Nghe Mùi Kết Thúc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một
Một

❊ ❊ ❊

Tôi nhớ, chẳng theo thứ tự cụ thể nào:

- nơi mặt trong cổ tay sáng ánh lên;

- hơi nước bốc lên từ bồn rửa bát ướt khi cái chảo rán được kỳ quặc quẳng vào theo một lối rất nhộn;

- những giọt tinh dịch xoáy tròn quanh lỗ thoát nước, trước khi bị xả trôi xuống dọc theo một tòa nhà cao;

- một dòng sông chảy ngược vô lý, sóng và bọt sông được rọi sáng dưới dăm sáu ngọn đèn pin săn lùng;

- một dòng sông khác, rộng và xám xịt, hướng dòng chảy bị gió cuồng kích động mặt nước che đi mất;

- nước bồn tắm lạnh ngắt từ lâu sau cánh cửa khóa trái.

Thứ cuối cùng này tôi không thực sự nhìn thấy, nhưng những gì bạn cuối cùng nhớ được có phải bao giờ cũng chính là những gì bạn thấy tận mắt đâu.

༺༒༻

Ta sống trong thời gian - nó ôm ấp và nhào nặn ta – thế mà tôi chưa bao giờ thấy mình hiểu rõ lắm về nó. Mà tôi cũng không viện dẫn tới những lý thuyết về chuyện nó cong hay lặp lại, hoặc tồn tại ở nơi khác trong các phiên bản song song. Không, tôi đang nói tới thứ thời gian bình thường, hằng ngày, mà đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay vẫn cho ta thấy nó đang đều đặn chạy: tích tắc, túc tắc. Còn có thứ gì khác đáng tin hơn cái kim giây? Mà nó chỉ cần đến khoái cảm hay đau đớn nhỏ nhất để dạy ta về tính dẻo của thời gian thôi. Có những thứ cảm xúc đẩy nó nhanh lên, lại có những cảm xúc khác kìm nó chậm lại: cũng có lúc dường như nó biến mất - cho tới điểm tận cùng khi nó thực sự mất tích, không bao giờ trở lại. Tôi không thích thú thời đi học của mình là mấy, và cũng chẳng thấy nhớ nhung gì. Nhưng trường là nơi mọi chuyện bắt đầu, nên tôi cần trở lại một chút vài sự việc đã trở thành giai thoại, trở lại với vài ký ức nhập nhòe đã bị thời gian bóp méo thành điều xác tín. Nếu không còn chắc chắn về các sự kiện thực được nữa, thì ít ra tôi có thể thành thực với những cảm tưởng mà các sự kiện đó bỏ lại. Tôi chỉ có thể làm được đến thế là cùng.

༺༒༻

Chúng tôi có ba thằng, và giờ có thêm cậu ấy là đứa thứ tư. Tụi tôi chẳng kỳ vọng thêm thắt ai vào con số chặt chẽ này: hội nhóm với cặp đôi là chuyện xưa rồi, và cũng đã đến lúc chúng tôi bắt đầu mơ tưởng tới việc thoát khỏi trường bước vào đời. Tên cậu ấy là Adrian Finn, một cậu trai cao, bẽn lẽn, lúc đầu thường nhìn xuống và khư khư giữ lấy suy tư cho riêng mình. Một hai ngày đầu, chúng tôi ít chú ý đến cậu: ở trường chúng tôi đến lễ đón học sinh mới còn không có, nữa là cái chuyện ngược lại, trò dọa nạt phủ đầu của học sinh cũ. Chúng tôi chỉ ghi nhận sự hiện diện của cậu ấy và đợi.

Mức độ quan tâm của các thầy dành cho cậu ấy lớn hơn của chúng tôi. Họ phải xem xét trí thông minh và ý thức kỷ luật của cậu ấy, liệu xem trước kia cậu ấy đã được dạy dỗ tốt đến mức nào, xem cậu ấy có thể hiện “tố chất học thuật” hay không. Vào buổi sáng thứ ba kỳ học mùa thu năm ấy, chúng tôi có giờ lịch sử với thầy Joe Hunt Già nhã nhặn nhưng giễu cợt trong bộ com lê đầy đủ lệ bộ, một ông thầy có hệ thống kiểm soát dựa vào việc giữ sao cho sự buồn tẻ chỉ ở mức vừa đủ chứ không đến độ quá đà.

“Chắc các trò còn nhớ được rằng tôi đã yêu cầu các trò đọc trước về triều đại Henry VIII.” Colin, Alex và tôi liếc nhau, hy vọng câu hỏi sẽ không bị bất chợt quăng ra, như con mồi của ngư ông, để rồi đậu lên đầu một trong mấy thằng tôi. “Ai muốn trình bày về đặc điểm của thời kỳ này?” Ông tự rút ra kết luận từ những ánh mắt tránh né của chúng tôi. “Nào, có lẽ là Marshall chăng. Cậu sẽ mô tả triều đại Henry VIII như thế nào?”

Nỗi nhẹ nhõm của chúng tôi còn lớn hơn cả sự tò mò, bởi Marshall là cái thằng chẳng-biết-gì mà lại thận trọng, nó còn chẳng có khả năng bịa đặt của kẻ dốt nát thực thụ. Nó tìm kiếm tính phức tạp có khả năng ẩn ngầm đâu đó trong câu hỏi trước khi định vị câu trả lời.

“Có sự bất ổn, thưa thầy.”

Bùng lên một cơn cười nhịn không nổi; đến thầy Hunt cũng suýt mỉm cười.

“Có thể nào trò vui lòng phát triển chi tiết hơn chăng?”

Marshall chậm rãi gật đầu đồng ý, nghĩ lâu hơn một chút, và quyết định rằng đây không phải lúc để mà thận trọng. “Trò muốn nói là có một sự bất ổn kinh khủng, thưa thầy.”

“Thế còn Finn. Trò có rành thời kỳ này không?”

Cu cậu mới vào ngồi ở hàng ghế phía trên, bên trái tôi. Cậu ta chẳng có phản ứng rõ rệt nào trước những lời ngốc nghếch của Marshall.

“Trò sợ là không hẳn, thưa thầy. Nhưng có một dòng tư tưởng mà theo đó điều ta có thể thực sự nói về bất cứ sự kiện lịch sử nào - thậm chí cả việc Thế chiến thứ nhất bùng nổ, ví dụ thế - là ‘có chuyện gì đó đã xảy ra’.”

“Thật thế sao? Chà, điều này có thể làm tôi thất nghiệp ấy chứ, phải không nhỉ?” Sau lác đác những tiếng cười nịnh nọt, Joe Hunt Già tha thứ cho cái sự lười nhác sau kỳ nghỉ hè của lũ chúng tôi và nhồi cho một bài ù tai về vị vua đồ tể đa thê [1] .

Lúc nghỉ giữa giờ, tôi đi tìm Finn. “Tôi là Tony Webster.” Cậu ấy nhìn tôi nghi ngại. “Đối đáp với thầy Hunt khá lắm.” Cậu ấy như thể không hiểu tôi đang có ý nói tới chuyện gì. “Về chuyện gì đó xảy ra ấy mà.”

