Nghe Mùi Kết Thúc

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai
Hai

❊ ❊ ❊

Sau này trong đời, bạn trông chờ được nghỉ ngơi một chút, phải không? Bạn nghĩ bạn xứng đáng được vậy. Dù sao, tôi cũng nghĩ thế. Nhưng rồi bạn bắt đầu hiểu ra rằng phiếu bé ngoan không phải là chuyện cả đời.

Hơn nữa, khi còn trẻ, bạn nghĩ bạn có thể đoán trước được ít nhiều những đau đớn và trống vắng tuổi tác sẽ mang lại. Bạn tưởng tượng mình cô đơn, ly dị, hay góa bụa; con cái lớn lên và rời xa bạn, bạn bè chết dần. Bạn tưởng tượng ra mất mát của vị thế, mất mát của khát khao - và của việc được khát khao. Có thể bạn còn đi xa hơn, nghĩ về việc mình đang tiến dần tới cái chết, thứ mà bạn chỉ có thể một mình đương đầu cho dù tập trung được cả một đại đội thế nào đi nữa. Nhưng tất tật những cái ấy đều là nhìn về phía trước. Điều bạn không làm nổi ấy chính là nhìn về phía trước, rồi thì tưởng tượng mình đang nhìn lại đằng sau từ cái điểm tương lai đó. Học những cảm xúc mới mà thời gian đem lại. Khám phá ra rằng, ví dụ nhỏ, những nhân chứng cuộc đời bạn giảm dần có ít thực chứng hơn và thế là bớt đi tính chắc chắn, về việc bạn là ai hay đã từng là ai. Dù có cần mẫn lưu trữ - từ ngữ, âm thanh, tranh ảnh - bạn có thể nhận ra mình đã chú tâm vào một kiểu lưu trữ sai rồi. Cái cậu Adrian từng nói là gì ấy nhỉ? “Lịch sử là tính chắc chắn được sản sinh vào thời điểm những khiếm khuyết của trí nhớ gặp những thiếu sót của tư liệu.”

༺༒༻

Tôi vẫn đọc lịch sử rất nhiều, và tất nhiên tôi theo dõi toàn bộ phần lịch sử chính thống đã xảy ra trong quãng đời tôi đã sống - chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, bà Thatcher, 11 tháng Chín, địa cầu nóng lên - cùng với thứ hỗn hợp bình thường giữa sợ hãi, lo lắng và thứ lạc quan cẩn trọng. Nhưng tôi chưa bao giờ có cùng cảm giác về nó - tôi chưa bao giờ tin nó lắm - như cách tôi tin những sự kiện thời Hy Lạp và La Mã, hay Đế chế Anh, hay Cách mạng Nga. Có lẽ tôi chỉ cảm thấy yên ổn hơn khi lịch sử dù ít dù nhiều đã được mọi người đồng tình. Hoặc có lẽ đó vẫn là cùng một nghịch lý mà thôi: lịch sử diễn ra ngay dưới mũi ta nhất định phải là thứ lịch sử rõ ràng nhất, nhưng lại cũng là thứ dễ tan chảy hơn cả. Ta sống trong dòng thời gian, nó trói buộc ta và định nghĩa ta, và thời gian cũng là thước đo lịch sử, chẳng phải vậy sao? Nhưng nếu như ta chẳng thể hiểu thời gian, chẳng thể nắm bắt được những điều huyền bí của nhịp độ và tiến bộ của nó, vậy thì cơ hội nào cho ta trong dòng lịch sử - cho dù chỉ một mảnh nhỏ, cá nhân, chủ yếu không được lưu trữ lại của ta ở trong nó?

༺༒༻

Khi ta trẻ, ai trên tuổi ba mươi trông cũng như trung niên cả, ai trên năm mươi thì càng cổ xưa. Và thời gian, cứ chảy trôi mãi, khẳng định rằng ta chẳng hề sai. Những khác biệt tuổi tác ấy, quá ư cốt yếu và thô bạo khi ta trẻ, sẽ xói mòn dần. Rốt cuộc rồi chúng ta cũng thuộc cả về một thể loại mà thôi, cái loại không-trẻ. Tôi chưa khi nào phiền lòng lắm về chuyện ấy.

Nhưng quy tắc này có các ngoại lệ. Với một số người, những khác biệt thời gian trong tuổi trẻ sẽ chẳng bao giờ thực sự mất đi: con trưởng vẫn là con trưởng, cho dù cả hai đều mọc râu bạc cả rồi. Với một số người, một khoảng cách, xem nào, năm tháng đi, đã có nghĩa là anh - hay chị - này sẽ ngoan cố cho rằng bản thân khôn ngoan hơn và hiểu biết hơn người kia, bất kể bằng chứng có cho thấy điều ngược lại thế nào chăng nữa. Hoặc giả tôi phải nói bởi vì bằng chứng cho thầy điều ngược lại. Bởi vì hoàn toàn rõ ràng là với bất cứ quan sát viên khách quan nào thì cán cân cũng đã ngả về phía người trẻ hơn chút ít ấy, người kia chỉ còn duy trì cái vẻ ngạo mạn về sự vượt trội này theo cái cách càng khắc khổ hơn. Theo cái cách càng bấn loạn hơn.

༺༒༻

Nhân tiện, tôi vẫn hay bật nhạc của Dvorák. Không nhiều giao hưởng nữa; giờ thì tôi thích các bản cho tứ tấu đàn dây hơn. Nhưng Tchaikovsky đã đi theo đường của những thiên tài lôi cuốn tuổi trẻ, còn lại dư âm quyền lực ở tuổi trung niên, nhưng sau đó thì có vẻ như, nếu không gây ngượng ngập thì cách nào đó cũng đã bớt thích hợp. Tôi không định nói là nàng đã đúng. Chẳng có gì sai khi một thiên tài có thể lôi cuốn tuổi trẻ. Đúng hơn thì, có cái gì đó sai ở người trẻ nào không bị lôi cuốn bởi một thiên tài. Nhân đây, tôi không nghĩ là bản nhạc phim Un homme et une femme là một tác phẩm thiên tài. Thậm chí hồi đó tôi cũng không hề nghĩ thế. Mặt khác, tôi thỉnh thoảng vẫn nhớ Ted Hughes và mỉm cười vì sự thật rằng, thực ra, ông ấy chưa bị cạn vốn muông thú bao giờ.

༺༒༻

Tôi khá hợp với Susie. Dù thế nào thì cũng là hợp vừa đủ. Nhưng thế hệ trẻ hơn không còn cảm thấy có nhu cầu, hoặc thậm chí nghĩa vụ, giữ liên lạc nữa. Ít nhất thì, không “giữ liên lạc” bằng cách “gặp”. Một cái email cho bố cũng được rồi - thật tiếc là ông già chưa học cách nhắn tin. Đúng, ông già bây giờ đã về hưu, vẫn còn mò mẫm loanh quanh với những “dự án” bí hiểm của mình, nghi là ông già sẽ chẳng bao giờ xong được cái nào, nhưng ít nhất thì cũng giữ cho não hoạt động, tốt hơn là chơi gôn, và vâng, chúng mình đã lên kế hoạch rẽ vào đó hồi tuần trước nhưng lại có việc đột xuất. Mình mong là ông già không bị Alzheimer, đấy là lo lắng lớn nhất của mình thật đấy, bởi vì, ờ thì, mẹ sẽ khó lòng mà về lại với bố, phải không? Không: tôi phóng đại, tôi bóp méo đi đấy. Susie không cảm thấy như thế, tôi chắc vậy. Sống một mình thì cũng có những lúc tủi thân với lại hoang tưởng. Susie và tôi hợp nhau mà.

༺༒༻

Một người bạn của chúng tôi - tôi vẫn nói theo bản năng thế đấy, mặc dù Margaret và tôi đã ly dị còn lâu hơn cả thời gian kết hôn - có một cậu con trai trong một ban nhạc punk rock. Tôi hỏi xem cô ấy đã nghe bài nào của chúng nó chưa. Cô ấy nhắc đến một bài tên là “Ngày nào cùng là Chủ nhật ”. Tôi nhớ mình đã cười lớn, lòng nhẹ nhõm thấy vẫn cái buồn chán thiếu niên cũ kỹ ấy đang tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hơn nữa là cũng cái vẻ sắc sảo khinh mạn đó vẫn được dùng để thoát ra khỏi nó. “Ngày nào cũng là Chủ nhật [1] ” – mấy từ này đưa tôi trở lại những năm tháng tù đọng, và đợi chờ khủng khiếp lúc cuộc đời bắt đầu. Tôi hỏi bạn của chúng tôi những bài hát khác của ban nhạc thì sao. Không, cô ấy nói, đây là bài hát của chúng nó, bài hát duy nhất. Thế nó tiếp thế nào? tôi hỏi. Ý anh là gì? Ờ thì, thế câu tiếp theo là gì? Anh chẳng hiểu gì, phải không? Cô ấy nói. Đấy bài hát đấy. Chúng nó chỉ nhắc lại cái câu ấy thôi, lặp đi lặp lại, cho đến khi nào quyết định kết thúc bài hát. Tôi nhớ là mình đã mỉm cười. “Ngày nào cũng là chủ nhật” - đó sẽ chẳng phải một câu tồi để khắc trên bia mộ, phải không?

༺༒༻

Nó là một trong những cái phong bì trắng dài với tên và địa chỉ của tôi viết trong một cái ô trổ. Tôi không biết bạn thế nào, chứ tôi chẳng bao giờ vội vã mở chúng làm gì. Đã từng có lần, những bức thư như thế có nghĩa là thêm một giai đoạn đau đớn trong quá trình ly dị của tôi - có thể đó là lý do khiến tôi cảnh giác với chúng. Giờ thì, chúng có thể đựng biên lai thuế nào đó của vài cổ phần sinh lời thấp đến thảm hại tôi mua khi về hưu, hoặc một yêu cầu thêm nào đó từ hội từ thiện tôi đã ủng hộ bằng lệnh trả tiền. Thế là tôi quên mất nó cho tới cuối ngày, khi tôi đang thu nhặt giấy tờ vương vãi trong căn hộ - thậm chí cho đến tận cái phong bì cuối cùng - để thành rác tái chế. Hóa ra nó lại đựng một bức thư từ một công ty luật tôi chưa nghe tới bao giờ, Các ông Coyle, Innes & Black. Một Eleanor Marriott nào đó viết “Về vấn đề tài sản của bà Sarah Ford (đã qua đời)”. Phải mất một lúc tôi mới định thần được.

