Ngày 4 Tháng 7

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Ba: Trở Lại Vởi Công Việc

❊ ❊ ❊

Mặt trời mới chỉ ửng hồng trên bầu trời thì có tiếng điện thoạỉ làm tôi tỉnh giấc. Tôi dò dẫm tìm điện thoại, đến hồi chuông thứ tư mới nhấc được máy.

— Lindsay à, Yuki đây. Hi vọng tôi không làm cô thức giấc. Tôi đang lái xe và chỉ có một phút để nói thôi, nhưng tôi sẽ nói rất nhanh.

Yuki là một người sôi nổi và thông minh, và tôi biết điều đó, cô ấy luôn nói với tốc độ 90 dặm một giờ.

— OK. Tôi đã sẵn sàng - tôi nói, chui lại vào giường.

— Sam Cabot đã ra viện. Hôm qua tôi đã lấy lời khai của nó. Yuki nói, giọng cô ấy vang lên nhịp nhàng. - Nó rút lại lời thú tội về những vụ án mạng trước đây ở khách sạn, nhưng đó là việc của uỷ viên công tố. Về vụ kiện cô, nó nói cô nổ súng trước, bắn trượt, sau đó nó và Sara bắn trả để tự vệ. Rồi cô bắn hạ chúng. Nói láo. Chúng ta biết điều đó và bọn họ cũng biết điều đó, nhưng đây là nước Mỹ. Nó muốn nói gì cũng được.

Tôi thở dài, cổ họng tắc nghẹn. Yuki tiếp tục.

— Cái khó cho chúng ta là ở chỗ nó quá dễ làm mọi người mủi lòng, thằng ranh bệnh hoạn. Bị liệt, ngồi xe đẩy, cổ quấn băng, môi dưới run run. Trông như thiên thần gãy cánh.

— Bị một nữ cảnh sát nham hiểm bắn hạ - tôi ngắt lời.

Tôi định nói tiếp là bị chúa trời bắn hạ, nhưng thôi không quan trọng. Cô ấy cười. - Chúng ta phải gặp nhau để vạch chiến thuật. Chúng ta hẹn ngày được không?

Lịch của tôi sạch trơn như tờ giấy trắng. Của Yuki, ngược lại, giờ nào cũng đầy kín những buổi lấy lời khai, các cuộc họp, và các phiên toà trong vòng ba tuần tới. Tuy vậy chúng tôi vẫn hẹn gặp một vài ngày trước khi phiên toà của tôi bắt đầu.

— Hiện giờ giới truyền thông đang làm loạn - Yuki tiếp. - Chúng tôi để lọt ra với báo giới là cô đang ở New York với một vài người bạn để họ khỏi săn lùng cô. Lindsay? Cô còn ở đó không?

— Còn, tôi đây - tôi nói, mắt dán vào quạt trần, tai như ong lên.

— Tôi khuyên cô nên nghỉ ngơi nếu được. Đừng xuất đầu lộ diện. Những thứ khác cứ để mình tôi lo.

Đúng.

Tôi đi tắm, thay quần vải thô, áo phông màu hồng và mang một cốc càfê ra sân sau. Trong lúc đổ bữa sáng vào máng ăn của Penelope, tôi lẩm bẩm hỏi nó: - Một con lợn ăn được bao nhiêu cám lợn nếu con lợn chỉ toàn ăn cám lợn?

Một cô gái thành phố nói chuyện với lợn. Ai mà tưởng tượng được?

Tôi nghĩ đến lời khuyên của Yuki, gió biển thổi vào mát lộng hàng hiên. Nghỉ ngơi và đừng xuất đầu lộ diện. Nghe thật có lý, nhưng tôi quá nóng lòng được làm một điều gì đó. Tôi muốn khuấy động tất cả, muốn nổi dậy, dù đúng dù không.

Quả thật tôi không thể ngồi yên.

Tôi huýt sáo gọi Martha và nổ máy chiếc Explorer. Rồi chúng tôi đi đến một ngôi nhà ở Đồi Crescent - hiện trường của vụ án mạng.

— Hừ - tôi nói với Martha. - "Không làm loạn" - là không chịu được hả? - Martha quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt nâu ướt át, ngoe nguẩy đuôi, rồi lại quay ra ngắm nhìn con đường khắc đá.

Khi lái xe qua Cao lộ số 1, tôi phừng phừng kích động. Đi được 3 dặm, tôi rẽ sang Đồi Crescent, lác đác trên quả đồi nằm tại đỉnh của Vịnh Nửa vầng Trăng là những ngôi nhà lạ mắt.

Tôi cho xe chạy chầm chậm trên con đường một làn rải sỏi cho đến lúc hiện trường vụ án xuất hiện trước mắt tôi. Tôi dừng xe lại, tắt máy.

Ngôi nhà màu vàng lợp ngói thật đẹp, đầu hồi có ba cửa sổ, ngoài vườn đầy hoa và trên hàng rào gỗ có trang trí những vòng chạm gỗ. Cái tên Daltry được sơn trên hòm thư tự làm, và gần 1 km băng vàng vẫn còn quấn quanh nơi này, đúng là giấc mơ Mỹ.

“Hiện trường vụ án. Không phận sự miễn vào".

Tôi không tài nào hình dung được cảnh hai người bị ám sát dã man trong ngôi nhà gỗ nhỏ bé ấm cúng này. Án mạng không thể xảy ra ở những nơi như thế này.

Điều gì đã khiến kẻ sát nhân đến chính ngôi nhà này? Đây là đích nhắm của hắn hay hắn chỉ tình cờ dừng lại ở ngôi nhà đáng yêu này?

— Ngồi yên - tôi nói với Martha khi bước ra khỏi xe.

Vụ án xảy ra hơn sáu tuần trước, giờ cảnh sát không còn canh giữ hiện trường. Bất cứ ai muốn đều có thể thò đầu vào xem, chỉ không được phép vào trong nhà - và tôi nhìn thấy dấu vết của những kẻ chõ mũi vào chuyện của người khác ở khắp nơi: vết chân trên những luống hoa, đầu mẩu thuốc lá trên hè, lon nước ngọt ngoài bãi cỏ.

Tôi bước qua cánh cửa để ngỏ, cúi xuống qua dây băng, và đi vòng quanh nhà, chậm rãi nhìn quanh hiện trường.

Lưới bóng rổ lăn lóc dưới bụi cây, ở thềm sau là chiếc giày trẻ em còn ướt đẫm sương đêm. Tôi để ý thấy khung kính từ cửa sổ tầng hầm bị nhấc ra và đặt nằm dựa vào tường nhà: rất có thể bọn chúng đã đột nhập vào bằng đường này.

Càng ở lại nhà Daltry lâu, tâm can tôi lại càng buốt nhói. Tôi phải rón rén đi quanh hiện trường vụ án thay vì được đảm đương vụ án này, điều ấy làm tôi cảm thấy lạ và khó chịu, như thể tội ác này nằm ngoài phạm vi công việc của tôi và tôi không được phép ở đây. Đồng thời những gì Claire nói tối qua làm tôi suy nghĩ.

Vợ chồng nhà Daltry ở Đồi Crescent không phải là những nạn nhân đầu tiên bị đánh bằng roi. Còn ai đã từng bị hành hạ thế này? Những vụ giết người này có liên quan tới vụ án còn dang dở John Doe 24 của tôi không?

“Hãy nghỉ ngơi và đừng xuất đâu lộ diện", Yuki nói. Tôi bật cười. Tôi vào xe, đập nhẹ vào cái sườn lông lá của người bạn tri kỷ, rồi xuôi con đường rải sỏi để ra xa lộ.

Chỉ mất mười phút chúng tôi đã có mặt tại trung tâm Vịnh Nửa Vầng Trăng. Tôi muốn nhìn thấy ngôi nhà của O’Malley.

