Sử Ký I. Bản Kỷ

Lượt đọc: 140 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 5 TẦN BẢN KỶ

❊ ❊ ❊

Tổ tiên nhà Tần là Nữ Tu, hậu duệ của Để Chuyên Húc. Chim én rớt trứng, Nữ Tu nuốt vào, sinh con là Đại Nghiệp. Đại Nghiệp lấy con của Thiếu Điển, tên là Nữ Hoa. Nữ Hoa sinh Đại Phí, cùng Vũ dẹp nước lũ. Việc thành, Đế Thuấn ban cho ngọc khuê màu đen, Vũ nhận, nói: “Không phải một mình tôi có thể làm được, còn có Đại Phí trợ giúp vậy? Đế Thuấn nói: “Này Phí ngươi, giúp Vũ nên công, ban cho người dải cờ đen. Con cháu ngươi sẽ phồn thịnh.” Đoạn gả người con gái đẹp họ Diêu cho. Đại Phí bái nhận, giúp Thuấn huấn luyện chim muông. Chim muông phần nhiều thuần phục. Đây chính là Bá Ế, Đế Thuấn ban cho họ Doanh.

Đại Phí sinh được hai người con trai, một là Đại Liêm, tổ tiên của họ Điểu Tục, hai là Nhược Mộc, tổ tiên của họ Phí. Cháu năm đời (của Nhược Mộc) là Phi Xương, con cháu có kẻ ở vùng Trung Nguyên, có kẻ ở vùng di địch. Vào thời Hạ Kiệt, Phí Xương bỏ nhà Hạ quy thuận nhà Thương, đánh xe cho Thành Thang, đánh bại vua Kiệt ở Minh Điều. Cháu năm đời của Đại Liêm là Mạnh Hý, Trọng Diễn, tiếng người mình chim. Đế Thái Mậu nghe thấy muốn sai đánh xe, liền xem bói, quẻ lành, bèn sai đánh xe và gả vợ cho. Từ thời Thái Mậu về sau, hậu duệ của Trọng Diễn đời đời có công, phò tá nước Ân. Vậy nên họ Doanh có nhiều người vinh hiển, sau làm chư hầu.

Cháu năm đời (của Trọng Diễn) là Trọng Quyết, ở vùng Tây Nhung, giữ biên giới phía tây, sinh Phỉ Liêm. Phỉ Liêm sinh Ác Lai. Ác Lai cả sức, Phỉ Liêm giỏi chạy, hai cha con đều đem tài sức thờ vua Ân Trụ. Chu Võ vương thảo phạt Trụ, bèn giết Ác Lai. Bấy giờ Phỉ Liêm đi ra phương Bắc để làm chiếc quách đá cho Trụ, trở về thì (Trụ chết) không bẩm báo được, liền lập đàn núi Hoắc Thái để bẩm báo, nhân được quan tài đá, có dòng minh văn viết rằng “Thiên đế khiến Xử Phụ1 không chết theo loạn của nhà Ân, ban cho người quan tài đá để làm vinh hiển dòng tộc”. Phỉ Liêm chết, liền táng ở núi Hoắc Thái. Phỉ Liêm còn có con trai là Quý Thắng. Quý Thắng sinh Mạnh Tăng. Mạnh Tăng được Chu Thành vương yêu sủng, đây là Trạch Cao Lang. Cao Lang sinh Hành Phủ. Hành Phủ sinh Tạo Phủ. Tạo Phủ vì giỏi đánh xe được Chu Mục vương yêu sủng. Chu Mục vương có được bốn thớt ngựa là Kỷ, Ôn Ly, Hoa Lưu, Lục Nhĩ, (đánh xe) đi tuần thú miền Tây, vui quên cả về. Từ khi Yển vương làm loạn, Tạo Phủ đánh xe cho Mục vương, ruổi dài về Chu, một ngày ngàn dặm để cứu loạn. Mục vương đem đất Triệu Thành phong cho Tạo Phủ. Dòng tộc Tạo Phủ từ đó mang họ Triệu. Từ Phỉ Liêm đến Quý Thắng trở xuống tới Tạo Phủ là năm đời, thì riêng tại đất Triệu. Triệu Suy là hậu duệ của Tạo Phủ vậy. Ách Lai Cách là con của Phỉ Liêm, chết sớm, có con là Nữ Phòng. Nữ Phòng sinh Bàng Cao. Bàng Cao sinh Thái Kỷ. Thái Kỷ sinh Đại Lạc. Đại Lạc sinh Phi Tử. Bởi Tạo Phủ được yêu sủng, nên cả họ đều ở Triệu Thành, mang họ Triệu.

Phi Tử sống ở Khuyển Khưu, thích ngựa và súc vật, lại giỏi chăn nuôi. Người Khuyển Khưu kể với Chu Hiếu vương. Hiếu vương vời tới, sai chăn ngựa ở vùng sông Khiên, sông Vị, ngựa sinh sôi mạnh. Hiếu vương muốn cho làm dòng trưởng kế thừa Đại Lạc. Con gái của Thân hầu làm vợ của Đại Lạc, sinh con tên Thành, là dòng trưởng. Thân hầu bèn nói với Hiếu vương rằng: “Xưa tổ tiên tôi lấy gái họ Ly Sơn, gả con cho Tế Hiên đất Nhung, sinh ra Trọng Duật, vì là thân thích nên quy phụ Chu, giữ biên giới phía tây. Biên giới phía tây vì vậy được an bình. Nay tôi lại gả con cho Đại Lạc, sinh con trưởng tên Thành. Thân – Lạc trùng hôn, Tây Nhung đều phục, nên ngài mới được làm vương. Vương cứ tính kỹ”. Thế rồi Hiếu vương nói: “Xưa Bá Ế coi việc chăn nuôi cho Thuấn, súc vật sinh sôi, vậy nên phong đất, ban cho họ Doanh. Nay hậu duệ ông cũng chăn ngựa cho trẫm. Trẫm cũng phân đất cho được nội phụ.” Đoạn Chu vương cho lập ấp ở đất Tần, cho nối lại việc thờ cúng họ Doanh, gọi là Tần Doanh; cũng không phế con trưởng của Đại Lạc do Con gái Thân hầu sinh ra, để hòa thuận với Tây Nhung.

Tần Doanh sinh Tần Hầu, Tần Hầu ở ngôi mười năm thì mất. Tần Hầu sinh Công Bá. Công Bá ở ngôi ba năm thì mất. Công Bá sinh Tần Trọng.

Tần Trọng ở ngôi ba năm, Chu Lệ vương vô đạo, chư hầu có người phản bội. Rợ Tây Nhung phản lại vương thất, diệt các tộc Khuyển Khưu, Đại Lạc. Chu Tuyên vương lên ngôi, bèn lấy Tần Trọng làm đại phu, thảo phạt Tây Nhung. Tây Nhung giết Tần Trọng. Tần Trọng giữ chức hai mươi ba năm, mất ở đất Nhung. Tần Trọng có năm người con, con trưởng là Trang Công. Chu Tuyên vương bèn vời năm anh em Trang công tới, cho bảy nghìn quân, sai đánh Tây Nhung, phá vỡ chúng. Thế rồi Chu vương lại ban thưởng cho hậu duệ của Tần Trọng, gồm cả vùng đất Đại Lạc, Khuyển Khu của tổ tiên họ trước kia đều thuộc sở hữu của họ và cho làm đại phu ở biên giới phía tây.

Trang công ở đất Khuyển Khưu phía tây trước kia, sinh được ba người con. Con trai trưởng là Thế Phủ. Thế Phủ nói: “Rợ Nhung giết ông nội Trọng của ta. Ta không giết vua Nhung thì không dám vào ấp.” Đoạn bèn đánh rợ Nhung, nhường ngôi cho em là Tượng công. Tương công làm thái tử. Trang công ở ngôi bốn mươi bốn năm thì chết. Thái tử Tương công lên thay. Tương Công năm đầu, gả em gái Mậu Doanh làm vợ Phong vương. Tương Công năm thứ hai, vợ Nhung vây Khuyển Khưu, Thế Phủ đánh trả, bị người Nhung bắt. Hơn một năm, lại trả Thế Phủ về. Mùa xuân năm thứ bảy, Chu U vương yêu Bao Tự, phế thái tử, lập con của Bao Tự làm dòng trưởng, mấy lần lừa chư hầu. Chư hầu làm phản. Rợ Khuyển Nhung ở đất Tây Nhung và Thân hầu đánh Chu, giết U vương ở chân núi Ly Sơn. Tần Tương Công đem quân cứu Chu, đánh rất hăng, có công. Nhà Chu tránh nạn Khuyển Nhung, dời về đông tới Lạc Ấp. Tương công đem quân hộ tống Chu Bình vương. Bình vượng phong Tượng công làm chư hầu, ban cho phần đất từ Kỳ Sơn trở về tây, nói rằng: “Rợ Nhung vô đạo, xâm đoạt đất Kỳ, Phong của ta. Tần có thể đánh đuổi Nhung, tức là Tần được đất ấy.” Đoạn cùng thề ước, phong tước cho Tương công. Tương công bấy giờ mới lập nước, cùng các chư hầu thông sứ, dùng lễ thăm hỏi, tiếp đãi lẫn nhau. Tương công dùng ngựa Lưu câu, bò, dê, mỗi loại ba con, tế thượng đế ở đất Tây Trù. Năm thứ mười hai, đánh rợ Nhung, đến tận núi Kỳ sơn. Tương công mất. Sinh Văn công.

