London, ngày 3 tháng 4 năm 1848.
Nữ hoàng Victoria cảm thấy đau buốt cả đầu. Bà khuỵu người áp mặt vào cầu tàu bằng gỗ chừng vài chục phút. Bà cảm thấy giận dữ, sợ hãi và mệt mỏi vì phải cố ngăn dòng nước mắt; trời bắt đầu chuyển mưa. Cơn mưa phùn làm váy bà sũng nước, và bà chỉ mong không ai nhận thấy nỗi run sợ của mình.
Chồng bà đang đứng bên phải, chỉ cần với tay là bà có thể đặt lên vai ông hay vuốt lấy mái tóc ướt của ông – để truyền thêm sức mạnh cho ông đối mặt với những gì sắp xảy đến. Giá như thời gian dừng lại hoặc trôi nhanh thì hay biết mấy. Giá như bà và Hoàng thân Albert đang ở một nơi nào đó chứ không phải chốn này.
Và họ – Nữ hoàng Victoria, Hoàng thân Albert, Công tước xứ Wellington, cùng một nửa triều đình – cứ quỳ gối trong mưa chờ đợi. Rõ ràng trên sông đã xảy ra chuyện. Con tàu chỉ huy của hạm đội Trung Hoa quá lớn không thể cập các bến cảng của công ty Đông Ấn, do đó Tổng đốc Kỳ Anh⦾ phải thực hiện chuyến đi với sứ mệnh quan trọng của mình tới London bằng một chiếc tàu bọc thép chạy bằng hơi nước nhỏ hơn được đặt theo tên của ông ta, nhưng ngay cả chiếc Kỳ Anh cũng quá cồng kềnh so với các bến cảng ở Blackwall. Phải có đến nửa tá tàu kéo làm nhiệm vụ lai dắt con tàu trong tình trạng lộn xộn xung quanh. Kỳ Anh chắc hẳn không vui chút nào.
Qua khóe mắt, Nữ hoàng Victoria có thể nhìn thấy ban nhạc người Trung Hoa nhỏ bé trên cầu cảng. Trang phục lụng thụng bằng lụa và những chiếc mũ ngộ nghĩnh của họ mới cách đây một giờ trông còn thật lộng lẫy, giờ đã trở nên xốc xếch dưới trận mưa đặc trưng của nước Anh. Đã bốn lần ban nhạc trỗi lên những âm điệu chói tai mang âm hưởng phương Đông do tưởng rằng kiệu của Kỳ Anh sắp được đưa lên bờ, và cả bốn lần đều phải ngưng lại nửa chừng. Tuy nhiên, họ vẫn kiên trì đến lần thứ năm. Victoria cảm thấy dạ dày của mình quặn lại. Cuối cùng thì Kỳ Anh cũng lên bờ. Điều này thực sự đang xảy ra.
Rồi sau đó viên sứ thần của Kỳ Anh đứng trước mặt họ, gần đến mức Victoria có thể nhìn thấy đường thêu những con rồng nhỏ phun khói và lửa trên đôi hài của ông ta. Đó quả là tác phẩm tuyệt mỹ, hơn hẳn so với tài năng thêu thùa của các thị nữ hầu cận Nữ hoàng.
Viên sứ thần với giọng đều đều, đọc tuyên cáo chính thức gửi đến từ Bắc Kinh. Victoria được nghe dịch lại tuyên cáo như sau: rằng Đạo Quang Hoàng đế Đại Trí Công nhận nguyện vọng của Nữ hoàng Anh quốc mong muốn bày tỏ lòng kính trọng đối với quyền bá chủ của Đế chế Trung Hoa; rằng Nữ hoàng Victoria cầu xin có cơ hội được cống nạp và nộp thuế, tỏ lòng tôn kính tột bậc và xin được nghe lệnh; và rằng Hoàng đế chấp thuận xem vương quốc của bà như một trong những thuộc địa của ngài, đồng thời cho phép người Anh học theo lối sống của người Trung Hoa.
Nhưng mọi người ở Anh quốc đều biết trên thực tế mọi chuyện đã xảy ra như thế nào. Ban đầu người Trung Hoa được chào đón do họ tài trợ Anh quốc trong cuộc chiến tranh chống lại Napoléon, vị hoàng đế đã cấm cửa họ tại các hải cảng nằm trong lục địa già. Nhưng từ năm 1815, người Trung Hoa bắt đầu bán hàng hóa với mức giá ngày càng thấp tại các cảng của Anh, cho đến khi các nhà máy bông sợi vùng Lancashire phải đóng cửa. Khi người Anh phản đối và tăng mức thuế quan, người Trung Hoa thiêu rụi hạm đội Hải quân Hoàng gia vinh quang một thời, giết chết Đô đốc Nelson và cướp phá các thành phố dọc bờ biển phía nam. Trong gần tám thế kỷ, nước Anh đã thách thức mọi kẻ xâm lược, nhưng giờ đây tên tuổi của Nữ hoàng Victoria sẽ vĩnh viễn chìm trong những trang sử đầy hổ thẹn. Triều đại của bà là một triều đại điên cuồng với những vụ mưu sát, tước đoạt và bắt cóc, bây giờ là cả bại trận, ô danh và cái chết. Và giờ này chính Kỳ Anh, kẻ giật dây hiểm ác cho Hoàng đế Đạo Quang, đến để đưa ra những lời lẽ thớ lợ đạo đức giả.
Rồi thời điểm thích hợp cũng đến, viên thông ngôn quỳ sau lưng Victoria nhẹ nhàng đằng hắng theo đúng phong cách cung đình hoàn hảo mà chỉ Nữ hoàng mới nghe được. Đây là dấu hiệu đã đến lúc thuộc hạ của Kỳ Anh trao tước phong cho bà. Victoria ngẩng đầu khỏi cầu tàu và ngồi lên để đón nhận chiếc mũ và tấm áo choàng của người man di, biểu thị cho nỗi ô nhục của đất nước. Đó cũng là lần đầu tiên bà nhìn rõ mặt Kỳ Anh. Bà vô cùng bất ngờ khi thấy một gã đàn ông trung niên với vẻ ngoài thông minh và đầy khí lực. Liệu ông ta có thực sự là con quỷ dữ khiến bà phải sợ hãi? Đồng thời Kỳ Anh cũng lần đầu đưa mắt nhìn Victoria. Ông đã xem bức chân dung của bà trong lễ đăng quang, nhưng không ngờ bà ta còn đẫy đà và thô kệch hơn tưởng tượng dù trông còn rất trẻ. Bà ướt sũng và hình như trên mặt còn dính mùn cưa cùng một ít bùn bắn lên từ bến tàu. Bà ta thậm chí còn không biết khấu đầu đúng cách. Đúng là những con người bất nhã!
Rồi cũng đến giờ khắc đen tối nhất, không thể tưởng tượng nổi trong đời Victoria. Hai viên quan người Trung Hoa từ sau lưng Kỳ Anh cúi thấp đầu bước đến trước khom người đỡ Albert đứng dậy. Victoria hiểu rằng bà chỉ được phép im lặng không bày tỏ bất kỳ động thái nào – và thật ra thì bà gần như đã bị đóng băng tại chỗ, giá như có muốn bày tỏ sự phản kháng cũng không thể được.
Rồi họ dẫn Albert đi. Ông bước chậm rãi trong tư thế đường bộ, rồi bất chợt dừng lại quay đầu nhìn Victoria. Cả một bầu trời chất chứa trong cái liếc nhìn đó.
Victoria ngất xỉu. Một người hầu phía Trung Hoa kịp đỡ lấy bà trước khi bà ngã xuống bến tàu; không nên để một nữ hoàng, dù là một nữ hoàng di địch, bị tổn thương trong thời điểm đó. Giờ đây, trong bước đi vô định, gương mặt lạnh băng với hơi thở gấp gáp, Albert đang rời bỏ quê hương thứ hai của mình. Ông bước lên ván thuyền, vào khoang tàu sang trọng khép kín để vượt biển đến Trung Hoa, nơi ông sẽ được Hoàng đế đối xử như một chư hầu trong Tử Cấm Thành.
Khi Nữ hoàng Victoria hồi tỉnh, Albert đã đi rất xa. Giờ đây, cuối cùng bà cũng bật khóc. Albert có thể mất đến nửa năm để đến Bắc Kinh, và cũng từng ấy thời gian để trở lại; rồi có thể ông phải chờ đợi thêm ít nhất vài tháng đến vài năm giữa đám người man rợ đó trước khi được Hoàng đế triệu kiến. Bà sẽ phải làm gì đây? Làm sao bà có thể thân cô thế cô bảo vệ được thần dân? Làm sao bà có thể đối mặt với gã Kỳ Anh xấu xa sau những gì hắn ta đã làm với họ?
Nhưng Hoàng thân Albert không bao giờ quay về. Khi đến Bắc Kinh, ông đã làm cả triều đình phải ngạc nhiên với vốn tiếng Hoa lưu loát cùng kiến thức về tứ thư ngũ kinh của Khổng giáo. Rồi những tin tức lan truyền đến tai ông về những người bần cố nông nổi dậy đập phá tất cả máy đập lúa ở khắp miền Nam nước Anh; và sau đó bùng phát các cuộc chiến đường phố đẫm máu trên một nửa các thủ độ của châu Âu. Chỉ vài ngày sau, Hoàng đế nhận được một lá thư từ Kỳ Anh, đề nghị tốt nhất là đảm bảo an toàn cho một hoàng thân tài năng như Albert bằng cách giữ ông ở lại Bắc Kinh. Bạo lực là tất yếu trong quá trình chuyển đổi sang thời kỳ hiện đại, giống như đối với Đế chế Trung Hoa, nhưng không có cơ hội nào dành cho một dân tộc vốn dĩ đã hỗn loạn.
Vì vậy, Albert ở lại trong Tử Cấm Thành. Ông vứt bỏ những bộ lễ phục truyền thống của mình và để tóc đuôi sam như người Mãn Châu, cứ mỗi năm qua đi vốn hiểu biết của ông về cổ thư Trung Hoa lại càng uyên áo. Ông dần già đi, quanh quẩn một mình ở những ngôi chùa, rồi sau 13 năm sống trong chiếc lồng vàng, cuối cùng ông cũng giã biệt trần thế.
Ở phía bên kia đại dương, Victoria tự giam mình trong những căn phòng lạnh lẽo của Điện Buckingham, lờ đi những ông chủ thực dân của mình. Kỳ Anh điều hành Anh quốc mà không cần đến bà. Nhiều đám người được gọi là chính khách cầu cạnh ông ta để kiếm ăn. Khi Victoria qua đời vào năm 1901, không có lễ quốc tang nào, chỉ có những cái nhún vai và nụ cười gượng gạo dành cho sự ra đi của tàn tích cuối cùng thuộc một triều đại trước Đế chế Trung Hoa.
Tất nhiên, trong thực tế, mọi điều đã không xảy ra như trên hay ít nhất chỉ có một số chi tiết là chính xác. Đúng là cũng có một con tàu Trung Hoa tên Kỳ Anh và quả thực nó đã cập vào bến cảng thuộc công ty Đông Ấn ở London vào tháng 4 năm 1848 (Hình 1.1). Nhưng đó không phải là tàu chiến bọc sắt chở theo một Tổng đốc Trung Hoa đến London: chiếc Kỳ Anh thực ra chỉ là một chiếc thuyền buồm lớn bằng gỗ sơn phết sặc sỡ. Các thương nhân người Anh ở Thuộc địa Vương miện Hong Kong⦾ đã mua chiếc thuyền nhỏ bé này vài năm trước và gửi về quê hương như một món đồ chơi thú vị.
Nữ hoàng Victoria, Hoàng thân Albert và Công tước xứ Wellington thực sự cũng có ra bến sông, nhưng không phải để khom lưng quỳ gối trước người chủ mới mà chỉ để ngó nghiêng con tàu Trung Hoa đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ Vương quốc Anh.
Con tàu này đúng là đặt theo tên vị quan chức Quảng Châu, nhưng Kỳ Anh không phải là người chấp thuận sự quy phục của Anh quốc vào năm 1842 sau khi tiêu diệt hạm đội Hải quân Hoàng gia. Thực ra vào năm đó, ông ta chỉ thương lượng việc đầu hàng sau khi một hạm đội nhỏ của Anh đánh đắm toàn bộ thuyền chiến Trung Hoa trong suốt cuộc hải trình, tiêu diệt các pháo binh ven biển, và phong tỏa Đại Vận Hà, con kênh đào nối Bắc Kinh với vùng thung lũng sông Dương Tử đất đai màu mỡ, đe dọa thủ đô rơi vào nạn đói.
Và Hoàng đế Đạo Quang cũng trị vì ở Trung Hoa vào năm 1848, nhưng ông ta không chia cắt Victoria và Albert. Trên thực tế cặp vợ chồng hoàng gia này vẫn hạnh phúc bên nhau, tuy đôi lúc gặp trục trặc do tính khí thất thường của Victoria, cho đến khi Albert qua đời vào năm 1861. Chính Victoria và Albert mới là những nhân vật làm cho Đạo Quang tơi tả.

Hình 1.1. Con tàu Kỳ Anh trên thực tế: Người dân London chèo thuyền ra xem con tàu vào năm 1848, minh họa trong tờ Illustrated London News.
Lịch sử thường trái khoáy so với tiểu thuyết. Chính thần dân của Victoria đã đập tan binh lực của Hoàng đế Đạo Quang và làm đế chế của ông ta tan vỡ, với nguyên nhân đến từ một trong những thói quen cố hữu của người Anh – tách trà (hay nói một cách chính xác là hàng tỉ tách trà). Vào thập niên 1790, công ty Đông Ấn của Anh, vốn điều hành nhiều vùng đất Nam Á như đất phong của mình, đã vận chuyển về London hơn 10 triệu kilogram lá trà Tàu mỗi năm. Lợi nhuận quá sức lớn, nhưng lại nảy sinh một vấn đề: Chính phủ Trung Hoa không quan tâm đến việc nhập khẩu hàng hóa do Anh quốc sản xuất. Họ chỉ muốn nhận bạc, mà công ty lại đang gặp khó khăn trong việc kiếm ra bạc đủ để duy trì giao dịch. Vì vậy, các thương nhân Anh quốc như bắt được vàng khi nhận ra bất kể Chính phủ Trung Hoa muốn gì, điều mà người dân Trung Hoa muốn chính là thuốc phiện. Và loại thuốc phiện tốt nhất được trồng ở Ấn Độ, vùng đất thuộc quyền kiểm soát của công ty. Tại Quảng Châu – hải cảng Trung Hoa duy nhất người ngoại quốc được phép giao dịch thương mại – các lái buôn bán thuốc phiện đổi lấy bạc, rồi dùng bạc để mua trà, sau đó bán trà ở London với lợi nhuận còn cao hơn nhiều.