Xe cảnh sát đỗ đầy hai bên đường Ocean Colony. Phù hiệu dán trên cửa xe cho tôi biết cảnh sát địa phương đã có được sự hỗ trợ mà họ đang quá cần. Họ đã gọi cảnh sát liên bang tới.

Khi lái xe qua, tôi thấy một cảnh sát mặc quân phục gác trước cửa, một người khác đang phỏng vấn người đưa thư.

Thanh tra và nhân viên kỹ thuật xử lý hiện trường vụ án chốc chốc lại ra vào ngôi nhà. Lều bạt của báo giới được dựng trên bãi cỏ nhà bên cạnh, và một phóng viên đang đưa tin trực tiếp.

Tôi đỗ xe cách xa một đoạn, đi bộ về phía ngôi nhà, trà trộn vào đám đông đang đứng nhìn cảnh sát thi hành nhiệm vụ từ vỉa hè đối diện. Đó là một vị trí khá thuận lợi và trong khi đứng đó, tôi sàng lọc lại những suy nghĩ của mình, hi vọng sẽ tìm ra một điều gì đó.

Những ngôi nhà của các nạn nhân khác xa nhau như mặt trăng mặt trời. Đồi Crescent là một khu công nhân, những ngôi nhà khiêm tốn bị đường cao lộ 1 chắn tầm nhìn ra vịnh. Ocean Colony là khu gần một sân golf tư. Nhà O'Malley và những ngôi nhà xung quanh nó lộng lẫy với toàn những thứ tốt nhất mà tiền có thể mua được. Hai ngôi nhà này và những con người sống trong nó có điểm gì tương đồng?

Tôi nghiên cứu ngôi biệt thự sang trọng của nhà O'Malley, ngói bằng acdoa, những cây hoàng dương trồng trong chậu ngoài cửa được cắt tỉa cẩn thận, và một lần nữa tôi lại đặt ra những câu hỏi sơ bộ. Điều gì đã khiến tên sát nhân đến nơi đây? Vụ giết người này là vì lý do cá nhân hay chỉ vì tình cờ có cơ hội?

Tôi đưa mắt lên nhìn những ô cửa chớp màu xanh trên tầng hai, nơi Lorelei O'Malley bị giết trong phòng ngủ.

Bà ta có bị đánh bằng roi không?

Tôi quá chăm chú nên có lẽ đã gây sự chú ý. Một viên cảnh sát trẻ với khuôn mặt bóng bẩy và có vẻ rất kích động tiến về phía tôi.

— Thưa cô, thưa cô. Tôi phải hỏi cô một vài câu hỏi.

Khỉ ạ. Nếu tôi phải trình thẻ cảnh sát, tay cớm này sẽ kiểm tra trong cơ sở dữ liệu. Tin sẽ lan nhanh: Trung uý Lindsay Boxer, Sở cảnh sát San Ftancisco, đã có mặt tại hiện trường vụ án. Chỉ 20 phút sau báo giới sẽ ập xuống nhấn chuông và dựng lều trên sân cỏ nhà Cat.

Tôi khoác vào mình dáng vẻ vô tội nhất mà tôi có thể có.

— Tôi chỉ đi ngang qua thôi, tôi đi đây.

Tôi hơi nổi cáu, quay đi và bước nhanh về phía chiếc Explorer.

“Đồ ngớ ngẩn". Tôi thấy cậu ta làm việc đó.

Tay cảnh sát ghi lại số xe của tôi khi tôi lái xe ngang qua.

***

Quán bar nhỏ bé, kỳ quặc được đặt tên theo một loài chim biển, chim cốc. Và một chú chim giả tuyệt đẹp lơ lửng trên trần nhà gần quầy bar.

Quán bar có một quầy rượu thô sơ, sáu loại bia thùng, nhạc đùng đùng, và đông nghẹt người vào tối thứ sáu. Tôi nhìn quanh cho đến khi thấy Carolee Brown ngồi bên bàn gần quầy rượu. Bà mặc quần thụng và áo len màu hồng đậm; dây chuyền có hình thánh giá lấp lánh kín đáo trên cổ.

Bà Đầu bếp đang đi chơi.

Carolee nhìn thấy tôi ngay sau khi tôi nhìn thấy bà, cười tươi, ra hiệu cho tôi đến ngồi cạnh. Tôi lách qua đám đông và ôm nhẹ khi bà ta đứng dậy đón tôi.

Chúng tôi gọi bia Pete Wicked và mỳ nấu sò, và cũng giống như bao nhiêu phụ nữ khác, chỉ trong vòng vài phút chúng tôi đã trò chuyện thân mật. Carolee đã được nghe Cat kể về tôi và biết vụ bắn súng đã làm tôi mắc kẹt trong hệ thống luật pháp của California.

— Tôi đã nhận định sai tình thế vì chúng chỉ là những đứa trẻ - tôi nói với Carolee. - Sau khi chúng bắn người cộng sự và tôi, tôi phải bắn hạ chúng.

— Tệ thật, Lindsay nhỉ.

— Không tệ sao được. Giết một đứa trẻ. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể làm một việc như thế.

— Chúng đã ép cô phải làm vậy.

— Chúng là những kẻ giết người, Carolee ạ. Chúng đã giết vài đứa trẻ và khi chúng tôi tóm được chúng, chúng chỉ nhìn thấy một lối thoát. Không ai tưởng tượng nổi những đứa trẻ được ưu đãi như vậy lại có thể sa đoạ đến thế.

— Ừ tôi biết. Nhưng xét từ hàng trăm đứa trẻ đã từng qua trường của tôi, hãy tin tôi đi, trẻ em bị khủng hoảng tâm lý có thể có ở bất kỳ tầng lớp nào - Carolee nói.

Khi Carolee nói về những đứa trẻ bị tổn thương, một cái gì đó lại hiện lên trong tâm trí tôi. Tôi nhớ lại hình ảnh của bản thân mình, lao qua phòng ngủ, - Đừng có cãi lời bố, con gái. Bố tôi đứng sừng sững ở cửa ra vào. Bản thân tôi cũng đã từng là một đứa trẻ bị tổn thương.

Tôi cố đưa tâm trí quay lại với quán Chim cốc.

— Cô có gia đình chưa, Lindsay? - Carolee hỏi. - vẫn còn độc thân hay đã ly hôn?

— Đã ly hôn - bỏ một chàng trai mà tôi vẫn coi như một người anh tôi chưa từng có - tôi nói, thở phào nhẹ nhõm vì bà ta đã thay đổi đề tài. - Nhưng tôi sẽ không phản đối nếu có một đối tượng mới xuất hiện.

— Giờ tôi nhớ ra rồi. Carolee mỉm cười. - Nếu tôi không nhầm, khi tôi mang bánh đến cô đang có khách trong nhà.

Tôi ngoác miệng khi nhớ lại mình đã mặc sơ mi của Joe ra mở cửa. Tôi bắt đầu kể cho Carolee nghe về Joe thì bất chợt để ý tới sự chuyển dịch sau lưng Carolee.

Tôi vẫn biết có ba người đàn ông đang liên tục nốc rượu tại quầy. Hai người bất chợt đi mất. Người còn lại đẹp trai đến không ngờ: tóc quăn đen, khuôn mặt cân đối, kính không gọng, quần là phẳng phiu và mặc áo phông Ralph Lauren.

Người phục vụ quầy bar lấy khăn lau mặt quầy và tôi nghe cậu ta hỏi, - ông có dùng thêm gì không?

— Thực ra tôi muốn cô tóc nâu nhỏ nhắn kia. Và có lẽ sẽ tán tỉnh cô nàng tóc vàng cao lớn.

Tuy anh ta vừa nói vừa nở một nụ cười dễ chịu, tôi vẫn có cảm giác là tay này có gì không ổn. Nom hắn như một tay tư vấn đầu tư của JP Morgan nhưng giọng nói chẳng khác nào của một tay bán hàng rong đang cố gạ gẫm mong bán được hàng.

