôi cùng nhau bước trong cái lạnh của buổi tối. Chúng tôi vào Gara Opera Plaza trên đường Van Ness và đi thang máy xuống nơi Yuki đậu chiếc Acura nâu sẫm hai cửa của cô ấy.
Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã lái xe về hướng đông trên đường Golden Gate đến quán rượu ưa thích của tôi, mặc dù tối hôm nay tôi sẽ chỉ uống Coca. Để cho an toàn.
— Cô hãy đi đến toà bằng một chiếc xe thường, đừng đi xe cảnh sát hay xe địa hình mới hoặc bất cứ thứ gì tương tự.
— Tôi có chiếc Explorer cũ 4 năm rồi, cửa kẽo kẹt lắm rồi. Thế có được không?
— Được đấy. Yuki cười phá lên. Tuyệt hảo. Và đồ cô mặc đến phiên toà sơ thẩm là tốt đấy. Vét sẫm màu, phù hiệu cảnh sát cài trên ve áo, không có bất kỳ đồ trang sức nào khác. Khi đám phóng viên nhào vào cô, cô có thể cười lịch sự, nhưng đừng trả lời bất kỳ câu hỏi nào.
— Trả lời câu hỏi để cô lo.
— Tuyệt - cô ấy nói khi chúng tôi quặt vào quán Susie.
Tôi thấy thật hạnh phúc khi bước vào quán Susie. Ban nhạc sôi nổi làm cho không khí trong quán thật sống động, và chính Susie, mặc xà-rông màu hồng đậm, đang uốn lượn giữa sàn nhảy. Hai người bạn thân nhất của tôi vẫy chúng tôi vào góc của chúng tôi ở cuối phòng.
Tôi nói, - Claire Washbum, Yuki Castellano; Yuki, Cindy Thomas - hai cô bạn chìa tay ra bắt tay cô ấy. Tôi có thể thấy cái nhìn căng thẳng trên gương mặt hai người bạn bởi vì họ lo cho thử thách sắp tới của tôi chẳng khác nào bản thân tôi vậy.
Khi Claire bắt tay Yuki, cô ấy nói, - tôi là bạn của Lindsay - và không cần phải nói cô cũng biết, tôi là nhân chứng của bên nguyên.
Cindy, nom khá là trang trọng, nói, - tôi làm việc cho tờ Chrontele và tôi sẽ hét lên những câu hỏi tệ nhất trước toà nhà xử án.
— Và hỏi cô ấy những câu dễ nhất nếu cần phải vậy - Yuki nói.
— Tất nhiên rồi.
— Tôi sẽ chăm sóc cô ấy cẩn thận, hai bạn yên tâm.
Yuki nói. - Chúng ta sẽ đối mặt với một trận quyết đấu khó chịu, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ thắng.
Như thể đã hẹn từ trước, chúng tôi cùng siết chặt 8 bàn tay qua bàn.
— Quyết chiến, cả đội, quyết chiến - tôi nói.
Tôi cảm thấy thoải mái để có thể cười, và rất vui khi Yuki cởi bớt áo vét và Claire rót margarita cho tất cả, trừ cho tôi.
— Lần đầu tiên tôi uống thứ này đấy, Yuki nói ngờ vực.
— Cũng đến lúc rồi, Luật sư ạ. Nhưng uống từ từ, chậm rãi thôi nhé. Nào, Claire nói. - Hãy nói cho chúng tôi nghe mọi điều về cô. Từ đầu.
— Được rồi, tôi biết rồi, bắt đầu từ cái tên nghe lạ tai của tôi chứ gì? - Yuki nói, liếm muối trên môi trên. Trước hết, các bạn cần phải biết là người Ý và người Nhật là hai cực đối lập của nhau. Ví dụ, thức ăn của họ: một bên là mực sống và cơm còn bên kia là scungilli marrinara (Một thức ăn truyền thống Ý). Yuki cười, tiếng cười thật dễ thương, nghe như tiếng chuông.
— Khi người mẹ nhỏ nhắn và kín đáo người Nhật của tôi gặp ông bố lực lưỡng đầy say đắm người Mỹ gốc Ý trong khoá trao đổi học sinh, đó đúng là tiếng sét ái tình - Yuki kể cho chúng tôi nghe bằng tốc độ nói nhanh như tên lửa của cô ấy. - Người sắp trở thành bố tôi nói, - Hãy lấy nhau đi khi chúng ta còn đang yêu - và họ làm vậy, khoảng 3 tuần sau khi họ gặp nhau. Và chín tháng sau tôi ra đời.
Yuki giải thích rằng Nhật Bản bảo thủ vẫn còn rất thành kiến với những "đứa con lai" và rằng gia đình cô ấy chuyển tới sống ở California khi cô ấy mới lên sáu. Nhưng cô ấy vẫn nhớ rõ cảm giác bị phân biệt đối xử ở trường học vì mình là con lai là thế nào.
— Tôi muốn làm luật sư từ lúc tôi đủ lớn để biết Perry Mason làm gì trên tivi - cô ấy nói, mắt sáng ngời. Tôi không thích khoác lác đâu nhưng chỉ để các bạn biết, khi tôi học ở trường Luật, tôi đã được toàn điểm A, khi tôi làm việc cho Duffy và Roger sau khi ra trường, sự nghiệp của tôi thăng tiến rất nhanh. Tôi nghĩ động cơ là điều rất quan trọng trong công việc, vì vậy các bạn hiểu động cơ của tôi.
Tôi đã luôn luôn phải chứng tỏ với bản thân một điều gì đó: rằng thông minh và cực tốt chưa đủ. Tôi phải là người giỏi nhất. Và với trường hợp của Lindsay, người bạn cũ của các bạn và bạn mới của tôi, tôi biết từ đáy lòng mình là cô ấy vô tội.
— Và tôi cũng sẽ chứng minh được điều đó.
Tuy Yuki đã nói với tôi về sự điên cuồng của báo giới, tôi vẫn bị sốc khi sáng hôm sau nhìn thấy đám đông ở trước Trung tâm Hành chính. Những chiếc xe của đài truyền hình vệ tinh xếp hàng dài hai bên đường McAllister, và thật là ác ý, dân thường di chuyển khắp mọi hướng, cản trở giao thông đến Toà thị chính và Toà án Trung tâm hành chính.
Tôi đỗ xe trong gara trên đường Van Ness, chỉ cách toà án ba ngã tư, và thử trà trộn vào đám đông đang đi bộ. Nhưng tôi không đi được. Vừa nhìn thấy tôi, cánh phóng viên xán lại, chĩa micrô và máy quay phim thẳng vào mặt tôi, hét lên những câu hỏi đến hiểu tôi còn không thể chứ đừng nói đến chuyện trả lời.
Những lời buộc tội - cảnh sát hung bạo - quấy nhiễu và những tiếng nói gần như đau lòng của đám đông làm tôi choáng váng, buồn bã. Tôi là một cảnh sát giỏi, khỉ ạ. Làm sao mà những người tôi đã thề sẽ phục vụ lại có thể quay lưng lại với tôi như thế này?
Carlos Vega của đài KRON-TV là nhân vật nổi tiếng từ chương trình - Phiên toà của Harriet bẩn thỉu. Hắn là một tay bé tí có phong cách điên dại, nổi tiếng vì biết cách phỏng vấn mọi người nhã nhặn đến mức họ gần như không cảm thấy họ đang bị moi móc. Nhưng tôi biết Carl - hắn ta đã từng phỏng vấn tôi - và khi hắn hỏi, - Cô có hận nhà Cabot vì đã kiện cô không? - tôi gần như bật lại.
Tôi định cho ông Vega một câu nói cay độc cho chương trình bản tin lúc sáu giờ thì có ai đó cầm khuỷu tay tôi kéo mạnh ra khỏi đám đông. Tôi giật nảy người - rồi tôi nhìn thấy người đã cứu mình là một người bạn mặc quân phục.
— Conklin - tôi nói, - ơn Chúa.
— Bám sát tôi, Lindsay, cậu ta nói, hướng tôi đi qua đám đông tới một hàng cảnh sát đang đứng chắn thành một đường hẹp dẫn tới toà án. Tôi xúc động khi thấy đồng nghiệp của mình, nắm tay nhau làm thành một con đường an toàn cho tôi đi, gật đầu hay nói với tôi khi tôi đi qua.
— Cho bọn chúng biết tay, Trung uý.
— Ngẩng cao đầu, Trung uý.
Tôi nhìn thấy Yuki trong đám đông trên cầu thang lên toà và đi thẳng về phía cô ấy. Cô đón tôi từ Cảnh sát Conklin, chúng tôi cùng nhau đẩy cánh cửa kính khung thép nặng chịch của toà nhà hành chính. Chúng tôi bước lên những bậc cầu thang bằng đá cẩm thạch, chỉ vài phút sau đã vào trong phòng xử án màu mận chín đầy ấn tượng trên tầng hai.
Những mái đầu quay lại nhìn khi chúng tôi bước vào. Tôi dựng cái cổ áo mới là, đưa tay lên vuốt tóc, và cùng Yuki bước qua căn phòng xử án trải thảm đến bàn dành cho bên biện hộ ở đằng trước. Tôi bắt đầu lấy lại được vẻ bên ngoài điềm tĩnh nhưng bên trong vẫn sôi sục.
Sao chuyện này lại có thể xảy ra với tôi được cơ chứ?
Yuki đứng sang một bên để tôi có thể lách qua bàn ngồi xuống cạnh Mickey Sherman, người luật sư tóc bạc, từng trải, ông nhổm người lên bắt tay tôi.
— Thế nào rồi, Lindsay? Trông cô khá lắm. Cô ổn chứ?
— Chưa bao giờ ổn hơn - tôi đáp lại.
Nhưng cả hai chúng tôi đều biết rằng không một người bình thường nào có thể ổn trong địa vị của tôi. Cả sự nghiệp của tôi đặt trên bàn cân, và nếu bồi thẩm đoàn buộc tội tôi, cuộc đời tôi sẽ cháy rụi. Tiến sỹ và vợ ông ta đòi đền bù thiệt hại 50 triệu đô la, và tuy họ sẽ nhận được 49,99 triệu đô là từ thành phố San Francisco, kiểu gì tôi cũng vẫn sẽ rơi vào khủng hoảng tài chính và có thể sẽ bị gán cho cái tên Harriet bẩn thỉu trong suốt phần đời còn lại.
Khi Yuki ngồi xuống cạnh tôi, Sếp Tracchio đi tới lan can để siết vai động viên tôi. Tôi không ngờ ông ta sẽ làm vậy, tôi rất cảm động. Rồi có tiếng ồn ào trong phòng khi - đội quân trong mơ bước vào và ngồi đối diện chúng tôi.
Một lúc sau, Tiến sỹ và Bà Cabot bước vào phòng xử án, ngồi sau lưng luật sư của họ. Ông Tiến sỹ gầy gò và bà vợ tóc vàng buồn rầu của ông ta ngay lập tức trừng trừng nhìn tôi.
Andrew Cabot run lên vì giận dữ và đau đớn. Còn khuôn mặt của Eva Cabot là bức tranh của sự tiêu điều vĩnh cửu. Một người mẹ đã vì tôi mà mất đi đứa con gái, và con trai bà ta cũng vì tôi mà bại liệt. Khi bà ta quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt xám viền đỏ, tất cả những gì tôi thấy là cơn giận không đáy.
Eva Cabot căm ghét tôi.
Bà ta mong tôi phải chết.
Bàn tay lạnh lẽo của Yuki đặt lên cổ tay tôi làm gián đoạn cái nhìn giữa tôi và Bà Cabot - nhưng trước đó các máy quay đã kịp ghi hình cái nhìn chăm chăm của chúng tôi.
Tất cả xin mời đứng dậy.
Tất cả những người có mặt trong phòng xử án sột soạt đứng dậy và Thẩm phán Achacoso nhỏ bé với cặp kính cận bước lên bục. Tôi ngồi xuống trong trạng thái mê muội.
Đây rồi.
Phiên toà của tôi đang bắt đầu.
Phải mất gần 3 ngày mới chọn xong bồi thẩm đoàn. Sau ngày đầu tiên, vì tôi không thể chịu được tiếng điện thoại liên tục reo và việc báo giới cứ chầu chực đầy ngoài cửa ngôi nhà nhỏ xíu nữa, Martha và tôi gói gém đồ đạc và chuyển đến căn hộ hai phòng của Yuki ở Crest Royal, một toà nhà cao tâng rất đảm bảo an toàn.
Mỗi ngày đội quân báo giới lại càng hùng mạnh và om sòm hơn. Báo chí cung cấp cho công chúng chi tiết về nguồn gốc, tình trạng kinh tế xã hội của tất cả những người được chọn vào bồi thẩm đoàn, và tất nhiên là buộc tội chúng tôi là phân biệt chủng tộc. Trên thực tế, tôi cảm thấy thật khó chịu khi nhìn hai bên chọn hay từ chối những bồi thẩm viên tiềm năng dựa trên thành kiến có thật hay tưởng tượng về tôi. Khi chúng tôi liên tiếp từ chối 4 người da đen và Mỹ Latinh, tôi nói điều đó với Yuki khi chúng tôi nghỉ giải lao.
