༺༒༻
Tôi không mở cái phong bì Veronica đưa trong suốt một ngày rưỡi. Tôi chần chừ bởi tôi biết nàng mong tôi không đợi, mà lấy ngón tay cái mở nắp phong bì trước cả khi nàng kịp đi khuất. Nhưng tôi biết cái phong bì khó mà đựng thứ tôi muốn: ví dụ như, chìa khóa tủ gửi hành lý ngoài ga nơi tôi có thể tìm thấy nhật ký của Adrian chẳng hạn. Đồng thời, tôi chẳng bị thuyết phục tí nào bởi cái câu nghiêm nghị của nàng về chuyện không đọc nhật ký của người khác. Tôi nghĩ nàng có khả năng đốt đi để trừng phạt tôi vì những sai lầm và thất bại xưa cũ, nhưng không phải để bảo vệ một nguyên tắc được dựng lên vội vàng nào đó về chuyện cư xử phải phép.
Tôi bị bối rối về chuyện nàng gợi ý gặp mặt. Tại sao không dùng Bưu điện Hoàng gia và tránh một cuộc đụng độ rõ ràng là nàng thấy khó chịu? Vì sao có vụ mặt đối mặt này? Có phải bởi nàng tò mò muốn nhìn tôi tận mặt lần nữa sau chừng ấy năm, cho dù nó có làm nàng rùng mình? Tôi không tin chuyện đó mấy. Tôi rà lại mười phút chúng tôi ở bên nhau - địa điểm hẹn gặp, chuyển sang chỗ ngồi, ước ao của cả hai được đi phắt cho rồi, những gì được nói ra và những gì không được nói ra. Rốt cuộc, tôi có được một lý thuyết. Nếu nàng không cần gặp để làm việc đã làm - nghĩa là đưa tôi cái phong bì - thì nàng cần gặp vì điều nàng đã nói. Nghĩa là nàng đã đốt nhật ký của Adrian. Mà vì sao nàng phải nói ra thành lời bên dòng Thames xám xịt? Bởi vì nó có thể bị chối bỏ. Nàng không muốn chứng cứ từ email được in ra. Nếu như nàng có thể khẳng định điều bịa đặt rằng tôi mới chính là người xin được gặp, thì nàng cũng sẽ chẳng phải cố gắng gì để chối mình từng thú nhận vụ thiêu hủy.
Đến được tới cách giải thích tạm thời này rồi, tôi đợi tới buổi tối, ăn bữa cuối ngày, rót thêm một ly vang nữa, và ngồi xuống với cái phong bì. Chẳng có tên tôi trên đó: có lẽ càng chứng tỏ khả năng chối bỏ? Tất nhiên tôi đâu có đưa nó cho anh ta. Thậm chí tôi cũng chẳng gặp anh ta. Anh ta chỉ là một kẻ gây phiền bằng email, một lão hoang tưởng, một gã quấy rối trên mạng.
Tôi có thể nói, từ dải xám ngả dần sang đen xung quanh trang đầu tiên, đây lại là một bản photocopy nữa. Nàng sao thế nhỉ? Nàng không bao giờ xử lý các tài liệu gốc sao? Rồi tôi nhận thấy ngày tháng ở trên đầu, và chữ viết tay: của tôi, như nó vẫn thế, chừng ấy năm về trước. “Adrian thân mến,” bức thư bắt đầu. Tôi đọc qua một lượt, đứng lên, cầm lấy ly vang, rót tung tóe trở lại chai, và làm một ly whisky lớn.
Ta kể về đời mình thường xuyên tới mức nào? Ta điều chỉnh, thêm mắm thêm muối, hay láu cá bớt xén thường xuyên tới mức nào? Và đời ta càng dài, càng ít người còn lại quanh ta mà thách thức bản tường thuật của ta, để nhắc ta rằng đời ta ấy chẳng phải đời ta đâu, chỉ là câu chuyện ta kể về đời ta mà thôi. Kể cho người khác, nhưng - chủ yếu là cho chính mình.
Adrian thân mến - hay đúng hơn là, Adrian và Veronica thân mến (xin chào, con đĩ, và chào mừng cô đến với bức thư này),
Thôi thì các người tất nhiên là xứng đáng với nhau rồi và tôi chúc các người nhiều niềm vui. Tôi hy vọng các người dính líu sâu sắc tới mức thương tổn song phương sẽ là vĩnh viễn. Tôi hy vọng các người lấy làm tiếc cái ngày tôi giới thiệu hai người với nhau. Và tôi hy vọng rằng khi chia tay, như các người sẽ không tránh khỏi - tôi cho hai người sáu tháng, mà niềm kiêu hãnh chung của các người sẽ kéo dài ra thành một năm, sẽ chỉ càng hủy hoại các người hơn mà thôi, tôi nói vậy đấy - các người sẽ bị bỏ lại với một cuộc đời cay đắng nó sẽ đầu độc các mối quan hệ sau này. Phần nào trong tôi mong các người sẽ có con, bởi tôi là tín đồ trung thành với cuộc báo thù của thời gian, hẳn cho tới tận thế hệ sau và sau nữa. Trông vào Nghệ thuật Vĩ đại mà xem. Nhưng báo thù phải vào đúng người, ví dụ như hai vị (mà các người chẳng phải nghệ thuật vĩ đại gì, chỉ là nét nguệch ngoạc của tay vẽ biếm họa thôi). Thế nên tôi chẳng chúc các người như vậy làm gì. Chẳng đúng đắn lắm khi áp đặt lên cái bào thai vô tội nào đó viễn cảnh khám phá ra rằng nó là hoa trái của các người, cho tôi được xin lỗi cái lối nói văn vẻ này. Thế nên chỉ tiếp tục đeo Durex vào dương vật khẳng khiu của cậu ta đi, Veronica. Hay là cô vẫn chưa cho cậu ta đi xa đến thế?
Dù sao, nhã nhặn thế cũng đủ rồi. Tôi có vài điều cụ thể muốn nói với từng người.
Adrian: cậu đã biết cô ta là loại hay chọc ghẹo dương vật, tất nhiên - dù là tôi cho rằng cậu đã tự nhủ cô ta cam kết với một thứ gọi là Đấu Tranh Với Những Nguyên Tắc Của Cô Ta, mà cậu với tư cách triết gia có thể dùng chất xám của mình để giúp cô ta vượt qua. Nếu cô ta chưa để cậu Đi Đến Tận Cùng, tôi gợi ý là cậu nên chia tay với cô ta, và cô ta sẽ qua chỗ cậu với quần lót ướt đẫm và một gói ba cái, tha thiết được cho đi. Nhưng chọc ghẹo dương vật lại cũng là một ẩn dụ: cô ta là kẻ sẽ thao túng bản thể bên trong cậu trong khi giữ không cho cậu lại gần bản thể bên trong cô ta. Tôi để lại một chẩn đoán cụ thể cho các bác sĩ tâm thần - có thể thay đổi tùy theo ngày trong tuần - và chỉ lưu ý rằng cô ta không có khả năng hình dung ra cảm giác hoặc đời sống cảm xúc của bất cứ ai khác. Thậm chí chính mẹ cô ta còn cảnh báo tôi về cô ta nữa kia. Nếu tôi là cậu, tôi sẽ kiểm tra lại mọi chuyện với Mẹ - hỏi bà cả về thương tổn từ xa xưa nữa. Tất nhiên, cậu sẽ phải làm chuyện này sau lưng Veronica, bởi vì rằng cậu bé ơi đứa con gái ấy bị bệnh thích kiểm soát. Ô, mà cô ta còn là một đứa hợm hĩnh, hẳn như cậu đã thấy, chỉ kết giao với cậu bởi cậu sẽ sớm có Cử Nhân Cambridge đằng sau tên cậu. Còn nhớ cậu đã khinh khi ông anh Jack và lũ bạn bảnh bao của anh ta đến mức nào chứ? Chẳng lẽ giờ đó lại là người cậu muốn chạy cùng? Nhưng đừng quên: cứ để cô ta có thời gian đi, rồi cô ta sẽ coi thường cậu như đã coi thường tôi thôi.
Veronica: thú vị đấy, cái bức thư chung đó ấy mà. Ác tâm của cô trộn với trò làm bộ làm tịch của cậu ta. Một cuộc hôn phối của các tài năng khá khẩm đấy nhỉ. Như ý thức về tính siêu việt đẳng cấp xã hội của cô đăng đối với ý thức về tính siêu việt đẳng cấp trí thức của cậu ta nhỉ. Nhưng tôi không nghĩ cô sẽ có thể qua mặt Adrian như cô (đã có lúc) qua mặt tôi đâu. Tôi có thể thấy được các chiến thuật của cô rồi - cô lập cậu ta, chia cắt cậu ta với các bạn cũ, làm cậu ta phụ thuộc vào cô, vân vân và vân vân. Cách đó có thể hiệu quả trong thời gian ngắn. Nhưng lâu dài thì sao? Đấy chỉ là vấn đề liệu cô có thể có chửa trước khi cậu ta phát hiện ra cô là đồ chán ngắt hay không mà thôi. Mà thậm chí cô có găm được cậu ta luôn, thì cô cứ việc háo hức cả đời mà đợi cái thứ logic của cô được chỉnh đốn, rồi cả cái trò khoe mẽ thông thái bên bàn ăn sáng và những cái ngáp ngộp thở trước cái bộ tịch làm dáng của cô nữa đi. Tôi chẳng thể làm gì cô bây giờ đâu, nhưng thời gian thì có thể. Thời gian sẽ minh chứng tất cả. Nó vẫn luôn làm vậy.
Chúc mừng năm mới các người, và chúc cho cơn mưa a xít đổ lên hai mái đầu xức dầu thánh bên nhau của các người.
Tony
Whisky giúp cho ý nghĩ được mạch lạc, tôi thấy thế. Và giảm đau. Nó có thêm ưu điểm là làm bạn say hoặc nếu dùng đủ liều thì sẽ rất say. Tôi đọc lại bức thư vài lượt nữa. Tôi chẳng thể nào chối bỏ ai là người viết ra nó hay vẻ xấu xa của nó. Tôi chỉ có thể biện hộ rằng tôi từng là tác giả của nó hồi ấy, nhưng không phải là tác giả của nó bây giờ. Thực tình, tôi chẳng nhận ra nổi cái phần bản thể tôi mà từ đó bức thư được viết ra. Nhưng có lẽ đây chỉ đơn giản là mánh tự lừa dối mình tinh vi hơn mà thôi.
Lúc đầu, tôi chủ yếu nghĩ về mình, và tôi đã trở thành như thế nào - thành cái gì: gắt gỏng, ghen tuông và ác độc. Còn cả về cố gắng ngầm phá hoại quan hệ của người ta nữa. Ít ra thì tôi cũng thất bại vụ này, khi mà mẹ Veronica cam đoan với tôi rằng những tháng cuối cùng của đời Adrian là những tháng hạnh phúc. Không có nghĩa là chuyện này cứu nổi tôi. Bản thể trẻ hơn của tôi vừa trở lại gây sốc cho bản thế già hơn của tôi bởi cái mà nó từng là, hoặc đang là, hoặc đôi khi có khả năng là. Và mãi gần đây tôi mới nghĩ tới chuyện các nhân chứng cho cuộc đời ta mất dần ra sao, và cùng với họ là cả việc chứng thực cốt yếu nữa. Giờ đây tôi lại có một chứng thực quá sức mong đợi về cái tôi là, hoặc từng là. Giá mà đây mới là tài liệu Veronica đã đốt.
Sau đó tôi nghĩ về nàng. Không phải về chuyện nàng đã cảm thấy thế nào lần đầu đọc bức thư này - tôi sẽ trở lại chuyện này sau - mà vì sao nàng trả nó lại. Tất nhiên, nàng muốn chỉ ra tôi là thứ cứt đái đến thế nào. Nhưng còn hơn thế nữa, tôi quyết định: căn cứ vào khoảng cách hiện tại đang có giữa chúng tôi, đó cũng là một nước chiến lược, một lời cảnh báo. Nếu tôi cố làm bất cứ trò nào to chuyện bằng luật về quyển nhật ký, đây sẽ là một phần trong chiêu tự vệ của nàng. Tôi sẽ là nhân chứng của chính nhân cách tôi.
Rồi tôi nghĩ về Adrian. Cậu bạn cũ của tôi đã tự sát. Và đây lại là trao đổi cuối cùng cậu ấy nhận được từ tôi. Một phỉ báng vào nhân cách cậu ấy và một cố gắng hủy hoại mối tình đầu tiên và cuối cùng trong đời cậu ấy. Và khi viết rằng thời gian sẽ cho biết tất cả, tôi đã đánh giá thấp, hoặc đúng hơn là tính toán sai: thời gian không chống lại họ, nó chống lại tôi.
Và rốt cuộc tôi cũng nhớ ra bức bưu thiếp tôi gửi cho Adrian chỉ để câu giờ cho bức thư hồi đáp thư của cậu ấy. Cái trò giả-lãnh-đạm rằng mọi thứ ổn cả, tri kỷ. Tấm bưu thiếp có hình cầu treo Clifton. Từ nơi này hằng năm đều có một số người nhảy vào cái chết.
༺༒༻
Ngày hôm sau, khi đã tỉnh táo, tôi nghĩ lại về ba chúng tôi, và về rất nhiều nghịch lý của thời gian. Ví dụ như: khi ta trẻ và nhạy cảm, cũng là lúc ta hay đi gieo đau đớn nhất; trong khi đó, lúc máu bắt đầu chảy chậm lại, khi ta cảm thấy bớt sắc cạnh, khi ta đã được bọc thép và học chịu đựng nỗi đau, ta giẫm bước cẩn thận hơn. Giờ đây tôi có thể cố làm Veronica khó chịu đến nổi cả da gà, nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ thử lột da nàng từng chút từng chút một.
Trong hồi tưởng về quá khứ, hai người họ không ác độc gì khi cảnh báo tôi rằng họ là một cặp. Mà chính là thời điểm chuyện ấy xảy ra, và sự thực là Veronica có vẻ như ở phía sau toàn bộ ý tưởng đó. Vì sao tôi phản ứng như nổ hạt nhân vậy? Lòng kiêu hãnh bị tốn thương, áp lực trước kỳ thi, bị cô lập? Tất cả chỉ là những lời bao biện. Mà không, không phải tôi cảm thấy xẩu hổ hay tội lỗi, mà là cái gì đó hiếm hoi hơn trong đời tôi và mạnh mẽ hơn ca hai thứ đó: hối hận. Một thứ cảm xúc phức tạp, đông đặc, và nguyên thủy hơn. Đặc tính cơ bản của nó là không thể làm gì được hết: chuyện đã lâu quá rồi, đã có quá nhiều thương tổn, để mà thay đối được điều gì. Dù vậy, sau bốn mươi năm, tôi vẫn gửi cho Veronica một email xin lỗi về bức thư đó.
Rồi tôi nghĩ nhiều hơn về Adrian. Ngay từ đầu, cậu ấy đã luôn luôn nhìn rõ hơn tất cả chúng tôi. Khi chúng tôi đắm mình tận hưởng những buồn chán tuổi niên thiếu, tưởng tượng rằng nỗi bất mãn thường nhật của chúng tôi đã là một lời đáp trả độc đáo cho điều kiện nhân sinh, Adrian đã nhìn xa hơn về tương lai và rộng hơn ra xung quanh. Cậu ấy cũng cảm nhận về cuộc sống rõ ràng hơn - thậm chí, có lẽ đặc biệt như vậy, khi cậu ấy đến với quyết định rằng nó chẳng đáng một đồng cân. So với cậu ấy, xưa nay tôi chỉ là thằng chuyên làm hỏng chuyện, không đủ khả năng học được bao lăm từ vài bài học cuộc sống dạy cho. Theo cách nói của tôi, tôi xuôi theo hiện thực cuộc sống, và quy thuận những cần thiết của nó: nếu thế này, thì thế kia, và rồi năm tháng cứ thế trôi qua. Theo cách nói của Adrian, tôi đầu hàng cuộc sống, đầu hàng không nghiên cứu nó, mà chấp nhận khi nó đến. Và vậy là, lần đầu tiên, tôi cảm thấy một nỗi hối hận chung - một cảm giác đâu đó giữa tủi thân và căm ghét bản thân – đối với cả cái đời tôi Trọn vẹn. Tôi đã đánh mất những người bạn tuổi thanh xuân. Tôi đã đánh mất tình yêu của vợ tôi. Tôi đã bỏ rơi những tham vọng từng ấp ủ. Tôi đã muốn đời không phiền tôi nhiều quá, và đã thành công - và cái đó sao mà tội nghiệp.
Trung bình, tôi là như thế đấy, kể từ khi rời ghế nhà trường. Trung bình ở trường đại học và trong công việc; trung bình trong tình bạn, trung tín, tình yêu; trung bình, không nghi ngờ gì, trong cả tình dục. Có một bản khảo sát về các tay lái ô tô vài năm trước đã chỉ ra rằng chín mươi lăm phần trăm được hỏi nghĩ họ là tay lái loại “hơn trung bình”. Nhưng theo định luật về tính trung bình, hầu hết chúng ta nhất định là loại trung bình. Chẳng phải nói thế để thấy dễ chịu gì hơn. Cái từ tự nó vang lên thôi. Trung bình trong cuộc sống: trung bình trong sự thật; trung bình về phẩm hạnh. Phản ứng đầu tiên của Veronica khi gặp lại tôi là chỉ ra tôi bị rụng tóc. Đấy là ít nhất có thể rồi đấy.
Email nàng gửi đáp lời xin lỗi của tôi viết: “Anh đúng là chẳng hiểu gì cả, phải không? Thế thì anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được đâu." Tôi chẳng thể than phiền được về chuyện này. Thậm chí tôi còn thấy mình mong mỏi thảm hại rằng nàng sẽ gọi tên tôi trong một trong hai câu ấy của nàng.
