Cuối Chương 3, chúng ta chứng kiến cảnh Ebenezer Scrooge kinh hãi nhìn chằm chằm ngôi mộ hoang phế của mình. Túm chặt tay Bóng ma Giáng sinh Tương lai, ông ta kêu lên: “Có phải đây là điềm triệu cho những điều sẽ xảy ra, hay chúng chỉ là điềm báo cho những điều có thể?”
Tôi cho rằng chúng ta cũng có thể có câu hỏi tương tự về Hình 12.1, cho thấy nếu phát triển xã hội phương Đông và phương Tây tiếp tục gia tăng với cùng tốc độ như ở thế kỷ XX, thì phương Đông sẽ lấy lại vị trí dẫn đầu vào năm 2103. Nhưng do nhịp độ mà phát triển xã hội gia tăng đã tăng tốc từ thế kỷ XVII, Hình 12.1 quả thực chỉ là một ước tính dè dặt; đồ thị có thể được diễn giải rõ ràng nhất khi nói lên rằng năm 2103 có lẽ là thời điểm gần nhất cho sự kết thúc thời kỳ phương Tây.
Các thành phố của phương Đông đã rộng lớn bằng phương Tây, và khoảng cách giữa tổng sản lượng kinh tế của Trung Hoa và Hoa Kỳ (có lẽ là biến số dễ dự đoán nhất) đang thu hẹp nhanh chóng. Các nhà chiến lược của Ủy ban Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ (NIC) cho rằng sản lượng của Trung Hoa sẽ bắt kịp Hoa Kỳ vào năm 2016. Các chuyên gia cấp cao của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs nghĩ rằng nó sẽ xảy ra vào năm 2027; những chuyên gia kế toán ở công ty kiểm toán PricewaterhouseCoopers thì chọn năm 2025; và một số nhà kinh tế học như Angus Maddison của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và nhân vật đoạt giải Nobel, Robert Fogel, lại chọn những thời điểm gần hơn (năm 2020 và 2016 theo thứ tự).❖ Nếu tính cho đến khi khả năng gây chiến tranh, công nghệ thông tin, và khả năng hấp thu năng lượng tính trên đầu người của phương Đông qua mặt được phương Tây thì cũng còn lâu, còn nếu cho rằng sau năm 2050 phát triển xã hội ở phương Đông sẽ nhanh chóng bắt kịp nghe ra mới có vẻ hợp lý.

Hình 12.1. Tính toán không đổi? Nếu điểm số phát triển xã hội ở phương Đông và phương Tây gia tăng cùng một tốc độ như trong thế kỷ XX, thì sự dẫn đầu của phương Tây sẽ kết thúc vào năm 2103.
Tuy nhiên, vẫn còn những mối nghi ngờ dai dẳng. Mọi dự đoán của các chuyên gia đề cập ở trên đều được đưa ra vào những năm 2006-2007, vào đêm trước của một cuộc khủng hoảng tài chính mà chính các chuyên gia ngân hàng, kế toán, và kinh tế này cũng không tiên liệu được; và chúng ta cũng nên ghi nhớ rằng toàn bộ ý nghĩa của truyện Giáng sinh yêu thương chính là định phận của Scrooge không phải là không thể chuyển đổi. Scrooge đảm bảo với Bóng ma: “Nếu những ứng xử khác đi thì mọi kết thúc sẽ thay đổi,” và rõ ràng khi Scrooge bật ra khỏi giường vào sáng Giáng sinh, ông hoàn toàn trở thành một con người mới. Dickens diễn tả: “Ông ta như trở thành một người bạn, một ông chủ, một con người không ai tốt bằng, theo như thành phố cũ kỹ tốt đẹp biết được, hay bất kỳ thành phố cổ kính hay thị trấn nào khác, trong thế giới cũ kỹ tốt đẹp này.”❖
Liệu phương Tây, cũng như Scrooge, có tạo ra được một phiên bản mới cho chính nó ở thế kỷ XXI và vẫn ở vị thế dẫn đầu hay không? Trong chương cuối cùng này, tôi muốn đưa ra câu trả lời khá bất ngờ cho câu hỏi đó.
Tôi đã lập luận trong suốt cuốn sách này rằng điểm yếu lớn nhất của hầu hết mọi nỗ lực nhằm giải thích lý do phương Tây dẫn đầu thế giới và để dự đoán điều gì sẽ xảy ra sau đó cũng chẳng khác gì những thầy bói thường chọn một cách nhìn ngắn ngủi, chỉ quay về được vài trăm năm (nếu được) trước khi kể cho chúng ta về ý nghĩa của lịch sử. Nó giống như việc Scrooge cố học những bài học của mình chỉ bằng cách nói chuyện với Bóng ma Giáng sinh Hiện tại.
