Hạng Tịch, người Hạ Tương, tên tự là Vũ, khi mới khởi nghĩa, hai mươi tư tuổi. Chú là Hạng Lương. Bố Lương là Hạng Yên, làm tướng nước Sở, bị tướng nước Tần là Vương Tiễn giết. Họ Hạng đời đời làm tượng nước Sở, được phong ở đất Hạng, nên lấy họ Hạng.
Hạng Tịch thuở nhỏ, học chữ không thành, bỏ sang học kiếm, cũng lại không được. Hạng Lương tức giận. Tịch nói: “Chữ chỉ đáng để viết họ tên mà thôi. Kiếm thì địch được một người, không đáng học. Phải học thứ địch được vạn người.” Thế rồi Hạng Lương bèn dạy Tịch binh pháp, Tịch mừng rỡ, song chỉ biết qua loa đại khái, lại không chịu học rốt ráo. Hạng Lương từng bị quan lại Lịch Dương đuổi bắt, bèn xin Tào Cữu làm quan cai ngục đất Cơ, viết thư cho Tư Mã Hân làm quan coi ngục Lịch Dương, nên việc mới xong xuôi. Hạng Lượng giết người, cùng Tịch lánh kẻ thù ở Ngô Trung. Hiền sĩ, đại phu ở Ngô Trung đều dưới tài Hạng Lương. Mỗi khi Ngô Trung có việc lao dịch lớn hay ma chay, Hạng Lương thường lo liệu chính, ngầm dùng binh pháp khống chế khách khứa và trai tráng, nhờ vậy biết được khả năng của họ. Tần Thủy Hoàng đế du ngoạn Cối Kê, vượt Chiết Giang, Lương và Tịch cùng tới xem. Tịch nói: “Kẻ đó có thể đánh mà thay thế được.” Lương bịt miệng Tịch, nói: “Chớ nói bậy, giết cả họ đấy!” Lương vì việc này mà thấy Tịch là kẻ kỳ tài. Tịch cao hơn tám thước, sức nâng được vạc, tài trí hơn người, trai tráng Ngô Trung đều sợ Tịch vậy.

Hạng Vũ [Vãn Tiếu đường Trúc trang họa truyện, Thượng Quan Châu)
Tần Nhị Thế năm đầu, tháng Bảy, bọn Trần Thiệp nổi lên Đại Trạch. Tháng Chín, Quận thú Cối Kê là Ân Thông nói với Hạng Lương: “Giang Tây đều làm phản, đây cũng là lúc trời diệt nhà Tần vậy. Tôi thường nghe, hành động trước thì áp chế người ta, hành động sau thì bị người ta áp chế. Tôi muốn dấy binh, để ông và Hoàn Sở cầm quân.” Bấy giờ Hoàn Sở trốn ở Đại Trạch. Lương nói: “Hoàn Sở chạy trốn, không ai biết ở đâu, riêng có Tịch biết mà thôi.” Lương bèn đi ra, dặn Tịch cầm kiếm ở ngoài đợi. Lương lại vào ngồi cùng Quận thú, đoạn nói: “Xin gọi Tịch vào, sai nhận lệnh triệu Hoàn Sở.” Quận thủ nói: “Được” Lương gọi Tịch vào. Một chốc, Lương liếc Tịch rồi nói: “Hành động được rồi?” Thế rồi Tịch liền tuốt kiếm chém đầu Quận thú. Hạng Lương cầm đầu Quận thú, đeo thao ấn của y. Bọn môn hạ kinh hãi, rối loạn. Tịch đánh giết ngót trăm người. Cả phủ đều khiếp vía nằm rạp, không ai dám nhỏm dậy. Lương bèn gọi đám hào lại quen biết, nói rõ việc làm đại sự, đoạn bèn cất quân ở Ngô Trung, sai người gom quân ở các huyện, được tám nghìn tinh binh. Lương bố trí cho hào kiệt Ngô Trung làm các chức hiệu úy, hậu, tự mã. Có một người không được dùng, bèn tự mình nói với Lương. Lương nói: “Trước đây có cái đám tang, ta sai ông đứng ra lo việc gì đó mà ông làm không xong, vì vậy ta không dùng ông nữa.” Mọi người đều nể phục. Thế rồi Lương làm Quận thú Cối Kê, Tịch làm tì tướng, đi tuần các huyện,
Người Quảng Lăng là Thiệu Bình, bấy giờ đánh đất Quảng Lăng theo lệnh của Trần vương, song chưa hạ được. Nghe tin Trần vương thua chạy, quân Tần lại sắp tới, bèn vượt Trường Giang, giả mệnh lệnh của Trần vương, phong Hạng Lương làm Sở vương thượng trụ quốc. Nói rằng: “Giang Đông đã định, mau dẫn quân về phía tây đánh Tân.” Hạng Lương bèn đem tám nghìn người vượt Trường Giang đi về phía tây; nghe tin Trần Anh đã đánh hạ Đông Dương, liền sai sứ giả tới, muốn cùng hiệp sức tiến về phía tây. Trần Anh, xưa làm chức Lệnh sử ở Đông Dương, khi trong huyện, vốn trung thực cẩn thận, được khen là người đôn hậu. Trai tráng Đông Dương giết huyện lệnh, tụ tập mấy ngàn người, muốn đặt thủ lĩnh, song không ai thích hợp, bèn mời Trần Anh. Anh tạ từ, nói rằng không làm nổi, họ bèn ép đưa Anh lên làm thủ lĩnh, người trong huyện đi theo đến hai vạn, Trai tráng muốn lập Anh làm vương ngay, quân mới nổi dậy dùng khăn xanh bịt đầu cho khác biệt. Mẹ Trần Anh nói với Anh rằng: “Từ khi mẹ về làm dâu nhà mày, chưa từng nghe thấy tổ tiên mày có ai quý hiển. Nay chợt có cái danh to là điểm không may. Chẳng thà phụ thuộc người khác, việc thành còn được phong hầu, việc bại cũng dễ bỏ trốn, không phải người mà ai cũng chỉ tên được.” Trần Anh liền không dám làm vượng, bảo với quan quân rằng: “Họ Hạng đời đời làm tướng, có tiếng ở Sở. Nay muốn làm việc lớn, tướng lĩnh phi người ấy không ai làm được. Ta dựa vào danh gia vọng tộc, ắt diệt được Tần.” Thế rồi mọi người nghe theo lời Trần Anh, đem quân lính quy phụ Hạng Lương. Hạng Lương vượt sông Hoài. Kình Bố, Bồ tướng quân cũng đem quân quy phụ. Cả thảy sáu bảy vạn người, đóng ở Hạ Bi.
Lúc bấy giờ, Tần Gia đã lập Cảnh Câu làm Sở vương, đóng quân ở phía đông Bành Thành, muốn chống Hạng Lương. Hạng Lương nói với quan quân rằng: “Trần vương khởi sự trước, song chinh chiến bất lợi, chưa biết ở đâu. Nay Tần Gia phản Trần vương mà lập Cảnh Câu, là đại nghịch vô đạo.” Đoạn bèn tiến quân đánh Tần Gia. Quân Tần Gia thua chạy, bị đuổi tới Hồ Lăng. Gia quay lại giao chiến một ngày. Gia chết, quân lính đầu hàng. Cảnh Câu bỏ chạy, chết ở đất Lương. Hạng Lương sau khi sáp nhập quân Tần Gia, liền đóng ở Hồ Lăng, định dẫn quân về phía tây. Quân Chương Hàm tới đất Lật, Hạng Lương sai biệt tướng Chu Kê Thạch, Dư Phan Quân giao chiến. Dư Phan Quân chết. Quân Chu Kê Thạch thua, bỏ chạy tới Hồ Lăng. Hạng Lương bèn đưa quân vào đất Tiết, giết Kê Thạch. Hạng Lương trước đó sai Hạng Vũ cầm một cánh quân riêng đánh Tương thành. Tương thành cố thủ không hạ được. Sau khi hạ được, (Hạng Vũ) chôn sống dân chúng, rồi quay về báo với Hạng Lương. Hạng Lương nghe tin Trần vương chắc chắn đã chết, liền triệu tập các biệt tướng họp ở đất Tiết để bàn việc. Lúc này Bải công nổi dậy ở đất Bái, cũng tới dự.