༺༒༻
Tôi băn khoăn mãi chuyện làm thế nào Veronica lại tiếp tục sở hữu bức thư của tôi. Có phải là Adrian để lại cho nàng mọi thứ của cậu ấy trong chúc thư? Thậm chí tôi còn chẳng biết cậu ấy có lập di chúc hay không. Có lẽ cậu ấy kẹp nó trong quyển nhật ký, và nàng tìm thấy nó trong đó. Không, tôi chưa suy nghĩ được cho rõ ràng. Nếu sự thể là như vậy, cô Ford hẳn đã thấy nó - và thế thì cô cũng sẽ chẳng để lại cho tôi 500 bảng đâu.
Tôi băn khoăn không rõ vì sao Veronica vẫn chịu khó trả lời email của tôi, trong khi nàng vẫn làm ra vẻ khinh miệt tôi hoàn toàn. Ờ thì, có thể nàng không khinh miệt.
Tôi băn khoăn không rõ liệu Veronica có trừng phạt ông anh Jack vì đã đưa địa chỉ email của nàng cho tôi không.
Tôi băn khoăn liệu không rõ bao nhiêu là năm trước ấy, lời của nàng “Có cảm giác không ổn thế nào ấy” chỉ đơn giản là cách từ chối lịch sự hay không. Có lẽ nàng không muốn ngủ với tôi bởi những tiếp xúc thể xác chúng tôi có trong khoảng thời gian nàng đang quyết định là không đủ hưng phấn. Tôi băn khoăn không rõ liệu mình có vụng về, thúc ép, ích kỷ quá không. Không phải liệu có hay không, mà là như thế nào.
Margaret ngồi lắng nghe bên món bánh nhân trứng thịt nướng và đĩa rau trộn, rồi là thạch rau câu và sinh tố hoa quả, khi tôi tả việc liên lạc với Jack, trang nhật ký của Adrian, cuộc gặp trên cầu, nội dung trong bức thư của tôi và cảm xúc hối hận của tôi. Nàng đặt tách cà phê xuống chiếc đĩa con làm một tiếng “cách” nhẹ.
“Anh không còn yêu Bánh hoa quả.”
“Không, anh không nghĩ anh như thế.”
“Tony, đấy không phải là câu hỏi. Đấy là câu khẳng định.”
Tôi nhìn sang cô trìu mến. Cô ấy biết tôi rõ hơn bất cứ ai trên thế giới này. Và vẫn còn muốn ăn trưa cùng tôi. Và để tôi nói mãi nói mãi về bản thân tôi. Tôi cười với cô ấy, lối cười mà chắc chắn cô ấy đã biết quá rõ.
“Một ngày nào đó anh sẽ làm em ngạc nhiên,” tôi nói.
“Anh vẫn làm đấy thôi. Vừa hôm nay.”
“Đúng, nhưng anh muốn làm em ngạc nhiên theo cách sẽ làm em nghĩ về anh tốt lên chứ không phải xấu đi.”
“Em không nghĩ về anh xấu đi đâu. Em thậm chí còn chẳng nghĩ xấu hơn về Bánh hoa quả, dù công nhận là đánh giá của em về cô ta vẫn luôn dưới mực nước biển.”
Margaret không tự đắc về chiến thắng; cô ấy cũng biết là chẳng cần phải chỉ ra tôi đã lờ đi lời khuyên của cô ấy. Tôi nghĩ cô ấy khá thích được là một người ưa lắng nghe dễ mến, và cũng khá thích được nhắc nhở vì sao cô ấy vui vì không còn trong cuộc hôn nhân với tôi nữa. Tôi không định có ác ý gì đâu. Tôi chỉ nghĩ trường hợp này là như vậy.
“Anh có thể hỏi em một chuyện được không?”
“Anh lúc nào cũng có thể,” cô ấy đáp.
“Có phải em bỏ anh vì bản thân anh không?”
“Không,” cô ấy nói. “Em bỏ anh vì chúng ta.”
༺༒༻
Susie và tôi vẫn hợp nhau, như tôi có xu hướng nhắc đi nhắc lại vậy. Và đó sẽ là điều tuyên bố tôi sẵn sàng sung sướng đem ra mà thề trong một phiên tòa. Con bé ba mươi ba tuổi, có thể là ba mươi tư. Đúng, ba mươi tư. Giữa chúng tôi chưa có lần nào xảy ra chuyện gì như là cãi cọ kể từ khi tôi ngồi hàng đầu trong một căn phòng ốp gỗ sồi ở tòa thị chính và rồi làm nhiệm vụ của một nhân chứng đám cưới. Tôi nhớ hồi ấy mình nghĩ mình đang tỏ ý bằng lòng với nó - hoặc, chính xác hơn là, bằng lòng với chính tôi. Nhiệm vụ đã hoàn thành, ta đã thấy đứa con duy nhất an toàn cập bến hôn nhân tạm thời. Giờ đây ta chỉ còn mỗi việc là đừng có mà mắc chứng Alzheimer và nhớ để lại cho con bé số tiền mình có. Và ta có thể cố làm tốt hơn cha mẹ ta, ấy là chết vào đúng lúc tiền sẽ thực sự có ích cho con bé. Đó sẽ là khởi đầu.
Nếu Margaret và tôi còn ở bên nhau, tôi dám nói rằng chắc tôi sẽ được làm ông ngoại yêu chiều các cháu hơn. Việc Margaret vẫn có ích hơn trong chuyện này là chẳng có gì lạ. Susie không muốn để bọn trẻ con sống với tôi bởi nó không nghĩ là tôi có khả năng, mặc cho tôi đã từng thay bao nhiêu là tã bỉm vân vân. “Ba có thể đưa Lucas đi xem đá bóng khi nào cháu lớn hớn.” con bé có lần bảo tôi thế. À, ông ngoại mắt nhòe nhoẹt ngồi trên bậc thang giúp thằng cu làm quen với những bí ẩn của bóng đá: làm thế nào để ghét bọn mặc màu áo khác, làm thế nào để vờ bị thương, làm thế nào để xì mũi ra sân cỏ - thấy chưa, con trai, ấn mạnh vào một bên cánh mũi để bịt nó lại, và nổ cái thứ xanh xanh kia ra khỏi bên kia. Làm thế nào để dương dương tự đắc và được trả lương vượt mức và bỏ những năm tháng tốt đẹp nhất lại đằng sau thậm chí trước khi kịp hiểu gì về đời. Ô đúng rồi, tôi mong đến ngày được đưa Lucas đi xem đá bóng.
Nhưng Susie không nhận thấy là tôi không thích trò chơi ấy - hay là ghét cái mà trò chơi ấy đã trở thành. Con bé vẫn thực tế về chuyện tình cảm, Susie là thế. Hưởng cái đó từ mẹ nó. Thế nên những tình cảm của tôi đúng như bản chất của chúng chẳng bận gì tới con bé cả. Con bé muốn giả định rằng tôi có những cảm xúc nhất định và chúng hoạt động dựa trên giả định đó. Ở mức nào đó, con bé trách tôi về chuyện ly dị. Như thế này: Bởi vì mọi thứ đều là hành động của mẹ nó, nên hiển nhiên tất cả đều là lỗi tại bố nó rồi.
༺༒༻
Cá tính có thay đổi qua thời gian không? Trong tiểu thuyết, tất nhiên là có: Nếu không thì câu chuyện hẳn là rất dở. Nhưng còn trong đời? đôi khi tôi tự hỏi. Thái độ và ý kiến của ta thay đổi, ta phát triển thêm thói quen mới và những tính lập dị mới; nhưng đấy là chuyện khác, giống như trang trí hơn. Có lẽ cá tính giống như trí thông minh, trừ việc cá tính lên tới đỉnh cao hơi muộn hơn một chút: Giữa hai mươi và ba mươi tuổi, cứ cho là thế đi. Và sau đó, ta chỉ còn bị mắc kẹt vào những gì ta có. Ta đành phải tự lo lấy thôi. Nếu vậy, điều đó có thể giải thích rất nhiều cuộc đời, không phải sao? Và hơn nữa - nếu không nói quá lời - cả bi kịch của chính ta nữa.
༺༒༻
“Vấn đề tích lũy,” Adrian đã viết. Bạn đặt tiền vào một con ngựa, nó thắng, và chiến thắng của bạn sẽ tiếp tục với con ngựa tiếp theo trong lượt đua tiếp theo, và cứ như vậy. Chiến thắng của bạn tích tụ lại. Nhưng còn những lần thua thì có vậy không? Không phải trên đường đua - ở đó, bạn chỉ thua mối tiền đặt cược ban đầu thôi. Nhưng trong cuộc sống? Có lẽ ở đây áp dụng những nguyên tắc khác. Bạn đặt cược vào một mối quan hệ, nó thất bại; bạn tiếp tục với một mối quan hệ khác, nó lại cũng thất bại: và có thể cái bạn mất không phải là hai phép trừ đơn giản mà là phép nhân của thứ bạn lấy ra để đặt cược. Dù sao thì, đó cũng là cảm giác nó đem lại. Đời không chỉ là những phép cộng và trừ. Còn có cả tích lũy, cả nhân lên, của mất mát, của thất hại.
Cái mảnh của Adrien cũng đề cập tới vấn đề trách nhiệm: liệu có một chuỗi nào như thế thật, hay là ta chọn khái niệm hẹp hơn. Tôi ủng hộ ý chọn nó hẹp hơn. Xin lỗi, không, bạn không thể đổ lỗi cho hai vị phụ mẫu đã mất, hoặc việc có anh chị em, hoặc việc không có họ, hoặc cho gene của bạn, hoặc cho xã hội, hoặc bất cứ cái gì - trong các hoàn cảnh thông thường thì không thể được. Hãy bắt đầu với ý niệm rằng trách nhiệm của bạn là duy nhất của bạn mà thôi trừ phi có một chứng cứ mạnh mẽ nào cho điều ngược lại. Adrian thông minh hơn tôi nhiều - cậu ấy dùng logic nơi tôi dùng cảm thức chung - nhưng chúng tôi, tôi nghĩ vậy, đều ít nhiều đi tới cùng một kết luận.
Không phải là tôi có thể hiểu mọi thứ cậu ấy viết. Tôi chằm chằm nhìn vào mấy dấu bằng trong nhật ký của cậu ấy mà chẳng có mấy ánh sáng soi tỏ đường cho tôi. Nhưng tôi đã bao giờ giỏi môn toán đâu chứ.
༺༒༻
Tôi không ganh tị với Adrian về cái chết của cậu ấy, nhưng tôi ganh tị về cái sáng rõ của cuộc đời cậu ấy. Không phải chỉ bởi cậu ấy nhìn thấy, nghĩ, cảm nhận và hành động rõ ràng hơn bọn còn lại chúng tôi; mà còn bởi ngay cả thời điểm cậu ấy chết nữa. Tôi không có ý nói tới bất cứ thứ rác kiểu Thế chiến thứ nhất nào: “Lìa cành khi đương độ tuổi hoa” - một câu vẫn còn bị thầy hiệu trưởng dùng vô tư cái hồi có vụ tự tử của Robson - và “Họ sẽ không già đi như chúng ta, những kẻ bị bỏ lại đang già đi. [1] ” Phần lớn trong số còn lại chúng ta chẳng phiền lòng chuyện già đi. Như thế vẫn luôn tốt hơn là khả năng kia, tôi cho là vậy. Không, ý tôi là thế này này.
Khi đang ở độ tuổi hai mươi, dù có bối rối và không chắc chắn về các mục tiêu và ý định của mình, bạn vẫn có một cảm nhận mạnh mẽ về ý nghĩa của bản thân cuộc đời và việc bạn là gì, có thể thành gì trong cuộc đời. Về sau... về sau sẽ có nhiều thêm tính không chắc chắn, nhiều thêm chồng chéo, nhiều thêm chuyện tìm ngược về quá khứ, nhiều thêm những ký ức lẫn nhầm. Hồi trước, bạn có thể nhớ được cuộc đời ngắn ngủi của mình trong sự trọn vẹn của nó. Về sau, trí nhớ trở thành một thứ nhỏ vụn và chắp vá. Nó hơi giống cái hộp đen trên máy bay để ghi lại những gì xảy ra khi có tai nạn. Nếu không có chuyện gì, cuộn băng tự xóa. Nếu máy bay của bạn bị rơi, lý do rơi sẽ rõ ràng; nếu bạn không bị, nhật ký hành trình của bạn sẽ kém rõ hơn nhiều.
Hoặc là, nói theo cách khác thế này. Ai đó có lần nói rằng những thời điểm trong lịch sử anh ta thích thú nhất là khi mọi thứ đều đổ vỡ, bởi điều đó có nghĩa là có cái gì đó mới mẻ được sinh ra. Cái đó có nói lên điều gì không khi ta áp dụng cho những cuộc đời cá nhân chúng ta? Chết đi khi cái gì đó mới đang được ra đời - cho dù cái gì đó mới ấy chính là bản thể của chính chúng ta? Bởi cũng như mọi thay đổi chính trị và lịch sử không sớm thì muộn đều gây thất vọng, tuổi trưởng thành cũng thế mà thôi. Đời cũng thế mà thôi. Đôi khi tôi nghĩ mục đích cuộc đời là buộc ta phải chấp nhận mất mát chung cục của nó bằng cách vắt kiệt sức ta, bằng cách chứng minh, dù cho có mất bao lâu, rằng đời chẳng phải chỉ toàn là màu hồng.
༺༒༻
Tưởng tượng xem ai đó, đêm muộn, hơi say, viết thư cho một cô bạn gái cũ. Anh ta viết địa chỉ lên phong thư, dán một con tem, tìm cái áo khoác, đi bộ ra hòm thư bưu điện, nhét thư vào trong đó, đi bộ về nhà và lên giường đi ngủ. Có nhiều khả năng anh ta không làm cái đoạn cuối đó, phải không? Anh ta có thể để bức thư đó lại để gửi vào sáng hôm sau. Và rồi, cũng có thể, suy nghĩ lại. Thế thì lại có rất nhiều để mà nói về thư điện tử, về sự bồng bột, sự tức thời, thật với cảm xúc, thậm chí cả những vụ hớ của nó nữa. Suy nghĩ của tôi - nếu nói thế không quá lời - là như thế này: tại sao phải để ý tới lời Margaret trong chuyện này? - cô ấy thậm chí còn chẳng có ở đó, và chỉ có thể có các định kiến mà thôi. Thế nên tôi gửi một email cho Veronica. Tôi đặt tiêu đề “Câu hỏi”, và hỏi cô ấy thế này: “Em có nghĩ hồi đó tôi yêu em không?” Tôi ký tắt bằng các chữ cái đầu và nhấn nút Gửi trước khi kịp đổi ý.
Tôi tuyệt không hề mong sẽ có thư phúc đáp vào sáng hôm sau. Lần này nàng không xóa tiêu đề thư của tôi. Lời đáp của nàng viết: “Nếu anh cần phải hỏi câu này thì câu trả lời là không. V.”
Chuyện này có lẽ nói lên điều gì đó về trạng thái đầu óc tôi bởi tôi thấy lời đáp này bình thường, đúng ra là động viên rất nhiều.
Chuyện này có lẽ nói lên điều gì khác bởi phản ứng của tôi là gọi điện cho Margaret kể cho cô ấy về trao đổi này. Có một khoảng lặng, rồi vợ cũ của tôi lặng lẽ nói, “Tony, giờ anh phải tự lo lấy thôi.”
༺༒༻
Bạn có thể nói theo cách khác, tất nhiên: bạn luôn luôn có thể. Thế thì, ví dụ, có một vấn đề về việc khinh miệt, và lời đáp trả của ta. Ông anh Jack nháy mắt kiêu ngạo với tôi, và bốn mươi năm sau, tôi dùng cái hấp dẫn mình có - không, hãy thôi phóng đại đi: tôi dùng một thứ lịch thiệp giả tạo - để moi thông tin từ anh ta. Và rồi, ngay lập tức, phản bội anh ta. Trò khinh miệt của ta đổi lại trò khinh miệt của ngươi. Cả khi, giờ đây tôi thừa nhận, điều anh ta cảm thấy về tôi hồi đó có thể chỉ là sự thiếu quan tâm đến khôi hài mà thôi. Đây là gã mới nhất của em gái tôi đây - ờ thì có một thằng khác trước nó, và chẳng nghi ngờ gì là sẽ có một thằng khác sau nó sớm thôi. Chẳng cần phải nghiên cứu mẫu vật thoáng qua này kỹ quá làm gì. Nhưng tôi - tôi - cảm thấy vào lúc ấy sự khinh miệt, nhớ về nó như vậy, và gửi ngược trở lại cái cảm giác ấy.
Và có thể với Veronica tôi đang cố làm nhiều hơn thế: không đáp trả lại sự khinh miệt của nàng, mà vượt qua nó. Bạn có thể thấy hấp lực trong chuyện đó. Bởi vì việc đọc lại bức thư đó của mình, việc cảm thấy vị gay gắt và gây hấn của nó, đã tạo một cú sốc sâu sắc tận trong tâm khảm. Nếu chưa từng khinh miệt tôi trước đó, nàng nhất định phải khinh miệt tôi sau khi Adrian cho nàng xem những lời lẽ này của tôi. Và cũng nhất định mang theo nỗi oán hận chừng ấy năm, và dùng nó để biện minh cho việc chiếm giữ, thậm chí còn phá hủy, nhật ký của Adrian.
Tôi đang nói, rất tự tin, về chuyện làm thế nào đặc tính chủ đạo của hối hận là ta chẳng thể làm gì với nó được: thời gian để xin lỗi hay sửa chữa đã qua mất rồi. Nhưng nếu như tôi sai thì sao? Nếu như bằng cách nào đó hối hận có thể được làm cho chảy ngược lại, có thể chuyến hóa thành đơn giản là áy náy, rồi được xin lỗi, và được tha thứ? Nếu như mi có thể chứng minh mi không phải một thằng tồi như nàng vẫn nghĩ, và nàng sẵn lòng, chấp nhận những gì mi chứng tỏ thì sao?
