Người Thứ Mười

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Thứ Hai

❊ ❊ ❊

PHẦN THỨ HAI

6

Trên con đường dẫn đến Saint-Gian-De-Brinak có một người tự xưng là Gian-Lui Sarlo đang rảo bước, xung quanh vẫn như xưa, đúng như trong trí nhớ của lão, nhưng lại cũng không hoàn toàn như xưa, đối với lão và ngôi nhà, thời gian đã trôi qua với những tốc độ khác nhau. Lão đã ra đi cách đây bốn năm, từ ngày đó thời gian với lão như đã ngưng trệ còn ở đây thì nó vẫn phóng về phía trước. Ngôi nhà đã đứng như thế hàng trăm năm mà chưa hề cũ, năm tháng lần lượt lướt qua như những cái bóng lăn theo bức tường gạch. Nhờ sự chăm sóc cẩn thận và những biện pháp phục chế kịp thời, ngôi nhà, giống như một người phụ nữ trung niên biết giữ gìn nhan sách, trông vẫn còn tốt lắm, nhưng sau bốn năm qua, thiếu sự chăm sóc mọi thứ đã hỏng bét hết cảm nhiều nếp nhăn sâu hiện ra sau lớp kem thoa cũ kĩ.

Lớp sỏi rải đường đã bị cỏ che kín, một cái cây đổ chắn ngang và tuy cành của nó đã bị chặt ra làm củi, thân cây ấy vẫn nằm yên tại chỗ, điều đó chứng tỏ rằng từ lâu không có cái ô tô nào đi trên đoạn đường này. Người đàn ông râu rậm thuộc từng bước đi : nhưng lại thận trọng quan sát mỗi khi tới một chỗ ngoặt, như là mới tới đây lần đầu. Lão được sinh ra tại đây, lúc còn thơ ấu lão từng chơi trốn tìm trong những bụi cây, và sau đó, khi đã là một trang thanh niên, lão từng nhấm nháp hương vị cay đắng ngọt ngào của mối tình đầu cũng dưới những rặng cây này. Còn mươi bước chân nữa thì đến cái cổng, sau cổng là một con đường nhỏ , hai bên có những bụi nguyệt quế tốt tươi dẫn đến vườn rau.

Nhưng cánh cổng đã biến mất, chỉ còn lại hai cái cột chỏng trơ, như dấu hiệu khẳng định rằng trí nhớ đã không lừa dối lão. Ngay cả những cái đinh giữ bản lề cũng đã được cận thận tháo ra để dùng vào việc khác cần thiết hơn. Không đủ can đảm tiến thẳng lại ngôi nhà, lão rẽ khỏi con đường, như tên sát nhân trở về nơi đã gây án mạng, hay như một tình nhân lang thang gần nơi chia tay vĩnh viễn với người yêu cũ, lão đi loanh quanh theo những vòng tròn cắt nhau mà không dám đi theo đường thẳng mau chóng tới đích để chẳng còn chỗ mà đi nữa.

Dãy nhà kính rõ ràng đã không được sử dụng mấy năm nay rồi, thế mà lão vẫn nhớ đã yêu cầu ông già làm vờn không được để vườn hoang, còn rau thì đem bán ở chợ Brinak. Chắc là ông gì đó đã chết và trong làng không còn ai thay thế. Làng bây giờ hết người rồi cũng nên. Qua dãy nhà kính lão nhìn thấy từ cái nóc nhọn đỏ quạch, quái gở của nhà thờ bên kia sông : như một dấu chấm than giữa trời, chấm hết một mạnh để mà đứng ở đây, giữa những luống rau bị xéo nát, bỏ hoang này thì không thể nào đọc được.

Nhưng lão bỗng nhận ra là không phải cả khu vườn bị bỏ hoang : một góc được rẫy sạch cỏ, có một ít khoai tây, bắp cải, và rau bina đang lên. Mảnh vườn này rất nhỏ, có lẽ không lớn hơn tấm thảm, như những khoảng đất vẫn dành cho con trẻ trông mong. Lão vấn nhớ chỗ ấy trước đây thường trồng : dâu tây, mấy khóm phúc bồn tử, vài khóm mâm xôi và gia vị. Một đoạn tường đá đã bị đổ; có thể người ta đã phá đoạn tường cũ này để làm đường đi đến mảnh vườn rau nhỏ đang lên xinh kia, mà chắc là họ phá đã lâu, những tảng đá lăn lóc đã bị dây tầm ma bao phủ gần kín. Đứng trên khoảng tường đổ, phóng tầm mắt về phía trước, lão ngắm nhìn rất lâu đoạn dốc thoai thoải, cỏ xanh rờn, dẫn xuống bờ sông và cánh rừng du nhỏ: đấy là nơi duy nhất mà thời gian không đủ sức biến cải. Trước đây, có lúc lão từng cho rằng ngôi nhà là cái mà người ta có quyền sở hữu. Nhưng cái mà người ta có thì luôn luôn bị những thay đổi đáng nguyền rủa tác động. Chỉ có những gì người ta không có quyền chiếm dụng là bất biến và hân hoan chào đón lão. Phong cảnh này không thuộc về lão, nó chẳng thuộc về ai cả. Đấy mới chính là ngôi nhà của lão. Thế là xong. Chẳng còn việc gì để làm nữa, đã đến lúc ra đi. Nhưng nếu bỏ đi thì lão chỉ còn mỗi một việc là ra sông tự tử. Tiền đã hết, chỉ cần một tuần tự do vừa qua đã đủ để khẳng định rằng một người như lão thì việc làm chỉ là một giấc mơ bất thành.

Buổi sáng hôm đó, vào khoảng bảy giờ ( cái đồng hồ quả quít của ông thị trưởng chỉ bảy giờ nằm, còn cái đồng hồ báo thức lại chỉ bảy giờ kém hai phút) bọn Đức đến lôi Vuazen, Lenoir và Tháng Giêng đi. Lúc đó lão cùng ngồi với các bạn tù sát bức tường chờ đợi súng nổ, đấy là những giây phút nhục nhã nhất trong đời lão. Bây giờ lão đã thành một người nghèo túng, bình dân như tất cả mọi người và họ cũng đối xử với lão như với những người thuộc giai cấp của mình, cũng lấy những tiêu chuẩn để đánh giá nha áp dụng với lão. Nhưng lúc này, khi đang bước những bước chậm chạp, não nề về phía ngôi nhà, cảm giác xấu hổ lại trỗi dậy, sống động và sâu sắc. Cực chẳng đã, lão phải tự an ủi rằng anh chàng Tháng Giêng tội nghiệp đã ở thế giới bên kia sẽ còn có ích cho lão.

Lão tiến lại gần ngôi nhà, các ô cửa sổ, chằm chằm nhìn lão, như mắt các bạn tù đang dựa vào tường vây. Chỉ có một lần duy nhất lão ngước lên nhìn và lập tức nhận ra hết : khung cửa không sơn trong phòng làm việc của lão một ô cửa kính đã bị vỡ, mái hiên sập vài chỗ. Rồi lão lập tức gục đầu xuống mắt dõi theo từng bước chân. Có thể trong nhà vẫn không có ai thì sao ? Nhưng sau khi đã đi vòng quanh biên, vừa chậm chạp bước lên bậc thềm dẫn đến cửa chính lão vừa nhận ra những dấu hiệu nhỏ nhoi chứng tỏ ở đây có người, giống như trên mảnh vườn lão vừa đi qua. Bậc lên xuống sạch không chê vào đâu được. Lão giơ tay kéo chuông và bằng hành động ấy lão đã thừa nhận sự thất bại của mình : có Chúa chứng giám, lão đã cố gắng không trở lại đây, nhưng hóa ra không được.

7

Những lá cờ chiến thắng cùng với thời gian đã hạ màn khi Gian-Lui Sarlo trở về Pari. Thân ủng chưa đến nỗi nhưng đế thì đã mỏng như tờ giấy, bộ đồng phục luật sư màu đen của lão cũng mang đầy vết tích của nhiều tháng tù tội. Ở trong trại lão thường tự hào là đã luôn luôn giữ gìn, không tỏ ra bê tha thì bây giờ ánh mặt trời tàn nhẫn đang rọi thẳng vào y phục của lão, giống như những bà ve chai đồng nát sờ nắn đồ cũ giữa chợ trời, ánh nắng chỉ rõ chỗ này bị sờn, chỗ này không có cúc, và nói chung trông chẳng ra làm sao. Chỉ có một điều an ủi là chính Pari bây giờ trông cũng chẳng ra làm sao.

Trong túi Sarlo có một bàn cạo râu và cục xà bông nhỏ gói trong tờ nhật báo và ba trăm Phơrăng, lão không có một loại giấy tờ tùy thân nào, ngoại trừ tờ trích lục hồ sơ trại giai mà tên sĩ quan Đức đã ghi rất rõ ràng những thông tin sai lệch do chính lão đọc cho một năm về trước, kể cả họ lão : Sarlo. Nhưng ở Pháp thời ấy, tờ giấy này giá trị hơn bất kì chứng chỉ nào khác, bởi vì những người đã hợp tác với bọn Đức không đào đâu ra tập hồ sơ cá nhân có ảnh chụp thẳng mặt và chụp nghiêng được. Khuôn mặt, dĩ nhiên đã thay thôi, bây giờ Sarlo để râu, nhưng nhìn gần thì vẫn đúng là khuôn mặt ấy. Người Đức nắm rất vững khoa lưu trữ : có thể thay ảnh trong hồ sơ, bằng cách phẫu thuật có thể tạo ra hay xóa đi những vết sẹo trên mặt, nhưng kích thước hộp sọ thì khó thay đổi lắm vì thế chúng ghi rất kỹ kết quả đo đạc vào trong “lí lịch” .

Mặc dù vậy tại Pari không có tên tay sai của Đức nào cảm thấy bất an hơn Sarlo vì lão đã có một quá khứ nhục nhã. Làm sao có thể giải thích cho mọi người của nả của lão đã biến đi đâu ? mà có thể người ta đã biết hết rồi cũng nên. Lão nhận ra những khuôn mặt hơi quen trên những ngã tư, những cái lưng có vẻ như của người quen chạy biến vào ô tô buýt. Lão phải sang phần thành phố nơi lão chưa từng đặt chân đến bao giờ. Phần thành phố trước đây lão thường qua lại thực ra rất hẹp, gói gọn trong vòng tròn bao gồm phòng ở, tòa nhà, nhà hát ôpera, ga Tây và vài ba khách sạn : những địa điểm này, trong quan niệm của lão, được nối với nhau bằng những đường thẳng ngắn nhất. Chỉ một bước sang bên đã là một vùng hoàn toàn xa lạ : dưới chân lão là những đường tàu điện ngầm đan chéo như một khu rừng, rồi vùng Komba và những khu phố ngoại ô trải dài như hoang mạc, ở đây có thể ẩn náu, có thể lẩn vào đám đông dễ dàng.

Nhưng đâu phải đơn giản là lẩn tránh, mà cần phải tìm được việc làm. Vừa uống cạn chén rượu đầu tiên sau khi ra khỏi tù lão lập tức cảm thấy đủ sức bắt đầu mọi chuyện từ con số không, lão sẽ lại tiết kiệm và sau cùng lão mơ thấy đã chuộc được ngôi nhà thừa tự ở Saint-Gian-De-Brinak, lão đang sung sướng bước vào các phòng. Nhưng vừa lúc ấy lão bỗng trông thấy gương mặt mình phản chiếu trong chiếc bình đựng nước. Từ trong bình một kẻ bại trận, nhu nhược đang nhìn lão. Thật là kì quặc, lão nghĩ, chỉ một biểu hiện nhu nhược đủ sức tạo nên dấu ấn sâu sắc, đủ sức tạo ra trên mặt lão những vết nhăn sâu hoắm hệt như mặt những kẻ cầu bơ cầu bất lâu ngày. Nhưng lão còn đủ khách quan để công nhận rằng đây không phải là một trường hợp riêng rẽ đặc biệt, tất cả cuộc sống vừa qua của lão đã tạo ra sự nhu nhược này. Giống như người họa sĩ, để vẽ một bức tranh đâu phải chỉ cần hai ba giờ đứng cạnh giá vẽ mà còn cần tất cả những tháng năm đúc rút kinh nghiệm trước khi người đó cầm cây cọ lên tay, hành động bạc nhược cũng cần có một quá khứ như thế. Lão đã là một luật sư thành đạt, nhưng đấy hoàn toàn do gặp may, của cải thừa kế nhiều gấp mấy lần số lão tự kiếm được, nếu phải tự lực cánh sinh, lão nghĩ, thì lão sẽ không bao giờ đạt được những thành công như thế.

