༺༒༻
Giá sách của tôi thành công với Veronica hơn là bộ sưu tập đĩa nhạc. Những ngày tháng ấy, sách bìa mềm có đồng phục màu truyền thông: sách Penguin màu cam cho hư cấu, sách Pelican màu xanh trời cho phi hư cấu. Có nhiều màu xanh hơn màu cam trên giá sách là minh chứng cho Sự nghiêm túc. Và nói chung, tôi có đủ những đầu sách chuẩn: Richard Hoggart, Steven Ruciman, Huizinga, Eysenck, Empson... thêm cả cuốn Honest to God [1] của Giám mục John Robinson ngay cạnh truyện tranh của Larry [2] nữa chứ. Veronica khen tôi bởi cho rằng tôi đã đọc hết cả, mà chẳng hề nghi ngờ rằng đa số các cuốn cũ sờn vì chúng là sách cũ ngay khi mua.
Giá sách của nàng có rất nhiều thơ, in thành tập lớn hoặc sách cỡ nhỏ: Elliot, Auden, MacNeice, Stevie Smith, Thom Gunn, Ted Hughes. Có sách của Orwell và Koestler in ở Left Book Club [3] , một số tiểu thuyết thế kỷ XIX bìa bọc da bê, một vài cuốn cho trẻ em của Arthur Rackham, và quyển gối đầu giường, I Capture the Castle [4]. Tôi chẳng có lấy một giây nghi ngờ chuyện nàng đã đọc hết tất cả, hoặc chuyện đây là những cuốn sách chuẩn nên sở hữu. Hơn nữa, chúng giống như một sự tiếp nối hài hòa của đầu óc và cá tính nàng, trong khi đống sách của tôi thì gây cho tôi cảm giác kém ăn nhập về mặt chức năng, gắng gượng mà mô tả một tính cách tôi hy vọng sẽ trở thành. Sự bất tương xứng này ném tôi vào một cơn hoảng loạn nhẹ, và khi nhìn dọc giá sách thơ của nàng tôi túm vội lấy lời thầy Phil Dixon.
“Tất nhiên, ai mà chẳng băn khoăn điều gì sẽ xảy ra khi Ted Hughes cạn mất vốn muông thú.”
“Thật á?”
“Mình được nghe kể thế,” tôi nói yếu ớt. Từ miệng thầy Dixon, câu ấy có vẻ dí dỏm và thông thái; từ tôi thì chỉ thấy khôi hài.
“Các nhà thơ không bị cạn kiệt chất liệu giống như cánh tiểu thuyết gia đâu,” nàng giảng cho tôi. “Bởi vì họ không bị phụ thuộc vào chất liệu theo cùng một cách. Và cậu đang đối xử với ông ấy như một nhà động vật học, chẳng phải sao? Nhưng thậm chí cả các nhà động vật học cũng không chán bọn thú đâu, đúng không?”
Nàng nhìn tôi với một bên mày nhướng lên trên cả gọng kính. Nàng sinh trước tôi năm tháng và đôi khi có cảm giác như trước đến năm năm.
“Đấy chỉ là lời thầy giáo Anh ngữ của mình nói thôi.”
“Ờ, bây giờ cậu đã lên đại học rồi, chúng mình phải làm cho cậu tự nghĩ lấy chứ, phải thế không?”
Có gì đó nơi cái từ “chúng mình” này làm cho tôi nghi ngại mình hiểu mọi chuyện sai hết cả. Nàng chỉ đang cố cải tạo tôi và tôi là ai mà phản đối chứ? Một trong những điều đầu tiên nàng hỏi tôi là vì sao tôi đeo đồng hồ quay mặt vào trong cổ tay. Tôi không thể giải trình được, thế là tôi quay mặt nó lại, để giờ ra phía ngoài, như những người bình thường, trưởng thành vẫn làm.
Tôi dần tự tạo thói quen dễ chịu là học hành, dành thời gian rỗi cho Veronica và, lúc trở về phòng trọ sinh viên của tôi, thủ dâm dữ dội với những mộng tưởng về nàng xoạc ra phía dưới tôi hoặc cong mình bên trên tôi. Sự gần gũi hằng ngày khiến tôi tự hào biết được về trang điểm, về chính sách trang phục, dao cạo phụ nữ, và bí ẩn cùng hậu quả của những kỳ kinh nguyệt. Tôi thấy mình ghen tị với thứ nhắc nhở đều đặn về cái gì đó rất mực nữ tính và cụ thể, kết nối chặt chẽ với chu kỳ vĩ đại của tự nhiên. Chắc hẳn tôi cũng từng diễn đạt tệ hại như thế này những lúc thử giải thích về cảm xúc ấy.
“Cậu chỉ đang lãng mạn hóa cái mà cậu không có thôi. Ý nghĩa duy nhất của nó chỉ là để báo cho cậu biết là cậu không dính bầu.”
Căn cứ vào quan hệ của chúng tôi, chuyện này làm tôi thấy hơi táo tợn.
“Ờ, mình hy vọng là chúng mình không phải đang sống ở Nazareth [5] .”
Rồi tiếp theo là một trong những khoảng nghỉ khi các đôi ngầm thỏa thuận là sẽ không bàn tới chuyện gì. Và có gì để mà bàn ở đây? Có lẽ, chỉ là những điều khoản không được viết ra của bản thỏa hiệp. Từ góc nhìn của tôi, cái việc chúng tôi chưa làm tình với nhau đã miễn cho tôi khỏi phải nghĩ gì tới mối quan hệ này ngoài sự đồng lõa gần gũi với một người phụ nữ mà, về phần nàng trong thỏa thuận, sẽ không đi hỏi người đàn ông là mối quan hệ này rồi sẽ dẫn tới đâu. Ít nhất, tôi nghĩ đấy chính là quy ước giữa chúng tôi. Nhưng tôi đã lầm về phần lớn mọi chuyện, hồi ấy cũng như bây giờ. Ví dụ như, vì sao tôi tự cho rằng nàng còn trinh? Tôi chưa bao giờ hỏi nàng, và nàng chưa bao giờ nói với tôi. Tôi cho rằng nàng còn trinh bởi nàng không ngủ với tôi: thế logic trong chuyện này ở đâu?
༺༒༻
Một dịp cuối tuần nhân kỳ nghỉ, tôi được mời tới gặp gia đình nàng. Họ sống ở Kent, đi tuyến xe lửa Orpinton là đến, một trong những khu ngoại ô chỉ vừa mới dừng phủ bê tông lên thiên nhiên, và kể từ đó tự mãn nhận vơ lấy địa vị nông thôn của mình. Trên chuyến tàu từ Charing Cross xuống đó, tôi lo lắng về cái va li của tôi - cái duy nhất tôi có - nó thật quá to làm tôi trông giống như một thằng ăn trộm tiềm năng. Trên sân ga, Veronica giới thiệu tôi với bố nàng, ông mở cốp xe ô tô, đỡ lấy cái va li từ tay tôi, và cười lớn.
“Trông như cậu đang có kế hoạch chuyển vào ấy nhỉ, chàng trai.”
Ông to lớn, xôi thịt và mặt đỏ lựng; ông làm tôi thấy gớm quá. Có phải trong hơi thở của ông có mùi bia không? Vào giờ này trong ngày sao? Làm sao người đàn ông kia lại sinh ra được một cô con gái tinh tế đến thế?
Ông ta lái chiếc Humber Super Snipe với trạng thái sốt ruột sườn sượt thở dài trước sự ngu xuẩn của người khác. Tôi ngồi ghế sau, một mình. Thỉnh thoảng, ông ta lại trỏ vào các thứ, chắc là chỉ cho tôi thấy, dẫu rằng tôi chẳng thể biết được mình có phải đáp lại hay không. “Nhà thờ St Michael, gạch và đá, được cải tạo nhiều bởi các nhà trùng tu thời Victoria.” “Café Royal chỉ riêng chúng tôi mới có đấy – voilà [6] !” “Hãy để ý cái cửa hàng bán rượu đặc biệt có cái khung nửa gạch nửa gỗ cổ bên tay phải kìa.” Tôi nhìn vào gương mặt Veronica quay nghiêng tìm kiếm manh mối, nhưng chẳng nhận được gì.
Họ sống trong một ngôi nhà lợp ngói, gạch đỏ, riêng biệt, với một khoảng sân rải sỏi đằng trước. Ông Ford mở cửa trước và hét to chẳng rõ cho ai:
“Thằng bé đến ở một tháng nhé.”
Tôi nhận thấy ánh bóng loáng trên đồ gỗ sẫm màu, và ánh bóng loáng trên lá một cái cây kỳ quặc trồng trong chậu. Bố Veronica tóm va li của tôi như thể đang tuân theo những luật đón tiếp xa vời nào và, lố bịch phóng đại sức nặng của nó, mang lên phòng áp mái và quẳng lên trên giường. Ông ta chỉ vào một cái bồn rửa nhỏ có lỗ thoát nước.
“Buổi đêm thì tè vào đây nếu cậu muốn.”
Tôi gật đầu đáp lại. Tôi không thể nào nói được ông ta đang tỏ ra nam tính kiểu rất thân tình, hay đang coi tôi như một thằng cặn bã hạ đẳng.
༺༒༻
Jack, anh trai của Veronica, dễ đọc vị hơn: một trong những gã trai trẻ ưa thể thao, khỏe mạnh hay cười nhạo mọi thứ và trêu chọc cô em gái nhỏ. Anh ta cư xử với tôi như thể tôi là một đối tượng của trí tò mò hời hợt, mà còn chẳng phải là món đầu tiên được trưng bày cho anh ta đánh giá nữa cơ. Mẹ của Veronica lờ đi tất cả những khung cảnh phụ quanh bà, hỏi han tôi về chuyện học hành, và rất nhiều lần biến mất vào trong bếp. Tôi cho rằng bà mới chớm ngoài bốn mươi, tuy vậy với tôi trông bà đã trung niên lắm rồi, như chồng bà vậy. Bà không giống Veronica lắm: khuôn mặt rộng hơn, tóc cột nơ phía trên cái trán cao, nhỉnh hơn chiều cao trung bình một chút. Bà có một vẻ nghệ sĩ nào đó, mặc dù nó toát ra cụ thể như thế nào - khăn màu rực rỡ, một dáng vẻ lơ đãng, ngâm nga các bản aria, hoặc cả ba cộng lại - thì vào lúc này tôi không thể chứng thực được.