Quai hàm tôi bắt đầu siết lại khi hắn xoay ghế bar lại và nhìn chăm chăm về phía tôi.

Tôi ngay lập tức kê lại số đo của hắn: da trắng, cao khoảng 1m90, nặng 86 kg, khoảng 40 đến 42 tuổi, không có dấu vết đặc biệt nào ngoài vết thương đang lành giữa ngón cái và ngón trỏ trên tay phải. Như thể hắn bị dao cứa vậy.

Hắn bước xuống ghế bar và tiến về phía chúng tôi.

Tôi nói khẽ với Carolee, - Lỗi của tôi. Tôi đã nhìn hắn. Tôi cố tìm cách lờ hắn, quay sang Carolee nhưng hắn vẫn tiến tới.

— Hôm nay hai quý cô vui vẻ chứ? Cả hai cô đều rất đẹp . Tôi không đến làm quen không được.

— Cảm ơn - Carolee nói. - Chung tôi rất cảm kích vì những gì ông nói. Rồi bà quay lưng lại phía hắn.

— Tôi là Dennis Agnew - hắn nói, vẫn cố đấm ăn xôi. Tất nhiên là hai cô không biết tôi, trước lạ sau quen mà. Sao không mời tôi ngồi xuống nhỉ? Bữa tối tôi mời nhé.

— Rất cảm ơn ông, Dennls - tôi nói, - nhưng chúng tôi đang có việc riêng, ông biết đấy, một buổi tối chỉ dành cho phái nữ.

Hắn bất chợt cau mày khó chịu, nom như tia chớp giữa bầu trời quang. Chỉ một tích tắc sau vẻ tự mãn lại trở lại cùng với nụ cười tươi.

— Chúng ta sẽ làm quen. Thậm chí nếu hai cô không thích đàn ông cũng không sao. Chỉ là ăn tối thôi mà.

Dennis Agnew là một kết hợp giữa sự bóng bẩy và thô thiển, nhưng cho dù hắn có thế nào, tôi cũng thấy thế là quá đủ rồi.

— Này Dennis - Tôi nói, lôi thẻ cảnh sát ra khỏi túi và chìa ra trước mặt hắn. Tôi là cảnh sát và hai chúng tôi đang nói chuyện riêng. Được chứ?

Tôi có thể nhìn thấy gân hắn nổi cộm dưới làn da cổ khi hắn cố giữ thể diện.

— Cô không nên phán xét vội vã, cô cảnh sát. Nhất là về những người cô không biết.

Agnew quay trở lại quầy bar, đặt tiền lên mặt quầy và ném cho chúng tôi cái nhìn cuối cùng.

— Cẩn trọng nhé. Tôi sẽ còn gặp lại cô.

Rồi hắn đẩy cửa bước ra bãi xe.

— Cừ lắm, Lindsay - Carolee giơ tay vờ bóp cò súng và thổi khói súng tưởng tượng ở đầu ngón tay.

— Thẳng đểu - tôi nói. - Bà có nhìn thấy vẻ mặt hắn không? Như thể hắn không thể tin nổi là chúng ta lại từ chối hắn. Hắn tưởng mình là ai chứ? George Clooney à?

— Ừ - người bạn mới của tôi nói. - Mẹ hắn và cái gương trong phòng hắn nói với hắn rằng hắn là người quyến rũ đến mức không ai cưỡng lại được.

— Quá tuyệt! Chúng tôi cười to, và cụng ly. Carolee thật tuyệt; tôi có cảm giác mình đã biết bà ấy từ lâu rồi. Nhờ có bà, tôi đã thôi không nghĩ đến Dennis Agnew, những tên sát nhân và những cái xác chết, và thậm chí cả phiên toà sắp tới của tôi.

Tôi giơ tay và gọi thêm một chầu Pete Wicked.

***

Kẻ Tìm kiếm giấu con dao xuống dưới ghế xe rồi hắn ra khỏi xe và mở cửa bước vào siêu thị. Ngay lập tức hơi mát của điều hoà cùng mấy cái tủ to lớn mát lạnh đầy chặt nước ngọt và bia làm hắn cảm thấy dễ chịu.

Hắn hài lòng khi nhìn thấy người phụ nữ tóc sẫm trong bộ đồ thể thao Fila đắt tiền đang xếp hàng tại quầy thanh toán.

Tên cô ta là Annemarie Sarducci, và Kẻ Tìm kiếm biết rằng cô ta vừa chạy bộ về. Cô ta sẽ mua một chai nước khoáng nhập khẩu, rồi đi về nhà và ăn tối cùng gia đình trong ngôi nhà nhìn ra Vịnh.

Kẻ Tìm kiếm biết rất nhiều điều về Annemarie: rằng cô ta rất tự mãn với vóc dáng thon thả, khoảng 50 kg của mình; rằng cô ta ngủ với huấn luyện viên cá nhân của mình; rằng con trai cô ta bán ma tuý cho các bạn cùng lớp; và rằng cô ta ghen tỵ đến điên dại với em gái Juliette, diễn viên đóng trong một bộ phim truyền hình dài tập ở Los Angeles.

Hắn cũng biết rằng cô ta có một trang blog với biệt danh Bông hồng leo. Hắn có lẽ là người hay đọc trang blog của cô ta nhất trong mấy tháng nay. Hắn thậm chí còn ký vào sổ khách bằng tên thật của mình.

“Tôi rất thích cách suy nghĩ của cô. Kẻ tìm kiếm"

Kẻ tìm kiếm rót càfê đen đậm đặc từ máy pha càfê đặt trong góc cửa hàng vào đầy cái cốc giấy, rồi đứng xếp hàng ngay sau Cô Sarducci. Hắn vờ huých nhẹ, rồi phủi ngực cô ta như thể vô tình.

— Tôi xin lỗi. Ồ, chào Annemarie - hắn nói.

— Vâng, xin chào - cô ta trả lời, liếc qua hắn bằng cái nhìn chán nản và gật đầu. Cô ta đưa tờ giấy 5 đôla cho cô gái xám xịt đứng sau quầy thu tiền, lấy lại tiền thừa và đi mà chẳng thèm chào.

Kẻ tìm kiếm nhìn Annemarie ra khỏi cửa hàng, cái mông nhỏ ngoáy tít theo thói quen. Chỉ vài giờ đồng hồ nữa hắn sẽ đọc nhật ký trên mạng của cô ta, tất cả những điều lập dị mà cô ta không muốn những người trong đời thường biết tới.

“Hẹn gặp lại nhé, Bông hồng leo".

***

Khi Carolee gọi và nhờ tôi trông Allison trong vài tiếng đồng hồ, tôi chỉ muốn thú thật - Xin đừng bắt tôi phải trông trẻ. Nhưng Carolee đã nhanh hơn tôi.

— Ali nhớ chú lợn lắm - bà ta nói. - Nếu cô để nó đến thăm Penelope, con bé sẽ rất vui và tôi có thể đi nha sỹ chữa răng. Tôi sẽ rất biết ơn đấy, Lindsay ạ.

Khoảng nửa tiếng sau, Allison bật dậy và ra khỏi xe, chạy đến cửa trước. Mái tóc sẫm bóng mượt của cô bé buộc hai bên, và từ đầu đến chân cô bé toàn màu hồng, kể cả giày.

— Chào cháu, Ali.

— Cháu mang táo đến - cô bé nói, chạy lách qua tôi vào trong nhà. - Rồi cô sẽ thấy.

— A-ha - tôi nói, vờ phấn khởi.

Tôi vừa mở cửa sau, Penelope đã lon ton chạy tới hàng rào và bắt đâu ủn ỉn ồn ào một tràng những tiếng eng éc và ụt ịt. Allison cũng ụt ịt trả lời. Đúng lúc tôi nghĩ hàng xóm sẽ gọi cho người trông nom động vật thì Allison toét miệng cười nhìn tôi và nói, - Đấy là tiếng lợn đấy.