Chúng ta sẽ làm tốt hơn theo phương cách thực tế của Scrooge, lắng nghe những ngôn từ của Bóng ma Giáng sinh Quá khứ, hay bắt chước Hari Seldon, người đã thẩm tra hàng nghìn năm lịch sử trước khi săm soi tương lai của Đế chế Thiên Hà. Giống như Scrooge và Seldon, chúng ta cần xác định không chỉ những xu hướng hiện tại đang dẫn dắt chúng ta mà còn xem thử những xu hướng này có đang khởi phát những thế lực sẽ làm chúng suy yếu hay không. Chúng ta cần phải tính đến nghịch lý của sự phát triển, xác định những thuận lợi của sự lạc hậu, và không chỉ dự đoán địa lý sẽ hình thành sự phát triển xã hội như thế nào mà còn về sự phát triển xã hội sẽ thay đổi ý nghĩa của địa lý ra sao. Và khi thực hiện được tất cả những điều này, chúng ta sẽ thấy rằng câu chuyện vẫn còn có một cái kết bất ngờ của nó.
Hậu Trung-Mỹ
Chúng ta đã bị lời nguyền phải sống vào những thời điểm đáng quan tâm.
Kể từ năm 2000, một mối quan hệ rất kỳ lạ đã phát triển giữa vùng lõi phương Tây của thế giới với vùng ngoại vi phía Đông của nó. Quay trở lại những năm 1840, vùng lõi phương Tây vươn đến toàn cầu, phóng chiếu sức mạnh đến mọi ngóc ngách trên thế giới và biến những gì trước đây là một vùng lõi phương Đông độc lập thành một vùng ngoại vi mới đối với phương Tây. Mối quan hệ giữa vùng lõi và vùng ngoại vi sau đó cùng phơi bày những hoàn cảnh như giữa các vùng lõi và vùng ngoại vi xuyên suốt trong lịch sử (nhưng ở quy mô lớn hơn), với việc các nước phương Đông khai thác lao động giá rẻ và các nguồn tài nguyên để trao đổi buôn bán với vùng lõi phương Tây giàu có hơn. Như một điều tất yếu thường xảy ra ở các vùng ngoại vi, một số dân tộc thấy được lợi thế trong tình trạng lạc hậu, và Nhật Bản đã tự thân chuyển đổi. Vào thập niên 1960, một số nước Đông Á cũng theo chân nước này gia nhập thị trường toàn cầu do Hoa Kỳ thống lĩnh và trở nên thịnh vượng, rồi sau năm 1978, Trung Hoa cũng tiếp bước khi thích ứng được với hòa bình, trách nhiệm và tính linh hoạt. Một vùng đất phương Đông rộng lớn với dân số đông đúc, nghèo khổ và giới trí thức bản địa đã gây ấn tượng đối với những nhà quan sát phương Tây như là những thế lực lạc hậu giờ đây trông có vẻ đang khởi đầu những lợi thế to lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp cuối cùng đã lan rộng khắp phương Đông, và các doanh nghiệp phương Đông đang phát triển các nhà máy để bán hàng hóa giá rẻ cho phương Tây (đặc biệt là Hoa Kỳ).
Không có điều gì trong kịch bản này là đặc biệt mới mẻ, và trong suốt một thập niên hay hơn thế, mọi thứ đều êm xuôi (ngoại trừ việc những nước phương Tây nỗ lực cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ ở vùng Đông Á). Tuy nhiên, đến thập niên 1990, các nhà sản xuất ở Trung Hoa phát hiện – cũng như những cư dân trước đây ở nhiều vùng ngoại vị– rằng ngay cả vùng lõi giàu nhất cũng không đủ khả năng mua được mọi thứ mà một vùng ngoại vi có tiềm năng xuất khẩu.
Điều khiến cho mối quan hệ Đông-Tây trở nên bất thường chính là giải pháp cho vấn nạn này, xuất hiện sau năm 2000. Mặc dù tính bình quân, một người Mỹ có thu nhập gấp gần 10 lần so với một công nhân Trung Hoa, nhưng Trung Hoa lại cho các nước phương Tây vay tiền để tiếp tục mua lại hàng hóa của phương Đông. Điều này được thực hiện bằng cách đầu tư một khoản thặng dư tiền gửi ngân hàng khổng lồ vào các thị trường cổ phiếu được bảo chứng bằng đồng đô-la như Trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ chẳng hạn. Việc mua đứt hàng trăm tỉ đô-la cũng giúp tỉ giá đồng tiền của Trung Hoa trên hình thức thấp hơn so với đồng đô-la Mỹ, khiến hàng hóa Trung Hoa càng rẻ hơn nhiều đối với người phương Tây.