Hoặc có lẽ động cơ của tôi nảy sinh từ hướng hoàn toàn ngược lại, và chẳng phải về quá khứ mà có khi là tương lai. Như phần lớn mọi người, tôi có những điều mê tín gắn vào với việc lên đường đi một chuyến xa. Ta có thể biết rằng theo thống kê đi máy bay thì còn an toàn hơn cả đi bộ tới cửa hàng ngay đầu phố. Dù vây, trước khi đi đâu tôi vẫn làm những việc như là trả hóa đơn, giải quyết thư từ, điện thoại cho ai đó thân thiết.
“Susie, mai ba đi vắng.”
“Vâng, con biết, ba. Ba bảo con rồi mà.”
“Ba bảo rồi à?”
“Vâng.”
“Ừ thì, chỉ để tạm biệt thôi mà.”
“Con xin lỗi, ba, bọn trẻ con đang làm ồn quá. Ba vừa nói gì cơ?”
“Ờ, không có gì đâu, nói lại là ba yêu chúng nó.”
Bạn làm cái đó là vì chính bản thân mình, tất nhiên. Bạn muốn để lại ký ức cuối cùng đó, và làm sao cho nó dễ chịu. Bạn muốn được người khác nghĩ tốt - trong trường hợp máy bay của bạn hóa ra chính là thứ ít an toàn hơn so với đi bộ ra cửa hàng đầu phố.
Và nếu đây là cách ta cư xử trước một kỳ nghỉ đông năm đêm ở Mallorca, thì vì sao lại không nên có một thứ thủ tục vẫn hay được thực hiện vào quãng cuối đời, khi chuyến đi cuối cùng ấy - cái bánh xe lăn tự động qua tấm rèm phòng hỏa táng kia - đang lại gần? Đừng trách móc tôi, hãy nhớ đến tôi nhiều. Hãy kể với mọi người rằng bạn quý mến tôi, rằng bạn yêu tôi, rằng tôi không phải là một thằng tồi. Dẫu rằng, có lẽ, chẳng có điều nào trong số đó là đúng hết.
༺༒༻
Tôi mở một tập album ảnh cũ và nhìn tấm ảnh nàng nhờ tôi chụp ở Quảng trường Trafalgar. “Một kiểu với các bạn cậu.” Alex và Colin làm mặt hơi cường điệu kiểu đây-là-ghi-nhận- mang-tính-lịch-sử, Adrian trông nghiêm túc như thường, trong khi Veronica - trước kia tôi chưa từng nhận ra - hơi quay một chút về phía cậu ấy. Không nhìn lên cậu ấy, nhưng cũng không nhìn vào máy ảnh. Nói cách khác, không nhìn vào tôi. Tôi đã ghen hôm ấy. Tôi muốn giới thiệu nàng với đám bạn tôi, muốn nàng quý chúng nó. Và chúng nó quý nàng, dù tất nhiên là không được nhiều hơn quý tôi. Cái này có thể là mong đợi trẻ con, cũng như là phi thực tế. Thế nên khi nàng cứ liên tục đặt câu hỏi cho Adrian, tôi hờn dỗi; và sau đó, khi trong quán bar khách sạn Adrian nói xấu ông anh Jack và lũ thân cận, tôi lập tức cảm thấy dễ chịu hơn.
Tôi thoáng nghĩ tới việc lần tìm dấu vết Alex và Colin. Tôi hình dung sẽ hỏi các cậu ấy về những ký ức và chứng thực. Nhưng các cậu ấy chẳng phải trung tâm câu chuyện; tôi không trông chờ trí nhớ các cậu ấy tốt hơn trí nhớ của tôi. Và nếu như chứng thực của các cậu ấy lại chứng minh điều gì không có lợi? Thực ra là, Tony, tớ cho rằng chẳng hại gì nếu nói lên sự thật sau chừng ấy năm, nhưng Adrian vẫn luôn luôn cay độc sau lưng về cậu. Ô, thật là thú vị. Đúng, chúng tớ đều nhận ra điều đó. Cậu ấy nói là cậu chẳng tốt đẹp gì mà cũng chẳng thông minh như cậu nghĩ. Tớ hiểu; còn gì nữa không? Đúng, cậu ấy nói cái lôi cậu tỏ ra quá rõ rằng cậu luôn coi chính cậu mới là bạn thân nhất của cậu ấy - dù gì thì cũng thân hơn cả hai chúng tớ - là phi lý và không thể hiểu nổi. Thế hả, thế thôi à? Không hẳn: ai cũng có thể thấy là cái cô nàng-tên-gì-ấy-nhỉ chỉ dắt mũi cậu cho tới khi có ai khác khá hơn lộ diện thôi. Cậu không nhận thấy cái cách cô ta tán tỉnh Adrian hôm chúng ta gặp nhau sao? Hai chúng tớ khá sốc vì chuyện ấy. Cô ta thực tế là nói ngọt đã lọt đến xương cậu ấy rồi.
Không, các cậu ấy sẽ chẳng giúp được gì đâu. Mà cô Ford thì đã chết. Và ông anh Jack thì đã biến rồi. Chỉ còn một nhân chứng khả dĩ duy nhất, người chứng thực duy nhất, Veronica.
༺༒༻
Tôi nói tôi muốn làm nàng khó chịu nổi da gà, không phải sao? Lối nói ấy thật kỳ quặc, và luôn làm tôi nghĩ về cách Margaret nướng gà. Cô nhẹ nhàng lột lớp da ở ngực và đùi, rồi luồn bơ và các cây lá thơm vào dưới da. Cây ngải giấm, chắc thế. Có lẽ cả một chút tỏi nữa, tôi không rõ lắm. Tôi chưa bao giờ thử tự làm cả, từ hồi đó đến giờ; mấy ngón tay tôi quá vụng về, rồi tôi hình dung chúng lóc lớp da ra.
Margaret kể cho tôi cách làm kiểu Pháp cái món này thậm chí còn điệu nghệ hơn nữa. Người ta cho những lát nấm cục thái mỏng vào dưới da - và bạn biết họ gọi cái đó là gì không? Gà Nửa-tang-kỳ. Tôi cho là công thức làm món này có từ thời mọi người thường không mặc gì khác ngoài màu đen trong vài tháng, màu ghi trong vài tháng nữa, và chỉ từ từ trở lại với màu cuộc sống. Toàn-, Nửa-, Phần tư-tang-kỳ. Tôi không biết có phải là các thuật ngữ ấy không, nhưng tôi biết các mức độ của tang phục được quy định đầy đủ. Ngày nay, người ta mặc đồ tang bao lâu? Phần lớn trường hợp là nửa ngày - chỉ đủ dài cho lễ đưa ma hoặc hỏa táng và bữa uống sau đó mà thôi.
Xin lỗi, cái này hơi ngoài lề. Tôi muốn làm nàng khó chịu nổi da gà, tôi đã nói thế, chẳng phải sao? Tôi có thực sự muốn nói điều tôi nghĩ là tôi muốn nói bằng câu ấy không, hay là điều gì khác? ‘I’ve Got You Under My Skin” [2] - đấy là một bản tình ca, phải không nhỉ?
༺༒༻
Tôi không muốn trách Margaret gì hết. Không một chút xíu nào. Nhưng, để nói đơn giản, nếu phải tự lo lấy, thì tôi liệu có ai nào? Tôi lưỡng lự vài ngày trước khi gửi cho Veronica một email mới. Trong đó, tôi hỏi về bố mẹ nàng. Bố nàng còn sống không? Mẹ nàng ra đi có nhẹ nhàng không? Tôi thêm rằng, mặc dù gặp họ có một lần thôi, tôi cũng đã có những ký ức đẹp. Ờ thì, cái đó có năm mươi phần trăm sự thật. Tôi chưa thực sự hiểu vì sao tôi hỏi những câu này. Tôi cho là mình muốn làm gì đó bình thường thôi, hoặc ít nhất là vờ như có những điều vẫn bình thường cho dù nó không hề như vậy. Khi bạn còn trẻ - khi tôi còn trẻ - bạn muốn tình cảm của mình giống như thứ bạn đọc trong sách ấy. Bạn muốn chúng lật nhào cuộc đời bạn, gây dựng và xác định một sự thật mới. Về sau, tôi nghĩ, bạn muốn chúng làm gì đó ôn hòa hơn, làm gì đó thực tế hơn: bạn muốn chúng ủng hộ đời mình như nó từng thế và vẫn thế. Bạn muốn chúng bảo bạn rằng mọi thứ đều ổn cả. Mà như thế thì có gì sai nào?
Thư hồi đáp của Veronica là một điều ngạc nhiên và nhẹ lòng. Nàng không coi mấy câu hỏi của tôi là khiếm nhã. Gần như thể nàng hài lòng vì được hỏi thăm. Bố nàng đã mất được khoảng ba lăm năm hay hơn. Ông ấy uống rượu ngày càng kinh khủng; kết quả là ung thư thực quản. Tôi ngừng ở đó, cảm thấy hối tiếc rằng mấy lời đầu với Veronica trên cầu Lắc Lư lại là những lời thô thiển về đám nghiện rượu hói đầu.
Sau cái chết của ông, mẹ nàng bán ngôi nhà ở Chilsehurst và chuyển tới London. Bà dạy các lớp nghệ thuật, bắt đầu hút thuốc, và cho người vào ở trọ, cho dù bà được chu cấp đầy đủ. Bà vẫn giữ được sức khỏe cho tới hơn một năm trước hay gì đó, khi trí nhớ bắt đầu suy giảm. Người ta ngờ là do một cơn đột quỵ nhẹ. Rồi bà bắt đầu cho trà vào tủ lạnh và trứng vào trong giỏ bánh mì, những thứ kiểu như thế. Có một lần bà suýt đốt cháy nhà vì để quên thuốc lá cháy dở. Bà vẫn giữ được tâm trạng vui vẻ suốt, cho tới lúc đột nhiên xuống dốc. Những tháng cuối phải chịu đựng nhiều, không, bà ra đi không nhẹ nhàng, dù thế cũng đã là may rồi.
Tôi đọc đi đọc lại email vài lần. Tôi tìm kiếm những cái bẫy, những điều mơ hồ, những hàm ý sỉ vả. Chẳng có gì như thế cả - trừ phi sự thẳng thắn chính nó lại là một cái bẫy. Đấy là một câu chuyện buồn thông thường - được kể đơn giản - và quá quen thuộc.
༺༒༻
Khi bạn bắt đầu quên - tôi không có ý nói tới bệnh Alzheimer, chỉ là hậu quả đoán được của tuổi già thôi - có các cách phản ứng khác nhau. Bạn có thể ngồi lì đó cố ép trí nhớ nhả ra cái tên của một người quen sơ, của hoa, của ga tàu, của nhà phi hành gia ấy... Hoặc bạn thừa nhận thất bại và làm theo các bước thiết thực với sách tham khảo và Internet. Hoặc là bạn chỉ kệ nó thôi - quên chuyện nhớ đi - và rồi đôi khi bạn thấy một tiếng hoặc một ngày sau đó sự kiện bị bỏ nhầm chỗ ấy bỗng lại nổi lên, thường là giữa những đêm dài thao thức mà tuổi tác bắt bạn chịu. Ờ thì, chúng ta ai cũng học được điều này cả, chúng ta, những kẻ hay quên.
Nhưng ta cũng học được một điều khác: rằng trí não không thích bị ép kiểu. Đúng vào lúc bạn nghĩ mọi thứ đều là chuyện sự suy giảm, chuyện phép trừ và phép chia, não của bạn, trí nhớ của bạn bỗng có thể sẽ làm bạn ngạc nhiên. Như thể nó nói rằng: Đừng tưởng mi có thể dựa dẫm vào quá trình tàn tạ chút một đầy động viên nào đó - đời phức tạp hơn thế rất nhiều. Và thế là trí não sẽ vứt cho bạn những mẩu đầu thừa đuôi thẹo lúc này hay lúc khác, thậm chí còn tháo rời những vòng lặp-ký ức quen thuộc. Cái đó tôi thấy, trong nỗi khiếp đảm, đang xảy ra với chính tôi lúc này. Tôi bắt đầu nhớ ra, không theo thứ tự cụ thể hoặc ý nghĩa đặc biệt nào, những chi tiết chôn chặt đã lâu từ cái dịp cuối tuần xa lắc ấy với gia đình nhà Ford. Căn phòng áp mái của tôi có hướng nhìn qua các mái nhà ra phía rừng; tôi có thể nghe thấy tiếng đồng hồ từ phía dưới báo giờ chậm đúng năm phút. Bà thay quả trứng bị vỡ đã chín vào sọt rác với vẻ quan tâm - tới nó, không phải tôi. Chồng bà cô bắt tôi uống brandy sau bữa tối, và khi tôi từ chối, ông hỏi tôi là chuột hay là người. Ông anh Jack gọi cò Ford là “Người Mẹ”, như trong “Khi nào thì Người Mẹ nghĩ sẽ có cỏ khô cho đám quân đói ngấu?” và đêm thứ hai, Veronica đã làm nhiều hơn là chỉ đi cùng tôi lên gác. Nàng nói, “Con sẽ tiễn Tony về phòng cậu ấy,” và nắm tay tôi trước mặt cả gia đình. Ông anh Jack nói, “Thế Người Mẹ nghĩ gì về chuyện kia?” Nhưng Người Mẹ chỉ cười. Lời chúc ngủ ngon của tôi dành cho gia đình ấy tối hôm đó khá vội vàng vì tôi có thể cảm thấy nó đang cương cứng lên. Chúng tôi bước chậm rãi lên phòng tôi, nơi Veronica đè tôi áp lưng vào cửa, hôn lên môi tôi và nói vào tai tôi, “Ngủ giấc ngủ của cái bọn hư hỏng ấy nhé.” Và khoảng chừng bôn mươi giây sau, giờ tôi nhớ rồi, tôi phóng tinh vào trong cái bồn rửa bé tí và xả trôi tinh dịch xuống ống thoát nước dọc tòa nhà.
Nảy ra một ý, tôi tìm Chislehurst trên Google. Và khám phá ra rằng chưa bao giờ có một cái nhà thờ Thánh Michael nào trong thị trấn. Vậy thì cái chuyến đi tour có hướng dẫn của ông Ford khi ông ta chở chúng tôi hẳn phải là tưởng tượng - một trò đùa riêng tư nào đó, hoặc là một cách để xỏ mũi tôi. Tôi cũng nghi ngờ việc có cái quán Café Royal ở đó luôn. Rồi tôi sang Google Earth [3] , nhào xuống và zoom quanh thị trấn. Nhưng ngôi nhà tôi tìm dường như không còn tồn tại nữa.
༺༒༻
Một đêm khác, tôi cho phép mình uống một ly, mở máy tính lên, tìm Veronica duy nhất tôi có trong mục sổ địa chỉ. Tôi gợi ý gặp nhau lần nữa. Tôi xin lỗi về mọi thứ tôi đã làm gây ra những chuyện khó xử trong lần gặp trước. Tôi thề là tôi không muốn nói về di chúc của mẹ nàng. Cái này cũng là thật; mặc dù không phải đến tận khi viết cái câu đó thì tôi mới nhận ra là tôi chẳng nghĩ gì về Adrian hay nhật ký của cậu ấy chút nào trong suốt mấy ngày vừa rồi.
“Cái này có phải là để khép cái vòng này lại không?” lời đáp của nàng tới.
“Tôi không biết,” tôi viết lại. “Nhưng nó cũng không hại gì, phải không nào?”
Nàng không trả lời cân hỏi ấy, nhưng lúc đó tôi không để ý hay phiền lòng gì.
Tôi không biết tại sao, nhưng một phần trong tôi nghĩ nàng sẽ gợi ý gặp trên cầu lần nữa. Hoặc là thế, hoặc đâu đó ấm cúng và hứa hẹn riêng tư: một quán bar bị lãng quên, một quán ăn trưa yên tĩnh, thậm chí là quán bar Khách sạn Charing Cross. Nàng chọn một quán ăn nhiều đồ uống trên tầng ba khu John Lewis ở phố Oxford.
Thực ra, cách này cũng có mặt thuận tiện của nó: Tôi cần vài mét dây để treo lại cái mành, đồ cạo gỉ ấm đun nước, và một bộ các miếng vá dùng để là vào phía trong quần khi đầu gối bị toạc ra. Khó mà kiếm được mấy thứ này quanh nhà được nữa: nơi tôi sống, phần lớn các cửa hàng nho nhỏ hữu ích như thế đều đã từ lâu biến thành tiệm cà phê hoặc công ty môi giới bất động sản cả rồi.
Trên tàu đi lên phố, có một cô bé ngồi dối diện tôi, đeo tai nghe, mắt nhắm, chống thẩm thấu từ thế giới bên ngoài, lắc đầu theo thứ nhạc chỉ có mình cô nghe được. Và bỗng nhiên, một ký ức trở về với tôi: Veronica nhảy. Đúng, nàng đã không nhảy - đấy là tôi nói thế - nhưng có một tối trong phòng tôi nàng lên cơn nghịch nhất và bắt đầu lôi bộ đĩa pop của tôi ra.
“Bật một dĩa đi rồi cho mình xem cậu nhảy nào,” nàng nói.
Tôi lắc đầu. “Có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu [4] .”
“OK, cậu cho mình xem rồi mình sẽ nhảy cùng.”