Tôi không thoải mái tới mức cả đợt cuối tuần ấy mắc chứng táo bón: đấy là ký ức chính của tôi về các sự kiện. Phần còn lại gồm những cảm tưởng và những ký ức-nửa vời, có thể vì thế mà chúng chỉ phục vụ cho chính chúng mà thôi: chẳng hạn, làm sao Veronica, chính nàng, mời tôi về nhà, mà dường như lúc đầu lại thu mình vào trong gia đình nàng và tham gia cùng họ vào công cuộc dò xét tôi - mặc cho đó là nguyên nhân hay hậu quả của nỗi bất an trong tôi đi nữa, tôi chẳng thể nào xác định được từ điểm nhìn hiện tại của mình. Trong bữa tối thứ Sáu hôm ấy có vụ tra hỏi về những thành tựu xã hội và học thức của tôi; tôi cảm giác như thể đang đứng trước tòa án quân sự. Sau đó chúng tôi xem tin tức trên ti vi và bàn luận trong không khí khó xử về các vấn đề thế giới cho tới tận giờ đi ngủ. Giả dụ chúng tôi đang ở trong một cuốn tiểu thuyết, chắc sẽ phải có trò lẻn ra lẻn vào giữa các tầng tìm kiếm một cái ôm ấp nồng cháy sau khi các bậc gia trưởng đã khóa cửa đi ngủ. Nhưng chúng tôi thì không; Veronica thậm chí còn không hôn tôi chúc ngủ ngon vào đêm thứ nhất, hay là lấy cớ gì về khăn tắm này nọ, và xem tôi có đủ mọi thứ tôi cần hay chưa. Có lẽ nàng sợ bị anh trai chế giễu. Thế là tôi cởi quần áo, rửa ráy, đái cật lực vào trong bồn, chui vào bộ đồ ngủ và nằm tỉnh như sáo một lúc lâu.
Khi tôi đi xuống nhà ăn sáng, chỉ còn mỗi bà Ford ở đó. Những người khác đã đi dạo, Veronica bảo đảm với mọi người rằng tôi muốn ngủ nướng. Tôi không giấu giếm phản ứng của mình trong vụ này tốt cho lắm, nên tôi có thể cảm nhận được bà Ford dò xét mình trong lúc làm món thịt ba chỉ và trứng, rán mấy thứ ấy theo một kiểu cẩu thả và làm vỡ một cái lòng đỏ. Tôi chẳng có chút kinh nghiệm nào trong việc nói chuyện với mẹ của bạn gái.
“Cô sống ở đây lâu chưa?” cuối cùng tôi cũng hỏi, dù đã biết thừa câu trả lời.
Bà tạm ngừng, rót cho mình một tách trà, đập một quả trứng khác vào trong chảo, dựa vào cái tủ nhỏ chất đống nào đĩa là đĩa, rồi nói:
“Đừng để Veronica làm quá nhiều trò ném đá giấu tay.”
Tôi chẳng biết phải đáp lại thế nào. Tôi có nên thấy mếch lòng khi bị can thiệp vào mối quan hệ của chúng tôi, hay là nên bắt đầu chế độ xưng tội và “bàn” về Veronica? Vậy là tôi nói, hơi nghiêm nghị:
“Ý cô là sao ạ, thưa cô Ford?”
Bà nhìn tôi, cười không hề kẻ cả, lắc nhẹ đầu, và nói, “Chúng tôi sống ở đây đã mười năm rồi.”
Vậy là rốt cuộc tôi bị bối rối vì bà cũng gần như bối rối vì những người còn lại, cho dù ít nhất thì bà cũng có vẻ mến tôi. Bà nhẹ nhàng dặt thêm một quả trứng nữa lên đĩa của tôi, kệ việc tôi chẳng hỏi hoặc có khi chẳng muốn. Phần còn lại của quả bị vỡ vẫn còn ở trong chảo: bà rất vô tư hẩy nó vào trong sọt rác nắp lật, rồi nửa như quẳng cái chảo rán còn nóng vào trong bồn rửa bát ướt. Nước sôi xèo xèo và hơi bốc lên ngay lúc va chạm, và bà cười to, như thể thích thú vì đã gây ra sự náo loạn nho nhỏ này.
Khi Veronica và cánh đàn ông về, tôi chờ đợi đợt dò xét kỹ hơn nữa, có lẽ thậm chí cả trò bẫy hoặc đùa ghẹo nào đó; nhưng thay vào đấy là những câu hỏi lịch thiệp xem tôi ngủ có ngon không và có thấy thoải mái không. Đáng lẽ điều đó phải làm tôi cảm thấy như thể mình được chấp nhận, thế nhưng nó lại có vẻ như thể họ đã chán ngán tôi thì đúng hơn, và kỳ cuối tuần này giờ sẽ chỉ là thứ mong cho qua đi thôi. Có lẽ đó đơn thuần là hoang tưởng. Nhưng về mặt tích cực, Veronica trở nên trìu mến công khai hơn; trong bữa trà nàng hạnh phúc đặt tay lên cánh tay tôi và nghịch tóc tôi. Rồi một lần, nàng quay sang anh trai mà bảo:
"Cậu ấy được mà, phải thế không?"
Jack nháy mắt với tôi; tôi không nháy đáp trả. Ngược lại. một phần trong tôi có cảm giác như đang ăn trộm mấy cái khăn tắm, hoặc đang tha bùn lên tấm thảm.
Dù sao thì, mọi thứ đa phần gần như bình thường. Tối hôm ấy, Veronica đi lên gác cùng tôi và hôn tạm biệt tôi rất tử tế. Bữa trưa Chủ nhật có súc thịt cừu nướng, với chao ơi là nhiều nhánh hương thảo chọc ra như những mẩu cây thông Giáng sinh. Vì đã được bố mẹ dạy cho lễ nghĩa, tôi nói món ấy thật là ngon quá đi. Rồi tôi bắt gặp Jack nháy mắt với bố anh ta, như thể nói: Thật là một thằng xun xoe. Nhưng ông Ford cười giòn, “Đúng quá, đúng quá, hoàn toàn tán thành,” trong khi bà Ford cảm ơn tôi.
Khi tôi xuống nhà để chào tạm biệt, ông Ford tóm lấy cái va li của tôi và nói với vợ, “Anh tin là em đã đếm lại thìa rồi chứ, em yêu?” Bà chẳng buồn trả lời, chỉ cười với tôi, gần như thể giữa chúng tôi có một bí mật. Ông anh Jack không thò mặt ra để chia tay; Veronica và bố ngồi hai ghế trước; tôi lại ngồi đằng sau. Bà Ford dựa vào hiên, ánh mặt trời đổ lên cây đậu tía đang leo lên ngôi nhà phía trên đầu. Khi ông Ford vào số và chiếc xe lăn bánh trên sỏi, tôi vẫy tạm biệt, và bà đáp lại, dẫu không theo cách người ta vẫn thường làm, với một bàn tay đưa lên, mà với một kiểu cử động chiều ngang ở tầm eo lưng. Tôi ước giá như mình nói chuyện với bà nhiều hơn.
Để ngăn ông Ford chỉ trỏ những kỳ quan của Chislehurst lần thứ hai, tôi nói với Veronica, “Mình mến mẹ cậu.”
“Nghe như là con vừa có một đối thủ kìa, Vron,” ông Ford nói, với một cái hít hơi rất kịch. “Mà nghĩ cho kỹ, nghe như là bố cũng có luôn. Đấu súng lúc bình minh chứ hả, cậu trẻ ranh thân mến?”
Tàu của tôi đến muộn, chậm do việc kiểm tra kỹ thuật vào Chủ nhật như thông thường. Tôi về đến nhà lúc chập tối. Tôi nhớ là mình đã đi ngoài một trận cực đã thật lâu.
༺༒༻
Khoảng một tuần sau, Veronica lên thành phố, thế là tôi đã có thể giới thiệu nàng với băng nhóm trường cũ của tôi. Nhằm đúng một ngày vu vơ chẳng ai muốn gánh vác. chúng tôi đi quanh viện Tate [7] , rồi dạo bộ lên Cung điện Buckingham và vào Công viên Hyde, về hướng góc dành cho diễn giả [8] . Nhưng chẳng có ai đang phát biểu, chúng tôi bèn lang thang dọc phố Oxford ngắm nghía cửa hàng, rồi kết thúc ở Quảng trường Trafalgar giữa những con sư tử [9] . Hẳn ai cũng nghĩ chúng tôi là dân du lịch.
Trước tiên tôi quan sát xem các bạn mình phản ứng với Veronica thế nào, nhưng rồi sớm trở nên quan tâm hơn tới điều nàng nghĩ về tụi nó. Nàng dễ cười vì những câu đùa của Colin hơn là của tôi, điều này làm tôi bực, và còn hỏi Alex xem bố cậu ấy kiếm tiền thế nào (bảo hiểm hàng hải, nó bảo nàng vậy, trước nỗi kinh ngạc của tôi). Nàng có vẻ vui thích để dành Adrian đến cuối. Tôi đã kể với nàng là cậu ấy học Cambridge, và nàng thử nhắc đến vài cái tên. Với một số cậu ấy gật đầu nói:
“Ừ, tôi biết họ là kiểu người nào.”
Tôi thấy câu nói khá là bất nhã, nhưng Veronica không mếch lòng. Ngược lại, nàng nhắc đến các khu trường, các thầy, các quán trà theo cái lối làm tôi thấy bị ra rìa.
“Làm sao cậu biết về chỗ đó nhiều thế?” tôi hỏi.
“ Jack ở đây mà.”
“Jack?”
“Anh trai mình... cậu nhớ chứ?”
“Để xem nào... Có phải đấy là cái tay trẻ hơn bố cậu không?”
Tòi tưởng câu đó không tệ, nhưng nàng thậm chí còn không thèm cười.
“Thế Jack học gì?” tôi hỏi, cố vớt vát lại.
“Khoa học luân lý,” nàng đáp. “Như Adrian.”
Mình biết Adrian đang học cái quái quỷ gì, xin cảm ơn nhiều, tôi định nói vậy. Thay vào đó tôi hờn dỗi một lúc, quay qua nói chuyện với Colin về phim ảnh.