Người đất Cư Sào là Phạm Tăng, tuổi bảy mươi, vốn thường nhà, giỏi bày kế lạ, tới khuyên Hạng Lượng rằng: “Trần Thắng thua là phải. Xét Tần diệt sáu nước, Sở vô tội nhất. Từ khi Hoài vương vào đất Tần không về, người Sở thương xót đến tận giờ, vậy nên Sở Nam công nói: Sở dẫu còn ba hộ thì diệt Tần vẫn ắt là Sở. Nay Trần Thắng khởi sự trước tiên, không lập hậu duệ vua Sở mà lại tự lập, thế ấy không thể lâu dài. Nay ngài nổi dậy ở Giang Đông, tướng Sở như ong, tranh nhau quy phụ ngài, vì họ ngài đời đời là tướng Sở, có thể lập lại hậu duệ vua Sở lên ngôi vậy.” Thế rồi Hạng Lương cho lời nói ấy là phải, bèn tìm cháu của Sở Hoài vương là Tâm trong dân gian, đang chăn dê cho người, lập làm Sở Hoài vương, theo nguyện vọng của dân vậy. Trần Anh làm Thượng trụ quốc của nước Sở, được phong năm huyện, cùng Hoài vương đóng đô ở Hu Thai. Hạng Lương tự xưng là Võ Tin quân,
Qua mấy tháng, (Lương) đem quân đánh thành Cang Phủ, cùng Điền Vinh, Tư Mã Long Thư nước Tề cứu Đông A, đại phá quân Tần ở Đông A. Điền Vinh lập tức dẫn quân về, đuổi Tề vương là Giả. Giả chạy trốn đến Sở. Tướng quốc của Giả là Điền Giác chạy trốn đến Triệu. Em của Giác là Điền Nhàn là tướng Tề trước đây, ở lại Triệu không dám về. Điền Vinh lập con của Điền Đam là Thị làm Tề vương. Hạng Lương sau khi phá các cánh quân ở quanh Đông A, liền truy đuổi quân Tần; mấy lần sai sứ giả giục quân Tề, muốn cùng tiến về phía tây. Điền Vinh nói: “Sở giết Điền Giả, Triệu giết Điền Giác, Điền Nhàn, (Tề) mới xuất quân.” Hạng Lương nói: “Điền Giả là vua của nước liên minh, vì đường cùng nên tới theo ta, ta không nỡ giết.” Triệu cũng không giết Điền Giác, Điền Nhàn để trao đổi với Tề. Tề bèn không chịu xuất quân giúp Sở. Hạng Lương sai Bái Công và Hạng Vũ cầm quân riêng đánh Thành Dương, giết cả thành; đi về phía tây, phá quân Tần ở phía đông Bộc Dương. Quân Tần rút vào thành Bộc Dương. Bái công, Hạng Vũ bèn đánh Định Đào. Định Đào chưa hạ được, bèn bỏ đi, về phía tây chiếm đất tới Ung Khưu, đại phá quân Tần, chém Lý Do; đoạn quay về đánh Ngoại Hoàng, nhưng chưa hạ được.
Hạng Lương xuất phát từ Đông A đi về phía tây, gần tới Định Đào, lại phá quân Tần; Hạng Vũ thì chém được Lý Do, nên càng khinh Tân, có vẻ kiêu ngạo. Tống Nghĩa bèn khuyên Hạng Lương rằng: “Đánh thắng nhưng tướng kiêu quân nhác thì hỏng. Nay quân hơi trễ nhác rồi, quân Tần thì ngày một đông, tôi lo cho ngài.” Hạng Lương không nghe, bèn sai Tống Nghĩa đi sứ nước Tề. Trên đường gặp sử Tề là Cao Lăng quân Hiển, Tống Nghĩa nói: “Ông sắp gặp Võ Tín quân sao?” Đáp rằng: “Phải!” Lại nói: “Tôi đoán quân của Võ Tín quân ắt thua. Ông đi thong thả thì khỏi chết, đi nhanh thì gặp vạ.” Tần quả nhiên đem hết quân tăng viện cho Chương Hàm, đánh quân Sở, đại phá ở Định Đào, Hạng Lương chết. Bái công, Hạng Vũ rời Ngoại Hoàng đánh Trần Lưu. Trần Lưu cố thủ không hạ được. Bái Công, Hạng Vũ cùng bàn rằng: “Nay quân Hạng Lương vỡ, binh sĩ đều sợ.” Bèn cùng quân của Lã Thần tiến về phía đông. Lã Thần đóng quân ở phía đông Bành Thành, Hạng Vũ đóng quân ở phía tây Bành Thành, Bái công đóng quân ở Đường quận.
Chương Hàm sau khi phá vỡ quân của Hạng Lương thì nghĩ rằng quân của đất Sở không đáng lo, bèn vượt Hoàng Hà đánh Triệu, đại phá quân Triệu. Lúc bấy giờ, Triệu Yết làm vua, Trần Dư làm tướng quân, Trương Nhĩ làm tướng quốc, đều chạy vào thành Cự Lộc. Chương Hàm lệnh cho Vương Ly, Thiệp Nhàn vây Cự Lộc. Chương Hàm đóng quân ở phía nam, xây đường ống để chuyển thóc. Trần Dư làm tướng, đem mấy vạn quân đóng ở phía bắc Cự Lộc, đây gọi là quân Hà Bắc.
Quân Sở bị vỡ trận ở Định Đào, Hoài vương lo sợ, từ Hu Thai đi tới Bành Thành, gộp quân của Hạng Vũ, Lã Thần rồi tự thống lĩnh; cho Lã Thần làm Tư đồ, cho bố Thần là Lã Thanh làm Lệnh doãn. Cho Bái công làm Đường quận trưởng, phong làm Võ An hầu, cầm quân Đường quận.
Ban đầu, sứ Tề mà Tống Nghĩa gặp là Cao Lăng quân Hiển, ở trong quân Sở, gặp Sở vương liền nói: “Tống Nghĩa đoán quân của Võ Tín quân ắt thua, được vài ngày, quân ấy quả nhiên thua. Quân còn chưa đánh mà đã thấy điềm bại vong, ấy đáng gọi là biết binh pháp vậy.” Sở vương triệu Tống Nghĩa tới cùng bàn việc, rất hài lòng, nhân cho làm thượng tướng quân; Hạng Vũ phong làm Lỗ công, làm thứ tưởng; Phạm Tăng làm mát tướng, để cứu Triệu. Các biệt tướng đều dưới quyền Tống Nghĩa, hiệu là Khanh Tử Quán quân. Hành quân tới An dương, ở lại bốn mươi sáu ngày không tiến quân. Hạng Vũ nói: “Tôi nghe quân Tần vây Triệu vương ở Cự Lộc, phải gấp đem quân vượt Hoàng Hà, Sở đánh bên ngoài, Triệu ứng bên trong, ắt phá được quân Tần.” Tống Nghĩa nói: “Không phải. Ruồi trâu đốt trâu không màng giết rận. Nay Tần đánh Triệu, đánh thắng thì quân mệt, ta sẽ thừa cơ; không thắng thì ta cất quân gióng trống tiến về phía tây, ắt lấy được Tần, vậy nên chẳng thà cứ để cho Tần Triệu đánh nhau trước. Mặc giáp cầm thương, Nghĩa chẳng bằng ông, song ngồi bày mưu lược, ông không bằng Nghĩa.” Nhân đó ra lệnh trong quân: “Kẻ nào mạnh như hùm, bướng như dê, tham như sói, cứng đầu không thể sai bảo đều phải chém hết.” Đoạn đưa con là Tống Tương tới giúp nước Tề, đích thân tiễn con tới Vô Diêm, uống rượu linh đình. Trời lạnh mưa to, quân sĩ đói rét. Hạng Vũ nói: “Lẽ ra phải dốc sức đánh Tần, giờ lại ở lâu không đi. Năm nay đói, dân nghèo, sĩ tốt ăn khoai đậu, quân không còn lương. Vậy mà lại ăn uống linh đình, không cất quân vượt Hoàng Hà, nhân khi Triệu có lương thực, cùng Triệu hợp sức đánh Tần, ấy mới gọi là thừa cơ. Với sức mạnh của Tần, đánh nước Triệu mới lập, thế ấy ắt lấy được Triệu. Triệu mất thì Tần mạnh, còn thừa cơ nỗi gì! Vả lại, quân ta mới thua, vua ngồi không yên chiếu, vét hết quân, lương cả nước trao cho một mình tướng quân, nước nhà yên hay nguy là trận này. Nay không xót binh sĩ mà theo ý riêng, không phải bề tôi của xã tắc.” Buổi sớm, Hạng Vũ vào chầu thượng tướng quân Tống Nghĩa, liền vào trong trường chém đầu Tống Nghĩa, ra lệnh trong quân rằng: “Tống Nghĩa cùng Tề âm mưu phản Sở, Sở vương ngầm lệnh cho Vũ ta giết hắn.” Lúc bấy giờ, các tướng đều sợ phục, không dám ho he, đều nói rằng: “Người đầu tiên lập lại nước Sở là nhà tướng quân. Nay tướng quân còn giết chết loạn thần.” Đoạn cùng nhau lập Vũ làm thượng tướng quân lâm thời; sai người đuổi theo con Tống Nghĩa, bắt kịp ở Tề, rồi giết đi; sai Hoàn Sở báo tin với Hoài vương. Hoài vương nhân đó cho Hạng Vũ làm thượng tướng quân. Đương Dương quân, Bồ tướng quân đều thuộc về Hạng Vũ.
