Quy Tắc Của Nghệ Thuật

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc mở đầu tái lặp Ảo tưởng và sự tham dự trò chơi [illusion]

❊ ❊ ❊

Tạo ra sự thực là nhằm mang đến ảo tưởng trọn vẹn về sự thực theo logic thông thường của các dữ kiện, chứ không nhằm phiên chuyển chúng một cách tầm thường thành sự lộn xộn của những sự kế tiếp. Tôi kết luận rằng các nhà Hiện thực chủ nghĩa tài năng cần phải được gọi đúng hơn là những nhà ảo tượng [illusionniste] […] Mỗi người trong chúng ta do thế đều có một ảo tưởng về thế giới, ảo tưởng nên thơ, đa cảm, vui vẻ, trầm tư, bẩn thỉu hay bệnh hoạn tùy theo bản chất. Còn nhà văn không có chức phận nào khác ngoài việc tái tạo trung thành cái ảo tưởng này với mọi phương thức nghệ thuật mà anh đã biết và anh có thể có.

Guy de Maupassant

Như vậy cần chấp nhận rằng chính việc phân tích theo lối lịch sử cho phép hiểu được những điều kiện của “việc hiểu”, tức sự chiếm hữu tượng trưng, có thực hay hư cấu, một đối tượng tượng trưng, thứ có thể được đi kèm bằng hình thức niềm vui cụ thể mà chúng ta gọi là mĩ học. Điều ấy không làm cho hiểu biết về sự thật lịch sử thành điều kiện và giới hạn của thú vui mĩ học (nghĩa là kết án những thú văn chương hay nghệ thuật, như trong huyền thoại Amphitryon thì chúng là sản phẩm của sự hiểu nhầm).

“Sự tháo dỡ đầy báng bổ của hư cấu” - dù bản thân nó tự coi là giả vờ và bịa chuyện, như hư cấu văn chương (ít nhất khi hư cấu đạt tới được ý thức về mình) hay là, như Searle quan sát, dù hư cấu coi là nghiêm túc điều mà nó nói và dù nó chấp nhận đáp lời, tức là trong trường hợp cần thiết, tín là lỗi, như hư cấu khoa học - dẫn tới việc khám phá cùng với Mallarmé rằng nền tảng của niềm tin (và của khoái lạc mà hư cấu có được trong trường hợp hư cấu văn chương) là nằm trong illusio, trong sự tham dự trò chơi với tư cách vốn có, việc chấp nhận cái tiền giả định căn bản mà trò chơi, văn chương hay khoa học, xứng đáng được chơi, được coi là nghiêm túc. Illusio văn chương - sự tham gia nguyên thủy này vào trò chơi văn chương, vốn đặt nền tảng vào trong niềm tín về tầm quan trọng hay mối quan tâm của các hư cấu văn chương - là điều kiện gần như luôn khó nhận ra của thú vui thẩm mĩ, thứ luôn phần nào là thú vui chơi trò chơi, thú vui tham gia vào sự hư cấu, thú vui hòa hợp hoàn toàn với các tiền giả định của trò chơi; đó là điều kiện của cả ảo tưởng văn chương lẫn hiệu ứng niềm tin (đúng hơn là “hiệu ứng hiện thực”) mà văn bản có thể tạo ra.

Để hiểu bản thân hiệu ứng niềm tin này, bằng việc phân biệt nó với hiệu ứng được tạo ra bởi văn bản khoa học, cần phải - trong lúc đi theo việc phân tích ở hành vi của Faulkner - thấy rằng nó dựa trên sự hòa hợp giữa các tiền giả định, hay chính xác hơn là các mô hình kiến tạo được người kể và người đọc (hay trong trường hợp phân tích của Baxadall là người họa sĩ và người xem) đưa vào sản xuất và tiếp nhận tác phẩm và chúng - vì được sở hữu chung - được dùng để kiến tạo nên thế giới của cảm thức thông thường (khi sự hòa hợp gần như phổ quát dựa trên các cấu trúc đó, đặc biệt không gian và thời gian, là nền tảng của illusio [sự tham dự vào trò chơi] căn bản, niềm tin vào thực tại của thế giới).