Và cũng theo thói thường trong kinh doanh, việc giải quyết một vấn đề sẽ nảy sinh vấn đề khác. Người Ấn Độ nhai thuốc phiện còn người Anh thì nấu lên để uống, mỗi năm tiêu thụ tổng cộng 10 đến 20 tấn (một lượng thuốc được dùng để giúp trẻ sơ sinh dễ ngủ). Hai cách này đều gây ra cảm giác mơ mơ màng màng ở người dùng, đủ để truyền cảm hứng cho các nhà thơ rảnh rỗi và mang đến cho một số quý tộc trò ăn chơi trác táng mới, nhưng nhìn chung không có gì đáng ngại. Trong khi đó, người Trung Hoa lại hút nó. Sự khác biệt này cũng giống như điểm khác giữa việc nhai lá coca và hút cocaine bằng ống điếu. Các nhà buôn thuốc phiện người Anh cố tình lờ đi sự khác biệt đó nhưng Đạo Quang thì không, và năm 1839 ông tuyên chiến với nha phiến.
Đó là một cuộc chiến kỳ quặc, nhanh chóng biến thành một cuộc đối đầu cá nhân trực tiếp giữa Khâm sai đại thần Lâm Tắc Từ và Tổng giám mậu dịch của Anh tại Quảng Châu, Đại tá Hải quân Charles Elliot. Khi Elliot nhận ra mình đang thua thiệt, ông thuyết phục các thương nhân nộp lại số thuốc phiện lên đến 1.700 tấn cho Lâm; các thương nhân chấp nhận điều này với sự đảm bảo của Elliot rằng chính phủ Anh sẽ bồi hoàn những tổn thất của họ. Các thương nhân Anh không biết liệu Elliot có thẩm quyền hứa hẹn như vậy hay không, nhưng tất cả đều nắm lấy đề xuất này. Lâm thì có thuốc phiện còn Elliot giữ được thể diện và tiếp tục vận hành việc buôn bán trà, trong khi các thương nhân vẫn kiếm được giá hời khi được đền bù (tính cả lợi tức và chi phí vận chuyển) với món nha phiến. Nói chung mọi bên cùng thắng.
Tuy nói là mọi người, nhưng phải loại trừ Huân tước Melbourne, Thủ tướng Anh. Melbourne, người được mong đợi sẽ tìm ra hai triệu bảng để đền bù cho các nhà buôn thuốc phiện, không hề chiến thắng. Họa có điên khi một viên Đại tá Hải quân quèn lại đẩy một vị thủ tướng vào hoàn cảnh như thế, nhưng Elliot biết ông có thể dựa vào Cộng đồng doanh nghiệp để vận động Nghị viện bù đắp lại số tiền đã mất. Và quả như vậy, các ràng buộc lợi ích cá nhân, chính trị và tài chính vây bủa quanh Melbourne khiến ông ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải trả khoản tiền đền bù và sau đó điều một đoàn quân viễn chinh để gây áp lực bắt Chính phủ Trung Hoa bồi hoàn cho Anh quốc về khoản nha phiến bị thu giữ (Hình I.2).
Giai đoạn đó không phải là thời khắc tươi đẹp nhất của Đế quốc Anh. Lấy các ví dụ tương đồng lúc bây giờ thì khó mà chính xác, nhưng sự kiện này cũng chẳng khác gì việc để phản ứng với Cơ quan Phòng chống Ma túy Hoa Kỳ (DEA) khi họ thực hiện một cuộc bắt giữ lớn, các-ten⦾ Tijuana thuyết phục Chính phủ Mexico tấn công vào San Diego để yêu cầu Nhà Trắng bồi hoàn cho các ông trùm ma túy theo giá chợ đen giá trị của số cocaine bị tịch thu (tính cả tiền lãi và cước vận chuyển) cũng như trả chi phí cho cuộc viễn chinh quân sự. Và hãy tưởng tượng rằng sự việc xảy ra trong khi ở vùng biên, một hạm đội Mexico chiếm giữ đảo Catalina làm căn cứ cho các chiến dịch quân sự trong tương lai và đe dọa phong tỏa Washington DC cho tới khi Quốc hội đồng ý ban cho các ông trùm ma túy ở Tijuana độc quyền buôn bán Los Angeles, Chicago và New York.
Điều khác biệt ở đây là Mexico không có khả năng đánh bom San Diego, trong khi năm 1839 Anh quốc có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Những tàu chiến của Anh đã san bằng mọi lực lượng phòng thủ của Trung Hoa và Kỳ Anh đã phải ký một hiệp ước nhục nhã cho phép Trung Hoa mở cửa để giao thương và các nhà truyền giáo được tự do đi lại. Tuy các phi tần của Đạo Quang không bị đưa đến London theo cách Hoàng thân Albert đến Bắc Kinh ở cảnh tượng mà tôi đã vẽ ra trong phần đầu đoạn giới thiệu này, nhưng cuộc Chiến tranh Nha phiến đã làm Đạo Quang suy sụp hoàn toàn. Ông đã làm 300 triệu thần dân phải thất vọng cũng như đã phản bội 2.000 năm truyền thống dân tộc. Ông đã đúng khi cảm thấy mình là một ông vua vô tích sự. Trung Hoa đang phân rã. Nạn nghiện hút gia tăng, chính quyền mất kiểm soát và phong tục truyền thống thì rạn vỡ.

Hình I.2. Đây không phải là thời khắc huy hoàng của họ: tàu chiến Anh đang thổi bay các thuyền chiến Trung Hoa trên sông Dương Tử năm 1842. Góc bên phải là chiến hạm Nemesis⦾, chiếc tàu sắt đầu tiên trên thế giới, rất xứng đáng với cái tên của nó.
Vào lúc xã hội biến động này, xuất hiện một nho sĩ bất đắc chí tên Hồng Tú Toàn, một người sinh ra và lớn lên ở ngoại thành Quảng Châu. Bốn lần Hồng Tú Toàn vượt bao khó khăn lên kinh ứng thí thì cả bốn lần ông đều thi trượt. Cuối cùng, vào năm 1843, ông ngã bệnh phải nằm cáng về làng. Trong cơn sốt mê man, ông mơ thấy những thiên thần đưa mình lên thiên giới; ở đó ông gặp một người tự nhận là anh trai của ông, và hai người cùng sát vai nhau chiến đấu với quỷ dữ dưới quan sát của người cha rậm râu.
Không người nào trong làng hiểu được giấc mơ này, và Hồng Tú Toàn dường như cũng quên mất nó trong nhiều năm, cho đến một ngày tại Quảng Châu, trên đường đến trường thi, ông được tặng một quyển sách nhỏ. Nó tóm tắt các trích giảng giáo lý Ki-tô giáo – và, Hồng Tú Toàn dễ dàng giải thích giấc mơ của mình dựa trên cuốn sách này. Rõ ràng người anh em trong giấc mơ của ông là Chúa Jesus, biến Hồng Tú Toàn thành người con Trung Hoa của Thiên Chúa. Ông và Chúa Jesus cùng xua đuổi quỷ dữ khỏi thiên đàng, nhưng giấc mơ dường như cũng có nghĩa là Thiên Chúa muốn Hồng Tú Toàn trục xuất chúng khỏi trần thế. Chắp vá giáo lý Ki-tô giáo với Nho giáo, Hồng Tú Toàn tuyên bố thành lập Thái Bình Thiên Quốc. Những nông dân giận dữ và đám cướp lũ lượt kéo đến dưới cờ hiệu của ông. Cho đến năm 1850, đội quân pha tạp của ông đã đánh bại các đạo quân triều đình hỗn loạn được điều đến tiêu diệt ông, rồi ông tuân theo ý Chúa bằng cách đưa ra những cải cách xã hội cấp tiến. Ông tái phân phối đất đai, xây dựng các quyền bình đẳng cho nữ giới, và cấm đoán tục bó chân đối với phụ nữ.
Vào đầu thập niên 1860, trong khi người Mỹ tàn sát lẫn nhau bằng pháo binh và súng trường (repeating rifle) trong cuộc chiến tranh hiện đại đầu tiên trên thế giới, thì người Trung Hoa cũng làm điều tương tự bằng gươm giáo trong cuộc chiến tranh truyền thống cuối cùng của thế giới. Về mức độ kinh hoàng thì kiểu cách truyền thống đã vượt xa kiểu cách hiện đại. Hai mươi triệu người chết, chủ yếu là do nạn đói và dịch bệnh, các nhà ngoại giao và tướng lĩnh phương Tây cũng tận dụng sự hỗn loạn này để lấn sâu hơn vào vùng Đông Á. Năm 1854, để tìm kiếm các cảng tiếp than giữa California và Trung Hoa, Phó Đề đốc Perry của Hải quân Mỹ ép buộc Nhật Bản phải mở thông các cảng biển. Năm 1858, Anh, Pháp, và Hoa Kỳ đạt được những nhượng bộ mới từ Trung Hoa. Hoàng đế Hàm Phong – do rất căm ghét bọn quỷ Tây dương đã hủy hoại phụ hoàng của ông, tức Hoàng đế Đạo Quang, và lại còn lợi dụng cuộc chiến giữa ông và Hồng Tú Toàn – đã cố tránh ký hiệp ước mới này, nhưng trong lúc Hàm Phong đang gặp khó khăn, chính phủ Anh và Pháp đã nắm cơ hội khiến ông không thể từ chối. Hai nước tiến quân về Bắc Kinh và Hàm Phong rút chạy trước về khu nghỉ dưỡng gần đó. Liên quân Anh-Pháp liền đốt trụi Di Hòa Viên xinh đẹp khiến ông hiểu ra họ có thể làm điều tương tự với Tử Cấm Thành nếu thấy thích, thế là Hàm Phong đầu hàng. Bị tổn thương thậm chí còn hơn cả phụ hoàng của mình, ông tiếp tục ở lại nơi ẩn náu, tránh luôn việc triều chính, đắm mình trong khói thuốc phiện và đám cung tần mỹ nữ. Chỉ một năm sau thì ông qua đời.
Hoàng thân Albert cũng trút hơi thở cuối cùng chỉ vài tháng sau cái chết của Hàm Phong. Dù đã tốn nhiều năm vận động để thuyết phục Chính phủ Anh rằng chính những cống rãnh tồi tàn ở London làm lây lan bệnh tật, Albert đã chết vì căn bệnh thương hàn lây lan qua đường cống rãnh thảm hại ở lâu đài Windsor. Đáng buồn hơn, Victoria – người cũng đam mê hệ thống ống nước hiện đại như Albert – đang ở trong phòng tắm khi ông qua đời. Mất đi tình yêu của đời mình, tính khí của Victoria càng trở nên thất thường hơn và ngày càng chìm đắm trong nỗi u sầu. Nhưng bà không hoàn toàn cô đơn. Những sĩ quan Anh tặng bà một con vật kỳ lạ đẹp đẽ nhất mà họ đã cướp đi từ Di Hòa Viên ở Bắc Kinh: một con chó giống Bắc Kinh. Bà đặt tên cho nó là Looty.
Chốt khóa
Tại sao lịch sử lại đi theo con đường dẫn Looty đến lâu đài Balmoral, rồi già đi ở đó cùng với Victoria thay vì đưa Albert đến Bắc Kinh để nghiên cứu Khổng Tử? Tại sao những tàu chiến của Anh lại ngược sông Dương Tử vào năm 1842 thay vì những con tàu Trung Hoa ngược dòng sông Thames? Hay nói thẳng ra, tại sao phương Tây lại vượt trội?
Việc dùng thuật ngữ phương Tây vượt trội nghe ra có vẻ hơi cường điệu; nhưng sau tất cả, dù chúng tôi định danh phương Tây như thế nào (tôi sẽ trở lại vấn đề này ở vài trang sau), người phương Tây không hoàn toàn nắm quyền quản trị thế giới từ những năm 1840, và thường thất bại trong việc thực hiện đường lối chính sách của họ. Nhiều người trong số chúng ta đã sống đủ lâu để nhớ lại cuộc tháo chạy nhục nhã khỏi Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) của người Mỹ vào năm 1975 và phương cách các nhà máy Nhật Bản đuổi cổ các đối thủ phương Tây khỏi thị trường vào những năm 1980. Thậm chí bây giờ nhiều người trong chúng ta có cảm giác rằng mọi vật dụng chúng ta mua đều được sản xuất ở Trung Hoa. Dù rõ ràng là trong khoảng 100 năm vừa qua, người phương Tây đã đưa quân đội tới châu Á, chứ không phải áp dụng cách thức gì khác. Các chính phủ vùng Đông Á đã va chạm với những học thuyết tư bản và cộng sản phương Tây, nhưng lại chưa có chính phủ phương Tây nào nghiên cứu cặn kẽ các học thuyết Khổng giáo hay Đạo giáo. Người phương Đông thường giao tiếp vượt qua các rào cản ngôn ngữ bằng tiếng Anh; người châu Âu thì ít khi làm như vậy bằng tiếng Quan Thoại hay Nhật Bản, như một luật sư Malaysia đã thẳng thắn nói với nhà báo Anh Martin Jacques: “Tôi đang mặc trang phục của các ông, nói ngôn ngữ của các ông, xem phim của các ông, kể cả hôm nay là ngày mấy đi nữa cũng theo lời các ông.”❖
Danh sách này còn có thể kéo dài. Kể từ khi những thần dân của Victoria cướp được chú chó Looty, phương Tây đã duy trì sự dẫn đầu toàn cầu vốn chưa có tiền lệ trong lịch sử.
Mục đích của tôi là giải thích điều này.
