Lã thái hậu là vợ của Cao tổ khi còn hàn vi, sinh ra Hiếu Huệ đế, con gái là Lỗ Nguyên thái hậu. Khi Cao tổ làm Hán vương, lấy Thích Cơ người Định Đào, hết mực yêu chuộng, sinh ra Triệu Ẩn vương, tên là Như Ý. Hiếu Huệ là người hiền lành, mềm yếu, Cao tổ cho là không giống mình, thường muốn phế thái tử, lập con của Thích Cơ là Như Ý lên, vì Như Ý giống mình. Thích Cơ được yêu sủng, thường theo vua tới Quan Đông, ngày đêm khóc lóc, muốn lập con mình lên thay thái tử. Lã hậu lớn tuổi, thường lại trong nhà, ít gặp vua nên ngày một xa cách. Sau khi Như Ý được lập làm Triệu vương, mấy lần suýt thay thái tử, nhờ đại thần tranh luận, cộng thêm kế của Lưu hầu, thái tử mới không bị phế.
Lã hậu là người cương nghị, giúp Cao tổ định thiên hạ, việc giết đại thần phần nhiều nhờ sức Lã hậu. Hai anh của Lã hậu đều làm tướng. Anh cả là Chu Lã hầu chết trận, phong cho người con tên Lã Thai làm Lịch hầu, Con tên Sản làm Giao hầu; anh thứ là Lã Thích Chi làm Kiến Thành hầu.
Ngày Giáp Thìn, tháng Tư, năm thứ mười hai, Cao tổ băng cung Trường Lạc, thái tử nối ngôi hoàng đế. Bấy giờ Cao tổ có tám người con: con trai cả tên là Phì, anh của Hiếu Huệ, nhưng khác mẹ, Phì làm Tề vương; còn lại đều là em của Hiếu Huệ, con của Thích Cơ là Như Ý làm Triệu vương, con của Bạc phu nhân là Hằng làm Đại vương, con của các bà phi có Khôi làm Lương Vương, Hữu làm Hoài Dương Vương, Trường làm Hoài Nam vương, Kiến làm Yên vương. Em của Cao tổ là Giao làm Sở vương, con của anh Cao tổ là Tỵ làm Ngô vương. Con của Phiên quân Ngô Nhuế, vị công thần không mang họ Lưu, tên là Thần làm Trường Sa vương.
Lã hậu rất oán Thích phu nhân và con bà ta là Triệu vương, bèn sai bắt giam Thích phu nhân vào cung Vĩnh Hạng, rồi cho vời Triệu vương. Sứ giả tới lui ba lần, tướng quốc nước Triệu là Kiến Bình hầu Chu Xương nói với sứ giả rằng: “Cao đế giao phó Triệu vương cho tôi vì Triệu vương tuổi nhỏ, Trộm nghe thái hậu oán Thích phu nhân, muốn với Triệu vương tới giết một thể, tôi không dám để vương đi. Vả lại vương còn ốm, không thể vâng chiếu.” Lã hậu cả giận, bèn sai người với tướng quốc nước Triệu tới. Tướng quốc nước Triệu đến Trường An, bèn sai người với Triệu vương lần nữa. Triệu vương lên đường, còn chưa tới nơi. Hiếu Huệ đế nhân từ, biết thái hậu nổi giận, đích thân đón Triệu vương ở Bá Thượng, cùng vào cung, lại cùng Triệu vương ăn uống ngủ nghỉ. Thái hậu muốn giết Triệu vương mà không tìm được dịp. Tháng Mười hai năm thứ nhất đời Hiếu Huệ đế, vua đi săn bắn từ sớm. Triệu vương còn nhỏ, không thể dậy sớm. Thái hậu nghe tin vương ở một mình, liền sai người mang rượu độc cho uống. Bình minh, Hiếu Huệ về, Triệu vương đã chết. Thế rồi bèn điều Hoài Dương Vương Hữu làm Triệu vương. Mùa hạ, xuống chiếu truy phong cha của Lịch hầu làm Lệnh Vũ hầu. Thái hậu bèn cho chặt chân tay của Thích phu nhân, móc mắt, hun tai, bắt uống thuốc câm, cho ở trong nhà xí, gọi là “lợn người”. Mấy ngày sau, bèn vời Hiếu Huệ đế tới xem lợn người. Hiếu Huệ trông thấy, hỏi ra thời biết là Thích phu nhân, liền khóc lớn, nhân đổ bệnh, hơn năm trời không dậy nổi, sau sai người thưa với thái hậu: “Đó không phải việc con người làm. Thần là con của thái hậu, rốt cục không thể trị thiên hạ được nữa.” Hiếu Huệ từ đó ngày ngày uống rượu, đàn hát dâm dật, không nghe chính sự, cho nên mắc bệnh vậy.
