Quy Tắc Của Nghệ Thuật

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời bạt Vì một tinh thần đoàn thể của tính phổ quát

❊ ❊ ❊

Xưa kia, các nhà xảo biện nói với một nhóm nhỏ, còn giờ báo chí thường kì cho phép họ làm cả một quốc gia sai lạc.

Honoré de Balzac

Khác với các chương trước, chương này là, và mong muốn là, một sự chiếm lĩnh vị thế chuẩn mực được lập ra dựa trên sự tin chắc rằng có thể rút ra từ hiểu biết về logic hoạt động của các trường sản xuất văn hóa một chương trình hiện thực đối với một hành động tập thể của các trí thức. Một chương trình như thế là cần thiết với một sự gấp gáp đặc biệt trong những thời đại trung hưng này: dưới hiệu ứng của một tổng thể các yếu tố đồng quy, các cuộc chinh phục tập thể quý giá nhất của các trí thức bị đe dọa, bắt đầu bằng các xu thế phê bình - vừa là sản phẩm vừa là sự đảm bảo cho sự tự trị của họ. Có trào lưu tuyên bố khắp nơi, ngôn từ to tát, cái chết của các trí thức, nghĩa là sự chung kết của một trong những đối trọng phê phán cuối cùng có khả năng đối lập với các lực lượng thuộc trật tự kinh tế và chính trị. Và các nhà tiên tri bất hạnh hiển nhiên xuất phát trong số những người hẳn là có được tất cả với sự biến mất đó: bởi “sự nóng vội của các vị kí lục được thấy mình in ấn, chơi, nổi tiếng, được ngợi ca” - như Flaubert từng nói - thúc đẩy tới mọi sự thỏa hiệp với quyền lực của thời điểm, các nhà báo, nhà kinh tế hay nhà chính khách, các vị kí lục đó muốn rời bỏ khỏi những ai miệt mài bảo vệ hoặc hóa thân cho những đức tính và các giá trị bị đe dọa song vẫn có khả năng đe dọa sự tồn tại của họ. Có ý nghĩa là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của “các nhà triết học phóng viên” đó, như cách gọi của Wittgenstein, cố ý tấn công Baudelaire trước khi làm nên một câu chuyện về các trí thức trên truyền hình ở đó theo cách nhân vật của Walter de la Mare - kẻ chỉ nhìn thấy phần dưới của thế giới, các bệ cột, chân, giày dép - anh ta chỉ kể lại từ cuộc phiêu lưu khổng lồ này điều mình có thế hiểu như những sự hèn nhát, phản bội, thấp hèn, nhỏ nhen.

Tôi nói ở đây với tất cả những ai hình dung văn hóa không phải như một di sản, thứ văn hóa chết mà người ta tôn sùng cưỡng bức bằng một sự sùng tín nghi thức, cũng không phải như một phương tiện thống trị và phân biệt, thứ văn hóa pháo đài và Bastille được ta đối lập với những người Mọi từ bên trong và từ bên ngoài, giờ đây thường là như nhau với những người bảo vệ mới của phương Tây, mà là như phương tiện giải phóng ủng hộ tự do, như modus operandi [thói quen làm việc] cho phép việc vượt qua thường xuyên opus operatum [hoạt lực], văn hóa đồ vật và đóng khép. Những người ấy sẽ dành cho tôi, hi vọng thế, quyền mà tôi dành cho mình ở đây khi viện đến sự hóa thân hiện đại của quyền lực phê phán của các trí thức có thể là một tập thể trí thức có khả năng làm mọi người nghe được một diễn văn tự do, khi không biết một chút giới hạn nào khác ngoài những cưỡng bức và những kiểm soát mà từng nghệ sĩ, từng nhà văn và từng nhà bác học - được vũ trang bằng mọi tri thức của những người đi trước - khiến đè nặng lên chính mình và lên những người khác.

Người trí thức là một sinh thể đầy mâu thuẫn, mà ta không thể tư duy như thế chừng nào người ta còn lĩnh hội anh ta thông qua sự lựa chọn cưỡng bức tự trị hay dấn thân, văn hóa thuần túy hay chính trị. Vì anh ta được tạo nên theo lịch sử, trong và qua sự vượt thoát sự đối lập này: các nhà văn, các nghệ sĩ và các nhà bác học tự khẳng định lần đầu tiên như trí thức khi, trong vụ Dreyfus, họ can dự vào đời sống chính trị như vốn là thế, nghĩa là với một uy tín đặc thù dựa trên việc thuộc về thế giới tương đối tự trị của nghệ thuật, khoa học, văn học, và nhất là những giá trị được tích hợp vào sự tự trị - khách quan và có thẩm quyền…