Văn Công năm đầu, ở cung Tây Thủy. Năm thứ ba, Văn công đem bảy trăm quân đi săn ở phía đông. Năm thứ tư, đến vùng sông Khiên, sông Vị, ông nói: “Xưa nhà Chu cho tổ tiên ta là Tần Doanh được lập ấp ở đây, sau rốt được làm chư hầu”. Đoạn bói nơi ở. Quẻ bói lành, liền xây dựng đô ấp. Năm thứ mười, bắt đầu xây dựng Phu Chỉ (đàn tế ở huyện Phu), dùng cỗ Tam lao2 (để tế trời đất). Năm thứ mười ba, bắt đầu đặt sử quan để ghi lại mọi việc. Dân phần lớn được giáo hóa. Năm thứ mười sáu, Văn công đem quân đánh rợ Nhung, rợ Nhung thua chạy. Thế rồi Văn Công liền thu thập di dân của nhà Chu để sở hữu. Đất đai trải đến Kỳ sơn. Vùng đất từ Kỳ sơn trở về phía đông hiến cho nhà Chu. Năm thứ mười chín, có được đá quý ở đất Trần Thương. Năm thứ hai mươi, luật pháp bắt đầu có tội giết ba họ. Năm thứ hai mươi bảy, chặt cây tử lớn ở Nam Sơn, có con trâu đực lớn (từ trong cây) chạy xuống sông Phong. Năm thứ bốn mươi tám, thái tử của Văn công chết, được ban tên thụy là Tĩnh công. Con trưởng của Tĩnh công được lập làm thái tử, là cháu nội của Văn công vậy. Năm thứ năm mươi, Văn công mất, táng ở Tây Sơn. Con của Tĩnh công lên ngôi. Đây là Ninh công.

Ninh Công năm thứ hai, ông chuyển tới ở đất Bình Dương, đem quân đánh Đãng Xã3. Năm thứ ba, giao chiến với nước Bạc. Bạc vương chạy vào đất Nhung, (Ninh công) liền diệt Đãng Xã. Năm thứ tư, Công tử Huy nước Lỗ giết vua Ẩn công. Năm thứ mười hai, đánh họ Đãng, chiếm nước. Ninh công mười tuổi lên ngôi, ở ngôi mười hai năm thì mất, táng ở Tây Sơn. Ông sinh được ba người con. Con trai cả là Võ công làm thái tử. Em Võ công là Đức công, cùng một mẹ. Bà Lỗ Cơ Tử sinh ra Xuất Tử. Ninh công mất, Đại thứ trưởng là Phát Kỵ, Uy Luy, Tam Phụ phế thái tử mà lập Xuất Tử làm vua. Xuất Tử năm thứ sáu, bọn Tam Phụ lại cùng sai người giết Xuất Tử. Xuất Tử năm tuổi thì lên ngôi, ở ngôi sáu năm thì mất. Bọn Tam Phụ bèn lập thái tử cũ là Võ công lên ngôi.

Võ Công năm đầu, đánh họ Bành Hý, đến chân núi Hoa Sơn, ở Phong Cung tại Bình Dương. Năm thứ ba, giết bọn Tam Phụ và tru di tam tộc, bởi chúng giết Xuất Tử vậy. Cao Cư Mị nước Trịnh giết vua là Chiêu Công. Năm thứ mười, đánh rợ Nhung ở đất Khuê, đất Ký, bắt đầu đặt (hai đất đó) thành huyện. Năm thứ mười một, bắt đầu đặt đất Xã, đất Trịnh thành huyện; diệt nước Tiểu Quắc.

Năm thứ mười ba, bọn Quản Chí Phụ, Liên Xưng nước Tề giết vua là Tương công mà lập Công Tôn Vô Tri lên ngôi. Nước Tấn diệt nước Hoắc, nước Nguy, nước Cảnh. Ung Lẫm nước Tề giết Vô Tri và bọn Quản Chí Phụ, đưa Tề Hoàn công lên ngôi. Tề, Tấn trở thành cường quốc.

Năm thứ mười chín, Khúc Ốc nước Tấn được làm Tấn hầu. Tề Hoàn công xưng bá ở đất Quyên.

Năm thứ hai mươi, Võ Công mất, táng ở Bình Dương đất Ung. Lần đầu cho người chết theo, người chết theo có sáu mươi sáu người. Võ công có một người con trai, tên là Bạch. Bạch không ở ngôi, được phong ở Bình Dương. Em Võ Công là Đức Công lên ngôi.

Đức công năm đầu, bắt đầu đến ở cùng Đại Trịnh, Ung thành. Dùng cỗ Tam lao ba trăm con muông, cúng tế ở Phu Chỉ. Bói việc ở đất Ung, quẻ nói rằng con cháu đời sau sẽ phát triển, đến Hoàng Hà cho ngựa uống nước. Lương Bá, Nhuế Bá đến chầu. Năm thứ hai, ngày sơ phục4, giết chó ngừa độc. Đức công ba mươi ba tuổi thì lên ngôi, ở ngôi hai năm thì mất. Sinh được ba người con, con trưởng là Tuyên công, con giữa là Thành công, Con út là Mục Công. Con trưởng Tuyên công lên ngôi.

Tần Mục công [không rõ nguồn]

Tuyên công năm đầu, nước Vệ, nước Yên đánh nhà Chu, buộc Huệ vương chạy ra ngoài, lập vương tử Đồi lên ngôi. Năm thứ ba, Trịnh Bá, Quắc Thúc giết Tử Đồi, đón Huệ vương. Năm thứ tư, xây dựng Mật Chỉ. Giao chiến với Tấn ở Hà Dương, đánh thắng. Năm thứ mười hai, Tuyên Công mất. Tuyên Công sinh được chín người con, không ai có thể kế vị, bèn lập em là Thành công lên ngôi.

Thành công năm đầu, Lương Bá, Nhuế Bá đến chầu. Tề Hoàn công đánh Sơn Nhung, đóng quân ở Cô Trúc.

Thành công ở ngôi bốn năm thì mất. Sinh được bảy người con, không ai được lập. Em là Mục Công lên ngôi.

Mục Công Nhậm Hảo năm đầu, tự xuất quân đánh Mao Tân, đánh thắng. Năm thứ tư, lấy vợ ở Tấn, vợ là chị của thái tử Thân Sinh nước Tấn vậy. Năm ấy, Tề Hoàn công đánh Sở, đến Thiệu Lăng.

Năm thứ năm, Tấn Hiến công diệt Ngu, Quắc, bắt vua Ngu và đại phu Bách Lý Hề, vì dùng ngọc bích và ngựa hối lộ nước Ngu nên mới được vậy. Sau khi Bách Lý Hề bị bắt, bị đem làm nô lệ hồi môn theo phu nhân Tần Mục công tới nước Tần. Bách Lý Hề chạy trốn khỏi Tần tới đất Uyển, bị người ở biên giới nước Sở giữ lại. Mục công nghe nói Bách Lý Hề là người giỏi, muốn dùng nhiều tiền để chuộc, nhưng e người sở không cho, bèn sai người tới nói với người Sở rằng: “Tên nô lệ hồi môn của tôi là Bách Lý Hề ở đây. Xin dùng năm tấm da dê đen chuộc lại” Người Sở liền bằng lòng trao trả. Lúc bấy giờ, Bách Lý Hề đã hơn bảy mươi tuổi. Mục Công thả ông ta ra khỏi tù, cùng bàn việc nước. Bách Lý Hề cảm tạ nói: “Thần là bề tôi mất nước, đâu đáng hỏi.” Mục công nói: “Vua Ngu không trọng dụng người nên mất nước. Đó không phải tội ngươi”. Đoạn cố gắng hỏi, trò chuyện suốt ba ngày, Mục công cả mừng, trao chính sự quốc gia cho ông ta, gọi là Ngũ Cổ đại phu. Bách Lý Hề khiêm nhường nói: “Thần không bằng bạn thân là Kiển Thúc. Kiển Thúc giỏi mà người đời không ai biết. Thần từng chịu cảnh khốn khó ở Tề, phải ăn xin người đất Chất. Kiển Thúc thu nhận thần. Thần nhân đó muốn phụng sự vua Vô Tri nước Tề. Kiển Thúc ngăn thần, thần mới thoát nạn ở Tề, đến đất Chu. Vương tử Đồi nhà Chu thích trâu, thần dùng thuật nuôi trâu cầu kiến. Kịp khi Đồi muốn dùng thần, Kiển Thúc lại ngăn thần. Thần bỏ đi mới không bị giết. Thần phụng sự vua Ngu, Kiển Thúc lại ngăn thần. Thần biết vua Ngu không trọng dụng thần. Thần thực vì tư lợi tước lộc mà tạm lưu lại. Thần hai lần nghe lời Kiến Thức thi được thoát, một lần không nghe thì gặp cái nạn của vua Ngu. Bởi vậy biết được sự tài giỏi của Kiển Thúc.” Thế rồi Mục Công sai người mang lễ vật hậu hĩnh đến đón Kiển Thúc, cho làm Thượng đại phu.