— Không phải chính cô hôm vừa rồi vừa kể cho tôi nghe bị phân biệt chỉ vì chủng tộc là thế nào sao?
— Đây không phải là vấn đề chủng tộc, Lindsay ạ. Những người chúng tôi từ chối đều có thành kiến với cảnh sát. Đôi khi người ta không nhận thức được quan điểm của chính mình cho đến khi chúng tôi hỏi họ. Trong một vụ án lớn như thế này, nhiều người nói dối chỉ để có 15 phút nổi tiếng...
— Chúng ta đang tiến hành quá trình chọn lọc bồi thẩm đoàn bởi vì chúng ta có quyền làm vậy. Hãy tin chúng tôi. Nếu chúng ta không chơi quyết liệt, chúng ta sẽ thua ngay từ trận đầu.
Cũng ngày hôm đó, bên phe đối lập kiên quyết loại bỏ hai công chức nhà nước người da trắng - hai người phụ nữ có lẽ đã nhìn tôi một cách trìu mến - như thể tôi là con gái họ vậy.
Cuối cùng, không bên nào hài lòng nhưng đều chấp nhận 12 người cả phụ nữ, đàn ông và ba người dự bị. Vào hai giờ chiều ngày thứ ba, Mason Broyles đứng dậy để đọc bài diễn văn mở đầu.
Trong cơn ác mộng khủng khiếp nhất, tôi cũng không thể tưởng tượng nổi rằng một con người thiếu phẩm cách như vậy lại có thể đại diện cho nhà Cabot trong vụ án chống lại tôi.
Mason Broyles nom như thể đêm trước đó ông ta đã được ngủ đủ 8 tiếng đồng hồ. Da dẻ ông ta căng mọng, bộ vét Armani màu xanh thẫm. Áo sơ mi xanh nhạt được hồ cứng và rất hợp với màu mắt của ông ta. Ông ta đứng dậy và không cần cầm giấy, hướng về phía thẩm phán và bồi thẩm đoàn.
— Thưa Quý toà. Quý ông quý bà bồi thẩm đoàn. Để có thể hiểu được chuyện gì đã xảy ra hôm mồng mười tháng Năm, chúng ta phải tìm hiểu tâm trí của hai đứa trẻ vừa chợt nảy ra một ý tưởng. Bố mẹ không có nhà. Chúng tìm thấy chìa khoá chiếc Mercedes mới cứng của bố và quyết định phóng đi chơi. Điều đó là không đúng, nhưng chúng là trẻ em. Sara 15 tuổi. Sam Cabot, một học sinh lớp 8, mới chỉ có 13.
Broyles quay từ phía bồi thẩm đoàn sang nhìn thân chủ của ông ta như thể muốn nói, Hãy nhìn những người này. Hãy nhìn những gương mặt của những con người phải chịu mất mất vì sự tàn ác của cảnh sát.
Broyles quay về phía bồi thẩm đoàn và tiếp tục bài diễn văn.
— Đêm hôm đó Sara Cabot ngồi sau tay lái. Hai chị em nhà Cabot lái xe trong một khu dân cư phức tạp, một nơi có nhiều tội phạm mà chúng ta biết đến dưới tên gọi Quận Tenđerloin, và chúng đang lái một chiếc xe rất đắt tiền. Không dưng một chiếc xe bắt đầu rượt đuổi chúng. Quý vị sẽ được nghe Sam Cabot nói với quý vị rằng chiếc xe cảnh sát trong vụ rượt đuổi làm hai chị em cháu hoảng sợ. Tiếng còi cảnh sát hú rất to. Đèn trên xe nháy thắp sáng cả khu phố như một sàn nhảy dưới địa ngục.
— Nếu Sara Cabot có ở đây, cháu sẽ làm chứng rằng cháu sợ chiếc xe đang đuổi hai chị em đến nỗi cháu chạy trốn, không điều khiển được chiếc xe và bị đâm. Cháu sẽ nói rằng khi cuối cùng cháu nhận thức được rằng đang bị cảnh sát rượt đuổi, cháu sợ chết khiếp bởi vì cháu đã chạy trốn họ , bởi vì cháu đã làm hỏng xe của bố, bởi vì cháu đang lái xe mà không có bằng. Và bởi vì em trai của cháu bị thương trong lúc xe bị đâm. Và cháu sợ bởi vì cảnh sát có súng.
— Nhưng Sara Cabot, đứa trẻ đã nhảy cóc hai lớp, một cô bé với chỉ số IQ là 160 và một tương lai bất tận ở phía trước, không thể nói được gì - bởi vì cháu đã chết. Cháu chết bởi vì bị cáo, Trung úy Lindsay Boxer, đã nhận định tình huống sai một cách thê thảm và bắn Sara hai phát vào tim. Trung uý Boxer cũng bắn Sam Cabot, một đứa trẻ mới ở độ tuổi thiếu niên, một cậu học sinh thông minh, được bè bạn quý mến, đội trưởng đội bóng chày, một nhà vô địch bơi lội, một nhà thể thao xuất chúng.
— Sam Cabot sẽ không bao giờ được chơi bóng hay bơi nữa. Cũng không bao giờ có thể đứng lên hay đi dạo tự mình mặc quần áo hay tự mình tắm rửa. Sam thậm chí còn không bao giờ có thể cầm một chiếc dĩa ăn hay một cuốn sách trong tay.
Tiếng thở nghèn nghẹn lan ra khắp phòng xử án khi bức tranh bi thảm mà Broyles vẽ lên đọng lại trong tâm trí mọi người. Broyles đứng một lúc lâu trong cái vòng tròn ông ta tự tạo ra xung quanh mình và những thân chủ bị mất mát, một kiểu câu thời gian để đẩy lùi thực tế, đẩy lùi sự thật mà ông ta đã từng lão luyện trong hàng mấy chục năm làm luật sư kiện tụng số một.
Ông ta đút tay vào túi, để lộ dây đeo quần màu xanh lục, đưa mắt nhìn xuống mũi đôi giầy đen bóng nhoáng như thể chính ông ta cũng bị choáng váng vì tấn bi kịch ghê rợn mà ông ta vừa mô tả.
Trông ông ta gần như đang cầu nguyện tuy tôi dám chắc đó là điều ông ta không bao giờ làm.
Tất cả những gì tôi có thể làm là ngồi đó, im lặng, mắt nhìn vào gương mặt bất động của thẩm phán, cho đến khi Broyles tha cho chúng tôi và quay lại nhìn bồi thẩm đoàn.
Đã đến lúc cao trào của bài phát biểu, ông ta nói nhanh hơn và nặng nề hơn.
— Thưa quý vị, quý vị sẽ được biết rằng đêm xảy ra vụ việc, Trung uý Boxer không có phiên trực và rằng cô ta đã uống rượu. Nhưng cô ta vẫn quyết định thi hành nhiệm vụ của cảnh sát và bắn súng.
— Quý vị cũng sẽ được nghe là Sara và Sam Cabot có súng. Thực tế là Trung úy Boxer có đủ kinh nghiệm để có thể tước vũ khí của hai đứa trẻ đang khiếp sợ, nhưng đêm hôm đó cô ta đã không làm đúng theo quy định. Không theo bất kỳ một quy định nào.
— Và vì vậy Trung uý Boxer phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Sara Cabot, một cô gái trẻ mà tương lại xán lạn đã bị huỷ hoại chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Và Trung uý Boxer cũng phải chịu trách nhiệm vì đã làm Sam Cabot bại liệt cho đến cuối đời.
— Chúng tôi yêu cầu quý vị sau khi đã nghe những lời khai sẽ kết luận Trung uý Lindsay Boxer phạm tội lạm dụng quyền hạn và không làm theo quy định cảnh sát dẫn đến cái chết vô lý của Sara Cabot và làm Sam Cabot bị liệt.
Vì tổn thất không thể cứu vãn nỗi này, chúng tôi yêu cầu quý vị bồi thường thân chủ của tôi 50 triệu đô la để thanh toán tiền thuốc men cho Sam Cabot đến cuối đời, vì sự đau đớn và chịu đựng của cậu bé, và vì sự thống khổ của gia đình.
Chúng tôi đòi thêm 100 triệu nữa để phạt sở cảnh sát này và bất kỳ sở cảnh sát nào khác trên toàn đất nước để họ biết đây là một hành vi không thể chấp nhận được.
— Rằng say rượu thì đừng có kiểm soát các đường phố của chúng ta.
Khi tôi nghe ông ta tả về Sam Cabot, thằng em tâm thần giết người không gớm tay, như một người hùng thể thao, tôi gần như nôn mửa. Tôi nghĩ, vô địch bơi lội ư? Đội trưởng đội bóng ư? Điều đó thì liên quan quái gì đến những án mạng nó đã gây ra hay những viên đạn nó đã bắn vào Warren Jacobi?
Tôi cố giữ vẻ ngoài trung lập khi Yuki đứng dậy và bắt đầu.
— Tối mồng mười tháng năm là một tối thứ sáu, ngày kết thúc một tuần làm việc cực nhọc của Trung uý Boxer - Yuki bắt đầu, giọng nói nhẹ nhàng, du dương của cô ấy vang lên trong phòng. - Hai thanh niên đã bị giết ở Tenderloin, và Trung uý Boxer bị chấn động mạnh bởi sự dã man và vì thiếu bằng chứng pháp lý vững vàng.
Yuki bước tới nơi bồi thẩm đoàn ngồi và để bàn tay lên lan can, nhìn thẳng vào từng thành viên của bồi thẩm đoàn. Họ dõi theo cô gái mảnh khảnh với khuôn mặt hình trái tim và đôi mắt nâu sáng ngời, đang hào hùng phát biểu.
— Là sỹ quan chỉ huy của Đội điều tra án mạng, Trung uý Boxer chịu trách nhiệm điều tra tất cả các vụ án. Nhưng vụ án này đặc biệt làm cô ấy hoang mang vì các nạn nhân vẫn còn ở tuổi thiếu niên.
— Trong đêm hôm đó - Yuki tiếp tục, Trung uý Boxer không có phiên trực, đang uống một vài chén trước bữa tối với mấy người bạn, rồi cô ấy nhận được điện thoại của Warren Jacobi, thanh tra cấp một. Thanh tra Jacobi đã từng là đồng sự của Trung uý Boxer, và bởi vì đây là một vụ án đặc biệt, họ phải hợp tác cùng nhau.
Thanh tra Jacobi sẽ ra làm chứng rằng anh ấy đã gọi Trung uý Boxer để nói với cô ấy rằng manh mối của họ - một chiếc Mercedes-Benz được nhìn thấy ở gần khu vực nơi xảy ra cả hai án mạng - đã lại xuất hiện ở phía nam phố Market.
— Rất nhiều người ở vào trường hợp của Trung úy Boxer sẽ nói, - Quên đi. Tôi hết ca trực rồi. Tôi không muốn ngồi cả đêm trong xe cảnh sát. Nhưng đây là vụ án của Trung uý Boxer, và cô ấy muốn ngăn bất kỳ ai đã giết hai cậu bé trước đó tiếp tục hành động.
— Khi Trung uý Boxer vào xe với Thanh tra Jacobi, cô đã nói với anh ta là cô có uống rượu nhưng điều đó không ảnh hưởng gì tới khả năng của cô ấy.
— Quý vị, bên nguyên sẽ dùng từ say rất nhiều lần. Nhưng họ đang bóp méo sự thât.
— Phản đối, Thưa Quý toà. Không có cơ sở.
— Bãi bỏ. Xin ông ngồi xuống, ông Broyles.
— Trên thực tế - Yuki nói, đứng chính diện trước mặt bồi thẩm đoàn, - trung úy đã uống vài chén. Cô ấy không bị say, không lảo đảo, không nói năng lắp bắp, không mất lý trí.
— Và Trung uý Boxer không lái xe. Những ly rượu cô ấy uống hoàn toàn không can hệ gì đến những sự kiện đã diễn ra đêm hôm đó.
— Người cảnh sát này bị buộc tội đã dùng súng công bắn dã man một cô bé. Nhưng các vị đã biết rằng Trung uý Boxer không phải là người duy nhất có súng trong tay. Những nạn nhân - Yuki đưa ngón tay lên thể hiện cho dấu ngoặc - không chỉ mang súng, mà chúng còn bắn trước với mục đích giết người.
Mason Broyles đứng phắt dậy đầy căm phẫn.
— Phản đối, Thưa quý toà. Luật sư bào chữa đang nhạo báng các nạn nhân và cô ấy đang vi phạm quy định. Sam và Sara Cabot không bị xử ở phiên toà này. Trung uý Boxer mới là người bị xét xử.
— Ồ, lẽ ra cô ấy không phải bị xét xử - Yuki nói, tiếp tục áp đảo. - Thân chủ tôi không làm điều gì sai trái cả. Bất kỳ một điều gì. Cô ấy ở đây bởi vì bên nguyên đang đau đớn và họ muốn có người phải trả giá cho mất mát của họ, dù đúng dù sai.