Hạng Vũ sau khi giết Khanh Tử Quán quân, uy vang nước Sở, tiếng dội chư hầu, bèn sai Đường Dương quân, Bồ tướng quân cầm hai vạn quân vượt Hoàng Hà, cứu Cự Lộc. Chiến sự ít thắng lợi, Trần Dư lại xin quân. Hạng Vũ bèn đem tất cả binh lính vượt Hoàng Hà, đều dìm thuyền, đập nồi, đốt trại, chỉ mang lương thực trong ba ngày, để tỏ rõ quân sĩ quyết tử, không ai có lòng quay về. Thế rồi Vũ đến nơi, vây Vương Ly, gặp quân Tần, đánh chín trận. Cắt đứt đường ống, đại phá quân Tần, giết Tô Giác, bắt Vương Ly. Thiệp Nhàn không đầu hàng Sở, tự thiêu mà chết. Lúc bấy giờ, quân Sở đứng đầu chư hầu. Quân chư hầu đến cứu Cự Lộc có hơn mười trại, nhưng không ai dám xuất quân. Kịp khi Sở đánh Tần, các tướng đều đứng trên tường theo dõi. Chiến binh Sở ai cũng lấy một chọi mười, tiếng hò reo động trời, quân chư hầu không ai không run sợ. Thế rồi sau khi phá được quân Tần, Hạng Vũ triệu kiến tướng các nước chư hầu. Khi vào viên môn1, không ai không lê gối tiến lên, không dám ngẩng nhìn. Hạng Vũ từ đó bắt đầu làm thượng tướng quân của chư hầu, chư hầu đều dưới quyền ông.
Chương Hàm đóng quân ở Cúc Nguyên, Hạng Vũ đóng quân ở Chương Nam, giằng dai chưa đánh. Quân Tần mấy lần lui binh, Nhị Thế sai người trách Chương Hàm. Chương Hàm sợ, sai Trưởng sử (Tư Mã) Hân về xin chỉ thị. Tới Hàm Dương, ở lại cửa Tư Mã2 ba ngày, Triệu Cao không tiếp kiến, đem lòng ngờ vực. Trưởng sử Hân sợ, chạy về trong quân, không dám đi theo đường cũ. Triệu Cao quả nhiên sai người đuổi theo, nhưng không kịp. Hân về tới quân ngũ, báo rằng: “Triệu Cao chấp chính trong triều, người dưới quyền không làm gì được. Nay đánh mà thắng, Cao ắt đố kỵ với công của ta; đánh không thắng thì khó tránh khỏi tội chết. Mong tướng quân tính kỹ!” Trần Dư cũng gửi thư cho Chương Hàm, viết rằng: “Bạch Khởi là tướng Tần, nam đánh Yên Dĩnh, bắc chôn Mã Phục, chiếm thành cướp đất, không sao kể hết, nhưng cuối cùng lại bị ban cho chết. Mông Điềm là tướng Tần, bắc đuổi người Nhung, mở đất Du Trung đến mấy ngàn dặm, cuối cùng bị chém ở Dương Chu. Vì sao vậy? Vì lập nhiều công, Tần không thể ban phong hết được, do đó mượn quốc pháp để giết hại. Nay tướng quân làm tướng Tần đã ba năm, số binh mã để mất mát đến hàng chục vạn, chư hầu nổi dậy ngày một nhiều. Tên Triệu Cao kia vốn xu nịnh lâu ngày, nay việc cấp bách, cũng sợ bị Nhị Thế giết, nên muốn mượn quốc pháp giết tướng quân cho xong chuyện, sai người thay tướng quân để thoát khỏi vạ. Tướng quân ở ngoài đã lâu, trong triều có nhiều hiềm khích, nay có công cũng bị giết, không có công cũng bị giết. Vả lại trời diệt nước Tần, người khôn kẻ dại đều biết. Nay tướng quân trong không thể can gián, ngoài làm tướng mất nước, thân đơn thế cô mà muốn tồn tại lâu dài, há chẳng đáng thương sao! Sao tướng quân không quay lại cùng chư hầu hợp tung, hẹn cùng đánh Tần, chia đất làm vương, quay mặt về nam mà xưng cô. Việc đó so với việc thân nằm trên thớt, vợ con bị giết, chẳng phải hơn sao?” Chương Hàm do dự, ngầm sai quân hầu là Thủy Thành làm sứ giả gặp Hạng Vũ, muốn cùng giao ước. Giao ước chưa thành, Hạng Vũ sai Bồ tướng quân ngày đêm cầm quân vượt Tam Hộ, đóng ở Chương Nam, cùng Tần giao chiến, hai lần phá tan. Hạng Vũ đem tất cả binh sĩ đánh quân Tần trên sông Ô Thủy, đại phá quân Tần.
Chương Hàm sai người yết kiến Hạng Vũ, muốn cùng giao ước. Hạng Vũ triệu quan quân lại bàn việc, nói rằng: “Lương ít, muốn chấp nhận giao ước của hắn.” Quan quân đều nói: “Phải?” Hạng Vũ bèn hẹn gặp trên Ân Khư phía nam sông Hoàn Thủy. Hội thề xong, Chương Hàm gặp Hạng Vũ mà chảy nước mắt, kể vụ Triệu Cao. Hạng Vũ bèn lập Chương Hàm làm Ung vương, sắp cho ở trong quân Sở; cho Trưởng sử Hân làm thượng tướng quân, dẫn quân Tần đi tiên phong.
Đến Tân An. Quân chư hầu lúc trước phục dịch hoặc đi thú qua Tần Trung, lính Tần Trung gặp họ, làm nhiều điều vô lễ. Kịp khi quân Tần đầu hàng chư hầu, quân chư hầu thừa thắng, phần đông coi họ là nô lệ để sai khiến, khinh nhờn làm nhục quân Tần. Có nhiều lính Tần trộm nói với nhau rằng: “Bọn Chương tướng quân lừa chúng ta đầu hàng chư hầu, nay có thể vào ải phá Tần thì quá tốt; nếu không được, chư hầu sẽ bắt chúng ta làm tù binh đưa về miền đông, Tần ắt giết hết cha mẹ vợ con ta.” Các tướng nghe phong thanh mưu tính của họ, đem báo Hạng Vũ. Hạng Vũ bèn triệu tập Kinh Bố, Bồ tướng quân mà bàn rằng: “Quân Tần còn đông, lòng chúng không phục, tới Quan Trung mà chúng không nghe lời, việc ắt nguy to, chẳng thà đánh giết chúng, chỉ cho Chương Hàm, Trưởng sử Hân, Đô úy Ế vào Tần thôi.” Thế rồi quân Sở đương đêm giết chôn hơn hai mươi vạn quân Tần ở phía nam thành Tân An.
(Hạng Vũ) trên đường hành quân đánh dẹp đất Tần, cửa Hàm Cốc có lính giữ ải, không vào được. Lại nghe Bái công đã đánh Hàm Dương, Hạng Vũ nổi giận, sai bọn Đường Dương quân đánh cửa ải. Hạng Vũ bèn đi vào, tới phía tây sông Hý. Bái công đóng quân ở Bá Thượng, chưa có dịp gặp Hạng Vũ. Quan tả tư mã của Bái công là Tào Vô Thương sai người nói với Hạng Vũ rằng: “Bái công muốn làm vua ở Quan Trung, cho Tử Anh làm tướng quốc, chiếm lấy hết của báu.” Hạng Vũ nổi giận, nói: “Sớm mai khao sĩ tốt, để đánh tan quân Bái công.” Lúc bấy giờ, quân Hạng Vũ bốn mươi vạn, đóng ở Hồng Môn đất Tân Phong, quân Bái Công mười vạn, đóng ở Ba Thượng. Phạm Tăng khuyên Hạng Vũ rằng: “Lúc Bái công ở Sơn Đông, tham tiền của, thích gái đẹp. Nay vào Quan Trung, của cải không hề lấy, đàn bà không hề gần, chứng tỏ chí ông ta không nhỏ. Tôi sai người xem khí mấy chỗ ông ta, đều có tượng rồng hổ, phố năm sắc, ấy là khí của thiên tử vậy. Phải đánh gấp chở để lỡ!”
Quan Tả doãn nước Sở là Hạng Bá, chú Hạng Vũ, xưa nay thân với Lưu hầu Trương Lương, Trương Lương bấy giờ theo Bái công, Hạng Bá chạy suốt đêm tới doanh trại của Bái công, gặp riêng Trương Lương, kể hết mọi việc, muốn bảo Trương Lương bỏ đi cùng, nói rằng: “Chớ theo Bái công, không là chết cả.” Trương Lương nói: “Tôi vì Hàn vương mà hộ tống Bái công, nay Bái công có việc nguy cấp, bỏ đi là bất nghĩa, không thể không nói năng gì.” Lương bèn vào kể hết với Bái công. Bái công cả kinh, nói: “Phải làm sao đây?” Trương Lương nói: “Ai bày kế này cho đại vương?” Đáp rằng: “Thằng bố láo ấy bảo ta giữ Quan Trung, chớ nhường chư hầu là có thể làm vua cả đất Tần, nên ta mới nghe.” Lương nói: “Liệu quân lính của đại vương có đủ để ngăn Hạng vương không?” Bái công lặng im, rồi nói: “Cố nhiên không bằng vậy, nhưng làm sao bây giờ?” Trương Lương nói: “Xin hãy tới nói với Hạng Bá, bảo rằng Bái công không dám phản Hạng vương vậy.” Bải công nói: “Sao ông lại có giao tình với Hạng Bá?” Trương Lương nói: “Hồi ở Tần chơi với tôi. Hạng Bá giết người, tôi cứu sống ông ta. Nay có việc gấp, nên đến báo tôi.” Bái công nói: “Ông ta với ông, ai lớn hơn?” Lương nói: “Ông ấy lớn hơn tôi”. Bái Công nói: “Ông bảo ông ấy vào đây giùm tôi, tôi sẽ tiếp ông ấy như đối với huynh trưởng.” Trương Lương ra mời Hạng Bá. Hạng Bá liền vào gặp Bái công. Bái công bưng chén rượu chúc thọ, hẹn làm thông gia, nói rằng: “Tôi vào Quan Trung, tơ hào không dám động chạm, kiểm kê quân dân, niêm phong kho đụn, để đợi tướng quân. Cho nên sai tướng giữ cửa ải, đề phòng trộm cắp ra vào và việc bất trắc. Ngày đêm mong tướng quân tới, đâu dám làm phản! Mong Hạng Bá thưa rằng tôi không dám phản bội đức ngài.” Hạng Bá bằng lòng, bảo Bái Công rằng: “Sớm mai thế nào cũng phải tới tạ lỗi với Hạng vương.” Thế rồi Hạng Bả lại chạy đêm về, tới quân doanh, đem mọi lời của Bái công báo với Hạng vương. Nhân đó nói: “Bái công không đánh Quan Trung trước, ngài có dám vào không? Nay người ta có công to mà lại đánh người ta, thế là bất nghĩa, chẳng bằng nhân đó mà đối tốt với người ta.” Hạng vương bằng lòng.