Mặc dù vậy, lão đã thử tìm việc làm. Đầu tiên lão xin làm giáo viên tiếng Pháp. Tuy tiếng súng chiến tranh vẫn còn vang vọng bên ngoài nước Pháp, trường Pháp ngữ của Berlis và những trường tương tự đã mở rộng hoạt động. Thay cho những người du lịch thời bình là vô số quân nhân ngoại quốc khao khát học tiếng Pháp. Một người đàn ông gầy đét, đầy vẻ tự mãn mặc chiếc áo đuôi tôm phảng phất mùi băng phiến tiếp lão.

- Đáng tiếc – Y nói – Chấm dứt câu chuyện – Giọng của ông không được chuẩn lắm.

- Không được chuẩn lắm ? – Sarlo ngạc nhiên hỏi.

- Không được chuẩn đối với chương trình của chúng tôi. Chúng tôi dạy với chất lượng rất cao. Các Giáo viên của chúng tôi phải có giọng Pari thật đúng, thật chuẩn. Thật đáng tiếc, thưa ông.

Chính y phát âm cực kì rõ ràng, mạch lạc, chắc là y vẫn thường nói chuyện với người ngoại quốc đồng thời y chỉ sử dụng những mệnh đề đơn giản, đúng như phương pháp dạy, nghe nói đòi hỏi, chốc chốc y lại liếc nhìn đôi giày nhàu nát của Sarlo. Lão bỏ đi.

Ngoại hình của người vừa tiếp lão chắc chắn đã làm lão nhớ đến Lenoir. Vừa đi ra lão đã nghĩ ngay rằng có thể có thu nhập khá nếu xin được làm nhân viên văn thư, kiến thức luật học ở đây sẽ rất phù hợp. Lão sẽ giải thích rằng đã chuẩn bị thi lấy bằng luật sư, nhưng không đủ tiền và bây giờ …

Sau khi đọc quảng cáo trên tờ “La Figaro” lão tìm đến văn phòng một hãng trên tầng bốn một cao ốc ở đại lộ Osman. Dường như người ta vừa mới thu dọn xong gian phòng này sau khi quân địch rút lui : rơm rác được vun vào một góc, bàn ghế thì như được xếp vào trong những hòm gỗ quá lâu vừa mới được dựng ra. Khi chiến cuộc vừa kết thúc người ta chưa thể nhận thức được ngay là con người cũng như thế giới xung quanh đã già đi nhiều, nhưng đồ vật như là bàn ghế hay cái mũ của phụ nữ thì lập tức cho biết đã bao thời gian vừa trôi qua.

Mọi đồ vật ở đây được làm từ những cái ống sắt hệt như buồng máy tàu thủy, nhưng là con tàu bị mắc cạn đã lâu, các ống han gỉ hết rồi. Những bộ bàn ghế này không còn mốt ngay từ năm 39, còn vào năm 40 thì chúng tạo ra cảm giác như hiện vật trưng bày trong viện bảo tàng. Một người đàn ông có tuổi, ra tiếp Sarlo. Chắc ông ta đã mua những thứ bàn ghế này ngay từ khi còn là thanh niên, chắc khi đó ông ta đã theo dõi những kiểu bàn ghế hợp thời và có ý trang hoàng văn phòng thật lịch sự, kiểu cách. Ông ta ngồi phịch xuống chiếc ghế làm bằng những cái ống thép như ngồi trong phòng đợi tàu và rầu rĩ nói :

- Tất nhiên là ông đã quên hết rồi ?

- Thưa không – Sarlo đáp – Tôi còn nhớ được kha khá.

- Thời kì đầu chúng tôi không thể trả công cao được – người đàn ông tiếp tục – nhưng sau này, khi mọi việc ổn định rồi … Sản phẩm của chúng tôi luôn luôn được ưa chuộng…

- Tôi chấp nhận mức lương thấp thời gian đầu – Sarlo bảo.

- Quan trọng nhất – Ông ta thỏa thuận – là lòng nhiệt tình. Cần vững tin vào cái mà anh đang bán. Bởi vì sản phẩm của chúng tôi đã từng giành được uy tín. Trước chiến tranh hãng của chúng tôi chỉ có chỉ số thu nhập rất cao, phải nói là tuyệt vời. Thực ra lúc ấy đúng vào mùa du lịch, những người ngoại quốc ở Pari thì lúc nào cũng sẵn. Các địa phương cũng đến đặt hàng chỗ chúng tôi. Số kiểm kê của chúng tôi đã thất lạc mất rồi không thì tôi sẽ lấy cho ông xem.

Sarlo cứ nghĩ ông ta đang vận động, lão góp cổ phần chứ không phải tiếp người đang xin làm thuê.

- Tôi hiểu – Lão bảo.

- Cần phải làm sao cho sản phẩm của chúng tôi lại trở nên nổi tiếng như xưa. Khi công chúng biết thì nhu cầu sẽ lại xuất hiện. Cuối cùng thì chất lượng sẽ quyết định.

- Vâng, đúng như thế.

- Cho nên tự ông cũng hiểu rằng – ông ta vẫn chưa thôi – Tất cả chúng ta đều phải ghé vai vào … trên cơ sở hợp tác … tương trợ anh em … cổ phần của ông sẽ được đảm bảo – ông ta huơ tay trên đống ghế bằng ống sắt – Tôi xin cam đoan với ông như vậy.

Ra khỏi phòng rồi Sarlo vẫn không hiểu người đàn ông đó vừa nói về loại sản phẩm nào, nhưng vừa bước chân xuống bậc thang đầu tiên lão đã trông thấy một cái hòm bằng gỗ thanh bên trong là một cái đèn bàn bằng sắt bọc rơm, cái đèn có hình tháp Effel cao đến một mét trông hết sức kì cục. Dây điện được luồn qua khoang thang máy, còn bóng đèn thì treo trên tầng thượng. Có thể trong thời chiến tại Pari không còn loại đèn nào khác chăng, mà cũng không loại trừ, ai mà biết được rằng đây chính là sản phẩm mà người đàn ông vừa nói đến.

Với ba trăm Phơrăng ở Pari thì chẳng thể sống được bao lâu. Sarlo còn đến một nơi nữa, nhưng ở đấy người ta lại đòi xem giấy tờ. Ông chủ không chấp nhận chứng chỉ trại giam.

- Chỉ một trăm Phơrăng là có thể mua cả xấp – Y nói, đồng thời gạt phăng những phép đo rắc rối của bọn Đức – Đo hộp sọ không phải là việc của tôi … Ông đến tòa thị chính sửa lại giấy tờ cho hợp lệ đi – Y khuyên – Ông có vẻ tháo vát đấy. Tôi sẽ đợi ông cho đến trưa mai.

Nhưng Sarlo không trở lại đấy nữa.

Một ngày rưỡi nay lão chỉ được ăn có hai cái bánh mì bé xíu. Vòng tròn đã khép : lão đã trở lại đúng chỗ bắt đầu. Dưới ánh chiều tà, lão kiệt sức tựa vào một bức tường, bên tai lão dường như vẳng lại tiếng chiếc đồng hồ quả quít trông túi áo gilê của ông thị trưởng đang đều nhịp. Lão đã đi qua biết bao đường đất, vượt biết bao trắc trở và bây giờ lão đang đứng sát bức tường ở cuối một đoạn đường lát sỏi, không còn chỗ để mà đi nữa. Lão sẽ phải chết, nhưng nếu chết thì hãy chết giữa thiên nhiên, khỏi phiền đến ai. Lão lảo đảo bước về hướng sông Xen.

Giữa lúc đó tiếng tích tắc ngừng hẳn, thay vào đó là tiếng loẹt quẹt kèm theo những tiếng lộp cộp nhỏ. Lão nghe rõ như vừa nghe thấy tiếng tích tắc của đồng hồ. Lão cho rằng cả hai đều chỉ là ảo giác. Dòng sông lấp lánh hiện ra phía cuối con đường vắng. Cảm thấy tức thở lão lại dựa vào tường, đầu gục xuống và dòng sông đang làm lão lóa mắt. Lão đứng cạnh hố tiêu công cộng. Tiếng loẹt quẹt, lộp cộp đuổi kịp lão rồi bỗng im bặt ngay sau lưng. Có chuyện gì đâu ? Tiếng tích tắc của đồng hồ cũng chấm dứt y như vậy cơ mà. Lão không quan tâm đến ảo giác.

- Piđo – có ai đó gọi.

Lão ngẩng đầu, nhìn quanh nhưng không thấy ai.

- Ông là Piđo đúng không ? – Giọng nói vẫn khẳng định.

- Ông ở đâu ? – Sarlo hỏi

- Ở đây chứ còn ở đâu nữa ! – Tiếng nói ngừng lị rồi sau lại vang lên ngay bên tai, nghe như tiếng vọng của lương tâm – Trông ông thảm hại quá. Suýt nữa thì tôi không nhận ra đấy. Có ai đến nữa không ?

- Không.

Lúc lão còn bé, trông những cánh rừng ở Brinak lão từng tin rằng bụi cây, khóm hoa, hay gốc cây đại thụ có thể phát ra tiếng người nhưng ở giữa thành phố lại quá tuổi tứ tuần rồi thì khó mà tin vào chuyện những viên đá lát đường biết nói. Lão lại hỏi :

- Ông ở đâu ? Và ngay lập tức lão nhận ra sự ngốc nghếch của mình : bên dưới bức tường chắn lộ ra một đôi chân, quần đen kẻ sọc có thể của luật sư cũng có thể là của bác sĩ hay đại biểu hội đồng và đôi giầy đã lâu không được đánh xi.

- Tôi là Kaross đây ông Piđo ạ.

- Thế à ?

- Hóa ra là như vậy đấy. Ông không hiểu tôi.

- Vâng.

- Tôi biết làm thế nào được ? Rốt cuộc chúng ta không thể bắt cuộc sống dậm chân tại chỗ đươc. Tôi đã hành động hoàn toàn chính xác và tôi đã giữ đúng cự li. Ông Piđo tội nghiệp ơi, ông hiểu quá đi chứ. Chắc chắn người ta cũng đang buộc tội ông phải không?

- Tôi thì chả nói làm gì.

- Dũng cảm lên Piđo. Đừng thoái chí. Thằng em họ tôi trước đây từng sống ở Luân Đôn, đang tìm mọi cách. Ông hiểu tôi nói về ai chứ?

- Ông nên ra khỏi chỗ đó để tôi nhìn một chút.

- Tốt hơn hết là đừng Piđo ạ. Cứ riêng rẽ may ra chúng ta còn có thể vượt qua, chứ cùng nhau ... Chuyện đó quá mạo hiểm – những cái ống quần kẻ sọc chuyển chỗ vội vã – Piđo, có ai đến không?

- Không.

- Ông Piđo ạ, tôi nhờ ông nói lại với bà Kaross đôi điều. Ông hãy bảo với bà ấy là tôi vẫn bình an, tôi đã đi về miền nam. Tôi sẽ cố gắng đi sang Thụy Sĩ và chờ một thời gian, cho tình hình yên ắng đã. Ông Piđo tội nghiệp, vài trăm Phơrăng lúc này sẽ rất có ích cho ông đúng không?

- Vâng;

- Tôi đặt trên giá ấy; Thế ông sẽ đi giúp chứ ông Piđo?

- Đi đâu?

- Đến địa chỉ cũ ấy. Ông biết rồi còn gì, tầng ba. Tôi tin rằng bà ấy chưa nói đâu. Con đĩ già ấy tự hào về bộ tóc của mình lắm đấy. Thế nhé, tạm biệt và chúc ông may mắn.