Người trí thức là một nhân vật có hai chiều kích chỉ tồn tại và chỉ còn lại như thế nếu (và chỉ nếu) anh ta được cấp một quyền lực đặc thù, được trao bởi một thế giới trí thức tự trị (nghĩa là độc lập với các quyền lực tôn giáo, chính trị, kinh tế) có quy tắc đặc thù được anh ta tôn trọng, và nếu (và chỉ nếu) anh ta dùng uy quyền này vào các cuộc đấu tranh chính trị. Vì không tồn tại, như người ta thường tin, một sự mâu thuẫn giữa tìm kiếm sự tự trị (điều đặc trưng cho nghệ thuật, khoa học hay văn học mà ta nói là “thuần túy”) và tìm kiếm tính hiệu quả chính trị, nên chính là bằng việc gia tăng sự tự trị của mình (và qua đó giữa những điều khác nhau, đó là tự do phê bình của họ đối với quyền lực) mà các trí thức có thể gia tăng tính hiệu quả của một hành động chính trị, mà mục đích và phương tiện của hành vi chính trị tìm được nguyên lí của mình trong logic đặc thù các trường sản xuất văn hóa.

Cần và chỉ cần chối bỏ sự lựa chọn cũ kĩ giữa nghệ thuật thuần túy và nghệ thuật có tính dấn thân là chúng ta có tất cả trong đầu óc, và sự lựa chọn đó lại nổi lên đúng kì trong những tranh luận văn chương, để có khả năng định nghĩa điều có thể là những định hướng lớn lao của một hành động tập thể của các trí thức. Nhưng kiểu loại bỏ các hình thức tư duy này mà chúng ta áp đặt cho chính mình khi tự coi mình như đối tượng tư duy là vô cùng khó khăn. Chính vì thế, trước khi phát ngôn những định hướng đó và để có thể làm được điều đó, cần cố gắng nói rõ ràng một cách đầy đủ nhất có thể cái vô thức mà bản thân lịch sử, với thành quả là trí thức, đã đặt lên từng người trí thức. Ngược với chứng lãng quên của sự thành tạo, vốn là cơ sở cho mọi hình thức của ảo tưởng siêu nghiệm, người trí thức không phải là liều thuốc giải độc hiệu quả hơn việc tái kiến tạo lịch sử bị lãng quên hay bị vùi lấp, điều đó tồn dư trong những hình thức tư duy về mặt hình thức là phi lịch sử, những hình thức này cấu trúc nên sự cảm nhận của chúng ta về thế giới và về chính mình.

Lịch sử lặp lại một cách đặc biệt vì sự thay đổi đều đều khoác lên cái hình thức của một vận động con lắc giữa hai thái độ có thể đối với chính trị, sự tham chính và sự rút lui (về điều này ít nhất là cho tới việc vượt bỏ sự đối lập giữa Zola với những người ủng hộ Dreyfus). Sự “tham chính” của các “nhà triết học” được Voltaire, trong mục từ của Từ điển triết học có tên “Văn nhân” vào năm 1765, đối lập với thói tối tăm kinh viện của các trường đại học suy đồi và các Viện Hàn lâm, “nơi ta nói mọi thứ”, “nửa chừng”, có được sự tiếp nối trong sự tham gia của “các văn nhân” vào Cách mạng Pháp - ngay cả, như Robert Darnton đã chứng minh, nếu “thói giang hồ văn chương” trong những “sự lộn xộn” cách mạng có được cơ hội một sự trả thù đối với những gì thiêng liêng nhất của những kẻ tiếp bước “các nhà triết học”.

Trong thời kì trung hưng hậu cách mạng, các “văn nhân”, vì họ bị coi là có trách nhiệm không chỉ với các trào lưu ý tưởng cách mạng - thông qua vai trò của opinion makers [những người tạo ra dư luận] mà vô số các tờ báo trong chặng đầu tiên của Cách Mạng trao cho họ - mà cũng vì những quá khích của thời Khủng bố, bị bao quanh bởi sự nghi ngờ, thậm chí khinh thị, bởi thế hệ trẻ những năm 1820 - và đặc biệt bởi những nhà lãng mạn, những người trong giai đoạn đầu của phong trào đã chối bỏ và từ chối tham vọng của “nhà triết học” can dự vào đời sống chính trị và đề xuất một cái nhìn duy lí về sự trưởng thành lịch sử. Nhưng khi sự tự trị của trường trí thức bị đe dọa bởi chính sách phản động của thời Trung Hưng, các nhà thơ lãng mạn - những người được dẫn dắt tới khẳng định mong muốn tự trị bằng một sự khồi phục sự nhạy cảm và tình cảm tôn giáo chống lại Tôn giáo và sự phê bình các tín điều - không chậm trễ trong việc đòi hỏi, như Michelet và Saint-Simon, tự do cho nhà văn và nhà bác học, và họ đảm nhiệm chức trách tiên tri vốn từng là của nhà triết học thế kỉ XVII.

