Nơi Tăm Tối

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

“Tôi nhìn hắn, lòng ngập tràn kinh ngạc. Hắn đang đứng trước mặt tôi đây, trong bộ y phục sặc sỡ hệt như một kẻ trốn chạy từ gánh xiếc hề, đầy nhiệt huyết và kỳ vĩ. Sự tồn tại của hắn quả là phi lý, khó hiểu và hoàn toàn làm cho người ta bối rối. Hắn là một bài toán không có lời giải. Thật không thể tưởng tượng nổi làm sao hắn có thể tồn tại, làm sao hắn lại thành công tiến xa đến thế, làm sao hắn xoay sở để trụ lại—tại sao hắn không biến mất ngay lập tức. ‘Tôi đi xa thêm một chút,’ hắn nói, ‘rồi lại xa hơn một chút nữa—cho đến khi đi xa đến mức chẳng biết làm sao để quay về. Đừng bận tâm. Còn khối thời gian. Tôi lo được. Anh hãy đưa Kurtz đi mau—mau lên—tôi bảo anh đấy.’ Ánh hào quang của tuổi trẻ bao bọc lấy những khúc vải rách ruci nhiều màu sắc, sự khốn cùng, sự cô đơn, và vẻ hoang vắng cốt lõi trong những chuyến lang thang vô ích của hắn. Suốt bao nhiêu tháng—bao nhiêu năm—sinh mạng của hắn chẳng đáng giá một xu; vậy mà hắn vẫn hiên ngang, vô tư mà sống, thoạt nhìn thì bất tử chỉ nhờ vào tuổi trẻ và sự táo bạo mù quáng của mình. Tôi bị cuốn hút đến mức gần như nếm trải sự ngưỡng mộ—và cả lòng ghen tị. Ánh hào quang thúc đẩy hắn tiến bước, ánh hào quang giữ cho hắn bình an vô sự. Chắc hẳn hắn chẳng mong cầu gì nơi chốn hoang vu này ngoài một không gian để thở và để tiếp tục dấn thân. Nhu cầu của hắn là được tồn tại, được tiến về phía trước với rủi ro lớn nhất có thể và với sự thiếu thốn tột cùng. Nếu tinh thần phiêu lưu hoàn toàn trong sáng, bất vụ lợi và không màng thực tế đã từng thống trị một con người, thì nó đang ngự trị trên gã thanh niên vá chằng vá đùm này. Tôi suýt ghen tị vì hắn sở hữu ngọn lửa nhỏ nhoi và trong trẻo ấy. Nó dường như đã thiêu rụi mọi ý niệm về bản thân triệt để đến mức, ngay cả khi hắn đang trò chuyện với bạn, bạn cũng quên bẵng đi rằng chính hắn—con người đang đứng trước mắt bạn—mới là kẻ đã trải qua những chuyện đó. Dù vậy, tôi không ghen tị với sự tận tụy của hắn dành cho Kurtz. Hắn chẳng hề đắn đo suy tính về điều đó. Nó đến với hắn, và hắn đón nhận nó bằng một thứ định mệnh đầy khao khát. Tôi phải thừa nhận rằng với tôi, đó có lẽ là điều nguy hiểm nhất về mọi mặt mà hắn từng vấp phải cho đến nay.

“Họ đã đến với nhau một cách bất đắc dĩ, giống như hai con tàu trôi dạt vô định nằm kề nhau trong lặng gió, để rồi cuối cùng va vào nhau cọ xát mạn thuyền. Tôi đoán Kurtz muốn có một khán giả, bởi vì trong một dịp nọ, khi cắm trại trong rừng, họ đã trò chuyện suốt đêm, hoặc có lẽ đúng hơn là Kurtz đã nói chuyện. ‘Chúng tôi nói về đủ mọi thứ,’ hắn nói, hoàn toàn đắm chìm trong ký ức. ‘Tôi quên mất trên đời có cái gọi là giấc ngủ. Đêm dường như trôi qua chưa nổi một tiếng đồng hồ. Mọi thứ! Mọi thứ!... Cả chuyện tình yêu nữa.’ ‘À, hắn nói với anh về tình yêu cơ à!’ tôi nói, cảm thấy vô cùng buồn cười. ‘Đó không phải là những gì anh nghĩ đâu,’ hắn kêu lên, gần như thiết tha. ‘Đó là nói chung. Hắn đã cho tôi thấy những thứ—những thứ vô cùng tận.’

“Hắn vung tay lên. Lúc đó chúng tôi đang ở trên boong tàu, và gã trưởng nhóm thợ đốn gỗ của tôi, đang thõng thượt đứng gần đó, liền quay sang nhìn hắn bằng đôi mắt nặng trĩu và lấp lánh. Tôi đảo mắt nhìn quanh, và chẳng hiểu vì sao, nhưng tôi đoan chắc rằng chưa bao giờ, chưa bao giờ trước đó, mảnh đất này, dòng sông này, khu rừng rậm này, và cả vòm trời chói lọi kia lại hiện lên trước mắt tôi tuyệt vọng và tối tăm đến thế, không thể thấu hiểu nổi đối với tư duy con người, và nhẫn tâm đến thế đối với sự yếu đuối của con người. ‘Và từ đó đến nay, anh vẫn ở bên hắn phải không?’ tôi hỏi.

“Ngược lại. Dường như mối quan hệ của họ đã bị ngắt quãng rất nhiều vì nhiều lý do khác nhau. Hắn đã, như hắn tự hào thông báo với tôi, xoay sở chăm sóc Kurtz qua hai trận ốm (hắn nhắc đến chuyện đó như cách người ta nói về một chiến tích đầy hiểm nghèo), nhưng thông thường Kurtz vẫn lang thang một mình, tận sâu trong lòng rừng thẳm. ‘Rất nhiều lần đến trạm này, tôi đã phải đợi hết ngày này qua ngày khác trước khi hắn chịu xuất hiện,’ hắn nói. ‘À, rất đáng để chờ đợi!—thỉnh thoảng là vậy.’ ‘Hắn đang làm gì thế? thám hiểm hay sao?’ tôi hỏi. ‘Ồ, vâng, tất nhiên rồi’; hắn đã phát hiện ra rất nhiều ngôi làng, cả một hồ nước nữa—hắn không biết chính xác là theo hướng nào; thật nguy hiểm khi gặng hỏi quá sâu—nhưng phần lớn các chuyến thám hiểm của hắn là để săn ngà voi. ‘Nhưng vào thời điểm đó hắn làm gì có hàng hóa để đổi chác,’ tôi phản bác. ‘Vẫn còn lại khá nhiều đạn dược đấy chứ,’ hắn đáp, ngó lơ đi. ‘Nói cho rõ ra thì, hắn đi cướp bóc khắp vùng,’ tôi nói. Hắn gật đầu. ‘Chắc chắn là không đi một mình rồi!’ Hắn lầm bầm điều gì đó về những ngôi làng quanh hồ nước đó. ‘Kurtz đã lôi kéo bộ tộc đi theo hắn phải không?’ tôi gợi ý. Hắn cựa quậy một chút. ‘Họ tôn sùng hắn,’ hắn nói. Giọng điệu của những lời đó kỳ lạ đến mức tôi phải nhìn hắn săm soi. Thật tò mò khi chứng kiến thái độ vừa hăng hái vừa miễn cưỡng của hắn khi nhắc đến Kurtz. Con người ấy đã lấp đầy cuộc đời hắn, chiếm lĩnh tâm trí hắn, chi phối cảm xúc hắn. ‘Anh còn mong đợi gì hơn?’ hắn bùng nổ; ‘anh biết đấy, hắn đến với họ sấm sét rền vang—và họ chưa từng thấy điều gì tương tự như thế—và rất đáng sợ. Hắn có thể rất đáng sợ. Anh không thể phán xét ông Kurtz như đối với một người bình thường được. Không, không, không! Giờ thì—chỉ để cho anh dễ hình dung thôi—tôi không ngại kể cho anh nghe, có một bận hắn cũng định bắn cả tôi nữa—nhưng tôi không trách hắn đâu.’ ‘Bắn anh á!’ tôi kêu lên. ‘Để làm gì chứ?’ ‘Chà, tôi có một ít ngà voi do tù trưởng của ngôi làng gần nhà tôi tặng. Anh thấy đấy, tôi thường săn thú cho họ. Chà, hắn muốn số ngà đó và chẳng thèm nghe lý lẽ. Hắn tuyên bố sẽ bắn tôi trừ khi tôi giao ngà voi ra rồi cút khỏi vùng đó, bởi vì hắn có quyền làm thế, hắn thích thế, và chẳng có gì trên đời này có thể ngăn cản hắn giết bất cứ kẻ nào hắn thích. Mà điều đó lại đúng sự thật nữa chứ. Tôi đã đưa ngà voi cho hắn. Tôi quan tâm gì đâu! Nhưng tôi không cút đi. Không, không. Tôi không thể rời bỏ hắn. Tất nhiên tôi phải cẩn trọng, cho đến khi chúng tôi thân thiết trở lại trong một thời gian. Hắn bị trận ốm thứ hai vào lúc đó. Sau đó tôi phải tránh mặt đi; nhưng tôi không phiền lòng. Phần lớn thời gian hắn sống ở những ngôi làng bên hồ. Khi hắn xuôi về sông, đôi khi hắn tỏ ra thân thiện với tôi, nhưng đôi khi tôi tốt hơn hết là nên cẩn thận. Con người này đã chịu đựng quá nhiều đau khổ. Hắn căm ghét tất cả những thứ này, và bằng cách nào đó hắn không thể thoát ra được. Khi có cơ hội, tôi đã nài nỉ hắn cố gắng rời đi khi còn kịp; tôi đề nghị được quay về cùng hắn. Và hắn sẽ nói đồng ý, rồi sau đó hắn vẫn ở lại; lại bỏ đi săn ngà voi chuyến khác; biến mất hàng tuần liền; tự đánh mất mình giữa những con người này—tự đánh mất mình—anh hiểu chứ.’ ‘Sao cơ! Hắn ta điên rồi,’ tôi nói. Hắn phản đối đầy phẫn nộ. Ông Kurtz không thể nào điên được. Nếu tôi được nghe hắn nói chuyện, chỉ mới cách đây hai ngày thôi, tôi sẽ không dám ám chỉ đến chuyện đó đâu... Tôi đã cầm ống nhòm lên trong lúc chúng tôi trò chuyện, và đang nhìn ra bờ sông, quét qua mép rừng ở hai bên và phía sau ngôi nhà. Ý thức về việc có những con người ẩn nấp trong đám rậm rạp kia, quá im lìm, quá tĩnh lặng—lặng lẽ và tĩnh mịch hệt như ngôi nhà hoang trên sườn đồi—khiến tôi cảm thấy bất an. Trên bề mặt tự nhiên không hề có dấu hiệu nào của câu chuyện kinh ngạc này, thứ vốn không được kể ra bằng lời cho bằng được gợi lên qua những tiếng kêu than tiêu điều, được khép lại bằng những cái nhún vai, bằng những câu nói bị ngắt quãng, bằng những lời ám chỉ kết thúc trong những tiếng thở dài não nuột. Rừng cây vẫn trơ ra, tựa như một chiếc mặt nạ—nặng nề, như cánh cửa đóng kín của một nhà tù—chúng nhìn ra với vẻ mang theo tri thức ẩn giấu, sự chờ đợi kiên nhẫn, và một sự im lặng không thể chạm tới. Người Nga đang giải thích cho tôi rằng chỉ mới gần đây ông Kurtz mới xuôi xuống bờ sông, mang theo toàn bộ những tráng đinh của bộ tộc vùng hồ đó. Hắn đã vắng mặt suốt mấy tháng trời—chắc là để tận hưởng sự tôn sùng—và đã đột ngột kéo xuống, thoạt nhìn là với ý định thực hiện một cuộc cướp bóc hoặc là băng qua sông hoặc là xuôi dòng nước. Rõ ràng là cơn thèm khát ngà voi nhiều hơn đã lấn át cái gọi là—tôi nên nói thế nào nhỉ?—những khát vọng ít mang tính vật chất hơn. Tuy nhiên, sức khỏe của hắn bỗng trở nên tồi tệ đi rất nhanh. ‘Tôi nghe tin hắn đang nằm liệt giường, thế là tôi lên đây—liều một phen,’ gã người Nga nói. ‘Ồ, hắn tệ lắm, tệ lắm rồi.’ Tôi hướng ống nhòm về phía ngôi nhà. Không có dấu hiệu của sự sống nào, nhưng có cái mái nhà bị tàn phá, bức tường đất dài nhô lên trên đám cỏ, với ba ô cửa sổ vuông nhỏ, không có hai cái nào cùng kích thước; tất cả những thứ đó được thu gọn lại trong tầm với của tay tôi, có thể nói là vậy. Và rồi tôi có một cử động đột ngột, và một trong những chiếc cột còn lại của hàng rào đã biến mất ấy bỗng nhảy vọt vào khung ngắm của ống nhòm. Anh còn nhớ tôi từng nói với mình rằng tôi đã rất ấn tượng từ xa bởi những nỗ lực trang trí nào đó, khá đáng chú ý giữa khung cảnh đổ nát của nơi này. Giờ đây tôi bất ngờ có được một góc nhìn cận cảnh hơn, và hệ quả đầu tiên của nó là khiến tôi ngả ngửa ra đằng sau như thể vừa phải nhận một cú đấm. Sau đó, tôi cẩn thận dò dẫm từng chiếc cột bằng ống nhòm, và tôi nhận ra sai lầm của mình. Những núm tròn đó không phải để trang trí mà mang tính biểu tượng; chúng thật biểu cảm và khó hiểu, gây sốc và làm chấn động—đủ để suy ngẫm và cũng là mồi cho kền kền nếu có con nào đang liếc xuống từ bầu trời; nhưng dẫu sao thì cũng là mồi cho lũ kiến đủ chăm chỉ để leo lên cột. Chúng thậm chí còn gây ấn tượng mạnh mẽ hơn nữa, những cái đầu trên cọc đó, nếu như khuôn mặt của chúng không quay về phía ngôi nhà. Chỉ có duy nhất một cái, cái đầu tiên tôi nhận ra, là quay mặt về phía tôi. Tôi không hề bị sốc như anh có thể nghĩ. Cú giật mình lùi lại của tôi thực ra chẳng qua chỉ là một phản xạ ngạc nhiên mà thôi. Bạn biết đấy, tôi đã mong được nhìn thấy một núm gỗ trên đó. Tôi có chủ ý quay lại nhìn cái đầu tiên tôi trông thấy—và nó kìa, đen đúa, khô khốc, lõm sâu, với đôi mắt nhắm nghiền—một cái đầu dường như đang ngủ say trên đỉnh chiếc cột ấy, và với đôi môi khô nứt nẻ hé lộ một đường răng trắng nhỏ, nó cũng đang mỉm cười, mỉm cười không dứt trước một giấc mơ vĩnh cửu và đùa cợt nào đó của giấc ngủ ngàn thu.