༺༒༻

Chúng ta sống với các giả định thật dễ dãi, chẳng phải sao? Chẳng hạn như ký ức bằng các sự kiện cộng với thời gian. Nhưng thật ra nó kỳ cục hơn thế nhiều. Ai đã nói rằng ký ức là thứ ta cứ tưởng mình đã quên ấy nhỉ? Và ta hẳn phải thấy rõ ràng rằng thời gian không hoạt động như một thứ thuốc hãm, mà như dung môi hòa tan thì đúng hơn. Nhưng tin vào điều này cũng chẳng tiện - chẳng ích lợi gì; nó chẳng giúp ta sống tiếp cuộc đời ta; thế là ta bèn lờ đi vậy.

༺༒༻

Tôi được yêu cầu xác nhận địa chỉ và cung cấp bản sao hộ chiếu. Tôi được thông báo rằng tôi được để lại cho 500 bảng và hai “tài liệu”. Tôi thấy thật là bối rối quá. Trước hết là cái việc được hưởng di chúc từ một người mà tên thánh tôi chưa bao giờ biết hay là quên mất rồi. Và 500 bảng có vẻ như một khoản rất cụ thể. Nhiều hơn là không có gì, và không đủ nhiều để thành tấm thành món gì cả. Có lẽ sẽ dễ hiểu hơn nếu tôi biết bà Ford làm di chúc vào thời điểm nào. Tuy rằng nếu việc đó đã rất lâu rồi thì khoản tiền tương đương bây giờ có lẽ sẽ nhiều hơn nhiều, và như thế thì còn khó hiểu hơn nữa.

Tôi xác nhận sự tồn tại, tính xác thực và địa chỉ của mình, gửi kèm cả bản sao làm chứng. Tôi còn hỏi liệu tôi có thể biết được ngày lập di chúc hay không. Rồi, một tối, tôi ngồi xuống cố hồi sinh lại dịp cuối tuần nhục nhã ấy ở Chislehurst khoảng bốn mươi năm về trước. Tôi kiếm tìm bất cứ thời khắc, tình tiết hay lời bình luận nào có vẻ xứng đáng được tỏ lòng biết ơn hoặc tưởng thưởng. Nhưng ký ức của tôi đã ngày càng như một cơ chế chỉ biết lặp lại các dữ liệu có vẻ chính xác cùng với rất ít biến thể. Tôi trân trân dõi nhìn quá khứ, tôi đợi, tôi cố lừa ký ức vào một chiều hướng khác. Nhưng chẳng làm được gì. Tôi là ai đó đã hẹn hò với con gái của bà Sarah Ford (đã chết) trong thời gian khoảng một năm, bà bị ông chồng điều khiển, bị con trai soi mói trịch thượng, và bị con gái thao túng. Đau đớn cho tôi khi ấy thật đấy, nhưng khó mà đòi hỏi một lời xin lỗi mẫu tử, gồm 500 bảng về sau này.

༺༒༻

Mà dù sao thì, nỗi đau ấy chẳng dai dẳng mãi. Như tôi đã nói, tôi có một bản năng tự vệ nào đó. Tôi đã thành công trong việc bỏ Veronica ra khỏi đầu, ra khỏi lịch sử của tôi. Vậy nên khi thời gian đưa tôi quá nhanh vào tuổi trung niên, và tôi bắt đầu nhìn lại cuộc đời mình đã mở ra như thế nào, và xem xét những con đường không được chọn, những cái nếu-như ru ngủ và ngấm ngầm gây suy yếu ấy, chẳng bao giờ tôi thấy mình tưởng tượng - theo chiều tệ hơn cũng không, thôi khỏi nói đến chiều tốt hơn - rằng đời minh sẽ thế nào nếu cùng với Veronica. Annie thì có, Veronica thì không. Và tôi không bao giờ tiếc đã có những năm tháng cùng Margaret, ngay cả khi chúng tôi đã ly dị rồi. Có cố hết sức - việc này cũng chẳng phải quá khó - tôi cũng hiếm khi mộng tưởng một cuộc đời khác biệt rõ rệt với cuộc đời từng là của tôi. Tôi không nghĩ đây là tự thỏa mãn: mà nó giống như thiếu trí tưởng tượng, hoặc tham vọng, hoặc cái gì đó hơn. Tôi cho rằng sự thật là, vâng, tôi không đủ kỳ quặc để không làm những việc: rốt cuộc tôi đã làm với đời mình.

༺༒༻

Tôi không đọc thư của luật sư ngay. Tôi nhìn vào thứ gửi kèm, một phong bì màu kem, dài, có tên tôi trên đó. Chữ viết tôi đã từng nhìn thấy chỉ một lần duy nhất trong đời, nhưng dù vậy vẫn quen thuộc. Anthony Webster Esq. - cái kiểu các nét vòng lên và các nét vòng xuống kết thúc bằng một vòng xoắn nhỏ đưa tôi trở lại với ai đó tôi biết chỉ trong một dịp cuối tuần. Ai đó sở hữu kiểu chữ viết mà, trong vẻ tư tin hơn là hình dáng chữ, gợi ra một người phụ nữ có lẽ "đủ kỳ quặc” để làm những việc tôi đã không làm. Nhưng việc gì, tôi chẳng thể biết hay đoán được. Có một mẩu băng dính ở mặt trước phong bì, chính giữa phía trên. Tôi tưởng nó vòng xuống phía sau và bồi them một lớp niêm phong phụ, nhưng hóa ra nó bị cắt ngang ngay chỗ cạnh trên phong bì. Đoán chừng bức thư đã từng có lần được dán vào một thứ gì khác.

Cuối cùng, tôi mở ra đọc. “Tony thân niên, tôi nghĩ là ngay lúc này đây cháu hẳn đã nhận được đồ gửi kèm. Adrian luôn luôn nói về cháu

với rất nhiều thiện chí, và có lẽ cháu sẽ thấy đó là một kỷ vật thú vị, cho dù có đau đớn, về khi xưa ấy. Tôi cũng để lại cho cháu một chút tiền. Cháu có thể thấy lạ lùng, và cũng phải nói thật là tôi cũng không chắc lắm về các động cơ của mình đâu. Cho dù thế nào đi nữa, tôi cũng xin lỗi cháu về cung cách gia đình tôi đã cư xử với cháu nhiều năm về trước, và chúc cháu tốt lành, lời chúc từ dưới mộ. Thân ái, Sarah Ford. Tái bút: Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng tôi nghĩ những tháng cuối đời cậu ấy hạnh phúc.”

Luật sư yêu cầu các thông tin chi tiết về tài khoản ngân hàng của tôi để khoản thừa kế có thể được chuyển trực tiếp. Cô luật sư thêm rằng đã gửi kèm món thứ nhất trong “hai tài liệu” được để lại cho tôi. Món thứ hai vẫn trong tay con gái bà Ford. Điều đó, tôi nhận ra, có thể giải thích cho mẩu băng dính bị cắt. Cô Marriott vẫn đang cố lấy món đồ thứ hai này. Và di chúc của bà Ford, theo câu trả lời cho câu hỏi của tôi, đã được soạn thảo năm năm trước đây.

༺༒༻

Margaret hay nói rằng có hai loại đàn bà: một loại rõ ràng, một loại bí ẩn. Và đấy là điều đầu tiên một người đàn ông cảm nhận được, cũng là điều đầu tiên hấp dẫn anh ta, hoặc không. Có những người đàn ông bị hút hồn vào loại này, có những người vào loại kia. Margaret - bạn chẳng cần tôi phải kể cũng biết - là loại rõ ràng, nhưng đôi khi cô ấy cũng ghen tị với loại sẵn có hoặc tạo ra được một dáng vẻ bí ẩn.

“Anh thích em đúng như con người em,” có lần tôi nói với cô ấy.

“Nhưng bây giờ anh biết em quá rõ rồi còn gì,” cô ấy đáp. Chúng tôi đã cưới nhau sáu bảy năm rồi. “Chẳng phải anh vẫn thích hơn nếu em... khó đoán biết hơn một chút sao?”

“Anh không muốn em là một người đàn bà bí ẩn. Anh nghĩ anh sẽ ghét chuyện đó. Dù cho đấy chỉ là bề ngoài, một trò chơi, một kỹ thuật để bẫy đàn ông, hay người phụ nữ bí ẩn ấy là một bí ẩn thậm chí đối với chính cô ta đi nữa, mà cái đó là tệ nhất đấy.”

“Tony, anh nói nghe như một người đàn ông đích thực trên đời vậy.”

“Ờ thì, anh không phải như thế,” tôi nói - mặc dù ý thức được, tất nhiên, rằng cô ấy đang trêu mình. “Anh chưa được biết nhiều phụ nữ đến thế trong đời đâu.”

“Anh không biết mấy về phụ nữ, nhưng anh biết anh thích gì?”

“Anh có nói thế đâu, mà cũng không có ý đó. Nhưng anh nghĩ đấy là vì anh biết tương đối ít nên anh biết anh nghĩ về họ thế nào. Và anh thích gì ở họ. Nếu biết nhiều hơn, anh sẽ bị bối rối hơn.”

Margaret nói, “Bây giờ em chẳng biết là phải vui hay không nữa.”

Chuyện này xảy ra trước khi cuộc hôn nhân của chúng tôi sa lầy, tất nhiên. Nhưng chắc nó sẽ chẳng bền lầu hơn nêu Margaret bí ẩn hơn, tôi có thể chắc chắn với bạn - và với cô ấy - về chuyện đó.

༺༒༻

Và cái gì đó ở cô ấy chuyển sang tôi dần dần qua những năm tháng ấy. Ví dụ, nếu không biết cô ấy, tôi có thể đã dính líu vào một vụ trao đổi thư từ kiên nhẫn với luật sư rồi. Nhưng tôi không muốn thầm lặng đợi chờ một phong bì có trổ ô khác nữa. Thay vào đó, tôi gọi điện cho cô Eleanor Marriott hỏi về tài liệu tiếp theo tôi được để lại cho.

“Di chúc tả nó như một cuốn nhật ký.”

“Một cuốn nhật ký? Của bà Ford?”

“Không. Để tôi kiểm tra tên.” Ngừng một chút. “Adrian Finn.”

Adrian! Làm sao bà Ford rốt cuộc lại có nhật ký của cậu ấy? Đấy không phải là một câu hỏi dành cho luật sư. “Đó là một người bạn của tôi,” tôi chỉ nói vậy. Rồi, “Có vẻ như nó được đính kèm với bức thư cô đã gửi.”

“Tôi không chắc về chuyện đó.”

“Thế cô thực đã nhìn thấy nó chưa?”

“Chưa, tôi chưa thấy.” Thái độ của cô ta thật đáng nghi hơn là ngại giúp đỡ.

“Veronica Ford có đưa ra lý do nào cho việc giữ nó lại không?”

“Bà ấy nói chưa sẵn sàng xa nó.”

Hẳn rồi. “Nhưng nó là của tôi mà?”

“Nó chắc chắn được để lại cho ông theo di chúc.”

Hừm. Tôi băn khoăn không biết có cách nào tế nhị mà hợp pháp tách hai vấn đề đó ra được không. “Cô có biết bà ấy làm thế nào lại... lấy được nó?”