Nhưng là phong trào dao động mới, chủ nghĩa lãng mạn dân túy, vốn dường như bị xâm chiếm bởi hầu như toàn bộ các nhà văn trong thời kì trước cách mạng 1848, không tồn tại nổi sau thất bại của trào lưu và sự thiết lập của Đế chính hai: sự sụp đổ của những ảo tưởng, mà tôi cố tình gọi là những nhà cách mạng năm bốn tám, bởi tương tự với những ảo tưởng của các nhà cách mạng năm sáu tám [của thế kỉ XX - ND] - sự sụp đổ hãy còn ám ảnh chúng ta hiện nay - đã dẫn tới sự tỉnh ngộ được Flaubert nhắc đến một cách dữ dội trong Giáo dục tình cảm, tác phẩm đã cung cấp một mảnh đất thuận lợi cho một khẳng định mới về sự tự trị, lần này về căn bản của nhóm tinh hoa, trong giới trí thức. Những người bảo vệ nghệ thuật vị nghệ thuật như Flaubert hay Théophile Gautier khẳng định sự tự chủ của người nghệ sĩ bằng việc tự mình đối lập với cả “nghệ thuật xã hội” và với “thói giang hồ văn chương” lẫn với nghệ thuật tư sản, thứ nghệ thuật phụ thuộc vào các chuẩn mực của khách hàng tư sản về mặt chất liệu nghệ thuật lẫn nghệ thuật sống. Họ đối lập với thứ quyền lực mới sinh ra là nền công nghiệp văn hóa khi chối từ phục tùng “văn học công nghiệp” (trừ nhân danh thay thế việc cung cấp niên liễm, như ở Gautier hay Nerval). Bởi không chấp nhận đánh giá nào khác ngoài của những kẻ ngang cơ [pairs], họ khẳng định sự khép kín trong chính mình của trường văn học cũng như sự chối từ ra khỏi tháp ngà của nhà văn để thực hiện một hình thức nào đó của quyền lực (về chuyện này là khi đoạn tuyệt với nhà thơ thần cảm [poète vates] kiểu Hugo hay nhà bác học kiểu Michelet).

Bởi một nghịch lí hình thức, chỉ vào cuối thế kỉ XIX, vào lúc trường văn học, trường nghệ thuật và trường khoa học đạt tới sự tự trị thì các tác nhân tự chủ nhất của các trường này mới có thể can dự vào trong trường chính trị với tư cách người trí thức - không phải với tư cách người sản xuất sáng tạo văn hóa được cải thành chính khách theo kiểu Guizot hay Lamarrtine - nghĩa là với một uy tín được dựa trên sự tự trị của trường và tất cả những giá trị được gán cho trường, sự thuần khiết đạo đức, năng lực đặc thù… Một cách cụ thể, uy tín nghệ thuật và khoa học đích thực được khẳng định qua những hành vi chính trị như bản “Tôi tố cáo” của Zola và những dự định nhằm ủng hộ ông. Những sự can dự này của một kiểu mới có xu hướng tối đa hóa hai chiều kích cấu thành nên đặc tính của người trí thức, người được khám phá thông qua các hành vi ấy, “sự thuần khiết” và “sự dấn thân”, chúng làm sinh ra một chính sách về sự thuần khiết vốn là phản đề tuyệt rõ của lí trí Nhà nước. Những can dự ấy quả thực hàm ý sự khẳng định quyền xâm phạm các giá trị thiêng liêng nhất của tính tập thể - các giá trị của lòng yêu nước chẳng hạn với sự hỗ trợ mang đến cho bài báo vu khống Zola chống lại quân đội hay rất lâu sau trong chiến tranh Algérie là lời kêu gọi ủng hộ kẻ thù - nhân danh những giá trị siêu việt vượt trên những giá trị của Nhà nước, hay nếu muốn là nhân danh một hình thức cụ thể có tính phổ quát luận đạo đức [universalisme éthique] và khoa học, hình thức đó muốn được sử dụng như nền tảng không chỉ cho một dạng uy quyền luân lí mà còn cho một sự huy động tập thể nhằm tới một cuộc chiến hướng đến thúc đẩy các giá trị đó.