— Cũng có người bảo với cô như thế, tôi nói, mỉm cười nhìn cô bé.

— Đó là ngôn ngữ thật sự đấy - Allison khăng khăng. Cô bé gãi lưng chú lợn, Penelope lăn tròn, giơ bốn chân lên trời phê tít.

— Hồi Penelope còn bé, nó sống trong một cái nhà to ở gần biển với tất cả những chú lợn trên thế giới - Ali nói với tôi. - Nó thường thức cả đêm và nói chuyện bằng tiếng lợn với những chú lợn khác còn ban ngày thì nó làm móng, gọi là móng lợn.

— Thế á?

— Lợn thông minh hơn người ta tưởng nhiều - Ali tiết lộ. - Penelope biết rất nhiều thứ. Nhiều hơn chúng ta tưởng.

— Thế mà cô không biết đấy, tôi nói.

— Cô này - Ali tiếp tục. - Cô cho nó ăn táo nhé. Cháu phải đi vẽ móng chân cho nó.

— Thật à?

— Nó muốn thế mà.

Vì Allison đảm bảo với tôi rằng có thể thả chú lợn ra nên tôi làm đúng như cô bé nói. Tôi cầm mấy quả táo để Penelope nhai rào rạo trong lúc Ailison luôn mồm nói và lấy lọ sơn móng tay vẽ lên những cái móng của chú lợn.

— Xong rồi, Penny. Ali rạng rỡ đầy kiêu hãnh. - Để cho nó khô. Đấy - nó nói với tôi. - Martha biết làm gì?

— Thật ra chó cũng có ngôn ngữ riêng. Martha được huấn luyện để canh cừu theo mệnh lệnh.

— Cô cho cháu xem nào!

— Cháu có nhìn thấy có con cừu nào ở xung quanh đây không?

— Cô ngốc thật.

— Ừ, cô ngốc lắm. Nhưng cháu có biết: cô thích cái gì nhất ở Martha không? Nó làm bạn với cô và nó báo cho cô biết ai là kẻ xấu hoặc thậm chí là về những việc có thể xảy đến ban đêm.

— Cô có súng, đúng không? - Ali hỏi, trên khuôn mặt ngọt ngào của cô bé hiện nét láu lỉnh.

— Có, cô có súng.

— Hay quá. Một khẩu súng và một con chó. Cô tuyệt thật, Lindsay. Có lẽ cô là người hay nhất mà cháu từng biết.

Cuối cùng tôi cũng cười ngả cười nghiêng. Ali thật dễ thương và có trí tưởng tượng thật phong phú. Tôi nhận thấy mình rất thích cô bé. Tôi đến Vịnh Nửa Vầng Trăng để ngẫm nghĩ lại toàn bộ cuộc đời mình. Giờ tôi tưởng tượng một cách sống động cảnh tôi, Joe, một ngôi nhà và một cô bé.

Tôi còn đang chìm đắm trong ý nghĩ đáng kinh ngạc này thì Carolee bước vào sân sau với một nụ cười méo mó. Tôi không thể tưởng tượng được hai tiếng đồng hồ đã trôi qua và tôi thật sự nuối tiếc khi phải để Ali về.

— Hôm nào cháu lại sang chơi nhé - tôi nói, ôm hôn nó để chào tạm biệt. - Ali, hãy đến bất cứ lúc nào nhé.

Tôi đứng trên phố vẫy cho đến khi chiếc xe của Carolee khuất sau cho rẽ trên đường Sea View Avenue. Nhưng khi chiếc xe vừa đi khỏi, ý nghĩ vẫn lẩn khuất đâu đó trong tâm trí tôi giờ lại hiện ra. Tôi mang máy tính xách tay ra phòng khách, ngồi vào cái ghế mềm, và bật cơ sở dữ liệu của NCIC lên (Trung tâm Thông tin Tội phạm Quốc gia). Trong vòng vài phút, tôi được biết Tiến sỹ Ben O'Malley, 48 tuổi, vài lần bị phạt vì lái xe quá tốc độ và bị bắt vì lái xe sau khi uống rượu 5 năm trước, ông ta đã kết hôn và hai lần goá bụa.

Người vợ đầu tiên tên là Sandra, có với ông ta cô con gái Caitlin. Bà ta đã chết trong ga-ra ô tô nhà họ năm 1994, treo cổ tự tử. Bà O'Malley thứ hai, Lorelei Breen, bị ám sát ngày hôm qua, 39 tuổi, bị bắt vì ăn cắp vặt năm 1998. Đã nộp phạt và được thả.

Tôi cũng kiểm tra cả Alice và Jake Daltiy, và một loạt thông tin hiện ra trên màn hình. Jake và Alice đã kết hôn được 8 năm và hai đứa con trai 6 tuổi, sau khi bố mẹ bị giết hại trong ngôi nhà màu vàng ở Crescent Heights giờ trở thành côi cút.

Tôi hình dung lại hình ảnh ngôi nhà dễ thương với quanh cảnh nhìn ra vịnh, lưới bóng rổ nằm lăn lóc, và chiếc giày thể thao trẻ em.

Rồi tôi lại tập trung vào màn hình.

Jake đã từng là một kẻ không ra gì trước khi anh ta lấy Alice. Tôi nhấp chuột xuống hồ sơ của anh ta: từng có quan hệ với một gái điếm và giả mạo chữ ký của bố để ký lấy séc bảo hiểm xã hội, anh ta đã phải ngồi tù sáu tháng vì chuyện này, nhưng 8 năm vừa qua hồ sơ anh chàng trong sạch và anh ta có việc làm ổn định tại một quán pizza trong thành phố.

Vợ của anh ta, Alice, 32 tuổi, hồ sơ không có vấn đề gì. Thậm chí không bao giờ vượt đèn đỏ hay đâm vào xe đẩy của ai ở siêu thị.

Thế mà cô ta vẫn phải chết.

Vậy là thế nào?

Tôi gọi cho Claire, cô ấy nhấc máy ngay sau lần đổ chuông đầu tiên. Chúng tôi vào việc ngay.

— Claire, cậu có thể xem xét hộ mình được không? Mình đang tìm mối liên hệ giữa vụ ám sát O'Malley và vụ của Alice và Jake Daltry.

— Tất nhiên, Lindsay ạ. Mình sẽ hỏi vài người đồng nghiệp trong bang. Xem có tìm được thông tin gì không.

— Và cậu có thể tìm giúp mình thông tin về Sandra O'Malley được không? Chết năm 1994, treo cổ tự tử.

Chúng tôi nói chuyện thêm một lát nữa, về chồng của Claire, Edmund và chiếc nhẫn saphia mà anh tặng cô ấy vào dịp kỷ niệm ngày cưới của họ. Và chúng tôi cũng nói về cô gái bé nhỏ tên là Ali biết nói tiếng lợn.

Khi bỏ máy, tôi cảm thấy như nghẹt thở. Tôi đang định tắt máy thì có cái gì đó đập vào mắt. Khi Lorelei O'Malley ra hầu toà vì đã lấy cắp một đôi khuyên tai giá 20 đôla, một tay luật sư trong vùng tên Bob Hinton đã đứng ra bào chữa cho bà ta.

Tôi biết Bob Hinton.

Danh thiếp của anh ta vẫn còn trong túi quần soóc của tôi từ hôm anh ta làm tôi ngã sóng soài bằng chiếc xe đạp mười tốc độ của anh ta. Và theo như tôi nhớ, anh chàng nợ tôi một việc.

Văn phòng của Bob Hinton là một căn phòng kín bưng trên phố Main, nằm chẹt giữa càfê Starbucks và một ngân hàng. Với hi vọng cậu ta sẽ có trong văn phòng vào thứ bảy, tôi đẩy cánh cửa kính và thấy Bob đang ngồi sau cái bàn gỗ lớn, mái đầu hói cúi xuống tờ Người thẩm vấn San Francisco.