Các nhà kinh tế nhận ra rằng mối quan hệ này khá giống với một cuộc hôn nhân mà ở đó một người thì tiết kiệm và đầu tư, trong khi người kia lại tiêu pha, và không một người vợ/người chồng nào có khả năng gánh chịu được một vụ ly dị. Nếu Trung Hoa ngừng mua đô-la, đồng đô-la Mỹ sẽ mất giá, đồng thời 800 tỉ đô-la Mỹ mà Trung Hoa đã nắm giữ sẽ mất hết giá trị. Mặt khác, nếu người Mỹ ngừng mua hàng hóa Trung Hoa, mức sống của họ sẽ tuột dốc và quỹ tín dụng sẽ cạn kiệt. Một cuộc tẩy chay hàng hóa của người Mỹ có thể khiến Trung Hoa rơi vào sự hỗn loạn cho ngành công nghiệp, nhưng Trung Hoa cũng có thể trả đũa bằng cách bán phá giá đồng đô-la và phá hoại nền kinh tế Mỹ.
Nhà sử học Niall Ferguson và nhà kinh tế học Moritz Schularick đã đặt tên cho cặp vợ chồng kỳ lạ này là “Chimerica,”❖ một từ kết hợp từ tên tiếng Anh của Trung Hoa và Mỹ, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục nhưng đồng thời cũng là một ảo tưởng – một giấc mơ mà cuối cùng thế giới phải tỉnh thức. Người Mỹ không thể cứ mãi mượn tiền của Trung Hoa để mua hàng hóa Trung Hoa. Vô khối khoản vay tín dụng thấp của Chimerica làm giá cả mọi loại tài sản, từ ngựa đua đến bất động sản đều tăng vọt, và đến năm 2007 bong bóng bắt đầu vỡ. Năm 2008, các nền kinh tế phương Tây xảy ra tình trạng rơi tự do, kéo theo phần còn lại của thế giới. Đến năm 2009, 13 nghìn tỉ đô-la tài sản của người tiêu dùng bị bốc hơi. Chimerica sụp đổ.
Vào đầu năm 2010, những can thiệp tức thời của chính phủ mới đã ngăn chặn được việc tái diễn đợt suy thoái ở thập niên 1930, nhưng các hậu quả của sự sụp đổ nền kinh tế Trung-Mỹ dầu vậy vẫn còn rất lớn. Ở phương Đông, tỉ lệ thất nghiệp tăng vọt, các thị trường chứng khoán sụp đổ, và nền kinh tế Trung Hoa vào năm 2009 chỉ phát triển bằng ½ so với năm 2007. Nhưng dù sao mức tăng trưởng 7,5% của Trung Hoa trong năm 2009 vẫn còn tốt hơn, vượt mức những gì các nền kinh tế ở vùng lõi phương Tây kỳ vọng cho ngay cả những năm phát triển tốt nhất. Bắc Kinh phải bỏ ra gói kích cầu lên đến 586 tỉ đôla, nhưng ít nhất nó cũng có nguồn dự trữ để trang trải.
Tuy nhiên, ở phương Tây, thiệt hại còn tồi tệ hơn nhiều. Hoa Kỳ áp dụng một gói kích cầu trị giá 787 tỉ đô-la khi núi nợ vay tồn tại đang đạt đỉnh mà vẫn chứng kiến nền kinh tế của mình co lại còn hơn 2% trong năm 2009. Vào mùa hè năm đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố rằng dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Hoa sẽ phục hồi lên mức 8,5% vào năm 2010, trong khi Hoa Kỳ chỉ đạt được 0,8%.❖ Nhưng điều đáng báo động nhất chính là Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ (CBO) dự báo đến năm 2019 Hoa Kỳ mới trả hết khoản vay cho gói kích cầu, nhưng vào thời điểm đó quỹ an sinh xã hội cho người già sẽ kéo nền kinh tế nước này xuống thấp hơn nữa.❖
Khi các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới họp vào tháng 4 năm 2009 để tìm cách ứng phó với cuộc khủng hoảng, đã lan truyền một lời mỉa mai sau đây: “Sau [vụ Thiên An Môn] năm 1989, chủ nghĩa tư bản đã cứu Trung Hoa. Sau năm 2009, Trung Hoa lại cứu chủ nghĩa tư bản.”❖ Lời mỉa mai này cũng có nhiều phần đúng, nhưng một tương đồng thậm chí còn đúng hơn cho năm 2009 lại là năm 1918. Đó là năm mà tình trạng quyền lực và thịnh vượng chuyển dịch sang bên kia Đại Tây Dương, từ vùng lõi cũ bị phá sản ở châu Âu dịch chuyển sang một nền kinh tế thịnh vượng mới ở Hoa Kỳ là điều không thể phủ nhận. Năm 2009 có thể chứng minh là năm của sự dịch chuyển qua Thái Bình Dương, từ sự phá sản của Hoa Kỳ đến sự phát triển của Trung Hoa, trở nên rõ ràng. Mối quan hệ Trung-Mỹ (Chimerica) có thể chỉ là một trạm dừng trên con đường dẫn đến sự thống lĩnh của phương Đông.