Thoạt nhìn, trông không giống như tôi đặt mình vào một nhiệm vụ quá đỗi khó khăn. Hầu như mọi người đều đồng ý rằng phương Tây vượt trội vì cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở đó chứ không phải ở phương Đông. Ở thế kỷ XVIII, những doanh nhân người Anh đã mở đầu cuộc cách mạng với năng lượng hơi nước và than đá. Nhà máy, đường sắt, và tàu chiến ban cho người châu Âu và người Mỹ ở thế kỷ XIX khả năng phóng chiếu sức mạnh trên toàn cầu; đến thế kỷ XX, máy bay, máy vi tính, và vũ khí hạt nhân lại cho phép con cháu họ củng cố sự thống lĩnh này.
Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là tất cả mọi thứ phải trở nên chính xác như vốn dĩ đã xảy ra. Nếu Đại tá Hải quân Elliot không ép buộc Huân tước Melbourne vào năm 1839, người Anh ắt hẳn đã không tấn công Trung Hoa vào cùng năm đó; nếu Khâm sai đại thần Lâm Tắc Từ quan tâm hơn đến việc phòng vệ bờ biển, người Anh có thể đã không thắng lợi một cách dễ dàng. Nhưng nó có ý nghĩa rằng ở thế kỷ XIX, bất kể khi nào có vấn đề xảy đến với một nhà lãnh đạo và bất kể người đó ngồi trên ngai vàng, thắng cử hay chỉ huy quân đội, thì phương Tây vẫn luôn thắng. Năm 1898, nhà thơ – nhà chính trị người Anh Hilaire Belloc đã tóm gọn điều này bằng hai câu:
Bất kể điều gì xảy ra, chúng ta đã có
súng máy Maxim, và họ thì không.❖
Và câu chuyện đến đây là hết.
Thế nhưng, tất nhiên đây không phải là kết thúc của câu chuyện. Nó chỉ gợi ra một câu hỏi mới: Tại sao phương Tây lại có súng Maxim trong khi phần còn lại của thế giới lại không có? Đây là câu hỏi đầu tiên tôi muốn giải quyết, bởi vì câu trả lời sẽ cho chúng ta biết lý do tại sao phương Tây vẫn còn dẫn đầu đến ngày nay; và, nếu câu trả lời được đáp ứng, chúng ta có thể đặt ra câu hỏi thứ hai. Một trong những lý do khiến người ta quan tâm về việc tại sao phương Tây vượt trội là họ muốn biết trong bao lâu và theo những phương cách nào mà sự thống lĩnh này còn tiếp diễn – có nghĩa là điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Câu hỏi này ngày càng trở nên cấp thiết khi thế kỷ XX đã qua đi, và Nhật Bản nổi lên như một cường quốc; và vào đầu thế kỷ XXI, điều này trở nên không thể tránh khỏi. Nền kinh tế Trung Hoa tăng trưởng gấp đôi về quy mô cứ mỗi 6 năm và sẽ có khả năng lớn nhất thế giới trước năm 2030. Khi tôi bắt đầu cuốn sách này, vào đầu năm 2010, hầu hết các nhà kinh tế đều đang kỳ vọng vào Trung Hoa chứ không phải Hoa Kỳ hay châu Âu, để tái khởi động guồng máy kinh tế thế giới. Trung Hoa đã tổ chức Thế vận hội 2008 hoành tráng và hai taikonaut (phi hành gia) Trung Hoa đã thực hiện những chuyến đi ra ngoài không gian. Trung Hoa và Bắc Triều Tiên đều có vũ khí hạt nhân, và các chiến lược gia phương Tây đều bận tâm về việc Hoa Kỳ sẽ tự điều chỉnh như thế nào với sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Hoa. Việc phương Tây còn tiếp tục ở đỉnh cao được bao lâu đang là một câu hỏi cấp bách.
Các sử gia chuyên nghiệp lại thường là những nhà tiên tri kém cỏi đến mức hầu hết đều từ chối nói về tương lai. Dù càng nghĩ nhiều về lý do phương Tây vượt trội, tôi càng nhận ra rằng sử gia không chuyên Winston Churchill đã nghiệm ra nhiều điều giỏi hơn phần lớn các sử gia chuyên nghiệp. Churchill nhấn mạnh: “Càng nhìn xa về quá khứ càng thấy được nhiều trong tương lai.”❖ Theo tinh thần này (ngay cả khi Churchill có thể không thích câu trả lời của tôi), tôi sẽ đề xuất rằng việc biết rõ tại sao phương Tây vượt trội sẽ cho chúng ta một khả năng phán đoán khá tốt về việc thế giới sẽ ra sao trong thế kỷ XXI.
Dĩ nhiên tôi không phải là người đầu tiên suy nghĩ về nguyên nhân tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới. Câu hỏi này đặt ra cách đây đến 250 năm rồi. Trước thế kỷ XVIII, câu hỏi này hiếm khi xuất hiện, bởi vì, thẳng thắn mà nói, nó không có ý nghĩa gì nhiều. Vào thế kỷ XVII, khi các học giả châu Âu bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về Trung Hoa, phần lớn đều cảm thấy kém cỏi trước sự cổ xưa và thông thái của phương Đông; và quả đúng thế, như một số ít học giả phương Đông chú ý đến phương Tây đã từng nói. Một số quan lại Trung Hoa ngưỡng mộ đồng hồ tinh xảo, đại bác hủy diệt, và niên lịch chính xác của người phương Tây, nhưng họ thấy không đáng phải tranh đua với đám ngoại quốc chẳng gây ấn tượng gì về các mặt khác. Nếu các hoàng đế Trung Hoa ở thế kỷ XVIII biết rằng các triết gia Pháp như Voltaire từng làm thơ tán dương họ, họ sẽ nghĩ rằng đó chính là những gì các triết gia Pháp nên làm.
Song gần như từ những khoảnh khắc đầu tiên mà các nhà máy làm vẩn đục bầu trời nước Anh bằng khói than, giới trí thức châu Âu nhận ra rằng họ đang gặp vấn đề. Nhưng khi những vấn đề này diễn ra, có một vấn đề không tệ lắm: Có vẻ như họ đang tiếp quản thế giới mà không biết lý do..
Các nhà cách mạng, phản kháng, lãng mạn, và những người theo chủ nghĩa hiện thực ở châu Âu điên cuồng lao đầu vào những suy luận về lý do tại sao phương Tây lại đang tiếp quản thế giới, làm sản sinh một loạt các linh cảm và lý thuyết khó hiểu. Phương cách tốt nhất để bắt đầu tìm hiểu tại sao phương Tây vượt trội, theo tôi, có thể là cách chúng thành hai trường phái tư duy rộng lớn mà tôi sẽ gọi là những lý thuyết chốt khóa dài hạn và ngẫu nhiên ngắn hạn. Hẳn nhiên, mọi ý tưởng không nhất thiết phải gắn kết một cách khéo léo vào một phe phái nào đó, nhưng sự phân chia này vẫn là một phương cách hữu ích để tập trung vào sự việc.
Ý tưởng nhất quán đằng sau các lý thuyết chốt khóa dài hạn là: từ thời xa xưa, một số nhân tố quyết định đã tạo khác biệt quá lớn, không thể thay đổi được giữa phương Đông và phương Tây, và khẳng định một điều rằng cuộc cách mạng công nghiệp sẽ xảy ra ở phương Tây. Những người theo lý thuyết dài hạn bất đồng dữ dội về việc đâu là nhân tố quyết định và thời điểm chúng bắt đầu vận hành. Một số nhấn mạnh đến các thế lực hữu hình, như khí hậu, địa hình, hay tài nguyên thiên nhiên, những người khác chỉ vào những vấn đề ít hữu hình hơn, như văn hóa, chính trị hay tôn giáo. Những người tán thành các thế lực hữu hình có khuynh hướng xem sự dài hạn như là một khoảng thời gian thực sự rất dài. Một số nhìn lùi lại 15.000 năm trước đó cho đến khi kết thúc Thời đại Băng hà; một số ít thậm chí còn nhìn lùi lại xa hơn nữa. Những người chú trọng đến văn hóa lại thường thấy sự dài hạn này ngắn hơn một chút, chỉ tính lùi lại từ cách đây 1.000 năm cho đến thời kỳ Trung cổ; hay cách đây 2.500 năm cho đến thời của nhà tư tưởng Hy Lạp Socrates và bậc hiền triết vĩ đại Khổng Tử của Trung Hoa. Nhưng một điều mà những người theo lý thuyết dài hạn có thể nhất trí là việc người Anh tấn công Thượng Hải vào những năm 1840 và người Mỹ buộc các bến cảng của Nhật Bản phải mở cửa vào thập niên kế tiếp chỉ đơn thuần là các tác nhân vô thức của một loạt những sự kiện đã được khởi động ở thiên niên kỷ trước đó. Một người theo thuyết dài hạn ắt sẽ cho rằng việc tôi bắt đầu cuốn sách này bằng một phạm trù tương phản giữa những kịch bản Albert-ở-Bắc-Kinh và Chó-Looty-ở-Balmoral chỉ là một việc ngớ ngẩn. Việc Nữ hoàng Victoria luôn chiến thắng là kết quả tất yếu không thể tránh khỏi. Nó đã được chốt khóa qua nhiều thế hệ vượt ngoài mọi tính toán.
Trong giai đoạn từ năm 1750 đến năm 1950, gần như tất cả các giải thích cho lý do tại sao phương Tây vượt trội chỉ là những biến thể của chủ đề lý thuyết chốt khóa dài hạn. Phiên bản phổ biến nhất cho rằng người châu Âu đơn giản có nền văn hóa cao hơn so với mọi dân tộc khác. Kể từ giai đoạn suy tàn của Đế quốc La Mã, hầu hết mọi người châu Âu đầu tiên và trước hết đều tự nhận mình là Ki-tô hữu, truy tìm gốc rễ của họ từ Tân Ước, nhưng để cố gắng giải thích tại sao phương Tây giờ đây đang thống lĩnh thế giới, một số học giả ở thế kỷ XVIII lại tưởng tượng ra một cội nguồn khác cho mình. Họ lập luận rằng 2.500 năm trước, người Hy Lạp cổ đại đã tạo ra một nền văn hóa độc đáo của lý tính, sáng tạo và tự do. Điều này đặt châu Âu vào một quỹ đạo khác biệt (tốt hơn) so với phần còn lại của thế giới. Họ thừa nhận phương Đông cũng có kiến thức riêng, nhưng truyền thống của nó quá rối rắm, quá bảo thủ, và quá trọng tôn ti trật tự nên không thể cạnh tranh với tư duy phương Tây. Nhiều người châu Âu kết luận rằng họ đang chinh phục mọi dân tộc khác vì nền văn hóa đã khiến họ làm điều đó.
Vào năm 1900, các học giả phương Đông, do đấu tranh để chấp nhận ưu thế về kinh tế và quân sự của phương Tây, thường dựa dẫm vào lý thuyết này, mặc dù bị lệch lạc. Trong vòng 20 năm kể từ khi Phó Đề đốc Perry tiến vào Vịnh Tokyo, phong trào Văn minh và Khai sáng bùng phát đã du nhập các tác phẩm kinh điển của Thời kỳ Khai sáng Pháp và chủ nghĩa tự do ở Anh vào Nhật Bản, đồng thời chủ trương việc đuổi kịp phương Tây thông qua chế độ dân chủ, tổ chức công nghiệp và giải phóng phụ nữ. Một số thậm chí còn muốn dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ quốc gia. Vấn đề mà các học giả như Fukuzawa Yukichi theo đuổi vào những năm 1870 mang tính dài hạn: Trung Hoa vốn đã là nguồn gốc của đa phần nền văn hóa Nhật Bản, và Trung Hoa đã sai lầm quá đỗi từ xa xưa dẫn đến hậu quả Nhật Bản vẫn chỉ ở tình trạng bán văn minh. Tuy nhiên, trong khi vấn nạn là dài hạn, thì Fukuzawa lập luận rằng nó vẫn không bị chốt khóa, chỉ cần khước từ Trung Hoa, Nhật Bản có thể trở nên văn minh hoàn toàn.
Các học giả Trung Hoa, ngược lại, không có ai để khước từ ngoại trừ việc từ bỏ chính họ. Trong những năm 1860, phong trào Tự Cường khởi phát, cho rằng các truyền thống của Trung Hoa về mặt nền tảng vẫn còn giá trị đúng đắn, Trung Hoa chỉ cần đóng vài tàu hơi nước và mua một số súng đạn ngoại quốc là đủ. Điều này hóa ra là một sai lầm. Năm 1895, một quân đội Nhật Bản hiện đại hóa đã bất ngờ hành quân táo bạo, ập vào một pháo đài của Trung Hoa, thu giữ hết súng ống nước ngoài, và chất lên các tàu hơi nước của Trung Hoa. Vấn đề rõ ràng sâu xa hơn việc có được vũ khí hiện đại. Vào năm 1900, học giả Trung Hoa lại đi theo con đường của Nhật Bản, dịch sách phương Tây bàn về sự tiến hóa và kinh tế. Cũng như Fukuzawa, họ kết luận rằng sự dẫn đầu của phương Tây là lâu dài nhưng không chốt khóa; nếu khước từ quá khứ của mình, Trung Hoa cũng có thể bắt kịp phương Tây.
Nhưng một số người theo thuyết phương Tây dẫn đầu thế giới lâu dài lại nghĩ rằng phương Đông không thể làm gì khác. Họ tuyên bố rằng chính văn hóa làm phương Tây trở nên vượt trội, nhưng điều này vẫn không phải là lời giải thích tối hậu cho sự vượt trội của phương Tây, bởi vì văn hóa tự thân cũng có những căn nguyên hữu hình. Một số người lại tin rằng do phương Đông quá nóng hay gánh chịu nhiều bệnh tật khiến họ không thể phát triển một nền văn hóa sáng tạo như phương Tây; hoặc có thể do dân số phương Đông quá đông đúc dẫn đến tiêu thụ hết toàn bộ sản phẩm thặng dư, khiến mức sống thấp kém và kiềm hãm những nhân tố tự do, tiên tiến như trong một xã hội phương Tây đang trỗi dậy.