Cậu chàng đứng bật dậy, chìa tay ra, quệt vào tách càfê làm càfê đổ tung toé lên khắp trang giấy. Tôi kịp thấy bức ảnh trên trang đầu trước khi nó bị càfê thấm ướt. Đó là bức ảnh một cậu bé ngồi trên xe đẩy. Sam Cabot. Cơn ác mộng bé nhỏ của tôi.

— Xin lỗi, Bob, tôi không cố ý làm anh giật mình.

— Không cần phải xin lỗi - Bob nói. Cậu ta sửa lại cặp kính gọng hồng và rút khăn giấy từ ngăn bàn ra để lau vết càfê. - Mời cô ngồi.

— Cảm ơn.

Bob hỏi tôi sống ở Vịnh Nửa Vầng Trăng thế nào, tôi nói với cậu ta tôi đang cố giết thời gian.

— Tôi vừa đọc về cô xong, Trung uý ạ - cậu ta nói, lấy một nắm giấy ăn chùi trang báo.

Trong thế giới nano đúng là không có bí mật nhỉ - tôi cười. Rồi tôi nói với Bob rằng tôi bắt đầu quan tâm đến những vụ ám sát xảy ra cách nơi tôi ở chỉ có hai dặm và hỏi liệu cậu ta có thể nói gì cho tôi biết chăng.

— Tôi biết Lorelei O'Malley, cậu ta nói. Tôi đã từng là luật sư bào chữa của bà ta. Bà ta chỉ bị phạt nhẹ - cậu ta nói và nhún vai bất mãn. Tôi chỉ biết Ben sơ sơ. Người ta đồn ông ta dính líu đến cái chết của Lorelei, nhưng tôi không thể tưởng tượng ông ta có thể giết mẹ kế của Caitlin. Con bé đã từng suy sụp tinh thần khi mẹ đẻ của nó tự tử.

— Cảnh sát bao giờ cũng nghi ngờ bạn đời đầu tiên.

— Dĩ nhiên. Tôi biết. Tôi có vài người bạn ở sở. Tôi lớn lên ở Vịnh Nửa Vầng Trăng - cậu ta giải thích, và bắt đầu lập nghiệp ở đây ngay sau khi tốt nghiệp trường luật. Tôi thích làm con cá nhỏ ở ao nhà.

— Cậu quá khiêm tốn, Bob ạ - tôi khoát tay, chỉ về phía những tấm ảnh treo trên tường có hình Bob bắt tay với Thống đốc bang và một số những nhân vật cao cấp khác. Cũng có vài giải thưởng được đóng khung cẩn thận.

— À, mấy thứ đó à - Bob nói, lại nhún vai. - tôi có làm vài việc từ thiện với tư cách là đại diện cho những trẻ em bị lợi dụng và bị bỏ rơi. Cô biết đấy, đại diện bọn trẻ, đấu tranh để quyền lợi của chúng được đảm bảo.

— Rất đáng tuyên dương - tôi nói. Tôi bắt đầu có cảm tình với anh chàng dễ mến này, tôi để ý thấy rằng cậu ta cũng bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn với tôi. Từ khi đánh đổ tách càfê anh ta chưa hề bị nói lắp.

Bob ngả người ra sau ghế và chỉ tay về bức ảnh một buổi lễ khen thưởng trong toà thị chính. Bob bắt tay với một nhân vật đang đưa cho anh ta một tấm băng.

— Cô nhìn thấy người kia không? - cậu ta hỏi, chỉ vào người đàn ông sang trọng ngồi trên sân khấu cùng một vài người khác. - Ray Whittaker. Ông ta và vợ, Molly, sống ở LA nhưng đến đây nghỉ hè. Bị giết trên giường mấy năm trước. Lindsay, cô biết là tất cả những người này đều bị đánh đến chết không?

— Tôi có nghe nói - tôi trả lời. Tôi thất thần một lát khi nghi đến việc còn có những vụ ám sát khác đã xảy ra vài năm trước. Tại sao chúng lại đánh nạn nhân? Kẻ giết người hành động bao lâu rồi?

Khi tôi định thần lại, Bob vẫn đang tiếp tục nói về nhà Whittaker.

— .... Họ là những người dễ gần, và dễ chịu.

Ông ấy là một nhiếp ảnh gia còn bà ấy là một diễn viên gì đó ở Hollywood. Thật vô lý. Tất cả bọn họ đều là những người tốt, và đúng là một bi kịch khi những đứa trẻ mồ côi phải về ở với bố mẹ nuôi hoặc với những người họ hàng mà chúng không quen biết. Tôi rất lo cho bọn trẻ. Cậu ta lắc đầu và thở dài. - Sau mỗi ngày làm việc, tôi lại cố bỏ lại những thứ như thế này ở văn phòng, nhưng tôi chẳng mấy khi thành công.

— Tôi biết anh muốn nói gì - tôi nói. - Nếu anh có thời gian, tôi sẽ kể cho anh nghe một câu chuyện mà tôi vẫn mang từ văn phòng về nhà trong mười năm qua.

Bob đứng dậy và đi lại chiếc máy pha càfê đặt trên tủ để hồ sơ. Cậu ta rót ra hai cốc càfê.

— Tôi có tất cả thời gian trên trái đất này - cậu ta nói. Tôi không thích giá cả của Starbucks. Cậu ta quay sang nhìn tôi cười. - Cũng chẳng thích cách bài trí cửa hàng của họ.

Vừa uống tách càfê nhạt nhẽo với sữa bột, tôi vừa kể cho Bob nghe về vụ án đầu tiên của tôi.

— Chúng tôi tìm thấy cậu bé trong một khách sạn dơ dáy bẩn thỉu ở quận Mission. Trước đó tôi đã từng nhìn thấy xác chết, nhưng tôi vẫn bị sốc, Bob ạ. Cậu bé rất trẻ - khoảng 17 đến 21 tuổi và khi tôi bước vào phòng, tôi thấy cậu bé nằm sấp, tay chân dang ra, thối rữa trong vũng máu của chính mình. Ruồi bâu đầy người. Cả một lớp ruồi vo ve.

Cổ họng tôi nghẹn lại khi hình ảnh ngày xưa lại ập về; nó rõ mồn một như thể ngay lúc này đây tôi đang đứng trong căn phòng khách sạn, suy nghĩ. Trời ơi, hãy cho tôi ra khỏi chỗ này. Phải làm một ngụm càfê kinh khủng tôi mới có thể tiếp tục.

— Trên người cậu bé chỉ có hai thứ: một chiếc tất Hanes loại thường, chẳng khác gì hàng trăm ngàn đôi tất khác bán ở khắp nơi, và một chiếc áo phông mua từ cửa hàng Distillery. Cậu có biết chỗ đó không?

Bob gật đầu. - Tôi dám cá là khách du lịch nào đi qua Vịnh Nửa Vầng Trăng từ năm 1930 tới giờ đều đã đến ăn tại quán đó.

— Ừ, một manh mối vớ vẩn. Thằng bé đó chết như thế nào?

— Bị dao cứa cổ. Và mông cậu bé bị rách vì bị đánh bằng roi. Nghe quen chưa?

Bob lại gật đầu. Cậu ta đang lắng nghe rất chăm chú nên tôi tiếp tục. Tôi nói với anh ta là chúng tôi lục tìm khắp thành phố và Vịnh Nửa Vầng Trăng trong hàng tuần.

— Không ai biết nạn nhân, Bob ạ. Dấu vân tay của cậu ta không có trong hồ sơ, và căn phòng nơi cậu ta bị giết dơ dáy đến mức rất dễ bị nhiễm độc vì bẩn. Chúng tôi hoàn toàn không có manh mối nào cả.