“Bà ấy sống không xa nhà bà mẹ lắm trong những năm cuối, theo như tôi hiểu. Bà ấy nói đã lấy vài món đem về cất nơi an toàn chỗ bà ấy. Đề phòng trường hợp ngôi nhà bị trộm. Trang sức, tiền, tài liệu.”

“Việc đó có đúng luật không?”

“Vâng thì, nó không sai luật. Có thể là rất cẩn thận thôi ạ.”

Chúng tôi không có vẻ tiến đến đâu cả. “Để tôi nói thẳng chuyện này nhé. Bà ấy phải đưa tài liệu này, cuốn nhật ký, cho cô. Cô đã đòi nó, và bà ấy đang từ chối rời bỏ nó.”

“Cho đến giờ, vâng, tình hình đúng là như thế.”

“Cô cho tôi địa chỉ bà ấy được chứ?”

“Tôi phải được bà ấy cho phép thì mới làm vậy được ạ.”

“Thế cô có làm ơn đi kiếm cái sự cho phép ấy được không?”

Đã lần nào bạn nhận ra làm thế nào mà, khi bạn nói với ai đó như là luật sư chẳng hạn, một hồi sau bạn không còn nói năng như chính bạn nữa mà rốt cuộc lại nghe như là họ đang nói chưa?

༺༒༻

Càng ít thời gian còn lại trong đời, bạn càng không muốn lãng phí nó. Thật logic, phải không? Dù bạn có sử dụng những giờ dự trữ như thế nào... ờ thì, đấy lại là một chuyện nữa chắc bạn chẳng thể nói trước được khi còn trẻ. Ví dụ, tôi mất rất nhiều thời gian dọn dẹp các thứ - mà tôi còn chẳng phải là người bừa bộn. Nhưng đây lại là một trong những điều đem lại niềm vui nhỏ nhoi lúc tuổi già. Tôi hướng tới sự sạch sẽ; tôi gom giấy cũ làm rác tái chế; tôi dọn dẹp và trang trí căn hộ để giữ gìn giá trị của nó. Tôi vừa lập di chúc xong; và quan hệ của tôi với con gái, với con rể, các cháu và vợ cũ, nếu không hoàn hảo thì ít nhất cũng ổn. Hoặc là tôi tự thuyết phục tôi thế đấy. Tôi đã đạt được trạng thái hiếu hòa, thậm chí là thanh thản. Bởi vì tôi hợp với mọi thứ. Tôi không thích lộn xộn, và tôi không thích bỏ lại một đống lộn xộn. Tôi vừa chọn hình thức hỏa táng, nếu bạn muốn biết.

Thế là tôi bèn gọi lại cho cô Marriot lần nữa, hỏi thông tin liên lạc của người con khác của bà Ford, có tên là Jack. Tôi gọi Margaret hẹn một cuộc ăn trưa. Và tôi đặt hẹn với luật sư riêng của tôi. Không, gọi thế thì hơi bị oách quá. Tôi tin chắc ông anh Jack sẽ có ai đó mà anh ta viện đến như là “luật sư riêng của tôi”. Trong trường hợp của tôi đấy chỉ là một tay địa phương soạn thảo di chúc cho tôi thôi; tay này có một văn phòng nhỏ phía trên một cửa hàng hoa và có vẻ như hoàn toàn có năng lực. Tôi cũng thích anh ta bởi anh ta chẳng cố gọi tên thánh [2] của tôi hay gợi ý cho tôi gọi tên thánh của anh ta. Thế nên tôi chỉ nhớ anh ta là T. J. Gunnel, và còn chẳng thiết đoán xem các chữ đầu có thể viết tắt cho tên gì. Bạn có biết một chuyện tôi sợ phát khiếp không? Là thành một người già trong bệnh viện và bị các cô y tá tôi chưa gặp bao giờ gọi tôi là Anthony hoặc tệ hơn nữa là Tony. Hãy để tôi chích cái này vào tay ông nhé, Tony. Uống thêm tí thức ăn lỏng này nhé, Tony. Ông đã tập động tác nào chưa, Tony? Tất nhiên, khi việc này xảy đến, kiểu thân quen quá đáng của đội ngũ y tá có thể sẽ chỉ nằm tít phía dưới danh sách các nỗi lo của tôi thôi; nhưng cho dù là vậy.

༺༒༻

Tôi làm một việc hơi kỳ quặc khi mới gặp Margaret. Tôi viết Veronica ra ngoài câu chuyện đời tôi. Tôi vờ vịt rằng Annie mới là bạn gái đầu thật sự. Tôi biết phần lớn đàn ông thường thổi phồng số lượng các cô nàng và vụ tình dục họ từng trải qua; tôi làm điều ngược lại. Tôi vạch một đường kẻ và bắt đầu như mới. Margaret hơi bị bối rối vì tôi sao lại chậm chân đến thế không phải trong chuyện tôi mất trinh, mà trong chuyện có quan hệ nghiêm túc; nhưng bù lại, tôi nghĩ hồi ấy cô ấy có bị hút hồn một chút. Cô ấy đã nói gì đó về chuyện nhút nhát cũng là nét quyến rũ ở đàn ông.

Phần kỳ quặc hơn nằm ở chỗ thật dễ dàng có được phiên bản này của câu chuyện của tôi bởi dù sao đấy vẫn là điều tôi tự kể cho mình. Tôi coi thời gian mình bên Veronica như một thất bại – kiêu ngạo của cô ấy, nhục nhã của tôi – và đã xóa sổ nó rồi. Tôi chẳng giữ thư từ gì, chỉ còn có một tấm ảnh, mà lâu lắm rồi tôi chẳng xem.

Nhưng sau một hay hai năm hôn nhân, khi đã thoải mái hơn về bản thân, và hoàn toàn tin tưởng vào mối quan hệ của chúng tôi, tôi kể cho Margaret sự thật. Cô ấy lắng nghe, đặt những câu hỏi liên quan, và cô ấy hiểu. Cô ấy hỏi xem bức ảnh – bức chụp ở quảng trường Trafalgar – nghiên cứu nó, gật đầu, và không bình luận gì. Thế là tốt. Tôi chẳng có quyền trông mong bất cứ điều gì hết, nói gì đến những lời ca ngợi bạn gái cũ. Điều mà, dù thế nào, tôi cũng chẳng muốn. Tôi chỉ muốn xóa đi quá khứ, và được Margaret tha thứ cho lời nói dối lạ lùng về nó. Cô ấy đã làm vậy.

༺༒༻

Ông Gunnell trầm tĩnh, gầy guộc, một người chẳng ngại gì im lặng cả. Đằng nào thì, nó cũng bắt khách hàng anh ta trả tiền bằng với nói nàng.

“Ông Webster.”

“Ông Gunnell.”

Và thế là chúng tôi gọi nhau là ông suốt bốn mươi lăm phút sau đó, trong khi anh ta cho tôi lời khuyên chuyên nghiệp mà tôi phải trả tiền. Anh ta bảo tôi rằng, theo cách nhìn của anh ta, đến gặp cảnh sát và cố thuyết phục họ buộc tội ăn trộm một phụ nữ lớn tuổi có bà mẹ vừa qua đời là thật điên rồ. Tôi thích cái đó. Không phải lời khuyên mà cách diễn đạt. “Điên rồ”: hay hơn nhiều “không nên” hoặc “không thỏa đáng”. Anh ta cũng khuyên tôi đừng quấy quả bà Marriott.

“Không phải là các vị luật sư thích bị quấy hay sao, ông Gunnell?”

“Có thể nói nếu người quấy rầy là khách hàng thì khác. Nhưng trong trường hợp hiện tại này thì gia đình Ford đang trả mọi chi phí. Và ông hẳn sẽ ngạc nhiên làm thế nào mà các bức thư lại trượt xuống tận đáy tập hồ sơ được.”

Tôi nhìn quanh văn phòng sơn màu kem có những chậu cây cảnh, hàng giá đựng cứ liệu luật, bản in phong cảnh nước Anh hiền hòa và, vâng, có cả các tủ đựng hồ sơ nữa. Tôi quay lại nhìn ông Gunnell.

“Nói theo cách khác, đừng để cô ấy nghĩ tôi là loại loạn óc.”

“Ôi, bà ấy không bao giờ nghĩ vậy đâu, ông Webster. Mà ‘loạn óc’ không hẳn là thuật ngữ ngành luật.”

“Thế ông sẽ gọi là gì?”

“Chúng tôi sẽ chấp nhận ‘gây phiền hà’. Thế cũng khá mạnh rồi.”

“Được. Giờ sang một điểm khác nhé. Phải mất bao lâu mới thanh lý xong tài sản?”

“Nếu nó tương đối minh bạch... tám tháng, hai năm.”

Hai năm! Tôi không đợi quyển nhật ký lâu thế đâu.

“Thế này, ông giải quyết chuyện chính trước, nhưng luôn luôn có những chuyện lôi thôi đi kèm. Các giấy chứng nhận cổ phần bị mất. Thỏa thuận các con số với bên sở thuế. Và thư từ đôi khi bị thất lạc.”

“Hoặc trượt xuống đáy một tập hồ sơ.”

“Cả thế nữa, ông Webster.”

“Ông có lời khuyên nào khác không?”

“Tôi sẽ cẩn thận hơn với từ ‘ăn cắp’. Nó có thể phân cực các vấn đề một cách không cần thiết.”

“Nhưng chẳng phải cô ta đã làm chuyện đó sao? Nhắc tôi nhớ đến cái câu gì trong ngành luật khi mà chuyện đã rõ như ban ngày đi.”

“Res ipsa loquitur [3] ?”

“Chính là nó đấy.”

Ông Gunnell ngừng nói. “Thế này, việc liên quan đến tội phạm không mấy khi đi qua bàn của tôi, nhưng cụm từ khóa khi có vụ ăn trộm nào, như tôi nhớ, là ‘ý định tước đoạt vĩnh viễn’ khỏi chủ của vật bị ăn cắp. Ông có manh mối nào về ý định của quý cô Ford hoặc trạng thái tinh thần chung hơn của bà ấy không?”

Tôi cười lớn. Manh mối về đầu óc Veronica từng là một trong những vấn đề của tôi bốn mươi năm về trước. Thế nên hẳn là tôi cười khá vô duyên; mà Gunnell thi không phải là một người không nhạy cảm.

“Tôi không muốn tọc mạch, ông Webster, nhưng có điều gì trong quá khứ, có lẽ, giữa ông và quý cô Ford, có thể thành ra liên quan, cuối cùng biến thành một vụ án dân sự, hoặc thậm chí là hình sự không?”

Chuyện gì giữa tôi và quý cô Ford ư? Một hình ảnh cụ thể hiện ra trong đầu giữa khi tôi chằm chằm nhìn vào mặt sau một thứ tôi cho là những bức ảnh gia đình.