Sáng sớm hôm sau, Bái công đem theo hơn trăm kỵ binh tới gặp Hạng vương, đến Hồng Môn, tạ tội rằng: “Tôi cùng tướng quân hợp sức đánh Tần, tướng quân đánh Hà Bắc, tôi đánh Hà Nam, nhưng không ngờ tôi lại có thể vào Quan Trung trước để phá Tần, lại được gặp tướng quân ở đây. Nay có tiểu nhân đưa lời khiến tướng quân có hiềm khích với tôi.” Hạng vương nói: “Ấy là tả tư mã Tào Vô Thương của Bái công nói vậy. Nếu không Tịch đâu đến nước này.” Hạng vương ngay hôm đó giữ Bái công lại cùng uống rượu. Hạng vương, Hạng Bá ngồi hướng đông, Á phụ ngồi hướng nam. Á phụ là Phạm Tăng vậy. Bái công ngồi hướng bắc, Trường Lương ngồi hầu hướng tây. Phạm Tăng mấy lần đưa mắt nhìn Hạng vương, giơ ngọc quyết thường đeo ra hiệu ba lần, Hạng vương lặng im không phản ứng. Phạm Tăng đứng dậy, ra gọi Hạng Trang, bảo rằng: “Quân vương là người không nhẫn tâm, người lên trên chúc thọ, chúc xong, hãy múa kiếm, thừa cơ đâm Bái công ở ngay chỗ ngồi mà giết đi. Bằng không, các ngươi đều sẽ bị hắn bắt.” Trang liền vào chúc thọ. Chúc xong, nói rằng: “Quân vương uống cùng Bái công, trong quân không có gì lấy làm vui, xin cho tôi múa kiếm!” Hạng vương nói: “Được!” Hạng Trang tuốt kiếm tung múa, Hạng Bá cũng tuốt kiếm tung múa, thường lấy mình che chở cho Bái công, Trang không đâm được. Thế rồi Trương Lượng ra cửa quân doanh, gặp Phàn Khoái. Phàn Khoái hỏi: “Việc hôm nay thế nào?” Lương đáp: “Rất nguy cấp. Nãy Hạng Trang tuốt kiếm múa, ý hắn thường nhằm vào Bái công.” Khoái nói: “Vậy thì nguy rồi, để tôi xin vào liều mạng với hắn.” Khoái tức thì dắt kiếm cầm khiên xông vào cửa. Đám vệ sĩ đan kích lại muốn chặn không cho vào trong, Phan Khoái nghiêng khiên thúc mạnh, vệ sĩ ngã nhào xuống đất, Khoái bèn vào trong, vén màn đứng ở phía tây, trừng mắt nhìn Hạng vương, tóc tai dựng đứng, kẽ mắt rách toác. Hạng vương chống kiếm, quy thẳng lưng, nói: “Khách làm gì vậy?” Trương Lương nói: “Đây là Tham thặng Phàn Khoái của Bái công vậy.” Hạng vương nói: “Tráng sĩ! Ban cho chén rượu?” Đoạn cho chén rượu. Khoái lạy tạ, đứng dậy mà uống. Hạng vương nói: “Ban cho một vai lợn?” Đoạn cho một vai lợn sống. Khoái úp khiên xuống đất, đặt vai lớn lên, tuốt kiếm xẻo ăn. Hạng vương nói: “Tráng sĩ có uống được rượu nữa không?” Phan Khoái nói: “Tôi chết còn chẳng tránh, chén rượu đâu đáng từ! Tần vương lòng dạ hổ lang, giết người không thể kể xiết, dùng hình như sợ chưa đủ, thiên hạ đều phản Tần. Hoài vương cùng các tướng hẹn rằng: kẻ nào phá được Tần vào Hàm Dương trước thì sẽ phong vương. Nay Bái công phá được Tần, vào Hàm Dương trước, tơ hào không dám động chạm, niêm phong cung thất, quay ra đóng quân ở Bá Thượng, để đợi đại vương tới. Vậy nên sai tướng giữ ải, phòng bị trộm cắp ra vào cũng như việc bất thường. Bái công khó nhọc mà công to như vậy, nhưng chưa được ban thưởng phong hầu, Đại vương lại nghe lời gian tế, muốn giết người có công. Ấy là theo thói nhà Tần đã mất. Tôi trộm nghĩ đại vương sẽ không làm như vậy.” Hạng vương chưa có lời đáp lại, chỉ nói: “Ngồi đi!” Phan Khoái ngồi xuống cùng Trương Lương. Ngồi một chốc, Bái công đứng dậy đi nhà xí, nhân gọi Phàn Khoái ra.
Sau khi Bái công đi ra, Hạng vương sai đô úy Trần Bình gọi Bái công. Bái Công nói: “Nãy đi ra chưa cáo từ, phải làm sao đây?” Phàn Khoái nói: “Làm việc lớn không màng tiểu tiết, làm lễ lớn không chấp việc nhỏ. Ban nãy người ta vừa là dao thớt, mình là cá thịt, từ biệt làm gì!” Thế rồi liền bỏ đi, lệnh cho Trường Lương ở lại tạ tội. Lương hỏi rằng: “Đại vương khi tới đây cầm theo vật gì vậy?” Đáp: “Ta cầm một đội ngọc bích trắng muốn dâng Hạng vương, một đội ngọc đẩu muốn biếu Á phụ, gặp lúc họ tức giận, ta không dám dâng. Ông dâng giùm ta!” Trương Lương đáp: “Xin vâng!” Lúc bấy giờ, Hạng vương đóng quân ở dưới Hồng Môn, Bái công đóng quân ở Bá Thượng, cách nhau bốn mươi dặm. Bái công bỏ xe ngựa, một mình cưỡi ngựa thoát thân, cùng bọn bốn người Phàn Khoái, Hạ Hầu Anh, Cận Cương, Kỷ Tín cầm kiếm, khiên, chạy bộ từ Ly Sơn xuống, đi vào Chỉ Dương, theo con đường nhỏ. Bái Công nói với Trương Lương: “Theo đường này tới doanh trại ta, bất quá hai mươi dặm thôi. Chừng ta về tới doanh trại, ông hẵng vào!” Bái công đã đi, chừng về tới doanh trại, Trương Lương bèn vào tạ tội, nói: “Bái công tửu lượng không tốt, không thể từ biệt. Xin sai thần Lương bưng một đôi ngọc bích trắng, kính dâng lên đại vương túc hạ; một đôi ngọc đầu, kính biếu đại tướng quân túc hạ!” Hạng vương nói: “Bái công ở đâu rồi?” Lương đáp: “Nghe nói đại vương có ý trách tội, nên đã thoát thân một mình, về tới doanh trại rồi.” Hạng vương liền nhận ngọc bích, đặt lên chỗ ngồi. Á phụ nhận ngọc đầu, đặt xuống đất, tuốt kiếm đập vỡ, nói: “Chao ôi! Thằng ranh con không đáng bàn việc cùng. Kẻ đoạt thiên hạ của Hạng vương ắt là Bái công. Bọn ta nay mai sẽ bị hắn bắt tù thôi.” Bái công về tới doanh trại, lập tức giết Tào Vô Thương.
Qua mấy ngày, Hạng Vũ đem quân về phía tây làm có thành Hàm Dương, giết vua Tần đã hàng là Tử Anh, đốt cung thất nhà Tần, lửa cháy ba tháng không tắt; thu của báu và đàn bà đem về phía đông. Có thuyết khách khuyên Hạng vương rằng: “Vùng Quan Trung núi sông hiểm trở, chung quanh đều là nơi xung yếu, đất phì nhiêu, có thể đóng đô mà xưng bá.” Hạng vương thấy cung thất nhà Tần đều bị đốt cháy, phá hoại, lòng lại nhớ quê muốn về miền đông, bèn nói: “Được giàu sang mà không về quê cũ thì như mặc áo gấm đi đêm, ai mà biết được?” Thuyết khách nói: “Người ta bảo người Sở chỉ là con khỉ đội mũ mà thôi, quả nhiên là thế.” Hạng vương nghe vậy, liền nấu thuyết khách.