— Không ai đến để nhận dạng nạn nhân. Điều đó không phải là lạ. Chúng tôi đã có 23 anh chàng John Doe trong năm đó. Nhưng tôi vẫn nhớ sự ngây thơ trên khuôn mặt thằng bé. Nó có đôi mắt xanh, tôi nói. Tóc đỏ nhạt. Và giờ đây, sau nhiều năm, lại thêm những vụ án giống như vậy.

— Cô biết điều gì là lạ không hả Lindsay? Tôi nghĩ là kẻ giết người có thể sống ngay tại thành phố này.

Điện thoại reo, cắt ngang lời Bob.

— Robert Hinton - cậu ta nghe máy.

Ngay lập tức, mặt cậu ta trắng bệch. Im lặng bao trùm, chỉ có tiếng Bob nói, - À, à. Rồi cậu ta nói, - Cảm ơn vì đã báo cho tôi biết - rồi bỏ máy.

— Một người bạn của tôi làm ở tờ Gazette - cậu ta giải thích. - Mấy đứa nhỏ đi bộ dã ngoại đã tìm thấy thi thể của Ben O'Malley trong rừng.

***

Bố mẹ của Jake Daltry sống ở trong khu nhà xây sẵn tại Palo Alto, cách Vịnh Nửa Vầng Trăng 30 phút lái xe. Tôi đỗ chiếc Explorer trên phố trước ngôi nhà màu sữa của họ, một trong số hàng tá những ngôi nhà giống hệt nhau trên phố Brighton.

Một người đàn ông to béo, lôi thôi, tóc bạc bù xù, mặc áo sơ mi ấm và quần màu xanh có dây ra mở cửa.

— Ông Richard Daltry phải không?

— Không cần gì đâu - ông ta nói, và đóng sập cửa.

“Tôi quá quen với kiểu sập cửa kiểu này rồi, ông già lập dị ạ". Tôi rút phù hiệu và lại nhấn chuông. Lần này một phụ nữ nhỏ nhắn với mái tóc nhuộm, chân tóc bạc màu, mặc tạp dề có hình những chú thỏ, ra mở cửa.

— Tôi có thể giúp gì được cho cô không?

— Tôi là trung uý Lindsay Boxer, sở cảnh sát San Francisco tôi nói, giơ phù hiệu cho bà ta xem. Tôi đang điều tra một vụ án mạng trong hồ sơ cũ của chúng tôi.

— Thế thì liên quan gì đến chúng tôi?

— Tôi nghĩ có những điểm tương đồng giữa vụ án mạng cũ của tôi và cái chết của Jake và Alice Daltry.

— Tôi là Agnes, mẹ của Jake. Bà ta nói, mở cửa. - Xin cô thứ lỗi cho chồng tôi. Chúng tôi đang phải chịu áp lực kinh khủng. Giới báo chí quả là khủng khiếp.

Tôi theo người phụ nữ bước vào ngôi nhà có mùi thuốc đánh bóng gỗ và một cái bếp dường như chưa hề thay đổi kể từ thời Hinekley bắn Reagan. Chúng tôi ngồi bên cái bàn poócmica đỏ, qua cửa sổ tôi có thể nhìn thấy sân sau. Hai cậu bé đang chơi với xe ô tô nhỏ trong sân cát.

— Khổ thân các cháu trai của tôi - bà Daltry nói. Tại sao việc ấy lại xảy ra chứ?

Nỗi đau của Agnes Daltry hằn trên khuôn mặt nhăn nheo, đôi bờ vai đang chùng xuống. Tôi có thể thấy bà ta cần một người lắng nghe những điều bà ta chưa từng kể cho ai bao giờ.

— Xin bà kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra - tôi nài. - Hãy nói cho tôi tất cả những gì bà biết.

— Jake đã từng là một đứa trẻ ngỗ ngược - bà ta nói. - Không phải là người xấu, cô hiểu không, nhưng cứng đầu. Khi nó gặp Alice, nó trưởng thành nhanh như chớp. Hai đứa nó yêu nhau và muốn có con. Khi có hai thằng bé, Jake đã thề sẽ trở thành người đàn ông tốt để làm gương cho các con. Nó yêu bọn trẻ, và đã sống đúng theo lời hứa, Trung uý ạ. Nó thật tốt, nó và Alice thật hạnh phúc. Ôi...

Bà đặt tay lên ngực và lắc đầu đầy khốn khổ. Bà ta có lẽ sẽ tiếp tục như thế và sẽ hoàn toàn không đả động gì tới vụ ám sát.

Agnes nhìn xuống bàn khi chồng bà đi qua bếp. Ông ta liếc nhìn tôi, lấy chai bia ra khỏi tủ lạnh, đóng sầm cửa và ra khỏi phòng.

— Richard vẫn còn giận tôi - bà ta nói.

— Tại sao vậy, Agnes?

— Tôi đã làm một điều sai trái.

Tôi sốt ruột muốn biết sự thật. Tôi đặt tay lên bàn tay trần của bà ta, khi tôi chạm vào, nước mắt bà chảy giàn giụa.

— Hãy nói cho tôi biết - tôi nói nhẹ nhàng. Bà ta lấy giấy ra khỏi hộp và lau nước mắt.

— Tôi chuẩn bị đến trường đón hai đứa bé - bà ta nói. Tôi đến nhà Jake và Alice trước để xem chúng có cần sữa hay nước quả không. Jake trần truồng, nằm chết trong phòng khách. Alice nằm trên bậc cầu thang.

Tôi nhìn Agnes chằm chằm, giục giã bà ta bằng ánh mắt.

— Tôi lau sạch máu - Agnes nói, thở dài. Bà ta nhìn tôi như thể bà ta nghĩ là chính mình sẽ bị đánh. Tôi mặc quần áo cho hai đứa. Tôi không muốn bất cứ ai nhìn thấy chúng như vậy.

— Bà đã phá hỏng hiện trường vụ án - tôi nói.

— Tôi không muốn hai đứa bé nhìn thấy nhiều máu vậy.

Tôi đứng dậy và dang rộng vòng tay cho Agnes Daltry. Một tháng trước tôi sẽ không làm như vậy. Tôi quá bận tâm suy nghĩ về công việc của mình.

Bà ta gục đầu vào vai tôi và khóc như không thể ngừng lại được. Giờ tôi đã hiểu. Agnes không nhận được nguồn an ủi đáng lẽ phải có từ người chồng. Vai bà lắc thật mạnh, tôi có thể cảm nhận được nỗi đau của bà như thể tôi biết bà và tôi đã yêu gia đình bà nhiều như bản thân bà vậy.

Nỗi thương nhớ của Agnes làm tôi cảm động đến mức tôi chạnh lòng nghĩ tới sự cô đơn của bản thân vì đã mất đi những người tôi từng yêu dấu: mẹ tôi, Chris, Jill.

Tôi nghe xa xa có tiếng chuông cửa. Tôi vẫn đứng ôm Agnes khi chồng bà ta trở vào bếp.

— Có người đến gặp cô - ông ta nói, giọng giận dữ.

— Gặp tôi à?

Người đàn ông ngồi chờ ngoài phòng khách đúng là một đối tượng màu nâu đáng được nghiên cứu: áo thể thao màu nâu, quần nâu, cà vạt sọc nâu. Ông ta có mái tóc màu nâu, một bộ râu màu nâu sẫm, và đôi mắt khắc nghiệt cũng màu nâu.

Nhưng khuôn mặt ông ta đỏ phừng phừng.

— Trung uý Boxer phải không? Tôi là Peter Stark, cảnh sát trưởng, Vịnh Nửa Vầng Trăng. Cô phải đi cùng tôi.

Tôi đỗ chiếc Explorer ở chỗ đỗ xe dành cho khách - ngoài toà nhà màu xám trông như doanh trại của sở cảnh sát. Sếp Stark ra khỏi xe và đi lạo xạo qua con đường rải sỏi về phía ngôi nhà mà chẳng buồn nhìn lại xem tôi có đi theo ông ta hay không.