“Tôi không hề tiết lộ bất kỳ bí mật thương mại nào. Thực ra, sau đó viên quản lý đã nói rằng các phương pháp của ông Kurtz đã tàn phá cả vùng. Tôi không có ý kiến gì về điểm đó, nhưng tôi muốn anh hiểu rõ rằng chẳng có chút lợi lộc chính đáng nào trong việc những cái đầu đó lại xuất hiện ở đây. Chúng chỉ cho thấy rằng ông Kurtz đã thiếu sự kìm chế trong việc thỏa mãn những ham muốn đa dạng của mình, rằng có điều gì đó còn thiếu ở con người hắn—một vấn đề nhỏ nhặt nào đó mà khi nhu cầu cấp bách nảy sinh, người ta không thể tìm thấy đằng sau tài hùng biện trác tuyệt của hắn. Liệu bản thân hắn có nhận thức được sự thiếu hụt này hay không thì tôi không dám chắc. Tôi nghĩ sự thật ấy cuối cùng cũng đã đến với hắn—chỉ là vào đúng khoảnh khắc cuối cùng mà thôi. Nhưng chốn hoang vu đã sớm phát hiện ra hắn, và giáng một đòn báo thù khủng khiếp lên cuộc xâm lược hoang đường này. Tôi nghĩ nó đã thì thầm vào tai hắn những điều về chính bản thân hắn mà hắn chưa từng biết, những điều mà hắn không hề mường tượng nổi cho đến khi hắn đối thoại với sự cô quạnh vĩ đại này—và lời thì thầm ấy đã chứng minh được sức hấp dẫn không thể cưỡng lại. Nó vang dội inh ỏi trong con người hắn bởi vì hắn trống rỗng ở phần lõi... Tôi hạ ống nhòm xuống, và cái đầu thoạt trông có vẻ ở gần đến mức có thể nói chuyện cùng bỗng lập tức nhảy vọt khỏi tôi vào một khoảng cách không thể chạm tới.

“Kẻ ngưỡng mộ ông Kurtz có chút nản lòng. Bằng một giọng điệu hối hả, không rõ ràng, hắn bắt đầu quả quyết với tôi rằng hắn đã không dám gỡ những cái—phải gọi là—biểu tượng này xuống. Hắn không sợ người bản xứ; họ sẽ không nhúc nhích cho đến khi ông Kurtz lên tiếng. Sức ảnh hưởng của hắn thật phi thường. Các trại của những con người này vây quanh khu vực, và các tù trưởng ngày nào cũng đến yết kiến hắn. Họ sẽ bò rạp xuống... ‘Tôi không muốn biết bất kỳ nghi lễ nào được sử dụng khi tiếp cận ông Kurtz,’ tôi quát lên. Thật kỳ lạ, cảm giác tràn ngập trong tôi lúc ấy là những chi tiết đó sẽ còn không tài nào chịu nổi hơn cả những cái đầu đang khô dần trên cọc ngay dưới cửa sổ của ông Kurtz. Rốt cuộc, đó chỉ là một cảnh tượng dã man, trong khi tôi dường như chỉ trong một bước nhảy đã bị cuốn vào một vùng tăm tối nào đó chứa đầy những nỗi kinh hoàng tinh vi, nơi sự dã man thuần túy, không pha tạp lại mang đến một sự giải thoát thực sự, bởi vì đó là một thứ có quyền được tồn tại—hiển nhiên là thế—dưới ánh mặt trời. Gã thanh niên nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. Chắc là hắn không hề nghĩ rằng ông Kurtz không phải là thần tượng của tôi. Hắn quên mất rằng tôi chưa từng được nghe bất kỳ bài độc thoại lừng lẫy nào về cái gì nhỉ? về tình yêu, công lý, cách sống—hay bất cứ thứ gì khác. Nếu phải bò rạp trước ông Kurtz, hắn đã bò rạp không kém gì một tên dã man nguyên thủy nhất trong số đó. Hắn bảo tôi chẳng có chút ý niệm gì về hoàn cảnh ở đây: những chiếc đầu đó là đầu của những kẻ phản loạn. Tôi khiến hắn vô cùng sốc khi phì cười. Phản loạn! Định nghĩa tiếp theo mà tôi sắp được nghe sẽ là gì đây? Đã từng có kẻ thù, tội phạm, lao động—và giờ đến lượt những kẻ phản loạn này. Những cái đầu nổi loạn ấy trông thật ngoan ngoãn làm sao trên những cây cọc của chúng. ‘Anh không biết một cuộc sống như thế thử thách một con người như Kurtz đến mức nào đâu,’ môn đồ cuối cùng của Kurtz kêu lên. ‘Thế còn anh?’ tôi nói. ‘Tôi! Tôi! Tôi là một con người đơn giản. Tôi không có tư tưởng lớn lao nào cả. Tôi chẳng muốn gì từ ai cả. Sao anh lại có thể so sánh tôi với...?’ Cảm xúc dâng trào khiến hắn không thể thốt nên lời, và bất chợt hắn suy sụp. ‘Tôi không hiểu,’ hắn rên rỉ. ‘Tôi đã làm hết sức mình để giữ cho hắn sống, và thế là đủ rồi. Tôi không dính dáng gì đến chuyện này. Tôi chẳng có tài cán gì. Đã mấy tháng nay ở đây chẳng có nổi một giọt thuốc men hay một muỗng cháo cho người bệnh. Hắn đã bị bỏ rơi một cách đáng hổ thẹn. Một con người thế này, với những tư tưởng như thế. Thật đáng hổ thẹn! Đáng hổ thẹn! Tôi—tôi—đã không tài nào chợp mắt trong suốt mười đêm qua...’

“Giọng hắn chìm dần vào sự tĩnh lặng của buổi chiều tà. Những chiếc bóng dài của khu rừng đã trượt xuống sườn đồi trong lúc chúng tôi trò chuyện, đã vươn xa khỏi túp lều hoang tàn, vượt qua cả hàng cọc mang tính biểu tượng. Tất cả những thứ đó nằm trong bóng tối, trong khi chúng tôi ở dưới kia vẫn tắm mình trong ánh nắng, và khúc sông trải dài ngang qua khoảng đất trống lấp lánh một vẻ huy hoàng tĩnh lặng và lóa mắt, với một khúc cua u ám bị che khuất ở cả thượng nguồn lẫn hạ lưu. Không một bóng người sống sót nào được nhìn thấy trên bờ. Những bụi cây không hề xào xạc.

“Đột nhiên, từ góc ngôi nhà, một nhóm đàn ông xuất hiện, như thể họ vừa từ dưới đất chui lên. Họ lội ngập đến thắt lưng trong đám cỏ, thành một khối đặc quánh, khiêng một chiếc cáng dã chiến ở chính giữa. Ngay lập tức, giữa khung cảnh trống trải, một tiếng thét cất lên, tiếng thét chói tai xé rách bầu không khí tĩnh mịch hệt như một mũi tên sắc nhọn bay thẳng đến tận trái tim của vùng đất; và, như thể có phép thuật, từng dòng con người—những con người trần truồng—với giáo mác trong tay, với cung tên, với khiên giáp, với ánh mắt hoang dại và những cử động dã man, bị đổ tràn vào khoảng đất trống từ khu rừng mang khuôn mặt tối tăm và đầy suy tư. Bụi cây rung chuyển, ngọn cỏ dao động một hồi, rồi mọi thứ đứng im phăng phắc trong sự bất động đầy cảnh giác.

“‘Giờ thì, nếu hắn không nói đúng những điều bọn chúng muốn nghe, thì tất cả chúng ta tiêu đời,’ gã người Nga đứng bên khuỷu tay tôi nói. Nhóm người khiêng cáng cũng đã dừng lại, ở giữa khoảng đường đến tàu, như thể đã bị hóa đá. Tôi thấy người đàn ông trên cáng ngồim dậy, gầy guộc và giơ cao một cánh tay, nhô lên trên vai những kẻ khiêng. ‘Hãy hy vọng rằng kẻ biết cách nói chuyện hay đến thế về tình yêu nói chung sẽ tìm ra một lý do cụ thể nào đó để tha mạng cho chúng ta lần này,’ tôi nói. Tôi vô cùng phẫn uộ trước mối nguy hiểm ngớ ngẩn của hoàn cảnh chúng ta, cứ như thể việc phải phó mặc cho bóng ma tàn ác kia là một sự tha hóa đầy nhục nhã. Tôi không thể nghe thấy bất kỳ âm thanh nào, nhưng qua ống nhòm, tôi thấy cánh tay gầy guộc vươn ra mang tính ra lệnh, hàm dưới đang chuyển động, đôi mắt của bóng ma ấy lấp lánh tối tăm sâu trong cái đầu trơ xương đang gật gù với những cái giật cục kỳ dị. Kurtz—Kurtz—trong tiếng Đức có nghĩa là ngắn, phải không nào? Chà, cái tên đó cũng đúng đắn như mọi thứ khác trong cuộc đời—và cái chết của hắn. Hắn trông cao ít nhất bảy thước. Lớp vỏ bọc của hắn đã tuột ra, và cơ thể hắn nhô lên từ đó thật đáng thương và kinh hoàng hệt như vừa chui ra từ một tấm vải liệm. Tôi có thể nhìn thấy cái lồng ngực trơ xương của hắn đang phập phồng, những khúc xương tay đang khua khoắng. Cứ như thể một bức tượng sinh động về cái chết được khắc đẽo từ ngà voi cổ đang khua tay đe dọa một đám đông bất động gồm những con người được đúc bằng đồng tối sẫm và lấp lánh. Tôi thấy hắn há hốc miệng—điều đó mang lại cho hắn một vẻ tham lam kỳ quái, như thể hắn muốn nuốt chửng toàn bộ bầu không khí, toàn bộ mặt đất, toàn bộ những con người trước mặt. Một giọng nói trầm đục vọng đến tai tôi một cách mờ ảo. Chắc là hắn đang thét lên. Hắn bất chợt ngả ngửa ra sau. Chiếc cáng rung lên khi những kẻ khiêng lảo đảo tiến về phía trước một lần nữa, và gần như cùng lúc đó, tôi nhận ra đám đông người dã man đang biến mất mà không có bất kỳ cử động rút lui rõ rệt nào, cứ như thể khu rừng vừa tống khứ những sinh mệnh đó ra một cách bất thình lình nay lại nuốt họ trở lại hệt như một hơi thở hít vào thật sâu.

“Một vài gã hành hương đi phía sau chiếc cáng mang vũ khí của hắn—hai khẩu súng săn, một khẩu súng trường nặng, và một khẩu súng cac-bin ổ quay nhẹ—những tia sét của vị thần Jupiter đáng thương ấy. Viên quản lý cúi người xuống lẩm bẩm bên cạnh đầu hắn. Họ đặt hắn nằm xuống một trong những căn cabin nhỏ—chỉ vừa đủ chỗ cho một chiếc giường và một hoặc hai chiếc ghế gấp, bạn biết đấy. Chúng tôi đã mang theo xấp thư từ đến muộn của hắn, và rất nhiều phong bì rách nát cùng những bức thư mở tung nằm bừa bộn trên giường hắn. Bàn tay hắn yếu ớt khua khoắng giữa những đống giấy tờ này. Tôi ấn tượng bởi ánh lửa trong mắt hắn và vẻ uể oải điềm tĩnh trong biểu cảm của hắn. Đó không hẳn là sự kiệt quệ do bệnh tật. Hắn có vẻ không đau đớn. Cái bóng này trông có vẻ thỏa mãn và bình thản, cứ như thể trong khoảnh khắc đó hắn đã nếm trải đủ đầy mọi cung bậc cảm xúc.