Những lý thuyết chốt khóa dài hạn xuất hiện ở đủ màu sắc chính trị, nhưng phiên bản của Karl Marx là quan trọng và có ảnh hưởng nhất. Chính trong thời điểm đạo quân Anh giải phóng cho chú chó Looty, Marx – sau đó đảm nhận một chuyên mục về Trung Hoa cho tờ New York Daily Tribune – cho rằng chính trị là yếu tố thực sự cố định sự vượt trội của phương Tây. Ông tuyên bố rằng trong hàng nghìn năm, các quốc gia phương Đông theo trung ương tập quyền có sức mạnh đến nỗi họ đã khiến dòng chảy lịch sử chững lại. Còn châu Âu đã tiến triển từ thời cổ đại thông qua chế độ phong kiến đến chủ nghĩa tư bản, và các cuộc cách mạng vô sản sẽ mở đường cho chủ nghĩa cộng sản, nhưng phương Đông lại bị cô lập trong khối hổ phách của chủ nghĩa độc tài đồng thời không thể chia sẻ với quỹ đạo tiến bộ của phương Tây. Và khi lịch sử không diễn ra chính xác như những gì Marx đã tiên đoán, những người cộng sản sau này (đặc biệt là Lenin và các môn đệ) đã cải biên các lý thuyết của ông bằng cách tuyên bố rằng một tầng lớp tiên phong cách mạng có thể lay chuyển phương Đông ra khỏi giấc ngủ cổ xưa của nó. Những người theo học thuyết Lenin nhấn mạnh rằng điều này chỉ xảy ra khi xã hội lỗi thời cũ kỹ bị phá hủy hoàn toàn bằng mọi giá.
Ngay trong thế kỷ XX, một điệu nhảy phức tạp tiếp tục diễn ra ở phương Tây khi các nhà sử học phát hiện những sự kiện dường như không phù hợp với các câu chuyện chốt khóa dài hạn, và những người theo thuyết chốt khóa dài hạn lại phải điều chỉnh lý thuyết của mình để thích ứng với chúng. Chẳng hạn, hiện nay không ai tranh cãi rằng khi thời kỳ khai phá bằng đường thủy của châu Âu vừa mới bắt đầu, thì ngành hàng hải của Trung Hoa đã tiến xa hơn rất nhiều, các thủy thủ Trung Hoa đã biết đến bờ biển Ấn Độ, Ả Rập, Đông Phi, và có lẽ cả Australia nữa.⦾ Khi vị Đô đốc thái giám Trịnh Hòa (Zheng He) thực hiện chuyến hải hành từ Nam Kinh đến Sri Lanka vào năm 1905, ông dẫn theo đến gần 300 tàu. Có những chiếc tàu chở nước uống và những tàu chở châu báu đồ sộ với bánh lái tiên tiến, khoang kín nước và các thiết bị tín hiệu tinh xảo. Trong số 27.000 thủy thủ của ông có đến 180 thầy thuốc. Ngược lại, khi Christopher Columbus xuất phát từ Cadiz năm 1492, ông chỉ đem theo 90 người trên ba con tàu. Lượng choán nước con tàu lớn nhất của ông chỉ bằng 1/30 tàu của Trịnh Hòa; với chiều dài khoảng 26m nó còn ngắn hơn cột buồm chính và chỉ gấp đôi bánh lái con tàu của Trịnh Hòa. Columbus không có tàu chở nước ngọt và không có vị thầy thuốc đúng nghĩa nào cả. Trịnh Hòa có la bàn nam châm và biết khá rõ về Ấn Độ Dương đủ để hoàn chỉnh một hải đồ dài 6,5m; trong khi đó Columbus hầu như còn chưa biết mình đang ở đâu, nói gì đến chuyện đang đi đâu.
Điều này có thể gây ra sự lúng túng cho những người cho rằng sự vượt trội của phương Tây đã chốt khóa trong quá khứ xa xôi, nhưng một số cuốn sách quan trọng lại cho rằng Trịnh Hòa rốt lại cũng phù hợp với các lý thuyết tất định dài hạn: chúng ta chỉ cần các phiên bản phức tạp hơn. Chẳng hạn, trong cuốn sách đầy ấn tượng của nhà kinh tế học David Landes The Wealth and Poverty of Nations (Sự giàu và nghèo của các quốc gia), ông nhắc lại ý tưởng cho rằng bệnh tật và nhân khẩu học luôn ban tặng châu Âu một nguồn sinh khí quyết định vượt trội so với Trung Hoa, nhưng thêm vào một bước phát triển mới khi cho rằng chính dân số đông đúc đã ưu đãi chính quyền theo trung ương tập quyền của Trung Hoa đồng thời cũng làm giảm thiểu những động cơ của các nhà cai trị nhằm khai thác các chuyến hải hành của Trịnh Hòa. Do không có đối thủ, nên hầu hết các hoàng đế Trung Hoa bận tâm nhiều hơn đến việc làm thế nào để công việc buôn bán làm giàu cho những tầng lớp vốn có thể gây phiền phức cho họ, như các thương gia chẳng hạn, thay vì làm giàu cho bản thân; và bởi vì nhà nước có quyền lực vô cùng, nên có thể họ đã dập đi thói quen đáng ngại này. Vào những năm 1430, họ ban lệnh cấm những cuộc hải hành trên đại dương, và vào thập niên 1970 có khả năng hoàng đế Trung Hoa cho tiêu hủy hồ sơ về Trịnh Hòa, chấm dứt thời kỳ thám hiểm quy mô của người Trung Hoa.
Nhà sinh vật và địa lý Jared Diamond cũng đưa ra một trường hợp tương tự trong tác phẩm kinh điển của ông: Guns, Germs and Steel (Súng, Vi trùng và Thép). Mục đích chính của ông là giải thích lý do tại sao chính những xã hội nằm trong chuỗi vĩ độ chạy từ Trung Hoa đến biển Địa Trung Hải lại hình thành những nền văn minh đầu tiên, nhưng ông cũng đề xuất rằng châu Âu, chứ không phải Trung Hoa, giữ vai trò thống lĩnh trong thế giới hiện đại do các bán đảo châu Âu tạo điều kiện dễ dàng cho các vương quốc nhỏ chống lại những kẻ có mưu đồ chinh phục và tạo thuận lợi cho sự phân rã chính trị, trong khi vùng duyên hải tròn trịa hơn của Trung Hoa lại tạo thuận lợi cho các nhà cai trị trung ương chế ngự người đứng đầu các địa phương. Sự thống nhất chính trị từ căn nguyên cho phép các hoàng đế Trung Hoa ở thế kỷ XV cấm đoán các chuyến viễn du kiểu chuyến đi của Trịnh Hòa.
Ngược lại, ở một châu Âu bị chia cắt, lần lượt các vương triều có thể từ chối đề xuất điên rồ của Columbus, nhưng ông vẫn còn tìm thấy một nơi khác để kêu cầu. Chúng ta có thể suy đoán rằng nếu Trịnh Hòa có nhiều lựa chọn như Columbus, Hernán Cortés có thể đã gặp một viên đại thần Trung Hoa ở Mexico vào năm 1519 chứ không phải vị vua Montezuma bất hạnh. Nhưng theo các lý thuyết chốt khóa dài hạn, những thế lực tự nhiên như bệnh tật, nhân khẩu và địa lý đã bác bỏ khả năng đó.
Thời gian gần đây, mặc dù các chuyến đi của Trịnh Hòa và những sự kiện khác bắt đầu gây ấn tượng với một số người nhưng cũng quá vụng về khi gắn kết chúng với những mô hình dài hạn. Năm 1905, Nhật Bản đã cho thấy rằng các quốc gia phương Đông cũng có thể cạnh tranh rất tốt với người châu Âu trên chiến trường qua việc đánh bại Đế quốc Nga. Vào năm 1942, Nhật Bản hầu như quét sạch các cường quốc phương Tây khỏi Thái Bình Dương, rồi sau đó, hồi phục sau thất bại thảm hại năm 1945, chuyển hướng để trở thành một cường quốc kinh tế. Như chúng ta đều biết, kể từ năm 1978, Trung Hoa cũng đi theo con đường tương tự. Năm 2006, Trung Hoa loại bỏ Hoa Kỳ khỏi ngôi vị là nước phát thải carbon lớn nhất thế giới, thậm chí trong những ngày đen tối nhất của cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, nền kinh tế Trung Hoa vẫn tăng trưởng với tốc độ mà các chính phủ phương Tây, dù có nằm ở giai đoạn phát triển tốt nhất, cũng phải ganh tị. Có lẽ chúng ta cần phải vứt bỏ câu hỏi cũ xưa và nên đặt ra một câu hỏi mới: không phải tại sao phương Tây vượt trội, mà liệu phương Tây có vượt trội hay không. Nếu câu trả lời là không, thì những lý thuyết chốt khóa dài hạn để tìm kiếm những giải thích xưa cũ cho một sự vượt trội của phương Tây thực sự không tồn tại lại có vẻ vô nghĩa.
Kết quả của những điểm bấp bênh trên đây là một số sử gia phương Tây đã phát triển một lý thuyết hoàn toàn mới giải thích lý do tại sao phương Tây thường xuyên vượt trội nhưng giờ đây đã ngừng lại. Tôi gọi đây là mô hình ngẫu nhiên ngắn hạn. Các lập luận ngắn hạn có xu hướng phức tạp hơn các lập luận dài hạn, và có những bất đồng gay gắt trong lĩnh vực này. Nhưng có một điều khiến tất cả những người theo xu thế mô hình ngắn hạn này đều đồng ý, đó là việc khá nhiều điều mà những người theo học thuyết dài hạn phát biểu là sai lầm. Phương Tây đã không được chốt khóa vào sự thống lĩnh toàn cầu kể từ quá khứ xa xôi; chỉ sau năm 1800, vào đêm trước cuộc Chiến tranh Nha phiến, phương Tây mới tạm thời đi trước phương Đông, và thậm chí điều này đa phần cũng là do ngẫu nhiên; và kịch bản Hoàng thân Albert ở Bắc Kinh không phải là điều vớ vẩn. Nó đã có thể dễ dàng xảy ra.
Gặp may
Hạt Orange tại California được biết đến với nền chính trị bảo thủ, những hàng cọ tỉa tót và công dân danh dự John Wayne (sân bay địa phương được đặt theo tên ông, mặc dù ông không thích phi cơ bay ngang sân golf của mình) hơn là những học bổng cấp tiến, nhưng vào thập niên 1990 nó đã trở thành cái nôi của những lý thuyết ngẫu nhiên ngắn hạn trong lịch sử thế giới. Hai sử gia (Vương Quốc Bân và Kenneth Pomeranz) và một nhà xã hội học (Vương Phong [Wang Feng]) của trường Irvine⦾ thuộc Đại học California đã viết những tác phẩm mang tính bước ngoặt cho rằng mọi điều đập vào mắt chúng ta – hệ sinh thái hay cấu trúc gia đình, công nghệ và công nghiệp hay tài chính và tổ chức, mức sống hay thị hiếu người tiêu dùng – với họ thì những tương đồng giữa Đông và Tây đều có ảnh hưởng nhiều hơn so với những khác biệt vào cuối thế kỷ XIX.
Nếu luận cứ của họ là đúng thì thật khó giải thích tại sao chú chó Looty đến London thay vì Hoàng thân Albert phải đi về phương Đông. Một số lý thuyết gia ngắn hạn, như Andre Gunder Frank, nhà kinh tế học độc lập (người đã viết hơn 30 cuốn sách về mọi thứ, từ thời tiền sử đến nền tài chính Mỹ Latin) cho rằng phương Đông thích hợp diễn ra một cuộc cách mạng công nghiệp hơn là phương Tây nhưng rồi những biến cố đã xen vào. Frank kết luận châu Âu đơn giản chỉ là một bán đảo xa xôi trong một trật tự thế giới tập trung vào Trung Hoa.❖ Trong nỗi tuyệt vọng không thể tiếp cận thị trường châu Á, nơi giàu có thực sự, người châu Âu từ 1.000 năm trước đã cố xuyên thủng vùng Trung Đông bằng các cuộc Thập tự chinh. Khi chiến tranh không giải quyết được vấn đề, một số người, như Columbus đã phải dong thuyền về phía tây tìm đến Cathay (Trung Hoa).
Điều đó cũng không thành công do châu Mỹ ngáng trở, nhưng theo quan điểm của Frank, chính sự nhầm lẫn của Columbus đã đánh dấu một khởi đầu cho sự thay đổi vị trí của châu Âu trong hệ thống thế giới. Vào thế kỷ XVI, nền kinh tế Trung Hoa đang bùng nổ nhưng phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt bạc. Trong khi đó châu Mỹ lại thừa thãi bạc; do đó, người châu Âu đã đáp ứng nhu cầu của Trung Hoa bằng cách bắt người bản địa ở châu Mỹ đào bới một lượng lớn kim loại quý, đến 150.000 tấn, từ vùng núi non ở Peru và Mexico. Một phần ba số bạc này có đích đến là Trung Hoa. Bạc, sự tàn bạo và chế độ nô lệ đã mua cho phương Tây “một chỗ ngồi hạng ba trên chuyến tàu kinh tế châu Á,” theo lời Frank, nhưng vẫn còn nhiều điều cần phải xảy đến trước khi phương Tây có thể “hất cẳng người châu Á ra khỏi đầu máy.”
Frank nghĩ rằng sự trỗi dậy của phương Tây nhìn chung ít dựa vào tính chủ động của người châu Âu mà là do sự suy thoái ở phương Đông sau năm 1750. Ông tin rằng việc này bắt đầu khi nguồn cung bạc dần trở nên eo hẹp. Điều này đã tạo ra những cuộc khủng hoảng chính trị ở châu Á nhưng đồng thời lại là một tác nhân kích thích mạnh mẽ ở châu Âu, khi thiếu hụt bạc để xuất khẩu, người châu Âu đã cơ giới hóa ngành công nghiệp để tạo ra hàng hóa thay vì bạc để cạnh tranh ở các thị trường châu Á. Frank lập luận rằng việc dân số gia tăng sau năm 1750 cũng gây ra những kết quả khác nhau ở mỗi đầu hai châu lục này, gây ra sự phân cực về mức độ giàu có, khủng hoảng chính trị, và ngăn chặn những đổi mới ở Trung Hoa, đồng thời chỉ cung cấp lao động giá rẻ cho các nhà máy mới ở Anh. Khi phương Đông phân rã thì phương Tây lại thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp mà đáng lẽ phải xảy ra ở Trung Hoa; nhưng vì nó xảy ra ở Anh quốc nên phương Tây mới kế thừa cả thế giới.