Mùa thu, Mục công tự đem quân đánh Tấn, giao chiến ở Hà Khúc. Ly Cơ nước Tấn làm loạn, thái tử Thân Sinh chết ở Tân thành. Trùng Nhĩ, Di Ngô chạy khỏi nước.

Năm thứ chín, Tề Hoàn công họp chư hầu ở Quỳ Khưu.

Tấn Hiến công chết, lập con của Ly Cơ là Hề Tề lên ngôi, bề tôi nước ấy là Lý Khắc giết Hề Tề. Tuân Tức lập Trác Tử lên ngôi. Lý Khắc lại giết Trác Tử và Tuân Tức. Di Ngô sai người xin với Tần giúp cho về Tấn. Thế rồi Mục công bằng lòng, sai Bách Lý Hề đem quân hộ tống Di Ngô. Di Ngô nói: “Nếu được lên ngôi thật, xin cắt tán thành ở Hà Tây của Tân cho Tần”. Đến khi về, lên ngôi, sai Phi Trịnh cảm ơn Tần, nhưng bội ước không trao thành Hà Tây, còn giết Lý Khắc. Phi Trịnh nghe tin, lo sợ, nhân bàn với Mục Công rằng: “Người Tấn không muốn Di Ngô (làm vua), mà thực muốn Trùng Nhĩ. Nay (Di Ngô) bội ước với Tần, còn giết Lý Khắc, ấy đều là kế của Lã Sanh, Khước Nhuế vậy. Mong ngài dùng lợi để gấp triệu Lũ, Khước. Lã, Khước tới thì việc đưa Trùng Nhĩ về sẽ dễ dàng”. Mục công bằng lòng, sai người đưa Phi Trịnh về, triệu bọn Lã, Khích. Bọn Lã, Khích ngờ Phi Trịnh có trò gian, bèn bảo Di Ngô giết Phi Trịnh. Con Phi Trịnh là Phi Báo chạy đến Tần, thuyết phục Mục công: “Vua Tấn vô đạo, bá quan bất hòa, có thể đánh được vậy?” Mục Công nói: “Nếu bá quan không ủng hộ, cớ gì lại có thể giết được bậc đại thần? Có thể giết được đại thần, chứng tỏ (vua Tấn) dàn hòa được bá quan vậy”. (Mục công) không nghe nhưng lại ngầm trọng dụng Phi Báo,

Năm thứ mười hai, Quản Trọng và Thấp Bằng nước Tề chết.

Nước Tấn hạn hán, đến xin thóc. Phi Báo thuyết phục Mục công không cho, phải nhân nạn đói mà đánh Tấn. Mục Công hỏi Công Tôn Chi, Chi nói: “Đói kém, được mùa là những việc thay nhau diễn ra. Không thể không cho”; hỏi Bách Lý Hề, Hề nói: “Di Ngô đắc tội với ngài chứ trăm họ thì tội tình gì?”. Thế rồi (Mục công) nghe lời Bách Lý Hề, Công Tôn Chi, cuối cùng cho thóc, dùng thuyền chở xe đưa, từ đất Ung thẳng tới đất Giáng.

Năm thứ mười bốn, Tần có nạn đói, xin thóc từ Tấn. Vua Tấn bàn với quần thần. Quắc Xạ nói: “Nhân nạn đói mà đánh Tân, có thể lập đại công.” Vua Tấn nghe theo. Năm thứ mười lăm, (Tấn) dấy quân đánh Tần. Mục công phát quân, sai Phi Báo làm tướng, đích thân tới đánh. Ngày Nhâm Tuất tháng Chín, cùng Tấn Huệ công Di Ngô giao chiến ở đất Hàn. Vua Tấn bỏ quân đội, cho quân Tần tranh cướp tài vật, nhưng ngựa bị sa lầy, cứ vòng quanh không thoát ra được. Mục Công cùng bộ hạ đuổi theo, nhưng không bắt được vua Tấn, trái lại bị quân Tấn bao vây. Quân Tấn đánh Mục Công, Mục Công bị thương. Lúc đó ba trăm người từng ăn thịt ngựa tốt dưới núi Kỳ Sơn ruổi ngựa xông vào quân Tấn. Quân Tấn bỏ vây, nên khiến Mục công thoát hiểm, lại còn bắt sống vua Tấn. Ban đầu, Mục công để mất con ngựa tốt, hơn ba trăm thổ dân dưới núi Kỳ sơn cùng bắt được, giết ăn. Quan quân đuổi bắt, định xử theo luật. Mục Công nói: “Người quân tử không vì súc vật mà hại người. Ta nghe nói ăn thịt ngựa tốt mà không uống rượu, sẽ tổn thương người”. Đoạn ban rượu mà tha cho, Ba trăm người nghe tin Tần đánh Tấn, đều xin theo. Họ đi theo, thấy Mục công bị vây khốn, ai nấy đều xung phong cảm tử, để đền ơn tha tội ăn thịt ngựa vậy. Thế rồi Mục công bắt vua Tấn đem về, lệnh cho cả nước rằng: “Hãy trai giới, ta sẽ đem vua Tấn tế thượng đế.” Thiên tử nhà Chu nghe tin, nói: “Vua Tấn cùng họ với ta”, đoạn xin cho vua Tấn. Chị của Di Ngô là phu nhân của Mục công. Phu nhân hay tin, mặc áo tang, thắt dây gai, đi chân đất tới nói: “Thiếp không cứu được anh em mình, làm phiền nhà vua phải ban mệnh lệnh.” Mục Công nói: “Ta bắt được vua Tấn để lập đại công, nay thiên tử xin tha, phu nhân lại rầu rĩ thế này?” Đoạn cùng vua Tấn thề ước, cho trở về, đổi sang ở khách quan thượng hạng, cho dùng cỗ Thất lao5. Tháng Mười một, đưa vua Tấn Di Ngô về nước. Di Ngô dâng đất Hà Tây, sai thái tử Ngữ làm con tin ở Tần. Tần gả người con gái cùng họ cho Ngữ. Bấy giờ phía đông của đất Tần đến tận Hoàng Hà.

Năm thứ mười tám, Tề Hoàn công mất. Năm thứ hai mươi, Tần diệt Lương, Nhuế.

Năm thứ hai mươi hai, Công Tử Ngữ nước Tấn nghe tin vua Tấn ốm, bèn nói: “Lương là quê mẹ ta, nay Tần diệt rồi. Ta đông anh em, sau khi vua trăm tuổi, Tần ắt giữ ta lại. Tấn xem thường ta, cũng đổi lập người khác lên ngôi.” Tử Ngữ bèn chạy về Tấn. Năm thứ hai mươi ba, Tấn Huệ công mất. Tử Ngữ được lập làm vua. Tần giận việc Ngữ chạy về nước, bèn đón công tử Trùng Nhĩ nước Tấn từ nước Sở tới, lại gả vợ cũ của Tử Ngữ cho. Trùng Nhĩ ban đầu từ tạ, sau bèn nhận. Mục Công càng tăng hậu lễ đãi ngộ. Mùa xuân năm thứ hai mươi tư, Tần sai người nói với đại thần nước Tấn, muốn đưa Trùng Nhĩ về nước. Tấn bằng lòng, thế rồi sai người hộ tống Trùng Nhĩ. Tháng Hai, Trùng Nhĩ lên làm vua Tấn. Đây là Văn công. Văn công sai người giết Tử Ngữ. Tử Ngữ là Hoài công.

Mùa thu năm ấy, em của Chu Tương vương là Đái dẫn quân Địch đánh vương, vương chạy tới ở nước Trịnh. Năm thứ hai mươi lăm, Chu vương sai người báo nạn với Tần, Tấn. Tần Mục công đem quân giúp Tấn Văn công đưa Tương vương trở về, giết Đái, em vua. Năm thứ hai mươi tám, Tấn Văn công đánh bại Sở Thành Bộc. Năm thứ ba mươi, Mục công giúp Tấn Văn công vây Trịnh. Trịnh sai người nói với Mục Công rằng: “Giúp Tấn diệt Trịnh, với Tấn thì được rồi, nhưng với Tần thì chưa có lợi. Tấn lớn mạnh là nỗi lo của Tần vậy?”. Mục công bèn bãi binh trở về. Tấn cũng bãi binh. Năm thứ ba mươi hai, Tấn Văn công mất.