“Ờ. Đúng. Tôi khá là thất vọng vì ông ấy chẳng muốn tiếp tục.”

Tôi không ngờ là cậu ấy lại nói vậy.

Có một chi tiết khác tôi còn nhớ: ba thằng tụi tôi, như một biểu tượng gắn bó, thường hay đeo đồng hồ quay mặt vào cổ tay trong. Chỉ là một trò màu mè điệu bộ, tất nhiên, nhưng có thể còn có cái gì đó hơn thế nữa. Trò ấy tạo cảm giác như thời gian là thứ gì đó thật riêng tư, thậm chí còn là một thứ bí mật. Chúng tôi những tưởng Adrian sẽ lưu ý cử chỉ ấy và hùa theo; nhưng cậu ấy đã không làm vậy.

༺༒༻

Cùng hôm ấy nhưng muộn hơn - hay cũng có khi là một hôm khác - chúng tôi có liền hai tiết tiếng Anh của thầy Phil Dixon, một thầy trẻ mới xong cao học Cambridge về. Thầy này thích văn học đương đại, và sẵn sàng tung ra những đánh đố bất ngờ. “ ‘Sinh, Giao cấu, và Tử’ - T. S. Eliot nói tất cả chỉ có vậy thôi. Có bình luận nào không?” Từng có lần thầy so sánh một nhân vật của Shakespeare với Kirk Douglas trong phim Spartacus. Và tôi nhớ khi chúng tôi tranh luận về thơ của Ted Hughes [2] , thầy ngả đầu rất chi học giả và thì thầm, “Tất nhiên, chúng ta đều băn khoăn không biết điều gì sẽ xảy ra khi ông ta cạn mất vốn muông thú nhỉ.” Đôi khi, thầy gọi chúng tôi là “Quý ông”. Chúng tôi quý thầy, rất tự nhiên như thế.

Chiều hôm ấy, thầy đưa ra một bài thơ không đề, không ngày sáng tác lẫn tên tác giả, cho chúng tôi mười phút để ngâm cứu, rồi bắt chúng tôi trả lời.

“Chúng ta có thể bắt đầu với trò được chứ, Finn? Thật đơn giản nhé, theo trò bài thơ này nói về điều gì?”

Adrian từ bàn cậu nhìn lên. “Eros và Thanatos, thưa thầy.”

“Hừm. Tiếp đi.”

“Tình dục và cái chết,” Finn tiếp tục, như thể không chỉ có bọn đầu đất ngồi hàng ghế sau cùng mới chẳng hiểu tiếng Hy Lạp gì sất. “Hoặc tình yêu và cái chết, nếu thầy thích thế hơn. Nguyên lý tình dục, trong mọi trường hợp, đều trở nên mâu thuẫn với nguyên lý chết chóc. Và những gì phát sinh từ mâu thuẫn đó. Thưa thầy.”

Hắn trông tôi bị choáng hơn mức Dixon cho là lành mạnh.

“Webster, trò giải thích rõ thêm xem nào.”

“Trò chỉ vừa nghĩ đó là bài thơ về một con chim cú, thưa thầy.”

Đây là một trong những điểm khác biệt giữa ba thằng tôi và người bạn mới. Chúng tôi về cơ bản chỉ làm trò tườu, trừ những lúc nghiêm túc. Cậu ấy về cơ bản là nghiêm túc, trừ những lúc làm trò tườu. Phải mất một thời gian chúng tôi mới nhận rõ được như vậy.

༺༒༻

Adrian tự cho phép mình nhập bọn với chúng tôi, mà chẳng hề công nhận rằng đó là điều cậu ấy mong mỏi. Có lẽ cậu ấy không mong mỏi thật. Mà cũng chẳng cố chỉnh đốn quan điểm cho phù hợp với chúng tôi. Trong những buổi cầu kinh sáng có thể nghe thấy cậu ấy tham gia hát đáp [3] trong khi Alex và tôi thì chỉ mấp máy các từ, còn Colin thì thích chiêu trò châm biếm kiểu nhiệt tình gầm gừ của một kẻ cuồng tín giả hiệu. Ba chúng tôi coi các môn thể thao ở trường là một thứ kế hoạch phát-xít-ngầm nhằm đàn áp nhu cầu tình dục của chúng tôi; Adrian thì lại tham gia câu lạc bộ đấu kiếm và chơi nhảy cao. Chúng tôi đàn gảy tai trâu đến mức thù địch; cậu ấy lại mang kèn clarinet đến trường. Khi Colin kể tội gia đình, tôi giễu cợt hệ thống chính trị, và Alex đưa ra những nhận định chống đối rất triết học về bản chất thực tại được lĩnh hội, Adrian lại không bày tỏ ý kiến của cậu ấy - dù sao thì lúc đầu cũng là như vậy. Cậu ấy gây ấn tượng là có tin vào nhiều điều. Chúng tôi cũng làm vậy - có điều bọn tôi chỉ muốn tin vào những thứ của riêng mình hơn là những điều người ta quyết định cho mình. Thế nên cái đó chúng tôi coi như là thứ chủ nghĩa hoài nghi thanh lọc của chúng tôi.

Ngôi trường ở trung tâm London, và ngày ngày chúng tôi tới đó từ các khu ngoại ô khác nhau, đi qua hết hệ thống kiểm tra này sang hệ thống kiểm tra khác. Hồi ấy, mọi thứ đều giản dị hơn: ít tiền hơn, không có các thiết bị điện tử, thời trang ít chi phối, không bạn gái. Không có điều gì làm chúng tôi sao lãng khỏi nghĩa vụ nhân bản và hiếu thuận nhưng ấy là học hành, vượt qua các kỳ thi, dùng những bằng cấp đó để tìm việc, rồi thì xây dựng một lối sống đủ đầy thân thiện hơn lối sống của bố mẹ, họ sẽ đồng tình, mặc dù vẫn âm thầm so sánh nó với đời họ trước kia, từng đơn giản hơn, và cũng vì vậy mà cao cấp hơn. Dĩ nhiên chưa từng có điều nào trong số đó được nói ra: chủ nghĩa Darwin xã hội quý phái của tầng lớp trung lưu Anh quốc vẫn cứ là bất thành văn như vậy.

“Phụ huynh ấy, là một lũ chết tiệt khốn nạn,” Colin than thở vào một bữa trưa thứ Hai đầu tuần. “Lúc còn nhỏ thì mày nghĩ là họ cũng hay ho, rồi mày nhận ra họ cũng chỉ như...”

“Henry VIII, hả Col?” Adrian gợi ý. chúng tôi đã bắt đầu quen dần với cái kiểu châm biếm của cậu ấy; cũng như việc nó có thể quay trở lại phản thùng chính chúng tôi. Khi trêu chọc, hoặc lôi chúng tôi nghiêm túc trở lại, cậu ấy sẽ gọi tôi là Anthony, Alex sẽ thành Alexander, và Colin không thể kéo dài thì bị ngắn lại thành Col.

“Chẳng phiền nếu bố tao có đến nửa tá bà vợ.”

