Sử Ký I. Bản Kỷ

Sử Ký I. Bản Kỷ

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁI SỬ CÔNG TỰ VIẾT TỰA

❊ ❊ ❊

Xưa vào thời Chuyên Húc, vua sai quan Nam Chính họ Trọng trông thiên văn, quan Bắc Chính họ Lê coi địa lý. Khoảng thời Đường – Ngu, cho hậu duệ họ Trọng – Lê nối nghiệp, tiếp tục vâng mệnh cho đến thời Hạ – Thương, vậy nên họ Trọng – Lê đời đời coi thiên văn, địa lý. Thời Chu, Trình Bá Hưu Phủ là hậu duệ của họ vậy. Vào thời Chu Tuyên vương, để mất chức phận mà thành ra họ Tư Mã. Họ Tư Mã đời đời vâng chép sử nhà Chu. Khoảng thời Chu Huệ vương, Chu Tương vương, họ Tư Mã rời nhà Chu tới nước Tấn. Tướng Trung quân nước Tấn là Tùy Hội chạy đến nước Tần, họ Tư Mã chuyển vào đất Thiếu Lương.

Từ khi họ Tư Mã rời nhà Chu tới nước Tấn, liền chia ra tản mác, có người ở nước Vệ, có người ở nước Triệu, có người ở nước Tần. Ở nước Vệ, có người làm quan tướng nước Trung Sơn. Ở nước Triệu, có người nổi danh và truyền dạy kiếm luận mà Khoái Hội chính là hậu duệ chi này. Ở Tần có người tên Tư Mã Thố, tranh luận với Trương Nghi, thế rồi Tần Huệ vương sai Thố cầm quân đánh Thục, hạ được thành Thục, bèn trấn giữ ở đó. Cháu của Thố là Cận, phò Võ An quân Bạch Khởi. Lúc này đất Thiếu Lương đổi tên thành Hạ Dương. Cận cùng Võ An quân chôn sống hàng binh nước Triệu trong trận Trường Bình, đến khi quay trở về đều cùng được ban chết ở Đỗ Bưu, táng ở Hoa Trì. Cháu của Cận là Xương, Xương làm quan chuyên lo việc rèn sắt cho nhà Tần. Vào thời Thủy Hoàng, chắt của Khoái Hội là Ngang, cầm quân cho Võ Tín quân, chiếm được Triêu Ca. Khi nhà Tần phong vương chư hầu, Ngang được phong vương ở đất Ân. Đến khi Hán đánh Sở, Ngang quy phụ Hán, dâng đất của mình làm quận Hà Nội. Tư Mã Xương sinh ra Vô Trạch, Vô Trạch làm chức quan Thị trưởng của nhà Hán. Vô Trạch sinh ra Hỷ, Hỷ làm Ngũ đại phu, chết đều táng ở Cao Môn. Hỷ sinh ra Đàm, Đàm làm Thái sư công.

Thái sư công học thiên văn ở Đường Đô, nghe giảng Kinh Dịch từ thày Dương Hà, thọ giáo đạo luận từ thày Hoàng Tử. Thái sử công làm quan vào thời Kiến Nguyên, Nguyên Phong, lo người học không hiểu thấu ý nghĩa các học thuyết, noi theo sai lạc, bèn bàn luận những điều cốt yếu của sáu nhà mà viết rằng:

Thiên Hệ từ trong Kinh Dịch viết: “Thiên hạ chung một mối mà lo lắng trăm chiều, về cùng nơi mà đường đi mỗi khác.” Xét các nhà Âm Dương, Nho, Mặc, Danh, Pháp, Đạo Đức đều chú trọng ở việc trị nước, chẳng qua theo học thuyết khác nhau, có thuyết rõ ràng, có thuyết không mà thôi. Tôi từng trộm ngẫm, thuật của nhà Âm Dương trong điềm báo mà lắm kiêng kỵ, khiến con người bị buộc đâm nhiều sợ hãi, song thứ tự bốn mùa họ đã sắp thì không thể để mất. Nhà Nho học rộng mà thiếu điều cốt yếu, nhọc sức mà ít hiệu quả, bởi vậy việc của họ khó theo hết; song lễ vua tôi, cha con, sự phân biệt vợ chồng, lớn bé họ đã đặt thì không thể thay. Nhà Mặc tiết kiệm mà khó theo, bởi vậy việc của họ không thể tuân thủ rộng khắp; song sự tự cường, chuộng tiết kiệm họ đề ra thì không thể phế bỏ. Nhà Pháp nghiêm khắc, ít ban ơn, song thân phận vua tôi trên dưới họ đã lập thì không thể đổi khác. Nhà Danh khiến người ta nệ vào danh mà dễ đánh mất thực; song sự biện chứng giữa danh và thực họ đã nêu thì không thể không xét. Nhà Đạo khiến tinh thần người ta chuyên nhất, hành động hợp lẽ vô hình, vạn vật sung túc. Thuật của nhà này dựa vào phép lớn âm dương, rút lấy điều hay của nhà Nho, nhà Mặc, tóm điều cốt yếu của nhà Danh, nhà Pháp, thay đổi theo thời, biến hóa tùy vật, dựng nề nếp, dùng xử sự, không việc gì không hợp, tôn chỉ gọn mà dễ nắm bắt, dùng sức ít mà hiệu quả nhiều. Nhà Nho thì không như vậy. Nhà Nho cho rằng bậc quân chủ là gương mẫu của thiên hạ, quân chủ đề xướng rồi bề tôi phụ hội, quân chủ làm trước rồi bề tôi theo sau. Như vậy thì quân chủ khó nhọc mà bề tôi thảnh thơi. Còn như yếu chỉ của Đạo cả, ấy là dẹp sự cứng rắn tham lam, bỏ sự thông minh sáng suốt, loại những điều này mà dùng Đạo thuật. Xét tinh thần dùng quá nhiều thì hao kiệt, thể xác làm quá sức thì mệt mỏi. Thân tâm đều xao động mà lại muốn dài lâu cùng trời đất, thực chưa từng nghe nói đến vậy.

Xét nhà Âm Dương với bốn mùa, tám quẻ, mười hai độ1, hai mươi tư tiết đều có điều răn dạy, thuận theo thì hưng thịnh, trái lại không chết cũng tổn. Song chưa chắc đã vậy, cho nên nói “khiến con người bó buộc đâm ra nhiều sợ hãi”. Xét mùa xuân sinh sôi, mùa hạ nảy nở, mùa thu gặt hái, mùa đông giữ gìn, ấy là ý lớn của đạo trời vậy, không thuận theo thì không lấy gì làm riềng mối cho thiên hạ, vậy nên nói “thứ tự bốn mùa không thể để mất”.

Xét nhà Nho coi sáu kinh2 làm phép tắc. Kinh truyện hàng ngàn vạn quyển, nhiều đời không thể tinh thông đạo học, một đời không thể biết hết lễ nghi, cho nên nói “học rộng mà thiếu điều cốt yếu, nhọc sức mà ít hiệu quả”. Còn như lễ vua tôi, cha con họ đặt, sự phân biệt vợ chồng, lớn bé họ nêu, dù là học thuyết trăm nhà cũng không thể thay đổi.

Nhà Mặc cũng chuộng đạo của Nghiêu, Thuấn, bàn về đức hạnh nói rằng:“Nhà cao ba thước, thềm đất ba bậc, cỏ tranh không cắt, cột gỗ không gọt. Ăn chén đất, uống liền đất, cơm gạo lứt, canh lá đậu, rau lê. Ngày hè mặc áo vải cát, mùa đông mặc áo cừu da hươu” Việc ma chay thì dùng quan tài gỗ vông dày ba tấc, khóc đám không quá đau buồn. Dạy về tang lễ ắt phải đem phép này làm gương cho muôn dân. Khiến thiên hạ đều noi theo phép này thì tôn ti không còn khác biệt. Xét thời thế đổi khác, sự việc vị tất tương đồng, vậy nên nói “tiết kiệm mà khó theo”. Điều cốt yếu của nhà Mặc là ở sự tự cường, tiết kiệm, ấy là đường lối để người ta sung túc giàu có. Đây là sở trường của Mặc Tử, dù là học thuyết trăm nhà cũng không thể phế bỏ.