Hạng vương sai người xin lệnh của Hoài vương. Hoài vương nói: “Như đã hẹn!” Bèn tôn Hoài vương làm Nghĩa đế. Hạng vương muốn tự xưng vương, liền phong vương cho các tướng trước. Bảo rằng: “Khi thiên hạ mới nổi dậy, phải tạm thời lập hậu duệ của chư hầu để đánh Tần. Song mình khoác áo giáp, tay cầm kiếm kích khởi sự, xông pha ngoài nội ba năm, diệt Tần định thiên hạ, đều là công sức của các vị tướng lĩnh và Tịch ta vậy. Nghĩa đế không có công lao, nên ta phải chia đất mà xưng vương.” Các tướng đều nói: “Phải lắm!” Đoạn bèn phân chia thiên hạ, lập các tướng làm vương hầu. Hạng Vương, Phạm Tăng ngờ Bái công muốn chiếm thiên hạ, song đã giảng hòa, lại ngại bội ước, sợ chư hầu làm phản, bèn ngầm bàn rằng: “Vùng Ba, Thục đường hiểm trở, người nhà Tần lưu đày đều ở Thục.” Bèn nói: “Ba, Thục cũng là đất của Quan Trung vậy.” Cho nên lập Bái công làm Hán vương, cai trị vùng Ba, Thục, Hán Trung, đóng đô ở Nam Trịnh. Lại chia Quan Trung làm ba phần, phong vương cho hàng tướng của Tần để chống chọi Hán vương. Hạng vương bèn lập Chương Hàm làm Ung vương, cai trị từ Hàm Dương trở về phía tây, đóng đô ở Phế Khưu. Trưởng sử Hân trước kia làm quan coi ngục ở Lịch Dương, từng có ơn đức với Hạng Lương; đô úy Đổng Ế vốn khuyên Chương Hàm đầu hàng Sở. Vậy nên lập Tư Mã Hân làm Tắc vương, cai trị từ Hàm Dương trở về phía đông cho tới Hoàng Hà, đóng đô ở Lịch Dương. Lập Đổng Ế làm Địch vương, cai trị Thượng Quận, đóng đô ở Cao Nô. Đổi phong Ngụy vương Báo làm Tây Ngụy vương, cai trị Hà Đông, đóng đô ở Bình Dương. Hà Khưu, Thân Dương là sủng thần của Trương Nhĩ, đánh Hà Nam trước, đón quân Sở ven Hoàng Hà, nên lập Thân Dương làm Hà Nam vương, đóng đô ở Lạc Dương. Hàn vương Thành vẫn ở kinh đô cũ, đóng đô ở Dương Địch. Tướng Triệu Tư Mã Ngang định yên Hà Nội, mấy lần lập công, nên lập Ngang làm Ân vương, cai trị Hà Nội, đóng đô ở Triều Ca. Đổi phong Triệu vương Yết làm Đại vương. Tướng quốc nước Triệu là Trương Nhĩ vốn tài giỏi, lại theo vào Quan Trung, nên lập Nhĩ làm Thường Sơn vương, cai trị đất Triệu, đóng đô ở Tương Quốc. Đường Dương quân Kình Bố làm tướng Sở, thường đứng đầu các quân, nên lập Bố làm Cửu Giang vương, đóng đô ở đất Lục. Bà Quân, Ngô Nhuế dẫn dắt Bách Việt phò giúp chư hầu, lại theo vào Quan Trung, nên lập Nhuế làm Hành Sơn vương, đóng đô ở đất Chu. Trụ quốc của Nghĩa đế là Cung Ngao đem quân đánh Nam quận, lập nhiều công, nhân lập Ngao làm Lâm Giang vương, đóng đô ở Giang Lăng. Đổi phong Yên vương Hàn Quảng làm Liêu Đông vương. Tướng Yên là Tang Đồ, theo Sở cứu Triệu, nhân theo vào Quan Trung, nên lập Đồ làm Yên vương, đóng đô ở đất Kế. Đổi phong Tề vương Điền Thị làm Giao Đông vương. Tướng Tề là Điền Đô theo cùng cứu Triệu, nhân đó theo vào Quan Trung, nên lập Đô làm Tề vương, đóng đô ở Lâm Truy. Cháu của Tề vương Kiến bị Tần diệt trước kia là Điền An, khi Hạng Vũ vừa vượt Hoàng Hà cứu Triệu, Điền An đánh hạ mấy thành ở phía bắc sông Tế, đem quân đầu hàng Hạng Vũ, nên lập An làm Tế Bắc vương, đóng đô ở Bác Dương. Điền Vinh mấy lần phản Hạng Lương, lại không chịu đem quân theo Sở đánh Tần, vì vậy không phong. Thành An quân Trần Dư bỏ ấn tướng mà đi, không theo vào Quan Trung, song vốn nghe ông ta hiền tài, có công với Triệu, nghe nói ông ta ở Nam Bì, nên phong cho ba huyện xung quanh. Tướng của Phiên Quân là Mai Quyên, lập nhiều công, nên phong cho làm Thập vạn hộ hầu. Hạng vương tự lập làm Tây Sở Bá vương, cai trị chín quận, đóng đô ở Bình Thành.
Tháng Tư, năm đầu tiên nhà Hán, chư hầu bãi binh ở sông Nghĩa Hạ, ai về nước ấy. Hạng vương về nước phong, sai người khuyên Nghĩa đế dời đi, nói rằng: “Đế vương thời xưa đất vuông ngàn dặm, ắt đóng ở vùng thượng du.” Bèn sai sứ khuyên Nghĩa đế dời đến huyện Sâm ở Trường Sa. Hạng vương giục Nghĩa đế đi, quần thần của Nghĩa để dần dần phản bội, bèn ngầm lệnh cho Hành Sơn vương, Lâm Giang vương giết Nghĩa đế trên Trường Giang. Hàn vương Thành không có quân công, Hạng vương không cho về nước, bắt cùng tới Bành Thành, rồi phế làm hầu, xong lại giết đi. Tang Đồ tới nước phong, nhân đó đuổi Hàn Quảng tới Liêu Đông, Quảng không nghe, Đồ đánh giết Quảng ở Vô Chung, sáp nhập đất của Quảng.
Điền Vinh nghe nói Hạng Vũ đổi phong cho Tề vương Thị tới Giao Đông, rồi lập tướng Tề là Điền Đô làm Tề vương, bèn nổi giận, không chịu cho Tề vương đi Giao Đông, nhân đó đem nước Tề làm phản, đón đánh Điền Đô. Điền Đô bỏ chạy đến Sở. Tề vương Thị sợ Hạng Vương, bèn chạy về Giao Đông. Điền Vinh nổi giận, đuổi đánh, giết Tề vương ở Tức Mặc. Vinh nhân đó tự lập làm Tề vương, rồi về phía tây đánh giết Tế Bắc vương Điền An, thu gom đất đai Tam Tề. Vinh trao cho Bành Việt ấn tín tướng quân, lệnh cho làm phản ở đất Lương. Trần Dư ngầm sai Trương Đồng, Hạ Duyệt khuyên Tề vương Điền Vinh rằng: “Hạng Vũ là chúa tể thiên hạ, nhưng không công bằng. Nay phong vua chư hầu xưa ở hết đất xấu, phong cho quần thần và các tướng của ông ta ở đất tốt, đuổi chúa cũ là Triệu vương lên phía bắc ở đất Đại, Dư tôi cho là không được. Nghe nói đại vương dấy binh, không chấp nhận những việc bất nghĩa, mong đại vương giúp cho Dư tôi một ít quân, tôi xin đem đánh Thường Sơn, để khôi phục đất của Triệu vương, xin lấy nước tôi làm lá chắn cho ngài.” Tề vương bằng lòng, nhân phái quân đến Triệu. Trần Dư phát động tất cả quân ba huyện, cùng Tề hợp sức đánh Thường Sơn, đại phá quân địch. Trương Nhĩ chạy, theo về Hán. Trần Dư đón Triệu vương Yết ở đất Đại, quay về Triệu. Triệu vương nhân đó lập Trần Dư làm Đại vương.
Bấy giờ, quân Hán quay về bình định vùng Tam Tần. Hạng Vũ nghe nói Hán vương đã thôn tính Quan Trung, sắp đi về đông, Tề và Triệu làm phản, liền nổi giận, bèn cho huyện lệnh đất Ngô xưa là Trịnh Xương làm Hàn vương, để chống Hán. Lệnh cho bọn Tiêu Công Giác đánh Bành Việt. Bành Việt đánh bại bọn Tiêu Công Giác. Hán vương sai Trương Lương đi tuần đất Hàn, rồi gửi Hạng vương bức thư, viết rằng: “Hán vương bị mất chức phong, muốn lấy Quan Trung, nếu theo giao ước thì sẽ dừng quân ngay, không dám tiến về đông.” Lại đem thư phản của Tề, Lương gửi cho Hạng vương, viết rằng: “Tề muốn cùng Triệu hợp lại diệt Sở.” Sở vì vậy không có ý tiến quân về phía tây mà lên phía bắc đánh Tề. Chiêu tập binh lính của Cửu Giang vương Bố. Bố cáo bệnh không tới, sai tướng đem mấy nghìn người đi. Do vậy Hạng Vương oán Bố. Mùa đông, năm thứ hai nhà Hán, Hạng Vũ liền lên phía bắc tới Thành Dương, Điền Vinh cũng đem quân tới giao chiến. Điền Vinh không thắng, chạy đến Bình Nguyên, dân Bình Nguyên giết y. Hạng Vũ bèn lên phía bắc thiêu hủy, san bằng thành quách, nhà cửa nước Tề, chôn sống hết đám lính của Điền Vinh đầu hàng, trói bắt già trẻ phụ nữ. Quét sạch nước Tề tới tận Bắc Hải, tàn sát rất nhiều. Người Tề tụ tập lại làm phản. Thế rồi em của Điền Vinh là Điền Hoành thu thập lính Tề tản mác được mấy vạn người, làm phản ở Thành Dương. Hạng vương nhân vậy ở lại, liên tục giao chiến mà không hạ được.