Dù vậy, những người theo thuyết ngắn hạn khác lại không đồng ý. Nhà xã hội học Jack Goldstone (có dạy một số năm ở trường Davis thuộc Đại học California và đặt ra danh xưng trường phái California để mô tả những lý thuyết gia theo thuyết ngắn hạn) cho rằng mãi đến năm 1600, phương Đông và phương Tây cơ bản là sung túc (hay nghèo nàn) như nhau, mỗi châu lục đều được thống lĩnh bởi các đế chế nông nghiệp lớn với các giai cấp tăng lữ phức tạp chuyên bảo vệ truyền thống xưa cũ. Ở khắp mọi nơi, từ Anh quốc đến Trung Hoa, dịch bệnh, chiến tranh và việc soán ngôi của các triều đại đã đưa các xã hội này đến bờ vực sụp đổ vào thế kỷ XVII, nhưng trong khi hầu hết các đế chế này phục hồi và tái áp đặt những tư tưởng chính thống nghiêm khắc, những người theo đạo Tin Lành ở phía Tây Bắc châu Âu đã phản ứng lại các truyền thống Công giáo.
Chính hành động phản ứng này, theo Goldstone, đã đẩy phương Tây đến con đường hướng về cuộc cách mạng công nghiệp. Thoát khỏi những câu thúc của hệ tư tưởng xưa cũ, các nhà khoa học châu Âu đã mổ xẻ những cách vận hành của sức mạnh tự nhiên hiệu quả đến mức các doanh nghiệp Anh, được chia sẻ về những khám phá mở mang thực dụng này, đã ứng dụng đưa than và hơi nước vào công việc. Đến năm 1800, phương Tây đã nhanh chóng bứt lên phía trước so với phần còn lại của thế giới.
Goldstone cho rằng điều này hoàn toàn không tất định, và trên thực tế, một vài sự kiện có thể đã làm thay đổi hoàn toàn thế giới. Chẳng hạn trong trận sông Boyne năm 1690, nếu một viên đạn súng hỏa mai của phe Công giáo xé toạc qua vai chiếc áo khoác của William xứ Orange⦾, người theo đạo Tin Lành yêu sách ngai vàng nước Anh. “May là viên đạn không bắn gần hơn,”❖ câu này được gán cho William; Goldstone cho rằng nếu viên đạn bắn ra thấp xuống vài centimet thì nước Anh có thể vẫn theo Công giáo, Pháp sẽ thống lĩnh châu Âu và có khả năng cuộc cách mạng công nghiệp đã không xảy ra.
Kenneth Pomeranz ở trường Irvine còn đi xa hơn. Theo nhìn nhận của ông, cuộc cách mạng công nghiệp chỉ là một sự may mắn. Ông lập luận rằng khoảng năm 1750, phương Đông và phương Tây đang hướng đến thảm họa sinh thái. Dân số tăng nhanh hơn công nghệ và mọi người thực hiện gần như mọi thứ có thể để mở rộng và đẩy mạnh nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa trong khu vực và tái tổ chức công việc. Họ hầu như đã đạt đến ngưỡng tới hạn của nền công nghệ và có đủ mọi lý do để chờ đợi sự suy thoái toàn cầu và suy giảm dân số vào các thế kỷ XIX và XX.
Tuy nhiên, trong 200 năm qua lại chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn tất cả lịch sử trước đây cộng lại. Pomeranz giải thích lý do này trong cuốn The Great Divergence (Sự phân rẽ vĩ đại), rằng Tây Âu, và trên tất cả là nước Anh, chỉ nhờ vào vận may. Cũng như Frank, Pomeranz nhận thấy sự may mắn của phương Tây bắt đầu bằng việc tình cờ phát hiện châu Mỹ, giúp tạo ra một hệ thống thương mại, tạo động cơ cho việc công nghiệp hóa sản xuất; nhưng khác với Frank, ông cho rằng mãi đến năm 1800 vận may của châu Âu vẫn có thể không xảy ra. Pomeranz chỉ ra rằng, để trồng đủ cây cung cấp cho các động cơ hơi nước thô sơ đốt bằng gỗ ở Anh – trên thực tế phải cần đến không gian rộng lớn hơn cả vùng Tây Âu. Nhưng điều may mắn thứ hai đã can thiệp vào: trên toàn thế giới chỉ duy nước Anh có được những mỏ than nằm ở vị trí thuận lợi cũng như nhanh chóng cơ giới hóa các ngành công nghiệp. Vào năm 1840, người Anh đã áp dụng các máy móc chạy bằng than trong mọi lĩnh vực hoạt động đời sống, bao gồm các tàu chiến vỏ sắt có thể bắn phá dọc thủy lộ ngược sông Dương Tử. Nước Anh đúng ra phải đốt thêm 15 triệu hecta đất rừng mỗi năm – số lượng không thể có được – nếu không xuất hiện nguồn năng lượng từ than đá. Cuộc cách mạng nhiên liệu hóa thạch đã bắt đầu và thảm họa sinh thái được ngăn chặn (hay ít nhất cũng được trì hoãn đến thế kỷ XXI), và phương Tây đột nhiên, bất chấp xung đột, thống lĩnh toàn cầu. Ở đây không có sự tất định dài hạn mà tất cả chỉ là một sự cố bất thường mới xảy ra.
Sự bất đồng của những giải thích ngắn hạn về cuộc cách mạng công nghiệp phương Tây, trải từ thuyết may mắn giúp ngăn chặn thảm họa toàn cầu của Pomeranz đến lý thuyết thay đổi nhất thời trong phạm vi một nền kinh tế thế giới mở rộng của Frank, xét về đại thể thì cũng có sự phân cách rộng lớn, cũng như giữa Jared Diamond và Karl Marx ở lý thuyết dài hạn. Tuy nhiên, đối với tất cả các tranh cãi giữa hai trường phái, chính những chiến tuyến vạch ra giữa họ đã tạo ra các lý thuyết đối kháng rõ ràng nhất về cách vận hành của thế giới. Một số lý thuyết gia theo thuyết dài hạn cho rằng những người theo chủ nghĩa xét lại đơn thuần chỉ bán rong mặt hàng uyên bác giả tạo, thứ phẩm về mặt chính trị; trong khi một số lý thuyết gia theo thuyết ngắn hạn trả đũa rằng những người theo thuyết dài hạn chỉ là những kẻ ủng hộ phương Tây hay thậm chí là những kẻ phân biệt chủng tộc.
Sự việc nhiều chuyên gia đi đến những kết luận cực kỳ khác nhau đến thế cho thấy đã có một điều gì đó không đúng trong cách chúng ta tiếp cận vấn đề. Trong cuốn sách này, tôi sẽ đưa ra luận điểm rằng những lý thuyết gia theo thuyết dài hạn cũng như ngắn hạn đã hiểu lầm dạng hình của lịch sử và do đó chỉ đạt được những kết quả riêng rẽ và mâu thuẫn. Tôi tin những gì chúng ta cần có là một cách nhìn khác.
Dạng hình của lịch sử
Quan điểm của tôi ở đây là những người theo thuyết dài hạn và ngắn hạn đều đồng ý rằng phương Tây đã dẫn đầu toàn thế giới trong 200 năm qua, nhưng lại không đồng ý với những gì thế giới đã từng kinh qua trước đó. Mọi việc đều xoay quanh những đánh giá khác nhau về lịch sử tiền hiện đại. Cách duy nhất chúng ta có thể giải quyết bất đồng là hãy cứ xem xét các thời kỳ trước đó để thiết lập dạng hình tổng thể của lịch sử. Chỉ khi đó, với việc thiết lập chuẩn mực giá trị, chúng ta mới có thể tranh luận hiệu quả về việc tại sao mọi điều lại xảy ra như thế.
Tuy nhiên, hầu như đây là một điều không ai có vẻ muốn thực hiện. Hầu hết những chuyên gia bàn về lý do tại sao phương Tây lại vượt trội đều có nền tảng học thuật về kinh tế học, xã hội học, chính trị hay lịch sử hiện đại; về cơ bản, họ là những chuyên gia về các sự kiện hiện tại hoặc gần đây. Họ có xu hướng tập trung vào một vài thế hệ gần nhất, xem xét chỉ trong vòng 500 năm và nhận xét lịch sử trước đó một cách khái quát, và nếu có chăng nữa – thì liệu vấn đề chính đang tranh cãi là các nhân tố tạo ra sự vượt trội của phương Tây đã xuất hiện vào những giai đoạn sớm hơn hay đột ngột xuất hiện ở thời hiện đại.
Một số ít các nhà tư tưởng tiếp cận vấn đề này rất khác biệt, họ chỉ tập trung vào thời tiền sử xa xưa rồi nhảy thẳng vào thời đại mới trong khi đề cập rất ít về khoảng thời gian mấy nghìn năm ở giữa. Nhà địa lý học-sử học Alfred Crosby làm rõ hơn những gì mà các học giả này cho là hiển nhiên – rằng phát kiến nông nghiệp thời tiền sử rất quan trọng, nhưng “đã 4.000 năm qua đi kể từ thời kỳ đó đến thời điểm phát triển của các xã hội đã đưa Columbus và những nhà thám hiểm khác vượt đại dương, và trong suốt khoảng thời gian đó ít có điều gì quan trọng nảy sinh so với những gì đã xảy ra trước đó.”❖
Tôi nghĩ điều này là nhầm lẫn. Chúng ta sẽ không tìm được giải đáp nếu chỉ giới hạn việc tìm kiếm vào thời tiền sử hoặc thời hiện đại (tôi cũng phải nói thêm là sẽ không tìm thấy chúng nếu chỉ giới hạn bản thân trong khoảng bốn hoặc năm thiên niên kỷ ở giữa). Vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải xem xét toàn bộ lịch sử nhân loại như là một câu chuyện xuyên suốt, thiết lập dạng hình tổng thể của nó trước khi thảo luận lý do tại sao nó có dạng hình đó. Đây là những gì tôi cố gắng thực hiện ở cuốn sách này, bằng cách sử dụng những phương thức hơi khác biệt.
Tôi được đào tạo thành một nhà khảo cổ và sử học về thời kỳ cổ đại, chuyên ngành Địa Trung Hải cổ đại ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Khi tôi bắt đầu vào Đại học Birmingham ở Anh vào năm 1978, hầu hết các học giả chuyên về Hy Lạp cổ đại mà tôi thường tiếp xúc đều thấy hoàn toàn yên tâm với lý thuyết dài hạn cũ kỹ, cho rằng nền văn hóa do người Hy Lạp cổ tạo ra cách đây 2.500 năm trước đã tôi luyện nên lối sống riêng biệt của phương Tây. Một số người trong số đó (chủ yếu là những người lớn tuổi) thậm chí còn nói thẳng rằng chính truyền thống Hy Lạp đã làm cho phương Tây nổi trội hơn phần còn lại của thế giới.
Tôi vẫn nhớ là ở thời điểm đó điều này không làm tôi thắc mắc chút nào mãi cho đến khi tôi bắt đầu làm nghiên cứu sinh sau đại học tại Đại học Cambridge đầu những năm 1980 về chủ đề nguồn gốc của các thành bang Hy Lạp. Điều này giúp tôi tiếp xúc nhiều với các nhà khảo cổ thuộc nhân học ở nhiều nơi trên thế giới vốn cũng đang có những nghiên cứu tương tự. Họ thường cười cợt quan điểm kỳ quặc cho rằng văn hóa Hy Lạp là độc nhất vô nhị và khai mở cho một truyền thống phương Tây dân chủ và duy lý. Như mọi người thường mắc phải, trong nhiều năm đầu óc tôi luôn bị giằng co giữa hai quan niệm mâu thuẫn: một mặt, xã hội Hy Lạp phát triển theo cùng đường lối với các xã hội cổ đại khác; mặt kia, nó khởi phát một quỹ đạo riêng biệt cho phương Tây.
Hành động giữ cân bằng này trở nên khó khăn hơn khi tôi đảm nhiệm vị trí giảng viên đầu tiên tại Đại học Chicago vào năm 1987. Ở đó, tôi dạy chương trình Lịch sử Văn minh phương Tây, trải rộng từ thời Athens cổ đại đến (sau cùng là) chủ nghĩa cộng sản. Để trụ lại, dù chỉ một ngày trước đám sinh viên của mình, tôi phải đọc tài liệu về lịch sử châu Âu thời Trung cổ và hiện đại nhiều hơn so với trước đây, và không thể không thấy rằng trong một thời gian dài khái niệm tự do, lý tính và sáng tạo được cho là từ Hy Lạp trao truyền lại cho phương Tây được tôn vinh theo kiểu vi phạm hơn là tuân thủ. Để làm rõ điều này, tôi phát hiện mình đang nhìn vào những lát cắt càng lúc càng rộng lớn về quá khứ của loài người. Tôi lấy làm ngạc nhiên về những tương quan giữa trải nghiệm được cho là độc đáo của phương Tây và lịch sử các khu vực khác trên thế giới, trên hết là những nền văn minh lớn ở Trung Hoa, Ấn Độ và Iran.
Các giáo sư thường không thích thú gì công việc hành chính, nhưng khi chuyển đến Đại học Stanford vào năm 1995, tôi nhanh chóng hiểu được rằng việc phục vụ trong các ủy ban có thể là một cách tuyệt vời để tìm ra những gì đang diễn tiến bên ngoài lĩnh vực hạn hẹp của mình. Từ đó, tôi nhận điều hành Viện Lịch sử – Khoa học Xã hội và Trung tâm Khảo cổ thuộc trường đại học, chủ trì Ban Văn minh Hy-La Cổ đại kiếm khoa trưởng trường Cao đẳng Nhân văn và Khoa học đồng thời điều hành một cuộc khai quật khảo cổ lớn – tất cả đều dính dáng đến công việc giấy tờ kèm theo sự nhức đầu triền miên, nhưng đồng thời trách nhiệm cũng cho phép tôi tiếp xúc được nhiều chuyên gia trong mọi lĩnh vực, từ di truyền học đến phê bình văn học, điều này có thể liên quan đến việc giải đáp lý do tại sao phương Tây lại thống lĩnh thế giới.