— Phản đối! Quý toà! Không có cơ sở.
— Chấp nhận. Cô Castellano, xin cô hãy dành lập luận của cô đến phần tổng kết.
— Vâng, quý toà. Tôi xin lỗi. Yuki đi về phía bàn và nhìn vào ghi chép của mình, rồi quay ngoắt lại như thể cô ấy chưa từng bị ngắt lời.
— Vào đêm mà chúng ta đang nói tới, những đứa trẻ gương mẫu nhà Cabot đã chạy trốn cảnh sát, lái xe bừa bãi 75 dặm một giờ trên những đường phố đông nghẹt người, không hề quan tâm đến an toàn công cộng: đó là một trọng tội. Chúng có súng - lại thêm một tội nữa - và sau khi Sara Cabot đã đâm hỏng xe của bố, nó và em trai đã được hai người cảnh sát tận tâm, súng để trong bao giúp đỡ để có thể ra khỏi chiếc xe hỏng, hai người cảnh sát đang làm nghĩa vụ của mình là phục vụ và bảo vệ, và trên hết thảy là giúp đỡ.
— Quý vị sẽ được nghe lời khai của một chuyên gia đạn dược của cảnh sát kết luận những viên đạn lấy từ trong người Trung úy Boxer và Thanh tra Jacobi được bắn từ súng của Sara Cabot và Sam Cabot. Và quý vị sẽ nhận thấy Sara và Sam Cabot đã bắn hai người cảnh sát này hoàn toàn vô cớ.
— Trong đêm hôm đó, khi Trung úy Boxer nằm trên đất, mất gần 1/3 lượng máu trong cơ thể và gần chết, cô ấy đã ra lệnh cho bên nguyên bỏ vũ khí xuống, nhưng chúng đã không làm vậy. Thay vào đó, Sara Cabot bắn thêm ba phát nữa, may mắn đã không trúng thân chủ tôi.
— Đến lúc đó Trung úy Lindsay Boxer mới bắn trả.
— Nếu bất kỳ một ai khác - một chủ ngân hàng, một người thợ làm bánh, thậm chí một người chơi lô đề - bắn một ai đó để tự vệ, chúng ta sẽ không phải lập một phiên toà. Nhưng nếu một cảnh sát tự bảo vệ thân mình, tất cả đều muốn cô ấy phải trả giá.
— Phản đối!
Nhưng đã quá muộn để phải đối. Tiến sỹ Andrew Cabot với nét mặt sắt đã phá tan sự chịu đựng, ông ta nhẩy lên và tiến về phía Yuki như thể ông ta muốn bóp cổ cô ấy. Mason Broyles ngăn thân chủ của mình lại, cả phòng xử án nhốn nháo bất chấp cả tiếng búa đập liên tục của Thẩm phán Achacoso.
— Tôi đã phát biểu xong, thưa quý toà - Yuki nói.
— Ồ không, cô còn chưa xong đâu. Tôi sẽ không để phiên toà này trở thành cái chợ đâu. Chấp hành viên, hãy cho bãi toà. Tôi sẽ gặp cả hai luật sư trong văn phòng - thẩm phán nói.
Khi phiên toà tiếp tục, đôi mắt của Yuki long lanh. Tôi có cảm giác như với cô ấy sự quở trách của thẩm phán không thấm vào đâu so với những gì cô ấy giành được trong bài phát biểu mở đầu của mình.
Broyles cho mời những nhân chứng đầu tiên: Betty D'Angelo, cô y tá trực cấp cứu đã chăm sóc tôi hôm tôi bị bắn. D'Angelo miễn cưỡng nhắc lại những gì cô ấy đã nói trong phiên toà sơ thẩm - rằng mức cồn trong máu của tôi là .067, rằng cô ấy không thể nói rằng tôi bị say, mà .067 chỉ được coi là bị ảnh hưởng.
Tiếp đến, Broyles mời bạn của tôi, Bác sỹ Claire Washbum. Ông ta nêu chức danh bác sỹ pháp y trưởng của thành phố của cô ấy, và rằng cô ấy đã khám nghiệm tử thi của Sara Cabot.
— Bác sỹ Washbum, cô có thể xác định nguyên nhân cái chết của Sara Cabot không?
Dùng một hình vẽ cơ thể người, Claire chỉ ra những viên đạn đã bắn vào người Sara Cabot ở chỗ nào.
— Vâng. Tôi tìm thấy hai vết thương do bị súng bắn ở ngực. Phát súng A xuyên qua ngực trái ở phía trên, ngay tại đây. Viên đạn xuyên qua khoang ngực của Sara Cabot giữa xương sườn trái số ba và bốn, xuyên thẳng qua thuỳ phổi trái, đi vào màng tim, xé rách tâm thất, và dừng lại ở ngực phía bên trái.
— Phát súng thứ hai. Claire nói, dùng gậy chỉ lên hình vẽ, - xuyên qua xương ức, dưới vai trái khoảng 12 cm. Viên đạn xuyên thẳng qua tim, dừng lại ở dốt sống số 4.
Thành viên bồi thẩm đoàn đờ đẫn khi nghe những phát súng của tôi đã huỷ hoại trái tim của Sara, nhưng khi Broyles kết thúc thẩm vấn, Yuki đã sẵn sàng đối chất Claire.
— Cô có thể nói cho chúng tôi biết góc bắn của những viên đạn không? - Yuki hỏi.
— Phát súng bắn ngược lên từ một điểm cách mặt đất khoảng hơn chục mét.
— Bác sỹ, Sara Cabot có chết ngay không?
— Có.
— Ý cô nói là Sara đã chết và cô ấy không thể bắn ai được đúng không?
— Quá chết ư thưa cô Castellano? Theo như tôi được biết, chết chỉ có một kiểu thôi.
Yuki đỏ mặt. - Để tôi hỏi lại. Với trường hợp là Trung uý Boxer bị bắn hai phát từ súng của Sara, vậy có nghĩa là Sara Cabot bắn trước - bởi vì cô ấy đã chết ngay lập tức sau khi Trung uỷ Boxer bắn cô ấy.
— Vâng, Cô Cabot chết ngay sau khi bị bắn.
— Thêm một câu hỏi nữa - Yuki nói, nghe như thể đó chỉ là ý nghĩ vừa chợt đến với cô ấy. - Cô có làm xét nghiệm máu cho cô Cabot không?
— Có. Vài ngày sau khi khám nghiệm tử thi.
— Và cô đã tìm thấy gì?
— Trong người Sara Cabot có hàm lượng mêtaphêtamin.
— Có cao không?
— Chúng tôi không dùng từ cao trong y khoa, nhưng đúng, cô ấy có 0,23 miligam hàm lượng mêtaphêtamin trên một lít máu. Và như vậy là cao.
— Thế tác động của mêtaphêtamin như thế nào? - Yuki hỏi Claire.
— Mêtaphetamin là một chất kích thích hệ thần kinh chủ rất mạnh gây nên hàng loạt tác động. Tác động tích cực là cảm giác vui sướng dồn dập, nhưng những người sử dụng chất này lâu sẽ gặp phải những tác động tiêu cực, trong đó có bao gồm cả hoang tưởng và ý muốn giết người hoặc tự tử.
— Thế còn hành động giết người?
— Chắc chắn.
— Cảm ơn, Bác sỹ Washbum. Tôi đã hỏi xong nhân chứng, thưa quý toà.
Tôi phấn chấn khi Claire bước xuống, nhưng không được lâu.
Tôi nghe tiếng Mason Broyles gọi Tiến sỹ Robert Goldman, và khi người đàn ông tóc nâu, để ria mép trong bộ quần áo màu xanh sáng đã thề xong, ông ta bắt đầu nói về những vết thương kinh khủng mà những phát súng của tôi đã gây ra cho Sam.
Sử dụng một hình vẽ giống như hình vẽ Claire đã dùng, Bác sỹ Goldman chỉ ra rằng viên đạn đầu tiên của tôi đã xuyên qua khoang bụng của Sam, dừng lại ở đốt sống số 8, nơi nó vẫn còn nằm lại.
— Viên đạn đó đã làm Sam bị liệt từ thắt lưng xuống - bác sỹ nói, ấn nhẹ lên ria mép. Viên thứ hai xuyên vào cuống họng, qua đốt xương số ba, làm bại liệt toàn bộ cơ thể từ cổ trở xuống.
— Bác sỹ - Broyles hỏi. - Liệu Sam Cabot có bao giờ còn đi lại được nữa không?
— Không.
— Cậu ta có bao giờ có thể hoạt động tình dục được không?
— Không.
— Có bao giờ còn được tự thở hoặc hưởng thụ cuộc sống một cách trọn vẹn được nữa không?
— Không.
— Cậu ta sẽ ngồi xe đẩy mãi mãi đúng không?
— Nhân chứng là của cô - Broyles nói với Yuki khi ông ta quay về chỗ ngồi.
— Tôi không có câu hỏi nào cho nhân chứng này, Yuki nói.
— Bên nguyên cho gọi Sam Cabot - Broyles nói.
Tôi quay sang lo lắng nhìn Yuki rồi cả hai cùng quay về phía cuối phòng, cửa bật mở, và một cô gái phục vụ trẻ bước vào đẩy một cái xe đẩy, loại crôm bóng loáng của hãng Jenkinson Supreme, một Cadillac của hàng xe đẩy.
Sam Cabot nom tiều tuỵ và teo tóp trong chiếc áo thể thao thiếu niên, đeo ca vát, hoàn toàn không giống với hình ảnh một quái vật xấu xa đã giết hai người để mua vui trước khi bắn hạ Jacobi. Ngoại trừ cái nhìn cay độc trong mắt, tôi hoàn toàn không thể nhận ra thằng bé.
Sam liếc đôi mắt màu nâu về tôi, và trái tim tôi đập thình thịch đầy kinh hoàng, tội lỗi và thậm chí cả xót thương.
Tôi nhìn xuống cái máy hô hấp đang chạy vù vù ngay dưới chân ghế chiếc xe của Sam.
Đó là một cái hộp kim loại có máy đo và hộp số và một ống khí nhựa uốn từ dưới máy lên kẹp ngay dưới má trái của Sam.
Một cái hộp nhỏ trợ ngôn bằng điện được đặt trước miệng thằng bé.
Sam ngậm môi quanh ống khí. Một tiếng hút rùng rợn phát ra từ máy hô hấp khi không khí được đẩy vào phổi. Đó là tiếng động cứ ba đến bốn giây lại phát ra một lần, mỗi khi Sam Cabot hít thở.
Tôi nhìn người phục vụ đẩy Sam đến trước ghế nhân chứng.
— Quý toà - Mason Broyles nói, vì không biết Sam sẽ phải trả lời thẩm vấn trong vòng bao nhiêu lâu, chúng tôi xin được cắm máy vào ổ điện để nạp pin.
— Tất nhiên rồi - thẩm phán nói.
Nhân viên kỹ thuật kéo sợi dây điện màu cam vào ổ cắm dưới chân tường và ngồi xuống sau Andrew và Eva Cabot.
Tôỉ không còn tâm trí nhìn đi đâu khác ngoài nhìn vào Sam.
Cổ nó cứng đờ, và đầu nó được buộc ra sau ghế bằng một vòng điện quấn qua trán. Trông nó giống như một hình thức tra tấn từ thời trung cổ, và tôi biết chắc chắn là Sam cũng cảm thấy như vậy.
Người chấp hành viên, một người đàn ông cao lớn trong bộ quân phục màu xanh tiến đến chỗ Sam.
— Xin hãy nhấc tay phải lên.
Sam Cabot đưa mắt nhìn hỗn loạn từ trái sang phải. Thằng bé hít vào vài hơi thở và nói vào chiếc hộp nhỏ màu xanh. Giọng nói phát ra là một tiếng động nhân tạo kỳ quái và căng thẳng.
— Tôi không thể - Sam nói.
Giọng nói của Sam không còn có tính người, nhưng khuôn mặt non trẻ của thằng bé và thân hình nhỏ bé mảnh khảnh trông còn mong manh và yếu ớt hơn bất kỳ ai có mặt trong phiên toà hôm đó. Những người trong phòng thì thào thương cảm khi chấp hành viên quay sang Thẩm phán Achacoso.
— Quý toà?
— Hãy giúp nhân chứng tuyên thệ, chấp hành viên.
— Anh có thề sẽ chỉ nói sự thật, có Chúa chứng giám không?
— Tôi xin thề - Sam Cabot nói.
Broyles cười nhìn Sam, để thẩm phán có đủ thời gian nghe, nhìn và cảm nhận được sự đau đớn của Sam Cabot và tưởng tượng cuộc sống của thằng bé đã biến thành địa ngục thế nào.
— Đừng căng thẳng - Broyles nói với Sam. - Cứ nói sự thật. Hãy nói cho chúng tôi điều gì đã xảy ra đêm hôm đó, Sam.