Về cuối buổi chiều chúng tôi chụp ảnh; nàng xin “một kiểu với các bạn cậu”. Rồi ba thằng lịch sự xếp bừa thành hàng, thế là nàng xếp lại: Adrian và Colin, hai người cao nhất, ở hai bên nàng, và Alex bên ngoài Colin. Kết quả in ra làm nàng trông còn mảnh mai hơn người thật. Rất nhiều năm sau này, khi xem kỹ lại bức ảnh ấy hòng tìm kiếm những câu trả lời, tôi băn khoăn về chuyện nàng không bao giờ đi giày cao gót dù là cỡ nào. Tôi đọc ở đâu đó rằng nếu muốn làm người ta chú ý tới điều bạn đang nói thì đừng nói to mà phải thấp giọng xuống: cái này mới thực sự đòi hỏi sự chú ý. Có lẽ nàng có cùng kiểu mẹo ấy với chiều cao. Dù vậy nàng có dùng các trò mẹo hay không vẫn là một câu hỏi tôi chưa giải đáp được. Khi tôi đi chơi cùng nàng, luôn luôn có vẻ như các hành vi của nàng đều rất bản năng. Nhưng rồi tôi cưỡng lại cả cái ý tưởng rằng phụ nữ thường hoặc có thể biết thao túng. Chuyện này có lẽ cho biết về tôi nhiều hơn là về nàng. Và dù nếu tôi có quyết định, ở đoạn đời muộn mằn này, rằng nàng đã và vẫn luôn là người tính toán, tôi vẫn không chắc rằng điều đó có giúp được gì không. Ý tôi muốn nói là: giúp tôi.
Chúng tôi đưa nàng tới Charing Cross và vẫy tay chào nàng về Chislehurst theo lối anh hùng vờ vịt, như thể nàng sẽ chu du tới tận Samarkand. Rồi chúng tôi ngồi trong quán bar của khách sạn nhà ga, uống bia và cảm thấy mình đã rất trưởng thành.
“Cô ấy dễ thương,” Colin nói.
“Rất dễ thương,” Alex nói.
“Điều đó là hiển nhiên tự thân một cách triết học!” tôi gần như gào lên. Ờ thì, tôi có hơi quá phấn khích. Tôi quay sang Adrian. “Có gì cao hơn ‘rất dễ thương’ nữa không?”
“Thực ra cậu không cần tớ phải chúc mừng nữa, đúng không, Anthony?”
“Đúng, vì lý do quái gì mà tớ lại không cần nhỉ?”
“Thế thì tất nhiên là tớ chúc mừng rồi.”
Nhưng thái độ của cậu ấy cứ như là chỉ trích cái đòi hỏi của tôi và việc hai cậu kia hùa theo trò ấy. Tôi cảm thấy hơi hoảng loạn; tôi không muốn ngày hôm ấy rã rời. Dù vậy khi nhìn lại thì, không phải là ngày hôm ấy, mà là bốn thằng chúng tôi, chúng tôi bắt đầu rã rời.
"Thế, cậu đã gặp ông anh Jack ở Cambridge bao giờ chưa?”
“Tớ chưa gặp anh ta, chưa, và cũng không trông chờ sẽ gặp. Anh ta năm cuối rồi. Nhưng tớ có nghe về anh ta, rồi đọc về anh ta trong một bài trên tạp chí. Và về những người anh ta giao du cùng nữa.”
Rõ ràng cậu ấy muốn dừng ở đó, nhưng tôi không cho.
“Thế cậu nghĩ gì về anh ta?”
Adrian ngừng nói một lúc. Cậu uống một ngụm bia, rồi nói với giọng sôi nổi bất chợt, “Tớ ghét cái cách người Anh chẳng nghiêm túc gì cả về chuyện sống nghiêm túc. Tớ thực sự ghét cái đó.”
Nếu đang có một tâm trạng khác, hẳn tôi sẽ coi đó là đòn tấn công ba thằng chúng tôi. Ngược lại, tôi cảm thấy lòng rộn ràng đắc thắng.
༺༒༻
Veronica và tôi tiếp tục hẹn hò, cũng đã được gần hai năm. Một tối, có lẽ vì hơi say, nàng để tôi thọc tay vào trong quần lót. Tôi cảm thấy niềm tự hào ngông cuồng khi lúng túng sục sạo loanh quanh. Nàng không để tôi cho ngón tay vào trong nàng, nhưng chẳng một lời, những ngày tiếp theo đó, chúng tôi đã phát triển một cách thức để được thỏa mãn. Chúng tôi nằm trên sàn nhà, hôn hít nhau. Tôi tháo đồng hồ ra, xắn cổ tay áo trái lên, đưa tay vào trong quần lót nàng và dần dần lần xuống giữa hai đùi một chút; rồi tôi áp bàn tay lên mặt sàn, và nàng tự chà vào cổ tay kẹt ở đó cho tới khi lên đỉnh. Trong vài tuần trò này làm tôi thấy tôi oách quá, nhưng khi về đến phòng mình việc thủ dâm của tôi đôi khi bị xen vào cả nỗi hờn giận. Mà tôi đang để mình bị mắc vào cái kiểu thỏa hiệp gì thế này? Tốt hơn, hay là tệ hơn? Tôi khám phá ra một điều khác mà tôi không hiểu nổi: Tôi đoán chừng là phải cảm thấy gần gũi hơn với nàng, nhưng không phải vậy.
“Thế, cậu có bao giờ nghĩ quan hệ của chúng mình sẽ đi tới đâu không?”
Nàng nói đúng như thế, chẳng rào đón gì cả. Nàng đến uống trà, mang theo mấy lát bánh hoa quả.
“Cậu thì sao?”
“Mình hỏi trước.”
Tôi nghĩ - và đó có thể không phải là một kiểu phản ứng nhã nhặn cho lắm - có phải đây là lý do cô để tôi thò tay vào trong quần cô?
“Có cần thiết phải đi đến đâu không?”
“Chẳng phải các mối quan lệ vẫn thường như vậy sao?”
“Mình không biết. Mình chưa có nhiều mối quan hệ.”
“Này, Tony," nàng nói. “Mình không chịu tù đọng một chỗ đâu.”
Tôi nghĩ về chuyện này một lúc, hoặc giả là cố nghĩ. Nhưng thay vào đó tôi chỉ nhìn thấy một mặt nước tù đọng, nổi váng bẩn và muỗi bay vo ve. Tôi nhận ra rằng mình chẳng giỏi giang mấy trong việc tranh luận về những chuyện kiểu như thế này.
“Thế cậu nghĩ chúng ta đang tù đọng một chỗ?”
Nàng làm động tác nhướng-mày-lên-trên- gọng-kính mà tôi không còn thấy đáng yêu mấy nữa. Tôi tiếp tục:
“Có cái gì ở giữa tù đọng và đi tới đâu đó không?”
“Như là?”
“Như là có một khoảng thời gian đẹp. Hưởng thụ hiện tại và mọi thứ?” Nhưng chỉ riêng việc nói ra điều này đã làm tôi băn khoăn liệu mình có còn được hưởng thụ hiện tại nữa hay không. Tôi cũng nghĩ: Nàng muốn mình nói gì đây?
“Mà cậu có nghĩ là chúng mình hợp nhau không?”
“Cậu cứ hỏi mình những câu hỏi như thể cậu biết thừa câu trả lời rồi. Hoặc như thể cậu biết cậu muốn nghe thấy câu trả lời nào. Thế sao cậu không bảo mình đấy là gì và mình sẽ bảo cậu xem đó có phải cũng là câu trả lời của mình hay không?”
“Cậu khá hèn đấy nhỉ, phải thế không, Tony?”
“Mình nghĩ đúng hơn là mình... hiếu hòa.”
“Thế thì, mình chẳng muốn làm phiền nhận thức về bản thân của cậu.”
Chúng tôi uống nốt trà. Tôi gói hai lát bánh còn lại bỏ vào một cái hộp sắt. Veronica hôn tôi gần về phía mép hơn là giữa môi, rồi đi. Trong thâm tâm tôi, đây là khởi đầu của cái kết trong mối quan hệ của chúng tôi. Hoặc giả tôi chỉ nhớ về nó theo cách ấy để làm nó thành ra có vẻ như vậy, và để đổ lỗi? Nếu được hỏi trong một phiên tòa điều gì đã xảy ra và đã được nói, tôi chỉ có thể chứng thực những từ “đi tới”, “tù đọng” và “hiếu hòa”. Tôi chưa từng nghĩ minh là một kẻ hiếu hòa - hoặc ngược lại - cho tới tận lúc đó. Tôi cũng có thể thề cái hộp sắt đựng bánh quy là có thật; nó có màu đỏ boóc-đô, trên nắp có hình khuôn mặt nghiêng đang cười của Nữ hoàng.
༺༒༻
Tôi không muốn gây cảm tưởng rằng ở Bristol tôi chẳng làm gì khác ngoài học và gặp Veronica. Nhưng rất ít ký ức về chuyện khác trở lại với tôi. Một cái có trở lại - một sự kiện đơn lẻ, riêng biệt - là đêm tôi chứng kiến con Sóng thủy triều sông Severn. Báo địa phương từng in cái bảng thời gian chỉ rõ ở đâu và khi nào là xem được tốt nhất. Nhưng ở cơ hội đầu tiên tôi thử, nước có vẻ như không theo đúng chỉ dẫn cho lắm. Rồi, một tối ở Minsterworth, một nhóm chúng tôi đợi trên bờ sông cho tới quá nửa đêm và cuối cùng cũng được thưởng công. Trong khoảng một hay hai tiếng đồng hồ chúng tôi quan sát con sông chảy dịu dàng ra biển như mọi con sông tử tế. Ánh trăng lấp loáng từng hồi được trợ giúp bởi những đợt thăm dò thi thoảng của vài ngọn đèn pin công suất mạnh. Rồi có tiếng thì thầm, và những cái rướn cổ, và mọi ý nghĩ về ẩm thấp lạnh lẽo đều tan biến khi con sông đơn giản là có vẻ như đang đổi ý, và một con sóng, cao hai hay ba thước Anh [10] , tiến về phía chúng tôi, nước vỡ òa ra hết cả lòng sông, từ bờ bên này sang bờ bên kia. Chỗ nước động dâng lên này bắt kịp chúng tôi, trào qua, rồi cuộn ra xa mãi; vài đứa bạn tôi đuổi theo, gào thét, chửi rủa và ngã lộn khi nó vuột mất; tôi ở lại trên bờ một mình. Tôi không nghĩ mình có thể truyền tải cho đúng nổi tác động của thời điểm ấy lên tôi. Nó không giống như lốc xoáy hay là động đất (tôi cũng chưa chứng kiến những cái đó bao giờ) - thiên nhiên thật dữ dội và hủy diệt, đang đặt chúng tôi vào chỗ của mình. Nó còn gây bất an hơn bởi một cách ngấm ngầm trông nó như thể có gì đó, như thể một cái đòn bẩy nhỏ của vũ trụ vừa được nhấn xuống, và ở đây, đúng vào những giây phút này, tự nhiên bị đảo lộn, cùng với cả thời gian. Và chứng kiến hiện tượng này lúc đêm khuya ta càng thấy nó bí ẩn hơn nữa, càng giống một thế giới khác hơn nữa.