“Hắn sột soạt lật một bức thư, và nhìn thẳng vào mặt tôi, nói: ‘Tôi rất mừng.’ Ai đó đã viết thư cho hắn về tôi. Những lời giới thiệu đặc biệt ấy lại xuất hiện trở lại. Âm lượng phát ra không chút gắng sức, hầu như không cần nhọc công ṃng môi của hắn khiến tôi kinh ngạc. Một giọng nói! Một giọng nói! Nó trầm đục, sâu thẳm, đầy rung động, trong khi bản thân con người ấy dường như chẳng còn đủ sức để thì thầm. Tuy nhiên, hắn vẫn đủ sức lực trong người—chắc chắn là sức mạnh gượng gạo—để suýt chút nữa chấm dứt cuộc đời chúng ta, như các anh sắp được nghe ngay đây.

“Viên quản lý im lặng xuất hiện ở khung cửa; tôi bước ra ngay lập tức và hắn kéo tấm rèm lại phía sau tôi. Gã người Nga, đang bị đám hành hương tò mò liếc nhìn, trân trân nhìn ra bờ sông. Tôi dõi theo hướng nhìn của hắn.

“Những bóng người tối tăm có thể nhận ra từ đằng xa, thoắt ẩn thoắt hiện mập mờ cạnh đường viền u ám của khu rừng, và gần bờ sông là hai hình nhân bằng đồng, tựa vào những cây giáo cao, đứng dưới ánh nắng mặt trời đội những chiếc mũ kỳ dị làm bằng da đốm, mang dáng vẻ hiếu chiến và bất động trong tư thế tĩnh tại như tượng. Và từ phải sang trái dọc theo bờ sông rực rỡ ánh sáng di chuyển một bóng ma hoang dã và lộng lẫy của một người phụ nữ.

“Cô ta bước đi với những bước chân có tiết tấu, khoác trên mình những tấm vải sọc có tua rua, giẫm lên mặt đất đầy kiêu hãnh, kèm theo tiếng lách cách khe khẽ và ánh chớp lóe lên từ những món đồ trang sức dã man. Cô ta ngẩng cao đầu; mái tóc được tết theo hình chiếc mũ giáp; cô ta đeo xà cạp bằng đồng đến đầu gối, vòng tay bằng dây đồng đến khuỷu tay, một chấm đỏ trên gò má ngăm đen, vô số chuỗi hạt thủy tinh quanh cổ; những thứ kỳ quذا, bùa chú, quà tặng của các thầy phù thủy, treo lủng lẳng trên người, lấp lánh và run rẩy theo từng bước chân. Trị giá những thứ trên người cô ta chắc phải đáng giá vài ngà voi. Cô ta hoang dã và kiêu kỳ, mắt hoang dã và tráng lệ; có một điều gì đó điềm gở và uy nghi trong dáng đi thong thả của cô ta. Và trong sự tĩnh mịch bất chợt bao trùm lên toàn bộ mảnh đất đau thương này, chốn hoang vu bao la, thể xác khổng lồ của sự sống màu mỡ và bí ẩn dường như đang nhìn cô ta, đầy suy tư, cứ như thể nó đang ngắm nhìn hình bóng của chính tâm hồn tối tăm và đầy đam mê của mình.

“Cô ta đi đến ngang tầm chiếc tàu thủy, đứng sững lại, và đối diện với chúng tôi. Cái bóng dài của cô ta ngả đến mép nước. Guôn mặt cô ta mang nét bi thương và dữ dội của nỗi buồn hoang dại và nỗi đau câm lặng hòa lẫn với nỗi sợ hãi của một quyết tâm đang vật lộn, chưa nên hình hài. Cô ta đứng nhìn chúng tôi không hề nhúc nhích, và hệt như chốn hoang vu, với vẻ mặt đang ấp ủ một mưu đồ không thể dò thấu. Trọn một phút trôi qua, rồi cô ta bước lên một bước. Có một tiếng lách cách khe khẽ, một tia chớp kim loại vàng, một cái lắc lư của những lớp vải tua rua, và cô ta khựng lại như thể trái tim đã chùng xuống. Gã thanh niên đứng bên cạnh tôi gầm gừ. Đám hành hương lầm bầm sau lưng tôi. Cô ta nhìn tất cả chúng tôi như thể sinh mạng của cô ta phụ thuộc vào sự kiên định không nao núng của ánh mắt ấy. Đột nhiên cô ta dang rộng hai cánh tay để trần và vung thốc chúng lên cứng đờ trên đầu, hệt như bị thôi thúc bởi một khao khát không thể kìm nã là chạm tới bầu trời, và đồng thời những chiếc bóng lao vun vút trên mặt đất, quét vòng quanh dòng sông, thu gọn chiếc tàu thủy vào một vòng tay mờ ảo. Một sự im lặng đáng sợ bao trùm lên cảnh tượng.

“Cô ta chậm rãi quay người bỏ đi, tiếp bước dọc theo bờ sông, và khuất vào những bụi cây bên trái. Chỉ có một lần duy nhất đôi mắt cô ta lóe lên nhìn chúng tôi trong chạng vạng của lùm cây trước khi biến mất.

“‘Nếu cô ta ngỏ ý bước lên tàu, thực tình tôi nghĩ tôi đã tìm cách bắn cô ta rồi,’ gã mặc áo vá nói với giọng căng thẳng. ‘Tôi đã phải mạo hiểm tính mạng của mình mỗi ngày suốt hai tuần qua để ngăn cô ta bén mảng tới ngôi nhà. Có lần cô ta đột nhập vào được và làm ầm lên về những mảnh giẻ rách thảm hại mà tôi nhặt được trong phòng kho để vá quần áo. Trông tôi lúc đó không được đàng hoàng cho lắm. Ít nhất thì phải là vì thế, bởi vì cô ta đã nói năng giận dữ với Kurtz suốt một tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng lại chỉ trỏ về phía tôi. Tôi không hiểu nổi phương ngữ của bộ tộc này. May cho tôi, tôi đoán hôm đó Kurtz cảm thấy quá mệt nên chẳng thèm bận tâm, nếu không thì đã có chuyện rắc rối lớn rồi. Tôi không hiểu nổi... Không—mọi thứ quá sức đối với tôi. Ồ chà, mọi chuyện qua rồi.’

“Vào khoảnh khắc đó, tôi nghe thấy giọng nói trầm đục của Kurtz vang lên từ phía sau tấm rèm: ‘Cứu tôi!—ý anh là cứu lấy số ngà voi ấy chứ. Đừng có nói với tôi thế. Cứu tôi á! Chứ sao, chính tôi đã phải cứu các người đấy chứ. Giờ thì các người đang phá hỏng kế hoạch của tôi đấy. Ốm đau á! Ốm đau gì chứ! Không đến nỗi ốm yếu như các người muốn tin đâu. Đừng bận tâm. Tôi sẽ thực hiện cho bằng được những ý tưởng của mình—tôi sẽ quay lại. Tôi sẽ cho các người thấy những gì có thể làm được. Các người với những ý tưởng buôn thúng bán mẹt nhỏ nhen của mình—các người đang ngáng đường tôi. Tôi sẽ quay lại. Tôi sẽ...’

“Viên quản lý bước ra. Hắn bày tỏ vinh dự bằng cách ôm khuỷu tay tôi và dẫn tôi ra một góc. ‘Hắn suy sụp lắm rồi, suy sụp lắm rồi,’ hắn nói. Hắn cho rằng việc thở dài là cần thiết, nhưng lại quên mất việc phải giữ vẻ sầu muộn trước sau như một. ‘Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể cho hắn rồi—phải không nào? Nhưng không thể chối cãi một thực tế là, ông Kurtz đã gây ra nhiều tác hại hơn là mang lại lợi ích cho Công ty. Hắn đã không nhận ra thời điểm chưa chín muồi cho những hành động quyết liệt. Thận trọng, thận trọng—đó là nguyên tắc của tôi. Chúng ta vẫn phải thận trọng. Khu vực này tạm thời đã bị đóng cửa đối với chúng ta. Thật đáng tiếc! Nhìn chung, việc buôn bán sẽ chịu thiệt hại. Tôi không phủ nhận có một số lượng ngà voi đáng kể—hầu như là ngà hóa thạch. Dù thế nào đi nữa chúng ta cũng phải bảo vệ lấy nó—nhưng hãy nhìn xem vị trí này bấp bênh nhường nào—và tại sao chứ? Bởi vì phương pháp thực hiện không vững chắc.’ ‘Anh,’ tôi nói, nhìn ra bờ sông, gọi đó là ‘phương pháp không vững chắc’ cơ à?’ ‘Chẳng còn nghi ngờ gì nữa,’ hắn hăng hái kêu lên. ‘Anh không nghĩ vậy sao?’... ‘Hoàn toàn chẳng có phương pháp nào cả,’ tôi lầm bầm sau một lúc. ‘Chính xác,’ hắn mừng rỡ. ‘Tôi đã đoán trước được điều này. Cho thấy sự thiếu hụt phán đoán hoàn toàn. Đó là nghĩa vụ của tôi khi phải chỉ ra điều này ở đúng cấp có thẩm quyền.’ ‘Ồ,’ tôi nói, ‘gã kia—tên hắn là gì nhỉ?—gã thợ làm gạch ấy, sẽ làm cho anh một bản báo cáo đọc được đấy.’ Hắn có vẻ bối rối trong giây lát. Tôi cảm thấy dường như mình chưa bao giờ hít thở một bầu không khí nào đồi bại đến thế, và tôi hướng về phía Kurtz trong tâm tưởng để tìm kiếm sự giải thoát—thực sự là để tìm kiếm sự giải thoát. ‘Dẫu vậy tôi vẫn nghĩ ông Kurtz là một con người đáng chú ý,’ tôi nhấn mạnh. Hắn giật mình, giáng xuống tôi một cái liếc nặng nề, nói rất khẽ: ‘Hắn đã từng là như thế,’ rồi quay lưng bỏ đi. Giờ phút được sủng ái của tôi đã chấm dứt; tôi thấy mình bị vơ đũa cả nắm cùng với Kurtz như là một kẻ hùa theo những phương pháp mà thời thế chưa chín muồi: tôi là kẻ không vững chắc! Ồ! nhưng việc ít nhất còn có được một sự lựa chọn giữa những cơn ác mộng cũng đã là một điều gì đó rồi.

“Thực ra tôi đã quay lưng về phía chốn hoang vu, chứ không phải về phía ông Kurtz, kẻ mà tôi sẵn sàng thừa nhận là coi như đã chôn cất xong xuôi. Và trong khoảnh khắc, tôi có cảm giác như chính mình cũng đang bị chôn vùi trong một ngôi mộ rộng lớn chứa đầy những bí mật không thể thốt nên lời. Tôi cảm thấy một sức nặng không tài nào chịu nổi đè nặng lên lồng ngực, mùi của đất ẩm, sự hiện diện vô hình của sự mục rữa đang chiến thắng, bóng tối của một đêm đen không thể xuyên thủng... Gã người Nga vỗ nhẹ vào vai tôi. Tôi nghe thấy hắn lầm bầm và lắp bắp điều gì đó về ‘đồng nghiệp người thủy thủ—không thể che giấu—sự hiểu biết về những vấn đề sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của ông Kurtz.’ Tôi chờ đợi. Đối với hắn, hiển nhiên ông Kurtz chưa nằm trong nấm mồ; tôi nghi ngờ rằng đối với hắn, ông Kurtz là một trong những bậc bất tử. ‘Chà!’ cuối cùng tôi lên tiếng, ‘nói ra đi. Tình cờ là, tôi lại là bạn của ông Kurtz—theo một cách nào đó.’

“Hắn trình bày khá trang trọng rằng nếu chúng tôi không ‘cùng chung nghề nghiệp,’ hắn đã giữ kín chuyện đó cho riêng mình bất chấp hậu quả. ‘Hắn nghi ngờ có một ác ý chực chờ nhắm vào mình từ phía những người da trắng này rằng—’ ‘Anh nói đúng,’ tôi nhớ lại một cuộc trò chuyện tình cờ nghe được lúc trước. ‘Viên quản lý nghĩ rằng anh nên bị treo cổ.’ Hắn tỏ ra lo lắng trước thông tin này, điều mà thoạt đầu khiến tôi thấy buồn cười. ‘Tốt hơn là tôi nên lặng lẽ chuồn đi,’ hắn nói vẻ đầy kiên quyết. ‘Tôi không thể làm gì thêm cho Kurtz nữa, và họ sẽ sớm tìm ra cái gì đó để làm cớ. Có cái gì cản được họ chứ? Có một đồn quân sự cách đây ba trăm dặm.’ ‘Chà, thề có Chúa,’ tôi nói, ‘có lẽ tốt hơn là anh nên đi nếu anh có bạn bè nào trong số những người bản xứ gần đây.’ ‘Nhiều lắm,’ hắn đáp. ‘Họ là những con người đơn giản—và tôi chẳng muốn gì sất, anh biết đấy.’ Hắn đứng cắn môi, rồi tiếp: ‘Tôi không muốn bất kỳ điều tai hại nào xảy ra cho những người da trắng ở đây, nhưng tất nhiên tôi đang nghĩ đến danh tiếng của ông Kurtz—nhưng anh là một đồng nghiệp thủy thủ và—’ ‘Được rồi,’ một lát sau tôi nói. ‘Danh tiếng của ông Kurtz được an toàn khi ở cạnh tôi.’ Tôi không hề biết lúc đó mình đã nói đúng sự thật đến nhường nào.