Trong hố tiểu có tiếng sột soạt, những bước chân loẹt quẹt, lộp cộp xa dần. Sarlo nhìn theo: một người đàn ông to béo, mặc bộ đồ đen đang tập tễnh bước trên đầu y, một cái mũ giống như cái trước đây lão vẫn thường đội khi đi từ phố Miromenil đến tòa án.

Trong hố tiểu, trên giá có một tập tiền xếp gọn gàng: ba trăm Phơrăng. Nói gì thì nói Kaross cũng là người phúc hậu, y đã nói cho là cho, mà còn cho nhiều hơn đã hứa nữa. Sarlo phá lên cười. Một tuần trôi qua, lão đã trở về đúng điểm xuất phát, trong túi lão lại có ba trăm Phơrăng như hôm ra khỏi trại. Y như suất cả tuần qua lão chỉ hít không khí mà sống vậy, hoặc là có một mụ phù thủy nào đó, mới nhìn qua tưởng như rất hiền từ, nhưng thực ra là gian ác, đã tặng cho lão cái ví tiền vô tận, nhưng không bao giờ được lấy quá ba trăm Phơrăng. Hay đây là ba trăm Phơrăng trong số ba trăm ngàn mà chàng Tháng Giêng đã chết đề giành cho lão.

Để còn xem đã, Sarlo nghĩ. Chia ba trăm đồng này ra cho cả một tuần để chỉ được sống lâu thêm, rách rưới thêm một tuần nữa thì nghĩa lí gì. Lúc ấy là giờ uống rượu khai vị và lần đầu tiên lão bước chân vào vùng đất quen thuộc, nơi lão biết rõ từng ngôi nhà từng ngõ phố.

Trước đó lão không ngờ Pari đã thay đổi đến thế, những đường phố mà trước đây lão chưa hề thấy có thể từ xưa vẫn vắng người nhưng ở đây bây giờ cũng rất ít khách bộ hành, vài cái xích lô chậm chạp lướt qua, mấy chiếc dù vải, che quầy hàng bạc phếch, những khuôn mặt xa lạ. Đôi khi lão cũng trông thấy vài người tuy không quen, nhưng lão nhớ là trước đây đã từng gặp trên đường đang nhấm nháp món khai vị. Những khuôn mặt đó gợi trong tâm trí lão hình ảnh một vườn hoa vô chủ, thấp thoáng đó đây vài bông hoa hiếm hoi còn sót lại giữa những đám cỏ dại.

Đằng nào hôm nay mình cũng sẽ chết, Sarlo nghĩ việc gì phải lo lắng mà ngay cả có kẻ nào đó nhận ra ta thì đã sao? Nghĩ thế lão liền đẩy cửa một quán cà phê trước đây lão thường lui tới rồi mạnh bạo bước tới góc phòng, nơi có một cái đivăng dài một đầu gắn chiếc gương khung mạ bạc, như là nơi dành cho chính lão vậy.

Chỗ đó hóa ra đã có người ngồi. Một gã lính Mĩ má phúng phính, vẻ mặt ngây thơ thô lậu trẻ con và người hầu bàn đang mỉm cười, cúi chào y, như đang phải tiếp một người khách quen thuộc và khả kính vậy. Sarlo ngồi xuống một cái bàn khác và bắt đầu để quan sát. Một cái gì đó giống như là sự phản bội trong quan hệ vợ chồng. Tay chủ khách sạn xuất hiện, trước đây y thường dừng lại bên bàn của lão, nói một đôi câu, nhưng lần này y đi ngang qua, dường như Sarlo chưa từng tồn tại, rồi đến gần bàn gã lính Mĩ, miệng mỉm cười thân mật. Nhưng lão lập tức hiểu: người lĩnh Mĩ đang lôi ra tập tiền dày cộp để thanh toán. Trước đây lão cũng đã từng có những xấp tiền là khách hàng có khả năng thanh toán. Và người ta không nhìn thấy lão chính vì lão không có tiền. Lão uống li cônhắc thứ nhất liền gọi li nữa, nhưng mà vẫn không có người đem ra. Lão phát cáu liền kêu chủ. Ông ta định tránh nhưng cuối cùng vẫn phải ra.

- Sao vậy, Giun?

Trong đôi mắt trống rỗng của lão léo lên sự bực bội. Thằng này chỉ cho phép những người thân cận nghĩa là những người có tiền gọi trống không đây, Sarlo chợt nghĩ.

- Ông không nhận ra tôi à, ông Giun?

Y tỏ vẻ bối rối, có thể giọng nói đã nhắc nhở y. Thời buổi thật là lộn xộn: một số khách hàng biến mất, số khác, trước đây lẩn tránh, nhưng sau một thời gian tù tội đã thay đổi đến không nhận ra thì nay lại xuất hiện, cũng có một số không hề lẩn tránh nhưng tốt nhất là đừng có giây với họ cho khỏi rách việc.

- Thưa ông, hình như lâu lắm rồi ông không lại.

Tên Mĩ gõ đồng xu xuống bàn lạch cạch.

- Xin lỗi – Chủ khách sạn định chạy lại phía đó.

- Không được, không được, ông không được né tránh một khách cũ như vậy ông Giun ạ. Ông hãy tưởng tượng nếu tôi không có râu – lão lấy tay che bộ râu – Chả nhẽ ông không nhận ra Savel à ông Giun?

Tên Mĩ lại lấy cạnh đồng xu gõ xuống bàn, nhưng lần này Giun không thèm quay lại mà chỉ ra hiệu cho người hầu bàn đến xem hắn đặt thêm món gì.

- Trời ơi, ông Savel, ông đã thay đổi nhiều quá. Tôi thật là ngạc nhiên... Nghe nói ông...

Rõ ràng là hắn không nhớ đã nghe nói thế nào về Savel. Thật khó mà nhớ được trong số khách hàng ai là anh hùng ; ai là tên phản bội và ai chỉ đơn giản là khách hàng.

- Bọn Đức đã bỏ tù tôi – Savel nói.

- Vâng, tôi hiểu rồi – Giun phấn chấn bảo – Pari đã trở lại gần được như xưa rồi, thưa ông Savel.

- Thực ra không hoàn toàn – Savel hất hàm hướng về chỗ lão thường ngồi.

- Vâng, tôi sẽ cố gắng để từ mai không ai ngồi đấy nữa, thưa ông Savel; Thế nhà của ông hiện nay ra sao, xin lỗi, gia đình ông ở đâu ấy nhỉ?

- Brinal. Ở đấy hiện có người ở rồi.

- Nhà cửa không bị phá chứ?

- Hình như là không. Tôi chưa về đấy; Thật ra ông Giun ạ, tôi mới về đến Pari ngày hôm qua thôi. May ra thì tôi đủ tiền thuê nhà trọ được một đêm.

- Tạm thời tôi có thể giúp ông được, thưa ông Savel.

- Không, không, tôi sẽ tự lo liệu lấy.

- Ít nhất hôm nay cũng xin cho phép được coi ngài là khách quí của tệ quán. Ông dùng thêm li nữa chứ ạ;

- Xin cảm ơn ông.

Đừng như thế, cái ví vẫn chưa hề với đi, lão nghĩ ba trăm Phơrăng vẫn là của ta.

- Ông có tin vào quỉ thần không, ông Giun?

- Có chứ ạ, thưa ông Savel.

Lão nói với một vẻ thờ ơ tuyệt vọng.

- Ông không nghe ai nói à, ông Giun, tôi đã bỏ nhà ở Brinak rồi.

- Được giá chứ ông.

Lão bỗng cảm thấy ghét cay ghét đắng tay Giun. Lão không thể hiểu, làm sao người ta lại có thể nhẫn tâm đến như thế? Chả nhẽ hắn lại không có cái gì đáng quí, dù được giá đến đâu cũng không nỡ bán đi ư. Thằng này sẵn sàng bán luôn cả tính mạng chứ chẳng chơi Savel bảo:

- Thật đáng tiếc.

- Tiếc gì cơ, thưa ông Savel.

- Sau những năm tháng đã qua mỗi chúng ta đều có cái gì đó để mà tiếc, không đúng thế sao?

- Chúng tôi chẳng có gì phải hối tiếc cả, thưa ông Savel. Tôi xin cam đoan với ông rằng chúng tôi luôn ứng xử đúng mực. Bao giờ tôi cũng phục vụ người Pháp trước tiên, tôi luôn luôn tuân thủ nguyên tắc này, tên Đức thì dù có là tướng đi chăng nữa cũng phải đợi lượt sau người Pháp.

Lão bỗng thèm khát địa vị của Giun: người ta có thể may mắn thế đấy, để giữ được nhân cách của mình chỉ cần trả một cái giá không đáng kể, chỉ cần tỏ ra thiếu lễ độ và vô tình một chút thôi. Đối với lão “đúng mức” có nghĩa là chết. Bất ngờ lão lên tiếng hỏi:

- Ông có biết từ ga Tây đã có tầu đi chưa?

- Ít lắm mà rất chậm, thiếu nhiên liệu. Ga nào cũng đỗ. Đôi khi còn đỗ suốt đêm ấy. Sáng mai may ra ông mới tới được Brinak.

- Tôi cũng không vội.

- Họ mong ông à?

- Ai?

- Những người đang tá túc tại nhà ông ấy.

- Không.

Đã lâu không được uống rượu, cônhắc nhanh chóng ngấm vào mọi ngóc ngách ngầm trong tâm trí lão. Ở đây, trong cái quán cafè quen thuộc này, nơi ngay cả những vết xước trên mặt cái gương hoặc gờ chiếc ghế cũng gần gũi, như vẫn thế đã lâu, lão bỗng khao khát đứng dậy, lao ra ga và lên tàu để về nhà, như ngày nào bất ngờ nổi hứng về quê và được đón tiếp nồng hậu tại nhà. Lão tự nhủ: thì đã sao, chết chẳng bao giờ muộn.

8

Cái chuông, cũng như nhiều đồ vật trong nhà này, đã cũ lắm. Ông thân sinh ra lão không thích điện, cho nên mặc dù có đủ tiền điện khí hóa cả thành phố, gần như suốt đời dùng cái đèn dầu hỏa (cụ còn khẳng định rằng nó rất có ích đối với mắt) và những cái chuông cổ lỗ sĩ, treo trên những thanh sắt dài. Chính lão cúng rất thích ngôi nhà cũ này nên cũng không muốn thay đổi. Đi về Brinak lão có cảm giác như đang chui vào một cái động yên tĩnh, mờ tối nơi ngay cả những cái máy điện thoại lúc nào cũng kêu lên gắt gỏng không thể làm phiền được lão.

Bây giờ lão nghe rõ tiếng giây giật và rung lên trước khi truyền chuyển động vào cái chuông. Ở đằng sau, sát liền gian bếp. Nếu lão đang ngồi trong nhà thì chắc là cái chuông phải reo lên vui vẻ chứ không rầu rĩ ngắt quãng như cơn ho trong bộ ngực kiệt sức như thế… Làn gió lạnh ban mai lay động những bụi cây, uốn cong đám cỏ mọc bên vệ đường, có tiếng một thanh gỗ rơi, có thể đấy là thanh gỗ rào vườn sau. Cánh cửa đột ngột mở.

Chính chị của Tháng Giêng mở cửa. Lão nhận ra ngay vì cô có nhiều nét giống em và vừa nhớ đến người em lão lập tức mường tượng ra mọi tình tiết. Cô cũng gầy, tóc cũng trắng và còn rất trẻ, nhưng đã không hề biết sợ một cái gì, có lẽ đây cũng là nét đặc trưng của gia đình này chăng. Cô nhìn lão từ đầu đến chân và bất ngờ lão nhận ra là lão chẳng có gì để biện hộ cả, lão đứng trước cô như một trang sách đã mở, cô sẽ tự đọc lấy.