Thế là tôi chỉnh cái trục quay thay tự động một đĩa 45s [5] , nhích về phía nàng, nhún vai nới lỏng khung xương, nhắm hờ mắt, như thế tôn trọng khối riêng tư của nàng, và nhập cuộc. Hành vi biểu diễn cơ bản của phái nam hồi ấy, dứt khoát mang tính cá thể trong khi thực ra là phụ thuộc vào chuyện bắt chước nghiêm ngặt các quy phạm đang thịnh hành: đầu-thì-giật chân-thì-nhảy, vai-thì-vặn hông-thì-huých, với lại thêm thắt khoản hai cánh tay giơ lên ngây ngất và thỉnh thoảng xen những tiếng gầm gừ. Sau một lúc, tôi mở mắt, tưởng là nàng vẫn đang ngồi trên sàn mà cười tôi. Nhưng nàng ở đó, nhảy theo cái lối làm tôi nghĩ là nàng từng học ba lê, tóc xõa xuống mặt và bắp chân căng lên đầy biểu cảm. Tôi ngắm nàng một lúc, không chắc có phải nàng đang bắt chước để trêu tôi hay thành thật trôi theo The Moody Blues. Thực ra, tôi không quan tâm - bản thân tôi cũng đang thụ hưởng và cảm nhận một chiến thắng bé nhỏ. Cứ tiếp như thế được một hồi; rồi tôi lại gần nàng khi bài “From a Jack to a King” của Ned Millers nhường lối cho Bob Lind hát “Elusive Butterfly”. Nhưng nàng không nhận thấy và, xoay người đâm cả vào tôi, suýt thì mất thăng bằng. Tôi đỡ được và ôm lấy nàng.
“Cậu thấy đấy, đâu có khó lắm đâu.”
“Ờ, mình chưa bao giờ nghĩ nó khó cả,” nàng đáp. “Hay. Được. Cảm ơn cậu,” nàng nói xã giao, rồi đi ra và ngồi xuống. “Cậu cứ tiếp tục đi nếu cậu muốn. Mình thế đủ rồi.”
Dẫu sao thì, nàng cũng đã nhảy.
༺༒༻
Tôi mua đồ lặt vặt trong khu bán đồ khâu vá, bếp núc và rèm cửa, rồi đi sang quán ăn. Tôi đến sớm mười phút nhưng tất nhiên Veronica đã ở đó rồi, đầu cúi, đang đọc sách, tự tin rằng tôi sẽ tìm thấy nàng. Khi tôi đặt mấy cái túi xuống, nàng ngẩng lên và nửa như cười. Tôi nghĩ: em thực ra trông không đến nỗi hoang dại và rậm lông tơ lắm đâu.
“Tôi vẫn hói.”
Tôi nói. Nàng giữ lại còn phần-tư-nụ-cười.
“Cô đọc gì thế?”
Nàng lật mặt cuốn sách bìa mềm về phía tôi. Quyển gì đó của Stefan Zweig.
“Thế là cuối cùng cô cũng tới được cuối bảng chữ cái nhỉ. Chẳng còn ai sau ông này nữa cả.” Vì sao bỗng nhiên tôi lại bồn chồn thế này? Tôi lại đang nói chuyện như một thằng-hai-mươi-tuổi ấy. Hơn nữa, tôi chưa đọc quyển nào của Stefan Zweig cả.
“Tôi sẽ ăn mì Ý,” nàng nói.
Ờ thì, ít nhất đây không phải là câu làm bẽ mặt gì.
Trong khi tôi dò xét thực đơn, nàng tiếp tục đọc. Cái bàn trông ra nơi các thang cuốn bắt chéo nhau. Người đi lên, người đi xuống; ai cũng mua cái gì đó.
“Trên tàu tới đây tôi nhớ về cái hôm cô nhảy. Trong phòng tôi. Ở Bristol.”
Tôi chờ nàng nói ngược lại điều tôi nói, hoặc tỏ ra mất lòng một cách khó hiểu. Nhưng nàng chỉ nói, “Tôi tự hỏi vì sao anh nhớ chuyện đó.” Và nhờ giây phút chứng thực này, tôi bắt đầu cảm thấy tự tin trở lại. Lần này nàng diện hơn; tóc nàng gọn gàng và có vẻ bớt bạc. Bằng cách nào đó nàng đã xoay xở để trông như - trong mắt tôi - vùa có vẻ hai mươi và sáu mươi cùng lúc.
“Thế,” tôi nói, “bốn mươi năm qua đã đối xử với cô ra sao?”
Nàng nhìn tôi. “Anh kể trước đi.”
Tôi kể cho nàng câu chuyện đời tôi. Cái phiên bản tôi kể cho chính tôi nghe, cái bản tường thuật vẫn còn giá trị. Nàng hỏi về “hai người bạn của anh mà tôi đã có gặp một lần,” mà không thể gọi nổi tên các cậu ấy, có vẻ vậy. Tôi nói tôi mất liên lạc với Colin và Alex thế nào. Rồi tôi kể cho nàng về Margaret và Susie và chuyện làm ông, cố xua đi tiếng thì thầm của Margaret trong đầu “Bánh hoa quả thế nào rồi?”. Tôi nói về đời sống, công việc, về nghỉ hưu, về chuyện cô làm mình bận rộn, về những kỳ nghỉ đông tôi có - năm nay tôi đã nghĩ tới Saint- Petersburg dưới màn tuyết để thay đổi không khí... Tôi cố làm ra vẻ hài lòng với đời mình mà không tự mãn. Tôi đang tả dở về các cháu tôi thì nàng nhìn lên, uống một ngụm hết chỗ cà phê còn lại, đặt tiền lên bàn rồi đứng dậy. Tôi bắt đầu với lấy đồ của tôi thì nàng nói:
“Không, anh cứ ở lại mà kể nốt phần của anh đi.”
Tôi xác định là sẽ không làm gì có thể gây mất lòng, thế nên tôi lại ngồi xuống.
“Ờ thì, đến lượt em mà,” tôi nói. Ý là: về cuộc đời nàng.
“Lượt làm gì?” nàng hỏi, nhưng đã kịp đi mất trước khi tôi đáp lời.
Vâng, tôi biết nàng đã làm gì. Nàng đã xoay xở để tiêu một giờ đồng hồ cùng với tôi mà không phải lộ ra một điều nào, chứ chẳng nói tới bí mật, về bản thân nàng. Nàng sống ở đâu và sống ra sao, nàng có sống với ai không, hay có con cái gì không. Trên ngón tay đeo nhẫn nàng đeo một chiếc nhẫn thủy tinh đỏ, nó cũng bí ẩn như những thứ khác của nàng. Nhưng tôi không phiền lòng; đúng thế, tôi thấy tôi phản xạ như thể đang trong lần hẹn hò đầu tiên với ai đó và thoát ra được mà không làm chuyện gì tai họa. Nhưng tất nhiên chẳng phải như vậy tẹo nào. Sau cuộc hẹn hò đầu tiên, bạn không ngồi trên tàu và thấy đầu mình ngập lụt trong sự thật bị lãng quên về đời sống tình dục của bạn và người ta bốn mươi năm về trước. Hai người chúng tôi từng hấp dẫn lẫn nhau đến chừng nào; nàng ngồi trên đùi tôi nhẹ bẫng ra sao; luôn luôn thấy hưng phấn đến mức nào; thậm chí chúng tôi chưa từng có “tình dục đủ các bước”, nhưng tất cả mọi yếu tố của nó - những thèm khát, những dịu dàng, những vô tư, những tin tưởng - dù thế nào vẫn luôn có thực. Và thế nào đó mà một phần trong tôi không hề phiền lòng khi chẳng được “đi tới tận cùng”, không phiền lòng với những cơn thủ dâm tận thế sau khi đã đưa nàng về tận nhà. không phiền lòng ngủ trên chiếc giường đơn, một mình ngoại trừ những, kỷ niệm và ngay lập tức lại cương cứng lên. Việc chấp nhận được: hưởng ít hơn những người khác này cũng còn là do nỗi sợ, dĩ nhiên: sợ có thai, sợ nói hoặc làm điều gì sai, sợ sự gần gũi lấn lướt tôi không thể tự chủ được.
༺༒༻
Tuần tiếp theo rất yên ả. Tôi treo lại tấm rèm. cọ gỉ cái ấm nước, vá chỗ xoạc của một cái quần bò cũ. Susie không gọi điện. Margaret, tôi biết, sẽ giữ im lặng trừ phi và cho đến khi tôi tự liên lạc với cô ấy. Mà rồi cô ấy mong đợi gì mới được chứ? Xin lỗi, phỉnh nịnh? Không, cô ấy không khắc nghiệt thế; cô ấy luôn luôn chấp nhận vẻ mặt rầu rĩ từ phần tôi như để công nhận rằng cô ấy thông thái hơn nhiều. Nhưng lần này có thể không phải là như vậy. Thực sự, tôi có lẽ sẽ không gặp Margaret trong một khoảng thời gian. Một phần trong tôi cảm thấy áy náy mơ hồ và âm thầm đối với cô ấy. Lúc đầu tôi không thể hiểu được điều này: cô ấy là người bảo tôi giờ đây phải chịu một mình thôi. Nhưng rồi tôi có một kỷ niệm từ lâu lắm rồi, từ những năm đầu cuộc hôn nhân của chúng tôi. Cha nào đó ở chỗ làm tổ chức tiệc và mời tôi tới; Margaret không muốn đến. Tôi tán một cô nàng và cô ta tán lại. Ờ thì hơn tán tỉnh một chút - dù thế thì cũng còn lâu mới tới màn dưới mức-tình dục - nhưng tôi giữ nó dưới tầm kiểm soát ngay khi tôi tỉnh rượu. Thế thôi cũng đã đủ khiến tôi cảm thấy kích thích nhiều ngang với áy náy rồi. Và giờ đây, tôi nhận ra, mình đang cảm thấy một điều tương tự. Phải mất một hồi tôi mới làm rõ được chuyện này. Rốt cuộc tôi tự nhủ: Đúng, thế là mi cảm thấy áy náy với vợ-cũ, người đã ly dị mi từ hai mươi năm trước rồi, và kích thích vì cô bạn gái cũ bốn mươi năm nay không gặp. Ai nói rằng chẳng còn gì đáng ngạc nhiên trên cuộc đời này?
Tôi không muốn ép Veronica. Tôi nghĩ lần này sẽ đợi tới khi nàng tự liên lạc. Tôi kiểm tra mục thư đến hơi quá mức cần mẫn. Tất nhiên, tôi chẳng mong đợi một nỗi dào dạt tuôn trào khủng khiếp nào, nhưng đã hy vọng, có lẽ, vào một bức thông điệp lịch thiệp rằng thật dễ chịu được gặp tôi một cách hẳn hoi sau chừng ấy năm.
Ờ thì, có lẽ chẳng phải như thế. Có lẽ nàng đã đi du lịch đâu rồi. Có lẽ máy chủ của nàng bị hỏng. Ai đã nói gì đó về hy vọng bất diệt của trái tim con người ấy nhỉ? Bạn biết là thỉnh thoảng bạn cũng có đọc những câu chuyện như thế về cái mà báo chí thích gọi là “tình nở muộn” phải không? Thường thường là về một cụ ông lẩm cẩm và một cụ bà lẩm cẩm trong một viện dưỡng lão? Cả hai cùng góa bụa, cười ngoác răng giả và hai bàn tay viêm khớp nắm chặt nhau? Thường xuyên, ho vẫn nói những gì bị coi là thứ ngôn ngữ không chuẩn của tình yêu tuổi trẻ. “Ngay khi tôi vừa nhìn anhcô ấy, tôi đã biết anhcô ấy là dành cho tôi rồi” - cái kiểu câu như thế. Một phần trong tôi luôn cảm động và muốn chúc mừng; nhưng phần khác thì thận trọng và ngăn cản. Vì sao phải trải qua cái trò đó lần nữa lại từ đầu? Mi chẳng biết luật sao: phải một bận, cạch đến già? Nhưng giờ đây, tôi thấy tôi nổi loạn chống lại chính tôi... gì cơ? Câu nệ tập tục, thiếu trí tưởng tượng, hay là sợ bị thất vọng? Hơn nữa, tôi nghĩ, mình vẫn còn răng.
Đêm hôm ấy một nhóm chúng tôi đi tới Minsterworth truy tìm con Sóng thủy triền cửa sông Severn. Veronica đi kề bên tôi. Não tôi hẳn đã xóa nó khỏi hồ sơ lưu trữ, nhưng giờ tôi biết nó như một sự kiện. Nàng đã ở đó với tôi. Chúng tôi ngồi trên tấm chăn ẩm trên bờ sông ẩm, tay nắm trong tay; nàng mang theo một bình sô cô la nóng. Những ngày thơ ngây. Ánh trăng bắt được con sóng vỡ òa khi nó đến gần. Những người khác hò reo khi nó tới, và hò reo theo nó, săn đuổi nó vào trong đêm tối với loang loáng những ánh đèn pin giao nhau. Còn lại riêng chúng tôi, nàng và tôi nói về những chuyện bất khả đôi khi vẫn cứ xảy ra, những điều bạn chẳng thể tin trừ phi bạn tận mắt chứng kiến. Tâm trạng chúng tôi đầy nghĩ ngợi, thậm chí còn u ám, hơn là ngất ngây.
Ít nhất thì đó là điều giờ đây tôi nhớ ra. Dẫu rằng nếu bạn đưa tôi vào phòng xử án, tôi e rằng mình sẽ không đương đầu được với vòng thẩm vấn nhân chứng chéo. “Và ông vẫn khai là cái ký ức này bị nén lại suốt bốn mươi năm?” “Vâng.” “Và chỉ mới nổi lên gần đây thôi?” “Vâng.” “Ông có thể trình bày vì sao nó nổi lên?” “Không hẳn.” “Thế thì để tôi nói giúp ông, ông Webster, rằng cái vụ việc theo giả thiết này hoàn toàn là bịa đặt từ trí tưởng tượng của ông mà thôi, được dựng lên để biện hộ cho sự gắn bó lãng mạn nào đó mà ông có vẻ đang nuôi dưỡng hướng về khách hàng của tôi, một giả định mà, tòa phải biết, khách hàng của tôi thấy cực kỳ đáng kinh tởm." ‘'Vâng. Có lẽ thế. Nhưng..." "Nhưng gì vậy, ông Webster?” "Nhưng chúng ta chẳng yêu được mấy người trên cuộc đời này. Một, hai, ba? Rồi đôi khi chúng ta không nhận ra sự thật ấy cho tới khi đã quá muộn. Trừ phi nó không nhất thiết là quá muộn. Quý vị đã đọc câu chuyện về tình nở muộn trong nhà dưỡng lão ở Barnstaple chưa?" "Thôi cho tôi xin, ông Webster, tha cho chúng tôi những trầm tư mặc tưởng sến sẩm của ông đi. Đây là một phiên tòa, nơi chỉ làm việc với sư kiện thôi. Đâu mới đúng là những sự kiện trong vụ này?"
Tôi chỉ có thể đáp rằng tôi nghĩ - tôi lý thuyết hóa - rằng có gì đó - có gì đó khác – xảy ra với trí nhớ theo thời gian. Nhiều năm trời bạn sống với cùng những vòng lặp, cùng những sự kiện và cùng những cảm xúc. Tôi nhấn vào nút đánh dấu Adrian hoặc Veronica, cái băng từ quay, cái thứ quen thuộc tuôn ra. Các sự kiện tái xác nhận những cảm xúc - oán giận, một cảm thức bất công, khuây khỏa - và ngược lại. Có vẻ như không có cách nào truy cập cái gì khác nữa; vụ việc khép lại. Đó là lý do vì sao bạn tìm tới thực chứng, cho dù nó có là điều trái ngược. Nhưng nếu như, thậm chí vào một đoạn đời đã muộn, các cảm xúc của bạn vẫn liên quan tới những sự kiện từ rất lâu trước đây mà con người thì đã đổi thay? Bức thư xấu xa đó của tôi làm dấy lên niềm hối hận trong tôi. Chuyện Veronica kể về việc bố mẹ nàng ra đi - vâng, cả bố nàng nữa - đã làm tôi động lòng hơn tôi tưởng. Tôi cảm thấy một niềm thương cảm mới đối với họ - và với nàng. Rồi, không lâu sau đó, tôi bắt đầu nhớ ra những điều đã bị lãng quên. Tôi không biết liệu có cách giải thích khoa học nào cho chuyện này - xoay xở với các trạng thái dễ xúc động mới khiến những lối đi bị chặn cho nơ ron được mở ra trở lại. Tôi chỉ có thể nói rằng nó đã xảy ra, và đã làm tôi sững sờ.
Thế thì, dù sao đi nữa - và bất chấp ông luật sư ngăn cản trong đầu tôi - tôi vẫn gửi email cho Veronica và gợi ý gặp lần nữa. Xin lỗi vì lần trước nói quá nhiều. Muốn nghe nhiều hơn về cuộc sống của nàng và gia đình nàng. Sẽ phải lên London lúc nào đó trong mấy tuần tới. Liệu nàng có thích cùng thời gian, cùng địa điểm không?
Ngày trước người ta chịu đựng thế nào khi thư từ phải thật lâu mới tới nơi? Tôi cho là ba tuần đợi người đưa thư hẳn phải ngang với ba ngày đợi email. Ba ngày trời thì cảm giác phải lâu tới mức nào? Đủ lâu để có đầy đủ cảm giác được tưởng thưởng. Veronica không xóa tiêu đề thư của tôi - “Xin chào lần nữa chứ?” - giờ nó nhằm vào tôi khá là tươi tỉnh. Nhưng nàng hẳn không thể nào thấy mất lòng được, bởi nàng cho tôi một cuộc hẹn, một tuần nữa, năm giờ chiều, ở một bến tàu điện ngầm lạ hoắc phía Bắc London.