“Hắn hạ giọng thông báo cho tôi biết chính Kurtz là kẻ đã ra lệnh tấn công chiếc tàu thủy. ‘Đôi khi hắn căm ghét ý định bị đưa đi—và rồi một lần nữa... Nhưng tôi không hiểu những vấn đề này. Tôi là một người đơn giản. Hắn nghĩ rằng điều đó sẽ dọa cho các anh bỏ chạy—rằng các anh sẽ từ bỏ, và nghĩ rằng hắn đã chết. Tôi không thể ngăn hắn lại. Ôi, tôi đã có một tháng tồi tệ khủng khiếp.’ ‘Thôi được rồi,’ tôi nói. ‘Bây giờ hắn ổn rồi mà.’ ‘Ừ-ừ-m,’ hắn lầm bầm, có vẻ không bị thuyết phục cho lắm. ‘Cảm ơn nhé,’ tôi nói; ‘tôi sẽ mở to mắt ra.’ ‘Nhưng hãy giữ kín nhé—được chứ?’ hắn lo lắng nài nỉ. ‘Sẽ thật tồi tệ cho danh tiếng của ông ấy nếu bất cứ ai ở đây—’ Tôi hứa sẽ hoàn toàn giữ kín với vẻ mặt vô cùng nghiêm túc. ‘Tôi có một chiếc xuồng và ba gã da đen đang đợi cách đây không xa. Tôi đi đây. Anh có thể cho tôi xin vài viên đạn Martini-Henry không?’ Tôi có, và đã cho, với sự kín đáo thích hợp. Hắn tự tiện bốc một nắm thuốc lá của tôi, nháy mắt với tôi một cái. ‘Giữa những người thủy thủ với nhau—anh biết đấy—thuốc lá Anh xịn mà.’ Ở cửa buồng lái, hắn quay người lại—‘Này, anh không có đôi giày nào có thể chia sẻ sao?’ Hắn nhấc một chân lên. ‘Nhìn xem.’ Phần đế giày được buộc bằng những sợi dây thắt nút kiểu xăng-đan ngay dưới đôi chân trần của hắn. Tôi lục lọi tìm ra một đôi giày cũ, hắn ngắm nghía nó với vẻ ngưỡng mộ trước khi kẹp nó vào nách trái. Một trong những chiếc túi của hắn (màu đỏ rực) phồng lên vì đạn dược, từ chiếc túi kia (màu xanh sẫm) lấp ló cuốn ‘Cuộc điều tra của Towson,’ v.v., v.v. Hắn có vẻ tự mãn cho rằng mình được trang bị cực kỳ đầy đủ cho một cuộc đụng độ mới với chốn hoang vu. ‘A! Tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ gặp lại một con người như thế nữa. Lẽ ra anh phải nghe hắn ngâm thơ—cả thơ của chính hắn nữa đấy, hắn đã bảo tôi thế. Thơ ca đấy!’ Hắn đảo tròng mắt khi nhớ lại những niềm vui sướng ấy. ‘Ồ, hắn đã mở mang tâm trí tôi!’ ‘Tạm biệt nhé,’ tôi nói. Hắn bắt tay tôi và biến mất vào màn đêm. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi bản thân liệu mình có thực sự từng gặp hắn không—liệu có thể gặp được một hiện tượng như thế không!...…

“Khi tôi thức giấc ít lâu sau nửa đêm, lời cảnh báo của hắn hiện về trong tâm trí với chút ít nguy hiểm dường như, trong bóng tối lấp lánh đầy sao, đủ thực tế để khiến tôi đứng dậy với mục đích đi một vòng quan sát. Trên sườn đồi, một đống lửa lớn đang cháy rực, chiếu sáng lập lòe một góc khuất của ngôi nhà trạm. Một trong các nhân viên cùng với một nhóm nhỏ những gã da đen của chúng tôi, được vũ trang đầy đủ cho mục đích đó, đang canh gác số ngà voi; nhưng tận sâu trong khu rừng, những đốm lửa đỏ chập chờn, dường như chìm xuống rồi trỗi dậy từ mặt đất giữa những thân cây cột nhô lên chồng chéo của màn đêm đặc quánh, đã chỉ ra chính xác vị trí của trại nơi những kẻ tôn sùng ông Kurtz đang duy trì cuộc canh thức đầy bất an. Tiếng trống lớn đều đặn vang vọng khắp không gian với những chấn động trầm đục và âm vang kéo dài. Một âm thanh u u đều đặn của rất nhiều người đang lầm rầm niệm chú kỳ quái nào đó phát ra từ bức tường đen nhánh, phẳng lì của khu rừng hệt như tiếng vo ve của loài ong phát ra từ tổ, và có một tác dụng gây mê kỳ lạ lên các giác quan đang mơ màng của tôi. Tôi tin là mình đã thiêm thiếp đi khi đang tì người lên thành lan tràn, cho đến khi một tràng tiếng thét đột ngột, một sự bùng nổ dữ dội của một cơn cuồng nộ bị kìm nén và đầy bí ẩn, đánh thức tôi dậy trong sự ngỡ ngàng đầy bối rối. Nó vụt tắt ngay lập tức, và tiếng u u trầm trầm lại tiếp tục vang lên với hiệu quả của một sự tĩnh lặng có thể nghe thấy được và đầy xoa dịu. Tôi tiện tay liếc vào căn cabin nhỏ. Có một ngọn đèn đang cháy bên trong, nhưng ông Kurtz không có ở đó.

“Tôi nghĩ mình đã la toáng lên nếu như tôi tin vào mắt mình. Nhưng thoạt đầu tôi không tin nổi—mọi thứ có vẻ vô lý làm sao. Thực tế là tôi hoàn toàn hoảng loạn bởi một nỗi sợ hãi trống rỗng thuần túy, sự khiếp sợ trừu tượng tột cùng, không liên quan đến bất kỳ hình hài rõ rệt nào của mối nguy hiểm thể xác. Điều khiến cảm xúc này trở nên áp đảo đến vậy là—tôi phải định nghĩa nó thế nào đây?—cú sốc tinh thần mà tôi nhận được, cứ như thể một điều gì đó hoàn toàn quái dị, không tài nào dung nạp nổi đối với tư duy và đáng ghê tởm đối với tâm hồn, đã bị ném vào người tôi một cách bất ngờ. Tất nhiên điều này chỉ kéo dài trong một phần nhỏ của giây, rồi cái cảm giác quen thuộc về mối nguy hiểm chết người, mang tính trần tục, khả năng về một cuộc đột kích bất ngờ và thảm sát, hoặc một thứ gì đó đại loại như thế mà tôi thấy đang lơ lửng trước mắt, lại trở nên vô cùng đáng hoan nghênh và trấn tĩnh. Thực ra, nó đã xoa dịu tôi đến mức tôi không hề hô báo động.

“Có một nhân viên được cài cúc kín mít bên trong chiếc áo khoác ulster đang ngủ trên ghế ở boong tàu cách tôi chưa đầy ba thước. Những tiếng thét không làm hắn thức giấc; hắn ngy ngáy rất khẽ; tôi mặc kệ giấc ngủ của hắn và nhảy phắt lên bờ. Tôi không phản bội ông Kurtz—đã có sự sắp đặt rằng tôi không bao giờ được phản bội hắn—đã được định đoạt rằng tôi phải trung thành với cơn ác mộng do chính mình lựa chọn. Tôi rất sốt sắng muốn tự mình giải quyết cái bóng này—và cho đến tận ngày nay tôi vẫn không hiểu tại sao mình lại ích kỷ đến thế trong việc không muốn chia sẻ với bất kỳ ai sự đen tối kỳ quặc của trải nghiệm đó.

“Ngay khi đặt chân lên bờ, tôi nhìn thấy một dấu vết—một lối mòn rộng xuyên qua đám cỏ. Tôi nhớ lại sự hân hoan khi thầm nhủ với bản thân: ‘Hắn không đi nổi đâu—hắn đang bò bằng cả tay lẫn chân—tôi tóm được hắn rồi.’ Cỏ ướt đẫm sương đêm. Tôi sải bước thật nhanh với đôi bàn tay nắm chặt. Tôi tưởng chừng như mình có một ý niệm mơ hồ nào đó là sẽ nhào vào tẩn cho hắn một trận. Tôi không biết nữa. Tôi đã có những suy nghĩ thật ngớ ngẩn. Gã đàn bà đan lát với con mèo bỗng chen vào ký ức của tôi như một kẻ vô cùng lạc lõng khi ngồi ở tận đầu bên kia của một vụ việc như thế này. Tôi nhìn thấy một hàng gã hành hương đang xả đạn lên trời từ những khẩu súng Winchester giữ ngang hông. Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ quay lại được tàu thủy, và tưởng tượng cảnh mình sống cô độc và không tấc sắt trong rừng cho đến tận tuổi già. Những thứ thật ngốc nghếch—bạn biết đấy. Và tôi nhớ mình đã nhầm lẫn nhịp trống với nhịp đập của trái tim mình, và cảm thấy hài lòng vì sự đều đặn đầy bình thản của nó.

“Dù vậy tôi vẫn bám theo lối mòn—rồi dừng lại để lắng nghe. Đêm rất quang đãng; một khoảng không xanh thẳm, lấp lánh sương đêm và ánh sao, nơi những vật thể đen đứng bất động. Tôi tưởng mình có thể nhìn thấy một chuyển động nào đó phía trước. Đêm đó tôi kỳ lạ thay lại vô cùng tự tin về mọi thứ. Tôi thực sự rời khỏi lối mòn và chạy theo một vòng cung rộng (tôi thực sự tin là mình đang khúc khích cười một mình) để đón đầu cái sự xao động đó, cái chuyển động mà tôi vừa nhìn thấy—nếu quả thực tôi đã nhìn thấy thứ gì. Tôi đang qua mặt Kurtz cứ như thể đó là một trò chơi con trẻ.

“Tôi đã bắt gặp hắn, và nếu hắn không nghe thấy tiếng tôi đến, tôi cũng đã vấp phải hắn rồi, nhưng hắn đã kịp đứng dậy. Hắn đứng dậy, lảo đảo, cao ngồng, tái nhợt, mờ ảo, hệt như một làn hơi nước do mặt đất thở ra, và chao đảo nhẹ, mờ mịt và im lặng trước mặt tôi; trong khi ở sau lưng tôi, những ngọn lửa bập bùng giữa các thân cây, và tiếng lầm rầm của vô số giọng nói phát ra từ khu rừng. Tôi đã chặn đầu hắn một cách khôn khéo; nhưng khi thực sự đối mặt với hắn, tôi dường như sực tỉnh, tôi nhìn thấy mối nguy hiểm đúng với tỷ lệ thực tế của nó. Mọi chuyện chưa hề kết thúc đâu. Giả sử hắn bắt đầu la hét thì sao? Mặc dù hắn hầu như không thể đứng vững, nhưng giọng nói của hắn vẫn còn rất sung sức. ‘Biến đi—ẩn trốn đi,’ hắn nói bằng giọng điệu sâu thẳm đó. Thật vô cùng đáng sợ. Tôi ngoái nhìn lại. Chúng tôi cách đống lửa gần nhất chưa đầy ba mươi thước. Một bóng đen đứng thẳng dậy, sải những bước trên đôi chân đen dài, khua khoắng đôi tay đen dài, băng qua ánh lửa. Nó có sừng—hình như là sừng linh dương—trên đầu. Chắc chắn là một tên phù thủy, một thầy mo nào đó: trông nó đủ giống ác quỷ rồi. ‘Anh có biết mình đang làm gì không?’ tôi thì thầm. ‘Hoàn toàn biết chứ,’ hắn đáp, cất cao giọng cho đúng một từ duy nhất đó: nó vọng đến tai tôi vừa xa xôi vừa lớn tiếng, hệt như một tiếng gọi qua chiếc loa phóng thanh. ‘Nếu hắn làm ầm lên là chúng ta tiêu đời,’ tôi thầm nghĩ. Rõ ràng đây không phải là tình huống dành cho việc ẩu đả tay đôi, ngay cả khi chưa kể đến ác cảm rất tự nhiên của tôi trong việc đánh đập cái Bóng này—thứ sinh vật lang thang và đầy dằn vặt này. ‘Anh sẽ tiêu đời đấy,’ tôi nói—‘tiêu đời hoàn toàn.’ Đôi khi người ta có được một khoảnh khắc lóe lên cảm hứng như thế đấy, bạn biết đấy. Quả thực tôi đã nói đúng điều cần nói, mặc dù thực ra hắn không thể nào bị tàn lụi không lối thoát hơn là ngay vào khoảnh khắc này, khi những nền tảng của sự gắn bó giữa chúng tôi đang được đặt ra—để trường tồn—để trường tồn—thậm chí cho đến tận cùng—thậm chí vượt qua cả giới hạn đó.