Flaubert kéo dài, bằng việc đào sâu chúng, sự tra vấn của Mallarmé về những nền tảng của niềm tin mà ta có thể gọi là kinh viện vì nó có liên quan đến sự tồn tại trường lực, những nền tảng ấy có điểm chung trong việc giả thiết cái skholè [sự nhàn tản] và sự tra vấn của Faulkner về các nền tảng của niềm tin trong điều mà văn bản biểu đạt. Điều đó có trong các câu chuyện hư cấu có dùng hiệu quả niềm tin để đặt câu hỏi về những nền tảng niềm tin. Ông không bằng lòng trong việc dàn dựng để các nhân vật, như Frédéric hay bà Arnoux, trải nghiệm một cách văn chương cuộc phiêu lưu văn chương, cái huyền thoại về một đam mê lớn lao bất khả - họ đưa niềm tin vào văn chương, tức là vào sự hư cấu, vào cái phi thực, tới mức sống một cách phi thực tại với những thứ sáo mòn cũ nhất của hư cấu như huyền thoại về sự thanh sạch ái tình (“với tôi dường như bà ở đó khi tôi đọc những đoạn văn ái tình trong sách”). Flaubert liên kết khuynh hướng coi là nghiêm túc mọi ảo tưởng về nghệ thuật và tình yêu với khuynh hướng chỉ đối đầu cái thực thông qua một sự dự báo văn chương thiên về vỡ mộng, thiên về một dạng bệnh học của niềm tin sơ khởi vào thực tại của các trò chơi xã hội, về một sự bất lực bước vào trong illusio như ảo tưởng thực tế được chia sẻ và được tán thưởng một cách tập thể. Flaubert còn gắn hiển nhiên xu hướng chạy trôn không thể kìm nén này vào trong chuyện hư cấu mà ông chia sẻ với với Frédéric, và được ông hoàn tất một cách chủ động bằng việc viết một tác phẩm ở đó ông khách quan hóa việc viết lách, ở một dạng bất lực coi là nghiêm túc đối với những trò chơi xã hội thực tế nhất, thế giới của cảm thức thông thường, của kinh nghiệm kiểu tri thức chung [doxa] về thế giới tầm thường được cung cấp bởi một sự xã hội hóa thành công, nghĩa là có khả năng đảm bảo sự sát nhập các cấu trúc được chia sẻ, những cấu trúc lập nên điều mà Durkheim gọi là “chủ nghĩa bảo thủ hợp lí” [conformisme logique], và qua đó là sự nhất trí về ý nghĩa của thế giới.

Tóm lại, bằng việc quay trở lại không mệt mỏi, từ Bà Bovary tới Bouvard và Pecuchet, qua Giáo dục tình cảm, tới những nhân vật sống cuộc đời như một tiểu thuyết vì họ coi hư cấu quá mức nghiêm túc do thiếu khả năng coi là nghiêm túc đối với cái thực và họ phạm một “lỗi phạm trù”, hoàn toàn tương tự với lỗi của nhà tiểu thuyết hiện thực và độc giả, Flaubert nhắc lại rằng thiên hướng dành cái thực tại cho các hư cấu (tới mức muốn cái thực tại của sự tồn tại phải phù hợp với các hư cấu, như Don Quixote, Emma hay Frédéric) có thể tìm được nền tảng của mình trong một dạng dửng dưng, khách quan, một dị bản đầy bị động của sự không động tâm khắc kỉ [ataraxie stoicienne], điều khiến ta thấy thực tại như là ảo tưởng và nhận thấy sự tham dự trò chơi [illusion] trong sự thực “ảo tưởng được lập ra [như nền tảng]”, hãy mượn lại cách diễn đạt mà Durkheim dùng nhân nói đến tôn giáo.

Coi là nghiêm túc cái ảo tưởng văn chương, đó quả thực là chơi một illusio này chống lại một cái khác, một illusio được dành cho happy few[1], thứ illusio văn chương, tức niềm tin tăng lữ, sự ưu tiên của những ai sống bằng văn học và những ai có thể bằng viết lách trải nghiệm cuộc sống như một cuộc phiêu lưu văn chương, chống lại illusio quen thuộc nhất và được chia sẻ phổ quát nhất, thứ illusio của cảm thức thông thường. Với Don Quixote thì Sancho thuộc về cái mà Thalès cần ở người giúp việc nữ Thrace, một lời nhắc thường trực về thực tại của thế giới cảm thức thông thưởng, của thế giới chung, gần như được chia sẻ phổ quát, khác với những thế giới đặc biệt, cấc tiểu thế giới được thành lập - như thế giới của văn học và khoa học - dựa trên một sự đoạn tuyệt với cảm thức thông thường, với sự tham dự kiểu doxa vào thế giới thông thường.