Broyles hỏi Sam vài câu hỏi để khởi động, chờ cho cậu bé ngậm quanh cái vòi khí. Câu trả lời của thằng bé đứt quãng, tuỳ thuộc vào lượng không khí thằng bé hít vào phổi rồi mới có thể tiếp tục nói.
Broyles hỏi Sam nó bao nhiêu tuổi, sống ở đâu, học trường nào, trước khi đi vào trọng tâm của buổi thẩm vấn.
— Sam, cháu có nhớ những điều xảy ra đêm mồng mười tháng năm không?
— Cháu không bao giờ có thể quên được... cho đến khi cháu chết - Sam nói, hít không khí từ cái ống, nói qua cái hộp. - Đó là tất cả những gì cháu nghĩ tới... và cho dù cháu có cố đến mấy... cháu cũng không thể gạt nó ra khỏi đầu được... Đó là cái đêm cô ta giết chị cháu... và cũng phá huỷ cả cuộc đời cháu.
— Phản đối, Thưa quý toà - Yuki đứng lên nói.
— Cậu bé - thẩm phán nói, Tôi biết việc này rất nặng nề, nhưng hãy cố găng tập trung vào trả lời câu hỏi.
— Sam, chúng ta hãy tiếp tục - Mason Broyles nói dịu dàng, - Cháu có thể nói cho chúng tôi biết những sự kiện xảy ra đêm hôm đó, và xin cháu hãy kể từng bước một.
— Rất nhiều việc đã xảy ra - Sam nói. Thằng bé hút cái ống và tiếp tục. - Nhưng cháu không nhớ... tất cả. Cháu biết chúng cháu lấy xe của bố... chúng cháu sợ... Sara không có bằng lái. Rồi túi khí bật ra... Tất cả những gì cháu nhớ... là nhìn thấy một người phụ nữ... bắn Sara... Cháu không biết tại sao cô ta lại làm thế.
— Không sao cả, Sam, không sao cả.
— Cháu nhìn thấy cái gì đó loé lên - thằng bé tiếp tục, mắt nó dán chặt vào tôi. - Rồi chị cháu... chị ấy đã chết.
— Được rồi. Chúng ta đều biết điều đó. Bây giờ, Sam. Cháu có nhớ Trung uý Boxer bắn cháu lúc nào không?
Trong phạm vi cái dây treo quanh đầu, Sam lắc đầu. Rồi nó oà khóc. Tiếng khóc xé tim gan của nó bị ngắt quãng bởi tiếng hút không khí và được tăng âm bởi cái máy phát tiếng.
Đó là một tiếng động khủng khiếp, không giống bất kỳ thứ gì tôi từng được nghe. Sống lưng tôi ớn lạnh và tôi dám chắc là tất cả mọi người cũng vậy.
Mason Broyles nhanh chóng bước đến chỗ thân chủ của mình, rút khăn mùi xoa ra khỏi túi áo ngực, lau mắt và mũi cho Sam.
— Cháu có cần nghỉ không, Sam?
— Không... cháu ổn - thằng bé the thé nói.
— Nhân chứng là của cô, luật sư bào chữa - Mason Broyles nói, ném về phía chúng tôi cái nhìn đầy thách thức.
Yuki tiến tới kẻ giết người 13 tuổi, với bề ngoài còn trẻ hơn và đáng xót thương hơn khi giờ đây mặt nó đỏ ửng vì khóc.
— Cháu có cảm thấy khá hơn không, Sam? - Yuki hỏi, đặt tay lên đầu gối và cúi xuống một chút để mắt cô ấy cùng với tầm nhìn của Sam.
— Cháu ổn... - Sam nói.
— Rất mừng được nghe cháu nói vậy - Yuki nói, đứng lên, lùi lại vài bước. - Cô sẽ cố hỏi cháu ngắn gọn. Cháu làm gì ở Quận Tenderloin ngày mồng 10 tháng 5?
— Cháu không biết... thưa cô... Sara lái xe.
— Xe của các cháu đỗ ngoài khách sạn Balboa. Để làm gì?
— Bọn cháu mua báo... cháu nghĩ thế... Bọn cháu đang chuẩn bị đi xem phim.
— Cháu nghĩ là trong Balboa có quầy bán báo à?
— Cháu nghĩ thế.
— Sam, cháu có hiểu nói thật và nói dối khác nhau thế nào không?
— Cháu hiểu, tất nhiên.
— Và cháu biết là cháu đã thề sẽ nói thật?
— Vâng.
— Được. Vậy cháu có thể nói cho tất cả biết tại sao đêm hôm đó cháu và Sara lại mang súng theo người không?
— Đấy là... súng của bố - thằng bé nói. Nó ngừng lại để thở và có lẽ cả để suy nghĩ. - Cháu lấy súng từ ngăn kéo... bởi vì cháu nghĩ là những người kia... sẽ giết chúng cháu.
— Cháu không biết là cảnh sát ra lệnh cho bọn cháu dừng xe lại à?
— Cháu sợ... cháu không lái xe, và... tất cả mọi việc xảy ra quá nhanh.
— Sam, đêm hôm đó cháu có dùng thuốc lắc không?
— Sao cơ ạ?
— Thuốc kích thích ấy mà. Cháu biết đấy - thuốc lắc, kẹo, ma tuý.
— Cháu không dùng ma túy.
— Cô hiểu rồi. Cháu có nhớ tai nạn xe không?
— Cháu không nhớ rõ lắm.
— Cháu có nhớ Trung úy Boxer và Thanh tra Jacobi giúp cháu ra khỏi xe sau khi xe bị đâm không?
— Không, bởi vì trong mắt cháu đầy máu... Mũi cháu bị gãy... Tự nhiên... cháu nhìn thấy súng, và điều tiếp theo là... họ bắn bọn cháu.
— Cháu có nhớ đã bắn Thanh tra Jacobi không? - Đôi mắt thằng bé trợn tròn. Nó ngạc nhiên với câu hỏi chăng? Hay nó đang nhớ lại khoảnh khắc ấy?
— Cháu nghĩ là ông ta định làm hại cháu - cuối cùng Sam thốt lên.
— Vậy tức là cháu có nhớ đã bắn ông ta?
— Ông ta định bắt cháu mà.
Yuki vẫn không chịu buông tha và chờ đến khi Sam hít đầy một phổi không khí.
— Sam. Tại sao cháu lại bắn Thanh tra Jacobi?
— Không. Cháu không nhớ... đã làm thế.
— Nói cho cô biết: Cháu có bác sỹ tâm lý không?
— Có, bởi vì cháu đang trải qua một thời kỳ khó khăn. Bởi vì cháu bị liệt... và bởi vì bà kia đã giết chết chị cháu.
— Được, để cô hỏi cháu về chuyện đó. Cháu nói là Trung uý Boxer đã giết chị cháu. Cháu có thấy chị cháu bắn Trung uý Boxer trước không? Cháu có thấy trung úy nằm trên mặt đường không?
— Cháu không nhớ.
— Sam, cháu có nhớ là cháu đã thề không?
— Cháu nói thật - nó nói và lại oà khóc.
— Được. Cháu đã bao giờ vào trong khách sạn Lorenzo chưa?
— Phản đối, quý toà. Việc này sẽ dẫn tới đâu?
— Cô Castellano?
— Tôi Sẽ giải thích trong vòng một tích tắc nữa thưa quý toà. Tôi chỉ còn một câu hỏi nữa thôi.
— Vậy cô có thể tiếp tục.
— Sam, có đúng là hiện tại cháu đang là nghi phạm chính trong nhiều vụ giết người không?
Sam quay đầu vài độ từ phía Yuki và thì thào bằng giọng nói nhân tạo xé ruột, - ông Broyles.
Giọng nói của Sam yếu dần khi phổi nó hết không khí.
— Phản đối! Không có cơ sở, thưa quý toà - Broyles hét lên át tiếng xì xào đang lan khắp phòng và tiếng búa của Thẩm phán Achacoso.
— Tôi muốn xoá câu hỏi ra khỏi hồ sơ - Broyles hét lên, - và tôi yêu cầu Quý toà chỉ đạo bồi thẩm đoàn không để ý đến câu hỏi...?
Trước khi thẩm phán kịp ra quyết định, mắt Sam đảo điên cuồng.
— Tôi có quyền không phải trả lời - thằng bé nói, hít thêm một hơi thở trước khi nói thêm một lần nữa. - Sửa đổi số 5 của Hiến pháp cho phép tôi không phải trả lời...
Và ngay tiếp đó là một tiếng còi báo động inh tai phát ra từ phía dưới chiếc xe đẩy. Từ dưới những người tham dự phiên toà và từ phía bồi thẩm cất lên những tiếng hét thất thanh khi khí cụ đo trên máy tụt xuống không.
Andrew Cabot nhảy lên khỏi ghế, đẩy người phục vụ lên trước.
— Làm gì đi chứ! Làm gì đi!
Tất cả đồng thanh thở phào khi người nhân viên kỹ thuật quỳ xuống, vặn nút và điều chỉnh lại ống thở. Cuối cùng, tiếng động tắt.
Một tiếng hút vang lên khi Sam hít không khí vào.
Rồi tiếng ồ nhẹ nhõm của tất cả vang lên.
— Tôi đã hỏi xong nhân chứng này - Yuki nói, hét lên át tiếng ồn từ đầu đến cuối phòng.
— Phiên toà tạm hoãn - Thẩm phán Achacoso nói, đập búa. - 9 giờ sáng mai chúng ta sẽ tiếp tục.
Khi trong phòng xử án đã không còn ai, Yuki di chuyển vóc dáng 1,57m đến chỗ thẩm phán.
— Thưa quý toà! Xin hãy huỷ bỏ một phiên toà sai trái - cô ấy nói.
Thẩm phán vẫy cô ấy tới gần, cô ấy và Mickey cũng như Broyles và người cộng sự bước lên phía trước.
Tôi nghe tiếng Yuki nói, - Bồi thẩm đoàn chắc chắn sẽ phải có thành kiến về tiếng báo động kinh khủng kia.
— Cô không có ý định buộc tội bên nguyên cố tình sắp đặt cái tiếng báo động kinh khủng kia đấy chứ? thẩm phán hỏi.
— Không, tất nhiên là không rồi, thưa Quý toà.
— Ông Broyles?
— Xin lỗi quý toà vì cách dùng từ của tôi, nhưng những việc như thế vẫn có lúc xảy ra và điều mà bồi thẩm đoàn vừa chứng kiến là một nét thường nhật trong cuộc sống của Sam. Nhiều lúc máy thở hỏng và thằng bé có thể chết. Bồi thẩm đoàn đã nhìn thấy điều đó. Tôi không nghĩ điều đó làm vụ án của chúng ta trầm trọng hơn sự thật là Sam phải ngồi cái ghế đẩy đó và chị nó đã chết.
— Tôi đồng ý. Phiên toà sẽ tiếp tục, Cô Castellano ạ. Chúng ta sẽ bắt đầu lại sáng mai theo đúng dự định.
Tôi không biết ai bàng hoàng hơn ai, tôi hay Yuki. Chúng tôi đi về phía cầu thang bộ, gõ giầy lộp cộp xuống những bậc cầu thang xi măng và mở cửa ngách ra phố Polk, để Mickey ở lại với báo giới.
Yuki trông bàng hoàng - và mất thể diện.
— Lời khai của Sam còn hơn cả một cơn ác mộng - cô ấy nói, giọng ngắt quãng. - Khi tiếng chuông báo động hết reo, cả cơ thể tôi rã rời. Đúng như tất cả mọi người nghĩ, cô ta đã làm gì thằng bé vậy?
Chúng tôi chọn con đường vòng vèo và tẻ nhạt nhất để đến gara. Tôi phải vòng tay vào eo cô ấy để cô ấy không đi qua đường ngầm Van Ness ngược ánh sáng.
— Trời ơi - Yuki nói đi nói lại, lần nào tay cũng vung lên, lòng bàn tay giơ lên trời. Trời ơi, Trời ơi. Trò hề gì thế này. Đúng là một gánh xiếc!
— Nhưng Yuki - tôi nói, - cô đã đạt được điều mình muốn rồi mà. Cô đã nói lên tất cả. Bọn trẻ đỗ xe ở Tenderloin. Chúng làm gì ở đó. Chúng có súng. Cô đã nói rằng Sam là nghi phạm chính của một vụ giết người, và Sam sẽ bị buộc tội giết người.
— Dấu vân tay của nó có trên bồn tắm nơi đứa trẻ khốn khổ kia bị điện giật. Nó và Sara đã giết những đứa trẻ kia, Yuki à. Sam Cabot là một thảm hoạ. Bồi thẩm đoàn phải được biết điều đó.
— Tôi không nghĩ là họ biết. Tôi không được nói nó là nghi phạm bởi vì nó vẫn chưa bị buộc tội. Bồi thẩm đoàn có thể còn nghĩ là tôi bẫy thằng bé, cố tìm cách trêu gan một thằng bé tội nghiệp. Mà rõ ràng là tôi làm thế thật.