“Và giàu đến không thể tin nổi.”

“Và được Holbein [4] vẽ chân dung.”

“Và bảo Giáo hoàng cút xéo.”

“Có lý do đặc biệt nào để gọi họ là CTKN không?” Alex hỏi Golin.

“Tao muốn tụi mình đi tới khu vui chơi giải trí. Thế mà họ nói họ sẽ làm vườn cả mấy ngày cuối tuần.”

Đúng: chết tiệt khốn nạn. Trừ Adrian, kẻ luôn nghe các bản tuyên án của chúng tôi, nhưng chẳng mấy khi tham gia. Cho dù, đối với chúng tôi, cậu ấy dường như có nhiều lý do hơn cả để làm thế. Mẹ Adrian bỏ đi đã nhiều năm rồi, để cho bố cậu ấy phải xoay xở với cậu ấy và đứa em gái. Chuyện này xảy ra rất lâu trước khi cụm từ “gia đình khuyết” [5] được sử dụng; hồi ấy chỉ là một “tổ ấm tan vỡ”, và Adrian là đứa duy nhất chúng tôi quen có gia đình như vậy. Điều đó lẽ ra đã phải khiến cậu ấy chất chứa một khối giận dữ sâu thẳm, thế nhưng cách nào đó chuyện lại không như vậy; cậu ấy nói mình yêu mẹ và kính trọng bố. Ba thằng chúng tôi lén điều tra hoàn cảnh của cậu ấy và đi đến một giả thiết: chìa khóa cho một cuộc sống gia đình hạnh phúc, ấy là không có gia đình nào cả - hoặc ít nhất là, không phải một gia đình sống chung bên nhau. Phân tích xong xuôi rồi, chúng tôi còn ghen tị với Adrian hơn nữa.

༺༒༻

Hồi ấy, chúng tôi tưởng tượng mình đang bị giam cầm trong một thứ trại giam, chờ cho tới lúc được thả vào đời. Và khi cái thời khắc đó đến, đời chúng tôi - và ngay bản thân thời gian nữa - sẽ tăng tốc. Làm thế nào chúng tôi có thể biết được rằng đời chúng tôi dù sao thì cũng đã bắt đầu mất rồi, rằng có lợi thế đã đạt được, có tốn thương từng nhức nhối? Hơn nữa, việc phóng thích chúng tôi chẳng qua cũng chỉ là để thả vào một trại giam lớn hơn, mà những đường ranh giới có thể lúc đầu không dễ nhận thấy.

Trong khi ấy, chúng tôi đói-sách, đói-tình dục, ủng hộ chế độ trọng hiền tài, theo chủ nghĩa vô chính phủ. Với chúng tôi mọi hệ thống chính trị và xã hội đều là sa đọa, thậm chí chúng tôi còn khước từ xem xét bất kỳ phương án nào ngoài trạng thái hỗn độn khoái lạc chủ nghĩa. Tuy nhiên, Adrian đã thúc đẩy chúng tôi tin vào việc áp dụng tư duy trong cuộc sống, vào quan điểm nguyên tắc phải dẫn lối cho hành động. Trước kia, Alex được xem như triết gia trong mấy đứa tôi. Cậu ấy đọc những thứ hai thằng kia không đọc, và ví dụ như có thể bỗng dưng tuyên bố, “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.” [6] Colin và tôi sẽ im lặng cân nhắc ý này một lúc, rồi cười ngoác, rồi tiếp tục nói chuyện. Nhưng giờ đây việc có thêm Adrian đã đẩy Alex bật ra khỏi vị trí của cậu ấy - hoặc đúng hơn là cho chúng tôi một lựa chọn triết gia khác. Nếu Alex đã đọc Russell và Wittgenstein, thì Adrian đã đọc Camus và Nietzsche. Tôi đã đọc George Orwell và Aldous Huxley; Colin đã đọc Baudelaire và Dostoevsky. Đây mới chỉ là một cách biếm họa hời hợt.

Vâng, tất nhiên chúng tôi ra vẻ ta đây - thì tuổi trẻ còn để làm gì khác nữa đâu? Chúng tôi dùng những thuật ngữ như “Thế giới quan [7]” với “Giông tố và thôi thúc [8] ”, thích thú nói “Điều đó là hiển nhiên tự thân một cách triết học”, và quả quyết với nhau rằng nhiệm vụ đầu tiên của trí tưởng tượng là có xu hướng vi phạm chuẩn mực. Bố mẹ chúng tôi nhìn mọi thứ rất khác, họ vẽ nên hình ảnh con cái như những kẻ ngây thơ vô tội bỗng dưng bị rơi vào vòng ảnh hưởng độc địa. Vậy là mẹ của Colin quy kết tôi là “thiên thần bóng tôi” của cậu ấy; bố tôi trách Alex khi bất gặp tôi đang đọc Tuyên ngôn Cộng sản; Colin bị bố mẹ Alex chỉ mặt khi tóm được cậu ấy với một cuốn tiểu thuyết trinh thám thuộc dòng máu lạnh của Mỹ. Và nhiều nữa. Cũng như vậy với chuyện tình dục. Bố mẹ chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể làm suy đồi lẫn nhau để rồi trở thành những gì họ sợ nhất: một thằng thủ dâm hết thuốc chữa, một gã đồng tính quyến rũ, một kẻ dám đãng làm gái ễnh bụng rất vô tư. Về phần chúng tôi họ khiếp hãi cái kiểu gần gũi của tình bạn niên thiếu, kiểu cư xử như thú săn mồi của những người lạ trên các chuyến tàu, hay là quyến rũ nhầm loại gái. Những nỗi lo sợ của họ thật là vượt quá xa kinh nghiệm của chúng tôi.

༺༒༻

Một chiều, thầy Joe Hunt Già, như thể tiếp tục vụ thách thức của Adrian lúc trước, yêu cầu chúng tôi tranh luận về nguyên nhân Thế chiến thứ nhất: đặc biệt là trách nhiệm của kẻ ám sát ngài Đại Công tước Áo Franz Ferdinand trong việc khởi đầu mọi chuyện. Hồi đó, đa số chúng tôi theo thuyết tuyệt đối. Chúng tôi thích Có đấu với Không, Ca ngợi đấu với Trách cứ, Có tội đấu với Vô tội - hoặc, ở trường hợp Marshall, Bất ổn đấu với Bất ổn Kinh khủng. Chúng tôi thích trò chơi kết thúc có thắng có thua, không được hòa. Và với một số người, tay súng Serbia đó, tên y là gì tôi quên mất từ lâu rồi, có một trăm phần trăm trách nhiệm cá nhân: nếu bỏ hắn ra khỏi phương trình, cuộc chiến hẳn đã chẳng bao giờ xảy ra. Những người khác ủng hộ quan điểm một trăm phần trăm trách nhiệm nằm ở các lực lượng lịch sử, những lực lượng đã đặt các dân tộc đối nghịch nhau vào một cuộc đụng độ không thể tránh khỏi: “Châu Âu khi ấy là một thùng thuốc súng chỉ chực nổ tung”, vân vân và vân vân. Những đứa đậm chất vô chính phủ hơn, như Colin, biện luận rằng mọi thứ tùy thuộc vào may rủi, rằng thế giới tồn tại trong một trạng thái hỗn độn liên tu bất tận, và chỉ có bản năng kể chuyện sơ khai nào đó, bản thân nó, không nghi ngờ gì, chính là một thứ sống sót từ tôn giáo, áp đặt ý nghĩa lên những gì có thể đã hoặc không xảy ra, theo lối hồi cố.