༺༒༻
Sau khi chúng tôi chia tay, nàng ngủ với tôi.
Vâng, tôi biết. Tôi đoán các bạn đang nghĩ: thằng khờ tội nghiệp, làm sao mà hắn không nhận ra điều ấy sẽ đến chứ? Nhưng tôi không nhận thấy. Tôi nghĩ là chúng tôi đã xong rồi, và tôi nghĩ mình đang quan tâm đến một cô khác (một cô kích cỡ bình thường và đi giày cao gót tới các bữa tiệc). Chẳng lúc nào hôm đó tôi nhận ra được rằng điều ấy sẽ đến: khi chúng tôi tình cờ chạm mặt nhau ở quán bar (nàng không thích quán bar), khi Veronica muốn tôi đưa về nhà, khi nàng dừng lại giữa đường và chúng tôi hôn nhau, khi chúng tôi vào phòng nàng và tôi bật đèn lên và nàng lại tắt đi, khi nàng cởi quần lót ra và đưa cho tôi một gói Durex Fetherlite, hay cả khi nàng giật lấy cái bao khỏi bàn tay dò dẫm của tôi và đeo vào cho tôi, hoặc suốt cả phần còn lại của cái công việc diễn ra mau lẹ ấy.
Vâng, bạn có thể nói lại lần nữa: thằng khờ tội nghiệp. Và bạn có còn nghĩ nàng còn trinh khi nàng đeo bao cao su vào chim bạn nữa không? Thật kỳ lạ là, bạn biết không, tôi vẫn tin vậy. Tôi nghĩ đó hẳn là một trong những kỹ năng trực giác của phái nữ mà hiển nhiên tôi không có. Ờ thì, có lẽ là thế.
“Cậu phải giữ lấy nó lúc kéo ra,” nàng thì thầm (nàng nghĩ tôi còn trinh, có lẽ?). Rồi tôi dậy đi vào nhà tắm, cái bao cao su đầy đập vào mặt trong đùi tôi mấy lần. Khi vứt nó đi tôi đi đến một quyết định và một kết luận: Không, như vậy đấy, không.
“Cậu ích kỷ khốn nạn,” nàng nói vào lần chúng tôi gặp nhau sau đó.
“Đúng, ừ thì, thế đấy.”
“Thế thành ra khác gì cưỡng hiếp.”
“Mình không nghĩ có bất cứ điều gì có thể khiến thành ra như vậy.”
“Ờ, lẽ ra cậu nên có tí tử tế nói cho tôi biết trước chứ.”
“Mình đâu có biết trước.”
“Ô, thế ra hôm đó tệ vậy ư?”
“Không, hôm đó tốt. chỉ có điều...”
“Chỉ làm sao?”
“Cậu luôn luôn đòi mình phải nghĩ về quan hệ của chúng ta và bây giờ có lẽ tớ đã làm vậy. Tớ đã nghĩ rồi.”
“Hoan hô. Chắc phải khó khăn lắm.”
Tôi nghĩ: Mà tôi thậm chí còn chưa được nhìn ngực nàng, suốt cả lúc ấy. Cảm thấy nó, mà không nhìn thấy nó. Còn nữa, nàng hoàn toàn sai về Dvorak và Tchaikovsky. Hơn cả thế, tôi sẽ có thể bật cái đĩa than Un homme et une femme lúc nào tôi thích. Công khai.
“Xin lỗi, gì cơ?”
“Chúa ơi, Tony, cậu thậm chí còn không tập trung được lúc này. Anh mình nói đúng về cậu.”
Tôi biết lẽ ra cần hỏi ông anh Jack đã nói gì, nhưng tôi không muốn nàng được khoái trá. Vì tôi cứ im lặng, nàng nói tiếp:
“Và đừng có mà nói chuyện đó.”
Đời có vẻ như một trò đánh đố hơn cả bình thường.
“Chuyện gì?”
“Rằng là chúng ta vẫn có thể là bạn bè.”
“Đấy là cái mình nên nói ra sao?”
“Cậu nên nói ra cái cậu nghĩ, cái cậu cảm thấy, vì Chúa, cái cậu muốn nói.”
“Được thôi. Trong trường hợp này, mình sẽ không nói thế - cái điều mình nên nói ấy. Bởi vì mình không nghĩ là chúng ta còn có thể là bạn bè.”
“Giỏi đấy,” nàng nói, giọng mỉa mai. “Giỏi đấy.”
“Nhưng để mình hỏi cậu một câu đã. Có phải cậu ngủ với mình để làm mình quay lại không?”
“Mình không phải trả lời các câu hỏi của cậu nữa.”
“Trong trường hợp đó, vì sao cậu không ngủ với mình khi chúng mình còn đang hẹn hò nhau?”
Không có câu trả lời.
“Bởi vì cậu không thấy cần?”
“Có lẽ mình không muốn.”
“Có lẽ cậu không muốn bởi vì cậu không cần.”
“Ừ thì, cậu cứ tin cái gì cậu thấy hợp để tin.”
Hôm sau, tôi mang bình đựng sữa nàng tặng tôi xuống cửa hàng Oxfam. Tôi hy vọng là nàng sẽ nhìn thấy nó bày ở cửa sổ. Nhưng khi tôi dừng lại để kiểm tra, có một cái gì khác đã được bày thay vào đó: một thạch bản nhỏ in màu hình Chislehurst tôi tặng nàng nhân dịp Giáng sinh.
༺༒༻
Ít nhất chúng tôi cũng học các ngành khác nhau, và Bristol là một thành phố đủ rộng nên chúng tôi chỉ đôi khi suýt đụng nhau mà thôi. Những lần ấy, tôi thường vấp phải cảm giác về cái mà tôi chỉ có thể gọi là sắp-hối lỗi: việc chờ đợi nàng sẽ nói hoặc làm gì đó có thể làm tôi cảm thấy hối lỗi thực sự. Nhưng nàng chẳng buồn nói gì với tôi hết, thế nên nỗi e sợ này dần dần biến mất. Và tôi tự nhủ rằng mình chẳng có gì phải cảm thấy hối lỗi hết cả: chúng tôi đều sắp-người lớn cả rồi, tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình, những kẻ đã thoải mái bước vào một mối quan hệ không đi đến đâu. Chẳng ai bị chửa, chẳng ai bị giết.
Vào tuần thứ hai của kỳ nghỉ hè ấy một bức thư mang dấu bưu điện Chislehurst được gửi tới. Tôi kiểm tra chữ viết không quen thuộc - loằng ngoằng và hơi có vẻ cẩu thả - trên phong bì. Một bàn tay phụ nữ: mẹ nàng, không nghi ngờ gì nữa. Một cơn sắp-hối lỗi bất chợt khác: có lẽ Veronica đã bị một cơn suy sụp thần kinh, trở nên héo hon, thậm chí còn bỏ nhà đi lang thang. Hoặc có lẽ nàng bị chứng viêm phúc mạc và đòi gặp tôi từ trên giường bệnh. Hoặc có lẽ... nhưng đến cả tôi cũng có thể nói được rằng đấy chỉ là những huyễn tưởng nhằm tự tôn mình lên mà thôi. Bức thư là của mẹ Veronica thật; nó ngắn gọn và, tôi đã ngạc nhiên, không một chút buộc tội nào. Bà rất tiếc khi nghe chuyện chúng tôi chia tay, và tin chắc rằng tôi sẽ tìm thấy ai đó hợp với mình hơn. Nhưng bà không có vẻ muốn nói điều này theo nghĩa tôi là một thằng vô lại chỉ xứng đáng với đứa nào có phẩm cách kém tương tự. Đúng hơn, bà ngụ ý ngược lại: rằng tôi may mắn thoát khỏi mọi chuyện, và bà hy vọng điều tốt đẹp nhất cho tôi. Tôi ước mình giữ được bức thư ấy, bởi nó có thể là một bằng cớ, một lời chứng. Ngược lại. bằng chứng duy nhất từ trong ký ức của tôi - một người phụ nữ vô lo, đúng hơn là táo bạo đã làm vỡ một quả trứng, rán cho tôi một quả khác, và bảo tôi đừng hứng chịu gì từ cô con gái bà.
Tôi quay trở lại Bristol để học nốt năm cuối. Cô nàng có chiều cao trung bình đi giày cao gót kém thú vị hơn tôi tưởng tượng, và thế là tôi tập trung vào việc học. Tôi nghĩ là mình có loại não hợp với mức điểm xuất sắc, nhưng chỉ quyết tâm giành được hạng 2:1 [11] . Các đêm thứ Sáu, tôi tự cho phép mình nghỉ ngơi một buổi ở quán bar. Một lần, tôi chuyện phiếm cùng một cô nàng, rồi cô về nhà tôi và ở lại qua đêm. Thật là một đêm phấn khích và hiệu quả đầy lạc thú, nhưng sau đó cả hai chúng tôi đều không liên lạc lại với nhau. Tôi nghĩ về chuyện nên viết bức thư này - thực ra, việc này phần nào là do gợi ý của nàng.