Đúng là rất lịch sự và chuyên nghiệp.

Điều đầu tiên tôi để ý trong văn phòng của ông ta là câu phương châm để sau bàn: Hãy làm việc đúng đắn và làm cho tốt. Rồi tôi nhìn đống hỗn độn: hàng xấp giấy lộn xộn fax và máy copy cũ rích, những bức ảnh bụi bặm treo xộc xệch trên tường có hình Stark và thú vật chết. Một nửa cái bánh mỳ kẹp phômai trên tủ đựng hồ sơ.

Sếp bỏ áo ngoài, để lộ bộ ngực vạm vỡ và đôi cánh tay như của quái vật. Ông ta treo áo lên trên cái móc sau cửa.

— Ngồi xuống, Trung uý. Tôi đã nghe rất nhiều về cô - Sếp nói, lật nhanh qua một tập tin nhắn điện thoại. Từ lúc rời khỏi nhà Daltry, ông ta chưa hề nhìn tôi. Tôi nhấc cái mũ bảo hiểm đi xe máy ra khỏi ghế, đặt xuống sàn và ngồi xuống.

— Cô nghĩ là cô đang làm cái quái gì vậy hả? - ông ta hỏi.

— Ông nói gì cơ?

— Ai cho cô cái quyền bước vào sân nhà tôi mà lục lọi hả? - Ông ta nói, nhìn xoáy vào tôi. - Cô đang bị đình chỉ công tác cơ mà, có phải vậy không hả Trung uý?

— Thưa Sếp, tôi không hiểu ông đang định nói gì?

— Đừng có đùa, Boxer. Tiếng tăm của một tay súng phóng túng đã đến tai tôi trước khi gặp cô. Có thể cô đã bắn những đứa trẻ kia mà không hề có lý do.

— Này, ông nghe đây..

— Có lẽ cô đã sợ, cô mất bình tĩnh. Và điều đó biến cô trở thành một cảnh sát nguy hiểm. Cô hiểu chưa?

Tôi hiểu ông ta, hoàn toàn hiểu. Thằng cha giữ chức cao hơn tôi, và một bản báo cáo của hắn là tôi đã vi phạm nguyên tắc thi hành nhiệm vụ hoặc không nghe lệnh cấp trên sẽ có hại cho tôi. Tôi vẫn giữ thái độ trung lập.

— Tôi nghĩ những vụ ám sát mới đây có liên quan đến một vụ án cũ của tôi - tôi nói. - Cách giết người của chúng giống nhau. Có lẽ chúng ta có thể giúp nhau.

— Đừng có dùng từ chúng ta với tôi, Boxer. Cô đang bị kết tội. Đừng có làm loạn hiện trường vụ án của tôi lên. Để các nhân chứng của tôi yên. Đi dạo đi. Đọc sách đi. Kiềm chế đi. Làm gì cũng được. Tránh đường cho tôi đi.

Khi tôi nói, giọng tôi căng đến mức một nghệ sỹ đi dây có thể nhào lộn trên nó để đi dọc căn phòng.

— Ông biết không, Sếp, ở vào địa vị ông, những điều duy nhất mà tôi nghĩ tới sẽ là có một thằng tâm thần đang chạy rông ngoài kia. Nghĩ cách làm sao để có thể ngăn chặn mọi hành động của hắn lại. Tôi có lẽ thậm chí sẽ hoan nghênh ý định giúp đỡ của một thanh tra điều tra án mạng từng được tặng thưởng huân chương. Nhưng xem ra suy nghĩ của chúng ta khác nhau.

Bài diễn văn ngắn của tôi làm tay cảnh sát trưởng co rụt lại đôi chút, và thế là nhân cơ hội đó tôi rút lui một cách đường hoàng.

— Ông biết cách liên lạc với tôi rồi đấy - tôi nói, và ra khỏi sở cảnh sát.

Tôi gần như có thể nghe được luật sư của tôi thì thào vào tai mình. Cứ bình tĩnh. Đừng xuất đâu lộ diện quá. Dở hơi, Yuki ạ. Sao không khuyên tôi chơi đàn hạc luôn đi?

Tôi rồ máy và cho xe phóng vọt ra khỏi bãi đậu xe.

Tôi lái xe dọc phố Main, vừa lẩm bẩm vừa hổn hển thở, nghĩ đến một số điều mà tôi ước mình đã nói với tay cảnh sát trưởng, rồi tôi để ý thấy đèn bình xăng nháy điên loạn, Lindsay! Mày hết xăng rồi!

Tôi kéo xe vào trạm xăng lập dị, cho chiếc Explorer chạy qua chuông khí, và khi không thấy Keith xuất hiện, tôi bước vào trong cửa hàng của cậu ta.

Tiếng bài hát Đi trong cơn bão của ban nhạc The Doors ập ra khi tôi mở cửa vào xưởng sửa chữa.

Trên bức tường phía bên phải tôi là tờ lịch có hình Hoa hậu Tháng sáu, trên người hoàn toàn không có gì ngoài mái tóc bồng bềnh. Trên cô ta là một cảnh tượng lộng lẫy: những vật trang trí mui xe của các loại xe Bentleys, Jags, và Maserati, được gắn vào tấm gỗ quét sơn như chiến lợi phẩm. Trong một cái lốp xe là chú mèo mướp béo mập đang cuộn tròn nằm ngủ.

Tôi trầm trồ thán phục chiếc Porsche đỏ trên sàn sửa xe và nói chuyện với quần bò và đôi ủng của Keith đang thò ra từ dưới xe.

— Đẹp đấy - tôi nói.

Keith chui ra từ dưới gầm xe, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt lấm lem dầu mỡ của cậu ta.

— Đẹp thật đấy chứ. Cậu ta chui ra khỏi gầm, chùi tay vào một cái giẻ và vặn nhỏ tiếng nhạc xuống. - Lindsay. Cô có vấn đề với chiếc Bonneville à?

— Không hề. Tôi đã thay máy dao điện và chốt. Máy giờ nổ ngon lành rồi.

— Đây là Hairball - Keith nói với tôi, gãi dưới cằm chú mèo. - Chú mèo tấn công của tôi đấy. Nó chạy vào bộ chế hoà khí của một chiếc xe tải mấy năm trước.

— Ái chà, đau lắm nhỉ.

— Đi suốt từ Encino đấy. Móng chân nó cháy hết, nhưng giờ nó có móng chân mới rồi, đúng không anh bạn?

Keith hỏi tôi có cần xăng không, và tôi nói là có. Chúng tôi cùng bước ra ngoài ánh nắng nhẹ của buổi chiều.

— Tôi thấy cô trên TV hôm qua - Keith nói với tôi bơm xăng vào chiếc Explorer.

— Nói xạo.

— Không, tôi có thấy thật mà. Luật sư của cô lên tivi trên chương trình thời sự, và họ đưa một bức ảnh cô mặc quân phục - cậu ta nói, nhe răng cười. - Cô đúng là cảnh sát.

— Lúc trước cậu không tin tôi à?

Cậu ta nhún vai kiểu cách. - Tôi có tin. Nhưng cô không là cảnh sát thì cũng tốt, Lindsay ạ. Là cảnh sát cũng được mà chỉ có dáng đẹp thôi cũng được.

Tôi huýt sáo, và khuôn mặt của Keith nhăn lại vì cười. Một lát sau, tôi kể cho cậu ta nghe về vụ Cabot - chỉ kể sơ qua, không nói đến sự buồn bã và vết thương. Keith động viên tôi và nói chuyện với cậu ta quả là dễ chịu hơn nói chuyện với sếp Stark nhiều. Khỉ ạ, tôi thậm chí còn cảm thấy mến cậu ta. Đúng là Brad Pitt.