Tôi đã học hỏi được một điều quan trọng: để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần một phương pháp tiếp cận rộng rãi, kết hợp sự tập trung của nhà sử học vào bối cảnh, nhận thức của nhà khảo cổ về cội nguồn quá khứ, và các phương pháp đối sánh của nhà khoa học xã hội. Chúng ta có thể tạo được sự kết hợp này bằng cách tập hợp một đội ngũ các chuyên gia đa ngành, góp nhặt ý kiến chuyên môn sâu rộng thông qua nhiều lĩnh vực khác nhau, và đó chính là những gì tôi đã làm khi bắt đầu chỉ đạo khai quật khảo cổ ở Sicily. Tôi không biết nơi nào đủ kỹ năng về thực vật học để làm phân tích carbon những hạt giống tìm thấy, về động vật học để xác định xương động vật, về hóa học để làm rõ các tạp chất sót lại trong các lu vại, về địa chất để tái tạo các quá trình hình thành cảnh quan hay về một số lĩnh vực thuộc những chuyên ngành không thể thiếu khác, do đó tôi phải tìm đến các chuyên gia. Một người điều hành khai quật là một dạng ông bầu về học thuật, quy tụ các nghệ sĩ tài năng cho cuộc trình diễn.
Đó là phương cách tốt để tạo ra một báo cáo khai quật mà mục tiêu là để sắp xếp dữ liệu cho những người khác sử dụng, nhưng sách vở do một hội đồng biên soạn thường có mặt yếu kém hơn trong việc triển khai những giải đáp thống nhất cho các vấn nạn lớn. Do đó, trong cuốn sách bạn đang đọc, tôi chọn một phương cách tiếp cận theo nguyên tắc liên ngành chứ không phải đa ngành. Thay vì là tay súng canh phòng (riding shotgun) của một nhóm chuyên gia, tôi tự mình kết nối và diễn giải những phát hiện của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Làm công việc này gặp phải đủ loại nguy cơ (thiển cận, thiên vị, và sai lầm phổ biến). Tôi sẽ không bao giờ có được sự hiểu biết tinh tế về văn hóa Trung Hoa như một người dành hết cuộc đời đọc các bản thảo thời Trung cổ, hay cập nhật sự tiến hóa của loài người như một nhà di truyền học (tôi được biết rằng trung bình cứ 13 giây, Tạp chí Science lại cập nhật trang web của mình một lần, trong khi gõ câu này có lẽ tôi đã rớt lại phía sau rồi). Nhưng mặt khác, những người chỉ nằm trong phạm vi ngành học của mình sẽ không bao giờ nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh. Mẫu thức liên ngành với chỉ một tác giả có lẽ là phương cách tệ nhất để viết ra một cuốn sách như thế này – ngoại trừ tất cả những cách khác; nhưng đối với tôi, chắc chắn đây là cách tốt nhất để đạt được mục đích, tuy vậy các bạn cũng sẽ phải đánh giá từ kết quả xem tôi có đúng không.
Vậy kết quả là gì? Trong cuốn sách này tôi đưa ra biện giải lý do phương Tây vượt trội chính là vấn đề mà tôi gọi là phát triển xã hội. Theo đó, ý của tôi là chính năng lực xã hội đã để mọi việc diễn ra – để định hình các môi trường quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội và tri thức cho cùng đích của chúng. Trở lại thế kỷ XIX và XX, các nhà nghiên cứu phương Tây hầu như chấp nhận rằng phát triển xã hội là một điều hiển nhiên. Phát triển chính là tiến bộ (hay tiến hóa, hoặc Lịch sử), rõ ràng chúng luôn hàm ý như thế, và sự tiến bộ – dù là hướng đến Thượng Đế, sự thịnh vượng hay thiên đường của một dân tộc – chính là mục đích của cuộc sống. Dù ngày nay điều này có vẻ không rõ ràng. Nhiều người cảm thấy suy thoái môi trường, chiến tranh, bất bình đẳng cùng sự vỡ mộng do xã hội phát triển quá đà đem lại đã vượt qua bất kỳ lợi ích nào mà nó tạo ra.
Tuy nhiên, dù có bất kỳ trách nhiệm đạo đức nào chúng ta khoác cho phát triển xã hội, thì tính hiện thực của nó là không thể phủ nhận. Hầu như mọi xã hội ngày nay đều phát triển (theo ý nghĩa của thuật ngữ tôi đã minh định ở đoạn trước) hơn 100 năm trước đó, và một số xã hội lại phát triển hơn các xã hội khác. Năm 1842, một sự thật khó chịu là nước Anh đã phát triển hơn Trung Hoa – phát triển đến mức, trên thực tế, lan rộng khắp toàn cầu. Trong quá khứ cũng có nhiều đế chế, nhưng tầm mức chỉ ở khu vực. Trong khi đó, đến năm 1842, sản phẩm của các nhà sản xuất người Anh đã tràn ngập Trung Hoa, đồng thời các nhà công nghiệp Anh chế tạo tàu vỏ sắt có thể đánh bại bất kỳ hạm đội nào trên thế giới, và các chính trị gia Anh cũng cử các đoàn thám hiểm đi hết nửa vòng trái đất.
Đặt câu hỏi rằng tại sao phương Tây vượt trội cũng đồng nghĩa với việc đặt ra hai câu hỏi cần giải đáp. Chúng ta cần phải biết cả hai lý do tại sao phương Tây lại phát triển – nghĩa là khả năng đạt được mục đích cao hơn – so với bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới, và tại sao sự phát triển của phương Tây lại gia tăng quá nhanh trong 200 năm qua đến mức lần đầu tiên trong lịch sử một số quốc gia có thể thống lĩnh toàn bộ hành tinh này.
Tôi tin rằng cách duy nhất để trả lời những câu hỏi này là lượng định phát triển xã hội để tạo ra một biểu đồ – theo nghĩa đen – chỉ ra dạng hình của lịch sử. Một khi làm được điều đó, chúng ta sẽ thấy rằng cả lý thuyết chốt khóa dài hạn hay ngẫu nhiên ngắn hạn đều không giải thích được dạng hình của lịch sử. Đáp án cho câu hỏi đầu tiên – tại sao sự phát triển xã hội phương Tây lại cao hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới – không nằm trong ngẫu nhiên bất kỳ nào gần đây: phương Tây là khu vực phát triển nhất trên thế giới suốt 14 trong số 15 thiên niên kỷ qua. Nhưng mặt khác, không phải sự dẫn đầu của phương Tây đã được tất định trong quá khứ xa xưa. Trong hơn 1.000 năm, từ khoảng năm 550 đến năm 1775, khu vực phương Đông lại đạt được thành quả lớn hơn. Rõ ràng sự vượt trội của phương Tây không phải được đặt định từ hàng nghìn năm trước, cũng không phải là kết quả của những biến cố gần đây.
Các lý thuyết dài hạn hoặc ngắn hạn tự thân cũng không thể giải đáp cho câu hỏi thứ hai: lý do tại sao phát triển xã hội ở phương Tây lại tăng trưởng nhanh chóng so với tất cả các xã hội trước đây. Như đã biết, chỉ khoảng năm 1800, những thành quả của phương Tây mới bắt đầu gia tăng ở mức độ đáng kinh ngạc, nhưng sự tiến bộ này chỉ là ví dụ mới nhất của một mẫu hình rất dài hạn của sự tăng tốc phát triển xã hội một cách liên tục. Ở đây có sự vận hành cùng nhau giữa hai mẫu hình dài hạn và ngắn hạn.
Đó là lý do tại sao chúng ta không thể giải thích sự vượt trội của phương Tây qua việc xem xét thời kỳ tiền sử hay chỉ vài trăm năm qua. Để giải đáp câu hỏi này, chúng ta phải hiểu được toàn cảnh của quá khứ. Tuy nhiên, trong khi biểu đồ tăng giảm của sự phát triển xã hội phản ánh dạng hình của lịch sử và giúp chúng ta nhận thấy những gì cần được giải thích, thì hiển nhiên nó lại không làm công việc giải thích. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải khảo sát một cách chi tiết.
Lười biếng, sợ hãi và tham lam
Theo Ambrose Bierce: “Lịch sử, danh từ. Một miêu tả sự kiện, chủ yếu sai sự thật và hầu như không quan trọng, được tạo dựng bởi các nhà cai trị, chủ yếu là những kẻ đểu giả, và những chiến binh, chủ yếu là những kẻ xuẩn ngốc.”❖ Tuy vậy, đôi khi cũng khó mà phản bác định nghĩa châm biếm này của Ambrose Bierce⦾: lịch sử có vẻ như sự tiếp nối những điều ngu xuẩn, một mớ bòng bong bát nháo giữa thiên tài và kẻ ngốc, giữa bạo chúa và kẻ lãng mạn, giữa nhà thơ và kẻ trộm đạo, thực hiện những điều phi thường hay thải ra sự đồi bại.
Những người như vậy sẽ được tô điểm thêm ở những trang kế tiếp như một lẽ đương nhiên. Xét cho cùng, đó là những nhân vật bằng xương bằng thịt chứ không phải là những thế lực mơ hồ, những kẻ kiếm sống, chết đi, sáng tạo và đấu tranh trong thế giới này. Tuy nhiên, tôi cho rằng ẩn sau mọi âm thanh và cuồng nộ, quá khứ vẫn có những mẫu hình mạnh mẽ, và với các công cụ phù hợp các sử gia có thể nhận biết được chúng là những gì, thậm chí còn có thể lý giải chúng.
Tôi sẽ sử dụng ba trong số những công cụ này.
Đầu tiên là sinh học⦾, nhằm giúp chúng ta biết con người thực sự là gì: loài vượn thông minh. Chúng ta là một phần của vương quốc động vật, vốn dĩ là một phần tử của vương quốc đời sống rộng lớn hơn, lan trải từ loài khỉ đột đến các dạng sống đơn bào. Sự thật hiển nhiên này tạo ra ba hệ quả quan trọng.
Thứ nhất, giống như tất cả các dạng sống, chúng ta tồn tại bởi chúng ta biết rút tỉa năng lượng từ môi trường sống và biến năng lượng đó thành nhiều hơn.
Thứ hai, giống như mọi loài vật thông minh khác, chúng ta là những sinh vật hiếu kỳ. Chúng ta liên tục điều chỉnh, luôn tự tìm hiểu xem thứ nào có thể ăn được, thứ nào có thể đùa vui, thứ nào có thể cải tiến. Chúng ta làm tốt hơn nhiều trong việc điều chỉnh sự vật so với các động vật khác do chúng ta có bộ não lớn và nhanh với nhiều nếp gấp để tư duy mọi thứ, dây thanh âm co giãn bất tận để nói ra mọi chuyện và những ngón tay biết cầm nắm để làm mọi việc.
Điều đó nói lên rằng con người – như các loài động vật khác – hiển nhiên là không giống nhau. Một số người rút năng lượng từ môi trường nhiều hơn số khác; một số sinh sản nhiều hơn; một số lại tò mò, sáng tạo, thông minh hay thực tế hơn. Nhưng hệ quả thứ ba mang bản tính động vật của chúng ta là các nhóm người, tương phản với cá nhân, đều giống nhau. Nếu bạn chọn ngẫu nhiên hai người từ đám đông, họ có thể khác biệt như bạn đã hình dung, nhưng nếu bạn quây tròn hai đám đông hoàn chỉnh, họ sẽ có khuynh hướng phản chiếu nhau khá gần gũi. Và nếu bạn so sánh các nhóm lên đến hàng triệu người khỏe mạnh, như tôi làm trong cuốn sách này, họ có thể có những cân xứng tương tự về nghị lực, óc tưởng tượng phong phú, tính hiếu kỳ, sáng tạo, thông minh, và thực tế.
Ba quan sát theo lẽ thường này giải thích phần lớn quá trình lịch sử. Trong hàng nghìn năm, phát triển xã hội nhìn chung đã gia tăng nhờ vào sự điều chỉnh của chúng ta, và thường với một tỉ lệ tăng tốc rất nhanh. Những ý tưởng hay ho lại nảy sinh nhiều ý tưởng khác, và mỗi lần có những ý tưởng hay, chúng ta thường không quên chúng. Nhưng, như chúng ta sẽ thấy, ngành sinh học không giải thích được toàn bộ lịch sử phát triển xã hội. Đôi khi phát triển xã hội bị ngưng trệ trong một thời gian dài chứ không hề tăng lên, thậm chí đôi khi nó còn tụt hậu. Việc chỉ nhận biết chúng ta là loài vượn thông minh cũng chưa hẳn là đủ.
Đây là lúc cần đến công cụ thứ hai, môn xã hội học⦾. Xã hội học cùng một lúc cho chúng ta biết được những gì đã tạo ra biến đổi xã hội và những gì do biến đổi xã hội tạo ra. Đó là một điều khiến loài tinh tinh thông minh phải ngồi lại để điều chỉnh, nhưng đó lại là một điều hoàn toàn khác đối với ý tưởng nhằm nắm bắt và thay đổi xã hội. Có vẻ như nó đòi hỏi một số xúc tác. Robert Heinlein, nhà văn khoa học viễn tưởng từng cho rằng: “Sự tiến bộ được thực hiện bởi những người đàn ông lười biếng tìm phương cách dễ dàng hơn để làm việc.”❖ Trong sách này chúng ta sẽ thấy rằng Định lý Heinlein chỉ đúng một phần nào, vì phụ nữ lười biếng cũng quan trọng không kém gì đàn ông lười biếng, sự lười biếng không phải là người mẹ duy nhất của sáng kiến, và tiến bộ thường là một từ khá lạc quan chỉ những điều ngẫu nhiên xảy ra. Nhưng nếu chúng ta bổ sung một chút, tôi nghĩ rằng hiểu biết sâu sắc của Heinlein sẽ trở thành một tóm tắt ngắn gọn về một trong những nguyên nhân của thay đổi xã hội theo như những gì chúng ta có thể nhận thấy. Trong thực tế, theo diễn tiến của cuốn sách tôi sẽ bắt đầu tạo ra một phiên bản ít súc tích hơn của Định lý Heinlein, xem như Định lý Morris của riêng tôi: “Sự biến đổi là do con người lười biếng, tham lam, sợ hãi tìm kiếm những phương cách dễ dàng hữu ích và an toàn hơn để thực hiện công việc. Và họ hiếm khi biết mình đang làm gì.” Lịch sử đã dạy chúng ta rằng khi áp lực khởi phát thì biến đổi sẽ thăng hoa.