Như bạn có thể hình dung, tôi thích thú cái đoạn về những ngại ngùng về mặt đạo đức của cậu ấy - ngụ ý rằng giả dụ tôi nghĩ có một thứ đạo xử thế hiệp sĩ thiêng liêng nào đó, hoặc thậm chí hơn thế, một quy tắc đạo lý hiện đại nào đó, đã bị xâm phạm, thì cậu ấy sẽ, rất tự nhiên và logic, ngừng ngủ với nàng. Cứ cho là nàng không dắt mũi cậu ấy như đã dắt mũi tôi đi. Tôi cũng thích cái sự giả dối của một bức thư mà mục đích không phải chỉ nhằm bảo cho tôi biết cái điều đằng nào thì tôi cũng chưa tìm ra (hoặc không phải trong nay mai), mà còn để cho tôi biết nàng, Veronica, đã lên đời: cậu bạn thông minh nhất của tôi, và, gì nữa, một gã Cambridge như ông anh Jack. Ngoài ra, còn để cảnh báo tôi rằng có thể nàng sẽ đi cùng nếu tôi có kế hoạch gặp Adrian - điều này gây được hiệu ứng mong muốn là khiến tôi lên kế hoạch không gặp Adrian. Rất được cho một công việc hằng ngày hoặc hằng đêm phải chịu. Lần nữa, tôi phải nhấn mạnh rằng đây là cách hiểu của tôi bây giờ về chuyện đã xảy ra hồi ấy. Hoặc đúng hơn, ký ức của tôi bây giờ về cách hiểu của tôi hồi ấy về chuyện xảy ra lúc bấy giờ.
༺༒༻
Nhưng tôi nghĩ tôi có bản năng sinh tồn, bản năng tự bảo toàn. Có lẽ đó là cái mà Veronica gọi là tính hèn và tôi gọi là hiếu hòa. Dù sao thì, có gì đó cảnh báo tôi đừng dây vào - ít nhất không phải là bây giờ. Tôi vớ cái bưu thiếp gần mình nhất - một cái có hình cầu treo Clifton - và tôi viết những lời như là: “Nhận được lá thơ của cậu viết ngày 21, kẻ ký dưới đây cầu xin được gửi lời khen ngợi và chúc mừng để ghi nhận rằng mọi thứ đều hết sức tốt đẹp về phía tớ, tri kỷ.” Ngu ngốc, nhưng không nhập nhằng; và thế là được tại thời điểm này. Tôi có thể giả vờ - nhất là với bản thân mình - rằng tôi không phiền lòng một chút xíu xiu nào. Tôi sẽ học cật lực, tạm treo mọi thứ cảm xúc lại, không đưa ai từ quán bar về nhà, thủ dâm vừa đủ và khi nào cần, và bảo đảm việc nhận được bằng cấp mình xứng đáng. Tôi đã làm tất cả những cái đó (và vâng, tôi được điểm 2:1).
Tôi ở lại thêm vài tuần sau khi thi xong, kết thân với một nhóm khác, uống rượu đều đặn, hút một ít thuốc phiện, và nghĩ ngợi rất ít. Ngoài việc tưởng tượng xem Veronica có thể nói gì về tôi với Adrian (“Cậu ấy làm mình mất trinh và rồi bỏ mình ngay lập tức. Thế nên thực sự là mình có cảm giác toàn bộ chuyện này như là hiếp dâm ấy. Cậu thấy không?”) Tôi tưởng tượng nàng tán tụng cậu ấy - tôi đã chứng kiến bước khởi đầu cho chuyện đó - và đưa cậu ấy lên mây, chơi đùa với những mong đợi của cậu ấy. Như tôi đã nói, Adrian không phải là người nhiều lời, so với mọi thành công trên con đường hàn lâm của cậu ấy. Do vậy mà có cái giọng làm bộ trong thư cậu ấy, trong một thời gian dài tôi thường đọc đi đọc lại và thường xuyên thấy tủi thân. Khi mà, rốt cuộc cũng trả lời bức thư một cách đàng hoàng, tôi không hề dùng tới cái thứ ngôn từ kiểu “lá thơ” ngốc nghếch ấy. Tôi vẫn còn nhớ được mình đã kể cho cậu ấy khá nhiều điều tôi nghĩ về những ngại ngùng chung về mặt đạo đức của hai người bọn họ. Tôi cũng khuyên cậu ấy nên cẩn thận, bởi vì theo ý tôi thì Veronica rất lâu rồi đã phải chịu đựng tổn thương nhiều. Rồi tôi chúc cậu ấy may mắn, đốt thư của cậu ấy trong một cái vỉ lò rỗng (quá ư thống thiết, tôi đồng ý, nhưng tôi xin đem tuổi trẻ ra như một tình tiết giảm tội), và quyết định rằng cả hai người họ từ giờ sẽ biến khỏi đời tôi, mãi mãi.
༺༒༻
Tôi có ý gì khi nhắc đến “tổn thương”? Chỉ là phỏng đoán thôi; tôi chẳng có bằng cớ có thật nào. Nhưng bất cứ khi nào nhìn lại cái kỳ cuối tuần bất hạnh ấy, tôi đều nhận thấy đó không chỉ là vấn đề của một gã trai trẻ có phần ngây thơ thấy mình bối rối giữa một gia đình tầng lớp cao hơn và rành các kỹ năng xã hội hơn. Tất nhiên là cũng có cả cái đó. Nhưng tôi có thể cảm thấy một sự đồng lõa giữa Veronica và ông bố tay-vụng-về, chân-nặng-nề, người đã đối xử với tôi như loại thứ cấp. Giữa Veronica và ông anh Jack, người có cuộc sống và cách ứng xử mà rõ ràng nàng coi là vô song, cũng vậy: anh ta được chỉ định làm quan tòa khi nàng công khai hỏi về tôi - và mỗi lần nhớ lại câu hỏi càng trở nên nhiều tính chất bề trên hơn - “Cậu ấy được mà, phải thế không?” Thế nhưng, tôi không hề thấy một sự đồng lõa nào với mẹ nàng, không nghi ngờ gì nữa, bà nhìn nhận nàng đúng với con người của nàng. Làm thế nào bà Ford lại có được cơ hội đầu tiên mà cảnh báo cho tôi về con gái bà? Bởi buổi sáng hôm ấy - sáng đầu tiên sau hôm tôi đến - Veronica đã bảo mọi người là tôi muốn ngủ nướng, rồi đi mất với bố và anh trai. Chẳng có lời nào giữa chúng tôi chứng minh cho chuyện bịa đặt ấy cả. Tôi chẳng bao giờ ngủ nướng. Cả bây giờ vẫn vậy.
Khi viết cho Adrian, tôi đã không làm rõ ý mình khi nói đến “tổn thương”. Và gần suốt phần đời còn lại, tôi cũng chỉ rõ thêm tí chút thôi. Mẹ vợ tôi (thật sung sướng vì không phải là một phần của câu chuyện này) chẳng thích tôi mấy nhưng ít nhất cũng thẳng thắn về chuyện đó như trong mọi chuyện khác. Một lần bà nhận xét - khi lại có thêm một ca lạm dụng trẻ em xuất hiện trên khắp các báo và bản tin truyền hình - “Mẹ cho là chúng ta đều từng bị lạm dụng cả.” Có phải tôi đang gợi ý rằng Veronica từng là nạn nhân của cái mà ngày nay người ta gọi là “hành vi vô luân”: cái nhìn dâm đãng đầy men bia của bố nàng vào giờ tắm hay giờ đi ngủ, hay cái gì đó còn hơn là những ôm ấp ruột thịt với anh trai của nàng? Làm sao tôi biết được? Phải chăng từng có một thời khắc mất mát sớm sủa nào đó, hay một lời chối từ yêu thương đúng lúc cần đến nhất, hay một lời nói nào đó bị nghe trộm, rồi từ đó đứa trẻ tự kết luận rằng...? Lần nữa, tôi không thể biết được. Tôi không có bằng cớ, câu chuyện hay tài liệu nào hết cả. Nhưng tôi nhớ điều thầy Joe Hunt Già nói khi tranh luận với Adrian: những trạng thái tinh thần đó có thể được suy luận từ hành động. Chuyện này có trong lịch sử - Henry VIII và tất cả những chuyện như thế. Ngược lại, trong cuộc sống riêng tư, tôi nghĩ điều ngược lại mới đúng: bạn có thể suy luận những hành động trong quá khứ từ trạng thái tinh thần hiện tại.
Tất nhiên tôi tin rằng chúng ta đều chịu đựng tổn thương cả, không cách này thì cách khác. Làm sao không thế được, trừ trong một thế giới toàn các vị phụ mẫu, các anh chị em, các nhà hàng xóm, các bạn với bè hoàn hảo? Và rồi còn một câu hỏi chi phối rất nhiều điều, đó là ta phải phản ứng với tổn thương thế nào: ta có nên công nhận nó hay đè nén nó đi, và điều này ảnh hưởng thế nào tới cách ta ứng xử với những người khác. Có người thừa nhận tổn thương, và cố làm nó dịu đi; có người bỏ cả đời ra để giúp những người bị tổn thương; và rồi có những người chỉ quan tâm tới việc tránh cho bản thân khỏi tổn thương thêm nữa, bằng mọi giá. Và đó là những người nhẫn tâm, những người cần phải đề phòng.
Hẳn bạn nghĩ chuyện này thật nhảm nhí - trò nhảm nhí thuyết giáo, tự bao biện. Hẳn bạn nghĩ rằng tôi cư xử với Veronica như một thằng non choẹt điển hình, và rằng tất cả những “kết luận” của tôi đều có thể lật ngược. Chẳng hạn như, “Sau khi chúng tôi chia tay, nàng ngủ với tôi” dễ dàng đảo thành “Sau khi nàng ngủ với tôi, tôi chia tay nàng.” Hẳn bạn còn quả quyết rằng nhà Ford là một gia đình Anh trung lưu bình thường, tôi đã cáu giận ép uổng mớ lý thuyết giả hiệu về thương tổn lên họ; và rằng bà Ford không phải là quan tâm giúp đỡ tôi một cách khéo léo, mà thể hiện lòng ghen tuông không đoan chính với con gái mình. Thậm chí bạn còn có thể đòi tôi phải áp dụng “lý thuyết” của tôi lên bản thân tôi và giải thích xem thương tổn gì tôi phải chịu hồi xa xưa ấy và đâu là những hậu quả: ví dụ như, nó có thể tác động thế nào tới mức độ đáng tin và tính thành thực của tôi. Tôi không chắc mình có thể trả lời được điều này, thật thà mà nói.