Nhà Pháp bất luận thân sơ, không phân sang hèn, nhất loạt phán quyết bằng pháp luật, vậy thì ân tình họ tộc, tôn trưởng đứt cả. Có thể dùng làm kế một thời, không thể dùng lâu dài, vậy nên nói “nghiêm khắc, ít ban ơn”. Còn như việc đề cao quân chủ hạ thấp bề tôi, làm rõ chức phận, không được lấn vượt nhau, dù là học thuyết trăm nhà cũng không thể đổi khác.

Nhà Danh xét nét rắc rối, khiến người ta không thể lý giải bản ý, chuyên dùng tên gọi quyết đoán mọi việc, trái tình người, vậy nên nói “nệ vào danh mà dễ đánh mất thực”. Còn như việc dựa vào tên gọi mà tìm tòi thực tế, so sánh cho khỏi sai sót, điều này không thể không xét.

Nhà Đạo vô vi, cũng lại nói vô bất vi, kỳ thực dễ làm, song lời khó hiểu. Thuật nhà Đạo coi hư vô là gốc, coi nương thuận là phép, không có vị thế cố định, không có hình dạng bất biến, cho nên có thể suy xét tình lý của vạn vật. Không ở trước vật, không ở sau vật, cho nên có thể làm chủ vạn vật. Phép tắc cần không, tùy thời mà đặt; quy củ cần không, tùy vật mà xét. Vậy nên nói “thánh nhân bất hủ, theo thời là đủ. Hư Vô là thể thường của đạo. Nương thuần là cương lĩnh của vua.” Quần thần đều tới, khiến ai nấy đều tự rõ chức phận. Thực đúng với danh gọi là Đoàn (ngay thẳng), thực không đúng với danh gọi là Khoản (sáo rỗng). Lời sáo rỗng không nghe, gian tà không xuất hiện, giỏi kém tự rõ ràng, trắng đen lộ chân tướng. Chỉ là muốn dùng hay không mà thôi, có việc gì không làm nên được! Như vậy hợp với Đạo cả, hỗn độn mịt mùng, nhưng sáng soi thiên hạ, sau đó lại trở về sự vô danh. Phàm sinh mệnh con người ta tồn tại nhờ tinh thần, gửi gắm nhờ thể xác. Tinh thần dùng quá nhiều thì hao kiệt, thể xác làm quá sức thì mệt mỏi, tinh thần và thể xác chia lìa thì chết. Chết không thể sống lại, lìa không thể trở lại, cho nên thánh nhân rất mực coi trọng. Từ đó mà coi, tinh thần là gốc rễ của sinh mệnh, thể xác là công cụ của sinh mệnh. Không ổn định tinh thần trước mà lại nói “ta có thể trị thiên hạ”, vậy dựa vào đâu?

Thái sư công giữ chức Thiện quan (coi thiên văn), không quản việc dân. Có con trai tên Thiên.

Thiên sinh ra ở Long Môn, cày ruộng chăn trâu ở vùng phía bắc Hoàng Hà, phía nam núi Long Môn. Năm mười tuổi học Cổ văn. Hai mươi tuổi đi về phương nam du ngoạn vùng Trường Giang – Hoài Hà, leo lên núi Cối Kê, tìm Vũ Huyệt, ngắm núi Cửu Nghi, du thuyền trên sông Nguyên – Tương; đi lên phương bắc vượt sông Vấn – Tứ ; dạy học ở đô thành đất Tề – Lỗ, xem di phong của Khổng Tử, dự lễ hương xạ3 ở huyện Trâu, núi Dịch; chịu khó nhọc ở huyện Bà, huyện Tiết, Bành Thành; đi qua đất Lương, đất Sở về quê. Bấy giờ Thiên giữ chức Lang trung, vâng mệnh đi sứ miền Tây chinh phạt vùng Ba – Thục trở về nam, đánh các đất Cung – Trách, Côn Minh, rồi về triều bẩm báo.

Năm ấy, thiên tử bắt đầu làm lễ phong thiện của nhà Hán, Thái sử công bị giữ lại ở Chu Nam, không được theo dự tế, nên phẫn uất gần chết. Con ông là Thiên vừa vặn đi sứ về, gặp cha ở vùng Hoàng Hà – Lạc Thủy. Thái sư công nắm lấy tay Thiên mà khóc rằng: “Tổ tiên ta làm Thái sử cho nhà Chu. Các đời trước từng có công danh hiển hách vào thời Ngu, thời Hạ, giữ chức Thiên quan. Đời sau nửa đường suy sụp, chấm dứt ở đời ta chăng? Con lại làm Thái sử thì sẽ nối nghiệp tổ tiên ta vậy. Nay thiên tử nhận mối đại thống ngàn năm, phong thiện ở Thái Sơn mà ta không được theo dự, ấy là mệnh sao! Là mệnh sao! Ta chết, con ắt sẽ làm Thái sử; làm Thái sử, chớ quên trước tác ta muốn làm. Vả lại đạo hiếu bắt đầu từ việc thờ cha mẹ, thứ đến thờ vua, cuối cùng là việc lập thân. Nổi danh với hậu thế, làm rạng rỡ cha mẹ, ấy là điều lớn nhất của đạo hiếu vậy. Xét thiên hạ xưng tụng Chu Công, nói rằng ông ta có thể bàn luận, ca ngợi đức của Văn vương – Võ vương, tuyên dương phong thái của Chu Công – Thiệu Công, bày tỏ tâm tư của Thái Vương – Vương Quý; viện đến Công Lưu để truy tôn Hậu Tắc. Sau đời U – Lệ, vương đạo khiếm khuyết, lễ nhạc suy đồi, Khổng Tử sửa sách cũ, dựng lễ xưa, luận bàn Thi – Thư, viết sách Xuân Thu, học giả đến nay đều noi gương ngài. Từ khi Lỗ Ai cũng bắt được kỳ lân đến nay đã hơn bốn trăm năm, chư hầu thôn tính lẫn nhau, sách sử ghi chép tản mác đứt đoạn. Nay nhà Hán nổi lên, thiên hạ thống nhất, chúa sáng vua hiền, trung thần nghĩa sĩ, ta làm Thái sử mà không ghi chép luận bàn, vất bỏ sử sách của thiên hạ, ta rất mực sợ hãi. Con nhớ lấy đấy!” Thiên cúi đầu rơi lệ, đáp rằng:“Con không giỏi, song cũng xin luận thuật hết thảy kiến văn cũ cha đã sắp, không dám để khuyết!”

Thái sư công mất được ba năm thì Thiên làm Thái sư lệnh, thu thập sử cùng các sách cất trong Kim quỹ, Thạch thất4. Năm năm sau, nhằm năm Thái Sơ đầu tiên, sáng sớm ngày Giáp Tý mồng một giao tiết Đông chí tháng Mười một, lịch trời bắt đầu đổi, tuyên bố ở Minh đường, các thần đón lịch mới.

Thái sử Công nói: “Cha có lời rằng: “Sau khi Chu công mất năm trăm năm thì có Khổng Tử. Sau khi Khổng Tử mất đến nay đã năm trăm năm, liệu đã đến lúc có người có thể tiếp nối, soi sáng đời, đính chính Dịch truyện, kế tục Xuân Thu, luận bàn chính xác ý nghĩa của Thi, Thư, Lễ, Nhạc hay chưa? Ý là ở lúc này đây! Ý là ở lúc này đây! Con nào dám chối từ.

Thượng đại phu Hồ Toại nói:“Ngày xưa tại sao Khổng Tử lại làm kinh Xuân Thu!”