“Ông vừa làm mọi chuyện rõ ràng hơn rất nhiều, ông Gunnell. Tôi sẽ dán một cái tem hạng nhất lên phong bì khi tôi thanh toán cho ông.”

Anh ta cười. “Thực ra, chuyện đó chúng tôi cũng có để ý đấy. Trong một số trường hợp.”

༺༒༻

Cô Marriott, sau hai tuần, đã có thể cung cấp cho tôi địa chỉ email của ông John Ford. Quý cô Veronica Ford đã từ chối cho chuyển tiếp các thông tin liên hệ của mình. Và bản thân ông John Ford rõ ràng là người rất cẩn thận: không số điện thoại, không địa chỉ thư tín.

Tôi nhớ ông anh Jack ngồi dựa vào ghế xô pha, bất cần và tự tin. Veronica vừa nghịch rối tóc tôi vừa hỏi, “Cậu ấy được mà, phải không?” Và Jack nháy mắt với tôi. Tôi không nháy mắt lại.

Trong email tôi rất trịnh trọng. Tôi ngỏ lời chia buồn. Tôi vờ vịt rằng những kỷ niệm ở Chislehurst hạnh phúc hơn là hoàn cảnh hồi ấy. Tôi giải thích tình huống và nhờ Jack dùng ảnh hưởng của anh ta để thuyết phục em gái chuyền lại cho tôi “tài liệu” thứ hai, thứ tôi hiểu là cuốn nhật ký của người bạn học cũ Adrian Finn của tôi.

Khoảng mười ngày sau ông anh Jack ló dạng trong hộp thư của tôi. Một lời mào đầu dài dòng về du lịch, và bán-hưu trí, và cái ẩm ướt của Singapore, và wifi và các quán cà phê-Internet. Và rồi: “Dù sao thì, buôn chuyện thế đủ rồi. Tiếc là tôi không phải người trông nom em gái tôi - chưa từng khi nào, mọi chuyện chỉ hai chúng tôi biết. Đã thôi không cố thay đổi đầu óc cô ấy từ nhiều năm trước rồi. Và, nói thành thật, việc tôi nói tốt cho cậu có thể dễ dàng phản tác dụng. Không phải là tôi không chúc cậu tốt lành trong cái thế bất lợi này đâu nhé. À - xe kéo của tôi đến đây rồi - phải lướt thôi. Thân, John Ford.”

Tại sao tôi lại cảm thấy có gì đó không thuyết phục trong toàn bộ chuyện này? Tại sao tôi lại lập tức hình dung anh ta ngồi lặng lẽ ở nhà - trong một biệt thự xa hoa quay lưng ra một sân gôn ở Surrey - cười vào mặt tôi? Server của anh ta là aolcom, chẳng nói lên điều gì cả. Tôi nhìn vào giờ gửi email, hợp cho cả Singapore lẫn Surrey. Tại sao tôi lại tưởng tượng ông anh Jack thấy tôi tiếp cận nên đùa vui một chút?

Có lẽ bởi ở đất nước này các khác biệt giai cấp cưỡng lại thời gian lâu hơn những khác biệt tuổi tác. Nhà Ford từng sang hơn nhà Webster vào hồi đó, và họ hẳn là vẫn giữ nguyên cách ấy. Hay có khi đó chỉ là hoang tưởng về phần tôi thôi?

Chẳng được việc gì, tất nhiên, nhưng vẫn gửi email đáp một cách lịch thiệp và hỏi liệu anh ta có thể cho tôi thông tin liên lạc của Veronica không.

༺༒༻

Khi nói, “Cô ấy là một phụ nữ ưa nhìn,” người ta thường có ý, “Cô ấy từng là một người phụ nữ ưa nhìn.” Nhưng khi nói như vậy về Margaret, tôi có ý đó thật. Cô ấy nghĩ - cô ấy biết - rằng mình đã thay đổi, và cô ấy có thay đổi thật; nhưng với tôi thì cô ấy thay đổi ít hơn với bất cứ ai khác. Tự nhiên thôi, tôi chẳng thể nói thay cho tay chủ quán ăn được. Nhưng tôi sẽ nói thế này: cô ấy chỉ nhìn thấy những gì đã mất, còn tôi chỉ nhìn thấy những gì vẫn còn như trước. Tóc cô ấy không còn ngang lưng hay cuốn cao lên thành búi kiểu Pháp nữa; giờ đây nó ngắn sát đầu và tóc bạc lộ ra. Những cái váy thụng quê mùa cô ấy vẫn mặc đã nhường chỗ cho áo thun len và quần cắt rất khéo. Mấy cái tàn nhang tôi vẫn yêu giờ đã gần với đồi mồi Nhưng đó vẫn là đôi mắt ta soi vào, chẳng phải sao? Ta đã nhận ra nửa kia của mình trong đó, và giờ vẫn thấy, vẫn đôi mắt ấy trên khuôn mặt ấy lần đầu chúng tôi gặp nhau, khi ngủ với nhau, khi cưới, khi đi trăng mật, khi chung khoản vay thế chấp mua nhà, khi đi chợ, khi nấu ăn và đi nghỉ, yêu nhau và có con với nhau. Và cũng vẫn thế cả khi đã chia tay.

Nhưng không chỉ có đôi mắt. Cấu trúc xương vẫn vậy, cũng như những cử chỉ bản năng, rất nhiều cách khác nhau để cô ấy vẫn là chính mình. Và cái kiểu cô ở bên tôi kia nữa, dù sau bao lâu và bao xa cách.

“Thế tất cả chuyện này là thế nào, Tony?”

Tôi cười to. Chúng tôi chỉ vừa xem thực đơn xong, nhưng tôi không thấy câu hỏi ấy hấp tấp. Margaret là như thế. Khi anh nói anh không chắc về chuyện có thêm con thứ hai, có phải ý anh là không chắc về chuyện có con nữa với em không? Sao anh lại nghĩ ly dị chẳng qua chỉ là sự đổ lỗi? Anh định làm gì với phần đời còn lại của anh bây giờ? Nếu anh thực sự muốn đi nghỉ với em thì anh đã đi đặt mấy cái vé ấy rồi chứ? Và thế tất cả chuyện này là thế nào, Tony?

Có những người thấy bất an về những người tình cũ của nửa kia của mình, như thể họ vẫn còn đe dọa vậy. Margaret và tôi được miễn chuyện đó. Thế không có nghĩa là trong trường hợp của tôi có một đoàn lũ lượt bạn gái cũ xếp hàng. Và giả như cô ấy có tự cho phép đặt tên nhạo cho họ, thì cũng là quyền của cô ấy, chẳng phải sao?

“Thực ra, chẳng phải ai, ngoài Veronica Ford.”

“Bánh hoa quả á?” Tôi biết ngay cô ấy sẽ nói vậy, nên cũng chẳng cau mày. “Có phải cô ta trở lại, sau chừng ấy năm? Anh không còn dính dáng gì tới chuyện đó nữa rồi, Tony.”

“Anh biết,” tôi đáp. Có khả năng là khi- rốt cuộc đã tìm cách kể được cho Margaret về Veronica rồi, tôi đã lợi dụng chuyện đó một chút, làm mình nghe có vẻ còn hơn cả một kẻ bị lừa, và Veronica có vẻ mất cân bằng hơn hồi đó. Nhưng chính vì tôi mà đâm ra có cái tên nhạo này, nên tôi chẳng thể dễ dàng phản đối nó được. Tất cả những gì tôi có thể làm là không tự mình dùng nó thôi.

Tôi kể cho cô ấy đầu đuôi câu chuyện, tôi đã làm gì rồi, tôi đã tiếp cận mọi thứ thế nào. Như tôi nói, có cái gì đó ở Margaret đã lây sang tôi dần qua năm tháng, có lẽ vì thế mà cô ấy gật đầu đồng tình hoặc động viên đôi chỗ.

“Anh nghĩ vì sao mẹ Bánh hoa quả lại để cho anh 500 bảng?”

“Anh chẳng mảy may nghĩ ra cái gì.”

“Thế anh nghĩ ông anh trai chỉ dắt mũi anh thôi?”

“Ừ. Hoặc ít nhất thì cũng chẳng tự nhiên gì với anh.”

“Nhưng anh có quen anh ta tí nào đâu, phải không?”

“Anh chỉ gặp anh ta có một lần, đúng thế. Anh đoán hẳn là anh nghi vấn cả cái gia đình ấy.”

“Thế anh nghĩ tại sao bà mẹ rốt cuộc lại có cuốn nhật ký?”

“Anh không nghĩ ra.”

“Có lẽ Adrian để lại cho bà ấy bởi cậu ấy không tin Bánh hoa quả?”

“Cái đó vô lý.”

Có một khoảng lặng. Chúng tôi ăn. Rồi Margaret gõ dao của cô ấy lên đĩa của tôi.

“Và nếu quý cô giả-sử-vẫn-chưa-chồng Veronica Ford thế nào mà lại đi vào quán cà phê này và ngồi xuống bàn ta, thì quý ông ly-dị-đã-lâu Anthony Webster sẽ phản ứng ra sao?”

Cô ấy vẫn luôn biết đích xác chuyện này, chẳng phải sao?

“Anh không nghĩ là anh sẽ đặc biệt sung sướng nếu gặp cô ta.”

Có gì đó trong cái giọng nghi thức của tôi khiến Margaret mỉm cười. “Rối trí rồi hả? Bắt đầu xắn tay áo và tháo đồng hồ ra?”

Tôi đỏ mặt. Bạn chưa thấy một ông hói độ trên sáu mươi đỏ mặt sao? Ôi, chuyện đó có đấy, cũng như với một cậu mặt tàn nhang rậm tóc tuổi mười lăm thôi. Và bởi vì nó hiếm hoi hơn, nó đưa người đỏ mặt lộn nhào lại cái thời mà cuộc đời cứ như là chẳng hơn gì một chuỗi những ngượng nghịu xấu hổ.

“Anh ước gì anh chưa kể với em.”

Cô ấy xiên một dĩa đầy xa lát cải và cà chua.

“Anh chắc là không còn... ngọn lửa nào chưa được dội nước trong ngực anh đấy chứ, ông Webster?”

“Anh khá là chắc chắn.”

“Thế thì, trừ phi cô ta vẫn giữ liên lạc với anh, em sẽ bỏ qua. Rút tiền đi, đưa em đi nghỉ một kỳ vừa túi tiền, và quên đi. Hai trăm năm mươi mỗi người là chúng mình có thể đến tuốt tận đảo Channel ấy.”

“Khi nào em trêu anh là anh đều thích đấy,” tôi nói. “Dù là sau ngần ấy năm.”

Cô ấy nghiêng người qua vỗ nhẹ vào tay tôi. “Thật hay khi chúng mình vẫn còn yêu quý nhau. Và thật hay khi em biết là anh sẽ chẳng bao giờ làm được cái việc đặt chỗ trước cho cái kỳ nghỉ ấy cả.”