Có lẽ chỉ cần thêm vào việc gợi ra lướt nhanh trên những chặng lớn của sự thành tạo gương mặt trí thức một vài chỉ dẫn về chính sách văn hóa của nền Cộng hòa năm 1848 hay chính sách của Công xã [Paris] để có một bức tranh gần như đầy đủ về các quan hệ có thể giữa những nhà sản xuất văn hóa và các quyền lực tựa như người ta có thể quan sát hoặc trong lịch sử của một nước duy nhất, hoặc trong không gian chính trị hiện nay của các Nhà nước châu Âu. Lịch sử mang đến một bài giảng quan trọng: chúng ta ở trong một trò chơi ở đó mọi ván chơi được chơi hôm nay, chỗ này chỗ kia, đều từng được chơi - kể từ việc từ chối chính sách và việc quay lại với thầy tu cho tới sự cưỡng lại với hành động của một quyền lực chính trị ác cảm với mọi thứ trí thức, ngang qua cuộc nổi loạn chống lại việc chiếm giữ khu vực mà ngày nay được vài người gọi là các phương tiện truyền thông hay sự bỏ quên bị vỡ mộng với những thế giới không tưởng [utopie] cách mạng.

Nhưng việc đứng như thế ở “tàn cuộc” không nhất thiết dẫn đến sự tỉnh ngộ. Quả thực rõ ràng là người trí thức (hay đúng hơn các trường tự chủ khiến anh ta trở nên có thể) không được thiết đặt ngay từ ban đầu và dứt khoát với Zola và rằng những người nắm giữ vốn văn hóa luôn có thể “thoái bộ” - sau một sự phân rã dạng kết hợp không ổn định vốn định nghĩa người trí thức - hướng đến những vị thế này hay kia về hình thức như là bị loại trừ, nghĩa là hướng đến vai trò của nhà văn, người nghệ sĩ hay nhà bác học “thuần túy” hay hướng đến vai trò tác nhân chính trị, báo chí, chính khách, chuyên gia. Ngoài ra, ngược với điều mà cái nhìn ngây thơ kiểu Hegel về lịch sử trí thức có thể khiến ta tin, việc đòi hỏi tính tự trị gắn vào chính sự tồn tại của một trường sản xuất văn hóa phải thanh toán với những trở ngại và những quyền lực không ngừng được đổi mới, dù đó là các quyền lực bên ngoài như của Nhà thờ, Nhà nước hay của các doanh nghiệp lớn, hay của các quyền lực bên trong, và đặc biệt những quyền lực được đưa ra bởi việc kiểm soát các phương tiện sản xuất và phát hành đặc thù (báo chí, nhà in, đài phát thanh, truyền hình).

Đó là một trong những lí do - với những khác biệt tùy theo lịch sử quốc gia - chúng khiến cho những sự biến dị tùy theo các nước của những mối quan hệ hiện tại và quá khứ giữa trường trí thức và các quyền lực chính trị che đi những sự bất biến, tuy nhiên lại quan trọng hơn, những sự bất biến là nền tảng thực sự của sự thống nhất có thể cho các trí thức của mọi quốc gia. Cùng ý định tự trị có thể thực sự được thể hiện trong những việc chiếm giữ vị thế đối lập (thế tục trong trường hợp này, tôn giáo trong trường hợp kia) tùy theo cấu trúc và lịch sử của các quyền lực mà ý định đó được khẳng định bằng việc chống lại nó. Các trí thức của những quốc gia khác nhau phải hoàn toàn ý thức về cơ chế này nếu họ muốn tránh để mình bị chia cắt bởi những sự đối lập do tình thế và hiện tượng, chúng có nguyên tắc là việc bản thân ý chí giải phóng luôn vấp phải những lực cản khác nhau. Tôi có thể lấy ví dụ ở đây về các nhà triết học Pháp và Đức nổi tiếng nhất những người - vì họ đối lập bản thân mối quan tâm tự trị với những truyền thống lịch sử bị đàn áp - về hình thức trong các mối quan hệ đối lập với sự thực và với lí trí có vẻ như bị lật ngược. Nhưng tôi có thể cũng lấy ví dụ về một vấn đề như những cuộc thăm dò ý kiến được một số nhà triết học ở phương Tây thể coi như một phương tiện cai trị vô cùng tinh vi, trong khi nó có thể hiện ra ở những nước khác, trong các nước Đông Âu chẳng hạn, như một sự chinh phục tự do.