“‘Tôi đã có những kế hoạch vĩ đại,’ hắn lầm bầm do dự. ‘Đúng vậy,’ tôi nói; ‘nhưng nếu anh thử la hét, tôi sẽ đập nát đầu anh bằng...’ Không có lấy một còn gậy hay hòn đá nào ở gần đó. ‘Tôi sẽ bóp cổ anh cho đến chết,’ tôi đính chính lại. ‘Tôi đã đứng trước ngưỡng cửa của những điều vĩ đại,’ hắn van nài bằng một giọng đầy khao khát, với một âm điệu tha thiết khiến máu trong người tôi đông cứng lại. ‘Và giờ lại vì cái tên khốn ngốc nghếch này...’ ‘Dù thế nào thì thành công của anh ở châu Âu cũng đã được đảm bảo,’ tôi kiên quyết khẳng định. Bạn hiểu đấy, tôi không muốn phải ra tay bóp cổ hắn—và thực ra việc đó cũng chẳng mang lại lợi ích thiết thực nào. Tôi đã cố gắng phá vỡ bùa chú—bùa chú nặng nề, câm lặng của chốn hoang vu—thứ dường như đang kéo hắn về phía bộ ngực nhẫn tâm của nó bằng cách đánh thức những bản năng tàn bạo đã bị lãng quên, bằng ký ức về những đam mê quái dị đã được thỏa mãn. Chỉ có điều này, tôi tin chắc là như vậy, đã đẩy hắn ra tận rìa khu rừng, đến đám rậm rạp, hướng về phía ánh lửa bập bùng, tiếng nhịp đập của trống, tiếng u u của những lời niệm chú kỳ quái; chỉ có điều này mới quyến rũ tâm hồn tội lỗi của hắn vượt qua ranh giới của những khát vọng được cho phép. Và, bạn thấy đấy, nỗi kinh hoàng của hoàn cảnh không nằm ở việc bị đập vỡ sọ—mặc dù tôi cũng ý thức rất rõ về mối nguy hiểm đó—mà nằm ở chỗ này, tôi phải đối phó với một sinh vật mà tôi không thể kêu gọi dưới danh nghĩa bất cứ điều gì cao cả hay thấp hèn. Tôi đã phải, hệt như bọn da đen, khẩn cầu chính hắn—bản thân hắn—sự suy đồi cao ngất ngưởng và khó tin của chính hắn. Chẳng có gì ở trên hay ở dưới hắn cả, và tôi biết điều đó. Hắn đã tự tung hoệ thoát khỏi mặt đất. Khỉ thật với con người này! hắn đã đạp nát bét cả mặt đất rồi. Hắn cô độc, và tôi đứng trước mặt hắn mà không biết mình đang đứng trên mặt đất hay đang lơ lửng giữa không trung. Tôi đã kể cho các anh nghe những gì chúng tôi đã nói—lặp lại những cụm từ chúng tôi thốt ra—nhưng có ích gì chứ? Chúng chỉ là những từ ngữ đời thường phổ biến—những âm thanh quen thuộc, mơ hồ được trao đổi vào mỗi ngày tỉnh giấc trong đời. Nhưng có nhằm nhò gì? Theo suy nghĩ của tôi, ẩn sau chúng là sức gợi ý khủng khiếp của những lời nghe được trong giấc mơ, của những câu cú được thốt lên trong cơn ác mộng. Tâm hồn! Nếu ai đó từng vật lộn với một tâm hồn, thì tôi chính là kẻ đó. Và tôi cũng chẳng tranh cãi với một kẻ điên nào cả! Tin hay không tùy các anh, trí tuệ của hắn hoàn toàn minh mẫn—tuy nhiên, nó tập trung vào bản thân hắn với một cường độ khủng khiếp, nhưng vẫn minh mẫn; và đó là cơ hội duy nhất của tôi—ngoại trừ, tất nhiên, việc kết liễu hắn ngay tại chỗ, điều vốn không hay ho cho lắm vì sẽ gây ra tiếng động không thể tránh khỏi. Nhưng tâm hồn hắn đã phát điên. Sống cô độc chốn hoang vu, nó đã nhìn vào tận sâu thẳm chính nó, và, lạy Chúa! tôi nói cho các anh biết, nó đã phát điên rồi. Tôi đã phải—chắc là vì tội lỗi của mình—trải qua thử thách tự mình nhìn vào trong đó. Không tài hùng biện nào có thể làm sụp đổ niềm tin vào nhân loại tàn nhẫn bằng bùng nổ chân thành cuối cùng của hắn. Bản thân hắn cũng đang vật lộn. Tôi đã thấy điều đó—tôi đã nghe thấy điều đó. Tôi đã chứng kiến bí ẩn không thể tưởng tượng nổi của một tâm hồn không biết đến sự kìm chế, không đức tin và không sợ hãi, nhưng lại đang mù quáng vật lộn với chính mình. Tôi giữ bình tĩnh khá tốt; nhưng khi cuối cùng tôi đặt được hắn nằm dài trên chiếc ghế bành, tôi lau trán trong khi đôi chân run lẩy bẩy dưới thân như thể tôi vừa khiêng nửa tấn hàng trên lưng xuống ngọn đồi đó. Vậy mà tôi chỉ dìu hắn, cánh tay trơ xương của hắn ôm chặt lấy cổ tôi—và hắn chẳng nặng hơn một đứa trẻ là bao.

“Khi ngày hôm sau chúng tôi khởi hành vào lúc giữa trưa, đám đông, với sự hiện diện phía sau bức màn lá rừng mà tôi đã nhận thức rõ suốt từ nãy đến giờ, lại tuôn ra khỏi khu rừng, lấp đầy bãi đất trống, phủ kín sườn đồi bằng một khối những cơ thể bằng đồng trần truồng, thở phì phò, run rẩy. Tôi cho tàu tiến lên một chút, rồi quay mũi xuôi dòng, và hai nghìn con mắt dõi theo những chuyển động của con quái vật sông hung dữ đang khua nước bằng chiếc đuôi khủng khiếp và thở ra làn khói đen ngòm bầu trời. Phía trước hàng đầu tiên, dọc theo bờ sông, ba kẻ bị trát đất đỏ rực từ đầu đến chân đang nghênh ngang bước đi tiến lùi đầy bết bứt. Khi chúng tôi lại tiến ngang qua, chúng đối mặt với bờ sông, dậm chân, gật gù những chiếc đầu có sừng, lắc lư những thân hình đỏ rực; chúng khua về phía con quái vật sông hung dữ một chùm lông đen, một bộ da ghẻ lở với chiếc đuôi thòng xuống—thứ gì đó trông giống như quả bầu khô; chúng định kỳ hô vang cùng nhau những chuỗi từ ngữ kinh ngạc không giống bất kỳ âm thanh ngôn ngữ loài người nào; và những tiếng lầm rầm trầm đục của đám đông, bị ngắt quãng bất thừng, giống như những lời đối đáp trong một bản kinh cầu của quỷ dữ.

“Chúng tôi đã khiêng Kurtz vào buồng lái: ở đó có nhiều không khí hơn. Nằm trên chiếc ghế dài, hắn trân trân nhìn qua ô cửa sổ để ngỏ. Có một sự xao động trong khối cơ thể người, và người phụ nữ đội mũ giáp với gò má ngăm đen lao ra tận mép dòng nước. Cô ta dang rộng hai tay, hét lên điều gì đó, và toàn bộ đám đông hoang dã đó hưởng ứng tiếng thét bằng một hợp xướng gầm rú với những từ ngữ rõ ràng, dồn dập và hụt hơi.

“‘Anh có hiểu chuyện này không?’ tôi hỏi.

“Hắn vẫn tiếp tục nhìn ra ngoài qua vai tôi bằng đôi mắt rực lửa và đầy khao khát, với một biểu cảm pha trộn giữa sự tha thiết và căm hờn. Hắn không trả lời, nhưng tôi thấy một nụ cười, một nụ cười mang ý nghĩa không thể diễn tả xuất hiện trên đôi môi không còn chút máu của hắn, chỉ một khoảnh khắc sau thì co giật liên hồi. ‘Sao lại không chứ?’ hắn chậm rãi nói, thở dốc, như thể những từ ngữ vừa bị một thế lực siêu nhiên dứt ra từ lồng ngực.

“Tôi kéo dây còi tàu, và tôi làm điều đó bởi vì tôi thấy đám hành hương trên boong đang lôi súng trường ra với vẻ mặt mong đợi một trò vui thích thú. Trước tiếng rít đột ngột, một cử động sợ hãi tột độ lan truyền qua khối cơ thể nêm chặt đó. ‘Đừng! Đừng làm chúng sợ mà bỏ chạy chứ,’ ai đó trên boong cất giọng đầy phiền muộn. Tôi kéo dây còi hết lần này đến lần khác. Chúng hoảng loạn bỏ chạy, chúng nhảy nhót, chúng cúi rạp người, chúng lách mình, chúng né tránh nỗi khiếp sợ đang bay lượn của âm thanh. Ba gã da đỏ đã ngã sấp mặt xuống bờ sông, úp mặt xuống đất như thể vừa bị bắn chết. Chỉ có người phụ nữ dã man và tráng lệ kia là không hề nao núng lấy một chút, cô ta dang rộng đôi tay trần một cách bi thương về phía chúng tôi trên dòng sông u ám và lấp lánh.

“Và rồi đám đông ngớ ngẩn dưới boong tàu đó bắt đầu trò vui nhỏ của chúng, và tôi chẳng thể nhìn thấy gì thêm ngoài khói.

“Dòng nước nâu cuồn cuộn chảy xiết ra từ trái tim của bóng tối, đưa chúng tôi xuôi về phía biển với tốc độ nhanh gấp đôi so với lúc đi ngược dòng; và sinh mạng của Kurtz cũng đang trôi đi nhanh chóng, đang lịm dần, lịm dần khỏi trái tim hắn hòa vào đại dương của thời gian vô tình. Viên quản lý rất điềm tĩnh, hắn chẳng còn mối lo âu sinh tử nào nữa, hắn bao trùm cả hai chúng tôi bằng một cái nhìn bao quát và mãn nguyện: ‘vụ việc’ đã diễn ra tốt đẹp như mong muốn. Tôi thấy thời điểm mình bị bỏ lại một mình trong nhóm ‘phương pháp không vững chắc’ đang đến gần. Đám hành hương nhìn tôi với vẻ không mấy thiện cảm. Có thể nói là tôi đã được xếp chung vào hàng ngũ những kẻ đã chết. Thật kỳ lạ làm sao khi tôi lại chấp nhận sự kết hợp bất ngờ này, sự lựa chọn giữa những cơn ác mộng bị áp đặt lên tôi trong vùng đất u ám bị xâm chiếm bởi những bóng ma hèn hạ và tham lam này.

“Kurtz thuyết giảng. Một giọng nói! Một giọng nói! Nó vang dội tận sâu thẳm cho đến tận khoảnh khắc cuối cùng. Nó vượt qua cả sức tàn của thể xác để ẩn mình trong những nếp gấp tráng lệ của hùng biện che đậy sự trống rỗng tăm tối trong trái tim hắn. Ồ, hắn đã vật lộn! hắn đã vật lộn! Những vùng đất hoang vu trong bộ não mệt mỏi của hắn giờ đây bị ám ảnh bởi những hình bóng mờ ảo—những hình bóng của sự giàu có và danh tiếng quay cuồng bợ đỡ xung quanh món quà bất diệt của hắn về khả năng diễn đạt cao quý và hào hùng. Ý trung nhân của tôi, trạm của tôi, sự nghiệp của tôi, những ý tưởng của tôi—đó là những chủ đề cho những lời phát biểu thỉnh thoảng về những tình cảm cao cả. Cái bóng của Kurtz nguyên bản lui tới bên giường ngủ của gã giả tạo trống rỗng, kẻ có số phận chuẩn bị được chôn vùi vào lớp đất hoang sơ nguyên thủy. Nhưng cả tình yêu ma quỷ lẫn sự căm thù siêu nhiên của những bí mật mà nó đã thâm nhập đều tranh giành quyền sở hữu tâm hồn đã bão hòa với những cảm xúc nguyên thủy, thèm khát danh hão, nhữngh danh hiệu giả tạo, của tất cả mọi vẻ bề ngoài của sự thành công và quyền lực.

“Đôi khi hắn tỏ ra trẻ con một cách đáng khinh. Hắn muốn các vị vua phải ra đón hắn tại các nhà ga xe lửa khi hắn trở về từ một Nơi Nào Đó kinh hoàng nào đó, nơi hắn dự định thực hiện những điều vĩ đại. ‘Anh phải cho họ thấy trong anh có thứ gì đó thực sự mang lại lợi lộc, và khi đó sẽ chẳng có giới hạn nào cho việc công nhận tài năng của anh,’ hắn thường nói. ‘Tất nhiên anh phải để ý đến động cơ—động cơ đúng đắn—luôn luôn là thế.’ Những khúc sông dài trông giống hệt như nhau, những khúc cua đơn điều giống nhau như đúc, lướt qua con tàu với vô số những cây cổ thụ nhìn chăm chú với vẻ kiên nhẫn vào mảnh đời nhếch nhác này của một thế giới khác, kẻ tiên phong của sự thay đổi, của sự chinh phục, của thương mại, của những cuộc tàn sát, của những ân phu. Tôi nhìn về phía trước—làm hoa tiêu. ‘Đóng sập cửa sổ lại,’ một hôm Kurtz đột ngột nói; ‘tôi không tài nào chịu nổi khi nhìn thấy cảnh này.’ Tôi làm theo. Một sự im lặng bao trùm. ‘Ồ, nhưng ta sẽ bóp nát trái tim ngươi cho mà xem!’ hắn gầm lên với chốn hoang vu vô hình.

“Chúng tôi bị hỏng máy—như tôi đã dự đoán từ trước—và phải neo lại để sửa chữa ở đầu một hòn đảo. Sự chậm trễ này là điều đầu tiên làm lung lay sự tự tin của Kurtz. Một buổi sáng, hắn đưa cho tôi một gói giấy tờ và một bức ảnh—tất cả được buộc lại với nhau bằng một sợi dây giày. ‘Giữ cái này hộ tôi,’ hắn nói. ‘Gã khốn độc ác này’ (ý hắn là viên quản lý) ‘có thừa khả năng lục lọi các tráp của tôi khi tôi không để mắt tới.’ Buổi chiều hôm đó tôi vào thăm hắn. Hắn đang nằm ngửa với đôi mắt nhắm nghiền, và tôi lặng lẽ rút lui, nhưng tôi nghe thấy hắn lầm bầm: ‘Sống cho phải phép, chết đi, chết đi...’ Tôi lắng nghe. Chẳng còn gì nữa. Phải chăng hắn đang tập dượt một bài diễn văn nào đó trong lúc ngủ, hay đó chỉ là một đoạn trích từ một bài báo nào đó? Hắn từng viết bài cho báo chí và có ý định làm thế một lần nữa, ‘để thúc đẩy các ý tưởng của tôi. Đó là một nghĩa vụ.’