Thầy Hunt gật một cái nhanh trước cố gắng ngầm phá hoại mọi thứ của Colin, như thể sự thiếu lòng tin theo kiểu chết chóc là một thứ phụ phẩm tự nhiên của tuổi niên thiếu, là cái gì đó đã không còn hợp với tuổi nó nữa rồi. Giáo viên và phụ huynh thường nhắc nhở chúng tôi đến phát bực cả lên rằng họ cũng từng có một thời tuổi trẻ, và vì vậy mà có thể nói với đầy đủ thẩm quyền. Đó chẳng qua cũng chỉ là một giai đoạn, họ nhấn mạnh. Chúng bay sẽ lớn lên thoát khỏi đó: cuộc sống sẽ dạy chúng bay đời thực và thái độ sống thực tế. Nhưng hồi ấy chúng tôi từ chối thừa nhận rằng họ từng giống chúng tôi bất cứ điều gì, và chúng tôi biết rằng mình nắm bắt được: cuộc sống - và sự thật, và luân lý, và nghệ thuật - còn rõ ràng hơn rất nhiều các vị già đời đã chịu thỏa hiệp kia.

“Finn, trò vẫn yên lặng. Chính trò là người làm cho quả bóng bắt đầu lăn. Trò, như hồi ấy, là tay súng Serbia của chúng ta.” Thầy Hunt dừng cho lời bóng gió của mình kịp gây tác dụng. “Trò có vui lòng cho chúng ta thụ hưởng từ những suy tư của trò được chăng?”

“Trò không biết, thưa thầy.”

“Trò không biết điều gì?”

“Vâng thì, theo một nghĩa, trò không thể biết điều trò không biết. Điều đó là hiển nhiên tự thân một cách triết học.” Cậu ấy tạo ra một trong những nhịp nghỉ nhỏ ấy, trong đó chúng tôi lần nữa lại tự vấn liệu cậu ấy có dấn thân vào một trò giễu cợt tinh vi hay vào một sự nghiêm túc cao độ vượt trên tất cả chúng tôi chăng. “Thực ra, chẳng phải cả vụ việc gán trách nhiệm này chính là một kiểu trốn tránh hay sao? Chúng ta muốn đổ tội cho một cá nhân để mọi người khác đều được vô tội. Hoặc chúng ta đổ tội cho một quá trình lịch sử như một cách giải tội cho các cá nhân. Hoặc tất cả đều hỗn loạn vô chính phủ, và hậu quả vẫn sẽ y như vậy. Trò thấy có vẻ như có - đã có - một chuỗi trách nhiệm cá nhân, mà tất cả đều cần thiết, nhưng chẳng mấy chốc trở thành một chuỗi nơi ai cũng có thể dễ dàng đổ lỗi cho mọi người khác. Nhưng tất nhiên, mong muốn quy trách nhiệm của trò có thể là một suy nghĩ riêng theo kiểu của trò hơn là một phân tích công bằng về điều đã xảy ra. Đó là một trong những vấn đề trọng tâm của lịch sử, phải không, thưa thầy? Câu hỏi về diễn giải chủ quan đối đầu với diễn giải khách quan, sự thật là chúng ta cần phải biết lịch sử của nhà sử học thì mới hiểu được cái phiên bản đang được đặt trước mặt ta kia.”

Có một khoảng lặng. Mà không, cậu ấy không hề làm trò tườu, không một chút nào.

Thầy Joe Hunt Già nhìn xuống đồng hồ đeo tay và mỉm cười. “Finn, năm năm nữa tôi về hưu. Và tôi sẽ rất vui lòng giới thiệu nếu trò muốn tiếp quản." Và thầy cũng chẳng hề đùa.

༺༒༻

Một sáng tập trung toàn trường, thầy hiệu trưởng, với cái giọng ảm đạm vẫn được để dành cho các vụ đuổi học và các trận thể thao thua thảm, đã thông báo rằng thầy mang tin buồn, ấy là Robson lớp Khoa học khối sáu đã qua đời cuối tuần qua. Trên nền rì rầm những tiếng thì thào hoang mang, thầy bảo với chúng tôi rằng Robson đã bị lìa cành khi đương độ tuổi hoa, rằng cái chết của cậu là một mất mát đối với cả trường, và rằng tất cả chúng tôi sẽ dự tượng trưng đám tang của câu ta. Tức là thầy nói mọi chuyện, trừ chuyện chúng tôi muốn biết: như thế nào, vì sao, và có phải hóa ra đó là một vụ án mạng không, do kẻ nào.

“Eros và Thanatos,” Adrian bình luận trước khi giờ học đầu tiên trong ngày bắt đầu. “Thanatos lại thắng lần nữa.”

“Robson không hẳn là nguyên liệu Eros-và- Thanatos,” Alex nói với cậu ấy. Colin và tôi gật đầu đồng tình. Chúng tôi biết bởi cậu ấy từng học cùng lớp với chúng tôi vài năm: một cậu chàng vững vàng, không giàu trí tưởng tượng, thiếu quan tâm tới nghệ thuật đến mức trầm trọng, kẻ vẫn song hành mà không làm ai mếch lòng bao giờ. Bây giờ cậu ấy lại làm mếch lòng chúng tôi bằng cách tự làm mình nổi danh nhờ cái chết trẻ. Bông hoa tuổi trẻ, thực ra là: cậu Robson mà tụi tôi quen đã thành loài rau cỏ mất rồi.

Chẳng thấy nhắc đến bệnh tật, tai nạn xe đạp hay vụ nổ ga nào, và vài ngày sau đó tin đồn (hay chính là Brown lớp Toán khối sáu) đã cung cấp điều các nhà cầm quyền không thể, hoặc không muốn cung cấp. Robson làm bạn gái chửa, treo cổ trên phòng áp mái, hai ngày sau mới được tìm thấy.

“Tao chẳng bao giờ nghĩ là nó lại biết cách tự treo cổ.”

“Nó học lớp Khoa học sáu rồi mà.”

“Nhưng mày phải biết buộc loại nút trượt đặc biệt cơ.”

“Đấy chỉ là trong phim thôi. Và trong các vụ xử tử thật nữa. Mày có thể làm thế với một cái nút bình thường. Chỉ tốn thêm chút thời gian để chết ngạt thôi.”

“Chúng mày nghĩ bạn gái nó trông thế nào?”

Chúng tôi cân nhắc các khả năng đã biết: gái đồng trinh đức hạnh (nay đã thành cựu- đồng trinh), gái bán hàng khêu gợi, phụ nữ hơn tuổi có kinh nghiệm, điếm nhiễm bệnh phong tình. Chúng tôi bàn luận chuyện này cho tới khi Adrian chỉnh hướng mối quan tâm của cả bọn.