Mùa xuân, Hán vương cầm quân của năm nước chư hầu, gồm năm mươi sáu vạn người, tiến về phía đông đánh Sở. Hạng vương nghe tin, lập tức lệnh cho các tướng đánh Tề, tự mình cầm ba vạn tinh binh về phía nam, từ Lỗ huyện ra Hồ Lăng. Tháng Tư, quân Hán đều đã vào Bành Thành, lấy của báu, gái đẹp, ngày nào cũng mở tiệc linh đình. Hạng vương bèn tiến về tây, men theo Tiêu huyện, sáng sớm đánh quân Hán rồi tiến về đông, tới Bành Thành, giữa trưa, đại phá quân Hán. Quân Hán đều chạy, theo nhau nhảy xuống sông Cốc, sông Tử. Giết hơn mười vạn quân Hán. Quân Hán chạy cả về phía nam, vào trong núi. Quân Sở lại đuổi đánh tới phía đông Linh Bích trên sông Tuy. Quân Hán rút lui, bị quân Sở dồn ép, giết rất nhiều. Hơn mười vạn quân Hán đều nhảy xuống sông Tuy, sông Tuy vì vậy không chảy được. Hán vương bị vây ba vòng. Thế rồi gió lớn từ phía tây bắc nổi lên, đổ cây thốc mái, văng cát đá, ban ngày mù mịt, thổi thẳng vào quân Sở. Quân Sở rối to, chạy tán loạn, Hán vương mới cùng mấy chục kỵ binh trốn thoát. Hán vương muốn qua đất Bái, mang theo gia quyến cùng về phía tây. Sở cũng sai người đuổi tới đất Bái, bắt cả nhà Hán vương; người nhà đều trốn hết, không gặp được Hán vương. Hán vương gặp Hiếu Huệ, Lỗ Nguyên trên đường, bèn chở theo. Kỵ binh của Sở truy đuổi Hán vương, Hán vương vội vã, đẩy Hiếu Huệ và Lỗ Nguyên xuống xe. Đằng công lại xuống đưa họ lên chở đi, cứ như vậy ba lần. Đằng công bảo rằng: “Dẫu có vội vã cũng không thể ruổi ngựa nhanh hơn được, sao lại bỏ đi?” Thế rồi mới thoát được. Bái công lại tìm Thái công và Lã hậu nhưng không gặp. Thẩm Tự Cơ theo Thái công, Lã hậu đi đường nhỏ, tìm Hán vương, song lại gặp phải quân Sở, Quân Sở bèn đưa về, bẩm báo Hạng vương. Hạng vương giữ họ ở lại trong quân.
Bấy giờ anh của Lã hậu là Chu Lã Hầu cầm quân cho Hán, đóng ở Hạ Ấp. Hán vương đi đường nhỏ tìm tới Chu Lã Hầu, dần dần thu lại sĩ tốt. Đến Huỳnh Dương, các quân bại trận đều họp lại, Tiêu Hà cũng huy động tất cả già trẻ không ở tuổi nhập ngũ ở Quan Trung đến Huỳnh Dương. Quân Hán lại lớn mạnh. Sở phát quân ở Bình Thành, luôn thừa thắng ruổi lên phía bắc, cùng Hán giao chiến ở mạn Kinh – Sách phía nam Huỳnh Dương. Hán đánh bại Sở, Sở vì vậy không thể vượt Huỳnh Dương để tiến về phía tây.
Hạng vương đến cứu Bành Thành, đuổi Hàn vương tới Huỳnh Dương. Điền Hoành cũng thu lại được nước Tề, lập con Điền Vinh là Quảng làm Tề vương. Hán vương bị thua ở Bình Thành, chư hầu đều lại theo Sở mà phản Hán. Hán đóng quân ở Huỳnh Dương, xây đường ống tới Hoàng Hà, để lấy thóc ở Ngao Thương. Năm thứ ba nhà Hán, Hạng vương mấy lần đánh, cướp đường ống của Hán, Hán vương thiếu lương, lo sợ, xin hòa, cắt đất từ Huỳnh Dương về phía tây thuộc Hán.
Hạng vương muốn nghe theo. Lịch Dương hầu Phạm Tăng nói: “Hán dễ đối phó thôi, nay bỏ không lấy, sau ắt hối hận.” Hạng vương bèn cùng Phạm Tăng gấp rút bao vây Huỳnh Dương. Hán vương lo lắng, bèn dùng kế của Trần Bình ly gián Hạng vương. Sứ giả của Hạng vương tới, bèn làm cỗ thái lao, bưng lên định dâng. Thấy sứ giả, và kinh ngạc mà nói: “Tôi tưởng là sứ giả của Á phụ, hóa ra lại là sứ giả của Hạng vương.” Đoạn mang cỗ đi, đem thức ăn chán cho sứ giả của Hạng vương ăn. Sứ giả về báo với Hạng vương, Hạng vương bèn ngờ Phạm Tăng có tư tình với Hán, dần lấy lại quyền hành của ông ta. Phạm Tăng nổi giận, nói: “Việc thiên hạ đại thể đã định rồi, quân vương hãy tự lo. Xin cho nắm xương tàn này được trở về quê.” Hạng vương bằng lòng. Phạm Tăng đi chưa tới Bành Thành, trên lưng nổi nhọt mà chết.
Tướng Hán là Kỷ Tín khuyên Hán vương rằng: “Việc đã gấp rồi, xin cho tôi vì nhà vua mà giả trang làm vua để lừa quân Sở, nhà vua có thể thừa cơ trốn thoát.” Thế rồi Hán vương ban đêm cho hai ngàn phụ nữ mặc áo giáp từ cửa đông thành Huỳnh Dương đi ra, quân Sở bốn mặt đánh vào. Kỷ Tín ngồi xe nóc vàng, cắm cờ tả đạo, nói: “Trong thành lương hết, Hán vương hàng?” Quân Sở đều hô “vạn tuế”. Hán vương cùng mấy mươi kỵ binh từ cổng tây thành đi ra, chạy tới Thành Cao. Hạng vương gặp Kỷ Tín, liền hỏi: “Hán vương ở đâu?” Tín đáp: “Hán vương đã ra khỏi thành rồi?” Hạng vương liền thiêu chết Kỷ Tín.
Hán vương sai Ngự sử đại phu Chu Hà, Thung Công, Ngụy Báo giữ Huỳnh Dương. Chu Hà và Thung Công bàn nhau: “Loại vua phản bạn, khó cùng giữ thành.” Bên cùng giết Ngụy Báo. Sở hạ thành Huỳnh Dương, bắt sống Chu Hà. Hạng vương nói với Chu Hà rằng: “Làm tướng của ta, ta sẽ cho ông làm thượng tướng quân, phong cho ba vạn hộ!” Chu Hà chửi rằng: “Ngươi không mau hàng Hán, Hán sẽ bắt ngươi, ngươi không địch được Hán đâu?” Hạng vương nổi giận, nấu Chu Hà, giết luôn Thung Công.
Hán vương ra khỏi Huỳnh Dương, chạy về phía nam tới đất Uyển, đất Diệp, tìm được Cửu Giang vương Bố, bèn chiêu tập binh lính, lại vào giữ Thành Cao. Năm thứ tư nhà Hán, Hạng vương tiến quân vây Thành Cao. Hán vương chạy trốn, một mình cùng Đẳng Công ra khỏi cửa bắc Thành Cao, vượt Hoàng Hà chạy tới Tu Vũ, theo quân của Trương Nhĩ, Hàn Tín. Các tướng dần dần ra được khỏi Thành Cao, theo Hán vương. Sở bèn hạ Thành Cao, muốn tiến về phía tây. Hán cho quân chống lại ở huyện Củng, khiển Sở không thể tiến về tây.
Lúc này, Bành Việt vượt Hoàng Hà đánh Sở ở Đông A, giết tướng quân của Sở là Tiết công. Hạng vương bèn từ phía đông đánh Bành Việt. Hán vương được quân của Hoài Âm hầu, muốn vượt Hoàng Hà đi về phía nam. Trịnh Trung khuyên Hán vương, bèn dừng quân đóng ở Hà Nội. Sai Lưu Giả đem quân giúp Bành Việt, đốt lương thực của Sở. Hạng vương phía đông đánh vỡ quân Hán, Bành Việt bỏ chạy. Hán vương thì dẫn quân vượt Hoàng Hà, lấy lại Thành Cao, đóng quân ở Quảng Vũ, lấy lương thực ở Ngao Thương. Hạng vương dẹp xong Đông Hải trở lại, tiến về tây, cùng Hán đóng quân ở Quảng Vũ, giằng co mấy tháng.