༺༒༻
Tôi không trông chờ bất cứ hồi đáp nào từ Adrian, mà tôi cũng chẳng nhận được lời nào thật. Và viễn cảnh gặp Colin và Alex giờ đây trở nên kém hấp dẫn hơn. Từng là bộ ba, rồi thành bộ tứ, làm sao có thể trở lại thành bộ ba lần nữa? Nếu những người kia muốn lập nhóm riêng thì tốt thôi, cứ vô tư. Tôi cần phải tiếp tục cuộc sống của tôi. Và tôi làm vậy.
Một số người cùng thời tôi làm công việc thiện nguyện ở nước ngoài, đi châu Phi, tại đó họ dạy trẻ em tuổi đến trường và làm nhà tranh vách đất; tôi thì không được cao cả như thế. Thêm nữa, hồi ấy bằng cách nào đó bạn cho rằng, sớm hay muộn, một tấm bằng tử tế sẽ bảo đảm có được một công việc tử tế. “Thờiiiiii Giaaaaaan đang ở phe tôi, đúng thế đấy,” tôi thường hát rống lên, song ca cùng Mick Jagger, quay cuồng một mình trong phòng trọ sinh viên. Thế nên, để mặc bọn khác tập tành làm bác sĩ với lại luật sư và thi vào ngạch công chức-nhà nước, tôi rước tôi sang Mỹ và lang thang chừng sáu tháng. Tôi làm bồi bàn, sơn hàng rào, làm vườn, giao xe ô tô qua vài tiểu bang. Những năm ấy chưa có điện thoại di động, email và Skype, dân thích xê dịch phụ thuộc vào hệ thống liên lạc thô sơ tên là bưu thiếp. Những phương pháp khác - điện thoại đường dài, điện tín - được đánh dấu “Chỉ sử dụng trong trường hợp khẩn cấp”. Thế là bố mẹ tôi vẫy tạm biệt tôi đi về nơi không-biết, và mục điểm tin về tôi được thu gọn lại thành “Vâng, nó đã đến nơi an toàn”, và “Vừa rồi chúng tôi nghe nói nó ở bang Oregon” và “Chúng tôi nghĩ vài tuần nữa nó sẽ về”. Tôi không nói là nhất thiết thế này mới tốt hơn, khỏi bàn tới chuyện hình thành cá tính gì sất; chỉ có điều trong trường hợp của tôi hẳn việc ấy đã giúp cho bố mẹ cách xa tôi hơn là một cái nhấn nút điện tử, khỏi phải trút ra nào là những lo lắng cùng những bản tin dự báo thời tiết dài ngày, cảnh báo tôi về lũ lụt về bệnh dịch, và bọn tâm thần rình rập dân du lịch ba lô.
Hồi còn ở bên đó tôi gặp một cô: Annie. Cô người Mỹ, cũng xê dịch khắp nơi như tôi. Chúng tôi dính vào với nhau, cô ấy gọi như vậy, và ở cùng nhau ba tháng. Cô ấy mặc sơ mi kẻ ca rô, có đôi mắt màu xanh lục pha xám và phong thái cởi mở; chúng tôi trở thành người yêu dễ dàng và nhanh chóng; tôi không tin nổi vào vận may của mình. Cũng chẳng tin được sao lại đơn giản đến thế: trở thành bạn bè và bạn-giường, cười và uống và hút một ít thuốc phiện cùng nhau, ở bên cạnh nhau cùng ngắm nhìn một chút thế giới - và rồi chia tay chẳng một lời buộc tội hay trách cứ. Đến dễ, đi cũng dễ, cô ấy nói, và thực bụng như vậy. Sau này, nhìn lại, tôi tự hỏi lẽ nào lại không có điều gì trong tôi bị sốc bởi tính dễ dãi ấy, và không đòi hỏi cái gì phức tạp như là bằng cớ của... gì nào? Sự sâu sắc, hay nghiêm túc? Dù thế nào, có Chúa biết bạn có thể gặp chuyện phức tạp và khó khăn mà chẳng có sâu sắc hay nghiêm túc nào bù đắp lại. Rất lâu sau này, tôi thấy mình đắn đo liệu “Đến dễ, đi cũng dễ” lại chẳng phải là một cách đặt câu hỏi để tìm kiếm một câu trả lời cụ thể mà tôi không có khả năng đưa ra được. Dù sao thì, chỉ là nhân tiện nói thêm thôi. Annie là một phần trong câu chuyện của tôi, nhưng không phải là câu chuyện này.
༺༒༻
Bố mẹ tôi nghĩ đến việc liên lạc với tôi khi chuyện đó xảy ra, nhưng không biết tôi đang ở đâu. Trong trường hợp khẩn cấp thực sự - yêu cầu có mặt bên giường mẹ lúc lâm chung - tôi tưởng tượng rằng Văn phòng Đối ngoại hẳn phải liên lạc với Đại sứ quán tại Washington, chỗ có thể báo được cho nhà chức trách Mỹ, rồi họ có thể yêu cầu lực lượng cảnh sát khắp cả nước đi tìm cho ra một tay người Anh rám nắng vui tươi nay đã tự tin hơn về bản thân một chút so với khi mới đặt chân đến đất nước này. Ngày nay toàn bộ câu chuyện chỉ tốn đúng có một cái tin nhắn.
Khi tôi về tới nhà, mẹ trao cho tôi một cái ôm siết xây xẩm mặt mày, bắt tôi đi tắm, và nấu cho tôi thứ vẫn được quy kết là “món ăn ưa thích nhất của tôi, và tôi đành chấp nhận như vậy, bởi đã khá lâu tôi chưa kịp cập nhật cho bà tình hình mấy cái gai vị giác của mình. Sau đó, bà đưa tôi lèo tèo vài lá thư được gửi đến trong lúc tôi đi vắng.
“Con nên mở hai cái kia trước.”
Bức thư ở trên đựng một lời nhắn ngắn của Alex. “Tony thân,” nó viết, “Adrian vừa chết. Cậu ấy tự tử. Mình gọi cho mẹ cậu, bà bảo bà không biết cậu ở đâu. Alex.”
“Chết tiệt,” tôi nói, lần đầu tiên văng bậy trước mặt bố mẹ.
“Rất tiếc về chuyện đó, con trai.” Bình luận của bố tôi chẳng ra sao cả. Tôi nhìn ông và nhận ra mình đang băn khoăn không biết hói có di truyền không - chắc là di truyền rồi.
Sau một dấu lặng chung mà mỗi gia đình thực hiện theo một kiểu khác nhau, mẹ tôi hỏi, “Con có nghĩ đấy là vì nó thông minh quá không?”
“Con chưa có con số thống kê liên hệ chuyện thông minh với tự tử,” tôi đáp.
“Đúng, Tony, nhưng con hiểu ý mẹ mà.”
“Không, thực ra là con chẳng hiểu gì cả.”
“Ờ thì, nói thế này vậy: con là một đứa thông minh, nhưng không thông minh đến mức làm việc gì như thế chứ.”
Tôi nhìn chằm chằm vào bà mà chẳng nghĩ gì trong đầu. Tưởng là được động viên, bà nói tiếp:
“Nhưng nếu con rất thông minh, mẹ nghĩ có điều gì đó có thể làm con mất thăng bằng nếu con không cẩn thận.”
Để tránh sa vào dòng lý thuyết này, tôi mở bức thư thứ hai của Alex. Cậu ấy nói Adrian đã làm rất hiệu quả, và để lại một kho lý do. “Gặp nhau nói chuyện nhé. Quán bar khách sạn Charing X? Gọi điện cho tớ. Alex.”
Tôi dỡ va li, tái thích nghi, kể về những chuyến đi, làm quen lại với thói quen và mùi vị, với những niềm vui nhỏ nhặt và những uể oải thoải mái của nhà mình. Nhưng đầu óc tôi vẫn cứ quay lại với những cuộc tranh luận ngây thơ, nhiệt thành của chúng tôi khi Robson treo cổ trên phòng áp mái, trước cả khi chúng tôi vào đời. Chúng tôi thấy có vẻ hiển nhiên tự thân một cách triết học rằng tự tử là quyền tự do của mỗi con người: một hành vi logic khi phải đối diện với một căn bệnh hay tình trạng lão suy vô phương cứu chữa; một hành vi anh hùng khi phải xả thân cứu người khác khỏi bị tra tấn hoặc cái chết có thể tránh được, một hành vi quyến rũ trong cơn thịnh nộ trước tình yêu tuyệt vọng (xem: Văn chương Vĩ đại), chẳng có cái nào trong những phạm trù này đúng với hành động tầm thường khốn khổ của Robson.
Cũng chẳng có cái nào đúng với Adrian. Trong bức thư để lại cho điều tra viên pháp lý, cậu ấy giải thích lý lẽ của mình: rằng cuộc đời là một món quà được ban mà chẳng ai xin cả; rằng người biết suy nghĩ có một trách nhiệm triết học là xem xét cả bản chất cuộc sống lẫn các điều kiện kèm theo; và rằng nếu người này quyết định khước từ món quà không ai hỏi xin ấy, hành động theo các hệ quả từ quyết định đó là một trách nhiệm đạo đức và nhân văn. Thực tế là có một cái dấu xác nhận QED [12] ở cuối thư. Adrian đã yêu cầu điều tra viên đưa ra công khai biện luận của cậu ấy, và người viên chức ấy đã làm vậy.
Rốt cuộc, tôi hỏi, “Cậu ấy đã làm thế nào?”
“Cậu ấy cứa cổ tay trong bồn tắm.”
“Chúa ơi. Như thế thì thật là... Hy Lạp, không phải sao? Hay cậu ấy đã dùng độc cần?”
“Một người La Mã mẫu mực thì đúng hơn, tớ có thể nói vậy. Cắt ven. Và cậu ấy biết cách làm chuyện đó. Cậu phải cắt chéo. Nếu cắt thẳng ngang qua, cậu có thể bị bất tỉnh và vết thương khép lại và thế là cậu làm hỏng chuyện.”
“Có lẽ thay vào đó cậu chỉ chết đuối thôi.”
“Kể cả thế... giải nhì thôi,” Alex nói. “Adrian hẳn phải muốn giải nhất.” Cậu ấy đúng: bằng tốt nghiệp hạng xuất sắc, tự tử hạng xuất sắc.