“Camus nói rằng tự tử là vấn đề triết học đích thực duy nhất.”

“Ngoài đạo đức về chính trị và mỹ học và bản chất của thực tại và tất cả các thứ khác.” Có vị gắt trong câu phản thùng của Alex.

“Đó là điều duy nhất đúng. Thứ nền tảng, mọi cái khác đều phải phụ thuộc vào.”

Sau một phân tích dài về vụ tự tử của Robson, chúng tôi kết luận rằng chỉ có thể coi nó mang tính triết học trong nghĩa số học của thuật ngữ ấy thôi: cậu ta, đang sắp sửa gây ra vụ tăng thêm một người vào dân số nhân loại, đã quyết định nghĩa vụ đạo đức của mình là giữ cho các con số trên hành tinh bất biến. Nhưng ở mọi khía cạnh khác chúng tôi phán xét rằng Robson đã để chúng tôi - và sự suy nghĩ nghiêm túc - bị xuống tinh thần. Hành động của cậu ấy thật phi triết học, hư hỏng và phi nghệ thuật: nói theo một cách khác, là sai quấy. Về phần thư tuyệt mệnh của cậu ta, theo như tin đồn (lại là Brown), nó viết: “Mẹ ơi, con xin lỗi”, chúng tôi cảm thấy nó đã bỏ qua một cơ hội giáo dục người khác một cách mạnh mẽ.

༺༒༻

Có lẽ chúng tôi đã không khằn khò với Robson đến vậy nếu không phải vì một sự kiện cốt yếu, bất di bất dịch: Robson ở cùng độ tuổi chúng tôi, theo thuật ngữ của chúng tôi thì cậu ta không thuộc loại ngoại lệ, thế mà thậm chí cậu ta không những âm mưu tìm bạn gái, không chối cãi được, mà còn ngủ với người ta. Chết tiệt khốn nạn! Vì sao lại là cậu ta mà không phải chúng tôi? Vì sao không thằng nào trong chúng tôi được kinh qua dù là thất bại trong công cuộc kiếm bạn gái? Ít nhất nỗi nhục đó cũng bồi bổ thêm cho sự khôn ngoan chung của chúng tôi, cho chúng tôi điều gì đó để mà khoác lác theo lối tiêu cực (“Thực ra thì, ‘thằng ngu đầy mụn mủ quyến rũ như giày cao su’ chính xác là lời đứa con gái nói”). Nhờ đọc các tác phẩm văn học vĩ đại mà chúng tôi biết rằng Tình Yêu là phải dây dưa với Chịu Đựng, và nên lấy làm hạnh phúc vì được rèn luyện trong Chịu Đựng nếu có một lời hứa hẹn ẩn ngầm, có lẽ thậm chí là hợp lý, rằng Tình Yêu hẳn là đang tới.

Đây là một trong những nỗi sợ khác của chúng tôi: Cuộc Sống hóa ra sẽ chẳng hề giống như trong Văn Chương. Hãy nhìn bố mẹ chúng tôi xem - họ có phải là cái thứ trong Văn Chương không? Cùng lắm là họ thiết tha được như người đứng nhìn và kẻ bàng quan, một phần của tấm phông sân khấu xã hội trên đó những điều có thực, đúng và quan trọng diễn ra. Như thế nào cơ? Tất cả mọi điều Văn Chương vẫn nói: tình yêu, tình dục, đạo đức, tìm bạn, hạnh phúc, chịu đựng, phản bội, ngoại tình, thiện và ác, người hùng và kẻ bất lương, tội lỗi và vô tội, tham vọng, quyền lực, công lý, cách mạng, chiến tranh, cha và con trai, mẹ và con gái, cá nhân chống lại xã hội, thành công và thất bại, án mạng, tự tử, chết chóc, Chúa. Và những con chim cú. Tất nhiên, còn có những loại văn chương khác nữa - lý thuyết, tư quy chiếu, tự truyện sướt mướt, nhưng đấy chỉ là thủ dâm không xuất tinh thôi. Văn chương thực thụ nói lên sự thật về mặt tâm lý, cảm xúc và xã hội và được bày tỏ bằng hành động và suy nghĩ của các nhân vật chính; tiểu thuyết nói về nhân vật phát triển qua thời gian. Dù sao thì đấy là những gì thầy Phil Dixon nói với chúng tôi. Và kẻ duy nhất - ngoài Robson - mà cuộc đời cho đến giờ có chứa đựng điều gì đáng viết thành tiểu thuyết một chút chính là Adrian.

“Vì sao mẹ mày bỏ bố mày?”

“Tao không biết.”

“Mẹ mày có tay nào khác không?”

“Bố mày bị cắm sừng à?”

“Bố mày có bồ không?”

“Tao không biết. Họ nói là khi nào lớn hơn tao sẽ hiểu.”

“Họ lúc nào mà chẳng hứa thế. Giải thích bây giờ thì có được không, tao toàn nói thế đấy.” Ngoại trừ việc tôi chưa từng nói thế bao giờ. Và nhà tôi, theo như tôi có thể kể được, chẳng hề có bí ẩn quái gì, trong nỗi xấu hổ và thất vọng của tôi.

“Có thể mẹ mày có tình nhân trẻ ấy nhỉ.”

“Làm sao tao biết được. Chúng tao chẳng bao giờ gặp ở chỗ bà. Bà ấy toàn lên London thôi.”

Chuyện này thật vô vọng. Trong một cuốn tiểu thuyết, Adrian sẽ chẳng chấp nhận những thứ như người ta sắp đặt cho cậu. Có một hoàn cảnh xứng đáng viết tiểu thuyết để làm gì nếu nhân vật chính chẳng cư xử như phải cư xử trong một quyển sách? Đáng lẽ Adrian phải rình rập, hoặc tiết kiệm tiền túi và thuê thám tử tư; có lẽ cả bốn chúng tôi phải lên đường Điều tra để Khám phá ra Sự thật. Hay là như thế chẳng mấy như văn chương mà lại quá ư là giống câu chuyện của bọn con nít?

༺༒༻

Trong buổi học lịch sử cuối năm, thầy Joe Hunt Già, người đã dẫn dắt lũ trò lờ phờ của thầy qua các đời Tudor và Stuart, các đời Victoria và Edward, qua thời Hưng thịnh của Đế chế và ngày Suy vong Tiếp nối của nó, đề nghị chúng tôi nhìn lại tất cả những thế kỷ ấy và thử rút ra kết luận.

“Chúng ta có thể bắt đầu, chắc vậy, với một câu hỏi có vẻ rất đơn giản, Lịch sử là gì? Trò có ý kiến gì không, Webster?”

“Lịch sử là những lời dối trá của kẻ chiến thắng,” tôi trả lời, có phần quá vội.

“Đúng, tôi đã khá sợ là trò sẽ nói vậy. Ừ thì, miễn sao trò nhớ được rằng đó cũng là những điều tự hoang tưởng của kẻ chiến bại. Simson thì sao?”