Năm thứ hai, Sở Nguyên vương, Tề Điệu Huệ vương đều tới chầu. Tháng Mười, Hiếu Huệ và Tề vương thết tiệc uống rượu trước mặt thái hậu, Hiếu Huệ cho rằng Tề vương là anh, để ngồi trên theo lễ người nhà. Thái hậu nổi giận, bèn sai sót hai chén rượu độc đặt ở trước mặt, sai Tề vương dậy chúc thọ. Tề vương đứng dậy, Hiếu Huệ cũng đứng dậy, nâng chén muốn cùng chúc thọ. Thái hậu sợ, tự mình đứng dậy hất chén của Hiếu Huệ. Tề vương thấy lạ nên không dám uống, giả say bỏ đi. Dò hỏi, biết là rượu độc, Tề vương sợ, tự cho rằng không thể thoát khỏi Trường An, đâm ra lo lắng. Nội sử nước Tề tên là Sĩ khuyên vương rằng: “Thái hậu chỉ có Hiếu Huệ và công chúa Lỗ Nguyên. Nay vương có hơn bảy mươi thành mà công chúa mới có vài thành. Vương thật lòng dâng một quận cho thái hậu, làm ấp thang mộc của công chúa, thái hậu tất mừng, vương ắt hết lo.” Vậy là Tề vương bèn dâng quận Thanh Dương, suy tôn công chúa làm vương thái hậu. Lã hậu mừng rỡ, bằng lòng, bèn đặt tiệc rượu ở cung riêng của Tề vương, uống vui vẻ, xong xuôi thì cho Tề vương về. Năm thứ ba, bắt đầu xây thành Trường An, năm thứ tư được một nửa, năm thứ năm, thứ sáu thì xây xong. Chư hầu đến họp. Tháng Mười vào chầu mừng.
Ngày Mậu Dần, tháng Tám, mùa thu, năm thứ bảy, Hiếu Huệ đế băng. Lúc phát tang, thái hậu khóc nhưng không rơi lệ. Con của Lưu hầu là Trương Tịch Cương làm Thị trung, mười lăm tuổi, nói với thừa tướng rằng: “Thái hậu chỉ có mình Hiếu Huệ đế, nay ngài băng, bà khóc mà không đau buồn, ông biết duyên do không?” Thừa tướng nói: “Duyên do thế nào?” Tịch Cương nói: “Vua không có con lớn, thái hậu sợ các ông. Nay ông xin cho Lã Thai, Lã Sản, Lã Lộc làm tướng, cầm quân giữ các cánh nam bắc, rồi cho người họ Lã thảy vào cung, ở trong nhậm chức, như vậy thì thái hậu yên tâm, các ông mới may thoát khỏi vạ.” Thừa tướng bèn theo kế của Tịch Cương, Thái hậu hài lòng, khóc mỗi đau buồn. Quyền lực của họ Lã nổi lên từ đây. Thế rồi đại xá thiên hạ. Ngày Tân Sửu, tháng Chín, an táng vua. Thái tử nối ngôi hoàng đế, bái yết ở miếu Cao tổ. Năm đầu tiên, mọi hiệu lệnh đều do thái hậu ban ra.