“Bản thân hắn là một bóng tối không thể thấu suốt. Tôi nhìn hắn hệt như cách bạn nhòm xuống một kẻ đang nằm dưới đáy vực sâu nơi ánh mặt trời không bao giờ chiếu tới. Nhưng tôi không có nhiều thời gian dành cho hắn, bởi vì tôi đang bận phụ giúp thợ máy tháo rời những xi-lanh bị rò rỉ, nắn thẳng một thanh truyền bị cong, và những việc đại loại như thế. Tôi sống trong một đống hỗn độn địa ngục gồm rỉ sét, mạt giũa, ốc vít, bu-lông, cờ-lê, búa, máy khoan cóc—những thứ mà tôi vô cùng căm ghét, bởi vì tôi chẳng bao giờ hòa hợp nổi với chúng. Tôi trông nom cái lò rèn nhỏ mà may mắn thay chúng tôi mang theo trên tàu; tôi mệt nhọc làm việc trong một đống phế liệu tồi tệ—trừ khi những cơn run rẩy khiến tôi không đứng vững nổi.

“Một buổi tối nọ, khi bước vào mang theo một ngọn nến, tôi giật mình nghe hắn cất giọng hơi run rẩy: ‘Tôi đang nằm đây trong bóng tối chờ đợi cái chết.’ Ngọn đèn chỉ cách mắt hắn chưa đầy một gang tay. Tôi tự ép mình lầm bầm: ‘Ồ, nói nhảm gì thế!’ và đứng sững người bên cạnh hắn cứ như bị đóng đinh tại chỗ.

“Bất kỳ điều gì tiệm cận với sự biến đổi diễn ra trên khuôn mặt hắn là thứ tôi chưa từng thấy trước đây, và hy vọng sẽ không bao giờ phải nhìn thấy lại lần nữa. Ồ, tôi không hề bị xúc động. Tôi bị mê hoặc. Cứ như thể một tấm màn che vừa bị xé rách. Tôi nhìn thấy trên khuôn mặt ngà voi đó biểu hiện của niềm kiêu hãnh u ám, của quyền lực tàn nhẫn, của sự hèn nhát kinh hoàng—của một sự tuyệt vọng tột cùng và không lối thoát. Phải chăng trong khoảnh khắc tối cao của sự thấu hiểu toàn diện đó, hắn đã sống lại cuộc đời mình trong từng chi tiết nhỏ của ham muốn, sự cám dỗ và sự đầu hàng? Hắn thét lên bằng một tiếng thì thầm trước một hình ảnh nào đó, trước một ảo ảnh nào đó—hắn thét lên hai lần, một tiếng thét chẳng khác nào một hơi thở:

“‘Sự kinh hoàng! Sự kinh hoàng!’

“Tôi thổi tắt ngọn nến và bước ra khỏi cabin. Đám hành hương đang dùng bữa trong phòng ăn chung, và tôi chọn chỗ ngồi đối diện với viên quản lý, người ngẩng mắt lên trao cho tôi một cái nhìn đầy dò hỏi, thứ mà tôi đã phớt lờ thành công. Hắn ngả người ra sau, điềm tĩnh, với nụ cười đặc trưng đó khép lại những tầng sâu không thể diễn tả của sự hèn hạ ở hắn. Một trận mưa liên miện những con ruồi nhỏ bay xối xả vào ngọn đèn, vào khăn trải bàn, lên tay và mặt chúng tôi. Đột nhiên, đứa ở của viên quản lý thò cái đầu da đen hỗn xược vào khung cửa, và nói bằng một giọng điệu đầy khinh bỉ:

“‘Lão Kurtz—lão chết rồi.’

“Tất cả đám hành hương nhốn nháo chạy ra xem. Tôi ở lại, và tiếp tục ăn bữa tối của mình. Tôi tin là mình bị coi là kẻ nhẫn tâm tàn nhẫn. Tuy nhiên, tôi chẳng ăn được bao nhiêu. Có một ngọn đèn ở trong đó—có ánh sáng, bạn biết đấy—còn bên ngoài thì tối tăm một cách ghê tởm, ghê tởm làm sao. Tôi không đến gần con người đáng chú ý từng đưa ra phán quyết về những cuộc phiêu lưu của tâm hồn hắn trên trái đất này nữa. Giọng nói đã biến mất. Còn lại gì nữa đây? Nhưng tất nhiên tôi biết rằng ngày hôm sau đám hành hương đã chôn cất một thứ gì đó trong một cái hố bùn lầy.

“Và rồi suýt chút nữa thì họ chôn luôn cả tôi.

“Tuy nhiên, như các anh thấy đấy, tôi đã không đi theo Kurtz ngay lúc đó. Tôi không làm thế. Tôi ở lại để mơ nốt cơn ác mộng cho đến tận cùng, và để chứng tỏ lòng trung thành của mình với Kurtz một lần nữa. Định mệnh. Định mệnh của tôi! Cuộc đời quả là một thứ kỳ quặc—sự sắp đặt đầy bí ẩn của thứ logic tàn nhẫn phục vụ cho một mục đích vô ích. Điều tối đa bạn có thể hy vọng từ nó là một chút sự hiểu biết về bản thân—thứ đến quá muộn màng—một vụ mùa gồm những hối hận không bao giờ nguôi ngoai. Tôi đã vật lộn với cái chết. Đó là cuộc chiến ít hào hứng nhất mà bạn có thể tưởng tượng. Nó diễn ra trong một màn sương xám vô hình, với chẳng có gì dưới chân, chẳng có gì xung quanh, không có khán giả, không có tiếng hò reo, không có vinh quang, không có khát khao chiến thắng mãnh liệt, không có nỗi sợ hãi thất bại lớn lao, trong một bầu không khí bệnh hoạn của sự hoài nghi âm ấm, với chẳng mấy niềm tin vào lẽ phải của chính mình, và còn ít hơn thế nữa vào lẽ phải của đối thủ. Nếu đó là hình thái của sự khôn ngoan tối thượng, thì cuộc đời là một câu đố lớn hơn nhiều so với những gì một số người trong chúng ta từng nghĩ. Tôi chỉ còn cách cơ hội cuối cùng để lên tiếng trong gang tấc, và tôi nhận thấy trong sự bẽ bàng rằng có lẽ mình chẳng có gì để nói cả. Đây là lý do tại sao tôi khẳng định Kurtz là một con người đáng chú ý. Hắn có điều gì đó để nói. Hắn đã nói điều đó. Kể từ khi chính tôi đã ngó đầu qua bờ vực, tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa cái nhìn trân trân của hắn, thứ không nhìn thấy ngọn lửa của cây nến, nhưng lại đủ rộng lớn để ôm trọn cả vũ trụ, đủ sắc bén để xuyên thấu tất cả những trái tim đang đập trong bóng tối. Hắn đã tổng kết—hắn đã phán xét. ‘Sự kinh hoàng!’ Hắn là một con người đáng chú ý. Rốt cuộc, đó là sự thể hiện của một loại niềm tin nào đó; nó có sự chân thành, nó có sự xác tín, nó có một nốt trầm rung động của sự nổi loạn, nó có khuôn mặt kinh hoàng của một sự thật vừa được thoáng nhìn thấy—sự pha trộn kỳ lạ giữa khao khát và căm thù. Và không phải sự cùng đường của chính bản thân là điều tôi nhớ nhất—một ảo ảnh về sắc xám không định hình tràn ngập nỗi đau thể xác, và một thái độ khinh miệt dửng dưng đối với sự mong manh của vạn vật—thậm chí của chính nỗi đau này. Không! Chính sự cùng đường của hắn mới là thứ tôi có vè như đã trải qua. Quả thực, hắn đã thực hiện bước sải cuối cùng đó, hắn đã bước qua bờ vực, trong khi tôi được phép rụt cái bàn chân đang do dự của mình lại. Và có lẽ trong điều này chính là toàn bộ sự khác biệt; có lẽ tất cả sự khôn ngoan, và tất cả sự thật, và tất cả sự chân thành, chỉ được nén gọn lại vào khoảnh khắc thời gian không thể đo đếm đó, nơi chúng ta bước qua ngưỡng cửa của cõi vô hình. Có lẽ là thế! Tôi thích nghĩ rằng sự tổng kết của tôi sẽ không phải là một lời khinh miệt dửng dưng. Lời kêu gọi của hắn tốt hơn—tốt hơn rất nhiều. Đó là một sự khẳng định, một chiến thắng đạo đức được đánh đổi bằng vô số thất bại, bằng những nỗi kinh hoàng gớm ghiếc, bằng những sự thỏa mãn gớm ghiếc. Nhưng đó là một chiến thắng! Đó là lý do tại sao tôi vẫn trung thành với Kurtz cho đến tận cùng, và thậm chí vượt qua cả giới hạn đó, khi một thời gian dài sau tôi lại được nghe một lần nữa, không phải giọng nói của chính hắn, mà là tiếng vọng của hùng biện tráng lệ của hắn được ném về phía tôi từ một tâm hồn trong trẻo tựa vách đá pha lê.

“Không, họ không chôn tôi, mặc dù có một khoảng thời gian mà tôi nhớ lại một cách mơ hồ, với sự kinh ngạc đầy rợn ngợp, hệt như một cuộc hành trình qua một thế giới không thể tưởng tượng nổi không có lấy một chút hy vọng hay khaoク. Tôi thấy mình trở lại thành phố mồ mả, cảm thấy bực bội khi nhìn thấy những con người đang hối hả chạy qua các đường phố để vơ vét chút tiền từ nhau, để ngốn ngấu những món ăn hèn hạ của họ, để nốc cạn những vại bia độc hại của họ, để mơ những giấc mơ tầm thường và ngớ ngẩn của họ. Họ xâm phạm vào suy nghĩ của tôi. Họ là những kẻ xâm nhập mà sự hiểu biết về cuộc sống đối với tôi chỉ là một sự ra vẻ khó chịu, bởi vì tôi quá chắc chắn rằng họ không thể nào biết được những điều tôi đã biết. Phong thái của họ, vốn chỉ là phong thái của những cá nhân bình thường đang loay hoay với công việc trong sự đảm bảo an toàn tuyệt đối, khiến tôi khó chịu hệt như sự phô trương trơ trẽn của sự ngu ngốc trước một mối nguy hiểm mà nó không tài nào hiểu nổi. Tôi không có mong muốn đặc biệt nào trong việc khai sáng cho họ, nhưng tôi đã phải rất kìm chế để không phì cười vào những khuôn mặt đầy vẻ quan trọng ngu ngốc đó. Tôi dám chắc lúc đó sức khỏe của tôi không được tốt cho lắm. Tôi lảo đảo đi trên đường phố—có đủ thứ việc phải giải quyết—cười trừ một cách cay đắng trước những con người hoàn toàn đáng kính. Tôi thừa nhận hành vi của mình là không thể bào chữa, nhưng khi ấy thân nhiệt của tôi hiếm khi nào ở mức bình thường trong những ngày đó. Những nỗ lực của người dì thân yêu nhằm ‘bồi bổ sức khỏe cho tôi’ có vẻ hoàn toàn lạc điệu. Không phải sức khỏe của tôi cần được bồi bổ, mà là trí tưởng tượng của tôi cần được xoa dịu. Tôi giữ lại bói giấy tờ mà Kurtz đã đưa cho tôi, mà chẳng biết phải làm gì chính xác với chúng. Mẹ hắn mới mất gần đây, được chăm nom, như tôi được kể lại, bởi Ý trung nhân của hắn. Một gã đàn ông cạo râu nhẵn nhụi, mang phong cách công chức và đeo kính gọng vàng, đã đến thăm tôi một ngày nọ và dò hỏi, thoạt đầu thì vòng vo, sau đó thì ngọt ngào nài nỉ, về cái mà hắn vui miệng gọi là những ‘tài liệu’ nào đó. Tôi không ngạc nhiên, bởi vì tôi đã có hai trận cãi vã với viên quản lý về chủ đề này ở ngoài kia. Tôi đã từ chối giao ra dù chỉ là một mẩu giấy nhỏ nhất từ gói tài liệu đó, và tôi giữ nguyên thái độ đó đối với gã mang kính. Cuối cùng hắn trở nên đe dọa ngầm và hùng hồn tranh luận rằng Công ty có quyền sở hữu mọi mẩu thông tin về ‘các lãnh thổ’ của nó. Và hắn nói: ‘Sự hiểu biết của ông Kurtz về các vùng đất chưa được khám phá chắc chắn phải vô cùng rộng lớn và đặc biệt—nhờ vào tài năng to lớn của ông ấy và những hoàn cảnh đáng tiếc mà ông ấy đã lâm vào: do đó—’ Tôi đoan chắc với hắn rằng sự hiểu biết của ông Kurtz, dù rộng lớn đến đâu đi nữa, cũng không hề dính dáng đến các vấn đề thương mại hay quản lý. Sau đó hắn viện đến danh nghĩa khoa học. ‘Sẽ là một tổn thất không thể đong đếm được nếu,’ v.v., v.v. Tôi đưa cho hắn bản báo cáo về ‘Việc Bãi bỏ các Phong tục Dã man,’ với phần tái bút đã bị xé mất. Hắn háo hức cầm lấy nó, nhưng kết thúc bằng việc hừ mũi với vẻ khinh bỉ. ‘Đây không phải là những gì chúng ta có quyền mong đợi,’ hắn nhận xét. ‘Đừng mong đợi điều gì khác,’ tôi nói. ‘Chỉ có những bức thư cá nhân thôi.’ Hắn bỏ đi với lời đe dọa sẽ kiện tụng pháp lý, và tôi không gặp lại hắn nữa; nhưng một gã khác, tự xưng là họ hàng của Kurtz, lại xuất hiện hai ngày sau đó, và rất sốt sắng muốn nghe toàn bộ chi tiết về những giây phút cuối cùng của người họ hàng thân thiết. Nhân tiện, hắn cho tôi hiểu rằng Kurtz về cơ bản là một nhạc sĩ vĩ đại. ‘Đó là tiềm năng để trở thành một thành công vang dội,’ gã đàn ông đó nói, hình như hắn là một nghệ sĩ đàn ống, với mái tóc xám xõa dài trên cổ áo khoác dính mỡ. Tôi không có lý do gì để nghi ngờ lời tuyên bố của hắn; và cho đến tận ngày nay tôi vẫn không thể nói nổi nghề nghiệp thực sự của Kurtz là gì, liệu hắn có từng có nghề nào không—đó là tài năng lớn nhất của hắn. Tôi từng tưởng hắn là một họa sĩ viết báo, hoặc là một nhà báo biết vẽ—nhưng ngay cả người họ hàng đó (kẻ đã hít thuốc lá bột trong suốt cuộc phỏng vấn) cũng không thể nói cho tôi biết chính xác hắn từng làm nghề gì. Hắn là một thiên tài bách nghệ—về điểm đó tôi đồng ý với lão già, kẻ sau đó đã xì mũi một cách ồn ào vào một chiếc khăn tay bằng vải bông lớn và bỏ đi trong sự xúc động lú lẫn của tuổi già, mang theo một vài bức thư gia đình và ghi nhớ không có tầm quan trọng. Cuối cùng, một nhà báo muốn tìm hiểu điều gì đó về số phận của ‘người đồng nghiệp thân thiết’ của mình đã xuất hiện. Vị khách này thông báo cho tôi rằng lĩnh vực thực sự của Kurtz đáng lẽ phải là chính trị ‘về phe phái phổ thông.’ Hắn có hàng lông mày rậm thẳng tắp, tóc cứng chải ngắn, một chiếc kính một mắt đeo trên dải ruy-băng bản rộng, và khi trở nên cởi mở hơn, hắn thú nhận quan điểm của mình rằng Kurtz thực sự chẳng biết viết lách gì cho cam—‘nhưng lạy Chúa! cách con người đó nói chuyện thì tuyệt làm sao. Hắn làm rung chuyển những cuộc họp lớn. Anh thấy đấy, hắn có niềm tin—hắn có niềm tin. Hắn có thể khiến bản thân tin vào bất cứ điều gì—bất cứ điều gì. Hắn đáng lẽ đã là một nhà lãnh đạo xuất chúng của một đảng cực đoan.’ ‘Đảng nào?’ tôi hỏi. ‘Bất kỳ đảng nào,’ kẻ kia đáp. ‘Hắn là một—một—kẻ cực đoan.’ Chẳng lẽ tôi không nghĩ vậy sao? Tôi đồng ý. Hắn hỏi, với một tia tò mò chợt lóe lên, ‘điều gì đã xúi giục ông ấy ra đi đến tận ngoài đó?’ ‘Rồi,’ tôi nói, và ngay lập tức trao cho hắn bản Báo cáo nổi tiếng để xuất bản, nếu hắn thấy phù hợp. Hắn lướt qua nó một cách vội vã, lầm bầm suốt quãng thời gian đó, đánh giá rằng ‘nó dùng được,’ và chuồn mất với chiến lợi phẩm này.