Dĩ nhiên không phải ai cũng đồng ý với dự đoán này. Một số chuyên gia chỉ ra rằng Hoa Kỳ đã nhiều lần tự cải thiện triệt để như Scrooge. Quá nhiều nhà phê bình bỏ qua chuyện Hoa Kỳ của cuộc đại suy thoái những năm 1930 và tình trạng lạm phát đình đốn ở thập niên 1970 mà chỉ thấy nó nhanh chóng phục hồi để đánh bại phe Quốc Xã trong thập niên 1940 và Liên Xô ở thập niên 1980. Những người lạc quan cho rằng các doanh nghiệp và nhà khoa học Mỹ sẽ tìm ra giải pháp, và nếu như Hoa Kỳ có thật sự rơi vào tình trạng khủng hoảng trong những năm 2010, thì nó vẫn vượt trội hơn Trung Hoa vào thập niên 2020.
Những người khác nhấn mạnh rằng bản thân Trung Hoa cũng có vấn đề. Rõ ràng nhất là khi thành quả kinh tế thúc đẩy việc tăng lương, thì Trung Hoa đang mất đi một số thuận lợi đối với sự lạc hậu của nó. Trong thập niên 1990, những công việc sản xuất bậc thấp bắt đầu di dời từ những vùng duyên hải Trung Hoa vào vùng nội địa và hiện tại tất cả cùng rời Trung Hoa để đến các nước có mức lương còn thấp hơn, như Việt Nam. Hầu hết các nhà kinh tế xem đây là một tiến trình tự nhiên trong sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của Trung Hoa, nhưng với một số người khác thì đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy Trung Hoa đang mất đi lợi thế của mình.
Những kẻ công kích Trung Hoa xem vấn đề nhân khẩu học là một thách thức lớn hơn. Do tỉ lệ sinh sản và nhập cư thấp, tuổi thọ bình quân ở Trung Hoa đang tăng nhanh hơn so với Mỹ, và đến năm 2040, những quyền lợi của người cao tuổi có thể trở thành gánh nặng cho nền kinh tế Trung Hoa, lớn hơn so với Mỹ. Sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên của Trung Hoa cũng có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế, và những căng thẳng giữa các thành phố đang bùng nổ và vùng nông thôn đang suy thoái có thể còn tồi tệ hơn nhiều. Nếu một trong những điều này xảy ra thì tình trạng bất ổn phổ biến (vốn đã phát sinh) có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Những cuộc nổi dậy của những sắc dân bản địa và phản kháng nhằm chống tham nhũng và thảm họa môi trường từng làm sụp đổ nhiều triều đại Trung Hoa trong quá khứ sẽ diễn ra; điều này có khả năng xảy ra trong tương lai gần. Và nếu thể chế sụp đổ, đất nước này có thể tan rã, như đã từng xảy ra vào cuối các triều đại Hán, Đường, Nguyên, và Thanh. Rốt cuộc, điều tương tự có khả năng xảy ra cho Trung Hoa vào năm 2020 có thể không phải như Hoa Kỳ vào năm 1920 là bòn rút sự thịnh vượng của vùng lõi cũ, nhưng chính là bản sao của nó ở năm 1920, khi trượt dài vào cuộc nội chiến.