Tôi cảm thấy chuyện này thật ly kỳ. Ai mà không thấy thế chứ? Đúng vậy, nó chẳng bảo, “Mang theo quần áo ngủ đêm và hộ chiếu,” nhưng bạn đã đến cái hồi mà những đa dạng của cuộc sống dường như bị giới hạn đến thảm hại. Lần nữa, bản năng đầu tiên của tôi là gọi điện cho Margaret; rồi tôi nghĩ kỹ hơn về chuyện này. Dù sao thì, Margaret không thích những bất ngờ. Cô ấy từng là - vẫn là - kiểu người thích lập kế hoạch cho mọi chuyện. Trước khi chúng tôi có Susie cô ấy từng giám sát chu kỳ sinh sản và gợi ý khi nào thì sẽ thuận lợi nhất để làm tình. Cái đó hoặc đặt tôi vào trạng thái nóng lòng mong mỏi, hoặc - ngược lại, quả thực là thường xuyên - có hiệu ứng trái ngược hẳn. Margaret sẽ chẳng bao giờ cho bạn một cuộc hẹn bí ẩn ở tận một ga tàu điện ngầm xa tít. Cô ấy sẽ gặp bạn dưới đồng hồ nhà ga ở Paddington vì một mục đích cụ thể hơn. Không phải là hồi ấy tôi không muốn sống cuộc sống của tôi theo kiểu này đâu, bạn phải hiểu cho tôi.
Tôi mất một tuần cô gắng giải phóng những ký ức mới về Veronica, nhưng không có gì xuất hiện cả. Có thể là tôi đã cố quá mức, gây áp lực cho não tôi. Thế là thay vào đó tôi bật lại những gì mình đang có, những hình ảnh quen thuộc từ lâu và mới đến gần đây. Tôi soi chúng ngược sáng, trở qua trở lại trên những ngón tay mình, cố nhìn xem giờ đây chúng có mang ý nghĩa nào khác hay không. Tôi bắt đầu kiểm tra lại cả cái bản thể trẻ hơn của tôi nữa, tới chừng nào còn có thể làm được. Tất nhiên tôi từng dốt nát và ngây thơ - chúng ta đều thế cả; nhưng tôi biết không nên phóng đại những đặc tính này, bởi đó chỉ là một cách tôn vinh bản thân bạn lên bởi con người mà bạn đã trở thành. Tôi cố gắng khách quan. Phiên bản mối quan hệ của tôi với Veronica, cái mà tôi mang theo suốt chừng ấy năm, là cái mà hồi ấy tôi cần tới. Trái tim trai trẻ bị phản bội, cơ thể trai trẻ bị đùa bỡn, con người xã hội trai trẻ bị coi rẻ. Thầy Joe Hunt Già đã trả lời gì khi tôi ra vẻ hiểu biết cho rằng lịch sử là những lời dối trá của kẻ thắng? “Chừng nào trò còn nhớ đó cũng là những hoang tưởng của kẻ chiến bại.” Liệu ta có nhớ điều đó đủ khi nó xảy đến với cuộc sống riêng của ta không?
༺༒༻
Những kẻ-chối-từ-thời-gian nói: bốn mươi chẳng là gì, ở tuổi năm mươi mi đang lúc phong độ nhất, sáu mươi là tuổi bốn mươi lần nữa, và cứ thế. Tôi biết cái này rất rõ: rằng có thời gian khách quan, nhưng còn có cả thời gian chủ quan, cái loại bạn đeo ở mặt trong cổ tay, ngay cạnh mạch máu của bạn. Và thứ thời gian cá nhân này, còn là thời gian thật, được đo trong mối quan hệ của bạn với ký ức. Thế nên khi điều lạ lùng này xảy ra - khi những ký ức mới bỗng dưng đến với tôi - thì như thế, vào đúng lúc ấy, thời gian được đảo ngược dòng. Như thể, vào đúng lúc ấy, con sông chảy ngược về nguồn.
༺༒༻
Tất nhiên, tôi đến hơi quá sớm, thế nên tôi xuống tàu trước một bến và ngồi trên ghế băng đọc một tờ báo miễn phí. Hoặc ít nhất là nhìn chằm chằm vào nó. Rồi tôi lên tàu đến bến kế tiếp, nơi cầu thang cuốn đưa tôi lên một sảnh bán vé thuộc về phần London lạ lẫm với tôi. Khi đi qua rào ngăn tôi thấy một dáng người và một cách đứng đặc biệt. Lập tức, nàng quay lại và bước đi. Tôi đi theo nàng qua bến xe buýt vào một phố nhỏ nơi nàng mở khóa một chiếc ô tô. Tôi ngồi vào ghế bên và nhìn sang. Nàng đã nổ máy rồi.
“Buồn cười nhỉ. Tôi cũng có một chiếc Polo.”
Nàng không đáp. Lẽ ra tôi chẳng nên ngạc nhiên. Dựa theo hiểu biết và ký ức của tôi về nàng, dù là nó có quá đát, nói chuyện-trong-xe là điều Veronica không bao giờ làm. Cả tôi cũng không - dù tôi chỉ biết chứ không giải thích rõ được chuyện đó.
Hôm ấy trời chiều vẫn nóng. Tôi mở cửa sổ xe phía bên mình. Nàng liếc về phía tôi, nhíu mày. Tôi đóng cửa sổ lại. Ờ thì thôi, tôi đành tự nhủ.
“Tôi nghĩ về cái hôm chúng mình xem Sóng thủy triều sông Severn.”
Nàng không đáp.
“Em nhớ chuyện đó chứ?” Nàng lắc đầu. “Thật là không ư? Có một lũ chúng mình, ở trên Minsterworth. Có trăng...”
“Đang lái xe,” nàng nói.
“Được thôi.” Nếu đấy là điều nàng muốn. Rốt cuộc, đó là hành trình của nàng. Tôi đành nhìn ra cửa sổ. Những cửa hàng tạp hóa, các quán xá rẻ tiền, một quầy chơi cá cược, người xếp hàng trước một cái máy rút tiền, phụ nữ với phần thịt tràn ra giữa áo và quần. Một đống những rác rưởi, một thằng rồ gào thét, một bà mẹ béo phì với ba đứa trẻ béo phì, những gương mặt của đủ mọi chủng người: một London bình thường, phố xá mua sắm đa năng.
Sau vài phút, chúng tôi tới phần sang trọng hơn: các ngôi nhà tách biệt, vườn phía trước, một ngọn đồi. Veronica rẽ vào và đỗ xe. Tôi nghĩ: OK, đây là trò chơi của cô - tôi sẽ đợi xem luật chơi, cho dù nó là gì đi nữa. Nhưng một phần trong tôi cũng nghĩ: Mặc xác, tôi sẽ không thôi là chính tôi chỉ vì cô quay trở lại cái trạng thái tinh thần trên cầu Lắc Lư đâu.
“Ông anh Jack thế nào?” Tôi vui vẻ hỏi. Nàng khó mà có thể trả lời “Đang lái xe” cho câu hỏi này được.
“Jack là Jack,” nàng đáp, không nhìn sang tôi.
Ờ thì, điều đó thật hiển nhiên một cách triết học, như chúng tôi từng nói, cái hồi còn Adrian.
“Cô có nhớ...”
“Đợi,” nàng ngắt lời.
Rất được, tôi nghĩ. Đầu tiên là gặp, rồi lái xe, giờ là đợi. Còn gì tiếp theo nữa? Mua sắm, nấu nướng, ăn và uống, hôn hít, thủ dâm và làm tình? Tôi rất ngờ chuyện này. Nhưng khi chúng tôi ngồi cạnh nhau, một ông hói và một bà rậm lông măng, tôi nhận ra điều đáng lẽ tôi phải thấy rồi mới phải. Trong hai chúng tôi, Veronica là người bồn chồn hơn rất nhiều. Và trong khi tôi bồn chồn vì nàng, rõ ràng nàng chẳng bồn chồn gì vì tôi hết. Tôi giống như một kẻ gây bứt rứt thứ yếu song cần thiết vậy. Nhưng vì sao tôi lại là thứ cần thiết?
Tôi ngồi và đợi. Tôi cũng thoáng ước ao giá mình giữ lại tờ báo miễn phí trên tàu kia. Tôi tự hỏi vì sao tôi không tự mình lái xe đến đây. Chắc hẳn là bởi tôi không biết ở đây có quy định hạn chế đỗ xe như thế nào. Tôi muốn uống nước. Tôi cũng muốn đi tiểu nữa. Tôi hạ thấp cửa sổ xuống. Lần này, Veronica không phản đối.
“Nhìn đi.”
Tôi nhìn. Một nhóm vài người đang đi dọc vỉa hè lại gần phía xe bên tôi ngồi. Tôi đếm được năm người. Đi đầu là một người đàn ông, mặc cho trời nóng vẫn mặc mấy lớp áo vải tuýt nặng, có cả áo gi lê và một thứ như là mũ thợ săn. Áo khoác ngắn và mũ của anh ta phủ kín phù hiệu kim loại, đoán cũng phải ba mươi hay bốn mươi chiếc, một số lấp lánh ánh mặt trời; có một sợi dây xích đeo đồng hồ móc giữa mấy cái túi áo gi lê. Anh ta tỏ ra vui vẻ: anh ta trông giống như ai đó có chức năng không rõ gọi là gì trong một gánh xiếc hoặc một khu vui chơi. Hai người đàn ông đi sau anh ta: người đầu tiên có ria mép đen và một dáng đi như lăn; người thứ hai nhỏ bé và dị dạng, một bên vai cao hơn hẳn vai kia - anh ta dừng lại nhổ toẹt vào mảnh vườn trước một ngôi nhà. Và sau họ là một tay cao, trông ngốc nghếch, đeo kính, nắm tay một người phụ nữ đầy đặn có vẻ như là Ấn Độ.
“Quán bar," người đàn ông có ria mép nói khi lại gần.
“Không, không quán bar,” người đàn ông đeo nhiều phù hiệu đáp.
“Quán bar,” người đàn ông thứ nhất nhấn mạnh.
“Cửa hàng,” người phụ nữ nói.
Họ đều nói rất to, như trẻ con vừa được tan học vậy.
“Cửa hàng,” người đàn ông dáng lệch nhắc lại, nhổ khẽ một miếng vào bờ rào.
Tôi nhìn cấn thận hết mức có thể, bởi tôi đã được chỉ dẫn làm như vậy. Tất cả họ, tôi cho là thế, hẳn phải vào khoảng từ ba mươi tới năm mươi, nhưng đồng thời cũng có vẻ cố định, không tuổi. Hơn nữa, một vẻ nhút nhát thấy rõ, được nhấn mạnh bởi cái cách nắm tay nhau của hai người đi cuối. Trông không giống như yêu đương, mà giống tự vệ chống lại thế giới hơn. Họ đi qua vài bước, không hề liếc vào xe. Vài thước sau là một anh chàng trẻ tuổi mặc quần soóc và áo hở cổ; tôi không thể nói liệu anh ta có phải người trông nom họ hay chẳng liên quan gì đến họ cả.
Một khoảng lặng dài. Rõ ràng, tôi phải tự thân vận động thôi.
“Thế rồi sao?”
Nàng không đáp. Câu hỏi có lẽ quá chung chung.
“Họ làm sao thế?”
“Anh làm sao thế?”
Lời đáp chẳng có vẻ liên quan, với tất cả cái giọng gay gắt ấy. Thế nên tôi thúc thêm.
“Cái tay trẻ kia cũng cùng hội với họ à?”
Im lặng.
“Có phải họ được chăm-sóc-trong-cộng- đồng hay gì đó không?”
Đầu tôi đập vào chỗ tựa đầu của ghế khi Veronica đột nhiên thả phanh ra. Nàng lái như đua quanh một hai khối nhà, lao xe qua các lằn giảm tốc độ như thế nó là con ngựa đua vượt rào. Cái lối sang số, hoặc chẳng buồn sang số, thật kinh khủng. Chuyện này kéo dài khoảng bốn phút, rồi nàng đổi hướng vào một chỗ đỗ xe, leo một bánh trước lên lề đường trước khi lại nảy xuống.
Tôi thấy tôi đang nghĩ thần: Margaret luôn là một tài xế dễ chịu. Không chỉ an toàn, mà còn đối xử với xe cộ một cách tử tế. Trở lại cái hồi nảo hồi nào tôi học lái xe ấy, thầy hướng dẫn giải thích cho tôi rằng khi sang số, ta phải điều khiến phanh và cần số nhẹ nhàng và êm tới mức đầu hành khách không xê dịch một xăng ti mét nào quanh cột sống. Tôi bị ấn tượng về chuyện này, và thường xuyên để ý khi người khác chở tôi. Nếu sống với Veronica, khéo tôi phải đi gặp bác sĩ nắn xương hằng tuần mất.
“Anh đúng là chẳng hiểu gì cả, phải không? Thế thì anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được đâu.”
“Tôi cũng không nhận được giúp đỡ nhiều cho lắm.”
Rồi tôi nhìn thấy họ - cho dù họ là ai đi nữa - đang tiến về phía tôi. Đó là lý do của cái trò này: đón đầu họ lần nữa. chúng tôi ở kế bên một cửa hàng và một tiệm giặt là, trên vỉa hè đối diện là một quán bar. Người đàn ông đeo phù hiệu - “người chào mời”, đó chính là từ tôi đang tìm nãy giờ, anh chàng vui nhộn ở lối vào một quầy vui chơi giải trí khuyến khích bạn bước vào xem cô nàng có râu hoặc con gấu trúc hai đầu - anh ta vẫn dẫn đầu đoàn người. Bốn người còn lại giờ đang vây quanh anh thanh niên mặc quần soóc, vậy thì anh ta đúng là đi cùng với họ. Kiểu như là nhân viên chăm sóc. Lúc này tôi nghe thấy anh ta nói:
“Không, Ken, hôm nay không đi quán bar được. Tối thứ Sáu mới là tối đi quán bar.”
“Thứ Sáu,” người đàn ông có ria nhắc lại. Tôi thấy Veronica tháo dây an toàn và mở cửa xe. Tôi bắt đầu làm theo, nàng nói:
“Ở lại.” Làm như tôi là một con chó.
Cuộc tranh luận quán bar hay cửa hàng vẫn tiếp diễn thì một trong số họ nhận ra Veronica. Người mặc áo tuýt bỏ mũ ra ôm vào tim, rồi cúi đầu chào. Anh chàng lệch người bắt đầu nhảy cẫng lên tại chỗ. Cái cậu lóng ngóng buông tay người phụ nữ ra. Anh nhân viên chăm sóc mỉm cười và chìa tay ra bắt tay Veronica. Trong chốc lát, nàng rơi vào giữa một ổ phục kích hiền lành. Người phụ nữ Ấn Độ giờ đang nắm tay Veronica, còn người muốn đến quán bar thư thái gục đầu lên vai nàng. Dường như nàng hoàn toàn không để ý đến chuyện ấy. Tôi thấy nàng mỉm cười lần đầu tiên buổi chiều hôm ấy. Tôi cố nghe những gì họ nói, nhưng có quá nhiều giọng chồng lên nhau. Rồi tôi thấy Veronica quay đi và nghe được nàng nói:
“Sớm thôi.”
“Sớm thôi,” hai ba người trong số họ nhắc lại.
Anh chàng lệch người nhảy cẫng lên vài lần nữa, cái cậu lóng ngóng ngoác miệng ngớ ngẩn cười và hét, “Tạm biệt, Mary!” Họ dợm theo nàng ra xe, rồi nhận thấy tôi ở ghế bên thì liền đồng loạt dừng lại. Bốn trong số họ bắt đầu vẫy tạm biệt điên cuồng, trong khi người mặc áo tuýt bạo dạn tiếp cận xe bên phía tôi. Mũ anh ta vẫn ấp nơi tim. Anh ta đưa tay kia ra qua cửa sổ xe và tôi bắt tay.
“Chúng tôi sẽ đi cửa hàng,” anh ta trịnh trọng bảo với tôi.
“Các anh sẽ mua gì thế?” tôi hỏi với một nghi thức tương đương.
Việc này làm anh ta lùi lại, và anh ta ngẫm nghĩ một lúc.
“Thứ chúng tôi cần,” cuối cùng anh ta cũng đáp. Anh ta gật gù và nói thêm, thật hữu ích, “Những đồ thiết yếu.”
Rồi anh ta chào kiểu gật đầu trịnh trọng của mình, quay đi và lại đội lên đầu cái mũ đeo nặng phù hiệu.
“Anh ta có vẻ rất dễ thương,” tôi nhận xét. Nhưng nàng đang vào số xe bằng một tay, tay kia thì vẫy. Tôi nhận thấy nàng toát cả mồ hôi. Đúng, hôm ấy là một ngày nóng, nhưng kể cả thế.
“Họ đều rất hài lòng vì được gặp cô.”
Tôi có thể nói rằng nàng sẽ không đáp bất cứ điều gì tôi nói nữa đâu. Hơn nữa nàng đang cáu - tất nhiên là với tôi, nhưng với cả chính nàng nữa. Tôi không thể nói là tôi cảm thấy mình đã làm gì sai. Tôi định mở miệng khi thấy nàng nhắm tới lằn giảm tốc độ, chẳng chậm lại chút nào, và tôi thoáng nghĩ trong đầu rằng mình có thể tự cắn đứt lưỡi với cú xóc ấy. Thế là tôi đợi đến khi chúng tôi đua vượt rào qua được cái lằn an toàn mới nói:
“Tôi tự hỏi không biết anh ta có đến bao nhiêu cái phù hiệu nhỉ.”
Im lặng. Lằn giảm tốc.
“Họ có sống cùng một nhà cả không?”
Im lặng. Lằn giảm tốc.
“Vậy ra tối đi quán bar là tôi thứ Sáu nhỉ.” Im lặng. Lằn giảm tốc.
“Đúng, chúng ta có đi Minsterworth cùng nhau. Đêm hôm ấy có trăng.”
Im lặng. Lằn giảm tốc. Giờ chúng tôi rẽ vào khu phố mua sắm, chẳng còn gì ngoài nhựa đường phẳng giữa chúng tôi và ga tàu điện ngầm, theo như tôi còn nhớ được.
“Đây là một phần rất thú vị của thành phố.” Tôi nghĩ chọc tức nàng có thể làm được trò trống gì đó - cho dù là trò trống gì. Trò đối xử với nàng như với công ty bảo hiểm đã nằm yên trong quá khứ rồi.