Thái sử Công nói:“Ta nghe Đổng Trọng Thư nói: Đạo nhà Chu lụn bại, Khổng Tử làm Tư Khấu nước Lỗ, bị chư hầu ganh ghét, đại phu cản trở, Khổng Tử biết lời mình không được dùng, đạo mình không được thi hành, bèn đánh giả những việc xảy ra trong hai trăm bốn mươi hai năm, làm khuôn phép cho thiên hạ. Chê thiên tử, trách chư hầu, vạch tội đại phu, nhằm nêu rõ đạo vua mà thôi Khổng Tử nói: “Ta chép những lời suông, chẳng bằng soi xét nó việc làm, hẳn sâu sắc, rõ ràng hơn.‘Kìa như kinh Xuân Thu, trên làm rõ đạo của Tam vương, dưới phân biệt phép tắc của người đời, biện bạch sự hiềm nghi, soi sáng điều phải trái, quyết định việc do dự, khen cái hay, chê cái dở, đề cao người hiền, hạ thấp kẻ kém, giữ gìn nước đã mất, nối lại đời đã tuyệt, và những thứ đã rách, dựng những điều bị bỏ, ấy là việc lớn của đạo vua vậy. Kinh Dịch chép trời đất, âm dương, bốn mùa, ngũ hành, cho nên giỏi biến hóa. Kinh Lễ đặt khuôn phép, luân lý làm người, cho nên giỏi hành xử. Kinh Thư ghi lại việc của các vua đời trước, cho nên giỏi chính trị. Kinh Thi ghi chép núi sông, khe động, chim muông, cây cỏ, trống mái, đực cái, cho nên giỏi trào phúng. Kinh Nhạc, phải dựa vào để dựng nên âm nhạc, cho nên giỏi hòa hợp. Kinh Xuân Thu phân biệt phải trái, cho nên giỏi trị người. Bởi vậy, Kinh Lễ dùng để ước thúc con người, Kinh Nhạc dùng để lấy sự hòa hợp. Kinh Thư dùng để bàn luận việc xưa. Kinh Thi dùng để bày tỏ tình ý. Kinh Dịch dùng để bàn lẽ đổi thay. Kinh Xuân Thu dùng để soi tỏ đạo nghĩa. Dẹp đời loạn, khiến trở lại đường ngay, không có sách nào thiết thực bằng Xuân Thu. Xuân Thu có hàng vạn lời, đến hàng ngàn ý. Vạn vật tan hợp đều ở Xuân Thu. Trong kinh Xuân Thu có ba mươi sáu vua bị giết, năm mươi hai nước bị mất, chư hầu bỏ chạy không giữ nổi xã tắc nhiều không đếm xuể. Xem xét nguồn cơn đều do đánh mất gốc rễ (tức lễ nghĩa) vậy. Cho nên Kinh Dịch viết: “Sai một hào ly, lầm đi ngàn dặm. Cho nên nói: “Tôi giết vua, con giết cha, không phải duyên do sớm chiều, mà bởi sự ngấm ngầm lâu ngày vậy. Bởi vậy người giữ nước không thể không biết sách Xuân Thu, bằng không, trước có gian nịnh mà không thấy, sau có quân giặc mà chẳng hay. Kẻ bề tôi không thể không biết sách Xuân Thu, bằng không, xử việc công không biết nên chăng, gặp biến cố chẳng hay quyền chước. Người làm vua, làm cho không thấu hiểu đạo nghĩa Xuân Thu, ắt chuốc tiếng đại ác. Kẻ làm tôi, làm con không thấu hiểu đạo nghĩa Xuân Thu, ắt sa vào việc soán giết bề trên mà bị tru diệt, mang danh tử tội. Kỳ thực họ đều cho rằng việc họ làm là phải, làm mà chẳng biết lễ nghĩa, bị trách mắng không đâu mà không biết biện giải. Xét việc không thấu hiểu yếu chỉ của lễ nghĩa, thành thử vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con. Xét vua chẳng ra vua thì bị mạo phạm, tôi chẳng ra tôi thì bị giết chết, cha chẳng ra cha thì vô đạo, con chẳng ra con thì bất hiếu. Bốn việc này là lỗi lớn trong thiên hạ vậy. Đem lỗi lớn của thiên hạ đổ lên đầu thì chỉ có thể nhận mà không chối được. Vậy nên kinh Xuân Thu là gốc rễ của lễ nghĩa. Xét lễ dùng để ngăn cấm trước khi việc xảy ra, pháp luật dùng để thi hành sau khi việc đã rồi. Công dụng thi hành của luật pháp thì dễ thấy, còn công dụng ngăn cấm của lễ nghĩa thì khó biết vậy.”

Hồ Toại nói: “Thời Khổng Tử, trên không có vua sáng, dưới không được tin dùng, cho nên làm sách Xuân Thu, truyền lại lời suông, cắt đặt lễ nghĩa mà làm phép tắc cho đế vương. Nay thày trên thì gặp bậc vua sáng, dưới thì được giữ chức quan, mọi việc đầy đủ, vậy những lời thày bàn luận là muốn làm sáng tỏ điều gì?”

Thái sử Công nói: “Dạ, dạ! Không, không! Không phải vậy! Tôi nghe cha tôi nói: Phục Hy rất mực thuần hậu, làm ra tám quẻ Dịch. Thời Nghiêu – Thuấn thịnh trị, sách Thượng Thư đã chép, lễ nhạc dựng lên từ đó. Thời Thang – Vũ phát đạt, có thể nhân ngợi ca. Kinh Xuân Thu lựa việc thiện, chê việc ác, tôn sùng đức chính thời Tam đại, khen nhà Chu, nào có châm biếm giễu cợt thôi đâu. Từ khi nhà Hán nổi lên tới giờ, đến bậc thiên từ sáng suốt, nhận được điềm lành, làm lễ phong thiện, đổi niên hiệu, thay sắc áo, nhận mệnh từ đấng cao xanh, ban ơn vô cùng, các nước có tục la ngoài bể nhiều lần thông dịch, tới gõ cửa đi xin vào cống nạp, không thể kể xiết. Bá quan thần tử ra sức ca tụng thánh đức còn chưa thể bày tỏ hết ý. Vả lại có kẻ sĩ tài giỏi mà không dùng, ấy là điều sỉ nhục của người trị nước; có chúa thượng sáng suốt mà đức không ban rộng để ngợi ca, ấy là lỗi của các quan. Còn như tôi giữ chức này mà bỏ thánh đức không chép, vất công nghiệp của công thần, thế gia, đại phu hiền đức không thuật lại, mặc lời cha dạy thì có tội nào to hơn! Tôi chỉ thuật lại chuyện cũ, sắp gọn sự tích các đời thôi, đâu phải trước tác mà ông đem so với sách Xuân Thu, thật là làm vậy” .

Thế rồi biên chép thành văn được bảy năm thì Thái sử Công gặp họa Lý Lăng, phải chịu gông cùm, bèn cảm khái than rằng:“Ấy là tội của ta vậy! Ấy là tội của ta vậy! Thân tàn này không thể dùng được nữa rồi!” Đoạn lui lại ngẫm nghĩ sâu xa: “Xét Kinh Thi, Kinh Thư ẩn ý kiệm lời là vì muốn bày tỏ sự suy ngẫm nơi tâm trí người ta. Xưa Tây Bá bị cầm tù ở Dữu lý thì diễn giải Chu Dịch; Khổng Tử gặp nạn ở đất Trần – Sái thì làm sách Xuân Thu; Khuất Nguyên bị trục xuất thì viết áng Ly tao; Tả Khưu Minh mù mắt thì có sách Quốc Ngữ; Tôn Tử bị khoét bánh chè thì bàn luận Binh pháp; Lã Bất Vi bị đày tới đất Thục thì đời truyền sách Lữ Lãm, Hàn Phi bị nhốt ở Tần thì viết thiên Thuyết Nan, Cô Phẫn; ba trăm bài thơ trong Kinh Thi phần lớn do thành hiện làm để xả nỗi bực dọc. Những người ấy đều vì có uất ức không thể bộc lộ, cho nên thuật lại chuyện cũ để suy ngẫm tương lai vậy.” Thế rồi bèn thuật lại từ thời Đào Đường trở về sau cho tới khi Hán Vũ đế bắt được kỳ lân thì chấm dứt, bắt đầu từ thời Hoàng Đế.

Thuở xưa Hoàng Đế, noi theo trời đất, bốn thánh5 lần lượt, lập nên pháp độ, Đường Nghiêu nhường ngôi, Ngu Thuấn chẳng vui, Công đức các vị, truyền tụng muôn đời. Chép làm Ngũ đế bản kỷ, quyển một.

Vũ lập nên công, chín châu vui cùng, Đường – Ngu rạng rỡ, đức truyền hậu duệ; Hạ Kiệt dâm kiêu, đày tới Minh Điều. Chép làm Hạ bản kỷ, quyển hai.