Một nhóm những nhân vật có thế lực ở phương Tây lại quá lạc quan cho rằng có thể không một dự đoán nào thực sự quan trọng, vì dẫu sao thì tất cả cũng đều đem lại những điều tốt đẹp nhất. Mặc dù nhìn thấy sự thịnh vượng và quyền lực dịch chuyển sang bên kia Đại Tây Dương vào thế kỷ XX, nhưng người Tây Âu điển hình vào năm 2000 vẫn giàu có hơn các bậc thế hệ trước của mình lúc đang ở đỉnh cao vĩ đại của đế chế châu Âu, do ngọn triều tư bản đang gia tăng đã nâng mọi con thuyền lên. Trong thế kỷ XXI, thậm chí sự dịch chuyển sang Thái Bình Dương cũng có thể nâng mọi con thuyền của tất cả các nước lên cao hơn nữa. Angus Maddison, người được đề cập trước đó về tính toán của mình, cho rằng tổng sản phẩm quốc nội của Trung Hoa sẽ vượt Hoa Kỳ vào năm 2020, và dự đoán mức thu nhập của Trung Hoa sẽ tăng gấp ba lần (ở mức bình quân 18.991 đô-la/đầu người) vào những năm 2003-2030. Ông nghĩ rằng mức thu nhập ở Mỹ chỉ tăng 50%, nhưng vì họ có khởi điểm ở một mức cao đến thế nên một người Mỹ điển hình vào năm 2030 sẽ kiếm được 58.722 đô-la, gấp hơn ba lần mức thu nhập của một người Trung Hoa điển hình. Robert Fogel thậm chí còn lạc quan hơn khi cho rằng nền kinh tế Trung Hoa sẽ nhanh chóng qua mặt Hoa Kỳ vào năm 2016. Ông ta nói rằng đến năm 2040 mức thu nhập bình quân của Trung Hoa sẽ lên đến 85.000 đô-la – nhưng vào thời điểm đó thì trung bình một người Mỹ cũng kiếm được 107.000 đô-la.❖⦾
Hầu hết những lạc quan thái quá này là điều mà nhà báo James Mann gọi là Viễn cảnh êm dịu,❖ một khẳng định rằng dù khó khăn đến mấy thì sự thịnh vượng sẽ Tây phương hóa phương Đông. Khi đó việc đặt câu hỏi liệu phương Tây vẫn thống lĩnh thế giới hay không là vô nghĩa, bởi vì cả thế giới sẽ trở thành phương Tây. George W. Bush đã kêu gọi vào năm 1999 như sau: “Hãy quan hệ thương mại tự do với Trung Hoa, và thời gian đang ủng hộ chúng ta.”❖
Luận cứ này dẫn ra rằng phương cách duy nhất để phát triển trong nền kinh tế toàn cầu hiện đại là tự do và dân chủ – điều này có nghĩa là sẽ giống vùng lõi phương Tây hơn. Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore đều chuyển từ nhà nước độc đảng sang chế độ có phần nào dân chủ khi trở nên thịnh vượng vào cuối thế kỷ XX, và nếu Trung Hoa đi theo đường lối chủ nghĩa tư bản thì nó cũng có thể theo con đường dân chủ. Những khu vực liên quan nhiều nhất đến nền thương mại toàn cầu có thể đã làm như vậy. Chẳng hạn, ở các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến, ngày nay nhiều quan chức địa phương được bầu trực tiếp. Nền chính trị quốc gia chắc chắn vẫn độc đoán, nhưng các nhà cầm quyền Bắc Kinh rõ ràng đã biết quan tâm hơn đến những lo ngại của công chúng về thiên tai, khủng hoảng sức khỏe cộng đồng và tham nhũng.
Tuy nhiên, những người phương Tây đã từng bỏ thời gian ở phương Đông lại không ấn tượng lắm với ý tưởng cho rằng phương Đông sẽ trở nên Âu hóa về mặt văn hóa vào thời điểm nó đạt được sức mạnh để thống lĩnh toàn cầu. Dù sao thì người Mỹ cũng không hành động giống người châu Âu sau khi họ thay thế châu Âu với tư cách là khu vực chiếm ưu thế ở vùng lõi phương Tây, mà thay vì thế, người châu Âu bắt đầu phàn nàn về việc nền văn hóa của họ bị Mỹ hóa.
Giới tinh hoa đô thị ở Trung Hoa quả cũng tìm thấy nhiều điều thích thú trong văn hóa phương Tây khi họ gia nhập nền kinh tế toàn cầu do Hoa Kỳ thống lĩnh vào những năm 1980. Họ bỏ đi kiểu đồng phục của Mao Trạch Đông, mở trường dạy tiếng Anh, và thậm chí còn nhấm nháp cà phê sữa tại một cửa hàng Starbucks trong Tử Cấm Thành. Các quán rượu đắt tiền ở quận Hậu Hải, Bắc Kinh cũng đầy những thanh niên hiếu động kiểm tra tỉ giá cổ phiếu trên điện thoại di động như những kẻ cùng trang lứa ở New York hay London. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu việc Tây phương hóa có tiếp tục diễn ra nếu quyền lực và sự thịnh vượng dịch chuyển sang bên kia bờ Thái Bình Dương hay không.