- Ông đói à? – Vừa nhìn thấy lão cô đã nói, đấy cũng là đặc trưng của phụ nữ, họ đọc luôn cả trang kèm theo lời phụ chú là đôi giày rách. Lão phác một cử chỉ mà có thể hiểu là đồng ý cũng được mà phản đối cũng được. Cô giá lại bảo: - Nhà tôi đồ ăn hiếm lắm. Chính ông cũng rõ hoàn cảnh đấy. Có lẽ tôi sẽ biếu ông ít tiền.

Lão trả lời:

- Tiền thì tôi có đây. Ba trăm Phơrăng.

- Ông đi vào đi – Cô mời – Nhưng cố gắng đừng làm bẩn. Tôi vừa mới lau bậc thềm đấy.

- Tôi tháo giày đây – lão nói rồi bước vào theo cô, hơi lạnh của ván sàn thuyền qua đôi tất cũ trên mỗi bước chân lão. Trong nhà cũng có một chút thay đổi theo chiều hướng xấu hơn, rõ ra là những kẻ xa lạ đã làm chủ ở đây; chiếc gương lớn đã bị gỡ khỏi tường để lại một vết ố trông chẳng ra làm sao, cái tủ commốt cao bị chuyển sang chỗ khác, mất một chiếc ghế tựa, bức tranh khắc gỗ “Trận thủy chiến ở Brést” được treo sang chỗ khác, theo lão thì thiếu thẩm mĩ. Ngoài ra, không nhìn thấy bức ảnh bố ở trên tường, lão cáu kỉnh hỏi:

- thế còn?... Lão lập tức im bặt.

- Sao, cái gì?

- Mẹ cô – Lão nói thêm.

Cô quay lại, chăm chú ngắm nhìn lão, y như vừa đây cô đã bỏ sót không đọc hết.

- Tại sao ông biết mẹ tôi?

- Tháng Giêng đã kể cho tôi.

- Tháng Giêng là ai? Tôi chẳng biết Tháng Giêng nào hết.

- Em cô. Chúng tôi gọi cậu ấy thế.

- Ông cùng bị giam với cậu ấy à?

- Vâng.

Rồi đây lão sẽ còn biết thêm rằng cô luôn luôn hành động khác với những điều người ta mong đợi cô: lão cho rằng cô sẽ gọi mẹ, nhưng cô giật giật cổ tay lão và bảo:

- Nói khẽ thôi rồi giải thích thêm.

- Mẹ tôi chưa biết đâu.

- Chuyện cậu ấy chết à?

- Chưa biết gì. Mẹ tôi vẫn nghĩ là cậu ấy đang phất lên… ở đâu đấy. Khi thì ở Anh, khi thì ở Nam Mĩ. Bà ấy luôn luôn bảo: Tôi vẫn biết là con tôi có đầu óc lắm. Thế ông tên là gì?

- Sarlo. Gian – Lui Sarlo.

- Thế còn thằng ấy ông cũng biết chứ?

- Thằng ấy? À, vâng, tôi biết. Có lẽ tốt hơn hết là tôi nên đi trước khi mẹ cô tới.

Phía bên trên từ chỗ ngoặt của cầu thang có tiếng một người phụ nữ cao tuổi.

- Tereza Ai đấy?

- Một người quen với em Misel – Cô gái đáp

Từ phía cầu thang một bà lão béo phục phịch, quấn vòng trong vòng ngoài đến mấy lớp khăn san, ngay hai chân cũng bọc lằng nhằng, bà ta lệt xệt lại gần. Khó mà tưởng tượng làm sao lại có thể thương xót, có thể cưu mang một trái núi như vậy. Chả lẽ bộ ngực vĩ đại kia lại cần ai lo lắng giúp hay sao. Chính cô dường như cũng được sinh ra để sống trong yên tĩnh và được che chở cơ mà.

- Sao? – Bà già hỏi – Cháu Misel dạo này ra sao?

- Tốt mẹ ạ - Cô gái đáp.

- Mẹ không hỏi con. Thưa ông, lúc ông ra đi thì cháu thế nào?

- Chú ấy khỏe cụ ạ - Sarlo nói – Chú ấy dặn tôi đến thăm sức khỏe cụ.

- Hóa ra thế đấy. Đáng nhẽ ra cháu nó phải mua tặng ông đôi giày mới phải – Bà ta nhận xét một cách cay độc – Cháu nó không làm những chuyện nhảm nhí chứ? Nó không hoang phí quá chứ ông?

- Không đâu cụ ạ.

- Tất cả những cái này là nó mua cho đấy ông ạ - giọng bà ta pha lòng tự hào mù quáng – Thằng bé đến là ngốc. Cái nhà cũ ở Menimontan cũng vẫn còn tốt lắm. Căn hộ ba phòng còn đủ sức chăm nom. Chứ đây, người ở thì chẳng có, hai người phụ nữ thì làm sao được. Cháu nó cũng gửi tiền về đấy, nhưng có lẽ nó không biết bây giờ có tiền cũng chẳng làm được gì.

- Ông ấy đói rồi mẹ ạ - Cô gái ngắt lời.

- Thì có sao? – Bà già nói – Tại sao con không dọn cơm mời ông ấy? Đứng như người ăn mày vậy. Nếu ông ấy đói thì hoàn toàn có thể nói là đói – Bà ta lí sự, cứ như là lão đã ra rồi vậy.

- Tôi sẽ trả tiền – Sarlo bảo.

- À, thì ra ông ấy sẽ trả, hóa ra thế đấy. Đừng có thòi tiền ra vội. Chẳng ai làm thế đâu. Khi người ta chưa hỏi thì hẵng cứ cất tiền đi.

Bà ta giống như một biểu tượng cho trí tuệ của nhân loại đã bị hóa thạch, chỉ có thể thấy trong các sa mạc hoang vụ, thí dụ như con nhân sư, nhưng là một con nhân sư rỗng và chính vì sự khiếm nhã vô biên ấy mà tất cả sự sáng suốt của bà ta lại hóa ra rất đáng ngờ.

Bên trái tiền sảnh là một cái cửa đã gẫy tay cầm, đằng sau nó là một cái hành lang dài, lạnh lẽo, chạy gần như suốt tòa nhà, mùa đông thức ăn đưa từ bếp lên được đến nhà ăn thì đã gần như nguội lạnh, ông thân sinh ra lão đã định sửa nhiều lần, nhưng cuối cùng lại thôi. Và bây giờ, không cần nghĩ ngợi lâu, lão tiến lại phía cái cửa, chút nữa thì lão tự động đi xuống bếp, nhưng lão sực nhớ ra và tự nhủ: phải thận trọng, hết sức thận trọng. Vừa yên lặng bước sau Têrêza lão vừa nghĩ: thật là kì lạ khi thấy một cơ thể trẻ trung trong ngôi nhà này, nơi lão chỉ gặp độc những gia nhân già nua, trung thành và cau có. Những người trẻ tuổi chỉ tồn tại trong phòng ngủ của hai cụ. Bố sau kì thi lấy bằng luật sư. Bà đang bế bác cả. Y như lão đang dẫn cô vợ mới vào nhà, lão vừa bước dọc hành lang theo sau Têrêza vừa buồn rầu nghĩ.

Cô đưa cho lão bánh mì, phó mát và cốc rượu vang rồi ngồi sát bàn đối diện với lão. Lão im lặng nhai vì đang rất đói và vì lúc này những kỉ niệm xa xưa đang tràn về, xâm chiếm tâm hồn lão. Từ ngày thanh niên lão hầu như không xuống bếp. Thế mà trước đó, lúc còn nhỏ vào khoảng mười một giờ hầu như ngày nào lão cũng chạy từ vườn sau vào bếp để xem có gì ăn tạm, bà già làm bếp – lại bà già – rất quí lão, bao giờ cũng cho ăn, bà còn tặng cho những thứ tức cười, lão vẫn nhớ, khi thì là củ khoai tây với những nhánh trông như hình người, khi thì là cục xương gà có tí thịt làm mũ giống như bà già vậy, khi thì cái be cừu mà lão tưởng là cái búa chiến.

Cô gái đề nghị:

- Ông hãy kể về anh ta xem sao.

Đấy là điều lão rất sợ, lão đã chuẩn bị sẵn những câu nói dối thích hợp. Lão bảo:

- Anh ấy đúng là linh hồn của trại, đến ngay bọn lính gác cũng quí;

Cô vội vã ngắt lời:

- Tôi không hỏi về Misel… Ông kể về người kia cơ;

- Về cái người, mà…

- Về Savel – Cô nói – Ông cho là tôi sẽ quên cái tên ấy được à? Tôi nhớ rõ chữ kí trên văn tự: Gian – Lui Savel. Ông biết tôi đã suy nghĩ sao không? Trước sau gì rồi anh ta cũng tới đây, dứt khoát là anh ta muốn xem xem ngôi nhà đẹp đẽ này của anh ta giờ ra sao. Có nhiều người lạ đến đây lắm, dân khất thực, như ông ấy và lần nào nghe thấy chuông tôi cũng nghĩ: “nhỡ đây là anh ta thì sao”.

- Nếu thế thì sao?

- Chắc chắn là tôi sẽ nhổ vào mặt – cô nói và lúc này lão mới nhận ra rằng cô có cái miệng khá xinh giống như Tháng Giêng – Đấy là việc trước tiên.

- Vừa nhìn vào miệng cô lão vừa bảo:

- Ngôi nhà đúng là rất tốt.

- Đôi khi, nếu không vì bà cụ thì có lẽ tôi đã cho nó mồi lửa rồi. Trời ơi, sao mà lại ngu thế không biết.

- Cô quát Sarlo, rõ ràng đây là lần đầu tiên cô nói ra ý nghĩ đã nung nấu trong tim – chả lẽ cậu ấy lại nghĩ rằng tất cả những cái này lại cần thiết với tôi hơn chính cậu ấy sao?

- Cô với anh ấy là chị em sinh đôi à? – Sarlo hỏi, mắt không rời khỏi cô.

- Ông có biết không, chính cái đêm chúng nó bắt cậu ấy tôi đã cảm thấy đau đấy. Tôi ngồi dậy và khóc.

- Không phải ban đêm, buổi sáng.

- Không phải đêm à?

- Không.

- Thế nghĩa là thế nào?

- Chẳng có ý nghĩa gì cả - Sarlo trả lời – lão lấy dao cắt phó mát ra thành những cục nhỏ - thường vẫn vậy đấy. Ta cú hãy cho rằng mỗi chuyện xảy ra đều có một ý nghĩa nào đấy, nhưng sau này mới thấy rằng hoàn toàn không phải như vậy và đơn giản chẳng có ý nghĩa gì hết. Cô tỉnh dậy vì đau và nghĩ rằng đấy là tình yêu, nhưng các sự kiện lại không xác nhận điều đó.

Cô bảo:

- Chúng tôi quí nhau lắm. Tôi có cảm tưởng là tôi cũng đã chết rồi.

Lão vẫn tiếp tục cắt phó mát thành những cục nhỏ. Và không ngẩng lên, lão khẽ nói:

- Trong thực tế mọi chuyện không phải như vậy. Rồi cô sẽ thấy.

Lão rất muốn tự khẳng định rằng lão không phải chịu trách nhiệm về cả hai cái chết. Lão lấy làm mừng là cô thức dậy ban đếm chứ không phải lúc bảy giờ sáng.

- Ông vẫn chưa kể xem anh ta là người thế nào – cô nhắc.

Thận trọng lựa chọn từng từ, lão bắt đầu tả:

- Cao hơn tôi một chút… khoảng độ ba centimet, mà cũng có thể ít hơn. Không để râu.

- Điều đó chẳng có ý nghĩa gì – cô ngắt lời – râu chỉ để độ một tuần thì sẽ đầy. mắt màu gì?

- Xanh. Nhưng đôi khi lại có vẻ như là xám.

- Ông không thể nhớ được một cái gì đặc trưng cho anh ta à? Một vết sẹo chẳng hạn?

Có thể bịa ra nhưng lão không muốn.

- Không – Lão nói – tôi chẳng nhớ điều gì như vậy cả. Anh ta là một người bình thường. như tất cả chúng ta.