“Thế là cuối cùng tôi bị bỏ lại với một gói thư mỏng và bức chân dung của cô gái. Cô ấy gây ấn tượng với tôi là một người xinh đẹp—ý tôi là cô ấy có một biểu cảm xinh đẹp. Tôi biết rằng ánh sáng mặt trời cũng có thể lừa dối, thế nhưng người ta cảm thấy rằng không một sự nhào nặn nào về ánh sáng và dáng điệu có thể truyền tải được sắc thái tinh tế của sự chân thực lên những nét mặt đó. Cô ấy có vẻ sẵn sàng lắng nghe mà không hề có sự dè dặt trong tâm trí, không có sự nghi ngờ, không có chút suy nghĩ nào cho bản thân. Tôi quyết định mình sẽ tự tay mang trả lại cô ấy bức chân dung và những bức thư đó. Tò mò ư? Đúng vậy; và có lẽ cả một cảm giác nào đó nữa. Tất cả những gì từng thuộc về Kurtz đã tuột khỏi tay tôi: tâm hồn hắn, thể xác hắn, trạm của hắn, kế hoạch của hắn, ngà voi của hắn, sự nghiệp của hắn. Chỉ còn lại ký ức về hắn và Ý trung nhân của hắn—và tôi cũng muốn từ bỏ điều đó, theo một cách nào đó, để phó mặc toàn bộ những gì còn sót lại của hắn ở bên tôi cho sự lãng quên, thứ là lời cuối cùng cho số phận chung của chúng ta. Tôi không tự biện hộ cho mình. Tôi không nhận thức rõ ràng về điều mà tôi thực sự muốn. Có lẽ đó là một thôi thúc của lòng trung thành vô thức, hoặc sự thực hiện một trong những nhu cầu đầy mỉa mai ẩn giấu trong các sự kiện của sự tồn tại con người. Tôi không biết. Tôi không thể nói được. Nhưng tôi đã đi.

“Tôi tưởng tượng ký ức về hắn cũng giống như những ký ức khác về người chết tích tụ trong cuộc đời mỗi con người—một ấn tượng mơ hồ trên đại não về những chiếc bóng đã đổ lên nó trong cuộc hành trình chớp nhoáng và cuối cùng của chúng; nhưng trước cánh cửa cao và nặng nề, giữa những ngôi nhà cao tầng của một con đường tĩnh mịch và trang nhã hệt như một lối đi được chăm sóc kỹ lưỡng trong nghĩa trang, tôi lại có ảo ảnh về hắn trên chiếc cáng, há hốc miệng một cách tham lam, cứ như muốn nuốt chửng toàn bộ trái đất cùng với toàn bộ nhân loại của nó. Lúc đó hắn đang sống ngay trước mắt tôi; hắn sống mãnh liệt như chưa từng chết—một cái bóng khao khát những vẻ bề ngoài lộng lẫy, những thực tại kinh hoàng; một cái bóng đen tối hơn cả bóng đêm, và được khoác lên một cách cao quý trong những nếp gấp của một hùng biện tráng lệ. Ảo ảnh đó dường như bước vào ngôi nhà cùng với tôi—chiếc cáng, những kẻ khiêng ma quái, đám đông cuồng nhiệt của những tín đồ tuân lệnh, sự u ám của những khu rừng, sự lấp lánh của khúc sông giữa những khúc cua u ám, nhịp trống, đều đặn và trầm đục hệt như nhịp đập của một trái tim—trái tim của một bóng tối đang xâm chiếm. Đó là khoảnh khắc chiến thắng của chốn hoang vu, một cuộc càn quét xâm lược và báo thù mà, theo tôi nghĩ, tôi sẽ phải một mình chống đỡ để cứu rỗi cho một tâm hồn khác. Và ký ức về những điều tôi từng nghe hắn nói từ đằng xa kia, với những hình thù có sừng nhúc nhích sau lưng, trong ánh lửa bập bùng, giữa chốn rừng cây kiên nhẫn, những câu nói đứt quãng ấy quay trở lại với tôi, được nghe lại trong sự đơn giản đầy điềm gở và kinh hoàng. Tôi nhớ lại những lời van nài hèn nhát của hắn, những lời đe dọa hèn nhát của hắn, quy mô khổng lồ trong những ham muốn đê tiện của hắn, sự hèn hạ, sự dằn vặt, nỗi thống khổ bão táp trong tâm hồn hắn. Và sau đó tôi dường như nhìn thấy phong thái điềm tĩnh uể oải của hắn, khi một hôm hắn nói: ‘Số ngà voi này thực ra là của tôi. Công ty không trả tiền cho nó. Tôi tự thu gom nó với rủi ro cá nhân rất lớn. Tuy nhiên, tôi e rằng họ sẽ cố gắng nhận vơ nó là của họ. Hừm. Đúng là một vụ việc rắc rối. Anh nghĩ tôi nên làm gì—kháng cự chứ? Hả? Tôi chẳng đòi hỏi gì hơn ngoài công lý đâu.’... Hắn chẳng đòi hỏi gì hơn ngoài công lý—chẳng hơn ngoài công lý. Tôi bấm chuông trước cánh cửa bằng gỗ gụ ở tầng một, và trong lúc chờ đợi, hắn dường như đang trân trân nhìn tôi từ tấm kính trong suốt—nhìn trân trân bằng ánh mắt rộng lớn và bao la ôm trùm, lên án, căm ghét toàn bộ vũ trụ. Tôi dường như nghe thấy tiếng thét thì thầm, “Sự kinh hoàng! Sự kinh hoàng!”

“Chạng vạng đang buông xuống. Tôi phải chờ đợi trong một phòng khách cao ráo với ba ô cửa sổ dài từ sàn đến trần trông giống như ba cột trụ lấp lánh và được che rèm. Những chiếc chân và lưng ghế mạ vàng cong queo lấp lánh trong những đường cong mập mờ. Lò sưởi bằng đá cẩm thạch cao mang một vẻ trắng muốt lạnh lẽo và mang tính đài tưởng niệm. Một cây đàn đại dương cầm sừng sững chiếm một góc; với những điểm sáng tối trên bề mặt phẳng phiu hệt như một cỗ quan tài u ám và được đánh bóng. Một cánh cửa cao mở ra—rồi khép lại. Tôi đứng dậy.

“Cô ấy bước tới, toàn thân mặc đồ đen, với cái đầu tái nhợt, lướt về phía tôi trong chạng vạng. Cô ấy đang để tang. Đã hơn một năm kể từ cái chết của hắn, hơn một năm kể từ khi tin tức truyền đến; cô ấy có vẻ như sẽ mãi mãi ghi nhớ và đau buồn. Cô ấy cầm lấy cả hai tay tôi và lầm bầm: ‘Tôi nghe nói anh sắp đến.’ Tôi nhận ra cô ấy không còn rất trẻ—ý tôi là không còn nét thiếu nữ nữa. Cô ấy mang một sự trưởng thành về khả năng chung thủy, về niềm tin, về sự chịu đựng. Căn phòng dường như tối đi, cứ như thể toàn bộ ánh sáng buồn bã của buổi chiều mây mù đã tìm nơi ẩn nấp trên trán cô ấy. Mái tóc vàng nhạt này, khuôn mặt tái nhợt này, vầng trán thuần khiết này, dường như được bao quanh bởi một hào quang tro tàn mà từ đó đôi mắt đen nhìn ra tôi. Ánh mắt của họ ngây thơ, sâu sắc, tự tin và đầy tin tưởng. Cô ấy ngẩng cao chiếc đầu sầu muộn cứ như thể cô ấy tự hào về nỗi buồn đó, cứ như thể cô ấy muốn nói: ‘Tôi—chỉ một mình tôi biết cách để tang cho anh ấy như anh ấy xứng đáng.’ Nhưng trong khi chúng tôi vẫn đang bắt tay nhau, một vẻ tàn tạ khủng hiện lên trên khuôn mặt cô ấy khiến tôi nhận ra cô ấy là một trong những sinh vật không phải là trò đùa của Thời gian. Đối với cô ấy, hắn chỉ mới qua đời vào ngày hôm qua. Và, thề có Chúa! ấn tượng mạnh mẽ đến mức đối với tôi, hắn dường như cũng chỉ mới qua đời vào ngày hôm qua—không, chính vào phút này đây. Tôi nhìn thấy cô ấy và hắn trong cùng một khoảnh khắc thời gian—cái chết của hắn và nỗi buồn của cô ấy—tôi nhìn thấy nỗi buồn của cô ấy ngay trong khoảnh khắc hắn chết đi. Anh có hiểu không? Tôi nhìn thấy họ cùng nhau—tôi nghe thấy họ cùng nhau. Cô ấy đã nói, với một tiếng thở nghẹn ngào: ‘Tôi đã sống sót’ trong khi đôi tai căng thẳng của tôi dường như nghe rõ một cách rành mạch, hòa lẫn với tông giọng nuối tiếc tuyệt vọng của cô ấy, là tiếng thì thầm tổng kết về sự kết án vĩnh cửu của hắn. Tôi tự hỏi mình đang làm gì ở đó, với một cảm giác hoảng loạn trong tim cứ như thể mình đã vô tình bước nhầm vào một chốn chứa đầy những bí ẩn tàn ác và vô lý không phù hợp cho con người chứng kiến. Cô ấy ra hiệu mời tôi ngồi xuống ghế. Chúng tôi ngồi xuống. Tôi nhẹ nhàng đặt gói tài liệu lên chiếc bàn nhỏ, và cô ấy đặt tay lên trên đó... ‘Anh đã biết rất rõ về anh ấy,’ cô ấy lầm bầm, sau một khoảnh khắc im lặng tang tóc.