Nhà báo Martin Jacques cho là không. Ông lập luận rằng, chúng ta đang chứng kiến sự trỗi dậy của cái mà ông gọi là “những tính chất hiện đại bị tranh đoạt”❖ do các nước Đông Á và Nam Á áp dụng các chủ nghĩa công nghiệp, tư bản và tự do mà vùng lõi phương Tây tạo ra thế kỷ XIX cho những nhu cầu riêng của họ. Jack biện giải rằng trong nửa đầu thế kỷ XXI, sự dẫn đầu của phương Tây sẽ mở đường cho một trật tự toàn cầu bị phân mảnh, với nhiều khu vực tiền tệ đa dạng (đồng Đô-la, Euro và Nhân dân tệ) và phạm vi ảnh hưởng kinh tế/quân sự (một khu vực Mỹ ở châu Âu, Tây Nam Á, và có lẽ cả Nam Á, và một khu vực Trung Hoa ở Đông Á và châu Phi), mỗi khu vực được áp đặt bởi các truyền thống văn hóa riêng (Âu-Mỹ, Nho giáo, v.v.). Nhưng ông dự đoán vào nửa sau thế kỷ XXI những con số sẽ nói lên tất cả; Trung Hoa sẽ vượt trội và thế giới sẽ bị Đông phương hóa.
Suy luận từ việc Trung Hoa đã sử dụng sức mạnh của mình như thế nào kể từ thập niên 1990, Jacques cho rằng thế giới dĩ Hoa vi trung (đất nước Trung Hoa là trung tâm thế giới) vào cuối thế kỷ XXI sẽ khác hẳn thế giới phương Tây của thế kỷ XIX và XX. Nó sẽ còn mang tính thứ bậc hơn, với ý tưởng Trung Hoa cổ xưa cho rằng người ngoại quốc phải tiếp cận Vương quốc Trung tâm với tư cách là những người xin triều cống thay cho các học thuyết phương Tây về sự bình đẳng ảo giữa các quốc gia và các thể chế. Nó cũng sẽ theo chủ thuyết hẹp hòi, loại bỏ lối tu từ của phương Tây về các giá trị phổ quát của con người; và tập trung quyền lực, không cho phép bất kỳ thách thức nào đối với quyền lực của các nhà cai trị. Trên toàn thế giới, mọi người sẽ quên đi những vinh quang của Âu-Mỹ trong quá khứ. Họ sẽ học tiếng Quan Thoại thay vì tiếng Anh, tổ chức lễ kỷ niệm Trịnh Hòa chứ không phải Columbus, đọc sách Khổng Tử thay vì Plato, và lấy làm ngỡ ngàng trước những nhân vật thời kỳ Phục hưng ở Trung Hoa như Thẩm Quát chứ không phải những danh nhân người Italy như Leonardo da Vinci.
Một số chiến lược gia cho rằng sự thống lĩnh toàn cầu của Trung Hoa sẽ đi theo truyền thống Nho giáo về thuật trị quốc hòa bình và ít hung hăng hơn kiểu phương Tây, nhưng những người khác không đồng ý. Lịch sử Trung Hoa không đưa ra những dẫn chứng cụ thể. Chắc chắn cũng có một số lãnh đạo Trung Hoa dùng việc chống chiến tranh như một công cụ chính trị (đặc biệt ở tầng lớp trên và giới quan chức), nhưng cũng có rất nhiều người khác sẵn sàng sử dụng vũ lực, bao gồm một số hoàng đế đầu tiên ở hầu hết mọi triều đại ngoại trừ nhà Tống. Những lý thuyết gia về quan hệ quốc tế tự cho là những người theo chủ nghĩa thực tế thường cho rằng sự thận trọng của Trung Hoa kể từ Chiến tranh Triều Tiên là do sự yếu kém của quốc gia này chứ không phải là do theo quan điểm của Khổng Tử. Chi tiêu quân sự của Bắc Kinh đã tăng hơn 16% mỗi năm kể từ năm 2006 và hướng mục tiêu sánh ngang nước Mỹ vào thập niên 2020. Dựa vào những quyết định mà các nhà lãnh đạo tương lai đưa ra, sự trỗi dậy của phương Đông nhằm thống lĩnh toàn cầu ở thế kỷ XXI thậm chí có khả năng còn đẫm máu hơn so với sự vượt trội của phương Tây ở thế kỷ XIX và XX.