Lúc bấy giờ, Bành Việt mấy lần làm phản ở đất Lương, cắt đứt lương thực của Sở, Hạng vương lo lắng, cho làm một cái thớt cao, đặt Thái công lên trên, nói với Hán vương: “Giờ không mau hàng, ta sẽ nấu Thái công!” Hán vương nói: “Ta cùng Hạng Vũ đều ngoảnh mặt về hướng bắc nhận mệnh của Hoài vương, nói rằng kết làm huynh đệ, bố ta cũng tức bố người, người muốn nấu bố người thì chia cho ta một bát canh.” Hạng vương nổi giận, định giết Thái công. Hạng Bá nói: “Việc thiên hạ còn chưa thể biết, vả lại người tranh thiên hạ không đoái đến việc nhà, dẫu giết ông ta cũng vô ích, chỉ thêm vạ mà thôi.”
Hạng vương nghe theo.
Sở Hán giằng co lâu ngày chưa phân thắng bại, trai tráng khổ vì tòng quân, già trẻ mệt vì vận chuyển. Hạng vương bảo Hán vương rằng: “Thiên hạ náo loạn mấy năm nay, đều do hai chúng ta mà thôi. Ta muốn khiêu chiến với Hán vương, quyết một phen sống mới, chớ làm khổ dân chúng, cha con trong thiên hạ nữa.” Hán vương cười tạ tuyệt rằng: “Ta thà đấu trí, chứ không đấu sức.” Hạng vương lệnh cho tráng sĩ ra khiêu chiến. Quân Hán có người giỏi cưỡi ngựa bắn tên là Lâu Phiền, quân Sở khiêu chiến ba phen, đều bị Lâu Phiền bắn chết. Hạng vương nổi giận, bèn tự mặc giáp cầm kích khiêu chiến. Lâu Phiền định bắn, Hạng vương trừng mắt quát lớn, Lâu Phiền mắt không dám nhìn, tay không dám bắn, bèn chạy trở vào quân doanh, không dám ra nữa. Hán vương sai người ngầm hỏi, mới hay là Hạng vương. Hán vương kinh hãi. Thế rồi Hạng vương bèn lại gần Hán vương, cùng nhau nói chuyện ở khe Quảng Vũ. Hán vương trách mắng, Hạng vương nổi giận, muốn quyết chiến. Hán vương không nghe, cung thủ của Hạng vương phục sẵn bắn trúng Hán vương. Hán vương bị thương, chạy vào Thành Cao.
Hạng vương nghe tin Hoài Âm hầu đã lấy Hà Bắc, phá Tề, Triệu, lại định đánh Sở, bèn sai Long Thư tới đánh. Hoài Âm hầu giao chiến, kỵ tướng là Quán Anh xuất kích, đại phá quân Sở, giết chết Long Thư. Hàn Tín nhân đó tự lập làm Tề vương. Hạng vương nghe tin quận Long Thư vỡ trận, lo sợ, sai Võ Thiệp người Hu Thai tới khuyên Hoài Âm hầu. Hoài Âm hầu không nghe. Bấy giờ, Bành Việt lại làm phản, đánh hạ đất Lương, cắt đứt lương thực của Sở, Hạng vương bèn bảo bọn Hải Xuân hậu Đại tư mã Tào Cữu rằng: “Phải cẩn thận giữ Thành Cao, quân Hán muốn khiêu chiến, nhất định chớ giao chiến, không để chúng tiến về phía đông là được. Ta trong mười lăm ngày ắt giết được Bành Việt, dẹp đất Lương, quay lại đây với tướng quân.” Đoạn bèn tiến về phía đông, trên đường hành quân đánh Trần Lưu, Ngoại Hoàng.
Ngoại Hoàng không hạ được. Mấy ngày sau mới đầu hàng, Hạng vương nổi giận, lệnh cho tất cả con trai tuổi từ mười lăm trở lên đều phải tới phía đông thành, định chôn sống họ. Xá nhân của quan huyện lệnh Ngoại Hoàng có đứa con trai mười ba tuổi, tới khuyên Hạng vương rằng: “Bành Việt cưỡng đoạt Ngoại Hoàng, Ngoại Hoàng lo sợ, nên tạm thời đầu hàng để đợi đại vương. Đại vương tới đây lại muốn chôn sống tất cả, trăm họ làm sao có lòng quy phụ được? Từ đây về đông, mười mấy thành ở đất Lương đều sợ hãi, không ai dám hàng nữa.” Hạng vương cho lời ấy là phải, bèn tha cho những người đáng lẽ bị chôn sống ở Ngoại Hoàng. Từ phía đông tới Tuy Dương, ai nấy nghe tin đều tranh nhau đầu hàng Hạng vương.
Quả nhiên, quân Hán khiêu chiến quân Sở mấy lần, quân Sở không ra. Sai người làm nhục quân Sở suốt năm sau ngày, Đại tư mã nổi giận, đem quân vượt sông Tự. Quân lính tới giữa sông, quân Hán xuất kích, đại phá quân Sở, thu được hết của cải của Sở. Đại tư mã Cữu, Trưởng sử Ế, Tắc vương Hân đều tự cắt cổ trên sông Tự. Đại tư mã Cữu xưa là quan coi ngục ở đất Ký, Trưởng sử Hân xưa là ngục lại ở Lịch Dương, hai người từng có ơn với Hạng Lương, bởi vậy Hạng vương tín nhiệm họ. Lúc bấy giờ, Hạng vương ở Tuy Dương, nghe tin quân của Hải Xuân hầu bại trận bèn rút quân về. Quân Hán vừa vây Chung Ly Muội ở phía đông Huỳnh Dương, Hạng vương tới, quân Hán sợ Sở, chạy hết vào nơi hiểm yếu.
Bấy giờ, quân Hán đông, lương thực nhiều, quân Hạng vương mỏi mệt, lương thực cạn kiệt. Hán vương sai Lục Giả tới khuyên Hạng vương, xin lại Thái công, Hạng vương không nghe. Hán vương lại sai Hầu công khuyên Hạng vương, Hạng vương bèn giao ước với Hán, chia đôi thiên hạ, cắt đất từ Hồng Câu trở về tây thuộc Hán, từ Hồng Câu trở về đông thuộc Sở. Hạng vương bằng lòng, lập tức thả cha mẹ vợ con Hán vương về. Quân sĩ đều hô “vạn tuế”. Hán vương bên phong cho Hầu Công làm Bình Quốc quân. Ông ta lánh đi, không chịu gặp lại nữa. Hán vương nói: “Đó là biện sĩ của cả thiên hạ, ở đâu thì nghiêng nước đó, nên gọi là Bình Quốc quân.” Hạng vương giao ước xong, bèn cầm quân lui về miền Đông.
Hán vương muốn về phía tây, Trương Lương, Trần Bình khuyên: “Hán đã có quá nửa thiên hạ, chư hầu đều quy phụ Hán. Quân Sở rệu rã, lương hết. Đây là lúc trời diệt Sở vậy. Chẳng bằng nhân thời cơ này mà đánh lấy Sở. Nay bỏ đi không đánh, đó gọi là nuôi hổ tự gieo họa vậy.” Hán vương nghe theo, Năm thứ năm nhà Hán, Hán vương bèn đuổi Hạng vương tới phía nam Dương Hạ, dừng lại đóng quân, cùng Hoài Âm hầu Hàn Tín, Kiến Thành hầu Bành Việt hẹn họp quân để đánh Sở. Đến Cố Lăng mà quân của Tín, Việt chưa tới họp. Sở đánh quân Hán, đại phá Hán. Hán vương lại vào quân doanh, đào hào sâu cố thủ, bảo Trương Tử Phòng rằng: “Chư hầu không theo giao ước, phải làm sao đây?” Đáp rằng: “Quân Sở sắp vỡ. Song Tín, Việt chưa được phân đất nên chưa tới là phải. Quân vương có thể cùng chia thiên hạ với họ, họ sẽ tới ngay. Nếu không đại sự cũng chưa biết được. Quân vương có thể đem đất từ Trần trở về đông đến biển, trao hết cho Hàn Tín; từ Tuy Dương trở lên bắc đến Cốc Thành, đem cho Bành Việt, khiến họ tự chiến đấu thì Sở dễ bại thôi vậy.” Hán vương nói: “Phải” Thế rồi bèn phái sứ giả nói với Hàn Tín, Bành Việt rằng: “Hãy hợp sức đánh Sở. Nếu phá được Sở thì từ đất Trần về động đến biển sẽ cho Tề vương; từ Tuy Dương trở lên bắc tới Cốc Thành sẽ cho Bành tướng quốc.” Sứ giả đến, Hàn Tín, Bành Việt đều bảo rằng: “Xin tiến quân ngay.” Hàn Tín bèn từ đất Tề xuất phát, quân của Lưu Giả theo đường Thọ Xuân cùng tiến, làm cỏ Thành Phủ, đến Cai Hạ. Đại tư mã Chu Ân phản Sở, đem quân huyện Thư làm cỏ ấp Lục, cất quân Cửu Giang, theo Lưu Giả, Bành Việt họp ở Cai Hạ, đến thẳng chỗ Hạng vương.