Người Trịnh có kẻ bán đứng Trịnh với Tần, nói rằng: “Tôi giữ cửa thành nước Trịnh. Nước Trịnh có thể đánh úp được.” Mục công hỏi Kiển Thúc và Bách Lý Hề. Hai ông đáp rằng: “Đi cả ngàn dặm qua mấy nước để đánh úp người, hiếm có ai thắng lợi. Vả lại người ta bán đứng nước Trịnh, sao biết người nước ta không có kẻ đem tình hình ta nói với Trịnh? Không thể đánh được.” Mục Công nói: “Các ngươi hiểu gì đâu. Ta đã quyết rồi.” Đoạn bèn phát quân, sai con Bách Lý Hề là Mạnh Minh Thị, con Kiển Thúc là Tây Khất Thuật và Bạch Ất Bính cầm quân. Đến ngày khởi hành, hai ông Bách Lý Hề và Kiển Thúc đều khóc. Mục Công nghe thấy, tức giận nói: “Ta xuất quân mà các ngươi lại khóc lóc, ngăn trở quân ta là sao?” Hai ông già nói: “Chúng thần không dám ngăn trở quân vua. Quân đội khởi hành, con chúng thần cùng đi. Chúng thần già cả, nếu chúng về chậm e không gặp nhau được nên khóc thôi.” Hai ông già lui, nói với con rằng: “Quân người mà bại, ắt ở đất hiểm Hào Sơn.” Mùa xuân năm thứ ba mươi ba, quân Tần đi về đông, vượt đất Tần, qua cửa bắc nước Chu. Vương Tôn Mãn nhà Chu nói: “Quân Tần vô lễ, không bại mới lạ!”. Quân đến đất Hoạt. Lái buôn nước Trịnh tên là Huyền Cao dắt mười hai con trâu định sang nước Chu bán, thấy quân Tần, sợ bị bắt giết, nhân dâng trâu, nói: “Nghe nói đại quốc sắp diệt Trịnh. Vua Trịnh cẩn thận sửa sang phòng bị, sai thần đem mười hai con trâu tới khao quân sĩ”. Ba tướng nước Tần bảo nhau: “Định đánh úp Trịnh, nay Trịnh đã phát giác, có đến cũng chẳng kịp rồi.” Đoạn diệt Hoạt. Hoạt là ấp vùng biên của nước Tấn vậy.

Lúc bấy giờ, Tấn Văn công mất còn chưa chôn. Thái tử Tương công tức giận nói: “Tần khinh ta bồ côi, nhân khi tang tóc mà đánh phá ấp Hoạt của ta.” Đoạn nhuộm đen tang phục, xuất binh chặn quân Tần ở Hào Sơn mà đánh, đại phá quân Tần, không để thoát được một tên, bắt ba tướng nước Tần đem về. Phu nhân của Văn Công là con gái nước Tần, xin hộ ba tên tù tướng nước Tần rằng: “Mục công oán hận ba tên này đến tận xương tủy, xin cho ba tên này về, cho vua Tần tự làm thịt chúng cho hả”. Vua Tấn bằng lòng, thả ba tướng Tần về. Ba tướng về nước, Mục Công mặc đồ trắng ra ngoại ô nghênh đón, nhìn ba người khác, mà nói rằng: “Vì ta không nghe lời Bách Lý Hề và Kiển Thúc nên khiến ba người chịu nhục, ba người có tội gì đâu. Các ngươi phải hết lòng rửa nhục, chớ trễ nải?” Đoạn phục chức cũ cho ba người, lại càng hậu đãi họ.

Năm thứ ba mươi tư, thái tử nước Sở là Thương Thần giết cha là Thành vương để lên ngôi.

Thế rồi, Mục công lại sai bọn Mạnh Minh Thị đem quân đánh Tấn, giao chiến ở Bình Nhai. Tần bất lợi, đem quân về.

Vua Nhung sai Do Dư đi sứ nước Tần. Tổ tiên của Do Dư là người Tấn, chạy vào đất Nhung, nên biết nói tiếng Tấn. Nghe tiếng Mục Công anh minh, nên (vua Nhung) sai Do Dư đến xem xét nước Tần. Tần Mục công đưa đi xem cung thất và kho đụn. Do Dư nói: “Sai quỷ thần làm thì nhọc quỷ thần. Sai nhân dân làm thì khổ nhân dân.” Mục công thấy lạ, liền hỏi: “Trung Nguyên lấy thi thư lễ nhạc pháp độ trị quốc, vậy mà có lúc vẫn loạn. Nay Nhung di không có những thứ đó, lấy gì mà trị, chẳng phải cũng khó khăn sao?”. Do Dư cười nói: “Những thứ đó là duyên do khiến Trung Nguyên loạn vậy. Từ bậc thượng thánh Hoàng Đế chế tác lễ nhạc pháp độ, thân làm trước tiên, nhưng chỉ là trị việc nhỏ nhặt. Kịp đến đời sau, ngày càng kiêu sa dâm dật, cậy cái uy của pháp độ để cai trị hạ dân, hạ dân mệt mỏi cùng cực đâm ra oán hận bề trên bởi chính điều nhân nghĩa. Trên dưới tranh giành, oán hận sinh ra soán ngôi chém giết, đến nỗi diệt tộc. Đều bởi những thứ đó. Nhung di không như vậy. Bề trên đem cái đức thuần phác để đối đãi kẻ dưới, kẻ dưới mang lòng trung thành để phụng sự bề trên. Chính trị của một nước như sự tu chỉnh của một người. Không biết cách thức trị lý thế nào, nhưng đó thực là sự trị lý của thánh nhân vậy.” Thế rồi Mục công lui, hỏi Nội sử Liêu rằng: “Ta nghe nước láng giềng có thánh nhân là mối lo ngại của nước đối địch. Nay Do Dư là kẻ hiền tài, ấy là mối nguy hại của quả nhân vậy. Giờ phải làm sao?”. Nội sử Liêu nói: “Vua Nhung ở nơi hẻo lánh, chưa được nghe thanh âm của Trung Nguyên. Ngài thử ban cho nữ nhạc, để dẹp chí của hắn; xin hộ Do Dư, để ly gián đôi bên; giữ không cho về, để lỡ kỳ hạn. Vua Nhung thấy lạ, ắt ngờ Do Dư. Vua tôi xa cách là có thể bắt. Vả lại vua Nhung thích nhạc, ắt biếng việc nước.” Mục công nói: “Hay” nhân cùng Do Dư ngồi chung chiếu, chuyền chén cùng ăn, hỏi địa hình và binh lực, Do Dư trả lời tường tận, sau đó lệnh cho Nội sử Liêu ban mười sáu người nữ nhạc cho vua Nhung. Vua Nhung nhận, thích thú, cả năm chẳng rời. Thế rồi Tần bèn trả Do Dư về. Do Dư mấy lần can gián không nghe. Mục công lại mấy lần sai người ngầm mời Do Dư. Do Dư bèn bỏ về Tần. Mục Công dùng lễ tân khách đãi Do Dư, hỏi kế sách đánh Nhung.

Năm thứ ba mươi sáu, Mục Công lại càng hậu đãi bọn Mạnh Minh, sai đem quân đánh Tấn. (Quân Tần) vượt Hoàng Hà rồi đốt thuyền, sau đó đánh bại quân Tấn, chiếm đất Vương Quan và đất Giao, báo thù trận Hào Sơn. Người Tấn đều cố thủ trong thành không dám ra. Thế rồi Mục công bèn từ Mao Tân vượt Hoàng Hà, chôn cất xác quân ở Hào Sơn, đoạn phát tang, khóc lóc ba ngày. Bèn thề với quân sĩ rằng: “Hỡi quân sĩ! Nghe đây chớ ồn! Ta thề, bá cáo với các ngươi! Người thời xưa mưu việc với các cụ tóc trắng phau phau thì không có lầm lỗi. Nhớ lại việc không nghe lời Kiến Thúc, Bách Lý Hề, nên làm lời thề này, khiến đời sau ghi nhớ lỗi lầm của ta!” Các bậc quân tử nghe xong, đều rớt nước mắt nói: “Hỡi ôi! Tần Mục công đối xử với người ta chu đáo, cuối cùng có niềm vui được Mạnh Minh báo đáp.”

Năm thứ ba mươi bảy, Tần dùng mưu của Do Dư đánh vua Nhung, tăng mười hai thuộc quốc6, mở một ngàn dặm đất, bèn xưng bá ở Tây Nhung. Thiên tử sai Thiệu Công Quá đem trống vàng tới mừng Mục Công. Năm thứ ba mươi chín, Mục công mất, táng ở đất Ung. Kẻ chết theo có một trăm bảy mươi bảy người. Ba người họ Tử Dư là tôi hiền của nước Tần, tên là Yểm Tức, Trọng Hành, Châm Hổ cũng ở trong số đó. Người Tần đau buồn, vì họ mà làm bài thơ Hoàng điểu. Người quân tử nói: “Tần Mục công mở rộng đất, thêm thuộc quốc, phía đông thu phục nước Tấn mạnh, phía tây xưng bá vùng Nhung di, song không trở thành minh chủ của chư hầu cũng là phải thôi. Chết mà bỏ mặc dân, khiến tôi hiền chết theo. Vả lại các vị tiên vương băng còn để lại nhân đức, pháp độ. Huống chi lại bắt mất người tốt tôi hiền, khiến trăm họ thương tiếc? Do vậy biết Tần không thể đánh về phía đông được nữa.” Mục công có bốn mươi người con. Con cả là Anh lên thay. Đây là Khang Công.

Khang công năm đầu. Năm trước Mục công mất, Tấn Tương công cũng mất. Em của Tương công tên là Ung, mẹ người Tần nên ở Tần. Triệu Thuẫn nước Tấn muốn đưa lên ngôi, sai Tùy Hội tới đất Ung đón. Tần đưa quân hộ tống tới Linh Hồ. Tấn lập con của Tương công, đánh lại quân Tần. Quân Tần bại, Tùy Hội chạy theo. Năm thứ hai, Tần đánh Tấn, chiếm Võ thành, báo thù cho trận Linh Hồ. Năm thứ tư, Tấn đánh Tân, chiếm đất Thiếu Lượng.