Do vậy chúng ta vẫn cứ mong chờ. Có thể những con người vĩ đại sẽ xuất hiện để giúp đỡ nước Mỹ, giữ nguyên chế độ phương Tây thêm một vài thế hệ nữa; hay có thể những kẻ ngốc nghếch vụng về sẽ ngăn trở sự trỗi dậy của Trung Hoa trong một thời gian. Có thể phương Đông sẽ bị Tây phương hóa, hay có thể phương Tây sẽ bị Đông phương hóa. Có thể tất cả chúng ta sẽ sống chung trong một ngôi làng toàn cầu, hay có thể chúng ta sẽ tan rã cùng với cuộc xung đột giữa các nền văn minh. Có lẽ mọi người sẽ có cái kết thịnh vượng hơn, hay có thể chúng ta sẽ tự thiêu cháy mình trong cuộc Thế chiến III.
Mở bòng bong của những dự đoán mâu thuẫn này không khác gì câu chuyện tôi đã đề cập đến trong Chương 4 về những người mù sờ voi, mỗi người đều tưởng tượng mình đang chạm vào một thứ gì đó hoàn toàn khác. Cách duy nhất để giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội mà tôi đã đề xuất trong cuốn sách này là bằng cách dùng chỉ số phát triển xã hội để có thể soi sáng chút ít về hiện cảnh. Giờ đây tôi muốn đề xuất rằng cách tiếp cận tương tự sẽ giúp chúng ta nhìn thấy con voi trông như thế nào sau 100 năm kể từ bây giờ.
Năm 2103
Chúng ta hãy nhìn lại Hình 12.1, đặc biệt ở thời điểm năm 2003 khi những đường đồ thị phương Đông và phương Tây giao nhau. Trục tung cho thấy đến lúc đó phát triển xã hội sẽ nằm ở mức hơn 5.000 điểm.
Đây là một con số đáng ngạc nhiên. Trong 14.000 năm từ khi kết thúc Thời đại Băng hà đến năm 2000, phát triển xã hội đã tăng lên 900 điểm. Trong 100 năm tới, theo Hình 12.1, nó sẽ tăng thêm 4000 điểm nữa. Mốc 900 điểm đã đưa chúng ta từ những bức tranh hang động ở Altamira đến thời đại nguyên tử; vậy thêm 4.000 điểm nữa con người sẽ đến được đâu? Đối với tôi điều này thực sự là một vấn đề. Chúng ta không thể hiểu được điều gì sẽ xảy ra sau thời kỳ Trung-Mỹ (Chimerica) nếu không hiểu được thế giới sẽ như thế nào khi đạt mốc 5.000 điểm.
Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2000, nhà kinh tế học Jeremy Rifkin đã nhận định: “Lối sống của chúng ta có khả năng được chuyển đổi thực chất hơn trong vài thập niên tới so với 1.000 năm trước đây.”❖ Điều này nghe có vẻ xa vời, nhưng nếu Hình 12.1 thực sự thể hiện sự định hình cho tương lai thì dự phòng của Rifkin rõ ràng còn giảm trừ đi nhiều. Theo biểu đồ thì từ năm 2000 đến năm 2050 phát triển xã hội sẽ tăng gấp đôi so với 15.000 năm trước đó; và đến năm 2103 nó sẽ lại tăng gấp đôi con số đó. Điều này đúng là một trò đùa của lịch sử!
Đây là lúc tất cả các dự báo mà tôi đưa ra ở phần trước bị sụp đổ. Tất cả đều chỉ suy luận từ hiện tại đến một tương lai gần, và – không lấy gì làm ngạc nhiên – tất cả đều kết luận rằng tương lai sẽ giống như hiện tại, nhưng với một đất nước Trung Hoa giàu có hơn. Nếu thay vào đó, chúng ta cân nhắc toàn bộ gánh nặng lịch sử liên quan đến câu hỏi này – có nghĩa là, nếu nói chuyện với bóng ma Giáng sinh Quá khứ – chúng ta buộc phải nhận thấy rằng sự gia tăng phát triển xã hội sắp xảy đến là chưa có tiền lệ.
Những hàm ý của mốc chỉ số phát triển 5.000 điểm là đáng ngạc nhiên. Theo lý luận, nếu chúng ta giả định rằng bốn đặc điểm gồm hấp thu năng lượng, đô thị hóa, công nghệ thông tin và năng lực quân sự sẽ chiếm tỉ trọng tương đương với tổng điểm phát triển xã hội vào năm 2103 giống như năm 2000,⦾ thì một thế kỷ sau kể từ bây giờ sẽ có các thành phố với dân số 140 triệu người (thử hình dung các thành phố Tokyo, Mexico City, New York, São Paulo, Mumbai, Delhi, và Thượng Hải nhập lại thành một) trong đó mức bình quân một người tiêu thụ năng lượng cho số dân cư này là 1,3 triệu kcal mỗi ngày.