Quân Hạng vương dựng lũy ở Cai Hạ, binh ít, lương hết, quân Hán và quân chư hầu vây đến mấy vòng. Ban đêm nghe quân Hán bốn bề đều hát bài ca Sở, Hạng vương kinh ngạc nói: “Quân Hán đã lấy được Sở rồi ư? Sao người Sở lại nhiều vậy?” Hạng vương ban đêm trở dậy, uống rượu trong trường. Có mỹ nhân tên Ngu, thường theo; có tuấn mã tên Chuy, thường cưỡi. Thế rồi Hạng vương bèn khảng khái hát khúc bi ca, tự làm thơ rằng: “Sức nhổ núi chừ khí trùm đời, thời chẳng lợi chừ Chuy chẳng rời. Chuy chẳng rời chứ biết làm sao? Ngu Cơ nàng ơi phải thế nào?”
Hát mấy lượt, mỹ nhân xướng họa. Hạng vương khóc, lệ rơi mấy hàng, tả hữu đều khóc, không ai ngẩng nổi mặt nhìn.

Ngu Cơ (tranh đời Thanh)
Thế rồi Hạng vương bèn lên ngựa, dưới cờ tráng sĩ cưỡi ngựa đi theo hơn tám trăm người, đương đêm phá vỡ vòng vây thoát ra phía nam, phi ngựa chạy. Rạng sáng, quân Hán mới biết, lệnh cho kỵ tướng Quán Anh đem năm nghìn kỵ binh đuổi theo. Hạng vương vượt sông Hoài, kỵ binh theo kịp chỉ còn hơn trăm người. Hạng vương tới Âm Lăng thì lạc đường, hỏi một lão nông, lão nông nói dối, bảo “đi về bên trái”. Bèn rẽ sang trái, bị sa vào đầm lầy. Bởi vậy quân Hán mới đuổi kịp. Hạng vương lại dẫn quân đi về phía đông, tới Đông Thành, chỉ còn hai mươi tám kỵ binh. Kỵ binh Hán đuổi theo đến mấy ngàn người. Hạng vương tự lường không thoát được, nói với kỵ binh: “Ta dấy binh đến nay đã tám năm, trải hơn bảy mươi trận, kẻ chống đối đều bại, kẻ bị đánh đều phục, chưa từng thua chạy bao giờ, nên mới xưng bá thiên hạ. Song hôm nay rốt cuộc bị vây khốn ở đây, ấy là trời diệt ta, không phải lỗi chiến đấu của ta vậy. Hôm nay chắc quyết tử, ta mong đánh hả hê vì các ngươi, phải thắng ba lần, giải vây, chém tướng, chặt cờ cho các ngươi, khiến các ngươi biết rằng đây là trời diệt ta, chứ không phải lỗi chiến đấu của ta!” Đoạn bèn chia kỵ binh làm bốn đội, theo bốn hướng. Quân Hán vây đến mấy vòng. Hạng vương bảo với kỵ binh: “Ta sẽ giết một tên tướng của chúng cho các ngươi?” Đoạn lệnh cho kỵ binh từ bốn phía phi xuống, hẹn ở ba nơi phía đông núi. Thế rồi Hạng vương thét lớn, phi ngựa xuống, quân Hán đều tan tác, Hạng vương bèn chém một tướng của Hán. Lúc ấy, Xích Tuyền hầu là kỵ tướng, đuổi Hạng vương, Hạng vương trợn mắt quát, Xích Tuyền hầu người ngựa đều kinh hãi, lui xa mấy dặm. Hạng vương cùng các kỵ binh họp lại ở ba nơi. Quân Hán không biết Hạng vượng ở đâu, bèn chia quân làm ba, tiếp tục bao vây. Hạng vương bèn phi ngựa, lại chém một đô úy của Hán, giết mấy trăm người, rồi họp các kỵ binh, chỉ mất hai kỵ binh mà thôi. Bèn nói với các kỵ binh rằng: “Thế nào?” Kỵ binh đều thủ phục xuống nói: “Đúng như đại vương nói.”
Bấy giờ Hạng vương liền muốn sang phía đông, vượt Ô Giang. Đình trưởng Ô Giang ghe thuyền đợi, bảo Hạng vương: “Giang Đông tuy nhỏ, đất vuông ngàn dặm, dân chúng chục vạn người, cũng đủ xưng vương vậy. Mong đại vương mau vượt sông. Giờ riêng tôi có thuyền, quân Hán đến, không có cách gì vượt được.” Hạng vương cười rằng: “Trời diệt tôi, tôi vượt sông làm gì! Vả lại Tịch tôi cùng tám ngàn con em Giang Đông vượt Trường Giang tiến về phía tây, nay không một ai trở về, dẫu phụ huynh Giang Đông thương xót mà cho tôi làm vương, tôi cũng đâu có mặt mũi nào gặp họ? Dẫu họ không nói, Tịch tôi há chẳng thẹn trong lòng sao?” Đoạn nói với định trưởng rằng: “Tôi biết ông là bậc trưởng giả. Tôi cưỡi con ngựa này đã năm năm, xưa nay vô địch, từng đi một ngày ngàn dặm, tôi không nỡ giết nó, xin tặng ông?” Đoạn lệnh cho kỵ binh cùng xuống ngựa đi bộ, cầm vũ khí ngắn giao chiến. Riêng Tịch giết được hơn trăm quân Hán. Hạng vương trên mình cũng bị mười mấy vết thương, ngoảnh lại thấy Kỵ tư mã nhà Hán là Lã Mã Đồng, liền nói: “Ngươi chẳng phải cố nhân của ta sao?” Mã Đồng quay mặt nhìn, chỉ Vương Ế nói: “Đây là Hạng vương đấy!” Hạng vương liền nói: “Ta nghe nói Hán vương mua đầu ta ngàn vàng, phong ấp vạn hộ, ta ban ơn cho ngươi!” Đoạn bèn cắt cổ mà chết. Vương Ế lấy đầu Hạng vương, các kỵ binh khác giày xéo tranh cướp thi thể Hạng vương, mấy chục người giết nhau. Cuối cùng, Lang trung kỵ Dương Hỷ, Kỵ tư mã Lã Mã Đồng, Lang trung Lã Thắng, Dương Võ mỗi người lấy được một phần cơ thể. Năm người cùng chắp lại thì đủ. Vậy nên đất phong được phân làm năm: phong Lã Mã Đồng làm Trung Thủy hầu, phong Vương Ế làm Đỗ Diễn hầu, phong Dương Hỷ làm Xích Tuyền hầu, phong Dương Vũ làm Ngô Phòng hầu, phong Lã Thắng làm Niết Dương hầu.
Hạng vương đã chết, đất Sở đều hàng Hán, riêng Lỗ không hàng. Hán bèn đem quân thiên hạ định diệt sạch người Lỗ, song vì họ giữ lễ nghĩa, chết vì chúa để thủ tiết, Hán vương bèn mang đầu Hạng vương cho người Lỗ xem, phụ huynh đất Lỗ mới hàng. Ban đầu, Sở Hoài vương phong Hạng Tịch làm Lỗ Công, đến khi chết, Lỗ là đất cuối cùng đầu hàng, cho nên dùng lễ Lỗ Công táng Hạng vương ở Cốc Thành. Hán vương phát tang, khóc lóc rồi đi.
Các chi họ Hạng, Hán vương đều không giết, còn phong cho Hạng Bá làm Xạ Dương hầu. Đào hầu, Bình Cao hầu, Huyền Vũ hầu đều mang họ Hạng, sau ban họ Lưu.
Thái sư công bàn tằng: Ta nghe Chu sinh nói “mắt vua Thuấn có hai con ngươi lại nghe nói Hạng Vũ cũng có hai con ngươi. Lẽ nào Vũ là dòng dõi vua Thuấn chăng? Sao nổi lên mau chóng vậy! Nhà Tần làm mất chính sự, Trần Thiệp làm phản đầu tiên, sau đó hào kiệt nổi lên như ong, cùng nhau tranh giành, nhiều không kể xiết. Song, Vũ không có mảy may quyền bính, thừa thế nổi dậy từ nơi hoang dã, ba năm sau, liền dẫn dắt năm nước chư hầu tiêu diệt nhà Tần, phân chia thiên hạ, phong vương hầu, chính lệnh từ Vũ ban ra, xưng là Bá vương. Tuy ngôi vị không trọn vẹn, nhưng từ thời cận cổ đến nay chưa từng có vậy. Kịp khi Vũ bỏ Quan Trung nhớ đất Sở, xua đuổi Nghĩa đế mà tự lập, oán hận vương hầu phản mình, thì đã khó rồi. Tự phụ chiến công, khoe khoang trí khôn của riêng mình mà không biết noi theo cổ nhân, cho rằng cơ nghiệp bá vương là dùng vũ lực đánh dẹp thiên hạ. Sau năm năm, rốt cuộc mất nước, thân chết ở Đông Thành mà vẫn không tỉnh ngộ, không biết tự trách mình, quả là tội lỗi! Còn viện vào câu “trời diệt ta, chứ không phải lỗi chiến đấu của ta” há chẳng sai lầm ru!