Những người tham lam, lười biếng, sợ hãi thường tìm kiếm sự cân bằng mà họ ưa thích giữa tiện nghi, làm việc ít và được an toàn. Nhưng đó chưa phải là kết thúc của câu chuyện, vì sự thành công của con người trong quá trình tự sản sinh và thu hút năng lượng chắc chắn sẽ gây áp lực lên các nguồn lực (trí tuệ, xã hội cũng như vật chất) sẵn có. Nhưng xã hội ngày càng phát triển cũng đồng thời tạo ra những lực lượng làm suy yếu sự phát triển xã hội. Tôi gọi đây là nghịch lý của sự phát triển. Thành quả đồng thời nảy sinh những vấn nạn mới, và việc xử lý chúng lại tiếp tục gây ra những vấn đề mới hơn. Cuộc sống, như thiên hạ thường nói, là một chuỗi những buồn lo.
Nghịch lý của sự phát triển liên tục vận hành khiến con người phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn. Thông thường người ta không thể vượt qua những thách thức của nó, và sự phát triển xã hội bị trì trệ hoặc thậm chí suy đồi. Tuy nhiên, ở những thời điểm khác, chính sự lười biếng, sợ hãi và tham lam đã kết hợp để thúc đẩy một số người chấp nhận rủi ro, đổi mới để thay đổi các quy luật của cuộc chơi. Nếu có một ít người trong số đó thành công và nếu sau đó hầu hết đều chấp nhận những đổi mới thành công đó, thì một xã hội có thể thông được nút thắt cổ chai về nguồn tài nguyên và phát triển xã hội sẽ tiếp tục gia tăng.
Con người đối đầu và giải quyết những vấn nạn như vậy mỗi ngày, đây là lý do tại sao phát triển xã hội tiếp tục đi lên từ cuối Thời đại Băng hà cuối cùng. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, tại một số điểm nào đó, nghịch lý của sự phát triển lại tạo ra những mức trần khó khăn mà sẽ nhường chỗ cho những thay đổi mang tính chuyển hóa thực sự. Phát triển xã hội bắt đầu ở những mức trần này thường tạo ra một cuộc đua khốc liệt. Ở trường hợp này sang trường hợp khác chúng ta sẽ thấy rằng khi các xã hội không giải quyết được các vấn nạn phải đối mặt, vô vàn những điều bất hạnh khủng khiếp – nạn đói, bệnh tật, di dân không kiểm soát và sự thất bại của nhà nước – bắt đầu gây khổ đau, biến sự trì trệ thành suy tàn; và khi nạn đói, đại dịch, nạn di dân, và thất bại của nhà nước kết hợp thêm các thế lực tự nhiên, như biến đổi khí hậu chẳng hạn (tôi gọi chung những tai ương này là năm kỵ sĩ Khải huyền), sự suy tàn có thể biến thành thảm họa sụp đổ và đẩy con người trở lại thời kỳ tăm tối kéo dài hàng thế kỷ.
Giữa các ngành học, sinh vật học và xã hội học giải thích phần lớn dạng hình của lịch sử – lý do tại sao phát triển xã hội lại thường gia tăng, và tại sao lúc thì nó tăng nhanh lúc thì chậm lại, rồi có lúc lại thụt lùi. Nhưng những quy luật về sinh vật học và xã hội học này là hằng số, áp dụng ở mọi lúc mọi nơi. Qua định nghĩa, chúng cho chúng ta biết về con người như một tổng thể, chứ không trình bày lý do tại sao con người ở nơi này lại khác biệt với con người ở nơi khác. Để giải thích điều đó trong cuốn sách này, chúng ta cần một công cụ thứ ba: địa lý⦾.
Vị trí, vị trí và vị trí
“Đề tài nghiên cứu của Sinh vật học khác với Địa lý học,” nhà văn châm biếm nổi tiếng Edmund Bentley nhận xét vào năm 1905: “Sinh vật học đề cập đến quý ông, nhưng Địa lý học giải thích bằng bản đồ.”❖ Trong nhiều năm, từ chaps (quý ông/quý ngài) – người Anh dùng từ này để chỉ quý ông ở tầng lớp thượng lưu – chiếm địa vị quan trọng trong các câu chuyện của các sử gia, đến mức lịch sử khó phân biệt được với tiểu sử. Nhưng trong thế kỷ XX điều này đã thay đổi vì các sử gia dùng từ danh giá này để chỉ chung phụ nữ, đàn ông thuộc tầng lớp hạ lưu và trẻ em, góp thêm tiếng nói hòa hợp; nhưng trong cuốn sách này, tôi muốn đi xa hơn. Một khi chúng ta nhận ra rằng chaps không có gì khác nhau (dù theo nguyên nghĩa hay theo nghĩa mới, bao quát hơn của từ này), tôi sẽ cho rằng tất cả những gì còn lại để phân định chính là bản đồ.
Nhiều nhà sử học phản ứng với khẳng định này như bò rừng húc sừng vào vải đỏ. Một số người nói với tôi rằng đó chỉ là để phản bác tư tưởng cũ xưa cho rằng chính một số ít cá nhân vĩ đại mới quyết định việc lịch sử phơi bày sự khác biệt giữa Đông và Tây; trong khi một số khác lại nói rằng văn hóa, các giá trị và đức tin đều không quan trọng và nên tìm kiếm lý do phương Tây thống lĩnh một cách trọn vẹn ở nơi các lực lượng vật chất tác động. Ít nhiều đó cũng là những gì tôi dự định sẽ tiến hành.
Tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng Đông và Tây đều cùng trải qua những giai đoạn phát triển xã hội trong vòng 15.000 năm qua theo cùng một trình tự. Vì vẫn những tộc người đó quần tụ mỗi nơi đông thời tạo ra cùng một thứ lịch sử. Nhưng tôi cũng sẽ cố gắng chứng minh rằng họ không phát triển như nhau trong cùng thời điểm hay với cùng tốc độ. Tôi sẽ kết luận rằng sinh vật học và xã hội học giải thích những tương đồng mang tính toàn cầu trong khi địa lý học giải thích những khác biệt mang tính khu vực. Và trong ý nghĩa đó, chính địa lý sẽ giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội.
Nói thẳng ra, điều này dứt khoát có vẻ là một lý thuyết tất định dài hạn như ta có thể hình dung, và chắc chắn đã có những nhà sử học nghiên cứu địa lý theo cách đó. Ý tưởng này ít nhất cũng xuất hiện từ thời Herodotus ở Hy Lạp vào thế kỷ V TCN, người thường được cho là ông tổ của môn lịch sử. Ông cho rằng: “Những quốc gia linh động tạo ra những con người linh động;”❖ và, cũng như một dãy những người theo thuyết tất định sau này, ông kết luận rằng chính vị trí địa lý đã đặt định quê hương của ông trở nên vĩ đại. Có lẽ ví dụ tiêu biểu nhất là Ellsworth Huntington, giáo sư môn địa lý lọc ở Đại học Yale, vào thập niên 1910 đã sắp xếp các thống kê để chứng minh rằng quê hương New Haven thuộc bang Connecticut của ông có khí hậu gần như lý tưởng để thúc đẩy con người đến sự vĩ đại (chỉ thua nước Anh). Qua đối chiếu, ông kết luận về California – nơi tôi sinh sống – như sau: “khí hậu kích thích quá tương đồng của California đơn thuần chỉ sản sinh những mức độ phấn chấn của sự điên rồ.” “Những người dân California,” Huntington quả quyết với người đọc rằng, “có thể được ví như những con ngựa bị thúc đẩy đến giới hạn khiến một số trong họ trở nên mệt mỏi quá mức rồi kiệt sức.”❖
Nhận xét này dễ bị giễu cợt, nhưng khi cho rằng địa lý giải thích lý do phương Tây vượt trội, tôi đã mường tượng đến một điều gì đó khá khác biệt. Những khác biệt về địa lý quả thật đã có những tác động lâu dài, nhưng chúng không bao giờ là tất định, và những gì được xem là một lợi thế về mặt địa lý ở một giai đoạn phát triển xã hội có thể không thích hợp hay trở thành một bất lợi ở giai đoạn khác. Có thể nói rằng trong khi vị trí địa lý thúc đẩy phát triển xã hội, thì phát triển xã hội lại quyết định ý nghĩa của nó. Đó chính là một con đường hai chiều.
Để giải thích rõ hơn một chút – và để vạch ra một bản đồ đường đi của nó cho phần còn lại của cuốn sách – tôi muốn nhìn lại 20.000 năm trước, đến đỉnh điểm lạnh của Thời đại Băng hà cuối cùng. Thời kỳ đó vị trí địa lý rất quan trọng: những sông băng dày đặc hàng kilomet bao phủ phần lớn bán cầu bắc, những vùng lãnh nguyên hầu như không có người nằm ở ngoài rìa, và chỉ ở những vùng gần đường xích đạo mới có những nhóm nhỏ con người kiếm sống nhờ vào hái lượm và săn bắt. Có những khác biệt rất lớn giữa phía nam (nơi người dân có thể sinh sống) và phía bắc (nơi họ không thể), nhưng ở trong phạm vi khu vực phía nam thì những khác biệt giữa phương Đông và phương Tây lại không đáng kể.
Sự chấm dứt Thời đại Băng hà đã làm thay đổi ý nghĩa của địa lý. Tất nhiên ở hai cực vẫn lạnh và vùng xích đạo vẫn nóng, nhưng ở năm, sáu vị trí nằm giữa những đối cực này – mà trong Chương 2, tôi sẽ gọi là những vùng lõi nguyên sơ – thời tiết ấm hơn kết hợp với vị trí địa lý trong vùng đã giúp thực vật và/hoặc động vật có khả năng tiến hóa theo cách để con người có thể thuần hóa (tức là biến đổi về mặt di truyền để làm chúng trở nên hữu ích hơn, và cuối cùng đạt đến mức các sinh vật được biến đổi về mặt di truyền chỉ có thể tồn tại cộng sinh với con người). Những loài thực vật và động vật được thuần hóa đồng nghĩa với việc có nhiều nguồn thức ăn, nghĩa là sẽ có nhiều người hơn, và phải đổi mới hơn; nhưng sự thuần hóa cũng có nghĩa là tạo áp lực nhiều hơn lên nguồn tài nguyên để thúc đẩy quá trình phát triển. Nghịch lý của sự phát triển bắt đầu vận hành.
Những vùng lõi này đều có đặc trưng tương đối ấm áp và con người có thể sinh sống suốt Thời đại Băng hà, nhưng giờ đây chúng ngày càng trở nên khác biệt với phần còn lại của thế giới và cả với nhau. Chính địa lý đã ưu ái tất cả chúng, nhưng vẫn ưu ái một số vùng hơn những nơi khác. Một vùng lõi, gọi là Hilly Flanks⦾, là vùng tập trung các loài thực vật và động vật có thể thuần dưỡng ở mật độ dày đặc; và do các nhóm dân cư đều giống nhau, nên chính tại nơi này, vốn có tài nguyên phong phú nhất và tiến trình phát triển dễ dàng nhất, những bước đầu hướng tới sự thuần dưỡng được khởi phát. Đó là khoảng năm 9500 TCN.
Lần theo những gì tôi hy vọng là phổ biến, xuyên suốt cuốn sách này tôi sử dụng cụm từ phương Tây để miêu tả tất cả các xã hội kế thừa phần cực Tây (và xuất hiện sớm nhất) của những vùng lõi Âu-Á. Phương Tây từ lâu đã mở rộng từ vùng lõi ban đầu ở Tây Nam Á⦾ để rồi bao gồm cả vùng lưu vực Địa Trung Hải và châu Âu, và trong vài thế kỷ gần đây là châu Mỹ và châu Đại Dương. Việc xác định phương Tây như thế này, theo mong muốn của tôi để sự việc trở nên rõ ràng thay vì chọn một số giá trị phương Tây được cho là độc đáo như tự do, duy lý hay lòng khoan dung để rồi sau đó tranh luận về việc những giá trị này xuất phát từ đâu và những khu vực nào trên thế giới sở hữu chúng sẽ tạo ra những hệ quả trọng đại cho việc hiểu được thế giới chúng ta đang sống. Mục đích của tôi là giải thích lý do tại sao một nhóm xã hội riêng biệt bắt nguồn từ vùng lõi nguyên thủy phương Tây – đặc biệt là ở Bắc Mỹ – giờ đây lại thống lĩnh toàn cầu thay vì những xã hội ở phần còn lại của phương Tây, những xã hội xuất phát từ một trong các vùng lõi khác hay, theo như tôi được biết, không có xã hội nào sánh bằng.
Theo lý luận tương tự, tôi dùng thuật ngữ phương Đông để chỉ tất cả những xã hội khởi nguồn từ phía cực Đông (và cổ xưa thứ hai) của những vùng lõi Âu-Á. Rất lâu trước đây, phương Đông vốn cũng bành trướng từ vùng lõi nguyên thủy nằm giữa hai con Hoàng Hà và Dương Tử của Trung Hoa, nơi mà việc thuần dưỡng thực vật đã bắt đầu từ khoảng năm 7500 TCN, và ngày nay trải dài từ Nhật Bản ở phía bắc sang các nước ở bán đảo Đông Dương về phía nam.
Những xã hội có nguồn gốc từ các vùng lõi khác – một vùng lõi phía Đông Nam nay là New Guinea, một vùng lõi Nam Á ở Pakistan và Bắc Ấn, một vùng nằm ở châu Phi, phía đông sa mạc Sahara và hai vùng thuộc Tân Thế giới ở Mexico và Peru – đều có những lịch sử hấp dẫn riêng của chúng. Tôi còn đề cập đến chúng nhiều lần trong những chương sau, đồng thời cũng thường xuyên tập trung vào những đối sánh Đông-Tây. Luận điểm của tôi là từ cuối Thời đại Băng hà, những xã hội phát triển nhất thế giới hầu như luôn có nguồn gốc từ vùng lõi nguyên thủy ở phương Tây hoặc phương Đông. Trong khi Albert-ở-Bắc-Kinh là một sự thay thế hợp lý cho Looty-ở-Balmoral, thì Albert Cuzco, Delhi hay New Guinea lại không thể. Do vậy, phương cách hiệu quả nhất để giải thích tại sao phương Tây vượt trội là tập trung vào những so sánh Đông-Tây, và đó là những gì tôi đã làm.