Thái hậu xưng mệnh lệnh của mình là chế, bàn việc muốn lập những người họ Lã làm vương, hỏi Hữu thừa tướng Vương Lăng. Vương Lăng nói: “Cao đế từng giết ngựa trắng, thề rằng Không phải họ Lưu mà làm vương, thiên hạ sẽ cùng đánh. Nay phong vương cho họ Lã là trái với giao ước vậy.” Thái hậu không vui, hỏi Tả thừa tướng Trần Bình, Giáng hầu Chu Bột. Đám Chu Bột đáp rằng: “Cao đế bình thiên hạ, phong vương cho con em, nay thái hậu xưng chế, phong vương cho con em họ Lã, có gì không được?” Thái hậu mừng, bãi triều. Vương Lăng trách Trần Bình, Giáng hầu rằng: “Xưa cùng Cao để cắt máu ăn thề, các ông không có ở đó sao? Nay Cao đế bằng, thái hậu là nữ chúa, muốn phong vương cho họ Lã, các ông muốn theo ý riêng bội ước, còn mặt mũi nào gặp Cao đế ở dưới đất nữa?” Trần Bình, Giáng hầu nói: “Hôm nay chê trách thẳng mặt, tranh cãi trong triều, chúng tôi không bằng ông; song bảo toàn xã tắc, ổn định con cháu họ Lưu, ông lại không bằng chúng tôi.” Vương Lăng không trả lời được. Tháng Mười một, thái hậu muốn phế Vương Lăng, bèn cho làm Thái phó của hoàng đế, tước quyền thừa tưởng. Vương Lăng liền cáo bệnh xin về. Thái hậu bèn cho Tả thừa tướng Bình làm Hữu thừa tướng, cho Tích Dương hầu Thẩm Tự Cơ làm Tả thừa tướng. Tả thừa tướng không trị việc nước, được sai coi việc trong cung như Lang trung lệnh. Tự Cơ xưa được thái hậu sủng hạnh, thường nắm quyền, công khanh đều qua ông ta để giải quyết mọi việc. Lại truy tôn cha của Lịch hầu làm Điệu Võ vương, muốn nhân đó dần phong vương cho họ Lã.
Tháng Tư, thái hậu muốn phong hầu cho họ Lã, bèn thoạt tiên phong cho công thần của Cao tổ là Lang trung lệnh Vô Trạch làm Bác Thành hầu. Công chúa Lỗ Nguyên mất, ban thụy hiệu là Lỗ Nguyên thái hậu; con tên Yển làm Lỗ vương, cha của Lỗ vương là Tuyên Bình hầu Trương Ngao vậy. Phong cho con của Tề Điệu Huệ vương tên là Chương làm Chu Hư hầu, đem con gái của Lã Lộc gả cho. Thừa tướng nước Tề tên Thọ làm Bình Định hầu. Thiếu phủ Diên làm Ngô hầu. Lại phong cho Lã Chủng làm Bái hầu, Lã Bình làm Phù Liễu hầu, Trương Mãi làm Nam Cung hầu.
Thái hậu muốn phong vương cho họ Lã, thoạt tiên lập con cái cung tần của Hiếu Huệ như Cường làm Hoài Dương Vương, Bất Nghi làm Thường Sơn vương, Sơn làm Tương Thành hầu, Triều làm Chỉ hầu, Võ làm Hồ Quan hầu. Thái hậu đánh tiếng tới các đại thần, các đại thần xin lập Lịch hầu Lã Thai làm Lã vương, thái hậu thuận cho. Kiến Thành Khang hầu là Thích Chi chết, con nối dõi có tội bị phế, lập người em là Lã Lộc làm Hồ Lăng hầu, kế tục Khang hầu. Năm thứ hai, Thường Sơn vương mất, cho người em là Tương Thành hầu tên Sơn làm Thường Sơn vương, đổi tên thành Nghĩa. Tháng Mười một, Lã vương Thai mất, đặt tên thụy là Túc vương, thái tử Gia thay làm vương. Năm thứ ba, vô sự. Năm thứ tư, phong hầu cho Lã Tu làm Lâm Quang hầu, Lã Tha làm Du hầu, Lã Canh Thủy làm Chuế Kỳ hầu, Lã Phẫn làm Lã Thành hầu, lại phong tước hầu cho năm vị thừa tướng của chư hầu.