Tiết dựng nhà Thương, truyền tới Thành Thang; Thái Giáp ở Đồng, đức ở A Hành; Võ Đinh có Duyệt, bèn xưng Cao Tông; Đế Tân mê đắm, chư hầu bỏ chầu. Chép làm Ân bản kỷ, quyển ba.

Khí làm Hậu tắc, Tây Bá có đức;Vũ Vương ra trận, đánh ở Mục Dã, vỗ yên thiên hạ, U – Lệ hôn loạn, để mất Phong – Cảo;Noãn Vương kiệt quệ, Lạc Ấp bỏ tế. Chép làm Chu bản kỷ, quyển bốn.

Tổ tiên nhà Tần, Bá phò Vũ; Mục Công có nghĩa, truy điệu quân sĩ, chết trận Hào Sơn; dùng người tuẫn táng, thơ ngâm Hoàng Điểu; đến ngài Chiêu Tương, dựng nghiệp đế vương. Chép làm Tần bản kỷ, quyển năm.

Thủy Hoàng được lập, thôn tính sáu nước, nấu giáo đúc chuông, muốn dứt chiến tranh, xưng làm hoàng đế, khoe cậy vũ lực; Nhị Thế nhận ngôi, Tử Anh đầu hàng. Chép làm Tần Thủy Hoàng bản kỷ, quyển sáu.

Nhà Tần vô đạo, hào kiệt quấy nhiễu; Hạng Lương dấy nghiệp, Hạng Vũ nối tiếp; diệt Khanh6 cứu Triệu, chư hầu cùng lập; giết chết Tử Anh, phản bội Hoài vương, thiên hạ chê trách. Chép làm Hạng Vũ bản kỷ, quyển bảy.

Hạng Vũ bạo ngược, Hán ban ơn đức; dấy ở Thục Hán, bình định Tam Tần; giết Vũ dựng nghiệp, thiên hạ yên bình, đổi triều thay tục. Chép làm Cao tổ bản kỷ, quyền tám.

Huệ đế yểu mệnh, họ Lã mất lòng; dùng bọn Lộc – Sản, chư hầu bàn giết; khử Triệu Ẩn vương, diệt U vương Hữu, đại thần lo sợ, chuốc họa diệt tộc. Chép làm Lã Thái Hậu bản kỷ, quyển chín.

Nhà Hán mới lập, nối ngôi chưa rõ, đón lập Đại vương, thiên hạ đồng lòng; nhục hình phế bỏ, cầu đường khơi thông, rộng ban ơn huệ, ngài xưng Thái tông. Chép làm Hiếu Văn bản kỷ, quyển mười.

Chư hầu ngang ngược, Ngô cầm đầu phản, kinh sư thảo phạt, bảy nước chịu tội, thiên hạ bình yên, vững mạnh giàu có. Chép làm Hiếu Cảnh bản kỷ, quyển mười một.

Hán trải năm đời, thỉnh thời Kiến Nguyên, ngoài dẹp man mọi, trong sửa pháp độ, phong thiện đổi lịch, rồi thay phục sắc. Chép làm Kim Thượng bản kỷ, quyển mười hai.

Thời Tam đại xa, niên đại khôn khảo, đại để tham chiếu, phả điệp cổ thư, dựa vào lần suy, chép làm Thế biểu Tam đại, quyển một.

Sau thời U – Lệ, nhà Chu suy vi, chư hầu chuyên chính, Xuân Thu cũng khuyết; phả điệp vắn gọn, ngũ bá mạnh yếu thay nhau, muốn xem các đời chư hầu nhà Chu, chép làm Niên biểu Mười hai chư hầu, quyển hai.

Sau thời Xuân Thu, gia thần chấp chính, quan tướng nước mạnh xưng vương; đến như nhà Tần, rốt nuốt Trung Nguyên, bãi bỏ đất phong, tự xưng hoàng đế. Chép làm Niên biểu Sáu nước, quyển ba.

Nhà Tần bạo ngược, người Sở làm phản, họ Hạng dấy binh, Hán vương phò nghĩa chinh phạt; trong khoảng tám năm, đổi vua ba lần, đầy rẫy biến cố, cho nên viết rõ Nguyệt biểu Tần Sở, quyển bốn.

Nhà Hán dấy lên tới nay, trong khoảng trăm năm tới thời Thái Sơ, chư hầu hoặc bị phế truất, hoặc được lập nên, đất đai chia cắt, phá chép mập mờ, sử thần gián đoạn, dựa theo mạnh yếu mà chia từng đời, viết Niên biểu chư hầu từ khi nhà Hán lập nên, quyển năm.

Các bậc công thần hàng đầu, bề tôi đắc lực thời Cao tổ, được chẻ phù phong tước, ơn trải đến cháu con, nay quên mất dòng dõi, có người mang họa sát thân, diệt quốc, viết thành Niên biểu công thần thời Cao tổ, quyển sáu.

Vào thời Huệ – Cảnh, hoàng đế gia phong, Công thần tôn thất, tước vị thực ấp. Viết thành Niên biểu các hầu thời Huệ – Cảnh, quyển bảy.

Bắc đánh Hồ dữ, Nam diệt Việt mạnh, chinh phạt mọi rợ, luận công phong hầu. Viết thành Niên biểu các hầu từ thời Kiến Nguyên trở lại, quyển tám.

Chư hầu đã mạnh, bảy nước a dua, con em đầy rẫy, chưa phong tước ấp, vua bèn ban ơn, làm suy chư hầu, khiến lòng người hướng về kinh sư. Viết thành Niên biểu Vương tử, quyển chín.

Nước có quan hiền tướng giỏi, ấy là mô phạm của dân. Xem niên biểu danh thần lương tướng từ thời nhà Hán lập nên, người giỏi ghi công trạng, người kém nêu sự tình. Viết thành Niên biểu danh thần lương tướng từ khi nhà Hán lập nên, quyển mười.

Lễ thời Tam đại gia giảm, ý nghĩa khác nhau, song cốt gần với tình người, hợp với đạo vua, cho nên lỗ dựa vào bản chất con người mà bạn chế rườm rà, đại để thuận thời thay đổi. Viết thành Lễ thư, quyển một.

Nhạc có thể dùng thay đổi phong tục. Từ khi tiếng Nhã, Tụng cất lên, người ta đã thích âm thanh Trịnh – Vệ. Âm thanh Trịnh – Vệ Có nguồn gốc lâu đời. Tình người cảm động, tục xa hướng về. Tham chiếu Nhạc Thư để thuật lại cổ nhạc. Viết thành Nhạc thư, quyển hai.

Không có binh lực không thể mạnh, không có đạo đức không thể thịnh. Hoàng Đế, Thang, Võ vì vậy thịnh cường, Kiệt, Trụ, Nhị Thế bởi vậy diệt vong, có thể không thận trọng chăng? Tư Mã pháp từ khi xuất hiện đã được coi trọng. Thái Công, Tôn Tử, Ngô Khởi, Vương Tử, tiếp nối phát huy. Đem so gần đây, có thể thấy rõ sự biến đổi của việc người. Viết thành Luật thư, quyển ba.

Luật ở âm mà chế dương, lịch ở dương mà chế âm, Luật – Lịch kìm chế, không cho sai sót. Lịch năm nhà mâu thuẫn7, riêng lịch đầu thời Thái Sơ chuẩn xác. Viết thành Lịch thư, quyển bốn.

Các sách chiêm tinh khí số, phần nhiều lẫn điềm may rủi, không hợp kinh điển; xét từ câu chữ, khảo sự ứng nghiệm, đều không đặc biệt. Đến khi bàn việc tinh khí vận hành, nghiệm chứng độ số quỹ đạo để sắp xếp, viết thành Thiên Quan thư, quyển năm.

Nhận mệnh trời làm vua, không tùy tiện phong thiện, cử hành thì ngàn vạn thần linh đều được cúng tế. Truy nguyên các lễ tế thần núi thiêng sông cả, viết thành Phong Thiện thư, quyển sáu.

Đại Vũ khơi sông, chín châu yên bình, đến khi dựng cung Tuyên Phòng, ngòi lạch đều thông. Viết thành Hà Cù thư, quyển bảy.

Tiền tệ lưu hành, thuận tiện nông – thương; cùng cực thì xuất hiện gian xảo, thôn tính khuếch trương, đua nhau trục lợi, bỏ gốc theo ngọn. Viết thành Bình Chuẩn thư để xem sự biến, quyền tám.