Việc viết một cuốn sách theo phương cách này cũng có những điểm mạnh đáng nghi nhận. Phải có một miêu tả toàn cầu đúng đắn hơn, soi chiếu mọi khu vực trên thế giới, phong phú hơn và mang nhiều sắc thái hơn, đồng thời phải đánh giá đầy đủ những đóng góp của các nền văn hóa Nam Á, châu Mỹ, và các vùng khác đối với nền văn minh nhân loại. Nhưng một phiên bản toàn cầu như vậy sẽ vấp phải những hạn chế, đặc biệt là sự thiếu tập trung, và phải cần nhiều trang giấy hơn cuốn sách tôi viết ra. Samuel Johnson, người có trí tuệ sắc sảo nhất nước Anh ở thế kỷ XVIII, từng nhận xét về cuốn Paradise Lost (Thiên đường đã mất) mà mọi người đều thán phục như sau: “Không ai muốn nó dài hơn nữa.”❖ Nhưng tôi ngờ rằng nhận xét về cuốn sách của Milton lại có thể áp dụng cho những gì tôi muốn trình bày.
Nếu địa lý thực sự cung cấp một lối giải thích về lịch sử theo lý thuyết chốt khóa dài hạn kiểu Herodotus, tôi có thể tóm lược quyển sách này khá nhanh chóng sau khi chỉ ra rằng sự thuần hóa bắt đầu ở vùng lõi phương Tây khoảng năm 9500 TCN và ở vùng lõi phương Đông khoảng năm 7500 TCN. Phát triển của xã hội phương Tây sẽ đơn giản là có trước phương Đông 2.000 năm, đồng thời phương Tây đã trải qua một cuộc cách mạng công nghiệp trong khi phương Đông vẫn còn đang định hình. Nhưng hiển nhiên điều đó lại không xảy ra. Như chúng ta sẽ thấy ở các chương tiếp theo, địa lý không tất định lịch sử do thuận lợi về mặt địa lý cuối cùng luôn tự chuốc lấy thất bại. Chúng giúp đẩy mạnh phát triển xã hội, nhưng trong quá trình đó, phát triển xã hội lại làm thay đổi ý nghĩa của vị trí địa lý.
Khi phát triển xã hội gia tăng, các vùng lõi cũng mở rộng, có khi thông qua sự di dân và có khi lại qua việc sao chép hay phát kiến độc lập ở những vùng lân cận. Những kỹ thuật đã vận hành tốt ở một vùng lõi cũ – dù là nông nghiệp hay đời sống làng xã, thành phố hay quốc gia, đế chế hùng cường hay công nghiệp nặng – chúng sẽ lan sang các xã hội mới và môi trường mới. Đôi khi những kỹ thuật này đơm hoa kết trái trong bối cảnh mới; đôi khi chúng chỉ gây rối tung; và cũng có khi chúng cũng cần những sửa đổi lớn để vận hành tốt hơn.
Có một điều kỳ lạ là những tiến bộ lớn nhất trong phát triển xã hội thường xuất hiện ở những nơi mà các phương pháp du nhập hoặc sao chép từ một vùng lõi phát triển hơn lại không vận hành tốt. Đôi khi là do sự tranh đấu để thích ứng với các phương pháp cũ ở môi trường mới buộc con người phải tạo ra những đột phá; cũng có khi bởi các yếu tố địa lý, ở một giai đoạn phát triển xã hội này thì không quan trọng nhưng lại quan trọng hơn nhiều ở một giai đoạn khác.
Chẳng hạn như 5.000 năm trước, việc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Anh muốn vươn khỏi châu Âu ra Đại Tây Dương là một điều bất tiện lớn về mặt địa lý, nghĩa là phải mất một chặng đường dài để đến vùng Mesopotamia⦾ và Ai Cập. Tuy nhiên, cách đây 500 năm, phát triển xã hội gia tăng mạnh mẽ đến mức vị trí địa lý cũng thay đổi ý nghĩa của nó. Với những loại tàu mới có thể vượt các đại dương trước đây không thể băng qua được, việc vượt Đại Tây Dương đột nhiên biến thành một ưu thế lớn; chính những con tàu Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Anh, chứ không phải Ai Cập hay Iraq, bắt đầu vượt biển đến châu Mỹ, Trung Hoa và Nhật Bản; và cũng chính người Tây Âu bắt đầu kết nối thế giới cùng với nền thương mại hàng hải, và phát triển xã hội Tây Âu đã trỗi dậy mạnh mẽ, vượt qua vùng lõi cũ ở phía Đông Địa Trung Hải.
Tôi gọi mẫu hình này là những thuận lợi của sự lạc hậu❖⦾ , và nó cũng xưa cũ như chính sự phát triển xã hội. Khi các ngôi làng thuần nông bắt đầu chuyển đổi thành thành phố (ngay sau năm 4000 TCN phương Tây và năm 2000 TCN ở phương Đông), việc tiếp cận vùng đất đai và khí hậu đặc biệt ưu ái cho sự trỗi dậy ban đầu của nông nghiệp bắt đầu ít quan trọng hơn việc tiếp cận các con sông lớn có thể tưới tiêu ruộng đất hay được sử dụng như tuyến đường thương mại. Và khi những quốc gia tiếp tục bành trướng, việc tiếp cận các con sông lớn bắt đầu ít quan trọng hơn việc tiếp cận với kim loại, các tuyến đường thương mại dài hơn, hay các nguồn nhân lực. Do phát triển xã hội thay đổi, các nguồn lực mà nó đòi hỏi cũng sẽ thay đổi, và những vùng một thời bị xem là nhỏ bé có thể tìm thấy những thuận lợi ngay trong sự lạc hậu của chúng.
Thường khó có thể nói trước được thuận lợi của sự lạc hậu sẽ chấm dứt như thế nào: không phải tất cả sự lạc hậu đều ngang bằng. Cách đây 400 năm, dường như nhiều người châu Âu cho rằng việc bùng nổ các đồn điền ở vùng Caribe sẽ có một tương lai tươi sáng hơn các trang trại ở Bắc Mỹ. Với nhận thức muộn màng, chúng ta có thể hiểu tại sao Haiti lại trở thành nơi nghèo nhất ở vùng Tây Bán cầu và Hoa Kỳ lại trở thành nước giàu nhất, nhưng việc dự đoán những kết quả như vậy khó hơn nhiều.
Tuy nhiên, một hệ quả rõ ràng đối với những ưu điểm của sự lạc hậu là khu vực phát triển nhất trong mỗi vùng lõi thường chuyển dịch theo thời gian. Ở phương Tây, nó chuyển từ Hilly Flanks (vào giai đoạn nông nghiệp sớm) về phía Nam đến các thung lũng những con sông ở Mesopotamia và Ai Cập khi hình thành các nhà nước, rồi sau đó hướng về phía Tây vào lưu vực Địa Trung Hải khi nền thương mại và các đế chế trở nên quan trọng hơn. Ở phía Đông, nó di chuyển về hướng Bắc từ khu vực giữa Hoàng Hà và sông Dương Tử đến lưu vực Hoàng Hà, sau đó về phía Tây đến Vị Hà và vùng đất nhà Tần.
Hệ quả thứ hai là sự dẫn đầu của phương Tây trong phát triển xã hội đã dao động, một phần do các nguồn tài nguyên quan trọng này – thực vật và động vật hoang dã, sông ngòi, các tuyến đường thương mại, nhân lực – được phân phối theo nhiều phương cách khác nhau qua từng vùng lõi, và một phần do ở cả hai lõi các tiến trình bành trướng và hợp nhất các nguồn lực mới đều gây ra bạo lực và bất ổn, đẩy nghịch lý của phát triển vào tình trạng quá tải. Ví dụ như sự tăng trưởng của các quốc gia phương Tây trong thiên niên kỷ thứ hai TCN đã biến Địa Trung Hải không chỉ là con đường thương mại mà còn là con đường dành cho các thế lực xâu xé. Khoảng năm 1200 TCN, các quốc gia phương Tây bị mất quyền kiểm soát, và những cuộc di dân, thất bại của nhà nước, đói kém và dịch bệnh đã khởi đầu cho một sự sụp đổ toàn diện. Phía Đông, do không có biển ở nội địa nên không trải qua sự sụp đổ tương tự, và vào khoảng năm 1000 TCN, sự dẫn đầu về phát triển xã hội của phương Tây nhanh chóng bị thu hẹp.
Trong hơn 3.000 năm tiếp theo, mẫu hình tương tự cứ lặp đi lặp lại với những hệ quả liên tục thay đổi. Vị trí địa lý quyết định vùng nào trên thế giới mà phát triển xã hội thì sẽ nổi lên nhanh nhất, đồng thời việc gia tăng phát triển xã hội cũng làm thay đổi tầm quan trọng của vị trí địa lý. Ở các thời điểm khác nhau, những vùng thảo nguyên mênh mông nối liền phía đông và phía Tây lục địa Á-Âu, những vùng đất trồng lúa phong phú ở miền Nam Trung Hoa, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương đều quan trọng và khi Đại Tây Dương nổi bật lên vào thế kỷ XVII, con người đã đầu tư tốt nhất để khai thác nó – trước hết, chủ yếu là người Anh, sau đó thì đến những thực dân trước đây ở châu Mỹ – đã tạo ra các kiểu đế chế và kinh tế mới, đồng thời giải phóng năng lượng nhiên liệu hóa thạch. Và tôi sẽ đưa ra luận cứ rằng đó chính là lý do tại sao phương Tây vượt trội.
Bố cục sách
Tôi phân chia các chương thành ba phần.
Phần I (Chương 1-3) đối mặt với những vấn đề cơ bản nhất: Phương Tây là gì? Chúng ta bắt đầu câu chuyện từ đâu? Thuật ngữ vượt trội hàm nghĩa gì? Làm thế nào để chúng ta biết được ai đang dẫn dắt hoặc thống lĩnh? Trong Chương 1, tôi đưa ra cơ sở sinh học về câu chuyện tiến hóa và phân tán của con người hiện đại trên hành tinh này; ở Chương 2, tôi theo dõi sự hình thành và sự phát triển của các vùng lõi gốc ở phương Đông và phương Tây sau Thời đại Băng hà; và trong Chương 3, tôi phá vỡ lề lối kể chuyện để xác định phát triển xã hội và giải thích cách thức tôi sẽ áp dụng để lượng định những khác biệt giữa Đông và Tây.⦾
Ở Phần II (Chương 4-10), tôi lần theo những câu chuyện diễn ra phương Đông và phương Tây một cách chi tiết, liên tục đặt câu hỏi về những gì giải thích sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Ở Chương 4, tôi xem xét sự trỗi dậy của các nhà nước đầu tiên và những xâu xé làm tan vỡ vùng lõi phương Tây trong các thế kỷ cho đến năm 1200 TCN. Trong Chương 5, tôi xem xét các đế chế vĩ đại đầu tiên ở phương Đông và phương Tây và làm thế nào phát triển xã hội của chúng trỗi dậy tới những hạn mức có thể ở nền kinh tế nông nghiệp. Sau đó, ở Chương 6, tôi bàn về sự sụp đổ khốc liệt quét qua vùng lục địa Á-Âu sau khoảng năm 150. Trong Chương 7, chúng ta đạt đến một bước ngoặt, với phần lõi phía Đông mở ra một biên giới mới và đi đầu trong phát triển xã hội. Vào khoảng năm 1100, phương Đông lại một lần nữa đẩy đến những giới hạn khả dĩ của một thế giới nông nghiệp. Nhưng trong Chương 8, chúng ta sẽ chứng kiến cách thức vùng này khởi đầu một sự sụp đổ lớn lao lần thứ hai. Trong Chương 9, tôi mô tả những biên giới mới mà các đế quốc phương Đông và phương Tây dựng lên ở các vùng thảo nguyên và băng qua các đại dương khi chúng khôi phục lại sức mạnh, và xem xét cách thức phương Tây đóng lại lỗ hổng phát triển phương Đông như thế nào. Cuối cùng, trong Chương 10, chúng ta sẽ khảo sát cuộc Cách mạng công nghiệp đã chuyển đổi sự dẫn dắt của phương Tây sang thống lĩnh thế giới và những hệ quả lớn lao mà nó đem lại.
Trong Phần III (Chương 11 và 12), tôi chuyển sang câu hỏi quan trọng nhất đối với bất kỳ nhà sử học nào: Vậy do điều gì? Đầu tiên, trong Chương 11, tôi tập hợp lập luận của mình cho rằng đằng sau mọi chi tiết về những gì đã xảy ra trong 15.000 năm qua, hai tập hợp quy luật – về sinh học và xã hội học – đã định dạng hình của lịch sử trên quy mô toàn cầu, trong khi tập hợp thứ ba – thuộc về địa lý – lại quyết định những khác biệt giữa sự phát triển ở Đông và Tây. Chính tác động qua lại giữa các quy luật này chứ không phải là những chốt khóa dài hạn hay sự cố ngẫu nhiên ngắn hạn đã đưa chú chó Looty đến Balmoral chứ không phải đưa Albert đến Bắc Kinh.
Đây không phải là cách mà các sử gia thường nói về quá khứ. Hầu hết các học giả đều tìm kiếm sự giải thích trong văn hóa, tín ngưỡng, nguyên lý, thể chế, hay những ngẫu nhiên khôn lường thay vì là những mặt ngoài rõ rành rành của thực tại vật chất và thấy có ít người nói đến các quy luật. Nhưng sau khi xem xét (và phản biện) một số luận điểm, tôi muốn đi thêm một bước nữa: đưa ra luận cứ trong Chương 12 rằng các quy luật lịch sử thực sự cho chúng ta một cảm nhận khá chuẩn về những gì có thể xảy ra tiếp theo. Lịch sử không kết thúc với sự thống lĩnh của phương Tây. Nghịch lý của sự phát triển và những thuận lợi của sự lạc hậu vẫn đang vận hành; cuộc đua giữa những đổi mới thúc đẩy phát triển xã hội tiến lên phía trước và những đổ vỡ níu kéo vẫn đang tiếp diễn. Trong thực tế, tôi cho rằng cuộc đua này lại nóng hơn bao giờ hết. Các loại hình phát triển mới và tình trạng xâu xé đang hứa hẹn – hay đe dọa – không chỉ biến đổi về mặt địa lý mà còn cả sinh vật học và xã hội học. Câu hỏi lớn cho thời đại chúng ta không phải là liệu phương Tây có tiếp tục dẫn đầu hay không, mà là liệu toàn thể nhân loại có phát kiến được một dạng thức sống hoàn toàn mới trước khi thiên tai đánh gục chúng ta – mãi mãi.