- Đầu tiên tôi cũng định thuê một người ở trong làng để trông nom nhà cửa, đồng thời giúp xem, nhỡ bất thình lình anh ta xuất hiện. Nhưng không thể … họ được. Họ có vẻ quí anh ta lắm. Có lẽ là do họ biết anh ta từ lúc còn nhỏ. Mà đối với một đứa trẻ thì điều xấu xa có thể tha thứ được, sau đó nó lớn lên và ta không nhận ra nữa.

Giống như bà mẹ, cô cũng nói ra những chân lý nhưng những điều đó không phải do di truyền, mà là cô đã thu lượm được trên đường phố bên cạnh người em, không phải vô tình mà trong những danh ngôi của cô có thể nhận thấy sự rắn rỏi của đàn ông.

- Mọi người ở đây có biết việc anh ta đã làm không?

- Biết thì cũng chẳng việc gì đến họ. Thử nghĩ mà xem: anh ta đã lừa được một người Pari. Lừa được – Thế là giỏi. Cứ thế mà chơi. Tôi cho là họ sẽ bảo thế đấy. Anh ta là luật sư mà; đúng không. Chắc chắn là anh ta đã nghĩ ra mánh khóe gì đấy làm cho những giấy tờ này thành không hợp lệ thôi.

- Đâu có – Sarlo nói – Theo tôi anh ta quá hèn nhát đến nỗi không thể suy nghĩ được gì. Chứ nếu anh ta còn đủ minh mẫn thì anh ta sẽ phải chết, đúng chưa?

- Thằng ấy, nếu nó định chết thì ông cứ tin rằng trước hết nó phải rửa sạch mọi tội lỗi, bái lãnh thánh thể, tha tội cho tất cả kẻ thù của mình đã. Khi nó chưa đánh lừa được cả quỉ sứ thì đừng hòng nó chịu chết.

- Cô căm thù anh ta quá nhỉ?

- Tôi sẽ bị trừng phạt. Vì tôi không thể tha thứ. Trước khi nhắm mắt tôi sẽ không được tha tội. Tôi nghĩ rằng ông đói – cô nhận xét – Thế mà ông chẳng ăn gì cả. Món phó mát này ngon đấy.

- Có lẽ tôi xin phép, - Lão nói.

- Ông cứ ngồi chơi. Chúng có cho cậu ấy gặp cha cố không?

- Có. Theo tôi là có. Ở buồng bên cạnh có ông mục sư, ông ta vẫn làm chuyện đó.

- Thế ông sẽ đi đâu?

- Tôi cũng không biết.

- Ông đang tìm việc làm à?

- Tôi đã thôi tìm rồi.

Cô lại bảo:

- Ở đây chúng tôi cũng cần một người. Hai người phụ nữ thì không đủ sức trông nom cái nhà rộng thế này. Lại còn vườn nữa.

- Có lẽ không tiện lắm.

- Tùy ông. Tiền công thì không thành vấn đề đâu. – Cô cay đắng nói thêm – chúng tôi giàu đấy.

Lão nghĩ: hay là, độ một tuần… sống bình thản… ở nhà.

Còn cô nói thêm:

- Nhưng nhiệm vụ chính của ông là ông phải luôn luôn canh chừng xem anh ta có đến không nhé, tôi thuê ông để làm việc ấy đấy.

9

Ngày đầu tiên trong vai người làm thuê ngay tại ngôi nhà của mình, lão cảm thấy lúng túng và đau khổ, nhưng qua một ngày nữa thì lão quen dần và lặng lẽ chấp nhận. Nếu ngôi nhà quả thật thân thiết đối với anh thì không bắt buộc phải là chủ của nó, chỉ cần biết rằng nó vẫn tồn tại, trọn vẹn, không suy suyển như trước đây – không kể những thay đổi do thời gian và hoàn cảnh mang lại. Bà Mangio và cô con giá sống trong đó cũng như các khách thuê tam: nếu họ có hạ một bức tranh nào đó thì cũng chỉ là do buộc phải làm thế mà thôi, thí dụ như để khỏi phải leo lên lau bụi chứ không phải để treo bức khác vào chỗ đó; họ sẽ chẳng đốn một cái cây nào nhằm làm cho phong cảnh đẹp thêm, họ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện thay đổi đồ đạc trong nhà theo mốt nọ kia. Họ cũng chằng giống như những người thuê nhà thực sự, mà có vẻ gần như một bọn Digan, phát hiện ra rằng ngôi nhà đang bỏ trống, vội chiếm lấy vài ba buồng, trồng cấy một góc vườn thật xa đường cái và luôn theo dõi làm sao khói bếp cũng đừng quá nhiều để không ai có thể phát hiện ra họ.

Ở một mức độ nào đó thì có vẻ đúng như vậy, lão phát hiện ra rằng hai mẹ con nhà ấy sợ những người trong làng. Mỗi tuần cô gái cuốc bộ đến chợ Brinak một lần, mặc dù lão biết rằng ở Saint – Gian có thể thuê được xe ngựa kéo, mỗi tuần bà già đi lễ một lần, cô con gái dẫn bà đến tận tiền đình và sau buổi lễ thì cũng đến đấy đón. Bà già thường bước vào nhà thờ khi buổi lễ đã bắt đầu và khi ông cố đạo vừa kịp bảo: “buổi lễ kết thúc”thì đứng dậy trước tiên. Như vậy bà ta chẳng bao giờ phải chạm trán với giáo hữu ở bên ngoài nhà thờ. Điều đó làm Sarlo hài lòng. Hai mẹ con bà sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên việc lão cũng tránh những người trong xóm.

Từ nay, vào những buổi chợ, lão sẽ phải đi Brinak. Lần đầu tiên, vừa đi lão vừa có cảm giác như là mọi vật quen thuộc trên đường đều sẵn sàng tố cáo lão – Ngay cả nếu không có người nào gọi đúng tên thì cái bảng chỉ đường ở ngã tư sẽ tố cáo, dấu giày hiện rõ như chữ kí riêng, còn tiếng đế giầy nện trên nhưng thanh gỗ lát cầu vang lên một cách quen thuộc, như giọng nói duy nhất, có một không hai. Có một chiếc xe ngựa chạy từ Saint – Gian vượt qua, lão nhận ra người xà ích, đấy là một nông dân địa phương mà hồi nhỏ đã bị chiếc máy kéo cán gãy tay phải; còn trước đó hai người vẫn thân với nhau và thường chơi trên những bãi cỏ sau làng, nhưng sau tai nạn ấy, một thời gian dài nằm viện, giữa hai người phát sinh thái độ ghen tị và lãnh đạm khó hiểu. Sau này, khi gặp lại nhau, họ đã là hai kẻ kình địch. Hồi đó hai người không thể sử dụng cùng một loại vũ khí để chống lại những quả đấm của lão, chú vé kia đã sử dụng giọng lưỡi sắc sảo, bị những dằn vặt thương tật biến thành cay độc.

Sarlo nhảy xuống cái mương bên đường để tránh chiếc xe, lão giơ một bàn tay che mặt, nhưng Ros không nhìn về hướng lão, đôi mắt đen của hắn, như một kẻ cuồng tín chỉ hướng về phía trước, thân hình rắn chắc bị phạt mất một cánh tay nhô lên như một pháo đài đổ nát chia tách hắn ra khỏi phần còn lại của thế giới. Mà thực ra trên đường cái sự đi lại rất lộn xộn, Sarlo tự nhủ, có thể không phải lo lắng việc thiên hạ để tâm đến mình. Trên khắp nước Pháp mọi người đang tìm đường về quê, kẻ thì vừa rời khỏi trại giam, kẻ thì rời khỏi nơi ẩn náu trên đất khách. Nếu có thể đứng ở trên cao mà nhìn xuống nước Pháp như nhìn trên tấm bản đồ địa lí, bằng đôi mắt của Chúa thì sẽ thấy người ta đang di động như những hạt cát nhỏ theo những mạch máu giao thông của nó.

Lão thở phào nhẹ nhõm khi bước chân về tới nhà, cảm giác như vừa thoát khỏi một vùng đất xa lạ, nơi mọi thứ vừa có vẻ mọi rợ vừa khó hiểu. Lão bước qua cửa chính, lần theo hành lang vào sâu trong nhà như đi vào một cái hang. Têrêza Mangiơ đang cắm cúi bên bếp, tay khuấy cái thìa trong chảo. Cô ngẩng đầu lên và bảo:

- Lạ nhỉ, tại sao ông lại vào bằng cửa chính? Đi bằng cửa sau như chúng tôi ấy có hơn không. Đỡ phải lau.

- Xin lỗi, thưa cô – Lão trả lời – tại vì lần đầu tôi cũng vào bằng cửa ấy.

Cô đối xử với lão không như với đầy tớ, đối với cô lão cũng là một tay Zigan tạm trú trong ngôi nhà hoang trước khi bị cảnh sát xua đi mà thôi. Chỉ có bà già thỉnh thoảng lại nổi lên những cơn tức giận bột phát vô cớ, quát tháo ầm lên rằng con bà sắp về và họ sẽ sống sung sướng đúng như những người có của phải sống, với những người hầu ra người hầu chứ không phải những tên lang thang đầu đường xó chợ… Những lúc như thế Têrêza Mangiơ thường quay mặt đi, giả tảng như không nghe thấy, nhưng sau đó lại nói với lão bằng những câu buông tuồng, chỉ sử dụng với những người ngang hàng và như vậy dường như lại phục hồi địa vị cho lão.

Lão nói:

- Gần như chẳng có gì mà mua. Chỉ có kẻ ngu mới đi mua rau khi có một cái vườn rộng như vậy. Sang năm cô khỏi cần mua… Lão đếm tiềm – Tôi mua thịt ngựa. Ngay đến thỏ cũng không có. Tiền thừa đây ạ. Theo tôi đúng đấy. Cô nên xem lại xem.

- Thôi được, tôi tin ông – Cô bảo.

- Bà cụ sinh ra cô không tin đâu. Tôi ghi cả đây. – Lão đưa cho cô tờ giấy và ngó qua vai xem cô cộng.

- “Cian – Lui Sarlo” – Cô đọc ở cuối mảnh giấy – lạ nhỉ… Nhìn qua bờ vai cô, lão bỗng hiểu ra tất cả: chữ kí ở bên dưới bảng thanh toán giống như đúc chữ lão đã kí trên tờ chứng thư.

- Chuyện gì lạ? – Lão hỏi.

- Tôi xin thề rằng tôi đã trông thấy nét chữ của ông. Tôi đã nhìn thấy chữ kí này ở đâu rồi.

- Hay là trong thư của tôi?

- Ông có viết thư cho chúng tôi bao giờ đâu.

- Vâng, đúng thế - Môi lão khô lại – thế thì theo cô, cô có thể nhìn thấy ở đâu?

Và tưởng như cả thế kì trôi qua trước khi cô trả lời, mắt vẫn không rời tờ giấy:

- Tôi không biết. Cái này đôi khi vẫn xảy ra, anh đến một vùng nào đó và anh bỗng có cảm giác là trước đây anh đã tới đó rồi. Có lẽ cũng chẳng có ý nghĩa gì.