Thái Bá nhường Quý Lịch, lánh đất mọi Giang Nam;Văn – Võ vương nổi dậy, dấy nghiệp của Cổ Công. Hạp Lư giết Ngô vương Liêu, hàng phục miền Kinh Sở; Phù Sai thắng Tề, bỏ xác Tử Tư vào túi da, tin Bá Hỷ thân Việt, nước Ngô liền bị diệt. Khen Thái Bá khiêm nhường, viết thành Ngô thế gia, quyển một.

Nước Thân – Lã suy, Thượng Phụ hàn vi, rốt theo Tây Bá, cầm quân Văn – Võ; công vượt trăm quan, lẳng lặng có quyền, phau phau tóc bạc, nhận phong Doanh Khưu. Giữ hẹn đất Kha, Hoàn Công lớn mạnh, bao phen họp chư hầu, bá nghiệp thật hiển hách. Điền – Khám tranh sủng, họ Khương tan vỡ. Khen Thượng Phụ đa mưu, viết thành Tề Thái công thế gia, quyển hai.

Người theo kẻ chống, Chu Công vỗ về, giáo hóa ban đức, thiên hạ hưởng ứng; phò tá Thành vương, chư hầu suy tôn Chu thiên tử. Thời Ẩn – Hoàn công, vì sao tranh giành? Tam Hoàn đọ sức, Lỗ chẳng thịnh hàng. Khen sách Kim Đằng của Chu Công Đán, viết thành Chu công thế gia, quyển ba.

Võ vương diệt Trụ, chưa yên đã băng. Thành vương còn nhỏ, Quản – Sái nghi ngờ, Hoài Di làm phản, thế rồi Thiệu Công làm gương, đoàn kết vương thất, giữ yên miền đông. Yên vương Khoái nhường ngôi, gây ra họa loạn. Khen bài thơ Cam Đường, viết thành Yên thế gia, quyển bốn.

Quản – Sái phó Võ Canh, giữ đất cũ triều Thương, khi Chu Công nhiếp chính, hai “thúc” không tước lộc; thoạt giết Quản thúc Tiên, rồi đuổi Sái thúc Độ, Chu công mở hội thề; Thái Nhậm sinh mười trai, dòng tộc nhà Chu mạnh. Khen Sái Trọng hối tội, viết thành Quản Sái thế gia, quyển năm.

Dòng tiên vương không đứt, Thuấn – Vũ vui mừng; đức nghiệp rạng rỡ, hậu duệ nhờ ơn. Trăm năm thờ cúng, đời Chu phong nước Trần – Kỷ, sau bị Sở diệt. Họ Điền nước Tề nổi lên. Thuận là người thế nào? Viết thành Trần Kỷ thế gia, quyển sáu.

Thu nhận dân sót lại của nhà Thương, Khang Thúc được phong, bắt đầu có Vệ Ấp, nêu mối loạn thời Thương, viết thiên Tửu Cáo, Tử Tài làm răn, đến khi Sóc sinh ra, Vệ chẳng yên bình, Nam Từ ghét Khoái Hội, phận cha con đảo điên. Đức nhà Chu suy, bảy nước lớn mạnh, Vệ nhỏ lại yếu, Giác sau diệt vong. Khen bài Khang Cáo, viết thành vệ thế gia, quyển bảy.

Than ôi Cơ Tử! Than ôi Cơ Tử! Lời đúng chẳng được dùng, lại bị làm nô bộc. Võ Canh chết đi, Chu phong cho Vi Tử. Tương Công bị thương ở sông Hoằng. Quân tử ai đáng khen? Cảnh công khiêm tốn, khiến sao Hỏa lui. Dịch Thành bạo ngược, Tống bèn diệt vong. Khen Vi Tử thỉnh giáo thái sư, viết thành Tống thế gia, quyển tám.

Võ vương đã băng, Thúc Ngu phong tại Đường Ấp. Quân tử châm biếm việc Tấn hầu đặt tên con, rốt bị Võ Công tiêu diệt, Ly Cơ được sủng, họa loạn năm đời; Trùng Nhĩ bất đắc chí, mới hoàn thành bá nghiệp. Lục khanh chuyên quyền, nước Tấn suy vong. Khen Văn Công được ban ngọc Khuê, rượu nếp thơm, viết thành Tấn thế gia, quyển chín.

Trọng Lê dựng nghiệp, Ngô Hồi tiếp nối; cuối thời nhà Thương, Chúc Tử được chép vào phả điệp. Chu dùng Hùng Dịch, Hùng Cừ kế tục. Trang vương giỏi giang, khôi phục nước Trần; tha cho Trịnh Bá, lui vì Hoa Nguyên. Hoài vương chết tha hương, Tử Lan hại Khuất Nguyên; thích nghe gièm pha, Sở nhập vào Tần. Khen Trang vương có nghĩa, viết thành Sở thế gia, quyển mười.

Con của Thiếu Khang, phong gần Nam Hải, xăm mình cắt tóc, ở cùng lươn giải, giữ núi Phong Ngung, phụng thờ Đại Vũ. Câu Tiễn khốn đốn, bèn dùng Chủng – Lãi. Khen Câu Tiễn man mọi, có thể sửa đức, diệt nước Ngô mạnh, tôn sùng nhà Chu, viết thành Việt vương Câu Tiễn thế gia, quyển mười một.

Hoàn Công về đông, dùng lời Thái sử. Phạm ruộng nhà Chu, vương triều chỉ trích. Sái Trọng buộc liên minh, nước Trịnh mãi không mạnh. Tử Sản nhân từ, nhiều lời khen giỏi. Tam Tấn xâm lược, Trịnh nhập vào Hàn. Khen Lệ Công nhận Huệ vương, viết thành Trịnh thế gia, quyển mười hai.

Riêng ngựa Lộc Nhĩ, làm rạng Tạo Phủ. Triệu Túc thờ Hiến công, Triệu Suy nối nghiệp. Phò tá Văn công, suy tôn vua Chu, rốt phò nước Tấn. Tương Tử khổ nhục, bèn bắt Trí Bá. Chủ Phụ bị vây, bắt ăn chim sẻ, rốt vẫn chết đói. Triệu vương Thiên dâm, tướng giỏi bị quở. Khen Triệu Ưởng dẹp nội loạn nhà Chu, viết thành Triệu thế gia, quyển mười ba.

Tất Vạn phong ở Ngụy, thầy bói biết trước. Ngụy Giáng làm nhục Dương Can, Nhung – Địch nghị hòa. Văn Hầu chuộng nghĩa, Tử Hạ làm thày. Huệ vương kiêu căng, Tề – Tần cùng đánh. Ngờ vực Tín Lăng, chư hầu rời bỏ. Rốt cuộc chết ở Đại Lương, Ngụy vương Giả thành đứa ở. Khen Ngụy Võ Tử phò tá Tấn Văn công dựng nên bá nghiệp, viết thành Ngụy thế gia, quyển mười bốn.

Hàn Quyết ngầm ban ơn, Triệu Võ được phục hưng. Nối dòng đất, dựng việc phế, người Tấn tôn sùng. Chiêu Hầu hiển hách, do dùng Thân Tử. Nghi ngờ Hàn Phi, người Tần đánh úp. Khen Hàn Quyết phò tá vua Tấn, sửa đổi thuế phú của Chu thiên tử, viết thành Hàn thế gia, quyển mười lăm.

Hoàn Tử lánh nạn, tới Tề cầu viện, ngầm ban ơn năm đời, người Tề ca ngợi. Thành Tử đoạt chính quyền, Điền Hòa thành chư hầu. Chí Tề vương Kiện lung lay, mới bị dời đến Cộng Ấp. Khen Uy vương, Tuyên vương có thể cứu đời loạn mà riêng suy tôn nhà Chu, viết thành Điền Kính Trọng Hoàn thế gia, quyển mười sáu.

Nhà Chu suy vi, chư hầu lộng hành. Trọng Ni xót lễ băng nhạc hoại, sửa sang kinh điển, để nêu đạo vua, vực đời loạn trở về ngay thẳng, thông qua lời văn, đặt lễ nghi phép thức cho thiên hạ, lưu lại Lục nghệ truyền cho hậu thế. Viết thành Khổng Tử thế gia, quyển mười bảy.