Lúc con gái của Tuyên Bình hầu làm hoàng hậu của vua Hiếu Huệ không có con, bèn giả mang thai, lấy con của phi tần làm con mình, rồi giết người mẹ, lập con làm thái tử. Hiếu Huệ băng, thái tử được lập làm vua. Khi vua lớn lên, nghe nói mẹ bị giết, mình không phải con hoàng hậu, liền buông lời nói: “Hoàng hậu sao có thể giết mẹ ta mà gọi ta là con được? Ta chưa lớn, đến khi lớn ắt sẽ thay đổi.” Thái hậu nghe tin liên lo lắng, sợ sẽ làm loạn, bèn ngầm giam ở cung Vĩnh Hạng, nói rằng vua bị bệnh nặng, bá quan không ai được gặp. Thái hậu nói: “Phàm người có thiên hạ, giữ mạng muôn dân, thì phải che dân như trời, chở dân như đất. Vua Có vui lòng vỗ về trăm họ, trăm họ mới vui vẻ tôn thờ vua, vui vẻ giao hòa thì thiên hạ được trị. Nay hoàng đế bệnh lâu không khỏi, đâm loạn thần mất trí, không thể tiếp tục gánh vác việc phụng thờ tông miếu, không thể giao phó thiên hạ được, cần phải thay đổi!” Quần thần đều dập đầu nói: “Hoàng thái hậu lo tính cho thiên hạ muôn dân, để ổn định tông miếu xã tắc thật sâu sắc. Chúng thần xin dập đầu vững chiếu?” Vua bị truất ngôi, thái hậu ngầm giết đi. Ngày Bính Thìn tháng Năm, lập Thường Sơn vương Nghĩa làm vua, đổi tên thành Hoằng. Không gọi là năm đầu, vì thái hậu trị việc thiên hạ. Cho Chỉ hầu Triều làm Thường Sơn vương. Đặt chức quan Thái úy, cho Giáng hầu Bột làm Thái úy. Tháng Tám năm thứ năm, Hoài Dương vương mất, cho người em là Hồ Quan hầu Võ làm Hoài Dương Vương. Tháng Mười năm thứ sâu, thái hậu nói Lã vương Gia cư xử ngạo mạn, bèn phế truất, cho em của Túc vương Thai là Lã Sản làm Lã vượng. Mùa hạ, đại xá thiên hạ. Phong con của Tề Điệu Huệ vương là Hưng Cư làm Đông Mâu hầu.
Tháng Giêng năm thứ bảy, thái hậu cho vời Triệu vương Hữu. Hữu lấy con gái họ Lã làm vương hậu, nhưng không yêu, yêu nàng phi khác. Con gái họ Lã ghen, giận bỏ đi, nói gièm với thái hậu, vu tội bảo ông ta nói rằng: “Họ Lã sao được làm vương! Sau khi thái hậu trăm tuổi, ta ắt đánh chúng?” Thái hậu nổi giận, nên vời Triệu vương. Triệu vương tới, sắp cho ở cung riêng mà không gặp, sai vệ sĩ vây giữ, không cho ăn. Quần thần có người trộm cho ăn, liền bắt hỏi tội. Triệu vương đói, bèn hát rằng: “Họ Lã chuyên quyền chừ họ Lưu nguy. Bức hiếp vương hầu chừ ép ta lấy phi. Phi ta đã ghen chừ còn vu tội dữ. Gièm pha loạn nước chừ trên không xét rõ. Chẳng có trung thần chừ sao ta mất nước? Kết liễu giữa đồng chí trời xanh chính trực! Than ôi hối chẳng kịp chừ thà sớm tự sát! Làm vua mà chết đói chứ ai người thương xót! Họ Lã ngang ngược chủ nhờ trời báo thù.” Ngày Đinh Sửu, Triệu vương bị giam chết, dùng lễ dân thường chôn ở nghĩa địa của dân thường ở Trường An.
Ngày Kỷ Sửu, nhật thực, ban ngày tối om. Thái hậu ghét, lòng không vui, bèn nói với tả hữu rằng: “Đó là vì ta vậy?”
Tháng Hai, đổi Lương Vương Khôi làm Triệu vương. Lã vương Sản đổi làm Lương Vương, Lương vương không tới nước phong, làm thái phó của hoàng đế. Lập hoàng tử Bình Xương hầu Thái làm Lã vương. Đổi tên đất Lương thành đất Lã, đất Lã thành đất Tế Xuyên. Em gái của thái hậu là Lã Tu có con gái làm vợ của Doanh Lăng hầu Lưu Trạch, Trạch là đại tướng quân. Thái hậu phong vương cho họ Lã, sợ ngay sau khi băng, Lưu tướng quân sẽ gây hại, bèn cho Lưu Trạch làm Lang Da vương để lấy lòng ông ta. Lương Vương Khôi bị dời sang làm vua nước Triệu, trong lòng không vui. Thái hậu cho con gái của Lã Sản làm vương hậu của Triệu vương. Quan tùy tùng của vương hậu đều mang họ Lã, chuyên quyền, ngầm theo dõi Triệu vương, Triệu vương không được tự do. Vương có người ái phi, vương hậu sai người đầu độc giết đi. Vương bèn làm bài ca bốn đoạn, sai nhạc công hát. Vương đau buồn, tháng Sáu thì tự sát. Thái hậu nghe tin, cho rằng vương vì đàn bà mà bỏ lễ ở tông miếu, phế truất người nổi dõi của vương.