Colin được chuẩn bị khá hơn tôi. “Lịch sử là một chiếc sandwich hành sống, thưa thầy.”

“Tại sao lại thế?”

“Nó chỉ lặp đi lặp lại thôi, thưa thầy. Nó ợ. Chúng ta vừa được thấy nó hết lần này đến lần khác suốt cả năm học. Cùng một câu chuyện cũ, cùng một dao động cũ giữa bạo quyền và nổi dậy, chiến tranh và hòa bình, thịnh vượng và nghèo đói.”

“Hơi nhiều để một cái sandwich chứa nổi, trò có thấy thế không?”

Chúng tôi cười quá mức so với yêu cầu, một cơn kích động cuối-học-kỳ.

“Finn?”

‘“Lịch sử là tính chắc chắn được sản sinh vào thời điểm những khiếm khuyết của trí nhớ gặp những thiếu sót của tư liệu.”

“Là như thế, thật vậy sao? Trò tìm thấy cái đó ở đâu thế?”

“Lagrange, thưa thầy. Patrick Lagrange [9] . Ông này người Pháp.”

“Vậy thì lẽ ra ta phải đoán được. Cậu có vui lòng cho chúng ta một ví dụ chăng?”

“Vụ tự tử của Robson, thưa thầy.”

Có một tiếng lấy hơi rõ rệt và cái quay đầu hấp tấp nào đó. Nhưng thầy Hunt, cũng như các thầy giáo khác, dành cho Adrian một vị thế đặc biệt. Ai khác trong chúng tôi mà thử khiêu khích thì sẽ bị coi rẻ như một thứ chủ nghĩa hoài nghi ngu ngốc nông nổi - thêm một điều đã không còn hợp với chúng tôi nữa. Những khiêu khích của Adrian một cách nào đó được đón chào như những cuộc kiếm tìm chân lý đầy vụng về.

“Chuyện đó liên quan gì tới vấn đề này?”

“Đó là một sự kiện lịch sử, thưa thầy, thứ yếu thôi. Nhưng mới xảy ra. Vì thế nó phải được dễ dàng hiểu như là lịch sử. Chúng ta biết rằng cậu ấy đã chết, chúng ta biết rằng cậu ấy có bạn gái, chúng ta biết rằng cô ấy đang có thai - hoặc từng có thai. Chúng ta còn có gì nữa? Một mảnh tài liệu đơn nhất, thư tuyệt mệnh viết “Mẹ ơi, con xin lỗi” - ít nhất theo Brown thì là như vậy. Lá thư ấy có còn không? Hay đã bị hủy? Robson còn có động cơ hay lý do nào khác ngoài những điều đã rõ ràng không? Tâm trạng cậu ấy khi đó thế nào? Ta có thể chắc được đó là con cậu ấy không? Chúng ta không thể biết, thưa thầy, mà chuyện mới chỉ xảy ra thôi. Thế thì làm sao ai đó có thể viết câu chuyện về Robson sau khoảng thời gian năm mươi năm, khi cha mẹ cậu ấy đã chết và bạn gái cậu ấy đã biến mất và đằng nào thì cũng không muốn nhớ tới cậu ấy nữa? Thầy nhìn ra vấn đề chứ ạ?”

Chúng tôi nhìn thầy Hunt, tự hỏi liệu lần này Adrian có đi quá xa không. Riêng cái từ “có thai” dường như vẫn còn lơ lửng như bụi phấn. Còn về phần gợi ý táo bạo về một ông bố khác, về Robson Cậu học trò bị cắm sừng... sau một lúc, thầy giáo trả lời.

“Tôi hiểu vấn đề, Finn. Nhưng tôi nghĩ trò đánh giá thấp lịch sử. Và vì vậy cả sử gia nữa. Để tiện cho lập luận, chúng ta hãy cứ cho rằng trò Robson đáng thương đại diện cho mối quan tâm của lịch sử. Các sử gia luôn phải đối mặt với việc thiếu bằng chứng trực tiếp cho mọi chuyện. Điều này họ quen rồi. Và đừng quên rằng trong trường hợp hiện tại này hẳn phải có một cuộc điều tra, và vì thế sẽ có một biên bản điều tra về vụ chết bất thường này. Robson cũng có thể đã có nhật ký, hoặc các bức thư viết tay, những cuộc điện thoại đã gọi mà nội dung còn nhớ được. Bố mẹ trò ấy có thể đã trả lời những bức thư chia buồn họ nhận được. Và năm mươi năm nữa, cứ tính với tuổi thọ trung bình hiện nay, cũng phải có đến vài bạn học của trò ấy vẫn còn có thể sẵn sàng trả lời phỏng vấn. Vấn đề có lẽ đỡ nản lòng hơn là trò tưởng.”

“Nhưng không gì có thể bù lại được việc thiếu vắng lời chứng của chính Robson, thưa thầy.”

“Theo cách nào đó thì không. Thế nhưng các nhà sử học cũng cần phải xử lý cách giải thích riêng của một người tham gia sự kiện với một thái độ hoài nghi nhất định. Thường thì lời được kể với con mắt nhìn về tương lai là điều đáng ngờ nhất.”

“Nếu thầy nói vậy, thưa thầy.”

“Và các trạng thái tinh thần thường xuyên được phỏng đoán từ các hành vi. Tên bạo chúa hiếm khi gửi một bức thư viết tay yêu cầu trừ khử kẻ thù.”

“Nêu thầy nói vậy, thưa thầy.”

“Ừ, tôi nói thế.”

Đây có phải là những lời chính xác của họ không? Gần như chắc chắn là không. Vậy nhưng, đó vẫn là ký ức khá khẩm nhất của tôi về cuộc trao đổi giữa họ.

༺༒༻

Chúng tôi học xong, hứa với nhau cả đời sẽ là bạn, và mỗi đứa rẽ về một ngả. Adrian, chẳng làm ai ngạc nhiên, trúng học bổng tại Cambridge. Tôi theo học lịch sử ở Eiristol, Colin đi Sussex, còn Alex làm cho bố nó. Chúng tôi viết thư cho nhau, như mọi người - kể cả những người trẻ tuổi - vẫn làm ngày ấy. Nhưng chúng tôi ít kinh nghiệm về hình thức thể hiện, vì thế một đường vòng vo ngượng ngập thường rào trước bất cứ cơn vội vã nào về nội dung. Có một dạo, bắt đầu một bức thư bằng câu, “Nhân dịp nhận được lá thơ ngày 17 cùng tháng” có vẻ khá là dí dỏm.