Kiệt – Trụ mất đạo mà Thang – Võ nổi lên, nhà Chu mất đạo nên “Xuân Thư” xuất hiện. Nhà Tần để mất nền chính trị nên Trần Thiệp cất quân, chư hầu tạo phản, mây đùn gió nổi, rốt diệt họ Tần. Mở đầu thiên hạ, kể từ Trần Thiệp. Viết thành Trần Thiệp thế gia, quyển mười tám.

Xét đài Thành Cao, họ Bạc phát tích. Bị ép tới Đại, họ Đậu vẻ vang. Lật Cơ cậy sang, họ Vương toại nguyện. Trần Hậu quá kiêu, rốt cuộc suy tôn Vệ Tử Phu. Khen Tử Phu đức tốt dường vậy, viết thành Ngoại thích thế gia, quyển mười chín.

Hán Cao tổ bày mưu, bắt Hàn Tín ở Trần; Việt – Sở nhanh mạnh, bèn phong người em, Giao làm Sở vương, đóng đô Bành Thành, đẩy mạnh Hoài – Tử, cho làm phên giậu. Lưu Mậu chìm đắm, trong vòng ty niệm, Lưu Lễ nối ngôi. Khen Lưu Du phò rập Cao tổ, viết thành Sở Nguyên vương thế gia, quyển hai mươi.

Cao tổ cất quân, Lưu Giả tham dự; Kình Bố đánh úp, mất đất Ngô – Sở. Doanh Lăng khích Lã, phong Lang Da vương; dụ Ngọ tin Tề, đi mà chẳng về, bèn từ phía tây vào quan trung, gặp đón Hiếu Văn, lại phong làm Yên vương. Thiên hạ chưa yên bình, Cổ – Dịch cùng họ vua, giúp rập làm phên giậu. Viết thành Kinh Yên thế gia, quyển hai mươi mốt.

Thiên hạ đã yên, tôn thất lại ít, Điệu Huệ lớn nhất, được giữ miền đông. Ai Vương tự cất quân, nổi giận đánh họ Lã, Tử Quân bạo ngược, triều thần chẳng nghe. Còn như Lệ vương, gia quyến hoang dâm, Chủ Phụ gieo họa. Khen Lưu Phì là bề tôi đắc lực, viết thành Tề Điệu Huệ vương thế gia, quyển hai mươi hai.

Người Sở vây ta ở Huỳnh Dương, giằng co ba năm; Tiêu Hà trấn giữ Sơn Tây, bày kế viện quân, cấp lương không dứt, khiến trăm họ yêu Hán, không ưa giúp Sở. Viết thành Tiêu tướng quốc thế gia, quyển hai mươi ba.

Cùng Hàn Tín dẹp Ngụy, phá Triệu diệt Tề, làm yếu người Sở. Nối Tiêu Hà làm tướng quốc, không thay không đổi, dân chúng bình yên. Khen Tào Tham không diễu võ khoe tài, viết thành Tào tướng quốc thế gia, quyển hai mươi bốn.

Suy tính trong màn trường, đắc thắng trong vô hình, Tử Phòng bày mưu kế, không mang tiếng cơ trí, chẳng được công dũng cảm, xử khó từ dễ, làm lớn từ nhỏ. Viết thành Lưu hầu thế gia, quyển hai mươi lăm.

Dùng sáu kế lạ, chư hầu thần phục Hán, việc trừ họ Lý, Trần Bình chủ mưu, rốt yên tông miếu, vững xã tắc. Viết thành Trần thừa tướng thế gia, quyển hai mươi sáu.

Họ Lã cấu kết, mưu suy hoàng thất, Chu Bột quyền biển, không theo thói thường; Ngô – Sở dấy binh, Á Phu đóng ở Xương Ấp, để chặn Tề – Triệu, bỏ mặc đất Lương. Viết thành Giáng hầu thế gia, quyển hai mươi bảy.

Bảy nước phản nghịch, riêng có nước Lương che chở kinh đô; cậy sủng khoe công, cơ hồ chuốc vạ. Khen việc có thể chống lại Ngô – Sở, viết thành Lương Hiếu vương thế gia, quyển hai mươi tám.

Ngũ tông phong vương, thân thích hòa thuận, chư hầu lớn nhỏ làm phên giậu, ai yên phận nấy, những việc tiến vượt, ngày một ít đi. Viết thành Ngũ tông thế gia, quyển hai mươi chín.

Ba vị hoàng tử, đều được phong vương, văn từ sách cáo, đều đáng thưởng thức. Viết thành Tam vương thế gia, quyển ba mươi.

Mạt thế tranh lợi, họ vẫn giữ nghĩa, nhường nhau ngôi vua, rốt cuộc chết đói, thiên hạ tán dương. Viết thành Bá Di liệt truyện, quyển một.

Án Tử tiết kiệm, Di Ngô xa xỉ, Tề Hoàn nhờ vậy xưng bá, Cảnh Công nhờ vậy thịnh trị. Viết thành Quản Án liệt truyện, quyển hai.

Lý Nhĩ vô vi, để mặc thay đổi, chuộng sự thanh tịnh, để tùy cải chính; Hàn Phi suy xét sự tình, thuận thời hợp lý. Viết thành Lão Tử Hàn Phi liệt truyện, quyển ba.

Từ xưa bậc vương giả đã có Tư Mã pháp, Nhương Tư có thể phát huy. Viết thành Tư Mã Nhương Tư liệt truyện, quyển bốn.

Không phải người tín – liêm – nhân – dũng, không thể truyền binh pháp, giảng kiếm thuật, phải hợp với đạo, trong có thể sửa mình, ngoài có thể ứng biển, quân tử coi đó là đức vậy. Viết thành Tôn Tử Ngô Khởi liệt truyện, quyển năm.

Kiện bị gièm pha, liên lụy đến Xa, Ngũ Thượng cứu bố, Ngũ Viên đến Ngô. Viết thành Ngữ Tử Tư liệt truyện, quyển sáu.

Họ Khổng viết sách, đệ tử nối nghiệp, thảy làm thay day, mến nghĩa chuộng nhân. Viết thành Trọng Ni đệ tử liệt truyện, quyến bảy.

Ưởng rời Vệ tới Tần, có thể làm sáng đạo thuật, khiến Hiếu Công lớn mạnh xưng bá, đời sau noi phép. Viết thành Thương quân liệt truyện, quyển tám.

Thiên hạ lo Tần liên hoành, lòng tham không đáy, Tô Tần lại có thể bảo toàn chư hầu, hẹn hợp tung để kìm sự tham bạo. Viết thành Tô Tần liệt truyện, quyển chín.

Sáu nước hợp tung thân thiết, mà Trương Nghi có thể làm sáng luận thuyết, lại khiến chư hầu giải tán. Viết thành Trương Nghi liệt truyện, quyển mười.

Tần sở dĩ về đông xưng hùng với các chư hầu, là nhờ kế sách của Sư Lý, Cam Mậu. Viết thành Sư Lý Cam Mậu liệt truyện, quyển mười một.

Ôm Hà Sơn, vây Đại Lương, khiến chư hầu bó tay mà thờ Tần, ấy là công của Ngụy Nhiễm, Viết thành Nhương hầu liệt truyện, quyển mười hai.

Nam nhổ Yên – Dĩnh, Bắc xô Trường Bình, rồi vây Hàm Đan, Võ An làm tướng; phá Sở diệt Triệu, là kế của Vương Tiễn. Viết thành Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện, quyển mười ba.

Lược bàn di văn của Nho – Mặc, sáng tỏ yếu lĩnh của lễ nghĩa, ngăn chặn ý nghĩ trục lợi của Huệ vương, thuật kể việc hưng suy của các đời. Viết thành Mạnh Tử Tuân Khanh liệt truyện, quyển mười bốn.

Mến khách yêu kẻ sĩ, kẻ sĩ theo về đất Tiết, vì Tề chống Sở – Ngụy. Viết thành Mạnh Thường quân liệt truyện, quyển mười lăm.

Dùng quyền biến giành được Phùng Đình, tới Sở để giải vây Hàm Đan, khiến vua nước ấy lại có tiếng nói trong các chư hầu. Viết thành Bình Nguyên quân Ngu Khanh liệt truyện, quyển mười sáu.