“Chỉ bởi vì anh biết em không có ý vậy đâu.”

Cô ấy mỉm cười. Và trong một thời khắc, cô ấy trông gần như khó hiểu. Nhưng Margaret không thể tỏ ra khó hiểu được, đó là bước đầu để trở thành loại Phụ nữ Bí ẩn. Nếu cô ấy muốn tôi trả tiền kỳ nghỉ cho cả hai, cô ấy sẽ nói. Vâng, tôi nhận ra đó chính xác là điều cô ấy đã nói, nhưng...

Nhưng dẫu có vậy. “Cô ta lấy cắp đồ của anh,” tôi nói, có lẽ là hơi cao giọng than thở.

“Làm sao anh biết anh muốn thứ đó?”

“Đấy là nhật ký của Adrian. Cậu ấy là bạn anh. Cậu ấy từng là bạn anh. Nó là của anh.”

“Nếu bạn anh muốn anh có nhật ký của cậu ấy, cậu ấy hẳn phải để lại cho anh bốn mươi năm trước rồi, và bỏ qua ông trung gian. Hoặc bà trung gian.”

“Đúng.”

“Anh nghĩ trong đó có gì?”

“Anh không biết. Nó vẫn là của anh.” Lúc đó tôi nhận ra một lý do khác khiến tôi quả quyết như vậy. Cuốn nhật ký là bằng chứng; đó là - có thể lắm - là chứng thực:. Nó có thể phá tan cái lặp đi lặp lại tầm thường của ký ức. Nó có thể khởi động điều gì đó - dù tôi không rõ là gì.

“Ờ thì, anh luôn có thể tìm ra nơi Bánh hoa quả ở mà. Họp mặt Bạn cũ, danh bạ điện thoại, thám tử tư. Đến, bấm chuông cửa, đòi cái thứ của anh.”

“Không.”

“Vì thế mà có một vụ đột nhập,” cô ấy hào hứng gợi ý.

“Em đùa à.”

“Thế thì bỏ qua đi. Trừ phi anh có, như người ta nói, các vấn đề từ quá khứ mà anh cần phải đối diện để còn có thể sống tiếp được. Nhưng như thế không giống anh mấy, phải không Tony?”

“Không, anh không nghĩ thế,” tôi trả lời, khá thận trọng. Bởi một phần trong tôi tự vấn rằng bỏ qua chuyện huyên thuyên về tâm thần học, liệu có chút sự thật nào trong đó hay không. Một khoảng lặng. Đĩa của chúng tôi đều hết. Margaret đọc vị tôi chẳng khó khăn gì.

“Thật cảm động khi anh cứng đầu đến thế. Em cho đấy là một cách thức nhằm theo kịp thời cuộc khi ta đã đến tuổi này rồi.”

“Anh không nghĩ hồi cách đây hai mươi năm anh sẽ phản ứng khác.”

“Hẳn là không.” Cô ấy vẫy tay gọi thanh toán. “Nhưng để em kể anh nghe một chuyện về Caroline. Không, anh không biết cô bạn này. Đấy là bạn em sau khi ta đã chia tay. Cô ấy có một ông chồng, hai đứa con nhỏ và một cô giúp việc mà cô ấy thấy không yên tâm lắm. Cô ấy chẳng có nghi ngờ gì kinh khủng cả. Cô bé chủ yếu rất lịch sự, bọn trẻ con không kêu ca gì. Chỉ có điều Caroline cảm thấy cô ấy không thực sự rõ mình đang giao bọn trẻ con vào tay ai. Thế là cô ấy hỏi một người bạn - bạn gái - không, không phải em đâu - xem cô ta có lời khuyên gì không. ‘Xem qua đồ đạc của nó,’ cô ta nói. ‘Gì cơ?’ ‘Ờ thì, cậu rõ ràng là đang bị quay cuồng vì chuyện này mà. Đợi đến tối con bé được nghỉ, ngó qua phòng nó, đọc thư từ của nó xem. Mình thì mình sẽ làm vậy.’ Thế là lần sau lúc cô giúp việc được nghỉ, Caroline xem qua đồ đạc của con bé. Và tìm thấy nhật ký của nó. Và cô ấy đọc. Và có đầy những câu lăng mạ, như là ‘Mình đang làm việc cho một mụ bò thực sự’ và ‘Tay chồng cũng khá - đã bắt gặp hắn đang nhìn mông mình rồi - nhưng mụ vợ thì đúng là đồ ngu ngốc.’ Và ‘Liệu mụ ta có biết mụ đang làm gì bọn trẻ tội nghiệp không nhỉ?’ Có những thứ thực sự, thực sự khó nuốt trong đó.”

“Thế rồi chuyện gì xảy ra?” tôi hỏi. “Bạn em có đuổi con bé giúp việc không?”

“Tony,” vợ cũ của tôi đáp, “dấy không phải là ý nghĩa của câu chuyện đâu.”

Tôi gật đầu. Margaret xem hóa đơn, rà góc thẻ tín dụng xuống qua từng món.

Có hai điều khác cô ấy từng nói trong những năm tháng ấy: rằng có những phụ nữ chẳng bí ẩn một tí tẹo nào, mà chỉ trở thành như thế do đàn ông bất lực trong việc hiểu được họ. Và như thế, theo cách nhìn của cô ấy, những miếng bánh hoa quả nên bị đóng kín trong những hộp sắt có hình khuôn mặt Nữ hoàng trên nắp. Đáng lẽ tôi cũng nên kể cho cô ấy chi tiết này trong phần đời Bristol của tôi nữa mới phải.

༺༒༻

Chừng một tuần trôi qua, rồi thì tên của ông anh Jack lại ở trong hộp thư của tôi. “Đây là địa chỉ email của Veronica, nhưng đừng nói là tôi đưa nó cho cậu đấy. Sẽ phức tạp lằng nhằng lắm. Hãy nhớ ba con khỉ thông thái nhé - không nhìn thấy cái ác, không nghe thấy cái ác, không nói đến cái ác. Dù sao, đấy cũng là phương châm sống của tôi. Trời xanh biếc, nhìn ra cầu Cảng Sydney, gần như vậy. À, xe kéo của tôi đến đây rồi. Thân, John F.”

Tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ anh ta sẽ chẳng giúp ích gì được. Nhưng tôi thì biết gì về anh ta hay cuộc đời anh ta nào? Nhỉ có những gì tôi ngoại suy từ ký ức về một dịp cuối tuần tệ hại đã lâu lắm rồi. Tôi vẫn luôn cho rằng xuất thân và giáo dục đã cho anh ta lợi thế hơn tôi, những gì anh ta đã duy trì được không cần cố sức gi cho tới tận hôm nay. Tôi nhớ Adrian có nói rằng cậu ấy đã đọc về Jack trên một tạp chí đại học nào đó nhưng không nghĩ là sẽ gặp anh ta (mà cũng không nghĩ là sẽ hẹn hò với Veronica). Và rồi cậu ấy nói thêm, bằng một giọng khác, gay gắt hơn, “Tớ ghét cái cách người Anh chẳng nghiêm túc gì cả về chuyện sống nghiêm túc.” Tôi chẳng bao giờ biết - bởi vì tôi ngu ngốc chưa bao giờ hỏi - điều đó dựa trên cơ sở nào.

Người ta nói rằng thời gian sẽ tìm ra bạn, chẳng phải sao? Có thể thời gian đã tìm ra ông anh Jack và trừng phạt anh ta vì thiếu nghiêm túc. Và giờ đây tôi bắt đầu thêm thắt một cuộc đời khác cho anh trai của Veronica, một đời có những năm sinh viên tỏa sáng trong ký ức anh ta với đầy ắp hạnh phúc và hy vọng - kỳ thực lại chính là thời kỳ duy nhất đời anh ta đạt tới được một cách ngắn ngủi ý nghĩa của sự hài hòa mà chúng ta đều hướng tới. Tôi tưởng tượng rằng Jack, sau khi tốt nghiệp, nhờ là con ông cháu cha nên được sắp xếp vào một trong những công ty đa quốc gia đó. Tôi tưởng tượng anh ta khởi đầu tương đối tốt đẹp, rồi sau đó, gần như là khó mà nhận ra, không còn tốt nữa. Một tay dễ giao du, biết xử sự tử tế, nhưng thiếu sự sắc sảo cần thiết trong một thế giới đổi thay từng ngày. Những câu kết vui vẻ, trong thư từ và đối thoại, sau một thời gian thành ra không còn sành điệu nữa mà dần lạc lõng. Và mặc dù anh ta chẳng thực sự bị cho thôi việc, lời gợi ý về hưu sớm cộng với những công việc thảng hoặc chỉ mang tính tình thế là cũng đủ rõ. Anh ta có thể là một kiểu lãnh sự danh dự lưu động, một phương án thay thế cho đại diện địa phương ở các thành phố lớn, một người giải quyết các vấn đề vướng mắc ở các thành phố nhỏ hơn. Thế là anh ta làm lại cuộc đời, và tìm ra một cách hợp lý nào đó để thể hiện bản thân như một người thành công. “Nhìn ra cầu Cảng Sydney, gần như vậy.” Tôi tưởng tượng anh ta mang máy tính xách tay lên một quán cà phê ngoài hiên nào có wifi, bởi chân thành mà nói như thế bớt căng thẳng hơn là ngồi làm việc trong phòng khách sạn có ít sao hơn so với anh ta từng quen được hưởng trước kia.

Tôi chẳng rõ đây có phải là cách các công ty lớn làm việc hay không, nhưng tôi đã tìm ra một cách nghĩ về ông anh Jack mà không gây khó chịu. Thậm chí tôi còn thu xếp đuổi được anh ta ra khỏi biệt thự nhìn ra sân gôn cơ mà. Không phải vì tôi đi xa đến độ thương hại anh ta. Và - đây mới là cốt lõi vấn đề - chẳng phải vì tôi nợ nần anh ta điều gì cả.

“Veronica thân mến,’ tôi bắt đầu. “Anh trai cô đã rất tử tế cho tôi địa chỉ email của cô...”

༺༒༻

Tôi sửng sốt nhận ra đây có thể là một trong những khác biệt giữa tuổi trẻ và tuổi già: khi còn trẻ, ta bịa ra các tương lai khác nhau cho chính ta; khi đã già, ta bịa ra những quá khứ khác nhau cho người khác.

༺༒༻

Bố nàng lái cái xe Humber Super Snipe. Ô tô chẳng còn những cái tên kiểu thế nữa, phải không? Tôi lái một chiếc Volkswagen Polo. Nhưng mà Humber Super Snipe thì – mấy từ ấy tuột khỏi lưỡi trơn tru như “Cha, Con và Thánh thần” vậy. Humber Super Snipe. Armstrong Siddeley Sapphire. Jowett Javelin. Jensen Interceptor. Thậm chí cả Wolseley Farina và Hillman Minx.