Các trí thức của những nước châu Âu khác nhau chỉ có thể vượt qua những sự đối lập có nguy cơ chia rẽ nếu họ có một ý thức rõ ràng về các cấu trúc và các lịch sử quốc gia của quyền lực, mà họ phải tự khẳng định chống lại chúng để tồn tại với tư cách người trí thức; và chẳng hạn nếu họ biết nhận ra trong những câu chuyện của những người đồng nghiệp nước ngoài nào đó (và đặc biệt trong điều mà những câu chuyện đó có thể có vẻ gây thất vọng hay gây sốc) hiệu quả của khoảng cách lịch sử và địa lí với những kinh nghiệm chuyên chế như phát xít hay chuyên chính như chế độ Staline, hoặc với những phong trào chính trị mơ hồ như các cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968, hoặc trong trật tự các quyền lực nội tại đó là hiệu quả của kinh nghiệm hiện tại và quá khứ ở những thế giới trí thức tuân phục một cách bất cân xứng đối với sự kiểm duyệt mở hay tiềm tàng của chính trị hay của kinh tế, của trường đại học hay của Viện Hàn lâm…

Khi chúng ta nói trong tư cách các trí thức, nghĩa là với tham vọng về tính phổ quát, nghĩa là vào từng khoảnh khắc thì đó là vô thức lịch sử gắn với kinh nghiệm của một trường trí thức cụ thể nói qua miệng chúng ta. Tôi tin rằng chúng ta chỉ có may mắn nào đó đạt tới được một sự truyền thống thực sự với điều kiện khách quan hóa và làm chủ được các vô thức lịch sử vốn chia tách chúng ta, nghĩa là các lịch sử đặc biệt của các thế giới trí thức mà các phạm trù cảm nhận và tư duy của chúng ta là sản phẩm của chúng.

Tôi muốn giờ đây đi tới trình bày về những lí do đặc thù ngày nay đang áp đặt, với một sự khẩn cấp đặc biệt, một sự vận động các trí thức và sự sáng tạo một liên đoàn Quốc tế đoàn các trí thức [International des intellectuels] thực sự gắn với việc bảo vệ sự tự trị của các thế giới sản xuất văn hóa, hay để nhại một thứ ngôn ngữ hiện nay hơi được ưa chuộng, quyền sở hữu của các nhà sản xuất văn hóa với công cụ sản xuất và lưu thông của họ (tức là đánh giá và vinh danh). Tôi không tin hi sinh cho một cái nhìn khải huyền về trạng thái của trường sản xuất văn hóa trong những quốc gia châu Âu khác nhau khi nói rằng sự tự trị này bị đe dọa cực kì mạnh, hay chính xác hơn rằng những sự đe dọa của một loại hoàn toàn mới giờ đè nặng lên sự hoạt động của nó; và rằng các nghệ sĩ, các nhà văn và các nhà bác học càng ngày càng bị loại hoàn toàn khỏi các cuộc tranh luận công cộng, vừa là vì họ ít có xu hướng can dự vào đó và vừa vì khả năng can thiệp vào đó một cách hiệu quả càng ngày càng ít dành cho họ.

Những sự đe dọa tới sự tự trị xuất phát từ sự thâm nhập lẫn nhau càng ngày càng lớn giữa thế giới của nghệ thuật và thế giới của tiền bạc. Tôi nghĩ tới những hình thức bảo trợ mới, tới những liên minh mới được thiết lập giữa một vài doanh nghiệp kinh tế, thường hiện đại nhất - như Daimler-Benz hay các ngân hàng ở Đức - và các nhà sản xuất văn hóa; tôi cũng nghĩ việc càng ngày càng thường xuyên hơn việc nghiên cứu đại học viện tới các nhà tài trợ [sponsor] hay tới sự sáng tạo giảng dạy gắn trực tiếp với doanh nghiệp (như ở Đức với Technologiezentren hoặc ở Pháp với các trường thương mại thực hành). Nhưng dấu ấn hay ảnh hưởng của kinh tế tới việc nghiên cứu nghệ thuật hay khoa học cũng hoạt động chính bên trong trường thông qua việc kiểm soát các phương tiện sản xuất và phát hành văn hóa, thậm chí các bậc vinh danh. Các nhà sản xuất gắn với những chế độ quan liêu văn hóa lớn (báo chí, phát thanh, truyền hình) càng ngày càng buộc phải chấp nhận và thông qua những chuẩn mực và những sự ép buộc gắn với các đòi hỏi của thị trường, và nhất là với các áp lực ít nhiều mạnh và trực tiếp của những người đăng quảng cáo; và họ ít nhiều có xu hướng một cách vô thức tạo nên ở mức độ phổ quát sự hoàn tất trí thức những hình thức của hoạt lực trí thức, mà những điều kiện làm việc của họ buộc họ phải theo (tôi nghĩ chẳng hạn tới fast writing [viết nhanh] và tới fast reading [đọc vội], chúng thường là quy luật sản xuất và phê bình báo chí). Người ta có thể tự hỏi liệu việc chia thành hai thị trường, vốn đặc trưng cho các trường sản xuất văn hóa từ giữa thế kỉ XIX với một bên là trường giới hạn các nhà sản xuất cho nhà sản xuất, và bên kia là trường sản xuất lớn và “văn học công nghiệp”, có bị đe dọa biến mất, khi logic của việc sản xuất thương mại có xu hướng càng ngày càng áp đặt cho sản xuất tiền phong (thông qua, nhất là trong văn chương, những ép buộc đè nặng lên thị trường sách).