Giàu sang núp bóng kẻ nghèo hèn, hiền tài dưới trướng người kém cỏi, duy Tín Lăng quân mới có thể làm được. Viết thành Ngụy Công tử liệt truyện, quyển mười bảy.

Liều mình vì vua, nên thoát được Tần, khiến nhân sĩ du thuyết về Nam chạy vào nước Sở, ấy là lòng trung nghĩa của Hoàng Yết. Viết thành Xuân Thân quân liệt truyện, quyển mười tám.

Có thể nhẫn nhục ở Ngụy – Tề, uy tín vang tới Tần mạnh, tiến cử hiền tài, khiêm nhường ngôi vị, có hai ngài như vậy. Viết thành Phạm Thư Sái Trạch liệt truyện, quyển mười chín.

Dẫn đầu thi hành mưu lược, liên hợp quân năm nước, vì nước Yên yếu báo thù nước Tề mạnh, rửa nỗi nhục cho tiến quân. Viết thành Lạc Nghị liệt truyện, quyền hai mươi.

Mặc ý bày tỏ với Tần vương, khom mình trước Liêm Tử, tận trung với quốc quân, có tiếng trong chư hầu. Viết thành Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện, quyền hai mươi mốt.

Mẫn Vương để mất Lâm Truy, chạy đến Cử Thành, riêng có Điền Đan nhờ Tức Mặc đánh đuổi Kỵ Kiếp, nên bảo toàn được xã tắc nước Tề. Viết thành Điền Đan Việt truyện, quyển hai mươi hai.

Có thể bày lời ngụy biện giải nỗi lo vây thành, khinh tước lộc, thích tùy ý. Viết thành Lỗ Trọng Liên Trâu Dương liệt truyện, quyển hai mươi ba.

Làm từ8 ngầm can gián, ví von nêu đạo nghĩa, Ly Tao là như vậy. Viết thành Khuất Nguyên Giả Sinh liệt truyện, quyển hai mươi bốn.

Kết thân với Tử Sở, khiến kẻ sĩ trong các nước chư hầu tranh nhau tới phụng sự nước Tần. Viết thành Lã Bất Vi liệt truyện, quyển hai mươi lăm.

Tào Tử cầm dao găm, nước Lỗ thu lại ruộng, Tề tỏ ra thành thật, Dự Nhượng không hài lòng. Viết thành Thích khách liệt truyện, quyển hai mươi sáu.

Có thể nêu rõ trù hoạch, thuận thời giúp Tần, thỏa chí trong thiên hạ, Lý Tư đứng đầu. Viết thành Lý Tư liệt truyện, quyển hai mươi bảy.

Mở đất mộ dân cho nhà Tần, phía bắc đánh bại Hung Nô, cậy Hoàng Hà làm đất hiểm, dựa núi cố thủ, xây dựng Du Trung. Viết thành Mông Điền liệt truyện, quyển hai mươi tám.

Trấn thủ nước Triệu, giữ vững Thường Sơn để mở rộng Hà Nội, làm suy yếu thế lực nước Sở, nêu uy tín của Hán vương ra khắp thiên hạ. Viết thành Trương Nhĩ Trần Dư liệt truyện, quyển hai mươi chín.

Thu gom quân Tây Hà, Thượng Đảng, theo tới Bành Thành; Bành Việt đánh lấy đất Lương làm nhọc Hạng Vũ. Viết thành Ngụy Báo Bành Việt liệt truyện, quyển ba mươi.

Đem quân Hoài Nam phản Sở theo Hán, Hán dùng Đại tư mã Ân, rốt cuộc đánh bại Hạng Vũ ở Cai Hạ. Viết thành Kình Bố liệt truyện, quyển ba mươi mốt.

Người Sở vây khốn ta ở Kinh – Sách, mà Hàn Tín đánh lấy Ngụy – Triệu, bình định Yên – Tề, khiến Hán chia ba thiên hạ mà chiếm lấy hại phần, tiêu diệt Hạng Tịch. Viết thành Hoài Âm hầu liệt truyện, quyển ba mươi hai.

Sở – Hán giằng co ở Củng – Lạc, mà Hàn Tín trấn giữ Dĩnh Xuyên cho Hán, Lư bản cắt đứt quân lương của Hạng Tịch. Viết thành Hàn Tín Lư Oản liệt truyện, quyển ba mươi ba.

Chư hầu phản Hạng vương, riêng Tề kìm Hạng Vũ ở Thành Dương, Hán mới có thể thừa cơ đánh vào Bành Thành, Viết thành Điền Đam liệt truyện, quyển ba mươi tư.

Đánh thành dã chiến, lập Công về báo, Khoái – Thương góp sức, không những cầm roi ruổi ngựa, còn giúp Hán vương thoát nạn. Viết thành Phàn Lịch liệt truyện, quyển ba mươi lăm.

Thiên hạ vừa đình, văn pháp chưa rõ, Trương Lương bày kế, thống nhất đo lường, đặt định luật lịch. Viết thành Trương thừa tướng liệt truyện, quyển ba mươi sáu.

Giao ước thông hiểu, kết nối chư hầu; chư hầu gần gũi, quy thuận Hán vương, giúp làm phên giậu. Viết thành Lịch Sinh Lục Giả liệt truyện, quyển ba mươi bảy.

Muốn biết rõ việc Tần – Sở, riêng có Chu Tiết thường theo Cao tổ, bình định chư hầu. Viết thành Phó Cận Khoái Thành liệt truyện, quyển ba mươi tám.

Di dời phú hào, đóng đô Quan Trung, hòa ước với Hung Nô, định rõ lễ nghi triều đình, sắp đặt phép thức trong tông miếu. Viết thành Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện, quyển ba mươi chín.

Có thể biến cương thành nhu, rốt làm đại thần; Loan công không chịu khuất phục trước thế lực mà phản bội người chết, Viết thành Quý Bố Lạc Bố liệt truyện, quyển bốn mươi.

Dám mạo phạm thiên tử, bày tỏ chủ trương, bất chấp tính mạng, vì nước nhà bày kế lâu dài. Viết thành Viên Áng Triều Thố liệt truyện, quyển bốn mươi mốt.

Giữ luật không để mất đại thể, giảng người hiền thời xưa, khiến vua thêm sáng suốt. Viết thành Trương Thích Chi Phùng Đường liệt truyện, quyển bốn mươi bốn.

Đôn hậu hiếu hiền, nói năng ấp úng, hành sự mau lẹ, tận tụy cúc cung, đứng đầu quân tử. Viết thành Vạn Thạch Trương Thúc liệt truyện, quyển bốn mươi ba.

Giữ tiết tháo chính trực, có thể nói liêm khiết, khích lệ được người hiền, giữ trọng trách, không thể khuất phục trước sự phi lý. Viết thành Điền Thúc liệt truyện, quyển bốn mươi bốn.

Biển Thước luận về y, đáng là bậc thầy, tay nghề cao minh, hậu thế noi học, không thể đổi khác, mà Thương cũng có thể nói gần được như ngài. Viết thành Biển Thước Thương công liệt truyện, quyển bốn mươi lăm.

Lưu Trọng bị cắt tước, Lưu Tỵ làm Ngô vương, Hán vừa định thiên hạ, cho trấn giữ Giang – Hoài. Viết thành Ngô vương Tỵ liệt truyện, quyển bốn mươi sáu.

Ngô – Sở làm loạn, thân thuộc riêng có Đậu Anh giỏi giang mà yêu kẻ sĩ, kẻ sĩ hướng về, cầm quân đánh bọn Sơn Đông ở Huỳnh Dương. Viết thành Ngụy Kỳ Võ An liệt truyện, quyển bốn mươi bảy.

Mưu trí đủ để ứng phó với biến cố cận thế, khoan hòa đủ để đắc nhân tâm. Viết thành Hàn Trường Nhụ liệt truyện, quyển bốn mươi tám.

Dũng cảm chống địch, nhân ái với quân, hiệu lệnh rõ ràng, tướng sĩ quy thuận. Viết thành Lý tướng quân liệt truyện, quyển bốn mươi chín.

Từ thời Tam đại trở lại, Hung Nô thường là mối lo của Trung quốc; muốn biết lúc mạnh yếu, công cuộc phòng bị chinh phạt, viết thành Hung Nô liệt truyện, quyển năm mươi.