Chúng tôi thề thốt gặp nhau đủ cả ba thằng mỗi lần rời trường đại học về nhà vào kỳ nghỉ; nhưng không phải khi nào cũng được vậy. Và việc viết cho nhau có vẻ như đã xác định rõ được động lực trong quan hệ của chúng tôi. Nhóm ba người ban đầu viết ít thường xuyên và ít nhiệt thành cho nhau hơn là cho Adrian. Chúng tôi muốn giành được sự chú ý, sự tán thành của cậu ấy; chúng tôi tranh thủ cậu ấy, và kể cho cậu ấy những chuyện tốt đẹp nhất của mình trước đã; chúng tôi mỗi thằng đều nghĩ mình là người - và xứng đáng được - thân thiết nhất với cậu ấy. Và mặc dù đứa nào cũng tự kết thêm bạn mới, chúng tôi theo cách nào đó vẫn nghĩ rằng Adrian thì không: ba thằng tôi vẫn là bạn thân gần gũi nhất với cậu ấy, rằng cậu ấy phụ thuộc vào chúng tôi. Chẳng phải chuyện này chỉ nhằm che đậy sự thật rằng chúng tôi phụ thuộc vào cậu ấy hay sao?

Và cuộc sống nắm quyền kiểm soát, và thời gian tăng tốc. Nói cách khác, tôi kiếm được một cô bạn gái. Tất nhiên, tôi cũng đã gặp một vài cô trước đó, nhưng hoặc là kiểu tự tin của họ làm tôi cảm thấy vụng về, hoặc cái bối rối của họ chất chồng thêm lên cái bối rối của tôi. Hẳn là có một thứ mật mã nam tính bí mật nào đó, được truyền từ những cậu chàng hai tư tuổi hào hoa cho những thằng mười tám bẽn lẽn rụt rè, cái mà, một khi đã làm chủ được, nó khiến bạn có thể “cưa” bọn con gái và, ở hoàn cảnh nào đó, “sướng” với bọn nó. Nhưng tôi chưa bao giờ học hoặc hiểu được cái đó, và chắc giờ vẫn vậy. “Kỹ thuật” của tôi cốt yếu ở chỗ không có kỹ thuật nào; những người khác, đúng là không nghi ngờ gì, lại coi đấy là vụng. Thậm chí con đường mòn được coi là đơn giản như thích-uống-gì-không-muốn-nhảy-chứ tôi-đưa-em-về-nhé-uống-cà-phê-được-chứ? cũng đòi hỏi trò đóng vai dũng cảm mà tôi chịu không thể nào làm được. Tôi chỉ lượn lờ và cô nói ra những câu thú vị mà trong bụng nghĩ sẽ làm lộn tùng phèo mọi thứ. Tôi nhớ mình đang buồn rầu ngồi uống ở một buổi tiệc tùng hồi học kỳ đầu tiên thì một cô đi ngang qua hỏi ra chiều thông cảm xem tôi có sao không, tôi thấy mình trả lời, “Tôi nghĩ tôi là một gã loạn tâm thần hưng-trầm cảm,” bởi vì trong cái lúc ấy nó nghe cá tính hơn là “Tôi đang hơi buồn một chút.” Khi cô ta đáp lại, “Đừng có thêm một gã như thế này nữa chứ,” rồi quay phắt đi, tôi nhận ra rằng, thay vì biến mình thành nổi bật trong đám đông hân hoan, tôi lại đi thử một câu tán tỉnh dở nhất trên đời.

Bạn gái tôi tên là Veronica Mary Elizabeth Ford, thông tin này (ý tôi là các tên đệm của cô ấy) làm tôi mất đến hai tháng mới moi được.

Nàng đang học chuyên ngành Tây Ban Nha, nàng thích thơ, và bố là một công chức. Cao khoảng một mét năm bảy với bắp chân chắc lẳn, tóc nâu buông tới vai, mắt màu xanh-ghi sau cặp kính gọng xanh dương, và có nụ cười thoáng qua kín đáo. Tôi nghĩ là nàng dễ thương, ừ thì, tôi hẳn phải thấy bất cứ cô nào không xấu hổ chạy mất đều dễ thương rồi. Tôi không cố bảo nàng là tôi buồn bởi vì tôi không buồn. Nàng có một cái máy nghe đĩa nhãn Black Box còn tôi chỉ có máy nghe nhãn Dansette, và nàng có gu âm nhạc tốt hơn tôi: nàng ghét Dvorák và Tchaikovsky mà tôi rất thích, và có vài đĩa than thánh ca và các bài đoản ca lãng mạn Đức. Nàng nhìn qua bộ sưu tập đĩa nhạc của tôi với một nụ cười đôi lúc chập chờn nhưng thường xuyên hơn là nét nhíu mày tư lự. Việc tôi đã giấu cả Khúc dạo đầu 1812 và nhạc phim Un homme et une femme [10] chẳng giúp tôi được tha. Đã có quá nhiều thứ đáng ngờ trước cả khi nàng với tới ngăn nhạc pop đồ sộ: Elvis, The Beatles, The Rolling Stones (không phải ai cũng có khả năng không ưa họ, chắc chắn vậy), nhưng còn cả The Hollies, The Animals, The Moody Bines và hộp đựng bộ đĩa đôi của Donovan gọi là (ở ngăn dưới) một món quà của một bông hoa dành tặng khu vườn [11] .

“Cậu thích cái này à?” nàng hỏi, giọng trung tính.

“Để nhảy thì hay mà,” tôi đáp, hơi có chút phòng thủ.

“Cậu nhảy nhạc này à? Ở đây? Trong phòng cậu? Một mình?”

“Không, không hẳn thế.” Mặc dù tất nhiên là đúng vậy.

“Mình không nhảy,” nàng nói, một phần như nhà nhân chủng học, một phần như kẻ ra luật cho bất cứ loại quan hệ nào chúng tôi có thể có. Giá mà chúng tôi có hẹn hò nhau.

Tôi nghĩ là phải giải thích ý nghĩa cái khái niệm “hẹn hò” hồi ấy, bởi thời gian đã làm nó thay đổi rồi. Mới đây tôi nói chuyện với một bà bạn có cô con gái vừa về bên bà trong tâm trạng sầu não. Con bé mới học kỳ hai đại học, đã ngủ với một thằng cu, thằng này - công khai, và theo như con bé biết - đồng thời đã ngủ với vài đứa con gái khác. Điều thằng bé đó làm là cho thử vai tất cả trước khi quyết định sẽ “hẹn hò” với đứa nào. Con bé tức giận, không phải vì cái cách thức ấy - mặc dù nó cũng lờ mờ nhận thấy là bất công - mà bởi rốt cuộc nó không phải đứa được chọn.

Chuyện này làm tôi cảm thấy mình như người sống sót từ một nền văn hóa cổ kính, đã bị bỏ lại, nơi các thành viên vẫn còn dùng củ cải khắc hình như một hình thức trao đổi tiền tệ. Trở lại “hồi xưa của tôi” - dù rằng hồi ấy tôi chẳng tuyên bố chủ quyền gì đối với nó, đến giờ còn ít hơn ấy chứ - chuyện thường diễn ra thế này: bạn gặp một cô, bạn bị cô ấy cuốn hút, bạn cố tỏ ra dễ mến, bạn mời cô ấy tham gia vài sự kiện xã hội - ví dụ như đi quán - rồi mời cô ấy đi riêng, rồi lại mời lần nữa, và sau một nụ hôn tạm biệt có độ nồng nhiệt tùy nghi, bạn coi như, một cách chính thức, “hẹn hò” với cô ấy rồi. Chỉ sau khi đã cam kết ở mức bán-công khai thì bạn mới khám phá được chính sách tình dục của cô ấy thế nào. Và đôi khi như thế có nghĩa là cơ thể cô ấy sẽ được canh gác chặt chẽ không kém gì khu vực cấm đánh bắt cá.