Nhưng công việc phân tích các hình thức của ảo tưởng này và các hình thức của illusio và những mối quan hệ của chúng, Flaubert hoàn tất nhờ vào một thức diễn đạt cực kì văn chương, mang đến cơ hội nắm bắt sự khác biệt giữa diễn đạt văn chương và diễn đạt khoa học. Nếu ông đặt vấn đề hư cấu về thực tại và của thực tại như hư cấu, thì chính là trong một hư cấu - hẳn là hơn bất kì một hư cấu khác - nó có khả năng tạo ra ảo tưởng về thực tại. Điều ấy là vì, như Faulkner, ông đã vận dụng những cấu trúc sâu nhất của thế giới xã hội, những thứ đồng thời là những cấu trúc tính thần được người đọc dùng trong việc đọc của mình và khi là sản phẩm của việc phiên chế các cấu trúc của thế giới hiện thực thì chúng được dành cho thế giới này và có khả năng lập nên niềm tin trọn vẹn nhất trong sự hư cấu, điều gợi ra những cấu trúc đó, giống như chúng làm nền tảng cho niềm tin vào kinh nghiêm thông thường về thế giới. Nhưng các cấu trúc này không bị tháo gỡ như trong phân tích khoa học: các cấu trúc ấy chứa một lịch sử, ở đó chúng vừa được hiện thực hóa và vừa được ẩn đi. Diễn đạt văn chương, như diễn đạt khoa học, dựa trên các mã quy ước, các tiền giả định được lập nên về mặt xã hội, các mô hình phân loại được tạo nên về mặt lịch sử, như sự đối lập giữa nghệ thuật và tiền bạc, nó tổ chức toàn bộ kết cấu của Giáo dục tình cảm, và việc đọc nó. Nhưng tác phẩm chỉ giải phóng các cấu trúc này và các câu hỏi được tác phẩm đặt ra nhân nói đến chúng, như các câu hỏi mà tôi vừa kiểm tra, qua những câu chuyện cụ thể, qua những ví dụ tiêu biểu đặc thù, nói như Nelson Goodman chúng như những mẫu vật của thế giới có thực: các mẫu vật đại diện và thể hiện này, chúng là ví dụ một cách cụ thể - kiểu như mẩu vải thể hiện cả tấm vải - cho thực tại được gợi đến, tất cả xuất hiện thực sự với tất cả các hình thức của thế giới về cảm thức thong thường, được chứa đựng bởi các cấu trúc nhưng lại được che giấu dưới vẻ ngoài phiêu lưu ngẫu nhiên, các tai biến giai thoại, sự kiện cụ thể. Hình thức gợi ý, ẩn dụ, che khuất này là điều làm cho, như trong cái có thực, tấm vải văn chương gắn với cấu trúc nhưng lại che phủ cấu trúc đó khi ta nhìn. Ngược lại, khoa học cố gắng nói mọi điều như chúng vốn có, không uyển ngữ và đòi hỏi được coi là nghiêm túc, nhất là khi nó phân tích các nền tảng của hình thức hoàn toàn đặc thù của illusio vốn chính là illusio khoa học.

❀ ❀ ❀

[1] Có lẽ Bourdieu muốn nhắc tới dòng đề từ the Happy few [hạnh phúc nhỏ nhoi] của Stendhal cho tiểu thuyết Tu viện thành Parme, dòng chữ này có liên quan tới kịch Shakespaere, tác giả mà ông yêu thích và từng viện tới trong một nỗ lực đầy lãng mạn đoạn tuyệt với di sản cổ điển, tức những gì đã thành văn chương sáo mòn vào thế kỉ XIX (ND).

Phùng Ngọc Kiên, Nguyễn Phương Ngọc dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.