Dẹp yên biên tái, mở rộng Hà Nam, đánh vỡ Kỳ Liên, khai thông Tây Vực, dẹp rợ Hồ phương Bắc. Viết thành Vệ tướng quân phiêu kỵ liệt truyện, quyển năm mươi mốt. .

Đại thần tôn thất, khoe mẽ xa hoa, riêng Công Tôn Hoằng, ăn mặc cần kiệm, làm gương trăm quan. Viết thành Bình Tân hầu liệt truyện, quyển năm mươi hai.

Hán đã dẹp Trung quốc, mà Triệu Đà có thể vỗ về Dương Việt, bảo vệ Nam Phiên, giữ phận nộp cống. Viết thành Nam Việt liệt truyện, quyển năm mươi ba.

Nước Ngô phản nghịch, người Âu Việt chém Lưu Tỵ, giữ núi Phong Ngung xưng thần. Viết thành Đông Việt liệt truyện, quyển năm mươi tư.

Bộ thuộc của Yên Đan, tan tác ở Liêu Đông, Triều Tiên vương Mãn, thu nhận dân sót, tụ tập phía đông biển, liên kết Chân Phiên, giữ biên tái làm ngoại thần. Viết thành Triều Tiên liệt truyện, quyển năm mươi lăm.

Đường Mông sai sứ, thông hiếu Dạ Lang, vua đất Cung – Trách, xin làm nội thần, đón nhận triều quan. Viết thành Tây Nam di liệt truyện, quyển năm mươi sáu.

Việc trong phú Tử Hư, lời trong phú Đại Nhân, hoa lệ khoa trương, Song tôn chỉ châm biếm khuyên răn, quy về lẽ vô vi nhi trị. Viết thành Tư Mã Tương Như liệt truyện, quyển năm mươi bảy.

Kình Bố phản nghịch, Lưu Trưởng làm vua, trấn giữ miền Nam Giang – Hoài, vỗ yên dân dữ nước Sở. Viết thành Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện, quyển năm mươi tám.

Quan lại tuân hành pháp luật, không khoe giỏi cậy công, trăm họ không oán, cũng không tội lỗi. Viết thành Tuần lại liệt truyện, quyển năm mươi chín.

Chỉnh đốn áo mũ đứng trong triều đình, quần thần không ai dám nói bóng gió, Cấp Trường Nhụ nghiêm trang, thích tiến cử người tài, xứng làm bậc trưởng giả, Trinh Tráng có khí khái. Viết thành Cấp Trinh liệt truyện, quyển sáu mươi.

Từ khi Khổng Tử mất, kinh kỳ không ai coi trọng trường học, riêng thời Kiến Nguyên – Nguyên Thủ, thơ văn rực rỡ. Viết thành Nho lâm liệt truyện, quyển sáu mươi mốt.

Dân bỏ nghề gốc phần nhiều xảo trá, gian manh nhờn luật, người tốt không thể cảm hóa, chỉ có trừng trị nghiêm khắc mới rèn sửa được. Viết thành khốc lại liệt truyện, quyển sáu mươi hai.

Hán sai sự thông hiếu với Đại Hạ, dân mọi xa tận miền Tây, dẫn nhau trông ngóng, muốn ngắm Trung quốc. Viết thành Đại Uyên liệt truyện, quyển sáu mươi ba.

Cứu người lúc khó, giúp người lúc nghèo, bậc nhân giả là vậy chăng? Không thất tín, chẳng nuốt lời, bậc nghĩa giả có chỗ khả thủ vậy. Viết thành Du hiệp liệt truyện, quyển sáu mươi tư,

Thờ vua có thể khiến vua vui tai vui mắt, sắc mặt ôn hòa, được hầu gần gũi, chẳng những được yêu vì sắc, mà ai nấy cũng có sở trường. Viết thành Ninh hạnh liệt truyện, quyển sáu mươi lăm.

Chẳng màng thế tục, chẳng tranh quyền lợi, trên dưới không có chỗ nào ngưng trệ, chẳng ai ám hại, mà đạo nghĩa vẫn được dùng. Viết thành Hoạt kê liệt truyện, quyển sáu mươi sáu.

Thày bói các nước Tề, Sở, Tần, Triệu, ở mỗi vùng dùng mỗi tục khác nhau. Muốn lần xem yếu chỉ của họ, viết thành Nhật giả liệt truyện, quyển sáu mươi bảy.

Phép bói rùa thời Hạ, Thương, Chu bất đồng, cách chiêm bốc của man di tứ phương khác biệt, song phép nào cũng đều dùng đến đoán may rủi. Xem qua yếu chỉ, viết thành Quy cách liệt truyện, quyển sáu mươi tám.

Bọn sất phu áo vải, không hại tới triều chính, không tổn tới trăm họ, lựa thời cơ mua bán để tăng của cải, về mặt trí tuệ cũng có điều khả thủ. Viết thành Hóa thực liệt truyện, quyển sáu mươi chín.

Nhà Hán tiếp nguồn cuối của Ngũ đế, nối nghiệp đứt của Tam đại. Đạo nhà Chu lụn bại, Tần vất bỏ cổ văn, thiêu hủy các sách Thi – Thư, cho nên sách vở chốn Minh Cường, Thạch thất, Kim quỹ, Ngọc bản tản mác. Thế rồi nhà Hán nổi lên, Tiêu Hà sắp luật lệnh, Hàn Tín nêu quân pháp, Trương Thương đặt điển chương, Thúc Tôn Thông định nghi lễ, tức thì văn học rạng rỡ đi lên, Thi – Thư lũ lượt xuất hiện. Từ khi Tào Tham tiến cử Cái công, giảng đạo Hoàng – Lão, rồi Lục Sinh – Triều Thố làm sáng tư tưởng Thân – Thương9, Công Tôn Hoằng vì học thuyết nhà Nho mà sang hiển, trong vòng trăm năm, việc cũ văn xưa của thiên hạ thảy được gom về chỗ Thái sử công. Thái sử công, cha truyền con nối, giữ lấy chức này. Bàn rằng: “Than ôi! Tổ tiên ta từng quản việc này, hiển hách vào thời Đường – Ngu, đến thời Chu lại được giữ chức, cho nên họ Tư Mã đời đời giữ việc thiên quan. Đến thời ta rồi, phải kính nhớ đấy! Kính nhớ đấy!” Tìm khắp thiên hạ chuyện xưa mất mát, nguồn cơn khởi nghiệp đế vương; truy nguồn tìm ngọn, xem xét sự thịnh suy, khảo bàn việc hành xử, đại để suy thời Tam đại, chép việc Tần – Hán, trên từ Hiên Viên, dưới tới hiện tại, làm thành mười hai bản kỷ. Phân chia thiên mục, cùng thời khác thế, niên đại sai khác không rõ, làm thành mười biểu. Lễ nhạc tăng giảm, luật lịch sửa đổi, quan hệ giữa binh quyền, sông núi, quỷ thần, trời người, lần suy lụn bại thông tỏ sự biến, làm thành tâm thư. Nhị thập bát tú vây quanh Bắc cực, ba mươi nan hoa hướng vào một trục, vận hành vô tận, ứng với bề tôi giúp rập đắc lực, trung thực thành tín, thi hành đạo cả, phụng sự chúa thượng, làm thành ba mươi thế gia. Bảo vệ chính nghĩa, trác tuyệt phi phàm, chẳng để bản thân lỡ thời, lập công danh với thiên hạ, làm thành bảy mươi liệt truyện. Cả thảy ba trăm thiên, năm mươi hai vạn sáu ngàn năm trăm chữ, gọi là Thái sở Công thư. Lời tựa đại khái, góp nhặt dông dài bổ sung sáu kinh, làm thành tiếng nói một nhà, kết hợp với sự truyền thuật khác nhau của lục nghệ, chỉnh lý tạp thuyết của bách gia, bản chính cất chốn danh sơn, bản phụ lưu đất kinh kỳ, ngõ hầu chờ bậc thánh nhân quân tử đời sau. Quyển bảy mươi.

Thái tử công bàn rằng: Ta thuật từ thời Hoàng Đế trở lại, tới thời Thải Sợ thì dừng, gồm ba trăm thiên.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.