Cậu ta mở mui chiếc Explorer, lôi thanh thử dầu ra và nhìn thẳng vào tôi với đôi mắt xanh biếc. Tôi nhìn vào chúng đủ lâu để thấy rằng con ngươi của cậu ta có viền xanh thẫm và lấm chấm nâu, như thể những bụi vàng nhỏ ở trong chúng vậy.

— Xe của cô cần thay dầu - tôi nghe cậu ta nói. Tôi cảm thấy mặt minh đỏ bừng.

— Ok

Keith lôi một thùng Castrol ra và đổ vào máy. Trong lúc đổ dầu, cậu ta nhét tay kia vào túi sau quần bò, bắt chước một cử chỉ cố tình thờ ơ.

— Nào, giờ để thoả mãn trí tò mò của tôi - cậu ta nói. - Kể cho tôi nghe về bạn trai của cô đi.

Tôi trở lại trạng thái bình thường và kể cho Keith nghe về Joe: rằng anh ấy là một người tuyệt vời, vui tính, tốt bụng và thông minh. - Anh ấy làm việc ở Washington. An ninh quốc phòng.

— Ấn tượng nhỉ - Keith nói.

Tôi nhìn thấy thằng bé nuốt nước bọt rồi hỏi, - Cô có yêu anh ấy không?

Tôi gật đầu, nhớ đến hình ảnh của Joe, tôi nhớ anh ấy biết nhường nào.

— Thằng cha Manicotti ấy may mắn thật.

— Molinari - tôi nói, toét miệng cười.

— May mắn thật, có tên là gì cũng vẫn may mắn - Keith nói, đóng nắp xe. Đúng lúc đó, một chiếc xe đen mui kín mít, nhìn biển số thì biết là đi mượn tiến gần tới gara.

— Khỉ ạ, Keith lẩm bẩm. - Ngài Porsche đến rồi, mà xe lại chưa sửa xong.

Khi tôi đưa cho Keith thẻ tín dụng Master Card, "Ngài Porsche" bước ra khỏi chiếc xe đi thuê và bước vào tầm ngắm của tôi.

— Này Keith - hắn gọi cậu ta. - Chữa đến đâu rồi hả chú mày?

Khoan đã. Tôi biết gã này. Trong ánh sáng ban ngày nom hắn già hơn, nhưng đó chính là thằng cha khó chịu đã va với tôi và Carolee ở quán Chim Cốc. Dennis Agnew.

— Cho tôi 5 phút thôi - Keith trả lời.

Trước khi tôi kịp hỏi cậu ta về thằng cha này thì Keith đã bước về phía văn phòng và Agnew đi về phía tôi. Khi đến vừa đủ gần, hắn dừng lại, chống tay xuống mui xe của tôi và ném về phía tôi cái nhìn nhâng nháo.

Tiếp sau cái nhìn là một nụ cười chậm rãi, bóng gió. - Đi tìm hiểu đời sống ở những khu nhà ổ chuột à? Hay là tại cô thích thịt trẻ?

Tôi đang định trả đũa thì Keith tiến đến từ phía sau.

— Gọi tôi là thịt à? - Keith nói, đứng ngang hàng với tôi. Cậu ta chọi nụ cười mỉa mai của Agnew bằng nụ cười rạng rỡ của mình. - Thì tại người nói câu đó là một thằng già bẩn thỉu mà.

Tôi cười ngả nghiêng, cả hai người đàn ông đều đang ở trong tư thế chiến đấu. Một khoảnh khắc băng giá trôi qua.

Rồi Agnew nhấc tay ra khỏi mui xe của tôi.

— Nào, thịt. Tôi muốn đi xem cái xe của tôi.

Keith nháy mắt nhìn tôi và đưa trả lại cho tôi thẻ tín dụng.

— Hẹn gặp lại cô sau nhé, Lindsay.

— Tất nhiên rồi.

Tôi vào xe, nổ máy, nhưng vẫn ngồi yên một lát nhìn Agnew theo Keith đi vào xưởng sửa chữa. Thằng cha này có vấn đề, nhưng vấn đề gì, như thế nào, tôi còn chưa biết.

***

Tôi không ngủ được: trằn trọc, những giấc mơ đứt đoạn liên tục làm tôi thức giấc. Giờ tôi đánh răng, người cúi gập xuống bồn rửa mặt một cách ngu ngốc.

Tôi bực mình phát điên lên, và tôi biết tại sao.

Bằng cách hăm doạ tôi, sếp Stark đã thành công trong việc ngăn lại không cho tôi điều tra những manh mối có thể phá được vụ án John Doe 24. Nếu đúng như tôi nghĩ, kẻ giết Doe vẫn còn đang hoạt động trong Vịnh Nửa Vầng Trăng.

Tôi cho Martha ăn, pha càfê, ăn sáng, động loảng xoảng vào bát đĩa.

Tôi đang xem chương trình Hôm nay trên cái tivi nhỏ để trong bếp thì một dòng tít đỏ chạy trên màn hình:

“TRỰC TIẾP. TIN NÓNG"

Một cô gái trẻ nom ảm đạm, phóng viên của đài truyền hình địa phương, đứng trước cửa một ngôi nhà gỗ đỏ, băng dán quanh hiện trường sau lưng cô gái. Giọng cô gái vang lên, lẫn trong đỏ là tiếng đám đông đứng ở rìa màn hình.

"Vào lúc 7h30 sáng hôm nay Anthony, 13 tuổi, tìm thấy bố mẹ, Annemarie và Joseph Sarducci bị giết hại trong nhà trên đường Outlook. Thi thể bị rạch và gần như không có quần áo. Cậu bé không bị hại. Chúng tôi vừa nói chuyện với Sếp Stark vài phút trước.

Tivi chuyển từ cảnh hiện trường vụ án sang quay cảnh Stark đối mặt với các phóng viên bên ngoài sở cảnh sát. Đám đông chen lấn xô đẩy. Trên một vài chiếc micrô có hình biểu tượng của các đài truyền hình. Đúng là một cuộc vây hãm.

Tôi vặn to tiếng.

— Sếp Stark. Có đúng là vợ chồng nhà Sarducci bị giết như những con thú không?

— Sếp, đằng này! Có đúng là Tony Sarducci đã tìm thấy họ không? Có đúng là cậu bé đã tìm thấy bố mẹ?

— Này, Peter. Có nghi phạm nào chưa?

Tôi sững sờ nhìn trong khi Stark cố tìm cách điều đình với các phóng viên. Hoặc là nói lên sự thật hoặc nói dối để sau này phải trả giá, nhưng để trấn an được công chúng và không cho kẻ giết người bất kỳ thông tin nào hắn có thể sử dụng được. Tôi đã nhìn thấy vẻ mặt hệt như vậy ở Sếp Moose khi kẻ bắn tỉa ở Washington tung hoành.

"Thưa các vị, tôi không thể nói gì hơn về vấn đề này - Stark nói. - Hai người nữa đã bị giết, nhưng tôi không thể nói bất kỳ điều gì về vụ ám sát. Chúng tôi đang điều tra. Và chúng tôi sẽ thông báo cho công chúng biết ngay khi chúng tôi tìm được điều gì quan trọng.

Tôi với lấy cái ghế, kéo ra trước màn hình và ngồi phịch xuống. Cho dù đã từng nhìn thấy quá nhiều người bị giết, vụ án này vẫn làm tôi thẫn thờ.

Tôi không nghĩ mình sẽ có thể phản ứng như thế này. Sự táo tợn của những kẻ giết người làm tôi giận đến run lên.

Tôi tưởng tượng mình đang có mặt trong đám đông trước sở cảnh sát. Tôi thấy mình đang nói chuyện với hình ảnh của Sếp Stark trên màn hình của cái tivi 13 inch.

— Kẻ nào đã gây nên những tội ác này, Cảnh sát trưởng?

— Ai là kẻ đã giết tất cả những người này?

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.