Chúng tôi đi qua Opera Plaza, một trung tâm với nhiều cửa hàng, hiệu sách, và rạp chiếu phim ở tầng trệt. Tránh cái nhìn của đám đông, chúng tôi đi thang máy xuống gara, và sau khi đi qua đi lại mấy lần giữa những hàng xe cuối cùng chúng tôi tìm thấy chiếc Acura của Yuki.
Chúng tôi chui vào xe, Yuki xoay chìa khoá và chiếc xe nổ máy. Tôi đã bắt đầu nghĩ tới ngày mai.
— Cô nghĩ tôi nên ra làm chứng chứ? - tôi hỏi người luật sư của mình.
— Tất nhiên rồi. Mickey và tôi hoàn toàn đồng tình ở điểm này. Chúng ta sẽ phải giành được cảm tình của bồi thẩm đoàn với cô. Và để làm được điều đó, những người này sẽ phải được thấy và được nghe để biết cô là người thế nào. Và đó là lý do tại sao cô phải ra làm chứng.
Sáng hôm sau, nhìn từ căn bếp nhỏ của Yuki phong cảnh thật ảm đạm, mây đen kéo đến đầy bầu trời báo hiệu một cơn giông lớn. Thật lạ, đây chính là San Francisco mà tôi vẫn hằng yêu mến, giông tố và bão bùng.
Tôi uống tách càfê và cho Martha ăn. Rồi chúng tôi xuống phố làm một cuộc dạo nhanh trên phố Jones.
— Phải nhanh lên, Boo, tôi nói, bắt đầu cảm thấy sương mù trong không khí. - Hôm nay sẽ có nhiều sự kiện lớn đấy. Mẹ sắp lên giàn hoả thiêu rồi.
Hai mươi phút sau, Mickey đi xe đến đón chúng tôi. Chúng tôi đến toà lúc 8 giờ kém 15, khôn khéo tránh được các đám đông chen chúc.
Trong phòng xử án B, Mickey và Yuki ngồi cạnh nhau và thì thầm bàn luận. Tay Yuki giơ lên lúng túng như những con chim nhỏ náo loạn. Còn tôi nhìn chằm chằm từ cửa sổ toà án xuống màn nước xối xả khi chiếc đồng hồ điện treo tường tích tắc những giây phút căng thẳng.
Có ai đó chạm vào tay tôi.
— Tôi phải nói thật, tiếng báo động là một trong những điều tệ hại nhất mà tôi từng gặp phải trong phòng xử án - Mickey với qua Yuki nói chuyện với tôi. Tôi không muốn nghĩ là Broyles đã sắp đặt chuyện đó, nhưng tôi cũng không dám lấy đầu mình ra đảm bảo là hắn đã không dùng thủ đoạn với cái dây điện.
— Ông không đùa đấy chứ?
— Tôi không biết, nhưng chúng ta phải kiểm soát thiệt hại. Bây giờ đến lượt chúng ta rút lá bài của mình, và chúng ta có hai thông điệp phải được nói ra. Thằng bé là một thảm hoạ ngay cả khi nó ngồi ghế điện, và cô là một cảnh sát cực kỳ.
— Nghe này, đừng lo về lời khai, Lindsay - Yuki thêm. - Nếu có sự chuẩn bị, cô sẽ không tự nhiên. Đến lúc cần, cứ kể lại toàn bộ câu chuyện. Cứ từ từ và dừng lại để suy nghĩ nếu có điều gì đó không chắc chắn. Và đừng nghĩ mình có tội. Cứ là người cảnh sát tuyệt vời ngoài đời thôi.
— Đúng - tôi nói. Và để chắc chắn hơn, tôi nhắc lại một lần nữa.
Quá sớm, những người đến xem chật ních phòng, áo khoác ướt mưa, một số người vẫn còn đang vẩy ô. Rồi bên nguyên vào và vứt cặp lên bàn. Broyles gật đầu chào xã giao, không giấu được sự vui mừng, ông ta đang như con cá trong nước. TV toà án. Mạng lưới truyền hình. Tất cả đều muốn nói chuyện với Mason Broyles.
Qua khoé mắt, tôi nhìn thấy Broyles bắt tay Andrew Cabot, hôn lên má Eva Cabot. Ông ta thậm chí còn giúp người phục vụ chỉnh lại ghế lăn của Sam cho vừa. Ông ta đã đạo diễn tất cả, thế thì việc gì lại không đạo diễn cả vụ hôm qua nữa?
— Ngủ ngon không, Sam? Tuyệt quá - Broyles nói với thằng bé.
Với tôi, cơn ác mộng lại bắt đầu.
Tiếng hít không khí cứ vài giây một lần của Sam qua ống thở thật đau đớn và nhắc tôi nhớ đến những gì mình đã làm khiến bản thân tôi cũng thấy khó thở.
Bỗng nhiên, cánh cửa ngách của phòng xử án mở và 12 con người chân chính cùng 3 bồi thẩm viên dự bị đi về phía chỗ ngồi của bồi thẩm đoàn và ngồi xuống. Thẩm phán, trong tay cầm một cốc càfê giấy, cũng ngồi xuống khi phiên toà bắt đầu.
Yuki nom bình tĩnh, đã lấy lại được phong độ và trông thật tuyệt trong bộ vét xám với dây chuyền ngọc trai, cho mời người trực tổng đài kỳ cựu Carla Reyes của chúng tôi ra làm chứng để bắt đầu phiên toà. Yuki hỏi Carla vài câu hỏi tổng quát về nhiệm vụ của cô ấy và về phiên trực của cô ấy hôm mồng 10 tháng 5.
Rồi cô ấy cho bật đoạn băng radio truyền tin đêm hôm đó: 4 phút rưỡi dài toàn tiếng tôi gọi về căn cứ cũng như những cuộc gọi radio từ các xe cảnh sát.
Đoạn băng bị đứt đoạn như bơm adrenalin vào dòng máu của tôi và đưa tâm trí tôi về lại đêm hôm đó trong quá khứ, đuổi theo những nghi phạm chưa biết trong chiếc Mercedes đen.
Giọng nói của Jacobi yêu cầu trợ giúp các hành khách trong chiếc xe bị đâm nát bị ngắt quãng bởi một tiếng súng, ngắt lời anh ấy ngay giữa câu.
Tôi thật sự đã giật mình trên ghế khi nghe tiếng súng nổ. Bàn tay tôi bắt đầu đẫm mồ hôi, và tôi thấy mình đang run rẩy.
Một lát sau, tôi nghe giọng nói lờ mờ của bản thân gọi xe cứu thương. - Hai cảnh sát bị hạ. Hai dân thường bị hạ. Và giọng nói lo lắng của Carla Reyes. - Trung úy, cô không sao chứ? Lindsay, trả lời tôi đi.
— Tôi thật sự nghĩ thế là tôi đã mất cô ấy. Carla nói với Yuki với tư cách là người làm chứng. - Cô ấy là một trong những cảnh sát giỏi nhất của chúng tôi.
Sau phản ứng thờ ơ của Mason, Yuki cho gọi nhân chứng tiếp theo của chúng tôi, Mike Hart bên Đạn đạo học, khẳng định lại là những viên đạn lấy ra từ người tôi đúng là từ súng của Sara và những viên lấy ra từ người Jacobi bắn từ khẩu súng tìm thấy bên người Sam Cabot.
Broyles không có câu hỏi nào cho Mike, vì vậy Yuki gọi Jacobi ra làm chứng.
Nước mắt dâng đầy mắt tôi khi người bạn lâu năm và đồng sự của tôi bước ra trước phòng. Jacobi đi lại khó khăn và anh đã sụt gầy đi nhiều. Anh phải cố gắng lắm mới có thể bước lên ghế ngồi dành cho nhân chứng.
Yuki chờ anh rót cho mình một cốc nước. Rồi cô ấy hỏi anh vài câu hỏi thông thường như anh làm cảnh sát được bao lâu rồi, làm ở Đội án mạng bao lâu rồi.
Rồi tiếp đó - Thanh tra Jacobi, anh biết Trung uý Boxer bao lâu rồi?
— Khoảng 7 năm.
— Trước cái đêm mà chúng ta đang nói tới đây anh có cơ hội làm việc cùng cô ấy không?
— Có. Chúng tôi đã từng là đồng sự trong ba năm.
— Anh đã từng ở trong tình thế phải dùng súng khi có mặt cô ấy chưa?
— Đã vài lần.
— Và anh nghĩ cô ấy phản ứng khi bị áp lực như thế nào?
— Cô ấy phản ứng rất tuyệt vời. Và cô biết không, mỗi lần đi ra tuần tra đường phố là một lần phải chịu áp lực, bởi vì không có gì cả bỗng chốc trở thành một cái gì đó mà không hề có tín hiệu nào báo trước.
— Thanh tra, khi anh gặp Trung uý Boxer đêm mồng 10 tháng 5, anh có ngửi thấy mùi rượu không?
— Không.
— Anh có biết là cô ấy đã uống rượu không?
— Có! Bởi vì cô ấy nói với tôi như thế.
— Tại sao cô ấy lại nói với anh về điều đó?
— Bởi vì cô ấy muốn tôi biết để nếu muốn tôi có thể đuổi cô ấy ra khỏi xe.
— Theo quan điểm của anh, sau từng ấy năm cùng nhau làm việc, anh nghĩ là lúc đó cô ấy có chỉ thị hành nhiệm vụ được không?
— Tất nhiên. Cô ấy lúc đó rất sắc sảo, đúng như con người của cô ấy vậy.
— Nếu cô ấy có biểu hiện không làm được việc, liệu anh có đi cùng cô ấy không?
— Tuyệt đối không.
Yuki cùng Warren trở lại đêm mồng 10, từ lúc anh đón tôi tại quán Susie cho tới điều cuối cùng anh còn nhớ.
— Tôi mừng vì đã lôi được bọn trẻ ra khỏi xe. Tôi sợ rằng bình xăng đang rỉ ra và chiếc xe có thể nổ bất kỳ lúc nào. Tôi đang nói chuyện với Carla Reyes, người trực tổng đài của chúng tôi và nói với cô ấy rằng Sam Cabot bị gẫy mũi vì túi khí đập vào mặt nó và rằng bọn trẻ có thể bị nội thương. Tôi đúng là chẳng biết gì cả.
— Tức là sao cơ Thanh tra?
— Đúng là tôi chẳng biết là trong lúc tôi đang gọi trợ giúp thì thằng nhãi đó đang chuẩn bị bắn tôi.
Mason Broyles phản đối, tất nhiên, và thẩm phán nhắc nhở Jacobi. Tôi hài lòng vì Jacobi đã đủ dũng khí để gọi Sam Cabot là thằng nhãi. Khi trật tự được lấy lại, Yuki có câu hỏi cuối cùng cho người cựu đồng sự của tôi.
— Thanh tra, anh có biết cách nhìn nhận của những người trong ngành cảnh sát về Trung uý Boxer không, và nếu có, cô ấy được nhìn nhận thế nào?
— Ngắn gọn, cô ấy là một cảnh sát cực kỳ.
Broyles không moi được gì mấy từ Jacobi. Anh trả lời có, không và không mắc bẫy Broyles khi ông ta ám chỉ là anh đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đúng theo quy định và thủ tục của sở cảnh sát San Francisco.
— Tôi đã làm tất cả những gì có thể cho cả hai đứa trẻ và tôi thật biết ơn là thân chủ của ông không biết bắn tốt - Jacobi nói. - Còn không tôi đã chết rồi, chứ không phải là ngồi đây nói chuyện với ông.
Khi toà tạm nghỉ ăn trưa, tôi tìm thấy một góc tĩnh lặng trên tầng ba giữa máy bán Coca và bức tường, và nói chuyện với Joe, cái ôm tưởng tượng của chúng tôi dang rộng qua cả ba múi giờ. Anh xin lỗi gần cả chục lần vì đang phải điều tra một âm mưu khủng bố của một chuyến bay từ Boston đến Miami vì vậy anh đã không thể có mặt ở San Francisco cùng tôi.
Tôi ăn miếng bánh mỳ khô khốc và uống một ngụm càfê mua từ máy tự động rồi đến ngồi bên cạnh Yuki khi phiên toà họp lại.
Rồi khoảnh khắc tôi vẫn khiếp sợ đã đến. Yuki gọi tôi ra làm chứng. Khi tôi ngồi trên ghế nhân chứng, cô ấy đứng trước mặt tôi để tôi không nhìn thấy gia đình Cabot và cô ấy nhìn tôi cười rạng rỡ.
— Trung úy Boxer, cô có nghĩ là phải làm theo thủ tục cảnh sát không?
— Có.
— Đêm đó cô có bị say không?
— Không. Tôi đang ăn tối cùng mấy người bạn. Tôi uống vài ly trước khi nhận được cú điện thoại của Jacobi.
— Cô có phiên trực không?
— Không.
— Uống rượu ngoài giờ làm việc không bị cấm, đúng không?
— Đúng.
— Khi cô vào xe cùng Jacobi, danh chính ngôn thuận cô đã quay lại giờ làm việc.
— Vâng, nhưng tôi tin là tôi vẫn rất tỉnh táo để làm nhiệm vụ. Tôi vẫn giữ lập trường của mình ngay cả bây giờ.