Tuyên Bình hầu Trương Ngao chết, cho con là Yển làm Lỗ vương, ban cho Ngao tên thụy là Lỗ Nguyên vương. Mùa thu, thái hậu sai sứ nói với Đại vương rằng muốn dời ông ta tới làm vua đất Triệu. Đại vương tạ từ, xin giữ biên cương đất Đại. Đám thái phó Sản, thừa tướng Bình nói, Võ Tín hầu Lã Lộc giữ tước hầu hàng đầu, ngôi thứ số một, xin lập làm Triệu vương. Thái hậu ưng thuận, truy tôn cha của Lộc là Khang hầu làm Triệu Chiêu vương. Tháng Chín, Yên Linh vương Kiến mất, có con với nàng phi, thái hậu sai người giết đi, nên tuyệt tự, nước bị phế bỏ. Tháng Mười năm thứ tám, lập con của Lã Túc vương là Đông Bình hầu Lã Thông làm Yên vương, phong em của Thông là Lã Trang làm Đông Bình hầu.
Giữa tháng Ba, Lã hậu làm lễ cầu phúc, về qua Chỉ Đạo, thấy một vật như con chó xanh, thúc nách Cao hậu, thoắt không thấy nữa. Sai bói việc này thì nói rằng đó là hồn của Triệu vương Như Ý tác quái. Cao hậu liền đổ bệnh, đau ở nách.
Cao hậu vì cháu ngoại Lỗ Nguyên vương Yển tuổi nhỏ, sớm mất cha mẹ, cô đơn yếu ớt, bèn phong cho hai người con của vợ trước của Trương Ngao là Xỉ làm Tân Đô hầu, Thọ làm Lạc Xương hầu, để phò trợ Lỗ Nguyên vương Yển. Lại phong cho Trung đại yết giả Trương Thích làm Kiến Lăng hầu, Lã Vinh làm Chúc Tư hầu. Các hoạn quan giữ chức lệnh, thừa đều được làm Quan nội hầu, thực ấp năm trăm hộ.
Giữa tháng Bảy, Cao hậu bệnh nặng, bèn lệnh cho Triệu vương Lã Lộc làm thượng tướng quân lĩnh đạo quân phía bắc; Lã vương Sản giữ đạo quân phía nam. Lã thái hậu răn Sản và Lộc: “Cao đế bình định thiên hạ xong, giao ước với các đại thần rằng: Không phải họ Lưu mà phong vương, thiên hạ sẽ cùng đánh. Nay họ Lã làm vương, đại thần bất bình. Ta sắp băng, vua còn nhỏ, e đại thần có biến. Các ngươi phải cầm quân giữ cung, chớ có đưa tang, đừng để kẻ khác khống chế.” Ngày Tân Tỵ, Cao hậu băng, để lại di chiếu ban cho chư hầu mỗi người ngàn vàng, các tướng, liệt hầu, lang, lại đều được ban vàng theo tước trật. Đại xá thiên hạ. Cho Lã vương Sản làm tướng quốc, cho con gái Lã Lộc làm hoàng hậu.
An táng Cao hậu xong, cho Tả thừa tướng Thẩm Tự Cơ làm Thái phó của hoàng đế.
Chu Hư hầu Lưu Chương có khí phách, năng lực, Đông Mâu hầu Hưng Cư là em ông ta, đều là em của Tề Ai vương, sống ở Trường An. Lúc bấy giờ, họ Lã chấp chính chuyên quyền, muốn làm loạn, sợ đám đại thần Giáng hầu, Quán hầu của Cao để khi xưa, nên chưa dám phát động. Vợ Chu Hư hầu là con gái của Lã Lộc. Chu Hư hầu ngầm biết âm mưu, sợ bị giết, bèn ngầm sai người các giác với anh mình là Tề vương, muốn hạ lệnh cất quân tiến về tây, giết họ Lã để lên ngôi. Chu Hư hầu muốn từ trong cung cùng các đại thần làm nội ứng. Tề vương muốn dấy binh, song tướng quốc không nghe. Ngày Bính Ngọ tháng Tám, Tề vương định sai người giết tướng quốc, tướng quốc Thiệu Bình bèn làm phản, cất quân muốn bao vây vương, vương nhân đó giết tướng quốc, rồi dấy binh tiến về đông, dùng kế đoạt quân của Lang Da vương, cùng thống lĩnh tiến về tây. Chuyện này chép trong Tề vương (thế gia).