Năm thứ sáu, Tần đánh Tấn, chiếm đất Ky Mã, giao chiến ở Hà Khúc, quân Tấn đại bại. Người Tấn lo Tùy Hội ở Tần làm loạn Tấn, bèn sai Ngụy Thù Dư giả bộ phản Tấn, bàn mưu với Hội, lừa được lòng Hội, Hội bèn về Tấn. Năm thứ mười hai, Khang công mất. Con là Cộng Công lên ngôi. Cộng công năm thứ hai, Triệu Xuyên nước Tấn giết vua Tấn Linh công. Năm thứ ba, Sở Trang vương lớn mạnh, đem quân lên phía bắc đến Lạc Ấp, hỏi đỉnh của nhà Chu. Cộng Công ở ngôi năm năm thì mất. Con là Hoàn công lên ngôi.

Hoàn công năm thứ ba, Tấn đánh bại một tướng của Tần. Năm thứ mười, Sở Trang vương thu phục nước Thịnh, phía bắc đánh bại quân Tấn ở ven Hoàng Hà. Bấy giờ, Sở xưng bá, họp chư hầu hội thề. Năm thứ hai mươi tư, Tấn Lệ công mới lên ngôi, cách Hoàng Hà hội thề cùng Tần Hoàn Công. Khi về, Tần bội ước, cùng người Địch hợp mưu đánh Tấn. Năm thứ hai mươi sáu, Tấn đem quân chư hầu đánh Tần, quân Tần thua chạy, Tấn đuổi đến sông Kinh rồi về. Hoàn công ở ngôi hai mươi bảy năm thì mất. Con là Cảnh công lên ngôi.

Cảnh công năm thứ tư, Loan Thư nước Tấn giết vua Lệ công. Năm thứ mười lăm, cứu Trịnh, đánh bại quân Tấn ở Lịch Ấp. Bấy giờ Tấn Điệu công làm minh chủ. Năm thứ mười tám, Tấn Điệu công lớn mạnh, mấy lần họp chư hầu, xuất quân phạt Tần, đánh bại quân Tần. Quân Tần chạy, quân Tấn đuổi theo, bèn vượt sông Kinh, đến Vực Lâm rồi về. Năm thứ hai mươi bảy, Cảnh công đến Tấn, cùng Bình công hội thề, xong lại bội ước. Năm thứ ba mươi sáu, Công tử Vi nước Sở giết vua tự lập. Đó là (Sở) Linh vương. Em cùng mẹ Cảnh công là Hậu Tử Chân được yêu sủng. Hậu Tử Châm, có người nói xấu, sợ bị giết, bèn chạy sang nước Tấn, xe chở nghìn cỗ. Tấn Bình Công nói: “Hậu Tử giàu như vậy, sao lại bỏ chạy?” Đáp rằng: “Tần công vô đạo, sợ bị giết, muốn đợi đến đời sau thì về.” Năm thứ ba mươi chín, Sở Linh vương lớn mạnh, họp chư hầu ở đất Thân, làm minh chủ, giết Khánh Phong nước Tề. Cảnh công ở ngôi bốn mươi năm thì mất. Con là Ai công lên ngôi. Hậu Tử lại trở về Tần.

Ai công năm thứ tám, Công tử Khí Tật nước Sở giết vua Linh vương mà tự lập. Đó là (Sở) Bình vương. Năm thứ mười một, Sở Bình vương đến xin con gái nước Tần làm vợ thái tử Kiến. Về đến nước, thấy gái đẹp liền lấy làm vợ mình. Năm thứ mười lăm, Sở Bình vương muốn giết Kiến, Kiến trốn (đến nước Trịnh). Ngũ Tử Tư chạy đến nước Ngô. Nước Tấn, tôn thất suy yếu mà lục khanh7 lớn mạnh, nội bộ đánh nhau, vì vậy một thời gian dài Tần Tấn không giao chiến. Năm thứ ba mươi mốt, Ngô vương Hạp Lư và Ngũ Tử Tư đánh Sở, Sở vương bỏ chạy đến đất Tuy, quân Ngô bèn vào Dĩnh đô. Đại phu nước Sở là Thân Bao Tư tới cấp báo, bảy ngày không ăn, ngày đêm khóc lóc. Thế rồi Tần bèn cất năm trăm cỗ binh xa đi cứu Sở, đánh bại quân Ngô. Quân Ngô quay về, Sở Chiêu vương lại được về Dĩnh đô. Ai công ở ngôi ba mươi sáu năm thì mất. Thái tử là Di công chết sớm không được lên ngôi, nên con của Di công được lập lên ngôi. Đây là Huệ công.

Huệ công năm đầu, Khổng Tử làm chức Tướng ở nước Lỗ. Năm thứ năm, quan Khanh của nước Tấn là họ Trung Hành, họ Phạm phản Tấn. Tấn sai họ Trí và Triệu Giản Tử đánh chúng. Họ Phạm, họ Trung Hành bỏ chạy sang Tề. Huệ công ở ngôi mười năm thì mất. Con là Điệu Công lên ngôi.

Điệu công năm thứ hai, bề tôi nước Tề là Điền Khất giết vua Nhụ Tử, lập người anh là Dương Sinh lên ngôi. Đây là (Tề) Điệu công. Năm thứ sáu, Ngô đánh bại quân Tề. Người Tề giết Điệu Công, lập con là Giản công lên ngôi. Năm thứ chín, Tấn Định công cùng Ngô vương Phù Sai hội thề, tranh làm trưởng ở Hoàng Trì, cuối cùng Ngô vương (cắt máu) trước tiên. Ngô lớn mạnh, lấn át Trung Nguyên. Năm thứ mười hai, Điền Thường nước Tề giết Giản công, lập người em là Bình công lên ngôi, Thường làm Tướng quốc. Năm thứ mười ba, Sở diệt Trần. Tần Điệu công ở ngôi mười bốn năm thì mất. Con là Lệ Cộng công lên ngôi. Khổng Tử mất vào năm Điệu công thứ mười hai.

Lệ Cộng công năm thứ hai, người Thục tới cống. Năm thứ mười sáu, đào hào ven Hoàng Hà, đem hai vạn quân đánh Đại Lệ, chiếm lấy Vương thành. Năm thứ hai mươi mốt, bắt đầu đặt Tần Dương làm huyện. Tấn chiếm Võ thành. Năm thứ hai mươi tư, Tấn loạn, giết Trí Bá, chia nước cho ba họ Triệu, Hàn, Ngụy. Năm thứ hai mươi lăm, Trí Khai cùng người trong ấp chạy trốn (sang Tần). Năm thứ ba mươi ba, đánh nước Nghĩa Cừ, bắt vua nước ấy. Năm thứ ba mươi tư, nhật thực. Lệ Cộng công mất. Con là Táo công lên ngôi.

Táo công năm thứ hai, Nam Trịnh phản. Năm thứ mười ba, Nghĩa Cừ tới đánh, tới tận phía nam sông Vị. Năm thứ mười bốn, Táo công mất, lập em là Hoài công.

Hoài công năm thứ tư, Thứ trưởng Triều cùng đại thần vây đánh Hoài công, Hoài công tự sát. Thái tử của Hoài công là Chiêu Tử, chết sớm. Đại thần bèn lập con của thái tử Chiêu Tử. Đây là Linh công. Linh công là cháu nội của Hoài công vậy.

Linh công năm thứ sáu, Tấn xây thành Thiếu Lương, Tần tiến đánh. Năm thứ mười ba, xây thành Tịch Cô. Linh công mất, con là Hiến công không được lên ngôi, lập chú của Linh công là Điệu Tử lên ngôi. Đây là (Tần) Giản công. Giản công là em của Chiêu Tử và là con của Hoài công vậy.

Giản công năm thứ sáu, lệnh cho quan lại bắt đầu mang kiếm. Đào hào ở sông Lạc. Xây thành Trung Tuyền. Năm thứ mười sáu mất. Con là Huệ công lên ngôi.

Huệ công năm thứ mười hai, con là Xuất Tử sinh. Năm thứ mười ba, đánh Thục, chiếm lấy Nam Trịnh. Huệ công mất, Xuất Tử lên ngôi.

Xuất Tử năm thứ hai, Thứ trưởng Cải đón con của Linh Công là Hiến công ở Hà Tây đưa lên ngôi. Giết Xuất Tử cùng bà mẹ, dìm xuống vực sâu. Tần trước giờ mấy lần đổi vua, vua tôi rối loạn, nên Tấn lại lớn mạnh, chiếm đất Hà Tây của Tần.

Hiến công năm đầu tiên, cấm chỉ việc tuẫn táng. Năm thứ hai, xây thành Lịch Dương. Ngày Canh Dần tháng Giêng năm thứ tư, Hiếu Công sinh. Năm thứ mười một, Thái sử Đảm nhà Chu gặp Hiến công nói: “Nhà Chu trước kia cùng nước Tần hợp rồi chia, chia năm trăm năm rồi lại hợp, hợp mười bảy năm sẽ xuất hiện bá vương.” Năm thứ mười sáu, đào nở hoa mùa đông. Năm thứ mười tám, mưa vàng ở Lịch Dương. Năm thứ hai mươi mốt, cùng Tấn giao chiến ở Thạch Môn, chém sáu vạn thủ cấp, thiên tử (nhà Chu) đem (lễ phục) Phủ Phất8 mừng. Năm thứ hai mươi ba, cùng Ngụy, Tần giao chiến ở Thiếu Lương, bắt tướng nước ấy là Công Tôn Tọa. Năm thứ hai mươi tư, Hiến công mất. Con là Hiếu công lên ngôi, tuổi đã hai mươi mốt.