— Cô có nghĩ mình là cảnh sát "đúng theo sách" không?
— Có. Nhưng sách không nêu ra tất cả mọi trường hợp. Đôi khi chúng tôi rơi vào tình huống phải sử dụng phán xét tốt nhất của bản thân.
Theo gợi ý của Yuki, tôi kể sự việc đến đoạn Jacobi và tôi cùng mở cửa xe và giải thoát cho hai đứa trẻ nhà Cabot từ đống đổ nát.
— Tôi đã phạm sai lầm bởi vì hai đứa trẻ nom rất nhếch nhác. Tôi thấy tội nghiệp cho chúng.
— Tại sao cô lại thấy tội nghiệp chúng?
— Cả hai đều khóc. Và nhất là Sam đang chảy máu, nôn và đang van nài tôi.
— Cô có thể nói rõ hơn không?
— Nó nói, "Xin cô đừng nói cho bố cháu biết. Bố cháu sẽ giết cháu".
— Thế cô làm gì?
— Như Thanh tra Jacobi đã nói, chúng tôi phải kéo chúng ra khỏi xe. Vì bình xăng có nguy cơ bị nổ. Tôi cất súng đi để có thể kéo được cánh cửa, rồi thanh tra Jacobi và tôi cùng lôi chúng ra.
— Cô tiếp tục đi, Trung úy.
— Sau khi chúng đã ra khỏi xe, tôi đáng lẽ phải còng tay Sara. Thay vào đó tôi lại đối xử với nó như với một nạn nhân của một vụ đâm xe. Khi tôi hỏi nó có bằng lái xe không, nó rút súng ra khỏi áo và bắn vào vai tôi, rồi vào đùi. Tôi ngã xuống.
— Thanh tra Jacobi ở đâu khi Sara bắn cô?
— Thanh tra Jacobi đang gọi xe cứu thương.
— Súng của anh ta để đâu?
— Trong bao.
— Cô có chắc không?
— Có. Anh ta đang gọi điện đàm. Súng để trong bao. Tôi hét lên "Súng" ngay trước khi Sara bắn tôi. Tôi nhìn thấy Jacobi quay sang nhìn tôi. Đúng lúc đó, Sam bắn anh ấy - anh ấy bị trúng hai phát.
— Cô có chắc là cô đã nhìn thấy tất cả những điều này không, Trung uý? Cô không bị ngất chứ?
— Không, thời khắc đó tôi hoàn toàn tỉnh táo.
— Thanh tra Jacobi có ngất không?
— Có! Tôi tưởng anh ấy chết. Tôi nhìn thấy Sam Cabot đá vào đầu anh ấy, nhưng anh ấy không cứ động hay cố tìm cách bảo vệ mình.
— Cô nhìn thấy Sam Cabot đá Thanh tra Jacobi vào đầu. Xin cô hãy tiếp tục.
— Có lẽ chúng nghĩ tôi đã chết, bởi vì chúng có vẻ quên tôi.
— Phản đối. Nhân chứng đang suy diễn.
— Chấp nhận.
— Cô chỉ nói cho chúng tôi những gì cô nhìn thấy, nghe thấy và đã làm thôi - Yuki nói. - Cô đang kể rất tốt.
Tôi suy nghĩ và cố tập trung.
— Tôi nghe thấy Sara nói với Sam là chúng nên đi khỏi hiện trường - tôi nói. Tôi rút súng ra khỏi bao và ra lệnh cho Sara Cabot bỏ vũ khí xuống. Nó gọi tôi là đồ khốn, rồi bắn thêm vài phát vào tôi. Lúc đó tôi bắn trả.
— Sau đó chuyện gì xảy ra?
— Sara ngã xuống đất, và Sam bắt đầu gào lên là tôi bắn chị nó. Tôi lại ra lệnh cho nó bỏ súng xuống, nó không chịu, tôi bắn nó.
— Hãy nói cho tôi nghe, Trung uý, cô muốn làm hại bọn trẻ không?
— Không, tất nhiên là không rồi. Từ sâu thẳm trái tim, tôi ước gì những chuyện này đã không xảy ra.
— Theo cô, nếu Sam và Sara Cabot không mang súng, bi kịch này có xảy ra không?
— Phản đối - Broyles hét lên. - Như vậy là để nhân chứng tự kết luận.
Thẩm phán ngả người ra sau ghế và nhìn lên trần qua cặp kính dầy cộp viền đen. Rồi sau khi đã quyết định, bà ngồi thẳng dậy.
— Chấp nhận.
— Lindsay. Có đúng là suốt mười năm phục vụ trong Đội án mạng, cô đã từng được tuyên dương vì đã phá án được 37 vụ án và nhận được 15 bằng khen và 20 lần tuyên dương vì gương phục vụ không?
— Tôi không tính, nhưng có lẽ con số đó là đúng.
— Nói ngắn gọn, Trung úy Boxer, sở Cảnh sát San Francisco sẽ đồng tình với Thanh tra Jacobi rằng cô là - một cảnh sát cực kỳ.
— Phản đối. Luật sư biện hộ đang tự đánh giá.
— Cảm ơn, Lindsay. Tôi đã hỏi xong, thưa Quý toà.
Ngay khi Yuki quay lưng lại phía tôi, tôi quên mất cô ấy. Tôi quay trở lại với thời gian, cảm thấy cơn đau của cái đêm kinh hoàng ấy. Tiếng hít thở của Sam nghe như tiếng nước muối chà xát vào vết thương của tôi, và phòng xử án là một biển người, phản ánh biểu hiện đau đớn và khốn khổ của tôi.
Tôi nhìn thấy 6 thành viên nhà Cabot bởi trông họ giống Sara và Sam, cùng sự giận dữ trong đôi mắt họ. Và tôi nhìn thấy cảnh sát ở khắp nơi, những người tôi biết và làm việc nhiều năm nay. Mắt tôi đăm đăm nhìn Jacobi, và anh ấy nhìn tôi. Anh ấy giơ một ngón cái lên và tôi muốn mỉm cười, nhưng Mason Broyles đã bước về phía tôi.
Ông ta không hề lãng phí thời gian để xã giao.
— Trung uý Boxer, khi cô bắn thân chủ của tôi và chị cậu ta, cô có ý định bắn để giết không?
Tai tôi ong lên cố hiểu câu hỏi của ông ta. Tôi có bắn để giết không? Có. Nhưng làm sao tôi có thể nói là tôi có ý định giết những đứa trẻ này được.
— Tôi xin lỗi, Ông Broyles. Ông có thể nhắc lại câu hỏi hay không?
— Để tôi hỏi theo cách khác. Nếu vụ việc này xảy ra như cô nói, rằng Sara và Sam Cabot không chịu bỏ súng xuống, tại sao cô lại không chỉ làm chúng mất khả năng? Bắn vào tay hoặc là chân chẳng hạn.
Tôi do dự, thử tưởng tượng. Sara đứng quay mặt về phía tôi trên vỉa hè. Những phát súng đó nện vào người tôi. Ngã xuống phố. Sốc. Đau đớn. Nhục nhã.
— Trung úy?
— Ông Broyles. Tôi bắn để tự vệ.
— Thật kinh ngạc là cô nhắm trúng thế. Say như thế mà vẫn trúng.
— Phản đối. Ông ta đang mồi Trung uý Boxer.
— Chấp nhận, cẩn thận đấy, ông Broyles.
— Vâng, thưa quý toà. Trung uý, tôi không hiểu. Cô bắn hai phát vào tim Sara - một cái đích rất nhỏ, đúng không? Sao cô không bắn để cô bé còn có thể sống? Tại sao cô không bắn rơi súng khỏi tay của Sam Cabot?
— Qúy toà. Câu hỏi đã được trả lời.
— Tôi rút lại câu hỏi. Chúng tôi hiểu cô đã làm thế. Trung uý, Broyles nhếch mép. - Chúng tôi hiểu chính xác điều gì đã xảy ra.
Tôi nghe tiếng Yuki nói "Tôi muốn hỏi một lần nữa, thưa Quý toà".
Rồi cô ấy bước nhanh về phía tôi. Cô ấy chờ cho đến khi tôi nhìn vào măt cô ấy.
— Lindsay, khi cô bắn Sam và Sara Cabot, cô có bị nguy hiểm không?
— Có.
— Thủ tục của cảnh sát cho trường hợp đó là thế nào? "Sách" dạy phải làm gì?
— Bắn vào tâm điểm để loại trừ nguy hiểm, và khi nguy hiểm đã được loại trừ, ngừng bắn. Thường thì bắn vào tâm điểm sẽ gây chết người. Không thể liều bắn vào tứ chi được vì như vậy dễ trượt. Đối tượng vẫn còn có thể bắn được, và phải bắn để làm sao người bắn không thể làm hại mình hoặc người khác được.
— Cô có lựa chọn nào khác ngoài việc cô đã làm không?
— Không. Không còn bất kỳ lựa chọn nào khác. Vì chị em nhà Cabot đã định giết người.
— Cảm ơn, Trung úy. Giờ chúng ta hiểu chính xác điều gì đã xảy ra.
Lúc bước xuống ghế nhân chứng, Tôi đờ người vì nhẹ nhõm. Vừa ngồi xuống, tôi nghe thẩm phán bãi phiên toà.
— Phiên toà tiếp tục vào 9 giờ sáng mai - bà nói.
Yuki và Mickey cùng vài luật sư nữa từ văn phòng ông làm thành một rào chắn xung quanh tôi khi chúng tôi rời khỏi toà án bằng cửa sau và bước vào chiếc Lincoln đen đang chờ chúng tôi trên phố Polk.
Qua cửa kính mờ, tôi nhìn thấy đám đông tức giận đang hô khẩu hiệu và cầm ảnh tôi với dòng chữ "Khẩu canông bữa bãi" và "Harriet bẩn thỉu".
— Cô làm tốt lắm, Lindsay - Mickey nói với từ ghế trước và đập nhẹ vào tay tôi. Nhưng đôi mắt nâu của ông không cười, và khuôn mặt ông lạnh tanh.
— Lẽ ra tôi không được do dự. Tôi chỉ không biết phải nói gì.
— Không vấn đề gì. Giờ chúng ta sẽ đi ăn tối. Yuki và tôi cần thời gian để soát lại bài diễn văn kết thúc. Chúng tôi sẽ rất vui nếu cô đi cùng.
— Nếu hai người không cần đến tôi, thì cho tôi lên chỗ nhà Yuki. Để hai người làm việc yên ổn.
Tôi nắm chặt chìa khoá của Yuki trong tay và nhìn thành phố tôi quá quen thuộc qua cửa kính sẫm màu. Tôi biết tôi đã làm hỏng. Một vài giây do dự và tất cả mọi người trong phòng đã đọc được suy nghĩ của tôi.
Ấn tượng mà bồi thẩm đoàn hôm nay có được là tôi đã bắn để giết bọn trẻ.
Và tất nhiên là họ đúng.
***
Tiếng chuông điện thoại rít lên làm cơn ác mộng đang giữ tôi trong vòng kìm kẹp của nó tan biến. Tôi nằm cứng đờ người bất động, cố tìm phương hướng, tiếng chuông lại đổ, lần này ít đinh tai hơn, ít gai người hơn.
Tôi vớ lấy điện thoại di động trên bàn và mở nắp, nhưng người gọi đã tắt máy.
Đã tỉnh dậy vào lúc 6 giờ sáng, tôi tìm kiếm trong đống đồ của Yuki ở phòng ngủ bên cạnh cho đến khi tìm ra được bộ quần áo thể thao và giầy chạy. Tôi nhẹ nhàng mặc quần áo, vòng dây vào cổ Martha, và chúng tôi cùng nhau ra khỏi toà nhà Crest Royal để hòa vào ánh sáng sớm mai.
Tôi định hình đường đi trong đầu, biết chắc mình có thể chạy hai dặm đường. Rồi Martha và tôi chạy về phía bắc ra phố Jones để thư giãn, cơn đau ở khớp chân nhắc cho tôi nhớ mình thật sự ghét chạy đến thế nào.
Tôi tháo dây buộc cổ Martha để nó không làm vướng chân mình. Rồi tự ép mình chạy thật nhanh xuống dốc phố Jones, cho đến khi cơn đau nhói ở vai và chân lan ra thành một cơn đau chạy dọc khắp các cơ của tôi.
Cho dù có ghét đến mấy, chạy vẫn là cách duy nhất giúp tôi thoát khỏi nỗi ám ảnh của phiên toà bởi vì đó là cách tốt nhất để chuyển từ trạng thái tinh thần sang trạng thái thể chất dễ chịu hơn. Và tuy dây chằng của tôi có kêu thét, tôi vẫn cảm thấy thật dễ chịu khi được chạy, mồ hôi tôi khô dần trong không khí trước ánh nắng đang lên.
Tôi chạy dọc phố Jones qua Vallejo cho đến tận đồi Nga. Thẳng trước mặt là đảo Alcatraz với ngọn hải đăng nhấp nháy và quang cảnh hùng vĩ của Đảo Thiên thần.