Và cần phân tích những hình thức thao túng và phụ thuộc mới, như các hình thức mà vị mạnh thường quân thiết đặt, và những “người thụ hưởng” chưa phát triển các hệ thống tự vệ thích đáng chống lại các hình thức đó do chưa đưa ý thức về mọi hiệu ứng; cũng cần phân tích những ép buộc mà mạnh thường quân Nhà nước, dù về mặt hình thức nó cho phép thoát khỏi mọi áp lực trực tiếp của thị trường, áp đặt - hoặc thông qua sự thừa nhận mà Nhà nước tự phát dành cho những ai thừa nhận Nhà nước vì họ cần tới Nhà nước để nhận được một hình thức thừa nhận mà họ không thể tự đảm bảo bằng chính tác phẩm của mình, hoặc tinh vi hơn thông qua cơ chế những ủy ban và các hội đồng, nơi có một sự hợp tác tiêu cực vốn thường xuyên nhất đạt tới một sự chuẩn hóa việc nghiên cứu - rằng hình thức đó là khoa học hay nghệ thuật.

Việc loại trừ khỏi tranh luận công khai các nghệ sĩ, các nhà văn và các nhà bác học là kết quả của hành động ăn khớp với nhiều yếu tố: một vài yều tố có liên quan tới sự tiến triển nội tại của việc sản xuất văn hóa - như việc chuyên biệt hóa càng ngày càng được đẩy xa tới mức khiến cho các nhà nghiên cứu không còn những tham vọng rộng lớn theo kiểu người trí thức kiểu xưa - trong khi mà những yếu tố khác lại là kết quả của sự chi phối càng ngày càng lớn của một xu thế kĩ trị, xu thế đó với sự đồng mưu thường là vô thức của các nhà báo - bị mắc vào trò chơi của những người cạnh tranh với họ - đặt các công dân vào kì nghỉ bằng việc tạo điều kiện cho “sự vô trách nhiệm được tổ chức”, theo lời của Ulrich Beck, và xu thế đó tìm được một sự đồng mưu tức khắc trong một kĩ trị của truyền thông, càng ngày càng hiện diện, thông qua đa phương tiện [media], trong chính vũ trụ của việc sản xuất văn hóa. Có thể cần phát triển chẳng hạn việc phân tích sự sản xuất và tái sản xuất quyền lực kĩ trị, hay đúng hơn là épistemocratique [kĩ trị bằng tri thức], để hiểu được sự ủy quyền hầu như là vô điều kiện, dựa trên uy tín xã hội của thiết chế trường học, mà phần lớn nhất của các công dân đều dành, dựa trên các vấn đề sống động nhất, cho giới quý tộc Nhà nước[1] (và ví dụ rõ nhất của chuyện này là sự tin tưởng hầu như không giới hạn, nhất là ở Pháp, đối với những ai được gọi là ủng hộ sức mạnh hạt nhân [nucléocrate]).

Vì càng ít có những thứ để thông báo (sự thực cũng như việc có quyền) thì thành công của họ, được đo đếm theo mức mở rộng công chúng của họ, càng lớn hơn, nên những ai kiểm soát việc sử dụng được các phương tiện truyền thông sẽ có xu hướng áp đặt sự trống rỗng của tiếng ầm ào đa phương tiện ngay giữa bộ máy truyền thông và sẽ có xu hướng áp đặt thêm các vấn đề giả tạo và hời hợt được sinh ra từ sự cạnh tranh duy nhất đối với công chúng rộng rãi nhất cho tới trường chính trị và các trường sản xuất văn hóa. Các sức mạnh quán tính sâu nhất của thế giới xã hội, thậm chí không nói đến những quyền lực kinh tế - thông qua quảng cáo họ thực hiện một ảnh hưởng trực tiếp lên báo chí được viết và được nói - có thể áp đặt một sự thống trị càng ngày càng vô hình vì nó chỉ được hoàn tất thông qua các hệ thống phức tạp phụ thuộc lẫn nhau, và theo cách kiểm duyệt vốn hoạt động thông qua những sự kiểm soát đan chéo của sự cạnh tranh và những kiểm soát nội hóa của việc tự kiểm duyệt.