Hiếu công năm đầu, từ Hoàng Hà, Hào Sơn trở về phía đông có sáu nước lớn, (Tề Hiếu công) cùng sánh với Tề Uy vương, Sở Tuyên vương, Ngụy Huệ vương, Yên Điệu vương, Hàn Ai hầu, Triệu Thành hầu. Vùng giữa sông Hoài, sông Tứ có hơn mười nước nhỏ. Sở, Ngụy giáp ranh với Tần. Ngụy xây trường thành, từ Trịnh men theo sông Lạc lên phía bắc, tới Thượng Quận. Sở giáp ranh với Tần ở Hán Trung, phía nam có Ba quận, Kiềm Trung. Nhà Chu suy, chư hầu dùng vũ lực thôn tính lẫn nhau. Tần ở đất Ung châu hẻo lánh, không hội thề cùng các chư hầu ở Trung Nguyên, bị coi là di địch. Hiếu công bấy giờ ban phát ơn huệ, cứu giúp kẻ góa con côi, chiêu mộ binh sĩ, định rõ việc luận công ban thưởng. Xuống lệnh cho cả nước nói: “Xưa đức Mục công ta dấy lên từ vùng Kỳ – Ung, sửa sang đức chính, rèn tập võ công, phía đông dẹp loạn nước Tấn, lấy Hoàng Hà làm ranh giới, phía tây xưng bá Nhung địch, mở rộng một nghìn dặm đất, thiên tử phong làm bá chủ, chư hầu thảy đến chúc mừng, mở cơ nghiệp cho đời sau, thật là rạng rỡ. Về sau các đời Lệ công, Táo công, Giản công, Xuất Tử chẳng yên, nước nhà nội loạn, khôn lo việc ngoài. Tam Tấn đánh chiếm đất Hà Tây của tiên quân ta, chư hầu khinh Tần, không gì nhục nhã hơn. Hiện công lên ngôi, giữ yên biên giới, dời đô Lịch Dương, còn muốn đánh về phía đông, lấy lại đất cũ của Mục công, sửa sang chính lệnh của Mục công. Quả nhân mỗi khi tưởng nhớ ý nguyện của tiên quân, thường đau đớn trong lòng. Các vị tân khách, quần thần có ai có thể đưa ra diệu kế giúp Tần lớn mạnh, ta sẽ trao chức quan cao, phong cho ruộng đất?” Thế rồi liền xuất quân về phía đông vây Thiểm thành, phía tây chém Hoàn vương của rợ Nhung.

Vệ Ưởng hay tin lệnh này ban xuống, đi về phía tây vào đất Tần, thông qua Cảnh Giám cầu kiến Hiếu công.

Năm thứ hai, thiên tử gửi thịt cúng.

Năm thứ ba, Vệ Ưởng thuyết phục Hiếu công sửa đổi hình pháp, trong thì coi trọng cày cấy, ngoài thì khuyến khích (quân binh) cảm tử, định rõ thưởng phạt. Hiếu công cho rằng hay, nhưng đám Cam Long, Đỗ Chấp không cho là phải, tranh cãi lẫn nhau. Rốt cuộc dùng cách của Ưởng, trăm họ khổ sở, qua ba năm, trăm họ đều thấy phù hợp. Đoạn bèn bái Ưởng làm Tả Thứ trưởng. Việc này chép trong Thương quân (liệt truyện).

Năm thứ bảy, cùng Ngụy Huệ vương gặp gỡ ở Đỗ Bình. Năm thứ tám, cùng Ngụy giao chiến ở Nguyên Lý, lập công. Năm thứ mười, Vệ Ưởng làm Đại lương tạo, đem quân vây An Ấp của Ngụy, bức hàng. Năm thứ mười hai, xây thành Hàm Dương, dựng cửa khuyết, Tần dời đô tới đó. Sáp nhập các làng nhỏ, hợp thành huyện lớn, mỗi huyện một huyện lệnh, có bốn mươi mốt huyện. Phân ruộng mở đường, vùng đất phía đông vượt qua sông Lạc. Năm thứ mười bốn, bắt đầu quy định thuế phú. Năm thứ mười chín, thiên tử phong làm bá chủ. Năm thứ hai mươi, chư hầu đều đến mừng. Tần sai Công tử Thiếu Quan đem quân họp chư hầu ở Phùng Trạch, vào chầu thiên tử.

Năm thứ hai mươi mốt, Tề đánh bại Ngụy ở Mã Lăng.

Năm thứ hai mươi hai, Vệ Ưởng tấn công Ngụy, bắt Công tử Ngang của Ngụy. Phong Ưởng làm liệt hầu, gọi là Thương quân.

Năm thứ hai mươi bốn, cùng Tấn giao chiến ở Nhạn Môn, bắt tướng Tấn là Ngụy Thố.

Hiếu công mất, con là Huệ Văn Quân lên ngôi. Năm ấy, giết Vệ Ưởng. Khi Ưởng bắt đầu thi hành biến pháp cho Tần, biến pháp chưa thi hành, thái tử đã phạm điều cấm. Ưởng nói: “Biến pháp không thi hành được, bởi từ quốc thích. Ngài muốn thi hành biến pháp, trước tiên phải từ thái tử. Thái tử không thể xăm chữ lên mặt thì xăm vào thầy của thái tử.” Thế rồi biến pháp được áp dụng rộng rãi, người Tần được trị yên. Đến khi Hiếu công mất, thái tử lên ngôi, tông thất có nhiều người oán Ưởng, Ưởng chạy trốn, nhân cho là phản bội, cuối cùng dòng xe xé xác, thị chúng Tần.

Huệ Văn Quân năm đầu, người Sở, Hàn, Triệu, Thục đến chầu. Năm thứ hai, thiên tử chúc mừng. Năm thứ ba, vương làm lễ gia quan. Năm thứ tư, thiên tử gửi thịt tế Văn vương, Võ vương. Tề, Ngụy xưng vương.

Năm thứ năm, người Âm Tấn là Tê Thủ làm Đại lượng tạo. Năm thứ sáu, Ngụy nộp đất Âm Tấn, Âm Tấn được đổi tên thành Ninh Tần. Năm thứ bảy, Công tử Ngang cùng Ngụy giao chiến, bắt tướng Ngụy là Long Cổ, chém tám vạn thủ cấp. Năm thứ tám, Ngụy nộp đất Hà Tây. Năm thứ chín, vượt Hoàng Hà, lấy đất Phần Âm, Bì Thị. Hội kiến với Ngụy vương ở đất Ưng. Vây đất Tiêu, bức hàng. Năm thứ mười, Trương Nghi làm Tướng nước Tần. Ngụy nộp mười lăm huyện ở Thượng Quận. Năm thứ mười một, đặt Nghĩa Cừ làm huyện, trả Ngụy đất Tiêu và Khúc Ốc. Vua Nghĩa Cừ xưng làm bề tôi. Đổi tên Thiếu Lương thành Hạ Dương. Năm thứ mười hai, bắt đầu cử hành tế Lạp9. Ngày Mậu Ngọ, tháng Tư, năm thứ mười ba, vua Ngụy xưng vương, Hàn cũng xưng vương. Sai Trương Nghi đánh lấy đất Thiểm, trục xuất người Thiểm về Ngụy.

Năm thứ mười bốn, cải nguyên thành năm đầu. Năm thứ hai, Trương Nghi cùng các đại thần nước Tề, Sở họp ở Khiết Tang. Năm thứ ba, thái tử nước Hàn, Ngụy đến chầu, Trương Nghi làm Tướng nước Ngụy. Năm thứ năm, vương du ngoạn tới Bắc Hà. Năm thứ bảy, Nhạc Trì làm tướng nước Tần. Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề dẫn Hung Nô cùng đánh Tần. Tần sai Thứ trưởng Tật giao chiến ở Tu Ngư, bắt tướng (nước Hàn) là Thân Sai, đánh bại Công tử Khát nước Triệu, thái tử Hoán nước Hàn, chém tám vạn hai ngàn thủ cấp. Năm thứ tám, Trương Nghi lại làm chức Tướng nước Tần. Năm thứ chín, Tư Mã Thố đánh Thục, diệt nước ấy. Đánh lấy Trung Đô, Tây Dương của Triệu. Năm thứ mười, thái tử Thương nước Hàn đến làm con tin. Đánh lấy Thạch Chương của Hàn. Đánh bại tướng Nê của Triệu, chiếm lấy hai mươi lăm thành ở Nghĩa Cừ. Năm thứ mười một, Sư Lý Tật đánh đất Tiêu của Ngụy, bức hàng. Đánh bại Hàn ở Ngạn Môn, chém một vạn thủ cấp, tướng Hàn là Tê Thủ tháo chạy. Công tử Thông được phong ở Thục. Vua Yên nhường ngôi cho bề tôi là Tử Chi. Năm thứ mười hai, vương gặp Lương vương ở Lâm Tấn. Thứ trưởng Tật đánh Triệu, bắt tướng Trang của Triệu. Trương Nghi làm Tướng nước Sở. Năm thứ mười ba, Thứ trưởng Chương tấn công Sở ở Đan Dương, bắt tướng nước ấy là Khuất Cát, chém tám vạn thủ cấp, lại đánh Hán Trung của Sở, chiếm sáu trăm dặm đất, đặt quận Hán Trung. Sở vây Ung Thị. Tần sai Thứ trưởng Tật giúp Hàn đánh Tề ở phía đông; sai Đáo Mãn giúp Ngụy đánh Yên. Năm thứ mười bốn, đánh Sở, chiếm Triệu Lăng. Nước Đan, nước Lê xưng thần. Quan Tướng nước Thục là Tráng giết Thục hầu đến hàng.