Đó là nơi tâm trí tôi được bay bổng tự do và trái tim tôi được đập thật sự chứ không chỉ đập vì căng thẳng và lo lắng.
Tôi thở mạnh khi đi bộ trên phố Hyde và không khí trong lành làm tôi thấy ấm áp. Bên phải là dãy nhà quanh co của Lombard, một con phố tuyệt đẹp chạy dọc xuống Leavenworth. Tôi lắc tay và chạy tại chỗ trong khi chờ đèn xanh, mừng rỡ vì chưa đến giờ cao điểm.
Khi đèn xanh, tôi đi qua phố. Con đường mà tôi chọn chạy qua những con phố đẹp nhất với những ngôi nhà cổ và khi mây mù vẫn còn phủ trên vịnh, phong cảnh trông như trong tranh. Martha và tôi vừa đến đầu Phố Tàu thì tôi nghe có tiếng xe chạy sát mình.
Có ai đó gọi với ra, "Cô, cô phải xích con chó lại".
Lời quở trách làm gián đoạn niềm hân hoan của tôi, tôi quay sang và nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát đang bám sát mình. Tôi ngừng chạy và gọi Martha lại.
— Ôi trời ơi, Trung uý, là cô à?
— Chào Nicola. Tôi hổn hển chào tay cảnh sát trẻ ngồi cạnh tay lái. - Chào Friedman - tôi nói với người lái.
— Tất cả chúng tôi đều đứng về phía cô, Trung úy ạ - Friedman nói. - anh ta lắp bắp. - Ý tôi là chúng tôi thật sự rất nhớ cô, Trung uý.
— Cảm ơn - tôi cười. Tôi rất cảm động. Nhất là trong ngày hôm nay.
— Đừng để ý chuyện không xích chó nhé.
— Anh nhắc thế là đúng mà, Nicola. Tôi sẽ xích nó.
— Làm đúng quy định hả?
— Tất nhiên, tôi là thế mà.
— Chúc may mắn, Trung úy.
— Cảm ơn các bạn.
Friedman nháy đèn xe khi họ vượt tôi. Giữ chặt Martha bằng cả hai tay để nó đi sát bên người, tôi quay ngược về phố Clay và lên đồi đi về phía Jones.
Đúng lúc bước vào tiền sảnh toà nhà nơi Yuki sống, tôi gần như khuỵu xuống vì mệt. Vài phút sau tôi ngâm mình dưới vòi nước ấm và đó đúng là phần thưởng diệu kỳ.
Tôi lau sạch người bằng cái khăn bông to xù của Yuki rồi lau hơi nước tụ lên gương.
Tôi nhìn mình một cách nghiêm khắc.
Da tôi ửng hồng. Mắt trong veo. Tôi đã chạy nhiều dặm với tốc độ khá nhanh, tính cả thời gian dừng lại để xích Martha. Tôi ổn. Thắng hay bại, tôi vẫn là tôi.
Đến cả Mason Broyles cũng không thể lấy đi điều đó của tôi được.
***
Ngoài tiếng thở nhân tạo của Sam Cabot, căn phòng xử án lặng như tờ khi Broyles đứng cạnh bàn, mắt nhìn vào màn hình máy tính xách tay, chờ cho qua phút giây tra tấn cuối cùng để bắt đầu bài phát biểu.
Cuối cùng, ông ta tiến tới bồi thẩm đoàn và sau khi chào hỏi họ theo phong cách lễ độ đầy thể lệ thông thường của mình, ông ta bắt đầu phát biểu.
— Tôi chắc chắn tất cả chúng ta đều đánh giá công việc đầy gian khó của cảnh sát. Nói thật, đó không phải là công việc mà tôi muốn làm. Cảnh sát thường xuyên phải tiếp xúc với những người thô lỗ và gặp những tình huống khó khăn, và họ ngày ngày phải cho ra những quyết định khó khăn trong vòng một tích tắc.
— Đó là những khó khăn mà Trung úy Lindsay Boxer phải đối mặt khi cô ta làm công việc này. Cô ta đã tuyên thệ sẽ duy trì pháp luật và bảo vệ những công dân của đất nước này.
— Và điều không ai có thể chối cãi được là không thể làm công việc này trọn vẹn được khi bị say.
Một ai đó ở cuối phòng tiếp bài phát biểu hùng biện của ông ta bằng một tiếng ho. Broyles đứng kiên nhẫn, tay bỏ trong túi quần, và chờ cho tiếng ho khan chấm dứt.
Khi căn phòng đã trở lại yên tĩnh, ông ta tiếp tục bài diễn văn.
— Hôm qua tất cả chúng ta đều đã nghe lời khai của Trung uý Boxer, và tôi thấy rất thú vị rằng cô ấy chối việc cô ấy không thể công nhận được - và công nhận việc cô ấy không thể chối cãi.
— Trung úy Boxer chối cãi là cô ta đáng lý ra không nên ngồi vào xe. Rằng cô ta đáng lý ra không bao giờ được thi hành nhiệm vụ của một cảnh sát khi cô ta đã uống nhiều như thế. Nhưng cô ta công nhận rằng cô ta đã không làm theo đúng thủ tục của cảnh sát. Cô ta phải công nhận rằng cô ta giết Sara Cabot và huỷ hoại cuộc đời Sam Cabot.
— Thưa các quý vị, chúng ta có thủ tục của cảnh sát để ngăn chặn những vụ bắn giết như vụ đã xảy ra đêm mồng 10 tháng 5.
— Những thủ tục không được dựng lên sau khi thảm hoạ này xảy ra. Chúng đã tới qua thử thách của thời gian và được thi hành trong hàng chục năm qua là có lý do. Bất kỳ một cảnh sát nào cũng biết rằng phải chĩa súng khi tiến đến xe của nghi phạm để nghi phạm có thể thấy rằng vụ việc là quan trọng.
— Và phải tước vũ khí của nghi phạm để không ai bị thương.
Broyles bước về bàn và uống một chút nước. Tôi muốn bật dậy và gào lên rằng ông ta đang bóp méo sự thật nhưng thay vào đó tôi ngồi câm lặng, nhìn ông ta quay về phía máy quay rồi bước lại phía bồi thẩm đoàn, tất cả như đang chết đứng khi nghe những gì ông ta nói.
— Sam và Sara Cabot trẻ, tự phụ và coi thường pháp luật. Chúng lấy trộm xe của bố, và chúng chạy khi bị cảnh sát đuổi. Chúng thiếu chín chắn và không biết phán xét tình thế. Với tôi, điều đó có nghĩa là dù rất thông minh, chúng cần được bảo vệ nhiều hơn người lớn trong cùng một trường hợp.
— Và Trung úy Boxer đã không bảo vệ được chúng bởi vì cô ta đã không làm theo những thủ tục cơ bản của cảnh sát. Cô ta đã quyết định - phục vụ và bảo vệ - khi cô ta bị say.
— Kết quả của quyết định đó là một cô gái trẻ xuất chúng đã chết, và một thanh niên đáng ra có thể trở thành bất kỳ ai phải ngồi xe đẩy cho đến tận cuối đời.
Mason Broyles siết hai bàn tay của ông ta lại, nom như đang cầu nguyện, và khỉ ạ, trông ông ta thật cảm động. Ông ta hít một hơi thật dài rồi thở ra, gần như thổi cái kết luận đau đớn của mình về phía bồi thẩm đoàn.
— Chúng ta không thể đem Sara Cabot trở lại - ông ta nói. - Và quý vị đã thấy Sam ra nông nỗi nào. Hệ thống pháp luật của chúng ta không thể quay ngược lại thiệt hại của những đứa trẻ này, nhưng quý vị có thẩm quyền yêu cầu đền bù cho Sam Cabot và gia đình cậu ta những gì họ đã mất và phải chịu đựng.
— Thưa quý vị bồi thẩm đoàn, tôi yêu cầu quý vị làm một việc đúng đắn và giúp thân chủ tôi nhận được số tiền đền bù là 150 triệu đô la.
— Không phải chỉ cho gia đình Cabot.
— Mà cho gia đình của quý vị và của tôi, cho bất kỳ gia đình nào và bất kỳ ai trong thành phố của chúng ta.
— Buộc tội bị cáo là cách duy nhất để có thể đảm bảo thảm kịch này sẽ không còn bao giờ lặp lại.
Yuki đóng sổ lại và bước ra giữa phòng xử án. Cô ấy quay khuôn mặt xinh xắn về phía bồi thẩm đoàn và chào họ. Tôi siết chặt tay và cố không nghĩ về bài kết luận rất ấn tượng của Mason Broyles.
— Đây là một vụ án rất cảm động - Yuki nói. - Một mặt, chúng ta có bi kịch sẽ mãi mãi theo đuổi nhà Cabot.
— Mặt khác, một cảnh sát cực giỏi bị buộc tội oan uổng là đã gây nên thảm kịch này.
— Bởi vì vụ án này rất xúc động, bởi vì hai chị em nhà Cabot còn quá trẻ, tôi muốn đưa những dữ kiện ra một lần nữa, bởi vì công việc của quý vị là quyết định dựa trên những dữ kiện này chứ không phải là dựa trên cảm xúc.
— Thực tế là nếu một cảnh sát muốn uống vài ly margarita vào tối thứ sáu khi cô ấy đã hết giờ làm việc, việc đó hoàn toàn là hợp lý. Cảnh sát cũng là người. Và khi cảnh sát phục vụ công chúng 24 tiếng đồng hồ một ngày, cũng hoàn toàn hợp lý để Trung úy Boxer nói với Thanh tra Jacobi là cô ấy bận.
— Nhưng người cảnh sát này rất tận tâm với công việc của mình và đi quá nhiệm vụ phải làm, làm vậy cô ấy đã tự đưa mình vào tình thế bất lợi.
— Quý vị đã nghe bên nguyên nói đi nói lại rằng Trung uý Boxer bị say. Trên thực tế, cô ấy không say. Và tuy việc cô ấy uống rượu có thể là điều kiện cho việc đã xảy ra, nó không phải là nguyên nhân.
— Xin đừng quên sự khác biệt này.
— Trung úy Boxer không phán xét sai sự việc hôm mồng 10 tháng 5 bởi vì phản ứng của cô ấy quá chậm hay vì cô ấy đã uống rượu. Nếu Trung uý Lindsay Boxer có làm điều gì sai trái hôm đó, thì đó là bởi vì cô ấy đã quá thương hại bên nguyên.
— Hai nguyên nhân gây nên cái chết của Sara và những vết thương của Sam Cabot chính là hai chị em nhà Cabot. Thực tế là hai đứa trẻ còn quá trẻ, được chiều chuộng, giàu có không còn việc gì để làm đêm hôm đó ngoài việc đi chơi, làm tổn hại, đau đớn đến cho người khác và cuối cùng là cho bản thân mình.
— Quý vị, vì hành động khinh suất và sử dụng vũ khí, Sam và Sara Cabot gây nên thảm họa hôm mồng 10 tháng 5. Chính chúng là những người đầu tiên nổ súng chứ không phải Trung uý Boxer. Và đó là thực tế.
Yuki ngừng lại, và trong một giây khủng khiếp, tôi nghĩ có lẽ cô ấy đã quên mất mình định nói gì. Cô ấy nhấc cái vòng ngọc trai lên khỏi chiếc áo lụa và đưa ngón tay chạy dọc cái vòng, rồi quay về phía bồi thẩm đoàn, và tôi nhận ra rẳng cô ấy chỉ đang sắp xếp lại suy nghĩ.
— Thông thường nếu một cảnh sát phải ra toà, đó thường là những phiên toà theo kiểu King - hay Abner Louima. Một cảnh sát bóp cò quá nhanh hoặc đánh chết một ai đó, hoặc đã lạm dụng quyền hạn của mình.
— Lindsay Boxer bị buộc tội vì đã làm ngược lại. Cô ấy cất súng đi bởi vì chị em nhà Cabot nom thật cùng đường và thực tế là họ đang gặp nguy hiểm. Và bên nguyên muốn biến lòng nhân đạo của cô ấy với hai đứa trẻ thành - không làm theo thủ tục cảnh sát.
— Xin lỗi, nhưng như vậy thì thật bịp bợm.
— Trung uý Boxer làm theo quy định khi cô ấy tiến đến chiếc xe, tay cầm súng. Rồi dựa trên tình trạng của Sam Cabot, cô ấy đã giúp đỡ nạn nhân của một vụ đâm xe.
— Đó là một việc làm đúng đắn.
— Thanh tra Jacobi, một cảnh sát giỏi khác, với hơn 25 năm phục vụ Sở cảnh sát San Francisco, cũng làm đúng như vậy. Quý vị đã nghe ông ấy nói. Ông ấy đã bỏ súng vào bao. Sau khi ông và Trung uý Boxer giải thoát cho hai chị em nhà Cabot ra khỏi xe, ông đã cố lo cho chúng được trợ giúp.
— Đó chẳng phải là hành động mà tất cả chúng ta đều muốn từ lực lượng cảnh sát hay sao? Nếu bạn gặp tại nạn? Nếu đây là con cái bạn?