Đừng hiểu nhầm tôi. Tôi không quan tâm tới xe cộ, dù mới hay cũ. Tôi chỉ loáng thoáng tò mò vì sao các vị đặt tên cái xe có khoang to đùng ấy theo một loài chim được săn bắt hợp pháp bé tí như là con chim dẽ giun, và vì sao xe Minx lại có bản chất nữ tính dào dạt cảm xúc đến thế. Dù thế nào, tôi cũng không đủ tò mò để tìm cho ra. Đến tuổi này rồi tôi thà không biết còn hơn.

Nhưng tôi vẫn lật đi lật lại trong đầu câu hỏi về hoài niệm dĩ vãng, và liệu tôi có đau đớn vì nó không. Tất nhiên tôi chẳng bị mùi mẫn vì ký ức về một món đồ lặt vặt nào thời thơ ấu; tôi cũng chẳng muốn lừa dối tình cảm bản thân về điều gì đó thậm chí chẳng đúng từ hồi ấy - lòng yêu dấu ngôi trường cũ, đại loại thế. Nhưng nếu hoài niệm dĩ vãng có nghĩa là sự hồi tưởng có tác động lớn về những rung động mạnh - và nỗi luyến tiếc rằng những xúc cảm ấy không còn hiện hữu trong đời ta nữa - thì tôi thấy mình tội lỗi. Tôi hoài niệm cái thời kỳ đầu với Margaret, khi Susie ra đời và những năm đầu, cả chuyến đi lang thang với Annie nữa. Và nếu ta đang nói về cảm xúc mạnh không bao giờ còn trở lại nữa, tôi cho rằng hoàn toàn có thể hoài niệm về cả nỗi đau nhớ đời cũng như là sung sướng nhớ đời.

Và cái đó mở rộng phạm vi hơn nữa, chẳng phải sao? Cái đó cũng dẫn thẳng đến vấn đề về quý cô Veronica Ford.

༺༒༻

“Tiền vấy-máu?”

Tôi nhìn vào mấy từ này mà không thể luận ra nghĩa nổi. Nàng đã xóa thư của tôi và tên thư, không thấy ký tên vào thư hồi đáp, mà chỉ trả lời bằng một cụm từ. Tôi phải mở lại email mình đã gửi đi, đọc lại một lần nữa và tìm ra rằng về mặt ngữ pháp mấy từ của nàng chỉ có thể dùng để trả lời cho câu hỏi của tôi vì sao mẹ nàng để lại cho tôi 500 bảng. Nhưng nó chẳng có nghĩa gì trong chuyện này. Chẳng có máu nào đã đổ. Lòng kiêu hãnh của tôi có bị tổn thương, cái đó thì đúng. Nhưng Veronica khó mà gợi ý rằng mẹ nàng tặng tiền để đổi lại nỗi đau con gái bà gây cho tôi, đúng không? Hay là đúng thế?

Đồng thời, cũng dễ hiểu khi Veronica chẳng cho tôi một câu trả lời đơn giản, chẳng làm hay nói cái điều tôi hy vọng hay trông đợi. Trong việc này ít ra nàng vẫn thống nhất với ký ức của tôi về nàng. Tất nhiên, đôi khi tôi từng muốn xếp nàng vào loại phụ nữ bí ẩn, ngược lại với người phụ nữ dễ hiểu trong Margaret mà tôi đã lấy làm vợ. Đúng, với nàng tôi chẳng bao giờ biết mình ở đâu, không thể đọc trái tim hay ý nghĩ hay động cơ của nàng. Nhưng một điều huyền bí là một trò xếp hình bạn muốn giải mã được. Tôi không muốn giải mã Veronica, chắc chắn là ngày tháng muộn màng này thì không. Nàng từng là một cô gái trẻ khó dò đến phát khiếp bốn mươi năm về trước, và - theo bằng chứng gồm hai-từ [4] , câu đáp trả hai-ngón-tay đắc thắng này - vẫn chẳng có vẻ gì là chín chắn hơn theo tuổi tác cả. Tôi đinh ninh tự nhủ như vậy đấy.

Dù thế thì vì sao ta lại phải trông chờ tuổi tác làm ta chín chắn? Nếu tưởng thưởng công trạng chẳng phải là công việc đời phải lo, thì vì sao đời phải lo cho ta cảm giác ấm áp, dễ chịu khi nó tới hồi kết? Hoài niệm liệu có thể phục vụ mục đích tiến hóa khả dĩ nào đây?

༺༒༻

Tôi có một người bạn được đào tạo thành luật sư, sau lại bị vỡ mộng và chẳng bao giờ hành nghề ấy cả. Cậu ta bảo tôi rằng lợi ích duy nhất của những năm tháng phí hoài đó là cậu ta không hao giờ còn sợ cả luật pháp lẫn luật sư nữa. Và chuyện như vậy xảy ra khá thường, chẳng phải sao? Càng học được nhiều, bạn càng bớt sợ. “Học” không theo nghĩa học hành hàn lâm, mà theo nghĩa thông hiểu thực tế về cuộc sống.

Có lẽ tất cả những gì tôi muốn nói là, từng hẹn hò với Veronica chừng ấy năm về trước, lúc này tôi chẳng còn sợ gì nàng. Và thế là tôi bắt đầu chiến dịch email của mình. Tôi xác định sẽ lịch sự, không đả kích, bền bỉ, nhạt nhẽo, thân thiện: nói theo cách khác, là nói dối. Tất nhiên, chỉ mất phần triệu giây để xóa một email thôi, nhưng cũng chẳng lâu hơn nhiều để thay thế cái đã bị xóa. Tôi sẽ làm nàng mềm lòng bằng chiêu dễ thương, và tôi sẽ lấy được nhật ký của Adrian. Chẳng có “ngọn lửa chưa được dội nước nào trong ngực anh đâu” - tôi đã quả quyết với Margaret về chuyện này. Và về lời khuyên chung chung hơn của cô ấy, ta có thể nói rằng một lợi thế của chuyện là chồng-cũ, ấy là bạn không còn cần phải biện minh cho cách cư xử của mình. Hay phải làm theo các lời gợi ý.

༺༒༻

Tôi có thể nói Veronica bị bối rối vì chuyện tôi tiếp cận. Đôi khi nàng trả lời ngắn và gắt gỏng, và thường xuyên là không trả lời. Có lẽ nàng cũng sẽ chẳng lấy làm thích thú gì nếu biết được tiền lệ cho kế hoạch của tôi. về quãng cuối cuộc hôn nhân, ngôi biệt thự ngoại ô vững chắc nơi Margaret và tôi sống bị lún một chút. Các vết nứt xuất hiện chỗ này chỗ kia, vài chỗ trên vòm hiên và tường trước bắt đầu bở ra. (Mà không, tôi không nghĩ về những thứ ấy như là có tính biểu tượng gì đâu.) Công ty bảo hiểm lờ đi chuyện rằng đó là một mùa hè khô hạn nổi tiếng, và quyết định đổ tội cho cây chanh ở vườn trước. Nó chẳng phải là cái cây đẹp đặc biệt gì, cũng chẳng phải tôi yêu quý gì nó, vì nhiều lý do khác nhau: nó che cho căn phòng phía trước được khuất nắng, làm rụng thứ gì dinh dính trên hè, và nhô ra trên phố theo cái cách khuyên khích bọn bồ câu đậu ở trên và ị lên xe ô tô đỗ phía dưới. Đặc biệt là xe của chúng tôi.

Tôi phản đối đốn nó là vì nguyên tắc: không phải nguyên tắc giữ gìn vốn cây cối của đất nước, mà là nguyên tắc không lạy lục bọn quan chức chẳng bao giờ thấy mặt, bọn chuyên gia trồng cây mặt búng ra sữa, vả mớ lý thuyết đổ tội gàn dở hiện thời do các công ty bảo hiểm viện ra. Hơn nữa, Margaret khá thích cái cây ấy. Thế là tôi chuẩn bị một chiến dịch chống đối dài hơi. Tôi thắc mắc các kết luận của bọn chuyên gia trồng cây và yêu cầu đào thêm các hố kiểm tra nữa để khẳng định hoặc bác bỏ chuyện có các rễ con gần phần móng nhà; tôi lý luận về dạng thời tiết, về dải đất sét lớn bao quanh London, về sự quá đáng của trò cấm dùng ống dẫn nước trong toàn vùng, và nhiều nữa. Tôi lịch thiệp một cách cứng rắn; tôi nhại lại thứ ngôn ngữ quan liêu của đối thủ; tôi đính kèm để gây khó chịu những bản sao của các thư từ trước vào mỗi bức thư mới; tôi mời họ đến kiểm tra thêm và gợi ý họ dùng thêm nhân lực. Với mỗi bức thư, tôi lo làm sao để có thêm thắc mắc mới mà họ sẽ phải mất thời gian cân nhắc; nếu họ không trả lời nổi thì thư sau, thay vì nhắc lại thắc mắc đó, tôi sẽ nhắc họ về đoạn thứ ba hay thứ tư trong trao đổi ngày 17 tháng này, thế là họ phải nhìn lại bộ hồ sơ đang ngày một phình ra mãi. Tôi cẩn thận để không tình cờ thành một thằng điên, mà đúng hơn là một kẻ mô phạm rởm, nỗi chán ghét không lơ đi được. Tôi thích tưởng tượng ra màn rên rỉ với lại gầm gừ khi một trong những bức thư nữa của tôi lại đến; và tôi biết rằng tới một lúc nào đó sẽ là kinh tế hơn cả nếu họ đóng vụ này lại. Rốt cuộc, giận điên lên họ đề nghị cắt ba mươi phần trăm vòm cây chanh, một giải pháp tôi chấp nhận với những bày tỏ tiếc nuôi sâu sắc và niềm phấn khởi lớn trong lòng.

༺༒༻

Veronica, như tôi đã lường trước, chẳng thích thú khi bị đối xử như một công ty bảo hiểm chút nào. Tôi sẽ tha cho bạn cái khoản trao đổi chán ngắt mà kể thẳng luôn về kết quả thực tế đầu tiên của nó. Tôi nhận được một bức thư từ cô Marriott gửi kèm cái mà cô ta tả là “một mảnh của tài liệu đang bị tranh chấp”. Cô ta bày tỏ hy vọng rằng trong những tháng tới sẽ hoàn trả đầy đủ lài sản thừa kế của tôi. Tôi nghĩ điều này cho thấy rất nhiều lạc quan.