Tề vương bèn viết thư cho các vua chư hầu, nói rằng: “Cao đế bình định thiên hạ, phong vương cho con em, Điệu Huệ vương làm vua nước Tề. Điệu Huệ vương mất, Hiếu Huệ để sai Lưu hầu Lương lập tôi làm Tề vương. Hiếu Huệ băng, Cao hậu nắm quyền, tuổi tác cao, nghe lời họ Lã, tự ý phế truất hoàng đế thay người khác, lại liên tiếp giết ba vị Triệu vương1, diệt Lương, Triệu, Yên để phong vương cho họ Lã, chia đất Tề làm tư. Trung thần can gián, người mê loạn không nghe. Nay Cao hậu bằng mà hoàng đế tuổi nhỏ, chưa thể trị thiên hạ, cố nhiên phải dựa vào đại thần và chư hầu. Vậy mà họ Lã lại tự ý thăng chức, tự tập binh lính dương oai, uy hiếp liệt hầu, trung thần, giả chế sắc ra lệnh cho thiên hạ, tông miếu bởi vậy mà nguy. (Vậy nên) quả nhân đem quân vào giết những kẻ không đáng được làm vương!” Nhà Hán nghe tin, bọn tướng quốc Lã Sản bèn sai Dĩnh Âm hầu Quán Anh cầm quân tới đánh. Quán Anh đến Huỳnh Dương, bèn bàn mưu: “Đám họ Lã nắm quân ở Quan Trung, muốn lật họ Lưu để tự lập. Nay ta phá quân Tề xong về bẩm báo, sẽ làm tăng thế lực của họ Lã vậy.” Bèn ở lại đóng quân ở Huỳnh Dương, sai sứ dụ Tề vương và chư hầu cùng liên thủ, để đợi họ Lã gây biến thì cùng đánh chúng. Tề vương nghe tin, bèn đem quân về biên giới phía tây, đợi hẹn.
Lã Lộc, Lã Sản muốn dấy loạn ở Quan Trung, nhưng bên trong lo bọn Giáng hầu, Chu Hư, bên ngoài sợ quân Tề, Sở, lại e Quán Anh làm phản, muốn đợi quân Quán Anh và quân Tề đánh nhau rồi phát động, nên do dự chưa quyết. Lúc bấy giờ, Tế Xuyên vương Thái, Hoài Dương Vương Vũ, Thường Sơn vương Triều lấy danh nghĩa là em của Thiếu đế, cùng cháu ngoại của Lã hậu là Lỗ Nguyên vương, đều nhỏ tuổi chưa tới nước phong, ở Trường An. Triệu vương Lộc, Lương vương Sản mỗi người cầm quân đóng ở hai cảnh nam bắc, đều là người họ Lã. Liệt hầu và quần thần không ai dám chắc tính mạng của mình.
Thái úy Giáng hầu Chu Bột không được vào quân doanh làm chủ binh quyền. Khúc Chu hầu Lịch Thương già ốm, con là Ký có quan hệ tốt với Lã Lộc. Giáng hầu bèn cùng thừa tướng Trần Bình bàn mưu, sai người ép Lịch Thương bắt con là Ký tới lừa Lã Lộc nói rằng: “Cao đế và Lã hậu cùng bình định thiên hạ, chín vương họ Lưu được lập, ba vương họ Lã được lập, đều qua đại thần bàn bạc, việc xong xuôi bả cáo chư hầu, chư hầu đều cho là thích hợp. Nay thái hậu băng, vua còn nhỏ, túc hạ đeo ấn Triệu vương, không gấp về nước giữ đất phong, lại làm thượng tướng, cầm quân ở đây, khiến đại thần và chư hầu nghi ngờ. Túc hạ sao không giao ấn tướng, đem quân giao cho Thái úy, xin Lương vương trả ấn tướng quốc, cùng đại thần giao hẹn về nước, quân Tề ắt rút, đại thần được yên, túc hạ kê cao gối mà cai trị ngàn dặm, ấy là cái lợi muôn đời vậy.” Lã Lộc tin theo kế ấy, muốn trả ấn tưởng, đem quân giao cho Thái úy. Sai người báo với Lã Sản và người già họ Lã, có người cho là lợi, có người cho là không lợi, bàn bạc chần chừ chưa quyết. Lã Lộc tin Lịch Ký, thường cùng ra ngoài săn bắn. Một hôm ghé qua nhà cô là Lã Tu, Tu cả giận, nói: “Mày làm tướng mà bỏ quân, họ Lã từ rày không có chỗ nào dung nữa rồi.” Đoạn đem tất cả ngọc ngà châu báu rải xuống sân, nói: “Chớ giữ cho kẻ khác.”
Tả thừa tướng Tự Cơ miễn chức.