“Đúng, cô nói đúng, tôi nên trở về sớm.''
“Dù sao thì gặp cô bữa trưa hôm trước thật là thích.”
“Có những đầu sách nào của Stefan Zweig cô đặc biệt cho là nên đọc không?”
“Ngày nay có thật là nhiều người béo. Béo phì. Đó là một trong những thay đổi so với hồi chúng mình trẻ, phải không? Tôi chẳng thể nhớ ra ai ở Bristol hồi ấy bị béo phì.”
“Vì sao cái cậu ngớ ngẩn ấy gọi cô là Mary?”
Ít nhất thì tôi cũng có cài dây an toàn. Lần này kỹ thuật đỗ xe của Veronica là cho ca hai bánh trong leo lên hè với tốc độ khoảng hai mươi dặm [6] một giờ, rồi giẫm vào phanh.
“Ra,” nàng nói, nhìn chằm chằm phía trước.
Tôi gật đầu. Tháo dây an toàn, và chậm rãi ra khỏi xe. Tôi giữ cửa xe mở lâu hơn cần thiết, chỉ để làm nàng tức một lần cuối, và nói:
“Cô sẽ làm hỏng lốp xe nếu cứ tiếp tục đi như thế đấy.”
Cửa xe bị giật mạnh khỏi tay tôi khi nàng lái xe đi.
༺༒༻
Tôi ngồi trên tàu về nhà không nghĩ ngợi gì, thực thế, chỉ cảm nhận. Mà thậm chí còn chẳng nghĩ về cái tôi đang cảm nhận nữa cơ. Mãi đến tối hôm ấy tôi mới bắt đầu toàn tâm vào chuyện đã xảy ra.
Lý do chính khiến tôi cảm thấy điên và nhục là bởi - tôi đã gọi nó là gì nhỉ, chỉ mới vài ngày trước đó? - “niềm hy vọng bất diệt của trái tim người”. Và trước đó, “vẻ quyến rũ của việc vượt qua sự khinh thường của ai đó”. Tôi không nghĩ là mình bình thường phải chịu đựng sự phù phiếm, nhưng rõ ràng là tôi vừa khổ sở hơn mình nhận ra. Câu chuyện vốn dĩ bắt đầu từ một quyết tâm chiếm được tài sản truyền lại cho tôi đã biến dạng thành điều gì đó lớn hơn rất nhiều, điều gì đó theo suốt cả cuộc đời tôi, trong thời gian và trong ký ức. Và trong ham muốn. Tôi nghĩ - ở mức nào đó trong sự tồn tại của mình, tôi thực ra đã nghĩ - rằng tôi có thể quay trở lại khởi điểm và thay đổi nhiều điều. Rằng tôi có thể làm cho máu chảy ngược. Tôi đã phù phiếm tưởng tượng - cho dù tôi đã không diễn đạt mạnh mẽ hơn như thế - rằng tôi có thể làm Veronica thích mình lần nữa, và rằng làm được điều đó là rất quan trọng. Khi nàng viết email về chuyện “khép cái vòng này lại”, tôi đã không thấy được cái giọng đó là một lời châm chọc mỉa mai, mà coi như một lời mời, gần như một lời mê hoặc.
Thái độ của nàng đối với tôi, giờ đây khi tôi nhìn vào đó, vẫn luôn nhất quán - không chỉ những tháng gần đây, mà cho dù qua bao nhiêu là năm, vẫn vậy. Nàng nhận thấy tôi không đạt yêu cầu, thích Adrian hơn, và luôn luôn cho là những phán xét đó đúng. Điều này, giờ tôi nhận ra, là hiển nhiên-tự thân theo đủ mọi lẽ, triết học hay gì đi nữa. Nhưng, vì không hiểu được các động cơ của chính mình, tôi đã muốn chứng minh cho nàng, thậm chí cả ở đoạn đời muộn mằn này, rằng nàng đã hiểu sai tôi. Hoặc đúng hơn là, cái nhìn ban đầu của nàng về tôi - khi chúng tôi còn đang học về trái tim và cơ thể nhau, khi nàng tán thành một số sách và đĩa nhạc của tôi, khi nàng thích tôi đủ để đưa tôi về nhà - là đúng. Tôi nghĩ tôi có thể vượt qua được sự khinh bỉ và biến ân hận trở lại thành áy náy, và rồi được tha thứ. Tôi bị cám dỗ, theo cách nào đó, bởi ý niệm cho rằng ta có thể cắt bỏ phần lớn những hiện hữu tách biệt của ta, có thể cắt và ghép nối cuộn băng trên đó đời ta được ghi lại, quay trở về ngã rẽ trên con đường và chọn ngả nào ít được đi hơn, hoặc tốt hơn là chưa có ai từng đi cả. Thay vào đó, tôi đã bỏ cảm thức chung lại phía sau mình. Tên ngốc già, tôi bảo tôi vậy. Và chẳng có tên ngốc nào như tên ngốc già: đó là câu người mẹ đã mất từ lâu của tôi từng lẩm bẩm khi đọc những câu chuyện trên báo về đàn ông lớn tuổi bỗng yêu các thiếu nữ trẻ, và quẳng cuộc hôn nhân của mình đi chỉ vì một nụ cười làm dáng, một mái tóc nhuộm, và một đôi tí căng dựng đứng. Không hẳn là bà sẽ nói bằng cái giọng đó. Và thậm chí tôi còn không thể viện ra lý do khuôn sáo, rằng tôi chỉ làm điều những đàn ông khác tuổi tôi vẫn làm một cách tầm thường nhạt nhẽo. Không, tôi không phải là một lão ngốc già kỳ quặc hơn cả thế, đi cấy ghép những hy vọng lâm li về tình yêu thương lên kẻ nhận ít phù hợp nhất trên thế giới này.
Tuần tiếp theo là một trong những tuần cô đơn nhất đời tôi. Chẳng có gì còn lại có vẻ đáng để mong đợi nữa cả. Tôi cô đơn với hai giọng nói rõ ràng trong đầu: lời Margaret, “Tony, giờ anh phải tự lo lấy thôi,’’ và lời Veronica, “Anh chẳng hiểu gì cả... Anh chưa bao giờ, và sẽ chẳng bao giờ hiểu đâu.” Và, biết rằng Margaret sẽ reo mừng nếu tôi gọi điện - biết rằng cô ấy sẽ vui vẻ đồng ý thêm một buổi nữa trong những bữa trưa nho nhỏ của chúng tôi, và chúng tôi có thể tiếp tục chính xác y như trước đây -, tôi lại càng cô đơn hơn bao giờ hết. Ai đó đã nói rằng càng sống lâu ta càng hiểu ít ấy nhỉ?
Tuy thế, như vẫn nói nhiều lần, tôi có một bản năng sống sót nào đó, để tự giữ mình. Và tin rằng mình có một bản năng như thế thì cũng tốt gần như ngang với thực sự có nó, bởi bạn hành động theo cùng một cách. Thế là sau một hồi, tôi trấn tĩnh lại. Tôi biết là tôi phải trở lại với cái tôi trước khi ảo tưởng lão suy ngu ngốc xâm chiếm tôi. Tôi phải chú tâm vào việc của mình thôi, cho dù chúng là gì, bên cạnh việc dọn dẹp căn hộ và quản lý thư viện ở bệnh viện địa phương. Mà đúng rồi, tôi còn có thể tập trung trở lại vào việc lấy lại đồ của tôi nữa.
“Jack thân mến,” tôi viết. “Băn khoăn không biết anh có thể giúp tôi thêm một chút chuyện về Veronica được không. Sợ là tôi thấy cô ấy lại khó hiểu như những ngày xưa ấy. Ờ thì, ta có bao giờ chịu học đâu? Dù sao thì, dòng nước đá vẫn chưa tan trong chuyện liên quan tới cuốn nhật ký của bạn tôi mà mẹ anh để lại cho tôi trong di chúc của bà. Anh có lời khuyên nào khác không? Ngoài ra, có một mối khó gỡ khác. Tôi đã có một bữa ăn trưa khá dễ chịu với V trong thành phố mấy tuần trước. Rồi một chiều cô ấy rủ tôi đi lên tuyến điện ngầm phía Bắc. Có vẻ như cô ấy muốn chỉ cho tôi một cậu được chăm-sóc-trong-cộng-đồng, rồi sau khi làm vậy thì lại quay ra giận. Anh có thể rọi chút ánh sáng nào lên việc này không? Tin là mọi chuyện với anh đều ổn cả. Thân, Tony W.”
Tôi hy vọng giọng thân thiện không khiến anh ta hiểu nhầm như tôi từng hiểu nhầm. Rồi tôi viết cho ông Gunnell, yêu cầu xử lý cho tôi trong vấn đề di chúc của bà Ford. Tôi bảo anh ta - khá tự tin - rằng những vụ giao thiệp với con gái của người lập di chúc đã cho thấy một sự mất cân bằng nào đó, và giờ thì tôi nghĩ tốt nhất là để một tay chuyên nghiệp viết cho bà Marriott yêu cầu phải có một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề này.
Tôi tự cho phép mình thực hiện một cuộc vĩnh biệt riêng tư đầy hoài niệm. Tôi nghĩ về lúc Veronica nhảy, tóc vương đầy trên mặt. Tôi nghĩ về lúc nàng tuyên bố với gia đình, “Con sẽ đưa Tony về phòng cậu ấy,” thì thầm vào tai tôi rằng tôi hãy ngủ giấc ngủ của kẻ hư hỏng, và trò thủ dâm ngay tức khắc của tôi vào trong cái bồn nhỏ thậm chí trước cả khi nàng xuống tới tầng dưới. Tôi nghĩ về cổ tay phía trong của tôi ánh lên, về cổ tay áo xắn lên tậu khuỷu.
Ông Gunnell viết thư đáp rằng sẽ làm như tôi chỉ đạo. Ông anh Jack không bao giờ trả lời.
༺༒༻
Tôi nhận thấy - ờ thì, lẽ ra tôi phải nhận thấy - rằng giờ hạn chế của bãi đỗ xe chỉ áp dụng trong khoảng mười giờ đến giữa ngày. Hẳn là để làm người đi tàu bằng vé tháng nản lòng không muốn lái xe đến tận đây, vứt xe lại suốt cả ngày, rồi đi tiếp bằng tàu điện ngầm. Thế là lần này tôi quyết định đi bằng ô tô: một chiếc Volkswagen Polo có bánh xe thọ hơn bánh xe của Veronica nhiều. Sau một giờ hay gì đó chịu cảnh trần ai ở vành đai phía Bắc, tôi thấy mình đến được vị trí, đỗ xe ở nơi chúng tôi đỗ lần trước, đối mặt với một con phố ngoại ô hơi dốc, ánh mặt trời chiều muộn rọi chiếu lớp bụi trên hàng rào cây thủy lạp. Những nhóm học sinh đang trên đường về nhà, lũ con trai áo bỏ ngoài quần, lũ con gái váy ngắn khiêu khích; rất nhiều đứa đang nói chuyện điện thoại di động, một số ăn, vài đứa phì phèo thuốc lá. Hồi tôi còn đi học chúng tôi được dạy rằng chừng nào còn mặc đồng phục thì còn phải cư xử sao cho đem lại tiếng tốt về trường. Thế nên không ăn không uống khi ở ngoài phố; ai bị bắt quả tang hút thuốc sẽ bị đánh. Không được phép thân mật với bạn khác giới: hồi ấy trường của bọn con gái liên kết với trường chúng tôi và ở ngay gần đấy vẫn thường để học sinh của họ tan sớm hơn bọn con trai mười lăm phút, cho chúng nó có đủ thời gian để biến trước bọn đồng môn giống đực động cỡn săn mồi. Tôi ngồi đó nhớ lại chuyện ấy, ghi nhận những khác biệt, mà chẳng đi đến kết luận nào. Tôi chẳng hoan nghênh cũng không phản đối. Tôi khác; tôi tạm treo quyền nghĩ ngợi và phán xét của mình lại. Tôi chỉ quan tâm tới chuyện vì sao tôi được đưa tới con phố này vài tuần trước. Thế là tôi ngồi đó, để mở cửa xe và đợi.
Sau hai tiếng hay gì đó, tôi đầu hàng. Tôi trở lại ngày hôm sau, và ngày hôm sau nữa mà chẳng thu được kết quả nào. Rồi tôi lái tới con phố có quán bar và cửa hàng, đỗ xe ở ngoài. Tôi đợi, vào cửa hàng mua vài thứ, đợi chút nữa, lái xe về nhà. Tôi tuyệt đối không có cảm giác phí phạm thời gian gì hết: đúng hơn là ngược lại - từ giờ thời gian của tôi chỉ dành cho việc này. Và dù thế nào đi nữa cửa hàng cũng hóa ra khá là hữu ích. Đó là một trong những nơi bán từ đồ ăn sẵn cho tới đồ cơ khí. Hồi ấy tôi mua rau và bột rửa bát đĩa, thịt thái lát sẵn và giấy vệ sinh; tôi dùng máy rút tiền và mua rượu dự trữ. Sau vai ngày đầu, họ bắt đầu gọi tôi “ông bạn”.
Có lúc tôi nghĩ đến việc liên lạc với cơ quan dịch vụ xã hội của quận hỏi xem họ có ngôi nhà chăm-sóc-trong-cộng-đồng nào có một người phủ đầy phù hiệu hay không; nhưng nghĩ là cách này sẽ chẳng đưa tôi đến đâu cả. Tôi sẽ rụt vòi ngay từ câu hỏi đầu tiên của họ: Vì sao ông muốn biết? Tôi không biết vì sao tôi muốn biết. Nhưng như tôi nói, tôi không cảm thấy vội. Điều này không giống như vắt óc gợi lại một kỷ niệm. Nếu tôi không vắt-gì cơ?- thời gian, thì thứ gì đó, có lẽ thậm chí là một giải pháp, có thể sẽ nổi lên chăng.
Và đúng lúc ấy tôi nhớ ra mấy từ đã nghe lỏm được. “Không, Ken, hôm nay không đi quán bar được. Tôi thứ Sáu mới là tối đi quán bar.” Thế là thứ Sáu sau đó tôi lái xe đến và ngồi ở William IV, một tờ báo trên tay. Đó là một trong những quán bar cải tạo lại theo kiểu trung lưu do áp lực kinh tế. Có một thực đơn đồ ăn với các món này nọ nướng nhanh, một ti vi phát kênh tin tức BBC yên ắng, và những cái bảng đen khắp mọi nơi: một cái quảng cáo cho đêm đố vui hằng tuần, một cái khác về câu lạc bộ sách hằng tháng, cái thứ ba về các cuộc thi đấu thể thao sắp chiếu trên ti vi, trong khi cái thứ tư mang một suy tư trào phúng của ngày, không nghi ngờ gì là được chép lại từ một cuốn sách tập hợp những câu châm ngôn dí dỏm sắc sảo. Tôi chậm rãi uống mấy cốc bia nhỏ trong khi chơi ô chữ, nhưng chẳng ai đến cả.
Thứ Sáu thứ hai, tôi nghĩ: tôi cũng có thể ăn tối ở đây được, nên bèn gọi món cá tuyết nướng và khoai tây thái bằng tay và một ly lớn vang trắng Chile loại nho Sauvignon. Không tệ chút nào. Rồi, vào tối thứ Sáu thứ ba, khi tôi vừa xiên nĩa vào món mì ống ngắn trộn xốt pho mát kem Ý và hạt óc chó, người đàn ông lệch vai và cái gã có ria mép bước vào. Họ ngồi xuống bàn theo cách quen thuộc, và thế là tay phục vụ quầy, rõ ràng là quen với yêu cầu của họ, mang cho mỗi người một ly bia đắng nhỏ, họ trầm ngâm uống từng ngụm. Họ không nhìn quanh, còn nói gì đến gặp mắt ai; và ngược lại, không ai để ý đến họ. Khoảng hai mươi phút sau, một người phụ nữ da đen có dáng bảo mẫu vào, đi tới quầy bar, trả tiền, rồi dịu dàng hộ tống hai người đàn ông đi khỏi. Tôi chỉ quan sát và chờ đợi. Thời gian ủng hộ tôi, đúng là thế đây. Mấy bài hát đúng là đôi khi có nói lên sự thật.
Giờ tôi đã thành khách quen ở quán cũng như ở cửa hàng. Tôi không vào câu lạc bộ sách hay tham gia đêm đố vui, nhưng thường xuyên ngồi ở một bàn nhỏ bên cửa sổ và xử lý dần cả cái thực đơn. Tôi hy vọng điều gì đây? Hẳn là hy vọng một lúc nào đó nói chuyện được với cậu nhân viên chăm sóc trẻ tôi thấy hộ tống nhóm năm người vào buổi chiều đầu tiên ấy; hoặc thậm chí, có lẽ, với người đàn ông đeo phù hiệu, người có vẻ niềm nở và tiếp cận được. Tôi kiên nhẫn mà không cảm thấy mình như thế; tôi thôi không còn tính giờ nữa, và rồi, một tối sớm, tôi thấy cả năm người họ lại gần, do cùng một người phụ nữ trông nom. Cách nào đó, tôi thậm chí còn chẳng ngạc nhiên. Hai khách quen đi vào quán bar; ba người còn lại đi vào cửa hàng cùng người trông coi.
Tôi đứng dậy, bỏ bút bi và tờ báo trên bàn cho thấy mình sẽ trở lại. Ở lối vào cửa hàng tôi nhặt một cái giỏ nhựa vàng và chậm rãi lang thang loanh quanh. Ở cuối một lối đi ba người họ đang túm tụm lại bàn nhau về việc chọn nước xà phòng giặt, tranh luận xem nên mua loại nào. Chỗ đó hẹp, và tôi nói to “Cho tôi xin lỗi” khi tiến lại gần. Anh chàng lóng ngóng đeo kính lập tức quay mặt vào trong, ép mình vào những cái ngăn đựng đồ bếp núc, và cả ba im bặt. Khi tôi đi qua, người đeo phù hiệu nhìn vào mặt tôi. “Chào buổi tối,” tôi nói với một nụ cười. Anh ta tiếp tục nhìn, rồi cúi đầu chào. Tôi chỉ làm vậy rồi quay lại quán bar.