Các ông chủ mới cần suy tư này mà lại không hề có tư tưởng đã độc chiếm cuộc tranh luận công khai làm phương hại tới những người chuyên nghiệp của chính trị (nghị sĩ, đại biểu công đoàn…); và cả các trí thức cho tới trong thế giới của riêng họ, những người tuân phục những dạng cú đánh đặc thù như những cuộc điều tra nhắm tới việc tạo ra những xếp loại bị thao túng, hay như những bảng trao giải mà báo chí công bố nhân các dịp kỉ niệm ngày sinh… hay còn những chiến dịch báo chí thực sự nhằm làm mất giá trị những việc sản xuất dành cho thị trường hạn chế (và có sự quay vòng dài) nhằm làm lợi cho những sản phẩm có độ quay vòng ngắn nhưng phát hành rộng được những nhà sản xuất mới tung ra trên thị trường.

Người ta đã có thể chứng minh rằng biểu hiện chính trị thành công là thứ đạt tới việc được xuất hiện trên các tờ báo và nhất là trên truyền hình, tức là áp đặt cho các nhà báo (những người có thể góp phần vào thành công của nó) ý tưởng rằng nó đã thành công - các hình thức biểu hiện đáng gờm nhất được hình dung và được tạo ra, đôi khi với sự giúp sức của các cố vấn truyền thông, theo định hướng và với ý định của các nhà báo, những người cần phải viết thu hoạch tổng kết[2]. Theo cùng cách đó, một phần càng ngày càng lớn của việc sản xuất văn hóa - khi nó không đến từ những người làm việc trong ngành đa phương tiện, họ được đảm bảo có bệ đỡ là các đa phương tiện - được định nghĩa bằng ngày công bố, tên, format, nội dung, phong cách cho cách thức đáp ứng những sự chờ đợi của cánh phóng viên, những người sẽ làm cho nó tồn tại bằng cách nói đến nó.

Giờ đây không còn là việc có một nền văn học thương mại và những sự cần thiết của thương mại áp đặt trong trường văn hóa. Nhưng dấu vết của những người nắm giữ quyền lực đối với các phương tiện lưu thông - và vinh danh - hẳn là không bao giờ trải rộng và sâu đến thế; và biên giới chưa bao giờ mơ hồ đến thế giữa tác phẩm tìm kiếm và tác phẩm bán chạy best-seller. Sự bùng nhùng này của các biên giới - mà các nhà sản xuất được gọi là “các nhà đa phương tiện” tự phát hướng đến (như chứng cớ là việc các bảng trao giải báo chí đặt kề nhau luôn luôn là những nhà sản xuất tự trị nhất và dị trị nhất) - tạo nên sự đe dọa tệ nhất đối với sự tự trị của việc sản xuất văn hóa. Nhà sản xuất dị trị, kẻ mà người Ý gọi một cách tài tình là tuttolongo, là con ngựa thành Troie, mà qua anh ta mọi hình thức dấu vết xã hội - hình thức của thị trường, mốt, Nhà nước, chính trị, báo chí - hoạt động được trong trường văn hóa. Việc kết án mà ta có thể mang đến chống lại những doxosophé[3] này, theo cách nói của Platon, được hàm ý trong ý tưởng rằng lực lượng đặc thù của trí thức, thậm chí trong chính trị, chỉ có thể đặt lại trên sự tự chủ được mang đến bởi năng lực đáp ứng với những đòi hỏi nội tại của trường. Chủ nghĩa Jdanov, vốn rất thịnh ở những nhà văn hay nghệ sĩ tầm thường hay thất bại, chỉ là một trong số nhiều sự xác thực rằng sự dị trị xảy ra trong một trường thông qua các nhà sản xuất ít khả năng thành công nhất tùy theo những chuẩn mực mà trường áp đặt.

Trật tự vô chính phủ ngự trị trong một trường trí thức đạt tới mức độ tự trị cao luôn mỏng manh và bị đe dọa, trong chừng mực nó tạo nên một thách thức với các quy luật của thế giới kinh tế thông thường, và với các quy tắc của cảm thức thông thường. Nó không thể dựa trên chủ nghĩa anh hùng duy nhất của ai đó mà không gặp nguy hiểm. Không phải là phẩm hạnh có thể lập nên một trật tự tri thức tự do; chính một trật tự tri thức tự do mới có thể lập nên phẩm hạnh trí thức.