Cậu ấy tự tử trong căn hộ ở chung với hai bạn cùng học cao học. Các bạn kia đi xa dịp cuối tuần, thế là Adrian có thoải mái thời gian để chuẩn bị. Cậu ấy viết một bức thư cho điều tra viên, đính lời cảnh báo trên cửa phòng tắm, viết “ĐỪNG VÀO – GỌI CẢNH SÁT – ADRIAN”, xả nước vào bồn, khóa cửa, cứa cổ tay trong nước nóng, chảy máu đến chết. Cậu ấy được tìm thấy một ngày rưỡi sau.
Alex cho tôi xem một mẩu báo cắt ra từ tờ Tin tức buổi tối Cambridge. “Cái chết thảm của một thanh niên “đầy hứa hẹn’”. Chắc họ giữ cố định cái nhan đề chỉ chờ để in ấy. Phán quyết của điều tra viên là Adrian Finn (22) đã tự tử “trong lúc bị rối loạn cân bằng tâm trí”. Tôi còn nhớ cái câu gò theo chuẩn ấy làm tôi cáu tiết đến mức nào: Tôi có thể thề độc rằng Adrian có một tâm trí không bao giờ bị mất cân bằng. Nhưng theo góc nhìn của luật pháp, nếu tự tử thì bạn bị định nghĩa là điên, ít nhất là vào thời điểm bạn thực hiện hành vi đó. Luật pháp và xã hội, cả tôn giáo nữa, đều nói rằng không thể nào vừa tỉnh táo, vừa khỏe mạnh lại vừa tự tử được. Có lẽ những nhà chức trách ấy sợ rằng lập luận về tự tử ấy có thể công kích bản chất và giá trị cuộc sống như vẫn được tổ chức bởi cái nhà nước trả lương cho điều tra viên chăng? Và rồi, kể từ khi bạn bị tuyên bố là điên tạm thời, các lý do tự tử của bạn cũng đều bị coi là điên tuốt. Thế nên tôi nghi chẳng ai chú ý mấy đến biện luận của Adrian, với những tham chiếu tới các nhà triết học cổ xưa và hiện đại, về tính siêu việt của hành vi can dự vào thói thụ động đáng khinh khi chỉ đơn thuần để cho cuộc đời tự xảy đến với mình.
Adrian xin lỗi cảnh sát vì gây phiền cho họ, và cảm ơn điều tra viên về việc ông ta sẽ công bố những lời cuối của cậu ấy. Cậu ấy cũng xin được hỏa táng, và tro được phân tán, vì việc hủy diệt nhanh thân xác cũng là lựa chọn chủ động của một triết gia, và thích hơn là nằm bất động trong đất mà chờ được phân hủy tự nhiên. “Cậu có đến không? Đám tang ấy?”
“Không được mời. Kể cả Colin cũng thế. Chỉ có gia đình, và đại loại thế.”
“Chúng ta phải nghĩ sao đây?”
“Ờ thì, đấy là quyền của gia đình mà, tớ cho là vậy.”
“Không, không phải về chuyện đó. Về các lý do của cậu ấy cơ.”
Alex uống một ngụm bia. “Tớ không thể quyết định được rằng nó ấn tượng đếch chịu nổi hay là một sự phí hoài khủng khiếp đếch chịu nổi.”
“Thế cậu đã làm được chưa? Quyết định ấy?”
“Ờ thì, có thể là cả hai.”
“Điều tớ thấy không rõ là,” tôi nói, “chẳng hiểu đó là một cái gì trọn vẹn - tớ không có ý vị kỷ nhưng, cậu biết đấy, chỉ là vì liên quan cả tới Adrian nữa - hay là còn có ý gì đó ngấm ngầm chỉ trích tất cả mọi người khác. Chỉ trích chúng ta.” Tôi nhìn Alex.
“Ờ thì, có thể là cả hai.”
“Thôi đừng nói thế nữa đi.”
“Tớ tự hỏi không hiểu các thầy môn triết của cậu ấy nghĩ gì. Liệu họ có cảm thấy có trách nhiệm chút nào không. Rốt cuộc thì, chính họ đã huấn luyện bộ não cậu ấy mà.”
“Cậu gặp cậu ấy lần cuối khi nào?”
“Khoảng ba tháng trước khi cậu ấy chết. Đúng chỗ cậu đang ngồi. Thế nên mình đề nghị chỗ này.”
“Nghĩa là cậu ấy đang trên đường đi Chislehurst. Cậu ấy trông thế nào?”
“Vui vẻ. Hạnh phúc, vẫn như cậu ấy, chỉ có hơn thế một chút thôi. Khi bọn tớ tạm biệt, cậu ấy bảo tớ là cậu ấy đang yêu.”
Con đĩ, tôi nghĩ. Nếu trên toàn bộ cõi đời này có một người đàn bà nào khiến một người đàn ông đem lòng yêu rồi mà vẫn có thể nghĩ rằng đời đáng chối từ, thì đó chính là Veronica.
“Cậu ấy nói gì về cô ấy?”
“Chẳng nói gì. Cậu biết cậu ấy mà.”
“Cậu ấy có kể với cậu là mình viết một lá thư chửi bới trút giận không?”
“Không, nhưng chuyện đó không làm tớ ngạc nhiên.”
“Cái gì, chuyện tớ viết thư, hay chuyện cậu ấy không kể với cậu?”
“Ờ thì, có thể là cả hai.”
Tôi nửa như đấm Alex, đủ để sánh bia của cậu ấy ra.
Ở nhà, tôi chẳng có đủ thời gian mà nghĩ về những gì vừa nghe, tôi phải chống đỡ các câu hỏi của mẹ tôi.
“Con tìm hiểu được gì không?”
Tôi kể cho mẹ tôi một chút về cái phương pháp của Adrian.
“Chắc là nít không dễ chịu gì cho mấy viên cảnh sát khốn khổ đó nhỉ. Những việc họ phải làm ấy. Thế nó có vấn đề gì với tụi con gái không?”
Một phần trong tôi muốn nói: Tất nhiên - cậu ấy đang hẹn hò với Veronica mà. Thay vào đó, tôi chỉ đáp, “Alex nói trông cậu ấy hạnh phúc vào lần cuối cùng hai thằng gặp nhau.”
“Thế vì sao nó làm vậy?”
Tôi kể cho bà phiên bản ngắn của phiên bản ngắn của câu chuyện, bỏ qua những cái tên các triết gia liên quan. Tôi cố giải thích về việc chối từ một món quà không đòi hỏi, về hành động chống lại sự thụ động. Mẹ tôi gật lấy gật để như hiểu hết tất cả.
“Con thấy chưa, mẹ đúng rồi nhé.”
“Sao cơ ạ, mẹ?”
“Cậu ấy bị quá thông minh. Nếu thông minh như thế con có thể biện luận cho mình trong mọi chuyện. Con sẽ bỏ qua cảm thức chung. Chính não nó làm nó mất cân bằng, vì thế mà nó làm vậy đấy.”
“Vâng, thưa mẹ.”
“Con chỉ biết nói có thế thôi à? Ý con là đồng ý?”
Không đáp lại là cách duy nhất giúp tôi bình tĩnh.
Tôi bỏ ra vài ngày sau đó để cố suy nghĩ hết mọi ngóc ngách góc cạnh quanh cái chết của Adrian. Mặc dù không mấy trông mong một bức thư vĩnh biệt cho mình, tôi cũng thất vọng thay cho Colin và Alex. Và tôi phải nghĩ về Veronica thế nào bây giờ đây? Adrian yêu nàng, mà vẫn tự tử: chuyện này làm sao có thể giải thích được? Với đa số chúng ta, trải nghiệm đầu đời về tình yêu, cho dù nó có không ra gì - có lẽ đặc biệt là khi nó không ra gì - thường hứa hẹn đây là thứ làm nên giá trị, và chứng minh cuộc sống có thật. Và dù những năm tháng tiếp theo có thể biến đổi cách nhìn này, cho đến khi ai đó trong chúng ta từ bỏ nó hoàn toàn, thì khi tình yêu tấn công lần đầu, chẳng có gì giống như thế hết, không phải sao? Đồng ý phải không?
Nhưng Adrian không đồng ý. Có lẽ nếu là một người phụ nữ khác... hoặc có lẽ không - Alex đã làm chứng cho tâm trạng phấn khởi của Adrian lần cuối họ gặp nhau, có điều gì kinh khủng diễn ra trong những tháng tiếp sau? Nhưng nếu như vậy, Adrian hẳn phải nhắc tới. Cậu ấy là người-đi-tìm-sự-thật và là triết gia trong chúng tôi: nếu đó là những lý do cậu ấy nói ra, thì ắt phải là những lý do thực sự của cậu ấy.
Với Veronica, tôi chuyển từ trách cứ nàng đã không cứu được Adrian sang thương hại nàng: nàng ở đó, lên đời trong chiến thắng huy hoàng, và hãy nhìn xem điều gì xảy ra. Tôi có nên tỏ lòng thương tiếc? Nhưng nàng sẽ nghĩ rằng tôi đạo đức giả. Nêu tôi có liên lạc với nàng, thì hoặc nàng chẳng buồn hồi đáp, hoặc bằng cách nào đó sẽ lèo lái mọi chuyện chệch đi và cuối cùng tôi sẽ chẳng thể nào suy nghĩ được rõ ràng.
Rốt cuộc, tôi cũng thấy mình suy nghĩ được rõ ràng. Như thế để nói là, thấu hiểu các lý do của Adrian, tôn trọng chúng, và ngưỡng mộ cậu ấy. Cậu ấy có đầu óc khá hơn và một bản tính nghiêm túc hơn tôi; cậu ấy suy nghĩ rất logic, và rồi hành xử theo kết luận của lối suy nghĩ logic ấy. Trong khi phần lớn chúng ta, tôi nghĩ là vậy, làm điều ngược lại: chúng ta đưa ra một quyết định rất bản năng, rồi xây dựng một cơ sở hạ tầng lý luận để biện hộ cho nó. Và gọi kết quả là cảm thức chung. Liệu tôi có nghĩ hành động của Adrian là ngấm ngầm chỉ trích những người còn lại trong chúng tôi? Không. Hoặc ít nhất, tôi chắc cậu ấy không có ý như vậy. Adrian có thể hấp dẫn mọi người, nhưng cậu ấy không bao giờ cư xử như thể cậu ấy muốn có môn đệ; cậu ấy tin chúng tôi biết tự nghĩ cho bản thân mình. Không biết cậu ấy có “hưởng thụ cuộc sống”, như phần lớn chúng tôi đã hoặc cố làm, liệu cậu ấy đã thực sự sống? Có lẽ có; nếu không cậu ấy đã phải chịu đựng nỗi niềm hối tiếc và ân hận vì thất bại trong việc so khớp các hành động với các biện luận của mình.