10

Không ngày nào không có người gõ cửa, xin ăn hoặc xin làm thuê. Người ta cứ thế kéo nhau đi về miền Nam và miền Tây, về phía mặt trời và về phía trên, có thể hi vọng rằng ở đấy, trên những vùng đất ấm và ẩm của nước Pháp có thể tìm được cái ăn qua ngày. Cô gái thường chỉ cho tiền chứ không cho đồ ăn (đồ ăn chính họ cũng thiếu) và những người ăn xin bước xuống con đường nhỏ cỏ hoang mọc đầy để ra hướng bờ sông. Tất cả mọi người trong vùng đều gặp gì ăn nấy, tại ngôi nhà lớn này cũng vậy. Nhưng mẹ con bà Mangiơ thì vẫn giữ đúng gia phong. Số là trước đây bà Mangiơ có một gian hàng ở Pari. Đúng hơn gian hàng của người khác nhưng hàng hóa là của bà. Từ ngày góa chồng, hết năm này qua năm khác bà vẫn chăm chỉ buôn bán, không cho ai vay và cũng không vay ai, đắp đổi lần hồi. Ngày xưa chồng bà những mong con ăn học nên người đã gửi con gái vào khoa thư kí, học đánh máy chữ, con trai vào trường cao đằng công nghệ. Nhưng chẳng bao lâu, Tháng Giêng bỏ học, còn Têrêza thì sau khi bố chết cũng bị mẹ gọi về nốt. Theo quan niệm của bà Mangiơ, thì cả sự học hành ấy chỉ là thói ngông cuồng và thành quả duy nhất của nó là chiếc máy chữ cũ mà cô con gái thường dùng để đánh những bức thư gửi cho các hiệu buôn. Công việc buôn bán của bà Mangiơ không có tí tương lai nào. Nhưng chuyện đó chẳng hề làm bà phiền lòng: sau khi đạt đến một độ tuổi nào đấy người ta sẽ chẳng còn quan tâm đến tương lai nữa; chỉ cần biết rằng ngay lúc này, ngày hôm nay anh vẫn sống, thế là đủ và mỗi buổi sáng thức dậy lại có quyền chào đón ngày sẽ sống như chào mừng một thắng lợi mới. Hơn nữa lại còn Misel. Bà Mangiơ tuyệt đối tin tưởng vào Misel. Ai mà biết bà … xung quanh cái hình tượng mơ hồ, … những câu chuyện cổ tích nào của thời thơ ấu. Misel là chàng hoảng tử tay cầm chiếc gậy bằng pha lê đi khắp thế gian, là chàng trai chăn lợn chinh phục tình yêu của cô công chúa, là đứa con út của bà lão đã từng đánh thắng quái vật to lớn. Không thể nói với bà là anh đã không còn. Tất cả những chuyện đó Sarlo lĩnh hội được một cách từ từ, qua những câu nói lập lờ, qua những lời quát tháo điên khùng của bà Mangiơ và ngay cả qua những giấc mơ hai mẹ con thường kể với nhau lúc ăn sáng. Không cần biết cái đó có là sự thật hay không – sự thật là một khái niệm tương đối hàng xóm láng giềng của bà ở Menimontan vị tất đã phát hiện ra trong những ức thuyết đầy màu sắc của bà một câu chuyện bình thường nhất. Thế mà bây giờ bỗng nhiên bà giàu lên, như vật ước vọng sâu xa của bà đã được thực hiện. Nhưng từ những câu chuyện cổ tích thời thơ ấu bà cũng biết rằng có những kho châu báu mà sáng hôm sau bỗng biến thành những cái đầu lâu vô tích sự. Trong ngôi nhà này, chính bà cũng không hiểu vì sao, bà không thể tin vào bất kì cái gì ở đây, từ cái bàn ăn trong bếp đến cái ghế bà thường ngồi, không như ở Menimantan nơi bà biết chính xác vật gì đã được trả tiền; vật gì còn chưa trả. Còn ở đây mọi thứ đều không mất tiền, như từ trên trời rơi xuống vậy. Bà có biết đâu rằng tại một địa điểm khác tất cả đã được thanh toán sòng phẳng từ lâu.

Sarlo ngủ trong căn phòng tốt nhất dành cho đầy tớ ở trên gác. Đấy là một cái gác xép sát mái, trong có một cái giường sắt, một cái tủ bằng tre, đồ vật nhẹ nhất trong căn nhà này, nơi tất cả đồ gỗ đều to, đen, và đã sử dụng hàng thế kỉ. Khu vực này lão biết rất mù mờ: hồi nhỏ lão bị mẹ, do những quan niệm khó hiểu về đạo đức và phép vệ sinh, cấm lai vãng đến đây. Ở trên ấy, nơi tấm thảm cầu thang không trải tới, xa phòng tắm và buồng vệ sinh, hiện thực thô lậu của cuộc sống càng khủng khiếp hơn. Chí có một lần, một lần duy nhất, lúc chưa đầy sáu tuổi lão mon men đến vùng cấm, nhón gót bước, đến sát căn phòng của lão hiện thời và ghé mắt vào vết nứt nhỏ trên cửa. Người hầu gái già, còn lại từ thời ông bà lão, bố mẹ lão vẫn gọi với sự kính cẩn rụt rè là ‘Mađam Varne’ đang ngồi trước bàn trang điểm cặp tóc, đúng hơn không phải là cặp mà là cắt tóc và trải lên mặt gương những lọn tóc dài màu nâu sáng giống như những cây rong khô. Cả năm sau cậu bé Sarlo vẫn cứ tin rằng bao giờ cũng vậy: nếu tóc quá dài thì chúng sẽ tự rụng khỏi đầu.

Một đêm không thể nào ngủ được, lão vùng dậy đi ngược lại con đường của tuổi thơ xưa để xuống bếp lấy nước uống. Cái cầu thang đen nhẻm cót két dưới chân lão, nhưng đây là những bước chân khác, không phải những bước trên đường đến Brinak hôm nọ, giống như những nét chữ mà đằng nào cũng chẳng ai đọc được, Trên tầng hai là căn buồng của lão ngày xưa, bây giờ bỏ trống, có thể là vì ở đây bây giờ vẫn còn quá nhiều dấu bết của chính lão chăng? Lão bước vào. Mọi thứ vẫn y nguyên, đúng như bốn năm về trước, lần cuối cùng, khi lão bước chân ra. Lão kéo ngăn tủ, trong ngăn là một xấp cổ áo hồ bột cuộn tròn như giấy cuốn thuốc lá đã ố vàng vì năm tháng. Trên tủ là bức ảnh mẹ lão lồng trong khung mạ bạc. Trong ảnh mẹ lão mặc một chiếc áo kín ngực, cái cổ cứng dựng lên sát cằm. Lão bình thản ngắm nhìn bức tranh bất biến trước mặt – không có dấu hiệu nào của tật bệnh, chết chóc và rủi ro, mất mát trên bức tường trống được dán giấy bồi hoa do bà nội của lão chọn. Bên trên một bông hoa treo tường là một bức vẽ bằng chì, khuôn mặc người con gái mà vào năm mười bốn tuổi, bức họa này đã gắn bó với lão như một cái gì đó rất quan trọng. Nhưng bây giờ lão đã quên rồi, có thể đây là niềm mê say thơ trẻ, tình yêu và nỗi đau cho đến trọn đời. Chắc lúc ấy lão đã nghĩ như thế. Lão qua lại – Têrêza Mangio đứng ngay trên ngưỡng cửa, đang nhìn lão. Vừa nhìn thấy cô, lão lập tức tỉnh lại. Hệt như lão vừa nối xong đường dây điện thoại đứt và nghe được giọng nói đã quên từ ba mươi năm trước.

- Ông làm gì ở đây? – Cô lạnh lùng hỏi; Cô vẫn chiếc áo khoác bông dầy, sợi dây lưng thắt ngang như đàn ông.

- Tôi không ngủ được , định đi xuống bếp uống nước. Tôi có cảm giác như có chuột.

- Không có đâu, chuột bọ đã biến hết từ bốn năm nay rồi.

- Tại sao cô không đưa đồ đạc của anh ta ra?

- Sợi dây lưng của cô kéo nhũng nhẵng một đầu dưới sàn.

- Chạm tay vào cũng đủ lợm – Cô nói – Nhưng nhất định rồi tôi sẽ đưa ra. Tất, kể cả những cái cổ áo – Cô ngồi lên giường. Sarlo cảm thấy tái tê khi thấy cô, một người con gái còn rất trẻ mà lại uể oải đến như vậy, và cũng bị mất ngủ thường xuyên;

- Tội nghiệp cho bà ấy – cô thở dài.

- Có thể nên cho bà biết thì hay hơn chăng?

- Tôi không nói mẹ tôi. Tôi muốn nói bà ta, cái bà trên ảnh kia kìa. Là mẹ anh ta, thật chẳng có gì đáng tự hào, đúng không?

Kể từ hôm trờ về nhà đây là lần đầu tiên lão cảm thấy bị xúc phạm, lão lập tức phản đối:

- Theo tôi, cô không được công bằng lắm. Tôi mới là người biết anh ta, còn cô thì không. Xin cô hãy tin rằng anh ta cũng không xấu xa đến thế đâu.

- Hóa ra là thế đấy.

- Tất nhiên là anh ta đã tỏ ra hèn nhát. Nhưng mà trong đời ai chả có một lần. Đa số chúng ta đều có những hành động hèn nhát và quên đi. Chỉ đơn giản là cái hành động này của anh ta… biết nói thế nào nhỉ, đã trở nên quá nổi mà thôi.

Cô lắc đầu:

- Ông đừng có thuyết phục tôi là anh ta không gặp may. Như ông nói đấy, đúng là có chuyện đó trong đời ai chẳng gặp một lần. Và vì vậy suốt đời cần phải cảnh giác: nhỡ hôm nay thì sao? – Thấy rõ là cô đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này và bây giờ cô chỉ nói lên thành lời các kết luận mà thôi – khi điều đó đến thì sẽ thấy ngay anh là người thế nào.

Lão cảm thấy cô hoàn toàn có lí, không thể cãi vào đâu được. Lão buồn bã bảo:

- Cô đã gặp chuyện đó chưa?

- Chưa. Nhưng rồi nhất định sẽ gặp.

- Khi đó cô sẽ biết cô là người thế nào. Ngộ như cô cũng chẳng hơn gì anh ta.

Lão nhặt một cái cổ áo và run run chậm chạp quấn quanh cổ tay.

- Nhưng không vì thế mà anh ta trở nên tốt hơn – Cô nói – Đúng chưa? Nếu tôi là kẻ giết người thì chả lẽ tôi phải bênh vực những tên sát nhân hay sao?

Lão ngắt lời cô:

- Theo tôi, đối với mọi vấn đề cô đều có giải đáp sẵn rồi. Nếu cô là đàn ông thì chắc chắn cô sẽ là một luật sư tài năng. Nhưng cô giống một công tố viên hơn là một luật sư bào chữa.

- Tôi sẽ chẳng bao giờ thèm làm luật sư – Cô nghiêm túc phản đối – Vì chính anh ta cũng là luật sư.

- Cô căm thù anh ta ghê quá.

- Một nỗi thù hận luôn luôn ám ảnh tôi, suốt ngày, suốt đêm. Giống như cái mùi thối không thể tránh khi có con chuột chết mắc kẹt dưới sàn nhà vậy. Bây giờ tôi không đi lễ nhà thờ nữa, ông biết đấy. Tôi chỉ làm mỗi việc là đưa đón mà thôi. Có lần mẹ tôi hỏi tại sao, tôi nói là đã mất niềm tin. Đây là chuyện vặt vãnh, ai mà chẳng gặp; đúng không? Những chuyện tẹp nhẹp ví như mất lòng tin vì Chúa chẳng thèm để ý. Chỉ là sự ngu dốt, mà sự ngu dốt thì đâu phải tội – Cô khóc, đúng ra là khóc bằng đôi mắt: cô biết tự kiềm chế, nhưng cô không thể điều khiển được tuyến nước mắt – Cứ cho là vì anh ta. Nhưng lòng thù hận lại không chịu buông tha tôi. Có những người có thể quên đi nỗi oán thù trong chốc lát, nhưng chỉ vừa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà thờ là họ lại quay về với nó. Tôi không thể làm như thế được. Tôi cũng rất muốn được như thế. – Cô lấy tay che mặt, như là xấu hổ về những biểu hiện cụ thể của nỗi đau mà cô đang chịu đựng. Đấy là công việc của ta, lão nghĩ.

- Cô là một trong số những người bất hạnh vẫn còn niềm tin – Lão buồn bã nói.

Cô đứng dậy khỏi giường.

- Thôi, nói làm gì nếu bây giờ anh ta đứng trước mặt tôi và trong tay tôi có một khẩu súng lục…

- Cô có súng lục à?

- Có.

- Sau đó thì cô sẽ đi xưng tội và sẽ sống hạnh phúc chăng?

- Có thể. Tôi không biết. Tôi không trù liệu xa như vậy?