Bản chất đầy nghịch lí, có vẻ như đầy mâu thuẫn, của người trí thức khiến cho mọi hành vi chính trị nhắm đến tăng cường hiệu quả chính trị trong những công việc của anh ta là nhằm tự trao những khẩu hiệu về hình thức đầy mâu thuẫn: một bên tăng cường sự tự chủ, nhất là bằng việc tăng cường việc cắt đứt với các trí thức dị trị, và chiến đấu để đảm bảo cho các nhà sản xuất văn hóa những điều kiện kinh tế và xã hội của sự tự chủ so với mọi quyền lực, không loại trừ những người của các cơ chế quan liêu Nhà nước (và trước tiên về mặt xuất bản và đánh giá đối với các sản phẩm của hành vi trí thức); mặt khác dứt bỏ các nhà sản xuất văn hóa khỏi sự cám dỗ của tháp ngà bằng việc khuyến khích họ đấu tranh ít nhất để được đảm bảo quyền đối với các phương tiện sản xuất và vinh danh văn hóa và khuyến khích bước vào thế kỉ [mới] để khẳng định những giá trị gắn với sự tự trị của họ.

Cuộc đấu tranh này phải có tính tập thể, vì tính hiệu quả của các quyền lực tác động lên họ phần lớn xuất phát từ việc là các trí thức đương đầu với chúng trong trật tự tản mát, và trong sự cạnh tranh. Và cũng vì những mong muốn vận động luôn có thể bị nghi ngờ, và có thể bị thất bại, lâu tới mức những mong muốn đó có thể bị nghi ngờ được dùng để phục vụ cho các cuộc đấu tranh vì vai trò lãnh đạo của một trí thức hay một nhóm trí thức. Những nhà sản xuất văn hóa chỉ còn tìm lại được trong thế giới xã hội vị trí thuộc về họ nếu khi hi sinh hẳn cái huyền thoại về “người trí thức cơ hữu” [intellectuel organique], không rơi vào việc huyền thoại hóa bổ sung, huyền thoại hóa về quan lại rút lui, họ chấp nhận làm việc tập thể nhằm bảo vệ lợi ích của chính mình: điều có thể dẫn dắt họ tới việc tự khẳng định như một quyền lực quốc tế về phê phán và theo dõi, thậm chí đề xuất, đối mặt với những nhà kĩ trị, hay với một tham vọng lớn hơn, hiện thực hơn, tức giới hạn ở không gian của riêng họ, dẫn tới việc dấn mình vào một hành động lí trí bảo vệ những điều kiện kinh tế và xã hội của sự tự trị trong những thế giới xã hội được ưu ái, ở đó được sản xuất và tái sản xuất những phương tiện vật chất và trí thức của điều mà chúng tôi gọi là Lí trí. Thứ Realpolitik de raison [chính sách đích thực của lí trí] hẳn là có thể bị nghi ngờ bởi tinh thần đoàn thể [corporatisme]. Nhưng chính tinh thần này có trách nhiệm chứng minh, bằng mục đích phục vụ điều mà chính sách kia coi là phương tiện - được chinh phục đầy khó khăn - của sự tự chủ, rằng đó một tinh thần đoàn thể của sự phổ quát.

❀ ❀ ❀

[1] Trong một nghiên cứu xã hội học nổi tiếng kéo dài nhiều năm, được công bố trong cuốn sách có tên Quý tộc Nhà nước (La Noblesse d’Etat, Minuit, 1989), P. Bourdieu dựa trên các tài liệu thống kê, các hồi kí về các trường học lớn (grandes écoles) nhằm tìm hiểu không chỉ hệ thống giáo dục Pháp, mà qua đó còn là mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong xã hội hiện đại. Theo đó, chính sự phân cấp hệ thống giáo dục gián tiếp, nhưng cực kì mạnh mẽ đã phân cấp xã hội thành các nhóm tri thức khác nhau với những mức quyền lực khác nhau (ND).

[2] P. Champagne, Tạo dư luận, trò chơi chính trị mới [Faire l’opinion, le nouveau jeu politique], Paris, Minuit, 1990.

[3] Cách dùng từ của Bourdieu, có quan hệ với doxa, nhằm chỉ một tiền giả định theo lối sáo ngữ, mị dân (ND).

Phùng Ngọc Kiên, Nguyễn Phương Ngọc dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.