Veronica không khác mấy những đứa con gái khác cùng thời. Họ thoải mái bên bạn về mặt cơ thể, khoác tay bạn nơi công cộng, hôn bạn đến rực cả màu má, và có thể cố ý áp ngực vào bạn chừng nào còn có tầm năm lớp vai áo giữa da thịt và da thịt. Họ có thể hoàn toàn biết điều gì đang diễn ra trong quần bạn mà chẳng cần phải nhắc tới nó bao giờ. Và tất cả chỉ có thế thôi, trong một khoảng thời gian khá dài. Một số cô cho đi xa hơn thế: bạn nghe thấy những cặp thủ dâm cho nhau, một số khác cho phép “làm tình đầy đủ”, theo cách người ta gọi. Bạn không thể đánh giá đúng được sức nặng của sự “đầy đủ” ấy trừ phi đã có quá nhiều cái thứ nửa-vời kia. Và rồi, mối quan hệ tiếp tục, cũng có những thỏa hiệp ngấm ngầm, một số dựa trên những cơn thèm khát bất chợt, một số khác là hứa hẹn và cam kết - tùy vào cái mà thi sĩ [12] ấy gọi là “có nhẫn thì mới làm tình”.

Các thế hệ sau có thể có khuynh hướng đổ những chuyện ấy cho tôn giáo hoặc sự giả đò cả thẹn. Nhưng các cô gái - hoặc phụ nữ - mà với họ tôi từng có được cái có thể gọi là dưới mức-tình dục (vâng, không phải chỉ có mỗi Veronica) thấy đều thoải mái với cơ thể mình. Và, nếu có chuẩn mực nào đạt được, thì là với cơ thể của tôi. Nhân đây, tôi không định có ý rằng dưới mức-tình dục thì không kích thích, hay là đến nỗi gây bất mãn, mặc dù hiển nhiên là như vậy. Ngoài ra, những cô này đã cho phép đi xa hơn mẹ họ nhiều rồi, và tôi đã tiến xa hơn bố tôi rất nhiều. Ít nhất, tôi mạo muội cho là vậy. Và có là thế nào thì cũng tốt hơn chẳng có gì. Chỉ mỗi tội, cùng lúc ấy, Colin và Alex lại thu xếp có được các cô bạn gái chẳng hề có chính sách khu-vực-cấm gì cả - hoặc là những lời bóng gió của các cậu ấy ngụ ý như vậy. Thế nhưng, có ai chịu nói ra toàn bộ sự thật về tình dục đâu. Và về mặt này, chẳng có gì thay đổi hết.

Tôi không hẳn là còn trinh, nếu giả dụ bạn có tự hỏi. Từ phổ thông lên đại học tôi có một vài giai đoạn học hỏi mà những cơn kích thích còn lớn hơn cả dấu ấn chúng để lại. Vì thế nên những gì xảy ra sau đó làm tôi cảm thấy còn kỳ cục hơn nhiều: bạn càng thích cô nào, và càng hợp với cô nào, thì cơ hội làm tình lại càng ít, dường như là vậy. Trừ phi, tất nhiên - và đây là một ý nghĩ mãi sau này tôi mới nảy ra rạch ròi được - một cái gì đó trong tôi bị lôi cuốn bởi những người phụ nữ từ chối tôi. Nhưng có lẽ nào một bản năng ngang chướng như thế lại tồn tại?

“Sao lại không?” bạn sẽ hỏi, khi một bàn tay ngăn trở túm lấy cổ tay bạn.

“Có cảm giác không ổn thế nào ấy.”

Đây là một đoạn trao đổi nghe được trước vô số lần ngọn lửa ga hổn hển, đối âm với vô số lần tiếng ấm đun nước kêu inh. Và chẳng có gì cãi lại được những “cảm giác”, bởi phụ nữ là chuyên gia trong lĩnh vực này, đàn ông chỉ là lính mới tò te thô thiển thôi. Vậy nên “Có cảm giác không ổn thế nào ấy” có sức mạnh thuyết phục và sự không thể bác bỏ lớn hơn nhiều so với bất cứ tiếng gọi tuân theo giáo lý nhà thờ nào hoặc lời răn nào của mẹ. Bạn có thể nói, Nhưng đấy chẳng phải là những năm sáu mươi rồi sao? Vâng, nhưng chỉ đối với một số người, chỉ ở những phần nào đó trên đất nước này mà thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Henry VIII (1491-1547) được coi là một trong những vị vua lôi cuốn nhất từng ngự trên ngai vàng nước Anh, có công tách Giáo hội Anh quốc ra khỏi Giáo hội Công giáo La Mã. Ông có sáu đời vợ, hai trong số đó bị chặt đầu, một người qua đời sau khi sinh hai hoàng tử, hai người bị hủy hôn.

[2] Ted Hughes (1930-1998): nhà thơ người Anh hay dùng muông thú và thiên nhiên hoang dã làm ẩn dụ trong tác phẩm.

[3] Nguyên bản dùng từ “response”: trong các buổi cầu kinh là những lời nói hoặc hát của giáo đoàn (hoặc người dự lễ) đáp lại lời mục sư hoặc người điều khiển ca đoàn theo nghi thức tế lễ.

[4] Hans Holbein: họa sĩ người Đức thời Phục hưng, rất nổi tiếng với tranh chân dung.

[5] Nguyên bản dùng cụm từ “single-parent family”, nghĩa là gia đình chỉ có bố hoặc mẹ.

[6] Câu nói của triết gia Ludwig Willgenstein được tác giả viết hơi khác đi “Whereof we cannot speak, thereof must we remain silent.” (Điều gì ta không thể nói, ta phải giữ im lặng).

[7] Tức là phong trào “Sturm und Drang” ở Đức hồi cuối thế kỷ 18.

[8] Một sử gia không có thật.

[9] Một người đàn ông và một người đàn bà: phim của đạo diễn Pháp Lelouch, ra mắt năm 1966, nhạc phim của Francis Lai. Phim đoạt nhiều giải thưởng lớn, trong đó có giải Cành cọ vàng tại liên hoan phim Cannes năm 1966 và giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất năm 1967.

[10] A Gift from a Flower to a Garden : album thứ năm của ca sĩ-nhạc sĩ Donovan người Scotland.

[11] Một câu trong bài thơ “Annus Mirabilis” của Philip Larkin: “a wrangle for a ring” (ý nói làm tình chỉ được chấp nhận sau đám cưới, cho đến đầu những năm 1960)..

i kết thúc Nguyên tác: The Sense of an ending ebook©MotSAch TVE-4u©Picicrazy, Hanhdb —★— Nhà xuất bản Văn học - Nhã Nam © 04/2013
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Julian Patrick Barnes

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.