Và chẳng có điều nào trên đây bù đắp được sự thật rằng đó vẫn là, như cách Alex nói, mội sự phí hoài khủng khiếp đếch chịu nổi.
༺༒༻
Một năm sau, Colin va Alex đề nghị họp mặt. Vào dịp kỷ niệm một năm ngày mất của Adrian, ba chúng tôi gặp nhau để uống ở khách sạn Charing Cross, rồi đi ăn đồ ăn Ấn Độ. Chúng tôi thử gọi hồn và tôn vinh bạn của chúng tôi. Chúng tôi nhớ cậu ấy bảo thầy Joe Hunt Già rằng thầy hết việc, và giảng cho Phil Dixon về Eros và Thanatos. Chúng tôi đã biến quá khứ của mình thành giai thoại. Chúng tôi nhớ lại vụ hớn hở mừng tin Adrian được học bổng Cambridge. Chúng tôi nhận ra rằng cậu ấy đã đến nhà từng thằng trong chúng tôi, nhưng chưa thằng nào đến nhà cậu ấy; và rằng chúng tôi chẳng hay biết - đã bao giờ chúng tôi hỏi? - bố cậu ấy làm gì. Vì cậu ấy chúng tôi cụng ly rượu vang ở quán bar khách sạn và cụng bia vào cuối bữa tối. Bên ngoài, chúng tôi vỗ vai nhau và thề sẽ lặp lại vụ tưởng nhớ này hằng năm. Nhưng đời chúng tôi đã kịp rẽ các hướng khác nhau mất rồi, và ký ức chung về Adrian không đủ để níu giữ chúng tôi bên nhau. Có lẽ việc thiếu đi tính huyền bí trong cái chết của cậu ấy cũng có nghĩa hồ sơ của cậu ấy càng dễ đóng lại hơn. Chúng tôi sẽ nhớ về cậu ấy cả cuộc đời, tất nhiên. Nhưng cái chết của cậu ấy là một tấm gương cảnh tỉnh hơn là một “thảm kịch” - như tờ báo Cambridge đã nhấn mạnh theo thói quen - và rồi cậu ấy rút lui khỏi chúng tôi khá nhanh, sau khi cứa một nhát vào thời gian và lịch sử.
༺༒༻
Giờ đây tôi đã ra khỏi nhà, và bắt đầu làm thực tập sinh trong ngành quản lý nghệ thuật. Rồi tôi gặp Margaret; chúng tôi cưới nhau, và ba năm sau Susie ra đời. Chúng tôi mua một ngôi nhà nhỏ bằng một khoản nợ thế chấp lớn; tôi đều đặn lên London hằng ngày. Vụ thực tập của tôi biến thành một sự nghiệp lâu dài. Đời trôi đi. Một tay người Anh nào đó có lần đã nói rằng hôn nhân là một bữa ăn dài nhạt hoét với món pudding được phục vụ đầu tiên. Tôi nghĩ cái đó thật quá hoài nghi chủ nghĩa. Tôi thích cuộc sống hôn nhân của mình, nhưng có lẽ tôi quá trầm lặng - quá hiếu hòa - vì lợi ích của bản thân mình. Sau hơn chục năm Margaret bắt đầu dan díu với một tay chủ quán ăn. Tôi không thích tay này lắm - hay là đồ ăn của hắn cũng chẳng khá hơn, - nhưng mà tôi cũng chẳng nên thế, phải không nào? Việc chăm sóc Susie được chia ra. May mắn thay, con bé không bị ảnh hưởng mấy bởi chuyện chia tay này; và, đến giờ tôi nhận ra, tôi đã chẳng áp dụng lý thuyết về thương tổn với con bé bao giờ.
Sau khi ly dị tôi có một vài phi vụ tình ái, nhưng chẳng cái nào nghiêm túc. Tôi luôn kể với Margaret về bạn gái mới của tôi. Hồi ấy, chuyện đó có vẻ rất tự nhiên. Bây giờ, đôi khi tôi tự hỏi có phải đó là cách thử làm cô ấy ghen không; hay là, có lẽ, một hành vi tự bảo vệ mình, một cách tránh cho mối quan hệ mới trở nên quá nghiêm túc. Ngoài ra, trong phần đời trống trải hơn của tôi, tôi nghĩ ra khá nhiều ý tưởng mà tôi gọi là “dự án”, có lẽ là để làm chúng nghe có vẻ khả thi thôi, chẳng có cái nào thành được cái gì cả. Ờ thì, cũng chẳng làm sao; cũng như bất cứ phần nào trong câu chuyện của tôi vậy.
Susie lớn lên, và mọi người bắt đầu gọi nó là Susan. Khi nó được hai mươi tư tuổi, tôi đưa nó đi lên giữa các hàng ghế trong một phòng đăng ký kết hôn. Ken là bác sĩ; chúng nó bây giờ đã có hai con, một trai và một gái. Ảnh chúng nó tôi mang theo trong ví lúc nào cũng cho thấy chúng nó trẻ hơn tuổi thật. Cũng bình thường, tôi cho là vậy, thôi không nói “Điều đó là hiển nhiên tự thân một cách triết học”. Nhưng ta nhận thấy chính mình lặp đi lặp lại, “Chúng nó lớn nhanh quá cơ, phải không?” thì điều ta thực sự muốn nói chính là: giờ đây với mình thời gian trôi nhanh hơn.
Chồng thứ hai của Margaret hóa ra lại có vẻ không đủ hiếu hòa: gã đi với một người đúng ra là trông giống cô ấy, nhưng quan trọng là trẻ hơn mười tuổi. Cô ấy và tôi giữ quan hệ tốt; chúng tôi gặp nhau trong những sự kiện gia đình và đôi khi còn ăn trưa cùng nhau. Một lần, sau một hay hai ly rượu, cô ấy thành ra ủy mị và gợi ý chúng tôi quay lại với nhau. Những điều còn lạ lùng hơn từng xảy ra rồi, cô ấy nói theo cách ấy. Không nghi ngờ gì chuyện ấy, nhưng giờ đây tôi đã quen với những thói quen thường lệ của riêng tôi, và tôi yêu quý nỗi cô đơn của mình. Hoặc có thể tôi chẳng đủ lạ lùng để làm chuyện gì như thế. Một hoặc hai lần chúng tôi nói đến chuyện đi nghỉ chung, nhưng tôi nghĩ mỗi chúng tôi đều mong người kia lên kế hoạch và đặt vé với lại khách sạn. Thế nên chuyện ấy chẳng bao giờ xảy ra cả.
Giờ tôi đã nghỉ hưu rồi. Tôi có căn hộ với tài sản của tôi. Tôi duy trì quan hệ với vài bạn uống cũ, và có vài bà bạn gái - suông kiểu Platon, tất nhiên. (Và họ cũng không thuộc về câu chuyện này.) Tôi là thành viên của hội lịch sử địa phương, tuy có ít phấn khích hơn là cái hội về những thứ mà mấy cái máy dò kim loại mò ra được. Cách đây chưa lâu, tôi tình nguyện điều hành thư viện trong bệnh viện địa phương; tôi đi quanh các phòng giao sách, thu sách, giới thiệu sách. Việc này khiến tôi phải ra ngoài, và làm một việc gì có ích thì cũng tốt; hơn nữa, tôi gặp được vài người mới. Người ốm, tất nhiên; cả người sắp chết nữa. Nhưng ít nhất tôi cũng sẽ biết rõ đường đi lối lại ở bệnh viện khi đến lượt mình.
Và một cuộc đời là như thế, chẳng phải sao? Một vài thành tựu và một vài thất vọng, với tôi nó từng thú vị, mặc dù tôi sẽ chẳng ca thán hay ngạc nhiên nếu người khác thấy nó không được như vậy. Có thể, theo cách nào đó, Adrian biết điều mình làm. Thế không có nghĩa là tôi sẽ nhớ tiếc cuộc đời mình vì bất cứ điều gì đâu, bạn hiểu mà.
Tôi sống sót. “Anh ta sống sót để kể lại câu chuyện” - người ta vẫn nói vậy, chẳng phải sao? Lịch sử không phải là những dối trá của kẻ chiến thắng, như tôi từng liến thoắng bảo đảm với thầy Joe Hunt Già; giờ thì tôi đã biết điều đó rồi. Đúng hơn thì nó là ký ức của những kẻ sống sót, mà phần lớn chẳng chiến thắng mà cũng không chiến bại.
❀ ❀ ❀
[1] Tạm dịch: Thành thật trước Chúa – cuốn sách gây nhiều tranh cãi chỉ trích lý thuyết Thiên chúa giáo cũ rao giảng rằng Chúa “ở trên kia” xa xôi nơi thiên đường, và đưa tư tưởng tự do hơn vào cách diễn giải về Chúa.
[2] Tức Terence Parkes (1927-2003): họa sĩ vẽ truyện tranh, ký bút danh Larry.
[3] Các câu lạc bộ sách cánh tả: một cơ quan cánh tả thành lập năm 1936 ở Anh.
[4] Tạm dịch: Tôi nắm hồn Lâu đài – tiểu thuyết đầu tay của nhà Anh Dodie Smith.
[5] Được mệnh danh là “thủ đô Arab của Isarel”, theo Tân Ước là nơi Chúa Jesus ra đời.
[6] Tiếng Pháp trong nguyên bản: “đây này”.
[7] Viện bảo tàng nghệ thuật quốc gia Anh.
[8] Khu vực dành cho tự do ngôn luận, ai cũng có thể lấy góc này của công viên Hyde Park làm diễn đàn để nói lên quan điểm của mình.
[9] Trên quảng trường Trafalgar có bốn bức tượng sư tử bằng đồng, dựng năm 1867.
[10] Foot: đơn vị đo của Anh (1 foot = 0,3048m).
[11] Viết tắt của “upper second-class homours” trong thứ hạng điểm đại học, nghĩa là chỉ kém xuất sắc (first-class homours) một bậc.
[12] QED quod erat demonstrandum – được dùng để chuyển tải một sự kiện hoặc tình huống chứng thực cho một giả thuyết hoặc lời tuyên bố, đặc biệt để đánh dấu kết luận của một xác minh chính thức.