“‘Sự thân thiết tiến triển rất nhanh ở ngoài đó,’ tôi nói. ‘Tôi biết hắn rõ như mức độ một con người có thể hiểu về một con người khác.’

“‘Và anh ngưỡng mộ hắn,’ cô ấy nói. ‘Thật không thể nào biết hắn mà lại không ngưỡng mộ hắn. Phải không nào?’

“‘Hắn là một con người đáng chú ý,’ tôi nói với giọng run rẩy. Rồi trước ánh mắt kiên định đầy van nài của cô ấy, thứ dường như đang ngóng chờ thêm những lời từ đôi môi tôi, tôi tiếp tục: ‘Thật không thể nào không—’

“‘Yêu mến hắn,’ cô ấy hào hứng nói nối tiếp, khiến tôi câm lặng trong sự kinh hoàng. ‘Thật chuẩn xác làm sao! Thật chuẩn xác làm sao! Nhưng khi anh nghĩ rằng không ai hiểu rõ hắn bằng tôi! Tôi nắm giữ mọi sự tin tưởng cao quý của hắn. Tôi là kẻ hiểu hắn nhất.’

“‘Cô là kẻ hiểu hắn nhất,’ tôi lặp lại. Và có lẽ cô ấy thực sự là thế. Nhưng với mỗi từ được thốt lên, căn phòng lại càng trở nên tối tăm hơn, và chỉ có vầng trán cô ấy, nhẵn nhụi và trắng ngần, vẫn được chiếu sáng bởi ngọn lửa bất diệt của niềm tin và tình yêu.

“‘Anh là bạn của hắn,’ cô ấy nói tiếp. ‘Bạn của hắn,’ cô ấy lặp lại, lớn tiếng hơn một chút. ‘Chắc chắn anh phải là thế, nếu hắn đã giao thứ này cho anh, và sai anh đến gặp tôi. Tôi cảm thấy mình có thể trò chuyện với anh—và ôi! Tôi buộc phải nói chuyện. Tôi muốn anh—anh, người đã nghe những lời trăn trối cuối cùng của hắn—phải biết rằng tôi đã xứng đáng với anh ấy... Không phải là kiêu ngạo đâu... Vâng! Tôi tự hào khi biết rằng mình hiểu hắn hơn bất cứ ai trên đời—chính hắn đã nói với tôi như thế. Và kể từ khi mẹ hắn qua đời, tôi chẳng còn ai—chẳng còn ai—để—để—’

“Tôi lắng nghe. Bóng tối ngày càng dày đặc. Tôi thậm chí còn không chắc liệu hắn có đưa nhầm cho tôi gói tài liệu hay không. Tôi hơi nghi ngờ rằng hắn muốn tôi giữ hộ một mẻ giấy tờ khác của hắn mà sau cái chết của hắn, tôi thấy viên quản lý đang săm soi dưới ngọn đèn. Và cô gái vẫn tiếp tục trò chuyện, vơi bớt nỗi đau trong sự chắc chắn về sự đồng cảm của tôi; cô ấy trò chuyện hệt như những kẻ khát nước uống lấy nước. Tôi từng nghe tin đính hôn của cô ấy với Kurtz bị gia đình cô ấy phản đối. Hắn không đủ giàu hay đại loại thế. Và thực ra tôi cũng chẳng biết liệu có phải hắn đã túng quẫn suốt cả cuộc đời hay không. Hắn đã đưa cho tôi một số lý do để suy diễn rằng chính sự thiếu kiên nhẫn trước tình cảnh nghèo đói tương đối đã đẩy hắn ra tận ngoài đó.

“‘... Ai mà chẳng là bạn của hắn khi đã được nghe hắn nói dù chỉ một lần?’ cô ấy đang nói. ‘Hắn lôi kéo con người về phía mình bằng những gì tốt đẹp nhất trong họ.’ Cô ấy nhìn tôi chăm chú. ‘Đó là món quà của những vĩ nhân,’ cô ấy nói tiếp, và âm thanh của giọng điệu trầm thấp của cô ấy dường như mang theo phần đệm của tất cả những âm thanh khác, chứa đầy sự bí ẩn, tiêu điều và sầu muộn mà tôi từng được nghe—tiếng rì rào của dòng sông, tiếng xào xạc của những tán cây bị gió lay động, tiếng lầm rầm của đám đông, tiếng vọng mờ ảo của những từ ngữ không tài nào hiểu nổi được thét lên từ đằng xa, tiếng thì thầm của một giọng nói cất lên từ bên kia ngưỡng cửa của một bóng tối vĩnh cửu. ‘Nhưng anh đã được nghe hắn! Anh biết mà!’ cô ấy kêu lên.

“‘Vâng, tôi biết,’ tôi nói với một cảm giác gần như tuyệt vọng trong tim, nhưng cúi đầu trước đức tin ngự trị trong cô ấy, trước ảo tưởng vĩ đại và cứu rỗi đang tỏa sáng thứ ánh sáng phi thường trong bóng tối, trong bóng tối chiến thắng mà từ đó tôi không thể bảo vệ cô ấy—từ đó tôi thậm chí không thể tự bảo vệ lấy chính mình.

“‘Thật là một sự mất mát lớn đối với tôi—đối với chúng tôi!’—cô ấy tự đính chính lại với một sự rộng lượng tuyệt đẹp; rồi nói thêm bằng một tiếng thì thầm: ‘Đối với thế giới.’ Qua những tia sáng mờ ảo cuối cùng của chạng vạng, tôi có thể nhìn thấy ánh lấp lánh trong đôi mắt cô ấy, đẫm lệ—những giọt nước mắt không chịu rơi xuống.

“‘Tôi đã rất hạnh phúc—rất may mắn—rất tự hào,’ cô ấy nói tiếp. ‘Quá may mắn. Quá hạnh phúc trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Và giờ thì tôi đau khổ suốt—suốt quãng đời còn lại.’

“Cô ấy đứng dậy; mái tóc vàng của cô ấy dường như hứng trọn toàn bộ thứ ánh sáng còn sót lại trong một ánh kim tuyến vàng rực. Tôi cũng đứng dậy.

“‘Và tất cả những điều này,’ cô ấy nói tiếp với giọng đầy tang tóc, ‘tất cả những hứa hẹn của hắn, và toàn bộ sự vĩ đại của hắn, tâm hồn hào phóng của hắn, trái tim cao quý của hắn, chẳng còn lại gì—chẳng còn gì ngoài một ký ức. Cả anh và tôi—’

“‘Chúng ta sẽ luôn ghi nhớ hắn,’ tôi vội vã nói.

“‘Không!’ cô ấy thét lên. ‘Thật không thể chấp nhận được khi tất cả những điều này lại bị mai một—khi một cuộc đời như thế lại hy sinh để rồi chẳng để lại gì—ngoài nỗi buồn đau. Anh biết hắn từng ôm ấp những kế hoạch to lớn nhường nào. Tôi cũng biết về chúng—có lẽ tôi không thể hiểu hết—nhưng những người khác thì có biết. Chứa chan điều gì đó phải ở lại chứ. Ít nhất thì những lời nói của hắn cũng đâu có chết.’

“‘Những lời nói của hắn sẽ còn mãi,’ tôi nói.

“‘Và tấm gương của hắn,’ cô ấy thì thầm với chính mình. ‘Mọi người đều kính trọng hắn—sự lương thiện của hắn tỏa sáng trong từng hành động. Tấm gương của hắn—’

“‘Đúng vậy,’ tôi nói; ‘cả tấm gương của hắn nữa. Vâng, tấm gương của hắn. Tôi quên mất điều đó.’

“‘Nhưng tôi thì không. Tôi không thể—tôi không thể tin nổi—vẫn chưa thể tin được. Tôi không thể tin rằng mình sẽ không bao giờ được gặp lại hắn nữa, rằng sẽ chẳng có ai được gặp lại hắn nữa, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ.’

“Cô ấy dang rộng hai tay hệt như đang với theo một bóng người đang khuất dần, vươn chúng về phía sau với đôi bàn tay tái nhợt đan vào nhau băng qua lớp ánh sáng mờ nhạt và hẹp hòi của khung cửa sổ. Không bao giờ gặp lại hắn! Lúc đó tôi nhìn hắn đủ rõ ràng đấy chứ. Tôi sẽ còn nhìn thấy cái bóng hùng biện này chừng nào tôi còn sống, và tôi cũng sẽ nhìn thấy cô ấy, một Bóng Ma bi thương và quen thuộc, trong cử chỉ này lại gợi nhớ đến một bóng ma khác, cũng bi thương không kém và được trang hoàng bằng những thứ bùa chú vô dụng, đang dang rộng đôi tay trần ngăm đen trên sự lấp lánh của dòng sông địa ngục, dòng sông của bóng tối. Cô ấy đột ngột cất giọng rất khẽ: ‘Hắn chết đi hệt như lúc hắn sống.’

“‘Cái chết của hắn,’ tôi nói, với sự tức giận âm ỉ sục sôi trong lòng, ‘xứng đáng với cuộc đời hắn về mọi mặt.’

“‘Và tôi đã không ở bên cạnh anh ấy,’ cô ấy lầm bầm. Cơn giận của tôi lắng xuống trước một cảm giác thương xót vô hạn.

“‘Mọi thứ có thể làm được thì—’ tôi lầm bầm.

“‘A, nhưng tôi tin tưởng anh ấy hơn bất kỳ ai trên đời—hơn cả mẹ đẻ của anh ấy, hơn cả—chính anh ấy. Anh ấy cần tôi! Tôi cơ mà! Tôi đã trân quý từng tiếng thở dài, từng lời nói, từng dấu hiệu, từng ánh nhìn.’

“Tôi cảm thấy như có một cái siết lạnh buốt quanh lồng ngực. ‘Đừng như thế,’ tôi nói bằng một giọng nghẹn ngào.

“‘Xin hãy tha thứ cho tôi. Tôi—tôi đã chịu tang trong cô độc quá lâu—trong cô độc... Anh đã ở bên anh ấy—cho đến tận cùng ư? Tôi luôn nghĩ về sự cô đơn của anh ấy. Chẳng có ai ở gần để hiểu anh ấy như cách tôi đã thấu hiểu. Có lẽ chẳng có ai để lắng nghe...’

“‘Cho đến tận cùng,’ tôi nói với giọng run rẩy. ‘Tôi đã nghe những lời trăn trối cuối cùng của hắn...’ Tôi khựng lại vì hoảng hốt.

“‘Hãy nhắc lại chúng đi,’ cô ấy lầm bầm bằng một giọng đau đớn đến xé lòng. ‘Tôi muốn—tôi muốn—điều gì đó—điều gì đó—để—để có thể bấu víu vào mà sống tiếp.’

“Tôi suýt nữa thì quát vào mặt cô ấy: ‘Cô không nghe thấy chúng đấy à?’ Chạng vạng đang lặp lại những từ đó bằng một tiếng thì thầm dai dẳng xung quanh chúng tôi, trong một tiếng thì thầm dường như đang dâng trào đầy đe dọa hệt như tiếng thì thầm đầu tiên của một cơn gió nổi lên. ‘Sự kinh hoàng! Sự kinh hoàng!’

“‘Lời trăn trối cuối cùng của anh ấy—để tôi sống với nó,’ cô ấy nài nỉ. ‘Anh không hiểu rằng tôi yêu anh ấy—tôi yêu anh ấy—tôi yêu anh ấy biết bao nhiêu sao!’

“Tôi lấy lại bình tĩnh và chậm rãi lên tiếng.

“‘Từ cuối cùng mà hắn thốt ra là—tên của cô.’

“Tôi nghe thấy một tiếng thở dài nhẹ nhõm và rồi trái tim tôi đứng trân lại, bị chặn đứng hoàn toàn bởi một tiếng thét đầy hoan hỉ và kinh hoàng, bởi tiếng thét của sự chiến thắng không thể tưởng tượng nổi và nỗi đau không thể thốt nên lời. ‘Tôi biết mà—tôi chắc chắn là thế!’... Cô ấy đã biết. Cô ấy đã chắc chắn. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy khóc nức nở; cô ấy đã giấu khuôn mặt vào hai bàn tay. Tôi có cảm giác như ngôi nhà sẽ sụp đổ trước khi tôi kịp chạy thoát, rằng bầu trời sẽ đổ sụp xuống đầu tôi. Nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Bầu trời đâu có sụp xuống chỉ vì một chuyện cỏn con như thế. Tự hỏi không biết liệu chúng có sụp xuống không, nếu tôi dành cho Kurtz sự công lý mà hắn xứng đáng được hưởng? Chẳng phải hắn từng nói hắn chỉ muốn công lý thôi sao? Nhưng tôi không thể. Tôi không thể nói cho cô ấy biết điều đó. Mọi thứ sẽ quá tăm tối—quá tăm tối toàn tập...’

Marlow ngừng lời, và ngồi tách biệt, mờ mịt và im lặng, trong tư thế của một vị Phật đang trầm tư. Không ai nhúc nhích trong một lúc. “Chúng ta đã lỡ mất nhịp đầu tiên của thủy triều rút,” viên quản lý đột ngột lên tiếng. Tôi ngẩng đầu lên. Ngoài khơi bị chặn lại bởi một dải mây đen kịt, và dòng nước phẳng lặng dẫn đến tận cùng các cùng trời cuối đất trôi đi u ám dưới bầu trời u ám—dường như dẫn thẳng vào trái tim của một bóng tối bao la.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Joseph Conrad

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.