Cái “mảnh” đó hóa ra là bản photocopy của một mảnh. Nhưng - cho dù đã bốn mươi năm - tôi biết cái đó là thật. Adrian viết tay một kiểu nghiêng đặc biệt với một chữ “g” lập dị. Chẳng cần phải nói, Veronica không gửi cho tôi trang đầu tiên, hoặc trang cuối cùng, hoặc chỉ ra cái mảnh này ở đâu trong nhật ký. Nếu “nhật ký” vẫn là từ đúng cho một văn bản được chia thành các đoạn có đánh số. Đây là những gì tôi đọc được:

5.4 Vấn đề tích lũy. Nếu cuộc đời là một cuộc cá cược, thì việc đặt cược sẽ theo hình thức nào? Ở đường đua, đặt cược tích lũy là một lần đặt cược dùng tất cả tiền thắng từ thành công của một con ngựa dồn cả vào khoản đặt cược trong lượt tiếp theo.

5.5 Vậy, a) Đâu là phạm vi các mối quan hệ con người có thể được thể hiện trong một công thức toán hoặc logic? Và b) Nếu như vậy, những dấu nào có thể đặt giữa các số nguyên? Cộng và trừ, hiển nhiên-tự thân; đôi khi nhân, và vâng, cả chia nữa. Nhưng những dấu này chỉ có hạn. Thế thì một mối quan hệ hoàn toàn thất bại có thể được thể hiện dưới dạng mất máttrứ và chiarút gọn, cho một kết quả bằng không; trong khi một mối quan hệ hoàn toàn thành công có thể được diễn đạt bằng cả cộng và nhân. Nhưng còn về phần lớn các mối quan hệ? Hay là chúng không muốn được trình bày bằng các hệ thống ký hiệu về mặt logic thì không đáng tin, về mặt toán học thì không lời giải?

5.6 Vậy ta có thể trình bày một hàm tích lũy bao gồm các số nguyên b, a1, a2, s, v theo cách nào?

b = s – v

clip_image003

a1

hay là a2 + v + a1 x s = b?

5.7 Hay đặt ra vấn đề này và thể hiện hàm tích lũy theo cách ấy là sai? Liệu việc áp dụng logic vào điều kiện con người trong và của chính nó có phải là bất khả thi? Có được gì từ một chuỗi suy luận khi các mối nối được làm từ các loại kim loại khác nhau, mà mỗi loại có độ giòn riêng?

5.8 Hay “mối nối” là một ẩn dụ sai?

5.9 Nhưng cứ cho rằng nó không sai, nếu một mối nối đứt gãy, thì trách nhiệm đôi với việc đứt gãy đó nằm ở nơi đâu? Trên ngay những đầu mối nối nhau, hay là ở toàn chuỗi? Nhưng ý ta là gì khi nói “toàn chuỗi”? Các giới hạn của trách nhiệm có thể mở rộng tới đâu?

6.0 Hay là ta có thể thử giới hạn trách nhiệm hẹp hơn và chia phần trách nhiệm chính xác hơn. Và không dùng các dấu bằng và các số nguyên mà đổi lại thể hiện các vấn đề bằng hệ thống thuật ngữ trần thuật truyền thông. Thế thì, ví dụ, nếu Tony

Và đến đó thì bản sao - phiên bản này của một phiên bản – dừng lại. “Thế thì, ví dụ, nếu Tony”: hết một dòng, cuối một trang. Nếu không ngay lập tức nhận ra chữ viết tay của Adrian, tôi có thể nghĩ cái mồi nhử này là một phần của trò lừa đảo công phu do Veronica tạo ra.

Nhưng tôi không muốn nghĩ về nàng - không muốn cho tới chừng nào còn có thể tránh được chuyện đó. Ngược lại tôi tập trung vào Adrian và việc cậu ấy làm khi đó. Tôi không biết cách nào tốt nhất để diễn đạt chuyện này, nhưng khi nhìn vào trang copy tôi không cảm thấy đang nghiên cứu một tài liệu lịch sử - một thứ, hơn thế nữa, đòi hỏi công việc diễn giải đáng kể. Không, tôi cảm thấy như Adrian đang có mặt trong căn phòng lần nữa, bên cạnh tôi, hít thở, nghĩ ngợi.

Và cậu ấy vẫn đáng ngưỡng mộ làm sao. Tôi từng thỉnh thoảng cố tưởng tượng ra nỗi tuyệt vọng dẫn tới tự tử, cố gắng gọi lên bùn lầy và nước đọng của bóng tối nơi chỉ có cái chết hiện hữu như ánh sáng lọt qua một lỗ đinh: nói cách khác, những gì chính xác là ngược lại với điều kiện sống thông thường. Nhưng trong tài liệu này - tôi coi nó như vậy - trên cơ sở một trang giấy này, cho hợp với suy luận lý trí của Adrian về việc tự tử của chính cậu - người viết đã dùng ánh sáng trong một nỗ lực vươn tới ánh sáng vĩ đại hơn nữa. Cái đó có nghĩa chứ?

༺༒༻

Tôi chắc chắn là các nhà tâm thần học ở đâu đó đã làm cái bảng đồ thị về độ thông minh dựa trên tuổi tác. Không phải đồ thị của khôn ngoan, tính thực dụng, kỹ năng tổ chức, óc mưu lược - những cái đó, qua thời gian, làm mờ hiểu biết của ta về vấn đề. Mà là đồ thị về trí thông minh thuần chất. Và tôi đoán là nó sẽ cho thấy ta tới đỉnh cao trong khoảng từ tuổi mười sáu đến hai mươi lăm. Cái mảnh của Adrian đưa tôi về với cậu ấy ở tuổi đó. Khi chúng tôi nói chuyện và tranh luận, cứ như thể cậu ấy được cấu tạo để sắp đặt các ý nghĩ thành trật tự, như thể việc sử dụng não của cậu ấy cũng tự nhiên như một vận động viên sử dụng cơ bắp của anh ta. Và hoàn toàn giống các vận động viên phản ứng trước chiến thắng với một hỗn hợp lạ lùng của kiêu hãnh, hoài nghi và khiêm tốn - Tôi đã làm được, nhưng tôi đã làm được như thế nào? Tự mình tôi? Nhờ những người khác? Hay là Chúa đã giúp tôi? - Adrian cũng đưa bạn đi suốt hành trình suy nghĩ của cậu ấy như thể chính cậu ấy chẳng tin mấy vào sự dễ dàng mà cậu ấy có trong suốt chuyến đi vậy. Cậu ấy đã bước vào một trạng thái được hưởng hồng ân nào đó nhưng là một nơi không cấm vào. Cậu ấy làm bạn cảm tưởng như bạn là người cùng-suy-nghĩ của cậu ấy, dù bạn chẳng nói câu nào. Và tôi thấy lạ kỳ vì lại cảm thấy điều này lần nữa, chuyến đồng hành với một kẻ giờ đã chết nhưng còn thông minh hơn, so với tất cả những thập kỷ nhiều hơn của đời tôi cộng lại.

Trí thông minh này thuần khiết, mà còn được áp dụng. Tôi thấy tôi đem so sánh đời mình với đời Adrian. Cái năng lực nhìn thấu và nghiên cứu bản thân của cậu ấy; cái năng lực đưa ra những quyết định đạo đức và hành động theo đó; sự can đảm tinh thần và thân thể trong việc tự tử. “Cậu ấy tự tước đi đời mình” là cách nói đúng; nhưng Adrian cũng tự gánh lấy trách nhiệm đời mình, cậu ấy tự làm chủ lấy nó, cậu ấy nắm lấy nó - và rồi phủi tay khỏi nó. Liệu có mấy người trong chúng tôi - những kẻ còn lại - có thể nói rằng mình đã làm được như vậy? Ta cứ lúng túng suốt, ta để đời xảy đến với mình, ta dần dần xây đắp cả một nhà kho ký ức. Đó là vấn đề tích lũy, nhưng không theo nghĩa Adrian muốn nói, chỉ đơn giản là cộng thêm vào và cộng nữa lên cuộc đời. Và như nhà thơ ấy đã chỉ ra, có một khác biệt giữa cộng vào và tăng thêm.

Đời tôi có tăng thêm không, hay chỉ cộng vào chính nó thôi? Đây là câu hỏi mà cái mảnh của Adrian đặt ra trong tôi. Đã có phép cộng - và phép trừ - trong đời tôi, nhưng bao nhiêu phép nhân? Và điều này gây cho tôi dự cảm bất ổn, không yên.

“Thế thì, ví dụ, nếu Tony...” Những lời này có một ý nghĩa cục bộ, văn bản, cụ thể hồi bốn mươi năm trước: và vào lúc nào đó tôi có thể phát hiện ra rằng nó chứa đựng, hoặc dẫn tới, một lời trách móc, một điều chỉ trích của người bạn cũ thấu-suốt, tự-thấu-suốt của tôi. Nhưng vào lúc này tôi đã nghe được chúng với một tham chiếu rộng hơn - tới cả cuộc đời tôi. “Thế thì, ví dụ, nếu Tony...” Và theo cách này những từ ngữ ấy thực tế đã hoàn chỉnh trong bản thân chúng và chẳng cần đến mệnh đề chính giải thích tiếp theo. Vâng, thực vậy, nếu Tony từng nhìn ra rõ hơn, hành động quả quyết hơn, bám chắc vào các giá trị đạo đức đúng đắn hơn, chấp nhận bớt dễ dãi hơn tính hiếu hòa thụ động mà cậu ta lúc đầu gọi là hạnh phúc và sau đó là mãn nguyện. Nếu Tony không sợ, không dựa vào sự tán thành của người khác mà chính mình tự tán thành với mình... và còn nữa, qua một loạt giả định dẫn tới điều cuối cùng: thế thì, ví dụ, nếu Tony không phải là Tony.

༺༒༻

Nhưng Tony đã và đang là Tony, một kẻ thấy thoải mái trong tính gan lì của riêng hắn. Những bức thư gửi các công ty bảo hiểm, những email gửi Veronica. Nếu các người xử tệ với tôi, thì tôi sẽ xử tệ lại với các người. Tôi tiếp tục gửi email cho nàng ít nhiều mỗi ngày, và giờ thì với đa dạng các loại giọng, từ hô trào đùa cợt tới “Làm điều đúng đắn đi, cô nàng!” rồi những tra vấn về cái câu đứt đoạn của Adrian, tới những hỏi han nửa-thành thật về cuộc sống của nàng. Tôi muốn nàng cảm thấy tôi luôn đợi ở đó bất cứ lúc nào nàng nhấn vào hòm thư đến; và tôi muốn nàng biết rằng cho dù nàng có xóa ngay thư của tôi, tôi có thể biết được nàng đang làm trò ấy, và còn chẳng lấy làm ngạc nhiên, nữa là bị tổn thương. Và tôi ở đó, đợi chờ. “Thờiiiiii Giaaaaaan đang ở phe tôi đúng thế đấy...” Tôi không cảm thấy mình đang quấy rối nàng; tôi chỉ đang theo đuổi cái thứ là của tôi thôi. Và rồi, một sáng, tôi có kết quả.