Lão bảo:

- Những kẻ đức hạnh, các vị là bọn người kinh khủng. Các bị giải thoát khỏi lòng thù hận hệt như cách bọn đàn ông vẫn dùng để giải thoát khỏi nhục dục vậy.

- Mong sao cho chuyện đó chóng xảy ra đi. Khi đó chắc là tôi sẽ ngủ được. Tôi sẽ không đến nỗi đau khổ và già nua như thế này – Cô nghiêm chỉnh nói – Mọi người sẽ đối xử với tôi tốt hơn. Và tôi cũng không cần phải tránh họ nữa.

Lão cảm thấy trước mặt là một đống đổ nát, không phải là sự đổ nát đã được thời gian che phủ mà là còn mới nguyên như vết nứt toang hoác trên tường lộ rõ những mảnh vụn của giấy bồi và chiếc ghế bên cạnh lò sưởi, giữa bầu trời và mặt đất. Lão nghĩ “không phải thế. Ta không có lỗi ở đây. Ta chỉ mua một cuộc đời chứ không phải hai”.

- Ông lấy những cái cổ áo ấy mà dùng – Cô bảo – Nếu ông muốn. Chỉ có điều đừng để cho mẹ tôi biết. Có vừa không?

Lão đáp với sự thận trọng quen thuộc.

- Gần vừa.

- Để tôi đi lấy nước cho ông.

- Tại sao cô lại đi lấy nước cho tôi. Tôi là người hầu ở đây cơ mà.

- Chúng tôi cũng chẳng phải ông nọ bà kia gì mà mướn người ở. Tôi cũng muốn đi dạo quanh nhà một chút. Không thể nào ngủ được.

Cô đi ra, rồi quay lại với một cốc nước trong tay. Ngắm nhìn cô, gầy gò, trong bộ áo ngủ quét đất, với cốc nước chìa ra. Lão bỗng hiểu ý nghĩa của hành động đó. Cô vừa kể cho lão nghe về lòng thù hận của mình và bây giờ, bằng cử chỉ ân cần nhỏ bé đó, cô muốn chứng tỏ rằng cô không chỉ biết căm thù mà còn biết yêu thương. Tôi có thể là một người bạn tốt, là một người phụ nữ dịu dàng, dường như cô muốn nói như vậy. Đêm hôm đó, lúc đã vào giường rồi lão bỗng nhận ra rằng nỗi tuyệt vọng đã quay sang một hướng khác: sống sót qua giai đoạn này thì chắc là được, nhưng vấn đề là có thể sống hay không.

11

Đầu tiên, lúc mới thức giấc, câu chuyện đêm qua chỉ còn lại rất mơ hồ trong tâm trí lão, ngay cả những dằn vặt nội tâm cũng đã nhòa rồi. Dường như mọi việc vẫn như cũ, nghĩa là chưa có thay đổi gì đáng kể. Nhưng khi lão vừa chạm tay vào cánh cửa bếp, vương quốc riêng của cô thì tim lão bỗng đập thình thịch. Lão đi ra khỏi nhà để cho tâm trí đỡ nặng nề. Và trong khi dạo quanh những luống rau trong mảnh vườn con lão bỗng tự nói to một mình “Ta yêu nàng”. Bằng câu nói đó, lão đã tìm ra luận điểm không thể tranh cãi được cho một vụ án chưa có kết thúc trong tương lai tương đối gần.

Lão tự đặt câu hỏi: Thế thì sao? Bộ óc luật sư của lão bắt đầu tháo gỡ tình huống phức tạp này, lão lập tức trở nên phấn chấn hơn. Kinh nghiệm nghề nghiệp của lão cho hay: không có vụ án nào mà tội nhân phải hoàn toàn mất hi vọng. Cuối cùng lão tự chứng minh rằng chỉ có một mình Tháng Giêng phải chịu trách nhiệm về cái chết của mình thôi. Ta chẳng có lỗi gì hết, dù ta có cảm thấy gì đi nữa cũng không thể để cho cảm xúc chi phối được, nếu không thì biết bao người vô tội sẽ phải đưa đầu vào máy chém. Không có một lí do chính đáng nào ngăn cản ta yêu nàng, và nàng cũng vậy, ngoài lòng căm thù ra thì chẳng có gì cản trờ nàng yêu ta. Nếu thay vì lòng thù hận lão có thể đánh thức được trong nàng tình yêu. Lão ngụy biện, thì chính là lão đang làm điều tốt cho nàng và bằng cách đó lão đang chuộc được tội lỗi. Như vậy lão sẽ hoàn lại cho nàng niềm hi vọng vào sự cứu rỗi vĩnh hằng trong niềm tin thơ ngây của nàng. Nhặt một viên cuội nhỏ nhắm vào một cây bắp cải, lão vung tay, viên cuội vẽ một hình vòng cung rồi rơi trúng đích. Sarlo thở phào nhẹ nhõm. Bản thân tội chống lại chính mình đã mang đặc điểm một vụ kiện dân sự, có thể xem xét các điều kiện bồi thường. Không hiểu tại sao ban đêm lão lại tuyệt vọng đến thế, chẳng có lí do gì để tuyệt vọng cả, ngược lại hoàn toàn có cơ sở để hi vọng. Đã có mục đích sống. Nhưng trong đáy sâu tâm hồn lão vẫn còn một vết đen, đúng hơn là một tang chứng mà lão cố tình dấu biệt không dám mang ra trình tòa.

Trong bữa điểm tâm buổi sáng gồm bánh mì và café, bữa đó họ ăn sớm vì còn phải lên chợ Brinak thì bà Mangiơ nổi cáu thật sự: Bà ta có thể chấp nhận sự có mặt của lão trong gia đình, nhưng bà bắt đầu đối xử với lão như các bà mệnh phụ đối xử với đầy tớ. Bà rất tức tối vì lão dám ngồi ăn cùng một bàn với chủ. Không hiểu sao bà ta lại cho rằng lão vốn là đầy tớ của Misel, cậu con trai sẽ phiền lòng nếu ngày nào đó trở về cậu lại phát hiện ra: mẹ không biết cư xử như những người giầu sang. Nhưng điều đó không làm Sarlo tự ái, lão và Têrêza Mangio đang có những chuyện bí mật chung. Lão có cảm giác khi hai người trao đổi bằng những cái nhìn câm lặng là họ đang nhắc nhở nhau về sự gần gũi thầm kín.

Nhưng khi còn lại hai người trong bếp thì lão chỉ hỏi:

- Liệu cô có cần mua gì không? Cho riêng cô ấy?

- Không – Cô nói – Tôi không cần gì cả. Hơn nữa ở Brinak thì mua được gì.

- Thế sao cô không đi một lần nhỉ? Cô cũng nên đi dạo… ra ngoài trời thoáng đãng. Chứ cô chẳng bao giờ ra khỏi nhà.

- Ngộ nhỡ có ai đến lúc tôi đi vắng.

- Nói cụ đừng mở. Họ chẳng dám phá cửa đâu.

- Thế nếu anh ta?

- Cô ạ - Sarlo nói bằng giọng van lơn – Cô điên mất thôi. Cô thấy thế nào? Vì Chúa, cô hãy nghĩ kĩ xem, anh ta quay lại đây làm gì, chả nhẽ để tự hành hạ mình bằng cách nhìn lại những thứ mà anh ta đã trao vào tay kẻ khác hay sao? Cuối cùng thì cô đến phát ốm vì những điều huyễn hoặc của mình.

Và chính lúc đó cô đã rụt rè để lộ sự sợ hãi như đứa trẻ để lộ cái góc rách nát của bức tranh phiên bản.

- Trong làng người ta không ưa tôi. Họ quí anh ta.

- Nhưng ta có vào làng đâu?

Đột nhiên cô nhượng bộ, nhượng bộ một cách khiêm nhường, điều đó làm lão vô cùng ngạc nhiên.

- Thôi được – Cô ngoan ngoãn nói – Xin theo ý ông. Ta đi thôi.

Từ dưới sông một làn sương mù mùa thu chậm chạp dâng lên, những tấm gỗ lát cầu xỉn lại vì ẩm, đám lá khô bị gió cuốn bay xào xạc dưới chân, khoảng năm mươi bước đã không trông thấy gì. Hai người đang đi trên đường đến Brinak, cũng có thể không phải là hai mà là một đoàn diễu hành đông đúc. Nhưng từng người lại bị sương mù bao phủ khắp bốn phía giống như trong từng căn buồng riêng biệt vậy. Đầu tiên họ đi trong yên lặng, chỉ có bước chân, khi thì đều nhịp, khi thì riêng rẽ là tiếp tục chuyện trò không dứt. Lão bước nhịp nhàng, giống như những luận cứ; kiên trì đạt đến mục đích. Còn bước chân cô, lúc thưa thớt, lúc lại rộn lên như tiếng reo hò của công chúng. Lão vừa đi vừa tự nhủ rằng cuộc đời đang hoàn tất những lời hứa mà trước đây nó đã dành cho lão, nhưng đồng thời nó lại thực hiện một cách hoàn toàn khác. Nếu lão lấy vợ và đem về Saint – Gian thì lão cũng có thể đi cùng nàng đến chợ trong một ngày mùa thu mát mẻ như hôm nay. Con đường hơi xiên lên núi, đưa họ ra khỏi làn sương mù trong chốc lát, bên phải và bên trái trải dài những cánh đồng màu xám, vài hòn đá ẩm ướt lấp lánh như những cục băng nhỏ, một chú chim vỗ cánh vút lên. Bây giờ họ lại xuống dốc, giữa hai bức tường sương lung linh, bước chân lão lặp lại những luận cứ kiên trì, hiển nhiên của mình.

- Cô mệt chưa? – Lão hỏi.

- Chưa.

- Đi theo đường thẳng tôi thấy thế nào ấy, tôi quen đi lên hoặc xuống dưới cơ.

Cô không trả lời. Điều đó làm lão an tâm: không có gì làm người ta xích lại gần nhau hơn là sự yên lặng. Lão tin tưởng rằng nếu sự yên lặng này cứ tiếp tục thì mọi chuyện sẽ hoàn toàn tốt đẹp.

Họ không trao đổi thêm một lời nào nữa trước khi đến sát Brinak.

- Hay là nghỉ một chút trước khi vào phố - Lão bảo.

Họ dựa tay vào bức tường, đứng nghỉ. Một chiếc xe ngựa từ hướng Sain-Gian đang lăn tới. Đấy là xe của Ros. Y kéo dây cương, con ngựa dừng lại.

- Đi không, - Ros hỏi – Y quen quay nghiêng về phía người đối thoại, che sườn bên phải, cái đó tạo cho y vẻ kênh kiệu, xấc láo.

Têrêza Mangio lắc đầu.

- Cô là tiểu thư Mangio? Việc gì mà cô phải đi bộ đến Brinak?

- Tôi cũng muốn đi dạo một chút.

- Còn ai kia? – Ros hất đầu về phía Sarlo – Người làm thuê cho cô à? Ở Saint-Gian chúng tôi đã nghe nói rồi.

- Ông ấy là bạn tôi.

- Các ông các bà Pari ạ, các vị phải cẩn thận đấy – Ros nói – Các vị không biết vùng này đâu. Bây giờ ở đây biết bao nhiêu người ăn xin, đừng cho ai vào nhà.

- Những người nhà quê toàn bọn ngồi lê đôi mách – Têrêza Mangio hằn học nói.

- Còn ông – Y nói với Sarlo – Tại sao ông lại đứng im? Không có gì để nói à? Cũng người Pari sao?

- Ông làm như là cảnh sát ấy. – Tereza Mangio nói.

- Tôi là người Kháng chiến – Ros trả lời – theo dõi là nhiệm vụ của tôi.

- Chiến tranh chấm dứt rồi, chả lẽ không phải thế sao? Ông chẳng còn việc gì làm nữa đâu.

- Đâu có. Chiến tranh ở đây chỉ mới bắt đầu thôi. Tốt nhất hãy đưa giấy tờ đây cho tôi xem.

- Thế nếu tôi không đưa.