Huệ vương mất, Con là Võ vương lên ngôi. Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Việt đều quy thuận.

Võ vương năm đầu, hội kiến Ngụy Huệ vương ở Lâm Tấn. Giết quan Tướng nước Thục là Tráng. Trương Nghi, Ngụy Chương đều đi về đông tới Ngụy. Đánh các nước Nghĩa Cừ, Đan, Lê. Năm thứ hai, bắt đầu đặt chức thừa tướng. Sư Lý Tật, Cam Mậu làm tả hữu thừa tưởng. Trương Nghi chết ở Ngụy. Năm thứ ba, cùng Hàn Tương vương hội kiến ở ngoài thành Lâm Tấn. Nam Công Yết mất, Sư Lý Tật làm chức Tướng nước Hàn. Võ vương nói với Cam Mậu rằng: “Quả nhân muốn xe tang đi thông tới Tam Xuyên, nhòm xét nhà Chu, chết không hối tiếc.” Mùa thu năm ấy, sai Cam Mậu, Thứ trưởng Phong đánh Nghi Dương. Năm thứ tư, đánh hạ Nghi Dương, chém sáu vạn thủ cấp, vượt Hoàng Hà, xây thành Vũ Toại. Thái tử nước Ngụy đến chầu. Võ vương có sức khỏe, thích chơi bời, các lực sĩ Nhâm Bỉ, Ô Hoạch, Mạnh Thuyết đều làm quan to. Vương cùng Mạnh Thuyết nhấc đỉnh, để gãy chân. Tháng Tám, Võ vương chết. Tru di họ Mạnh Thuyết. Võ vương lấy con gái nước Ngụy làm hậu, không có con. Lập em khác mẹ của Võ vương lên ngôi. Đây là Chiêu Tương vương. Mẹ Chiêu Tương là người Sở, họ Mi, gọi là Tuyên thái hậu. Khi Võ vương chết, Chiêu Tương vương làm con tin ở Yên, người Yên đưa về, được lên ngôi.

Chiêu Tương vương năm đầu, Nghiêm Quân Tật làm Tướng. Cam Mậu rời đến Ngụy. Năm thứ hai, sao chổi mọc. Thứ trưởng Trang cùng đại thần, chư hầu, công tử làm phản, đều bị giết, lụy đến Huệ Văn hậu cũng không được chết yên. Vương hậu của Điệu Võ vương bị trục xuất về Ngụy. Năm thứ ba, vương làm lễ gia quan. Cùng Sở vương họp ở Hoàng Cức, trả Sở đất Thượng Dung. Năm thứ tư, chiếm lấy Bồ Bản. Sao chổi mọc. Năm thứ năm, Ngụy vương đến chầu ở Ứng Đình, trả lại Ngụy đất Bồ Bản. Năm thứ sáu, Thục hầu tên là Huy làm phản, Tư Mã Thố dẹp yên đất Thục. Thứ trưởng Hoán đánh Sở, chém hai vạn thủ cấp. Kinh Dương quân làm con tin ở Tề. Nhật thực, ban ngày tối. Năm thứ bảy, đánh lấy Tân Thành. Sư Lý Tử mất. Năm thứ tám, sai tướng quân Mi Nhung đánh Sở, chiếm Tân Thị. Tề sai Chương Tử, Ngụy sai Công Tôn Hỷ, Hàn sai Bạo Diên cùng đánh Phương Thành nước Sở, bắt được Đường Muội. Triệu đánh phá nước Trung Sơn, vua nước ấy bỏ chạy, cuối cùng chết ở Tề. Công Tử Kính nước Ngụy, Công Tử Trường nước Hàn được làm chư hầu. Năm thứ chín, Mạnh Thường quân Tiết Văn đến làm Tướng nước Tần. (Thứ trưởng) Hoán đánh Sở, chiếm tám thành, giết tướng Sở là Cảnh Khoái. Năm thứ mười, Sở Hoài vương tới chầu Tần, Tần giữ lại. Tiết Văn vì Kim Thụ mà bị bãi chức. Lâu Hoãn làm thừa tướng. Năm thứ mười một, năm nước Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Tống và Trung Sơn10 cùng đánh Tần, đến huyện Diêm Thị thì về. Tần trả cho Hàn, Ngụy phần đất từ Hoàng Hà trở về Bắc và Phong Lăng để cầu hòa. Sao chổi mọc. Sở Hoài vương chạy đến Triệu, Triệu không nhận, đành quay về Tần, khi chết được đưa về nước an táng. Năm thứ mười hai, Lâu Hoãn bị bãi chức, Nhương hầu Ngụy Nhiễm làm thừa tướng. Cho Sở năm vạn thạch thóc.