Một vài phút sau ba người họ nhập hội với hai người đang uống. Người phụ nữ chăm nom họ đi tới quầy bar và gọi đồ. Tôi ấn tượng với chuyện ngoài phố thì họ huyên náo hệt như trẻ con, còn trong cửa hàng và quán bar thì họ lại rụt rè, nói gì cũng chỉ thì thào. Đồ uống nhẹ được chuyển qua những người mới vào này. Tôi nghĩ mình nghe thấy từ “sinh nhật” nhưng có thể là tôi nhầm. Tôi quyết định đã đến lúc gọi đồ ăn. Trên đường đi tới quầy, tôi sẽ nghiễm nhiên lại gần họ. Tôi không có kế hoạch thực sự nào. Ba người vừa từ cửa hàng sang vẫn còn đang đứng, và họ hơi quay đi khi tôi lại gần. Tôi gửi một lời “Chào buổi tối!” vui vẻ thứ hai tới người đeo phù hiệu, anh ta đáp lại như trước. Cái cậu lóng ngóng giờ đang ở trước tôi và khi sắp sửa đi ngang qua tôi dừng lại nhìn cậu ta ra trò. Cậu ta khoảng bốn mươi tuổi, nhỉnh hơn mét tám một chút, nước da xanh xao và mắt kính dày cộp. Tôi có thể cảm thấy cậu ta chỉ muốn quay lưng lại thôi. Nhưng thay vào đó, cậu ta làm một việc không đoán trước được. Câu ta tháo kính ra và nhìn thẳng vào mặt tôi. Mắt cậu ta nâu và dịu dàng.
Gần như không nghĩ ngợi, tôi khẽ khàng nói với cậu ta, “Tôi là bạn của Mary.”
Tôi nhìn câu ta nở miệng cười, rồi rơi vào hoảng loạn. Cậu ta quay đi, rên không thành tiếng, lê gần lại người phụ nữ Ấn Độ, cầm lấy tay cô ta. Tôi đi tiếp đến quầy bar, đặt nửa mông lên cái ghế đẩu và bắt đầu nghiên cứu thực đơn. Sau một lúc gì đó, tôi bắt đầu nhận thấy người chăm sóc da đen đang ở cạnh mình.
“Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Tôi hy vọng đã không làm gì sai.”
“Tôi không chắc,” cô ta đáp. “Làm anh ấy hoảng hốt như thế không tốt. Đặc biệt là lúc này.”
“Tôi gặp cậu ấy một lần rồi, cùng Mary, chiều hôm trước. Tôi là bạn cô ấy.”
Cô ta nhìn tôi, như thể cô đánh giá động cơ và tính trung thực của tôi. “Thế thì ông sẽ hiểu,” cô ta nói khẽ, “phải không?”
“Vâng, tôi hiểu.”
Và chuyện là, tôi đã hiểu. Tôi không cần phải nói chuyện với người đeo phù hiệu hoặc cậu nhân viên chăm sóc kia. Giờ tôi đã biết.
༺༒༻
Tôi thấy điều đó trên gương mặt cậu ta. Chuyện này không phải lúc nào cũng đúng, phải không? Ít nhất là không phải với tôi. Ta nghe điều người ta nói, ta đọc cái họ viết - đó là bằng cớ của ta, đó là vật chứng của ta. Nhưng nếu khuôn mặt nói ngược với lời người nói, ta tra vấn khuôn mặt. Một cái nhìn gian xảo trong mắt, một cái đỏ mặt, cái co giật mất tự chủ của cơ mặt - và rồi ta biết. Ta nhận ra tính đạo đức giả hay luận điệu dối trá, và sự thực hiên ngang hiển nhiên ngay trước mặt ta.
Nhưng chuyện này khác, đơn giản hơn. Chẳng có lời nào trái ngược - đơn giản là tôi nhìn thấy trong khuôn mặt cậu ta. Trong đôi mắt, màu và biểu hiện của chúng, và trong đôi má, vẻ xanh xao và cấu trúc bên dưới của chúng. Chứng thực nằm ngay ở chiều cao, và kết cấu ở xương và cơ để tạo nên chiều cao ấy. Đây là con trai của Adrian. Tôi không cần đến giấy chứng sinh hay kết quả thử ADN - tôi nhìn thấy và cảm thấy điều đó. Và tất nhiên ngày tháng khớp nhau: bây giờ cậu ta phải vào tầm tuổi này.
Phản ứng đầu tiên của tôi là, tôi thú nhận, rất duy ngã. Tôi không thể không nhớ điều tôi đã viết trong một phần bức thư tôi gửi cho Veronica: “Đấy chỉ là vấn đề liệu cô có thể có chửa trước khi cậu ta phát hiện ra cô là đồ chán ngắt hay không mà thôi.” Hồi ầy tôi thậm chí không có ý ấy - tôi chỉ chọc ngoáy lung tung, cố tìm cách nào để gây đau đớn. Sự thực, lần nào đi với Veronica, tôi thấy ở nàng rất nhiều điều - cám dỗ, bí ẩn, bất đồng - nhưng chưa bao giờ buồn chán. Và thậm chí trong những lần trao đổi gần đây với nàng, dù các tính từ có lẽ phải được cập nhật - bẳn tính, cứng đầu, ngạo mạn, nhưng vẫn, một cách nào đó, cám dỗ - tôi không bao giờ thấy nàng chán ngắt cả. Vậy là nó giả dối cũng bằng với gây đau đớn vậy.
Nhưng đó chỉ là một nửa sự thật. Khi tìm cách hủy hoại họ, tôi viết: “Phần nào trong tôi mong các người sẽ có con, bởi tôi là tín đồ trung thành với cuộc báo thù của thời gian, hẳn cho tới tận thế hệ sau và sau nữa. Trông vào Nghệ thuật Vĩ đại mà xem. Nhưng báo thù phải vào đúng người, ví dụ như hai vị.” Và rồi: “Thế nên tôi chẳng chúc các người như vậy làm gì. Chẳng đúng đắn lắm khi áp đặt lên cái bào thai vô tội nào đó viễn cảnh khám phá ra rằng nó là hoa trái của các người, cho tôi được xin lỗi cái lối nói văn vẻ này.” Hối hận, xét theo từ nguyên, là hành động cắn lần nữa: đó chính là cái mà cảm giác ấy gây ra cho bạn. Hãy tưởng tượng sức mạnh của cú cắn khi tôi đọc lại lời của chính tôi. Chúng như là một lời nguyền cổ đại nào tôi thậm chí đã quên cả thốt ra. Tất nhiên tôi không - tôi từng không - tin vào các lời nguyền. Ý muốn nói là, tin vào những lời nói sản sinh ra sự kiện. Nhưng chính cái hành động gọi tên một việc mà sau đó có xảy ra - thì thầm điều ác cụ thể nào đó, và điều ác đó xảy đến - nó vẫn cứ mang cái gì đó của thế giới khác khiến ta phải rùng mình. Chuyện cái tôi ngày xưa nguyền rủa còn cái tôi bây giờ chứng kiến hậu quả của lời nguyền, mỗi bên có cảm xúc hoàn toàn khác nhau, nó tuyệt chẳng liên quan gì hết. Nếu, chỉ trước khi mọi chuyện bắt đầu, bạn bảo tôi rằng Adrian, thay vì tự tử, đã cưới Veronica dù chuyện này không xảy ra, và hai người đã có một con với nhau, và rồi thêm con nữa, và rồi cháu chắt, thì tôi đã có thể trả lời: Tốt thôi, đời ai người nấy sống; anh đi đường anh tôi đi đường tôi, không có cảm xúc khó khăn nặng nề nào cả. Và giờ thì những định kiến lười biếng này lại gặp phải một sự thật bất di bất dịch về điều đã xảy ra. Trò trả hận của thời gian lên cái bào thai vô tội. Tôi nghĩ về con người tội nghiệp bị hủy hoại quay đi để không chạm mặt tôi trong cửa hàng, áp mặt vào dãy khăn dùng trong bếp và những bịch cỡ đại giấy toa let nhiều lớp để tránh sự hiện diện của tôi. Ừ thì, bản năng của cậu ta đã đúng: tôi là kẻ mà người ta nên quay lưng lại. Nếu đời có tưởng thưởng công trạng thật, thì tôi đáng bị lánh xa.
Mới vài ngày trước thôi tôi còn vui thú với một mộng tưởng nhạt nhòa về Veronica, mà vẫn phải thú thật rằng tôi chẳng biết gì về cuộc đời nàng trong hơn bốn mươi năm ấy kể từ lần gặp cuối. Giờ đây tôi có vài câu trả lời cho những câu hỏi tôi từng hỏi. Nàng có thai với Adrian, và - ai mà biết được? - co lẽ chấn động về vụ tự tử của cậu ấy đã ảnh hưởng tới đứa bé trong bụng nàng. Nàng đã sinh hạ con trai vào một thời kỳ nào đó bị chẩn đoán là... gì nào? Không thể sinh hoạt độc lập trong xã hội; cần trợ giúp thường xuyên, về tình cảm và tài chính. Tôi tự hỏi chẩn đoán ấy có từ khi nào. Sớm ngay sau khi ra đời, hay còn có một quãng nghỉ êm ả vài năm. trong khoảng ấy Veronica có thể được an ủi trong những gì được cứu từ đống hoang tàn? Nhưng rồi sau đó - nàng đã hy sinh đời mình cho cậu ta bao lâu, có lẽ làm một việc bán thời gian nào đó không ra gì trong lúc cậu ta ở một ngôi trường dành cho học sinh cần giúp đỡ đặc biệt? Và rồi, hẳn là, cậu ta lớn lên và khó trông nom hơn, và sau rốt cuộc vật lộn trở nên quá sức, nên nàng để cho người khác chăm sóc cậu ta. Hãy tưởng tượng cảm giác chuyện đó thế nào; hãy tưởng tượng nỗi mất mát, cảm thức thất bại, tội lỗi. Và rồi tôi đây, than thở với bản thân mỗi khi con gái thỉnh thoảng lại quên gửi email cho mình. Tôi cũng nhớ những suy nghĩ bạc bẽo của mình kể từ lần đầu gặp lại Veronica trên cầu Lắc Lư. Tôi nghĩ nàng trông hơi tiều tụy và lôi thôi; tôi nghĩ nàng khó tính, không thân thiện, không duyên dáng. Thực sự là, tôi đã may mắn được nàng dành cho chút thời gian trong ngày. Thế mà tôi còn mong nàng đưa nhật ký của Adrian? Nếu là nàng, hẳn tôi cũng đã đốt nó rồi, như giờ đây tôi tin nàng đã làm vậy.
༺༒༻
Không có bất cứ ai tôi có thể kể cho nghe chuyện này - sẽ còn rất lâu như vậy. Như Margaret nói, tôi phải tự lo lấy thôi - và thế thì tôi phải chịu vậy. Nhất là bởi vì tôi có cả một quá khứ đời tôi để mà đánh giá lại, với không gì khác ngoài nỗi ân hận bên mình. Và sau khi nghĩ lại về cuộc đời cùng tính cách của Veronica, tôi sẽ phải trở lại quá khứ của tôi và giải quyết với Adrian. Người bạn triết gia của tôi, người chăm chú nhìn cuộc sống và quyết định rằng bất cứ cá nhân nào có trách nhiệm và biết suy nghĩ đều có quyền chối bỏ món quà chưa bao giờ xin này -, người mà phong thái cao nhã cứ mỗi thập kỷ qua đi lại càng làm rõ hơn lên tính thỏa hiệp và nhỏ mọn cấu thành nên hầu hết các cuộc đời. “Hầu hết các cuộc đời”: cuộc đời tôi.
Thế là hình ảnh này về cậu ấy - lời quở trách lạnh lùng, sống động này dành cho tôi và phần đời còn lại của tôi - giờ bị lật ngược. “Bằng tốt nghiệp hạng xuất sắc, tự tử hạng xuất sắc,” Alex và tôi đồng tình. Thay vào đó tôi đã có Adrian loại nào? Loại làm bạn gái có bầu, không đối mặt nổi với những hậu quả, và đã “chọn cách dễ để trốn chạy,” như người ta thường nói. Thế nhưng cái sự khẳng quyết tối hậu này về tính cá nhân chống lại tính phổ quát to lớn vốn luôn đè nặng nó, chẳng thể có gì là dễ dàng trong việc đó cả. Nhưng giờ đây tôi phải điều chỉnh lại Adrian, đổi cậu ấy từ một kẻ cự tuyệt hay trích lời Camus coi tự tử mới là câu hỏi triết học thực sự duy nhất, thành... gì chứ? Không gì hơn ngoài một phiên bản của Robson, kẻ “không hẳn là chất liệu cho Eros-và-Thanatos” như cách Alex nói, khi thành viên cho đến nay chưa từng nổi bật của lớp Khoa học khối sáu ấy từ bỏ cuộc đời với một lời từ biệt “Mẹ ơi, con xin lỗi.”
Hồi ấy, bốn thằng chúng tôi đã suy xét xem bạn gái của Robson là một đứa như thế nào - từ một đồng trinh đức hạnh cho tới điếm mắc bệnh hoa liễu. Chẳng ai trong chúng tôi nói về đứa trẻ hay tương lai. Giờ đây, lần đầu tiên, tôi tự hỏi điều gì đã xảy ra cho bạn gái của Robson, và cho con của họ. Người mẹ có lẽ khoảng tuổi tôi, và nhiều khả năng vẫn còn sống, còn đứa trẻ phải gần năm mươi rồi. Liệu nó còn tin rằng “Bố” đã mất trong một vụ tai nạn? Có lẽ nó bị cho đi làm con nuôi, và lớn lên với suy nghĩ mình là kẻ chẳng ai muốn có. Nhưng ngày nay con nuôi được quyền lần lại dấu của mẹ đẻ. Tôi tưởng tượng điều này xảy ra, và có thể dẫn tới buổi hội ngộ cảm động và khó xử. Tôi thấy mình muốn, thậm chí từ khoảng cách này, xin lỗi bạn gái của Robson vì chuyện ngày xưa chúng tôi rỗi hơi bàn về cô ấy ra sao mà chẳng hề đếm xỉa đến nỗi đau đớn và nhục nhã của cô ấy. Một phần trong tôi muốn liên lạc và xin cô tha thứ cho những lỗi lầm của chúng tôi khi xưa - cho dù hồi ấy cô chắc chẳng hay biết gì về những lỗi lầm ấy cả.
Nhưng nghĩ về Robson và bạn gái của Robson chỉ là một cách tránh điều hiện giờ là sự thật về Adrian mà thôi. Robson hồi ấy mới mười lăm, mười sáu tuổi? Vẫn sống ở nhà bố mẹ, và đầu óc họ chắc chắn chẳng thoáng đãng gì. Và nếu bạn gái của cậu ta dưới mười sáu, có thể sẽ có cả tội hiếp dâm nữa. Thế nên thực sự chẳng thể nào so sánh được. Adrian đã lớn, đã rời nhà, và thông minh hơn Robson đáng thương rất nhiều. Hơn nữa, hồi ấy, nếu bạn làm một cô mang bầu, và cô ta không muốn nạo thai, bạn phải cưới cô ta: đó là quy định. Adrian thậm chí còn chẳng thể đối mặt với giải pháp hợp lẽ này. “Con có nghĩ đó là vì cậu ấy quá thông minh không?” mẹ tôi đã hỏi kiểu chọc tức như thế. Không, chẳng có gì liên quan tới chuyện thông minh cả; thậm chí còn ít liên quan tới lòng dũng cảm về mặt đạo đức hơn. Cậu ấy chẳng hề đàng hoàng chối từ một món quà hiện sinh gì sất; cậu ấy sợ có cái nôi trong nhà.
༺༒༻
Tôi biết gì về cuộc đời, tôi, kẻ từng sống cẩn thận đến thế? Kẻ chẳng bao giờ thắng hay thua, mà chỉ để cho đời xảy đến với mình? Kẻ có những tham vọng thường thường và nguôi ngoai quá nhanh khi chúng không thành hiện thực? Kẻ tránh cho mình bị đau và gọi đó là năng lực sống sót? Kẻ trả đủ các hóa đơn, giữ quan hệ tốt với tất cả mọi người càng lâu càng tốt, kẻ cho rằng “ngất ngây” và “tuyệt vọng” nhanh chóng chỉ còn là những từ ngữ từng đọc trong tiểu thuyết mà thôi? Kẻ mà những lời tự chỉ trích chẳng bao giờ thực sự gây đau đớn cả? Ờ thì, tất cả những cái này là để mà ngẫm ngợi, trong khi tôi chịu đựng một kiểu ăn năn đặc biệt: một cơn đau chờ đợi bấy lâu kịch phát ở kẻ luôn nghĩ rằng mình biết cách tránh để bị đau - và kịch phát vì chính lý do ấy.
“Ra!” Veronica ra lệnh, sau khi leo lên vỉa hè với vận tốc hai mươi dặm một giờ. Giờ đây tôi cấp cho cái từ ấy một âm hưởng rộng lớn hơn: Ra khỏi đời tôi, tôi chưa bao giờ muốn anh lại gần ngay từ đầu. Lẽ ra tôi không bao giờ nên đồng ý gặp, chứ chẳng nói đến chuyện ăn trưa, chẳng nói đến chuyện đưa anh đi gặp con tôi. Ra, ra!
Nếu có địa chỉ của nàng, tôi sẽ gửi một bức thư tử tế. Tôi đặt tên email là “Lời xin lỗi”, rồi đổi nó thành “LỜI XIN LỖI”, nhưng nó trông quá bằng hét lên, thế là tôi đổi lại như cũ. Tôi chỉ có thể thẳng thắn được thôi.