- Thì chúng tôi sẽ cho người tới tận nhà.

- Đưa cho ông ta xem – Têrêza Mangio bảo.

Muốn lấy giấy tờ của Sarlo, Ros buộc phải nới dây cương, nhưng con ngựa, vừa được thả lỏng đã vội bước. Y lập tức biến thành một chú bé yếu đuối, lúng túng, không biết điều khiển ngựa.

- Thôi được – Y càu nhàu – Cầm lấy.

Rồi y tóm vội dây cương.

- Tôi có thể giữ ngựa cho ông một chút – Sarlo đề nghị với một vẻ nhã nhặn giả tạo.

- Tốt hơn hết là ông nên chấn chỉnh lại giấy tờ đi, thứ này không hợp lệ - Y quay sang Tereza Mangio – Cô nên thận trọng. Bây giờ người lang thang đông lắm, có trời biết những nhân vật ấy là người thế nào. Còn ông này rõ ràng tôi đã gặp ở đâu rồi. Tôi có thể thề đấy.

- Tuần nào ông ta chả đi chợ Brinak. Chắc ông gặp ở đấy.

- Tôi không rõ.

Tereza nói:

- Ông xét nét cũng uổng công thôi. Ông ta là người trung thực. Đã bị bọn Đức giam đấy. Ông ta có biết Misel.

- Nghĩa là ông ta biết cả Savel chứ?

- Vâng.

Ros lại nhìn thẳng vào mặt lão.

- Lạ nhỉ - Y nói – Chính vì vậy mà tôi có cảm giác tôi biết ông ta. Trông ông ta gần giống Savel. Giọng nói thì giống, khuôn mặt thì tất nhiên là chuyện khác.

Sarlo phát âm rời rạc, cố tránh cách phát âm vội vàng đầy cạm bẫy.

- Bây giờ thì ông không còn nói được rằng giọng ông ta giống tôi nữa nhé. Ông ta phều phào như lão móm ấy. Trong tù ông ấy khổ sở lắm.

- Dĩ nhiên rồi. Quen ăn sẵn rồi mà lị.

- Chắc ông là bạn của ông ấy. – Tereza Mangio nói - Ở Saint-Gian ông ta lắm bạn lắm.

- Cô đoán sai rồi. Những người biết lão ấy thì chẳng ai chơi với lão đâu. Thằng ấy ngay từ bé đã mất dạy rồi. Lại hèn nhát nữa. Nhát gái lắm – Ros cười khẩy – Hắn tự kể với tôi đấy. Khi tôi chưa bị tai nạn thì hắn nghĩ rằng tôi là bạn của hắn. Sau đó hắn ghét tôi vì cho rằng ta đây thông minh lắm. Nhưng tôi đâu có ngu hơn hắn. Khi anh phải nằm bẹp trên giường một vài tháng thì hoặc là anh chầu trời hoặc là anh sẽ sáng ra khối chuyện. Hắn kể cho tôi câu chuyện mới hay ho làm sao! Bây giờ tôi vẫn còn nhớ chút đỉnh đấy. Số là hắn phải lòng một đứa con gái trên nhà máy xay ở Brinak…

Thật là kì quặc, y không quên cả chuyện đó. Có thể đấy chính là khuôn mặt được vẽ nguệch ngoạc trên giấy bồi tường chăng?... Lão chẳng còn nhớ gì nữa… Thế mà có thời…

- Nó say con bé ấy mới khiếp chứ - Ros nói tiếp – Thế mà cu cậu không dám đến gần. Năm đó cu cậu đâu như mười bốn tuổi. Mà cũng có thể mười lăm. Hiếm thằng hèn đến thế.

- Thế tại sao trong làng ai cũng quí ông ta?

- Họ đâu có quí hắn – Ros giải thích – thực ra đấy là tại họ không tin cô thôi. Họ không tin là có người lại chịu chết vì tiền. Họ bảo chuyện này không có bọn Đức thì không xong. – Đôi mắt đen cuồng tín của gã bám chặt vào Tereza – Nhưng tôi thì tin. Anh ta làm thế vì cô.

- Nếu ông thuyết phục được họ thì hay biết bao.

- Thế sao, họ làm phiền cô à?

- Không phải chuyện họ làm phiền, không nên nói như thế. Tôi cố gắng đối xử tốt với họ, nhưng tôi không thích khi mà người ta hò hét về tôi đủ thứ, người lớn thì không đâu, họ xúi trẻ con ấy…

- Dân ở đây đa nghi lắm.

- Đâu phải cứ dân Pari là làm tay sai cho bọn Đức.

- Đáng lẽ cô phải đến gặp tôi.

Cô đưa mắt về phía Savel:

- Thế cơ đấy, quan trọng gì. Thế mà chúng tôi chưa nghe ai nói.

Ros ra roi, chiếc xe phóng đi. Từ xa họ nhìn rõ sườn bên phải.

- Ống tay áo khâu lên quá khuỷu, cánh tay cụt thò ra như một cái dùi cui ngắn.

Sarlo nhẹ nhàng trách:

- Thế là cô lại chuốc thêm được một địch thủ nữa rồi.

Ông ta chẳng đến nỗi xấu thế đâu.

Cô nhìn mãi theo bóng y, và lần đầu tiên cơn ghen khẽ nhói lên trong lòng Sarlo.

- Cô nên thận trọng, tránh hắn đi thì hơn.

- Ông làm như ông quen ông ta không bằng. Ông có biết ông ta đâu? Thế mà ông ấy lại cảm thấy như đã gặp ông ở đâu rồi…

Lão không để cô nói hết.

- Đơn giản là tôi đã đi guốc trong bụng bọn người như vậy, thế thôi.

12

Buổi chiều hôm đó, sau khi ở Brinak về, Têrêza Mangio tỏ ra bất bình thường. Cô đòi từ nay trở đi sẽ dùng bữa tại buồng ăn chứ không phải trong nhà bếp vội vội vàng vàng như mọi khi, như là đang chờ đợi người chủ nhà thực sự, chỉ nay mai sẽ xuất hiện và hất họ ra khỏi nhà vậy. Sự thay đổi này do đâu mà ra thì Sarlo không biết, nhưng lão cho rằng có liên quan đến cuộc gặp gỡ trên đường đến Brinak. Có thể cuộc nói chuyện với Ros về Savel đã làm cho cô tự tin hơn, nó chứng tỏ rằng Saint-Gian ít nhất cũng có một người có thiện cảm với cô, sẵn sàng bênh vực cô.

Sarlo bảo:

- Thế thì phải quét đi.

Và vừa cầm chổi lão vừa bước lên cầu thang. Nhưng cô đã ngăn lại.

- Chúng tôi chưa sử dụng căn phòng này lần nào.

- Thế à?

- Phòng ấy lúc nào cũng khóa. Sang lắm. Ở đấy anh ta tha hồ mà vênh vang. Ông có thể tưởng tượng được anh ta ngồi uống bia và quát lác đầy tớ không?...

- Đúng là tiểu thuyết rẻ tiền – Lão vừa nói vừa bước lên cầu thang.

- Ông đi đâu đấy?

- Đi dọn nhà ăn.

- Làm sao ông biết được nó ở đâu?

Tim lão thắt lại, như người bước hụt. Lúc nào lão cũng thận trọng, cũng cố gắng tỏ ra không nằm được vị trí buồng lớn buồng bé.

- Đúng thế, không biết tôi nghĩ gì nhỉ? Tôi mải nghe chuyện quá.

Lời giải thích không làm cô toại nguyện, cô chăm chú nhìn lão.

- Đôi khi tôi có cảm giác – Cô nói – là ông biết cái nhà này hơn tôi.

- Tôi đã ở những loại nhà này rồi. Tất cả đều một kiểu mà.

- Ông có biết tôi nghĩ sao không? Tôi cho rằng trong tù Savel thường khoe nhà cửa, anh ta vẽ cả sơ đồ trong nhà và ông nhớ…

- Vâng, anh ta kể nhiều chuyện lắm.

Cô mở phòng ăn và họ cùng bước vào, tối lắm, cửa chớp đóng kín. Biết rõ công tắc nằm ở đâu, nhưng để đề phòng, lão cố tình sờ soạng khá lâu trước khi bật điện. Đây là căn phòng rộng nhất nhà; ở giữa kê cái bàn ăn dài, bọc vải trông giống như chiếc xe hòm, trên tường, chỗ bắt đầu lượn xong là những bức ảnh các cụ cố giòng họ Savel. Ngay từ thế kỉ 17 đa số người trong dòng họ Savel đã là luật sư, trừ một vài người con út đi làm cố đạo. Trên bức tường giữa hai cửa sổ là ảnh một giám mục, cái mũi dài vẹo sang một bên của ông ta hướng theo hai người khi họ lần theo những bức tường ngắm hết bức ảnh nọ đến bức ảnh kia.

- Cái dòng họ gớm ghiếc – Cô nói – Với những ông tổ như vậy thì anh ta cũng chẳng có lỗi gì khi sinh ra đã là một quái thai.

Sarlo hếch mũi lên, lão bỗng gặp cái nhìn của cụ cố mũi dài trong bộ y phục giám mục, đang ngắm một người đeo tạp dề xanh. Lão vội vàng quay đi, tránh cái nhìn trách móc, kênh kiệu đó.

- Thật là một gia đình gớm ghiếc – Cô nhắc lại – Thế mà học cũng yêu đương. Cũng sinh con đẻ cái. Ông có thể tưởng tượng là con người ấy cũng yêu không?

- Chuyện đó thì ai tránh được.

Cô phá ra cười. Lần đầu tiên lão nghe thấy cô cười. Lão chằm chằm nhìn cô, như tên giết người quan sát nạn nhân với hi vọng dấu hiệu của sự sống sẽ trở lại như vậy hắn sẽ được vô can.

Cô vừa cười vừa hỏi:

- Thế thì theo ông họ sẽ thể hiện ra sao? Họ sẽ khịt khịt bằng những cái mũi dài ngoãng kia à? Hay là sẽ tuôn ra những dòng nước mắt từ những cặp mắt quan tòa kia?

Lão giơ tay và khẽ chạm vào vai cô.

- Tôi cho rằng là như thế này.

Đúng lúc ấy cái chuông treo trên thanh sắt dài lúc lắc và kêu lên loạch coạch.

- Ros – Lão đoán.

- Ông ta thì có việc gì ở đây?

- Ăn xin thì có vẻ như muộn rồi…

- Có thể - cô nghẹn ngào nói – cuối cùng thì anh ta đã tới.

Và họ lại nghe thấy thanh sắt dài treo cái chuông rung lên.

- Phải mở - Cô bảo – Không có mẹ nghe thấy đấy.

Lão linh cảm thấy chuyện chẳng lành, một cảm giác mà ai cũng gặp khi nghe chuông réo lúc đêm khuya. Lão chậm chạp bước xuống thang gác, mắt đăm đăm; lo sợ nhìn vào cửa chính. Đằng sau nỗi sợ hãi di truyền này là một kinh nghiệm lịch sử và kinh nghiệm riêng phong phú: những vụ giết người xảy ra hàng thế kỉ trước, những vụ việc khủng khiếp của thời kì chiến tranh và cách mạng… Chuông đã kêu đến lần thứ ba, kẻ đứng đằng sau cửa hoặc là rất cần vào hoặc là có toàn quyền đòi hỏi chuyện đó. Kẻ trốn chạy hay là người truy đuổi? Chỉ nghe thì không thể nào xác định được.

Sarlo tháo xích và khẽ hé cửa. Bên ngoài tối lắm, chẳng thể nhìn được gì, chỉ có một cái cổ áo trắng tròn mờ mờ ẩn hiện. Có tiếng sỏi lạo sạo, Sarlo treo cái xích lên cửa. Lão cất tiếng hỏi:

- Ai?

Bằng một giọng hình như quen quen người đó nói:

- Gian – Lui Savel.

—★— NGƯỜI THỨ MƯỜI Nguyên tác: The Tenth Man ebook©MotSAch TVE-4u©BookaholicClub —★— Nhà xuất bản : Đồng Nai 11/1988
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.