Năm thứ mười ba, tướng Hướng Thọ đánh Hàn, chiếm Võ Thủy. Tả canh Bạch Khởi đánh Tân Thành, Ngũ đại phu Lễ chạy trốn đến Ngụy. Nhâm Bỉ làm Quận thú Hán Trung. Năm thứ mười bốn, Tả canh Bạch Khởi đánh Hàn, Ngụy ở Y Khuyết, chém hai mươi tư vạn thủ cấp, bắt Công Tôn Hỷ, chiếm năm thành. Năm thứ mười lăm, Đại lương tạo Bạch Khởi đánh Ngụy, chiếm Viên thành rồi trả lại; đánh Sở, chiếm Uyển thành. Năm thứ mười sáu, Tả canh Thố chiếm huyện Chỉ và huyện Đặng. Nhiễm bị bãi chức. Phong Công tử Thị ở đất Uyển, Công tử Lý ở đất Đặng, Ngụy Nhiễm ở đất Đào, được làm chư hầu. Năm thứ mười bảy, Thành Dương quân vào chầu và Đông Chu quân đến chầu. Tần đem Viên thành nhập vào Bồ Bản, Bì Thị. Tần vương đến Nghi Dương. Năm thứ mười tám, (Tư Mã) Thố đánh Viên thành, Hà Ung, phá cầu mà đánh. Năm thứ mười chín, Tần xưng Tây đế, Tề xưng Đông đế, sau đều bỏ đi. Lã Lễ tự quay về. Tề phá Tống, Tống vương chạy đến Ngụy, chết ở đất Ôn, Nhâm Bỉ mất. Năm thứ hai mươi, vương tới Hán Trung, lại tới Thượng Quận, Bắc Hà. Năm thứ hai mươi mốt, Thố đánh đất Hà Nội của Ngụy. Ngụy dâng An Ấp. Tần trục xuất dân đất ấy, chiêu mộ người (Tần) dời tới (vùng đất) từ Hoàng Hà về phía đông, ban cho tước vị, những tội nhân được tha miễn cũng dời đến đây. Kinh Dương quân được phong ở đất Uyển. Năm thứ hai mươi hai, Mông Võ đánh Tề. Từ Hoàng Hà trở về phía đông được chia làm chín huyện. Cùng Sở vương họp ở đất Uyển. Cùng Triệu vương họp ở Trung Dương. Năm thứ hai mươi ba, Đô úy Tư Ly cùng Tam Tấn và Yên đánh Tề, phá quân Tề ở phía tây sông Tế. (Tần) vương cùng Ngụy vương họp ở Nghi Dương, cùng Hàn vương họp ở Tân Thành. Năm thứ hai mươi tư, cùng Sở vương họp ở đất Yên, rồi lại họp ở đất Nhương. Tần chiếm An thành của Ngụy, đánh tới Đại Lương, Yên và Triệu ứng cứu, quân Tần lui. Ngụy Nhiễm bị bãi chức thừa tướng. Năm thứ hai mươi lăm, đánh hạ hai thành của Triệu. Cùng Hàn vương họp ở Tân Thành, cùng Ngụy vương họp ở ấp Tân Minh. Năm thứ hai mươi sáu, tha tội nhân, cho dời tới đất Nhương. Nhiễm hầu được khôi phục chức thừa tướng. Năm thứ hai mươi bảy, (Tư Mã) Thố đánh Sở. Tha tội nhân, cho dời tới Nam Dương. Bạch Khởi đánh Triệu, chiếm thành Quang Lang của đất Đại, lại sai Tư Mã Thố cất quân Lũng Tây, qua Thục đánh chiếm Kiềm Trung của Sở. Năm thứ hai mươi tám, Đại lương tạo Bạch Khởi đánh Sở, chiếm đất Yên, Đặng, tha tội nhân cho dời tới đây. Năm thứ hai mươi chín, Đại lương tạo Bạch Khởi đánh Sở, chiếm Dĩnh đô, đặt làm Nam quận. Sở vương bỏ chạy. Vua Chu đến chầu. (Tần) vương cùng Sở vương họp ở Tương Lăng. Bạch Khởi được phong làm Võ An quân. Năm thứ ba mươi, quan Thú đất Thục là Trương Nhược đánh Sở, chiếm Vu quận và Giang Nam, đặt làm quận Kiềm Trung. Năm thứ ba mươi mốt, Bạch Khởi đánh Ngụy, chiếm hai thành. Người Sở làm phản ở Giang Nam. Năm thứ ba mươi hai, thừa tướng Nhương Hầu đánh Ngụy, đến Đại Lương, phá quân của Bạo Diên, chém bốn vạn thủ cấp, Bạo Diên tháo chạy. Ngụy dâng ba huyện xin hòa. Năm thứ ba mươi ba, Khách khanh Hồ Dương đánh chiếm Quyển thành, Sái Dương, Trường Xã của Ngụy. Đánh tướng Mang Mão ở Hoa Dương, phá quân chúng, chém mười lăm vạn thủ cấp. Ngụy dâng đất Nam Dương xin hòa. Năm thứ ba mươi tư, Tần và Ngụy, Hàn yên ổn, đặt Thượng Dung (của Sở) làm một quận. Tha thần dân ở Nam Dương dời tới ở. Năm thứ ba mươi lăm, giúp Hàn, Ngụy, Sở đánh Yên. Bắt đầu đặt quận Nam Dương. Năm thứ ba mươi sáu, Khách khanh Táo đánh Tề, chiếm đất Cương, đất Thọ, trao cho Nhương Hầu, Năm thứ ba mươi tám, Trung canh Hồ Dương đánh ấp Át Dự của Triệu, không chiếm được. Năm thứ bốn mươi, Điệu thái tử chết ở Ngụy, đem về táng ở Chỉ Dương. Năm thứ bốn mươi mốt, mùa hạ, đánh Ngụy, chiếm Hình Khưu và Hoài Ấp. Năm thứ bốn mươi hai, An Quốc quân được lập làm thái tử. Tháng Mười, Tuyên thái hậu mất, táng ở núi Ly Sơn, Chỉ Dương. Tháng Chín, Nhương Hầu dời đến đất Đào. Năm thứ bốn mươi ba, Võ An quân Bạch Khởi đánh Hàn, hạ chín thành, chém năm vạn thủ cấp. Năm thứ bốn mươi bốn, đánh chiếm Nam Dương của Hàn. Năm thứ bốn mươi lăm, Ngũ đại phu Bồn đánh Hàn, chiếm mười thành. Diệp Dương quân Lý dời đến nước phong, chưa tới thì chết. Năm thứ bốn mươi bảy, Tần đánh Thượng Đảng của Hàn, Thượng Đảng đầu hàng Triệu, Tần nhân đó đánh Triệu. Triệu cất quân đánh Tần, cùng cầm cự nhau. Tần sai Võ An quân Bạch Khởi tấn công, đại phá Triệu ở Trường Bình, hơn bốn mươi vạn quân đều bị giết. Năm thứ bốn mươi tám, tháng Mười, Hàn dâng đất Viên Ung. Quân Tần chia làm ba quân. Võ An quân về nước. Vương Hột đem quân đánh chiếm Võ An, Bì Lao của Triệu. Tư Mã Ngạnh phía bắc dẹp yên Thái Nguyên, chiếm hết đất Thượng Đảng của Hàn. Tháng Giêng, bãi binh, đóng giữ Thượng Đảng. Tháng Mười năm ấy, Ngũ đại phu (Vương) Lăng đánh thành Hàm Đan của Triệu. Năm thứ bốn mươi chín, tháng Giêng, cấp thêm quân giúp Lăng. Lăng đánh không giỏi, bị bãi chức, Vương Hột làm tướng thay. Tháng Mười năm ấy, tướng quân Trường Đường đánh Ngụy, (tướng Ngụy) Sái Úy không giữ được thành, về bị chém. Năm thứ năm mươi, tháng Mười, Võ An quân Bạch Khởi phạm tội, giáng xuống làm lính thường, dời đến Âm Mật. Trương Đường đánh Trịnh thành, chiếm được. Tháng Mười hai, điều thêm quân đóng ở gần Phần thành. Võ An quân Bạch Khởi có tội, tự sát. Hột đánh Hàm Đan, không chiếm được, lui quân, chạy về đóng ở Phần thành hơn hai tháng. (Sau đó) đánh quân Tấn, chém sáu nghìn thủ cấp. Quân Tấn, Sở chết trôi trên Hoàng Hà đến hai vạn người. Đánh Phần thành, rồi theo Trương Đường đánh hạ Ninh Tân Trung. Ninh Tân Trung được đổi tên thành An Dương. Bắt đầu làm cầu Hoàng Hà.

Năm thứ năm mươi mốt, tướng quân Cưu đánh Hàn, chiếm Dương thành, Phụ Thử, chém bốn vạn thủ cấp. Đánh Triệu, chiếm hơn hai mươi huyện, chém và bắt chín vạn quân. Vua Tây Chu phản bội Tần, cùng chư hầu ước hẹn hợp tung, đem tinh binh trong thiên hạ xuất phát từ Y Khuyết đánh Tần, khiến Tần không thể thông tới Dương thành. Thế rồi Tần sai tướng quân Cưu đánh Tây Chu. Vua Tây Chu tự chạy đến Tần, dập đầu nhận tội, dâng hết ba mươi sáu thành, ba vạn nhân khẩu trong ấp. Tần vương nhận, trả vua về Chu. Năm thứ năm mươi hai, dân nhà Chu bỏ chạy về phương đông, các đồ thần khí, chín đỉnh được đưa vào Tần, Nhà Chu bắt đầu diệt vong.

Năm thứ năm mươi ba, thiên hạ tới quy thuận. Ngụy đến sau cùng, Tần sai (tướng) Cựu đánh Ngụy, chiếm Ngô thành. Hàn vương vào chầu, Ngụy ủy thác đất nước (cho Tần), xin nghe mệnh lệnh. Năm thứ năm mươi tư, vương tế thượng đế ở đàn Nam giao tại Ung thành. Năm thứ năm mươi sáu, mùa thu, Chiêu Tương vương mất. Con là Hiếu Văn vương lên ngôi, tôn Đường Bát Tử làm Đường thái hậu, hợp táng với tiên vương. Hàn vương mặc áo tang vào phúng điếu, chư hầu đều sai quan tướng tới phúng điếu, dự việc tang.

Hiếu Văn vương năm đầu, tha tội nhân, biểu dương công thần của tiên vương, hậu đãi thân thích, mở vườn thượng uyển. Hiếu Văn vương hết tang, vào ngày Kỷ Hợi tháng Mười thì lên ngôi, ba ngày sau, ngày Tân Sửu thì mất. Con là Trang Tương vương lên ngôi.

Trang Tương vương năm đầu, đại xá tội nhân, biểu dương Công thần của tiên vương, thi hành đức chính, hậu đãi cốt nhục, ban ơn cho dân. Vua Đông Chu cùng chư hầu bàn mưu phản Tần, Tần sai tướng quốc Lã Bất Vi đánh giết, sáp nhập toàn bộ nước Chu. Tần không dứt việc thờ cúng (của nhà Chu), đem đất Dương Nhân ban cho vua Chu, kính cẩn coi việc tế tự. Sai Mông Ngao đánh Hàn, Hàn dâng đất Thành Cao và huyện Củng. Biên giới nước Tần tới Đại Lương, bắt đầu đặt quận Tam Xuyên. Năm thứ hai, sai Mông Ngao đánh Triệu, dẹp yên Thái Nguyên. Năm thứ ba, Mông Ngao đánh chiếm Cao Đô và huyện Cấp của Ngụy. Đánh Du Thứ, Tân Thành, Lang Mạnh của Triệu, chiếm ba mươi bảy thành. Tháng Tư, nhật thực. Vương Hột đánh Thượng Đảng, bắt đầu đặt quận Thái Nguyên. Tướng Ngụy là Vô Kỵ dẫn quân năm nước đánh Tần, Tần lui về phía nam Hoàng Hà. Mông Ngao thua, giải vây bỏ chạy. Ngày Bính Ngọ tháng Năm, Trang Tương vương mất. Con là Chính lên ngôi. Đây chính là Tần Thủy Hoàng đế.

Tần vương Chính lên ngôi hai mươi sáu năm, bắt đầu gộp thiên hạ thành ba mươi sáu quận, hiệu là Thủy Hoàng đế. Thủy Hoàng đế năm mươi mốt tuổi thì băng. Con là Hồ Hợi lên ngôi. Đây là Nhị Thế Hoàng đế. Năm thứ ba, chư hầu cùng nổi dậy phản Tần, Triệu Cao giết Nhị Thế, lập Tử Anh lên ngôi. Tử Anh lên ngôi được hơn một tháng, bị chư hầu giết, rồi diệt nhà Tần.

Chuyện này chép trong Tần Thủy Hoàng bản kỷ.

Thái sử công bàn rằng: Tổ tiên của nhà Tần mang họ Doanh, về sau được phân phong, lấy nước làm họ, nên có họ Tư, họ Đàm, họ Cử, họ Chung Lê, họ Vận Yểm, họ Thố Cừu, họ Tương Lương, họ Hoàng, họ Giang, họ Tu Ngư, họ Bạch Minh, họ Phỉ Liêm, họ Tần. Song Tần vì tổ tiên là Tạo Phụ được phong ở Triệu thành, nên mang họ Triệu.

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.