Veronica thân mến,
Tôi nhận ra rằng cô hẳn là không bao giờ muốn nghe gì về tôi, nhưng tôi hy vọng cô sẽ đọc bức thư này đến hết. Tôi không mong cô hồi âm. Nhưng tôi đã bỏ thời gian đánh giá lại nhiều điều, và muốn gửi lời xin lỗi tới cô. Tôi không mong cô nghĩ về tôi tốt hơn - nhưng mà, cô khó mà có thể nghĩ xấu hơn được nữa. Bức thư đó của tôi thật không thể tha thứ nổi. Tôi chỉ có thể nói rằng những lời hèn hạ ấy của tôi chỉ là bày tỏ của một chốc lát mà thôi, chúng là một cơn sốc thực sự đối với tôi khi đọc lại nó sau chừng ấy năm trời.
Tôi không mong cô đưa tôi nhật ký của Adrian nữa. Nếu cô đã đốt nó, thì đó là cái kết của nó. Nếu cô chưa đốt, thì hiển nhiên, vì nó được viết bởi cha của con trai cô, nó thuộc về cô. Tôi bối rối không biết vì sao mẹ cô để nó lại cho tôi trước hết, nhưng điều đó không còn quan trọng nữa.
Tôi xin lỗi đã gây bực dọc nhiều đến vậy. Cô đã cố cho tôi thấy điều gì đó và tôi đã quá dốt nát không hiểu ra. Tôi cầu chúc cô và con trai cô một cuộc sống bình yên nhất có thể trong hoàn cảnh này. Và nếu bất cứ lúc nào tôi có thể làm được điều gì đó cho ai trong hai người, tôi hy vọng cô sẽ liên lạc với tôi không do dự.
Thương mến, Tony.
Đó là điều khá nhất tôi có thể làm được. Nó không được tốt như tôi muốn, nhưng ít nhất tôi thực lòng với từng từ một trong đó. Tôi không có gì giấu giếm cả. Tôi chẳng ngấm ngầm hy vọng bất cứ điều gì từ đó. Không nhật ký, không thiện ý của Veronica, thậm chí không cả việc chấp nhận lời xin lỗi của tôi.
Tôi không thể nói liệu mình thấy dễ chịu hơn hay tệ đi sau khi gửi thư. Tôi không cảm thấy gì nhiều lắm. Kiệt sức, trống rỗng. Tôi không có khao khát kể cho Margaret về chuyện đã xảy ra. Tôi nghĩ nhiều hơn đến Susie, về sự may mắn cho cha mẹ nào có con sinh ra đầy đủ tứ chi, não bình thường, và tổ hợp cảm xúc cho phép đứa trẻ, cô bé, người phụ nữ đó sống bất cứ cuộc sống nào. Chúc bé bình thường, như nhà thơ có lần chúc em bé mới chào đời.
༺༒༻
Đời tôi tiếp tục. Tôi giới thiệu sách cho người ốm, người đang khỏi, người đang chết. Chính tôi cũng đọc một hai quyển sách. Tôi bỏ rác tái chế ra cửa. Tôi viết cho ông Gunnell bảo thôi đừng theo đuổi vụ quyển nhật ký nữa. Một chiều muộn, một ý chợt đến, tôi lái xe quanh đường vành đai phía Bắc mua sắm vài thứ và ăn tối ở quán William IV. Người ta hỏi có phải tôi vừa đi nghỉ không. Tại cửa hàng tôi nói là đúng thế, tại quán bar tôi nói là không phải. Những câu trả lời ấy gần như không có vẻ gì hệ trọng. Chẳng có mấy điều là hệ trọng. Tôi nghĩ về những việc đã xảy ra với tôi qua năm tháng, và sao mà những việc tự tôi làm cho xảy ra lại ít ỏi đến thế.
༺༒༻
Đầu tiên tôi cho đó là một email cũ, bị gửi lại do có lỗi gì đó. Nhưng đầu đề thư vẫn được để lại đó: “Lời xin lỗi”. Phía dưới, thư của tôi không bị xóa. Thư đáp của nàng viết “Anh vẫn chẳng hiểu gì cả. Anh chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ hiểu được đâu. Thế nên thôi cả chuyện cố gắng đi.”
Tôi để đoạn trao đổi ấy lại trong hòm thư đến và thỉnh thoảng mang ra đọc lại. Nếu chưa phải là đã quyết định chọn hỏa táng rồi rắc tro đi, hẳn tôi sẽ dùng cái câu ấy làm văn bia trên một tấm đá trần hoặc đá hoa cương: Tony Webster - Ông đã chẳng bao giờ hiểu ra điều ấy. Nhưng như thế sẽ quá ư thống thiết, thậm chí là tủi thân. Thế còn câu “Giờ đây ông phải tự lo lấy thân mình thôi” thì sao? Cái này có lẽ hay hơn, đúng hơn. Hoặc có thể tôi sẽ trung thành với: “Ngày nào cũng là Chủ nhật”.
Đôi khi, tôi lái xe trở lại cửa hàng và quán bar. Đấy là những nơi tôi luôn có một cảm thức yên lòng, mặc dù nghe ra thì thật lạ lùng; đó cũng là cảm thức về một mục đích, có lẽ là mục đích tử tế cuối cùng của đời tôi. Vẫn như trước, tôi chưa bao giờ nghĩ là mình đang lãng phí thời gian. Đây vẫn chính là điều tôi phải dành cho thời gian của mình. Và cả hai đều là nơi thân thiện - ít nhất, thân thiện hơn những nơi tương tự ở chỗ tôi sống. Tôi chẳng có kế hoạch nào: Thế thì có gì mới mẻ? Tôi đã chẳng có “kế hoạch” gì từ nhiều năm rồi. Và sự thức tỉnh cảm xúc của tôi - nếu nó từng là như vậy - về phía Veronica hầu như không thể tính là một kế hoạch. Ngắn gọn hơn là, cơn bốc đồng bệnh hoạn, phụ lục cho một câu chuyện lịch sử ngắn về nhục nhã.
Một hôm, tôi nói với người đứng bar, “Anh có thể làm được cho tôi khoai tây chiên mỏng hơn để thay đổi một chút không?”
“Ý ông là sao cơ?”
“Anh biết đấy, giống như ở Pháp ấy - loại mỏng thôi.”
“Không, chúng tôi không làm.”
“Nhưng thấy nói trên thực đơn là khoai chiên của các anh được thái bằng tay mà.”
“Đúng thế.”
“Ờ, thế thì anh có thể thái mỏng hơn được không?”
Vẻ nhã nhặn hình thường của người đứng quầy bar ngưng lại một chút. Anh ta nhìn tôi như thể không chắc tôi là một lão mô phạm hay một thằng ngốc, hoặc rất có thể là cả hai.
“Khoai thái bằng tay nghĩa là khoai tây chiên dày.”
“Nhưng nếu những miếng khoai ấy các anh tự thái, các anh không thể thái mỏng hơn sao?”
“Chúng tôi không thái đâu. Khoai được đưa đến như thế đấy.”
“Các anh không thái ngay tại đây sao?”
“Tôi vừa nói thế mà.”
“Thế cái mà anh gọi là ‘khoai tây chiên thái bằng tay” thực ra được thái ở chỗ khác, và hẳn là bằng máy?”
“Ông là người từ hội đồng hay gì thế?”
“Không hề. Tôi chỉ bối rối thôi. Tôi chưa bao giờ nhận ra rằng ‘thái tay’ nghĩa là ‘dày’ hơn là ‘cần phải được thái bằng tay’.”
“Vậy giờ ông đã biết rồi đấy.”
“Tôi xin lỗi. Lúc trước tôi chưa hiểu.”
Tôi rút về bàn mình và đợi bữa tối của tôi.
Và rồi, chỉ như thế thôi, năm người bọn họ đi vào, được hộ tống bởi cậu chăm sóc trẻ tôi từng nhìn thấy từ trong xe của Veronica. Người đeo phù hiệu dừng khi đi qua bàn tôi, và gửi tôi một cái cúi đầu chào; vài cái phù hiệu trên chiếc mũ săn khẽ va leng keng vào nhau. Những người khác đi theo. Khi con trai của Adrian nhìn thấy tôi, cậu ta quay vai đi như thể để tránh khỏi tôi, và khỏi nỗi bất hạnh. Năm người họ đi ngang qua về phía bức tường phía xa nhưng không ngồi xuống. Nhân viên chăm sóc đi tới quầy bar gọi đồ uống.
Món cá tuyết và khoai tây chiên thái tay ra tới nơi, món thứ hai đựng trong một bát sắt lót báo. Có lẽ là tôi đang tự cười một mình khi anh thanh niên đến bên bàn.
“Ông có phiền không nếu tôi nói một vài lời?”
“Không chút nào.”
Tôi ra hiệu về phía chiếc ghế đối diện. Khi anh ta ngồi xuống tôi nhận thấy, qua vai anh ta, năm người bọn họ nhìn sang phía tôi, giữ lấy cốc của mình, không uống.
“Tôi là Terry.”
“Tony.”
Chúng tôi ngồi nên bắt tay trong thế vụng về, khuỷu tay nâng cao như thế. Lúc đầu anh ta im lặng.
“Khoai chiên không?” tôi mời.
“Không, cám ơn.”
“Anh có biết là khi người ta viết khoai chiên ‘thái bằng tay’ trên thực đơn, thì nó chỉ có nghĩa là ‘dày’ chứ không có nghĩa là họ thực sự thái bằng tay không?”
Anh ta nhìn tôi dường như hơi giống người đứng quầy bar đã nhìn.
“Chuyện là về Adrian.”
“Adrian,” tôi lặp lại. Vì sao tôi chưa từng băn khoăn về tên cậu ta nhỉ? Mà cậu ta còn có thể được gọi như thế nào nữa đây?
“Sự hiện diện của ông làm anh ấy khó chịu.”
“Tôi xin lỗi,” tôi đáp. “Không khi nào tôi muốn làm cậu ấy khó chịu. Tôi không muốn làm bất cứ ai khó chịu nữa. Không bao giờ.” Anh ta nhìn tôi như thể nghi ngờ có ý châm biếm. “Được thôi. Cậu ấy sẽ không bao giờ nhìn thấy tôi nữa. Tôi sẽ ăn cho xong và biến, và không ai trong các cậu sẽ còn thấy tôi lần nữa.”
Anh ta gật đầu. “Ông có phiền không nếu tôi hỏi ông là ai?”
Tôi là ai ư? “Tất nhiên là không phiền rồi. Tên tôi là Tony Webster. Rất nhiều năm trước đây tôi là bạn của bố Adrian. Tôi học cùng cậu ấy. Tôi cũng từng biết mẹ của Adrian - Veronica. Khá rõ. Rồi chúng tôi mất liên lạc. Nhưng chúng tôi đã gặp nhau vài bận vừa mấy tuần rồi. Không, mấy tháng rồi, tôi có thể nói vậy.”
“Mấy tuần và mấy tháng?”
“Đúng,” tôi nói. “Dù sao tôi cũng không nên gặp lại Veronica. Nàng không muốn quen biết tôi nữa.” Tôi cố làm sao để nó nghe có tính sự kiện hơn là lâm ly.
Anh ta nhìn tôi. “Ông hiểu là chúng tôi không thể bàn về lịch sử các khách hàng của chúng tôi được. Đấy là vấn đề bảo mật.”
“Tất nhiên.”
“Nhưng điều ông vừa nói chẳng có lý chút nào.”
Tôi nghĩ về câu nói. “Ô - Veronica - vâng, tôi xin lỗi. Tôi nhớ cậu ấy - Adrian - gọi nàng là Mary. Tôi cho đó là cách nàng gọi tên mình khi cùng với cậu ấy. Đó là tên thứ hai của nàng. Nhưng tôi từng biết nàng - vẫn biết nàng - với tên Veronica.”
Qua vai anh ta tôi có thể thấy năm người họ đứng rất lo âu, vẫn không uống, mà xem chúng tôi. Tôi thấy xấu hổ vì chuyện tôi có mặt làm phiền họ.
“Nếu ông là bạn của bố anh ấy...”
“Và cả mẹ cậu ấy nữa.”
“Thế thì tôi nghĩ ông không hiểu.” Ít nhất anh ta nói điều đó theo cách khác với những người khác.
“Tôi không hiểu?”
“Mary không phải là mẹ anh ấy. Mary là chị anh ấy. Mẹ Adrian mất cách đây khoảng sáu tháng. Anh ấy tiếp nhận chuyện đó rất tệ. Đấy là vì sao anh ấy gần đây... có vấn đề.”
Như cái máy, tôi ăn một miếng khoai chiên. Rồi một miếng nữa. Không có đủ muối trên đó. Đây là điểm trừ của khoai chiên dày. Chúng có quá nhiều chất bột khoai bên trong. Với loại khoai mỏng hơn, không chỉ lớp ngoài sẽ giòn hơn, mà muối cũng được phân bổ tốt hơn.
Tôi chỉ có thể chìa tay cho Terry và nhắc lại lời hứa của mình. “Và tôi hy vọng cậu ấy sẽ ổn. Tôi biết chắc là anh chăm sóc cậu ấy rất tốt. Họ đều có vẻ tiến bộ, cả năm người.”
Anh ta đứng lên. “Thì, chúng tôi cố hết sức, nhưng chúng tôi bị cắt giảm ngân sách gần như là hằng năm.”
“Chúc tất cả các anh may mắn,” tôi nói.
“Cảm ơn ông.”
Khi trả tiền, tôi để lại gấp đôi tiền thưởng bình thường. Ít nhất đó cũng là một cách tỏ ra mình là người có ích.
༺༒༻
Và sau đó, ở nhà, lật lại tất cả chuyện này, sau một hồi, tôi đã hiểu. Tôi hiểu rồi. Vì sao cô Ford lại là người đầu tiên có nhật ký của Adrian. Vì sao cô ấy viết: “Tái bút: Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng tôi nghĩ trong những tháng cuối đời cậu ấy hạnh phúc.” Ý của nhân viên chăm sóc thứ hai khi cô nói, “Đặc biệt là lúc này.” Thậm chí ý Veronica muốn nói về “tiền vấy-máu.” Và cuối cùng, điều Adrian nói trên trang giấy tôi được phép xem. “Như vậy làm thế nào ta có thể thể hiện một hàm tích lũy bao gồm các số nguyên b, a1, a2, s, v?” và một vài công thức thể hiện những tích lũy khả thi nữa. Giờ đây nó thật hiển nhiên. Chữ a đầu tiên là Adrian; và chữ kia là tôi, Anthony - như cách cậu ấy gọi tôi khi cậu ấy muốn nhắc tôi nghiêm túc. Và b chỉ “bé”. Được sinh bởi một bà mẹ - “Người Mẹ” - khi đã lớn tuổi tới mức nguy hiểm. Một đứa bé bị thương tổn là kết quả. Kẻ bây giờ là một người đàn ông bốn mươi tuổi, lạc lối trong đau buồn. Người gọi chị mình là Mary. Tôi nhìn vào chuỗi trách nhiệm. Tôi thấy tôi đứng đầu tiên trong đó. Tôi nhớ rằng trong bức thư xấu xa tôi đã hối thúc Adrian thỉnh ý mẹ Veronica. Tôi bật lại những lời sẽ ám ảnh tôi mãi mãi. Cũng như câu dang dở của Adrian nữa. “Thế thì, ví dụ, nếu Tony...” Tôi biết tôi chẳng thể nào thay đổi, hoặc sửa chữa, bất cứ điều gì bây giờ.
༺༒༻
Bạn đi dần tới cuối cuộc đời - không, không phải bản thân cuộc đời, mà một điều gì khác: đoạn cuối của bất cứ khả năng thay đổi nào trong cuộc đời ấy. Bạn được phép nghỉ một lúc lâu, đủ thời gian để hỏi câu này: tôi còn làm gì sai nữa không? Tôi nghĩ về một lũ con nít ở Quảng trường Trafalgar. Tôi nghĩ về một người phụ nữ trẻ nhảy theo nhạc, được một lần hiếm hoi trong đời. Tôi nghĩ về điều tôi không thể biết hoặc hiểu vào lúc này, về tất cả những gì không bao giờ được biết hoặc được hiểu ra. Tôi nghĩ về định nghĩa của Adrian về lịch sử. Tôi nghĩ về con trai cậu ấy vùi mặt vào một ngăn giấy toa lét nhiều lớp để tránh tôi. Tôi nghĩ về một người phụ nữ rán trứng theo cách bất cẩn, liều lĩnh, chẳng bận lòng khi một quả bị vỡ trong chảo; và cũng người phụ nữ ấy, sau này đã tạo ra một bí mật, động tác vẫy ngang dưới giàn đậu tía sáng lên trong ánh mặt trời. Và tôi nghĩ về một con sóng nhấp nhô, sáng dưới ánh trăng, ào qua và tan về thượng nguồn, bị một nhóm sinh viên đuổi theo, kêu thét lia đèn pin loạn xạ trong đêm tối.
Có tích lũy. Có trách nhiệm. Và bên trên tất thảy, là bất ổn. Có bất ổn kinh khủng.
❀ ❀ ❀
[1] Một câu trong bài thơ “For the Fallen” của Laurence Binyon, đăng lần đầu trên The Times năm 1914 tưởng niệm những người lính Anh chết trận trong Thế chiến thứ nhất.
[2] Tạm dịch: “Em choán hết tâm trí tôi” – Frank Sinatra.
[3] Chương trình trên mạng Google cho phép tìm kiếm các hình ảnh, địa chỉ khắp nơi trên trái đất được chụp lại qua vệ tinh, có thể có góc nhìn như từ trên máy bay xuống cho đến cận cảnh của từng nhà.
[4] Nguyên bản: “It takes two to tango”.
[5] Đĩa than loại nhỏ quay 45 vòng/phút.
[6] Mile: 1 dặm Anh tương đương 1,60934 km.