Tháng Tám, ngày Canh Thân, sáng sớm, Bình Dương hầu Truất làm thay việc của Ngự sử đại phu, gặp tướng quốc Sản bàn việc. Sứ giả của Lang trung lệnh Giả Thọ từ Tề trở về, nhân đó trách Sản nói: “Vương không sớm tới nước phong, nay dù muốn đi, liệu còn được không?” Bèn đem hết việc Quán Anh cùng Tề, Sở liên hợp, muốn giết họ Lã nói với Sản, rồi giục Sản gấp vào cung. Bình Dương hầu nghe được lời này, bèn ruổi ngựa tới báo thừa tướng, thái úy. Thái úy muốn vào quân doanh phía bắc, nhưng không được. Tương Bình hầu Thông giữ phù tiết, bèn sai ông ta mang phù tiết giả mệnh vua đưa thái úy vào quân doanh phía bắc. Thái úy lại sai phái Lịch Kỳ cùng điển khách Lưu Yết, trước từng thuyết phục Lã Lộc, bảo rằng: “Hoàng đế sai thái úy giữ đạo quân phía bắc, muốn túc hạ về nước phong, gấp trả ấn tướng rồi rời khỏi đây, bằng không tai họa sẽ ập tới.” Lã Lộc cho rằng Lịch Ký không lừa mình, bèn cởi ấn đưa cho viên điển khách, đem binh quyền trao cho thái úy. Thái úy cầm ấn tướng vào cửa quân, lệnh cho ba quân rằng: “Ai theo họ Lã thì để lộ vai phải, theo họ Lưu để lộ vai trái?” Toàn quân đều để lộ vai trái theo họ Lưu. Thái úy tới nơi, tướng quân Lã Lộc cũng đã cởi ấn thượng tướng bỏ đi. Thái úy bèn thống lĩnh đạo quân phía bắc.
Song vẫn còn đạo quân phía nam. Bình Dương hầu nghe tin, liền đem âm mưu của Lã Sản báo với thừa tướng Bình, thừa tường Bình bèn cho vời Chu Hư hầu tới giúp thái úy. Thái úy lệnh cho Chu Hư hầu trông cửa quân. Sai Bình Dương hầu nói với vệ úy: “Chớ cho tướng quốc Sản vào cửa điện!” Lã Sản không biết Lã Lộc đã bỏ đạo quân phía bắc, bèn vào cung Vị Ương, muốn làm loạn, song không vào được cửa điện, cứ đi đi lại lại. Bình Dương hầu sợ không thẳng nổi, liền ruổi ngựa tới nói với thái úy. Thái úy cũng lo không thắng nổi họ Lã, nên chưa dám nói trắng việc giết họ, bèn sai Chu Hư hầu tới bảo rằng: “Mau vào cung bảo vệ hoàng đế.” Chu Hư hầu xin quân, thái úy cho hơn nghìn lính. Vào cửa cung Vị Ương thì thấy Sản ở bên trong. Khi trời sẩm tối liền đánh Sản. Sản bỏ chạy. Trời nổi gió to, bởi vậy đám tùy tòng của Sản hỗn loạn, không ai dám đấu. Chu Hư hầu đuổi theo Sản, giết hắn ở trong nhà xí của những viên lại trong phủ Lang trung.
Chu Hư hầu giết Sản xong, vua sai yết giả cầm phù tiết tới khen Chu Hư hầu. Chu Hư hầu muốn đoạt phù tiết, yết giả không chịu, Chu Hư hầu bèn theo ngồi cùng xe, nhân có phù tiết mà phi ngựa chạy, chém viên vệ úy cung Trường Lạc là Lã Canh Thủy. Trở ra, liền ruổi ngựa vào quân doanh phía bắc, báo thái úy. Thái úy đứng dậy, lạy mừng Chu Hư hầu nói: “Chỉ lo Lữ Sản mà thôi, nay đã giết hắn, thiên hạ yên định rồi!” Đoạn sai người chia ra lùng bắt tất cả trai gái họ Lã, bất luận già trẻ đều chém. Ngày Tân Dậu bắt chém Lã Lộc, dùng roi đánh chết Lã Tu. Sai người giết Yên vương Lã Thông, phế Lỗ vương Yển. Ngày Nhâm Tuất, cho thái phó của vua là Tự Cơ phục lại chức Tả thừa tướng. Ngày Mậu Thìn, dời Tế Xuyên vương tới cai trị đất Lương, lập con của Triệu U vương là Toại làm Triệu vương. Phái Chu Hư hầu Lưu Chương đem việc giết họ Lã báo với Tề vương, ra lệnh rút quân. Quân của Quản Anh cũng rút khỏi Huỳnh Dương trở về.