— Nhưng thay vì cảm ơn những cảnh sát này, chị em nhà Cabot đã bắn họ với mục đích giết họ.
— Sam đá Thanh tra Jacobi vào đầu sau khi đã bắn ông. Sự độc ác và tàn bạo có thể gây chết người của chúng là do chúng đang dùng ma tuý chăng? Hay chỉ bởi vì chúng thích giết người?
— Chúng ta không biết
— Nhưng chúng ta biết rằng Trung úy Boxer bị bắn trước và rằng cô ấy bắn trả để tự vệ. Đó là thực tế. Và tự vệ, thưa quý vị, là quy định hợp lệ của cảnh sát.
— Trung úy Boxer nói với các vị cô ấy sẽ chịu mất bất kỳ điều gì trên thế giới để có trả lại sự sống cho Sara Cabot và để chàng thiếu niên này có thể được trở lại thành một người bình thường.
— Nhưng thực tế là, những sự kiện đêm mồng 10 tháng 5 không xảy ra vì phát súng của Lindsay. Cô ấy đã cố chặn vụ bắn nhau.
Sự biết ơn ầng ậng dâng lên mắt tôi. Trời ơi, được bào chữa bởi một tấm lòng và một tài hùng biện như thế này. Tôi cắn môi dưới và ngắm nhìn Yuki kết thúc bài diễn văn.
— Thưa quý vị bồi thẩm đoàn. Quý vị đã rất kiên nhẫn suốt tuần vừa qua với hàng loạt những lời khai và sự quấy nhiễu của báo giới. Tôi biết quý vị đang mong mỏi được suy sét, cân nhắc.
— Chúng tôi mong quý vị sẽ buộc tội Trung uý Lindsay Boxer là một cảnh sát mà tất cả chúng ta phải hãnh diện: người thi hành pháp luật đầy lòng trắc ẩn, tận tuỵ, quên mình.
— Và chúng tôi mong quý vị phán xét cô ấy vô tội với những tội danh đã được đưa ra để chống lại cô ấy.
— Hôm nay chúng ta sẽ bước ra bằng cửa chính, hai cô nói thế nào? - Mickey nói, cầm tay tôi. Thứ sáu. Vụ án sẽ hoãn lại qua thứ bảy chủ nhật và tôi nghĩ đây là thời điểm thích hợp để gặp báo giới.
Tôi đi giữa những luật sư của mình ra sảnh và từ đó bước xuống những bậc cầu thang cẩm thạch xuống phố McAllister. Toà nhà hành chính là một góc cắt và nó đối diện với một góc nhỏ nhìn ra ngã tư và công viên nhìn sang Toà nhà trung tâm.
Đối lập với sự tăm tối của toà nhà, mặt trời đang chói chang. Và, vẫn giống như lúc phiên toà của tôi bắt đầu, McAllister đông nghẹt người, xe của báo giới và của đài truyền hình xếp hàng dài hai bên đường.
Trông chẳng khác nào cảnh tượng bên ngoài phiên toà của OJ. Simpson. Cũng vẫn sự điên cuồng đầy kích động đang che giấu sự thật, dù sự thật có là thế nào đi chăng nữa. Phiên toà này không đáng để lên tivi. Thông tin đại chúng là về số lượng người xem, tiền quảng cáo. Cho dù có là gì đi chăng nữa, hôm nay "nó" là tôi.
Như thể có còi báo động, báo giới nhìn thấy tôi và áp tới để "giết". Mickey đã chuẩn bị sẵn sàng bài phát biểu nhưng không có cơ phát biểu.
— Ông nghĩ bồi thẩm đoàn sẽ quyết định trong bao lâu, ông Sherman?
— Tôi không biết, nhưng tôi dám chắc là có bao lâu đi chăng nữa, bồi thẩm đoàn sẽ quyết định Trung uý Boxer vô tội.
— Trung úy Boxer, nếu bồi thẩm đoàn kết tội cô...
— Điều đó sẽ không xảy ra - Yuki trả lời thay cho tôi.
— Castellano, đây là vụ án lớn đầu tiên của cô. Cô nghĩ cô có thành công không?
Cách khoảng 5 mét, một đám đông cũng đang vây quanh Mason Broyles, thân chủ của ông ta và đại diện của ông ta. Máy quay chạy khi người phục vụ đẩy Sam Cabot xuống ván gỗ và cho thằng bé vào xe. Phóng viên chạy lại, tới tấp hỏi Sam trong khi bố nó cố hết sức mình để che chở cho thằng bé.
Tôi nhìn thấy Cindy trong đám đông. Cô ấy đang lách qua đám đông nghẹt người, cố tiến về phía tôi. Và chính vì vậy mà tôi không để ý lắm đến Mickey khi ông trả lời điện thoại di động.
Rồi tay ông đặt lên vai tôi. Mặt ông xám xịt.
— Tôi vừa nhận được cảnh báo từ thư ký văn phòng - ông hét vào tai tôi. - Bồi thẩm đoàn có một vài câu hỏi.
Chúng tôi chen qua đám đông, đi ra phố tới xe của Mickey. Yuki và tôi ngồi vào ghế sau, còn Mickey ngồi vào ghế trước bên cạnh người lái.
— Họ muốn biết gì? - Yuki hỏi khi cửa xe vừa đóng. Chiếc xe chuyển động chậm rãi qua đám đông, đi về hướng Redwood.
— Họ muốn có bằng chứng về việc Lindsay uống rượu - Mickey nói, quay sang phía chúng tôi.
— Trời ơi - Yuki nói. - Sao họ vẫn còn lăn tăn về việc ấy nhỉ?
— Thế còn cái kia là cái gì? - tôi hỏi dồn dập. - ông nói là có hai việc mà.
Tôi nhìn thấy Mickey do dự. Ông không muốn nói với tôi, nhưng không còn cách nào khác.
— Họ muốn biết liệu tiền đền bù cho bên nguyên có bị đặt dưới một giới hạn nào hay không - ông nói.
Đó là một phát súng trúng ruột, và cơn sốc lan ra khắp cơ thể tôi. Tôi cảm thấy dạ dày như tụt xuống còn mật thì dâng đến tận cổ. Tôi tưởng tượng mình đã thua và nhìn thấy cái vìễn cảnh xám xịt: bán hàng trên phố, đọc sách trên hiên của một ngôi nhà nằm bên bờ biển... Nhưng tôi còn chưa tính đến tác động tâm lý của thực tế là mình thua.
Bên cạnh tôi, Yuki rên rỉ: - ôi Trời ơi, lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi không nên nói "hãy kết tội cô ấy là một cảnh sát giỏi", blah blah blah. Đúng là bốc đồng! Tôi nghĩ thế là hay, nhưng tôi đã sai lầm.
— Cô đã nói rất hay, tôi nói, giọng nặng trịch như đá. Việc này không liên quan tới những gì cô nói.
Tôi vòng tay trước ngực và cúi đầu. Mickey và Yuki đang nói chuyện với nhau. Tôi nghe thấy Mickey an ủi cô ấy là quyết định chính vẫn chưa được đưa ra, nhưng trong đầu tôi vẫn vang lên câu hỏi cũ rích.
Một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại.
Sao có thể như vậy?
Sao có thể như vậy?
Khi tôi trở về với cuộc đối thoại diễn ra trong xe, Mickey đang giải thích một điều gì đó với Yuki.
Thẩm phán đưa cho họ hồ sơ của bệnh viện và giấy tờ của cô y tá. Và cô ấy nói với họ đừng lo lắng về việc có phải giới hạn số tiền đền bù không. Đó là việc của cô ấy và họ không cần phải quan tâm.
Mickey đưa tay vuốt mặt làm tôi thấy càng trầm trọng hơn. - Yuki, cô đã làm việc rất tuyệt, tôi nói thật đấy. Tôi không thể tin nỗi bồi thẩm đoàn lại có thể nghe được lời của Mason Broyles - ông nói. Tôi không thể tin nổi điều đó. Tôi không biết là chúng ta có thể làm tốt hơn được hay không.
Và đúng lúc đó chuông điện thoại của Yuki reo.
— Bồi thẩm đoàn đã quay lại - cô ấy nói. Cô ấy gập điện thoại, bóp chặt nó đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. - Họ đã có quyết định.
Trí óc tôi giãn ra. Tôi nhìn thấy từ "tuyên án" trước mắt và cố phân tích nó, nhìn vào các chữ cái và các âm tiết để tìm tia hi vọng. Tôi biết từ này có gốc Latinh, - "tuyên án" có nghĩa là nói lên sự thật.
Lần này tuyên án có phải là sự thật không?
Theo những người dân ở San Francisco đó có thể là sự thật.
Mickey quay xe vòng ngược trở lại và vài phút sau tôi thấy mình đang nói, - Xin miễn bình luận, miễn bình luận - rồi đi theo Yuki và Mickey đi qua đám đông, lên cầu thang và vào lại toà án.
Chúng tôi ngồi vào chỗ của mình ở phòng xử án B, và bên nguyên cũng ngồi xuống.
Tôi nghe thấy có ai gọi tên tôi, tiếng gọi như đến từ một thời điểm khác và một nơi khác. Tôi quay lại nhìn ra đằng sau.
— Joe!
— Anh vừa đến, Lindsay ạ. Anh đi thẳng từ sân bay đến đây.
Chúng tôi với ra và trong một khoảnh khắc những ngón tay của chúng tôi đan vào nhau. Rồi tôi lại phải quay trở lại.
Dọc khắp phòng, cánh quay phim đang điều chỉnh ống kính, rồi chỉ một giờ sau khi chúng tôi rời khỏi phòng, thẩm phán bước vào và bồi thẩm đoàn ngồi vào ghế.
Người chấp hành viên cho triệu tập lại phiên toà.
Các thành viên của bồi thẩm đoàn phải mất một lúc lâu để sửa lại váy, đặt túi xuống, và ngồi thoải mái. Cuối cùng, họ cũng ngồi nghiêm chỉnh. Tôi để ý thấy chỉ có hai người nhìn tôi.
Tôi ngồi chết lặng khi lắng nghe thẩm phán hỏi bồi thẩm đoàn họ đã có bản tuyên án chưa. Rồi người chủ tịch, một người da đen khoảng ngoài 50 tuổi có cái tên là Amold Benoit, chỉnh lại chiếc áo thể thao và nói.
— Chúng tôi đã có bản tuyên án, thưa Qúy toà.
— Xin hãy đưa cho chấp hành viên.
Ngồi dưới, hơi thở của Sam Cabot dồn dập, làm thời gian trôi chậm lại một nửa và con tim tôi đập điên loạn khi thẩm phán giở trang giấy đơn.
Bà nhìn qua, và không có một biểu hiện nào, đưa tờ giấy lại cho chấp hành viên, anh ta đưa nó cho chủ tịch bồi thẩm đoàn.
— Tôi yêu cầu những người có mặt tại đây không được phản ứng lại với những gì chủ tịch sắp nói - thẩm phán nói. - Được rồi, ông Chủ tịch. Mời ông tuyên án.
Người chủ tịch rút kính ra khỏi túi áo ngực, mở ra rồi đeo lên mắt. Cuối cùng, ông ta cũng bắt đầu đọc.
— Chúng tôi, bồi thẩm đoàn được giao trách nhiệm, xét thấy bị can, Trung úy Lindsay Boxer vô tội với những tội danh buộc tội cô ấy.
— Tất cả đều có cùng quan điểm à?
— Tất cả.
Tôi chết lặng, không chắc mình có nghe đúng không. Và khi tôi tự nhắc lại lời quyết định trong đầu, tôi gần như nghĩ là thẩm phán sẽ bãi bỏ những gì mà người chủ tịch vừa nói.
Yuki nắm chặt cổ tay tôi, và chỉ khi nhìn thấy nụ cười rạng rỡ trên gương mặt cô ấy tôi mới thật sự hiểu rõ rằng tôi không tưởng tượng gì cả. Bồi thẩm đoàn đã quyết định cho tôi thắng cuộc.
Một giọng nói hét lên, "Không! Không! Các người không thể làm thế được".
Đó là Andrew Cabot, đang đứng dậy sau lưng Mason Broyles, mặt trắng bệch và đanh lại, nản lòng.
Broyles yêu cầu bồi thẩm đoàn đưa ra phiếu bầu và thẩm phán chấp thuận.
— Khi các vị nghe số ghế của mình, xin hãy nói cho toà biết các vị đã bầu thế nào - thẩm phán Achacoso nói.
Từng người một, các thành viên bồi thẩm đoàn bắt đầu nói.
— Vô tội -
— Vô tội -
— Vô tội -
Tôi đã nghe thấy, nhưng tôi không chắc mình hiểu, cho đến tận lúc đó. Cả hai luật sư của tôi quàng tay qua người tôi, tôi lâng lâng trong một cảm giác nhẹ nhõm hoàn toàn. Có lẽ cảm giác này chỉ dành cho những giây phút chuộc tội, những giây phút như thế này.
Tôi được tự do, và trái tim tôi đang bay bổng.