“Tôi sẽ lên thành phố ngày mai, tôi sẽ gặp anh lúc ba giờ ở giữa cầu Lắc Lư [5] .”

Tôi chưa bao giờ mong đợi chuyện này. Tôi nghĩ mọi thứ hẳn phải thông qua người khác mới được, phương thức của nàng là luật sư và im lặng. Có lẽ nàng đã đổi ý rồi. Hoặc có thể tôi đã chọc giận được nàng. Dù sao thì, tôi cũng đã cố gắng.

Cầu Lắc Lư là cầu đi bộ mới bắc qua sông Thames, nối nhà thờ Saint-Paul với nhà Tate Mordern [6] . Khi mới khai trương, nó hơi lắc một chút - do gió hoặc do lượng lớn người rầm rập đi qua, hoặc cả hai - và giới truyền thông chế giễu nặng nề các nhà thiết kế kiến trúc và kỹ sư, bảo rằng họ không biết việc họ đang làm. Tôi nghĩ là nó đẹp. Tôi cũng thích cái cách nó lắc lư nữa. Tôi thấy là đôi khi ta cần được nhắc nhở về sự bất ổn dưới chân mình. Và rồi họ sửa chữa nó và nó chẳng lắc lư nữa, nhưng cái tên kẹt lại đó - ít nhất là đến giờ. Tôi băn khoăn về lựa chọn địa điểm của Veronica. Hơn nữa, nếu nàng để tôi chờ thì không biết nàng sẽ đến từ bờ nào.

Nhưng nàng đã ở đó rồi. Tôi nhận ra nàng từ xa, chiều cao và thế đứng trông quen ngay. Lạ lùng làm sao hình ảnh tư thế một người luôn ở lại trong ta. Và ở trường hợp nàng - tôi biết phải nói thế nào? Bạn có thể đứng một cách nôn nóng không? Tôi không có ý là nàng nhấp nhổm hai chân; nhưng vẻ căng thẳng rõ rệt gợi ra rằng nàng chẳng hề muốn ở đó.

Tôi kiểm tra đồng hồ. Tôi đến đúng giờ. Chúng tôi nhìn nhau.

“Tóc anh rụng nhiều,” nàng nói.

“Nó thế đấy. Ít nhất nó cho thấy tôi không nghiện rượu.”

“Tôi không nói anh nghiện rượu. Ta ra ngồi ở cái ghế băng đằng kia đi ”

Nàng bước đi mà chẳng thèm đợi tôi trả lời. Nàng bước nhanh, và tôi sẽ phải chạy mấy bước mới đi ngang được cùng nàng. Tôi không muốn cho nàng niềm sung sướng đó, thế nên tôi đi sau nàng vài bước tới một cái ghế băng trống quay mặt ra dòng Thames. Tôi không nói được con nước đang chảy theo chiều nào, vì có một cơn gió xéo bất định đang khuấy động mặt nước. Trên kia, bầu trời xám xịt. Có vài khách du lịch; một tay trượt pa tanh lạch xạch chạy qua sau lưng chúng tôi.

“Vì sao mọi người nghĩ anh nghiện rượu?”

“Không ai nghĩ thế cả.”

“Thế sao anh lôi chuyện đó ra làm gì?”

“Tôi không lôi ra. Cô nói tôi bị rụng tóc. Và tình cờ có một sự thật là nếu cô là người nghiện rượu nặng, có cái gì đó trong rượu làm ngưng việc rụng tóc của cô."

“Thật thế à?”

“Ừ thì, cô có nghĩ ra một tay nghiện rượu nào hói không?”

“Tôi có nhiều việc hay ho hơn để làm với thời gian của tôi.”

Tôi liếc nhìn nàng và nghĩ: cô chẳng thay đổi gì, nhưng tôi thì có. Thế nhưng mà, kỳ quặc thay, những chiến thuật đấu khẩu này làm tôi gần như bồi hồi hoài niệm. Gần như thôi. Đồng thời, tôi nghĩ: cô trông hơi có ria. Nàng mặc một cái váy vải tuýt tiện lợi và một cái áo khoác mưa xanh khá xoàng xĩnh; tóc nàng, mặc dù bay theo hướng cơn gió thổi từ sông, có vẻ bù xù. Nó vẫn có cùng độ dài với bốn mươi năm về trước, nhưng đã xen với rất nhiều tóc bạc. Hoặc đúng hơn là, màu tóc bạc xen với màu nâu ban đầu. Margaret có nói rằng phụ nữ thường mắc sai lầm là cố giữ tóc họ theo phong cách có từ thời họ hấp dẫn nhất. Họ níu giữ rất lâu sau cả khi nó đã không còn hợp nữa, tất cả chỉ vì họ sợ một lần cắt thay đổi quá nhiều. Điều này có vẻ đúng với Veronica. Hoặc cũng có thể chỉ vì nàng chẳng quan tâm.

“Thế nào?” nàng nói.

“Thế nào?” tôi nhắc lại.

“Anh xin gặp mà.”

“Tôi xin?”

“Ý anh là anh không xin gặp?”

"Nếu cô nói là tôi xin, thì chắc là tôi phải xin rồi.”

“Ờ, thế là có hay là không?’ nàng hỏi, dợm bước đứng lên, đúng, nôn nóng.

Tôi chẳng hề phản ứng, một cách đầy chủ ý. Tôi không gợi ý nàng ngồi xuống, cũng không tự mình đứng dậy. Nàng có thể đi nếu muốn - và nàng hẳn sẽ làm vậy, thế nên cố giữ lại cũng chẳng để làm gì. Nàng nhìn chằm chằm xuống nước. Nàng có ngấn ở bên cổ - tôi có nhớ ra chúng hay không? Mỗi ngấn, bây giờ, có một lớp lông măng mọc dài ra, và ánh sáng làm nổi các sợi lông tơ lên.

Rất được đấy nhỉ, không có tâm sự, không có lịch sư, không có hoài niệm. Vào luôn việc.

“Cô sẽ cho tôi giữ nhật ký của Adrian chứ?”

“Tôi không thể,” nàng đáp, không nhìn tôi.

“Sao lại không?”

“Tôi đốt rồi.”

Đầu tiên là ăn trộm, rồi lại còn thiêu hủy, tôi nghĩ, trong cơn giận trào lên. Nhưng tôi tự bảo tôi hãy cứ đối xử với nàng như với một công ty bảo hiểm. Thế là, theo lối trung tính tối đa, tôi chỉ hỏi:

“Vì lý do gì?”

Má nàng giật giật, nhưng tôi không thể nói được đó là cười hay là nhăn nhó.

“Không ai nên đọc nhật ký của người khác hết.”

“Mẹ cô hẳn là đã đọc rồi. Và cả cô nữa, để quyết định nên gửi cho tôi trang nào.” Không trả lời. Thử một cách khác vậy. “Nhân tiện, cái câu đó tiếp tục thế nào? Cô biết cái câu: ‘Thế thì, ví dụ, nếu Tony...’ chứ?”

Một cái nhún vai và một nét cau mày. “Không ai nên đọc nhật ký của người khác hết,” nàng nhắc lại. “Nhưng anh có thể đọc cái này nếu anh muốn.”

Nàng lấy từ túi áo mưa ra một bao thư, đưa cho tôi, quay người bước đi.

Khi về đến nhà, tôi kiểm tra các email đã gửi đi và, tất nhiên, tôi chưa bao giờ xin gặp cả. Ờ thì, dù sao cũng không phải trong bấy nhiêu lời ấy.

Tôi vẫn nhớ phản ứng ban đầu của tôi khi nhìn thấy câu “tiền vấy-máu” trên màn hình. Tôi tự nhủ: Nhưng làm gì có ai bị chết. Tôi đã nghĩ tới Veronica và tôi. Tôi chưa tính tới Adrian.

Còn một điều khác tôi nhận ra: có một lỗi, hoặc một điểm bất thường về thống kê, trong lý thuyết của Margaret về những phụ nữ rõ ràng và bí ẩn; hoặc đúng hơn là, trong phần thứ hai của lý thuyết, về đàn ông chỉ bị hoặc loại này hoặc loại kia hút hồn. Tôi đã bị hút hồn bởi cả Veronica lẫn Margaret.

༺༒༻

Tôi nhớ một thời cuối tuổi niên thiếu khi đầu óc tôi tự chuốc cho say bằng những hình ảnh của lòng ham phiêu lưu. Sẽ như thế đấy khi mình lớn. Mình sẽ đến nơi ấy, sẽ làm việc này, sẽ khám phá cái kia, sẽ yêu cô ấy, và rồi cô ấy, và cô ấy và cả cô ấy. Tôi sẽ sống như người ta đang và đã sống trong tiểu thuyết. Cuốn nào thì tôi không chắc, chỉ có say mê và nguy hiểm, ngây ngất và tuyệt vọng (và rồi lại ngây ngất thêm) là sẽ đồng hành. Tuy nhiên... ai đã nói cái điều về “sự nhỏ nhoi của cuộc sống mà nghệ thuật đã phóng đại lên” ấy nhỉ? Đã có một lúc vào cuối độ tuổi đôi mươi tôi từng công nhận rằng lòng ham phiêu lưu của tôi cạn từ lâu rồi. Tôi sẽ chẳng bao giờ làm những trò mà tuổi thiếu niên từng mơ. Bù lại, tôi cắt cỏ vườn tôi, tôi đi nghỉ, tôi sống đời tôi.

Nhưng thời gian... làm thế nào mà thời gian lại lôi ta từ trên mây xuống đất để rồi làm ta choáng váng. Ta nghĩ ta chín chắn trong khi ta chỉ an toàn mà thôi. Ta tưởng tượng ta sống trách nhiệm nhưng ta chỉ hèn nhát mà thôi. Cái ta gọi là duy thực hóa ra chỉ là một cách tránh né mọi chuyện chứ không phải là đối diện chúng. Thời gian... hãy cho ta đủ thời gian và rồi đến những quyết định vững chắc nhất của ta cũng sẽ có vẻ lắc lư, những niềm xác tín của ta rồi sẽ có vẻ như thoảng qua bất chợt.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên bản: “Every Day is Sunday”.

[2] Tên riêng, phân biệt với họ.

[3] The thing speaks for itself: Sự thật tự nói về mình, sự thật quá rõ ràng.

[4] Ám chỉ thư trả lời của Veronica “Blood money?” (“Tiền vấy máu?”) – vừa có nghĩa tiền bồi thường người nhà nạn nhân bị giết, vừa có nghĩa tiền thuê sát thủ.

[5] Wobby Bridge: biệt danh của cây cầu Thiên niên Kỷ (Milenium Bridge).

[6] Nhà trưng bày nghệ thuật hiện đại của tập đoàn Tate.

i kết thúc Nguyên tác: The Sense of an ending ebook©MotSAch TVE-4u©Picicrazy, Hanhdb —★— Nhà xuất bản Văn học - Nhã Nam © 04/2013
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.