Các đại thần cùng ngầm bàn nhau: “Thiếu đế cùng Lương vương, Hoài Dương Vương, Thường Sơn vương đều không phải con ruột của Hiếu Huệ. Là hậu dùng kế, lấy con kẻ khác mạo danh, rồi giết mẹ chúng, đem nuôi ở hậu cung, bắt Hiếu Huệ nhận làm con, lập lên nối dõi, phong vương, để họ Lã thêm mạnh. Nay đều đã giết sạch họ Lã mà để họ ở yên, sau lớn lên cầm quyền, bọn ta ắt không sống sót. Chẳng bằng xem trong các vương, thấy ai giỏi nhất thì lập!” Có người nói: “Tề Điệu Huệ vương là con trưởng của Cao đến nay con dòng đích của ông ta là Tề vương, xét gốc gác mà nói là cháu đích tôn của Cao đế, có thể lập.” Đại thần đều nói: “Họ Lã là ngoại thích, song độc ác, suýt nguy đến tông miếu, loạn tới công thần. Nay nhà mẹ của Tề vương họ Tứ. Tứ Quân là người ác. Nếu lập Tề vương sẽ lại giống họ Lã.” Lại muốn lập Hoài Nam vương, song nghĩ còn nhỏ, nhà mẹ đẻ cũng ác. Đoạn bàn rằng: “Đại vương nay là người con lớn nhất của Cao để hiện còn. Ngài nhân hậu, hiếu thảo, khoan dung. Nhà thái hậu họ Bạc cẩn mực, lương thiện. Vả lại lập con lớn là đúng, lòng nhân hiếu của ngài lại nổi tiếng thiên hạ, rất hợp.” Thế rồi cùng ngầm sai người tới đón Đại vương. Đại vương sai người tạ từ. Sứ giả đi lại hai lần, rồi ngài mới ngồi xe sáu cỗ lên đường. Ngày Kỷ Tỵ là ngày cuối tháng Chín nhuận, tới Trường An, ngụ ở cung riêng của Đại vương. Đại thần đều tới yết kiến, dâng ngọc tỷ thiên tử lên cho Đại vương, cùng suy tôn làm thiên tử. Đại vương mấy lần từ chối, quần thần cố nài, sau mới nghe.
Đông Mâu hầu Hưng Cư nói: “Việc giết họ Lã, tôi không có công, xin được dọn cung!” Đoạn cùng thái bộc Nhữ Âm hầu Đằng công vào cung, tới trước Thiếu đế nói: “Ngài không phải họ Lưu, không xứng ở ngôi!” Bèn quay lại ra hiệu cho vệ sĩ cầm kích ở hai bên buông vũ khí rời đi. Có vài người không chịu buông, tổng thái giám Trương Trạch nói rõ, họ mới buông vũ khí. Đằng công bèn gọi xe chở Thiếu đế ra. Thiếu để nói: “Định đem ta đi đâu?” Đằng công nói: “Ra ngoài ở.” Đoạn cho ở tại thiếu phủ. Rồi dùng xa giá của thiên tử tới đón Đại vương ở cung riêng. Báo rằng: “Cung đã dọn xong.” Đại vương đương đêm vào cung Vị Ương. Có mười tên yết giả cầm kích giữ cổng Đoan môn, nói: “Thiên tử ở đây, túc hạ là ai mà vào.” Đại vương bèn bảo thái úy. Thái úy tới nói, mười tên yết giả đều buông binh khí rời đi. Đại vương bèn vào cung, chấp chính. Đương đêm, các quan hữu ty chia nhau tiêu diệt Lương Vương, Hoài Dương Vương, Thường Sơn vương và Thiếu đế ở các cung riêng.
Đại vương được lập làm thiên tử. Năm thứ hai mươi ba thì băng, thụy hiệu là Hiếu Văn hoàng đế.
Thái sử công bàn rằng: Thời Hiếu Huệ hoàng đế và Cao hậu, dân chúng thoát được nỗi khổ chiến tranh, vua tôi đều muốn nghỉ ngơi trong sự “vô vi, cho nên Huệ đế chắp tay rủ áo. Cao hậu là nữ chúa, nắm quyền xưng chế, song việc chính sự không ra khỏi cửa, thiên hạ vẫn bình yên. Hình phạt ít dùng, tội nhân thưa ít. Dân chăm cày cấy, cơm áo dồi dào.