Việc gia tăng gấp năm lần khả năng quân sự thậm chí còn khó hình dung hơn nữa. Chúng ta đã có đủ vũ khí để tiêu diệt thế giới nhiều lần, và thay vì chỉ gia tăng đầu đạn hạt nhân, bom, và súng đạn, thế kỷ XXI có lẽ sẽ chứng kiến những công nghệ chế tạo vũ khí ở thế kỷ XX trở nên lỗi thời, cũng như đem so súng máy với súng hỏa mai. Một kiểu như trong bộ phim Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao), lá chắn tên lửa đạn đạo mà các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu từ thập niên 1980 chắc chắn sẽ trở thành hiện thực. Robot sẽ chiến đấu thay chúng ta. Chiến tranh mạng sẽ trở nên quan trọng. Công nghệ nano sẽ biến những vật liệu thường ngày thành loại giáp bất khả xâm phạm hay những vũ khí giết người. Và mỗi loại hình tấn công mới sẽ đòi hỏi những biện pháp phòng thủ phức tạp tương ứng.
Tuy nhiên, điều gần như lấn át tất cả chính là những thay đổi trong công nghệ thông tin, như được gợi ý trong Hình 12.1. Thế kỷ XX đã đưa chúng ta từ thời kỳ radio và điện thoại thô sơ đến thời kỳ của Internet; quả thật không cường điệu chút nào khi cho rằng thế kỷ XXI sẽ cung cấp cho tất cả mọi người ở những vùng lõi phát triển truy cập và lấy mọi thông tin trên thế giới một cách nhanh chóng, những bộ óc thông minh của chúng kết nối với nhau như, hoặc vào một máy tính khổng lồ, với khả năng tính toán hàng tỉ tỉ lần lớn hơn mọi bộ óc và máy móc ở thời đại chúng ta.
Tất nhiên, tất cả những điều trên có vẻ bất khả. Những thành phố có đến 140 triệu cư dân chắc chắn không thể vận hành. Không có đủ xăng dầu, than, khí đốt và uranium trên thế giới để cung cấp cho hàng tỉ người với 1,3 triệu kcal mỗi ngày. Các cuộc chiến tranh nano, chiến tranh mạng và robot sẽ hủy diệt tất cả chúng ta. Và phải rồi, nếu kết hợp trí não của chúng ta với máy móc thì chúng ta sẽ không còn là con người nữa.
Và tôi nghĩ điều này là điều quan trọng và đáng lo nhất ở Hình 12.1.
Tôi đã đưa ra hai khẳng định chung nhất trong cuốn sách này. Khẳng định đầu tiên là sinh vật học, xã hội học và địa lý cùng kết hợp để giải thích lịch sử phát triển xã hội, với sinh vật học thúc đẩy phát triển, xã hội học định hình phát triển gia tăng (hay không) ra sao và địa lý quyết định vùng nào phát triển nhanh (hay chậm) nhất; và khẳng định thứ hai là trong khi vị trí địa lý xác định nơi phát triển xã hội tăng hoặc giảm thì phát triển xã hội cũng xác định địa lý có ý nghĩa như thế nào. Bây giờ tôi muốn mở rộng các lý luận này. Trong điều kiện phát triển xã hội ở thế kỷ XXI hứa hẹn – hay đe dọa – gia tăng đến mức nó cũng sẽ thay đổi tầm quan trọng của sinh vật học và xã hội học. Chúng ta đang tiếp cận sự bất định lớn nhất trong lịch sử.
Nhà phát minh và cũng là nhà khoa học nổi tiếng ở lĩnh vực nghiên cứu tương lai Ray Kurzweil gọi đây là giai đoạn Công nghệ Dị thường (Singularity) – “một chu kỳ thời gian tương lai mà ở đó tốc độ thay đổi công nghệ sẽ cực kỳ nhanh và tác động của nó cũng cực kỳ sâu rộng… Công nghệ này dường như đang bành trướng với tốc độ vô hạn.”❖ Một trong những nền tảng cho luận cứ của ông là Định luật Moore, phát sinh từ quan sát nổi tiếng của kỹ sư Gordon Moore (và sau là chủ tịch của hãng Intel) vào năm 1965, cho rằng với mỗi năm qua đi việc thu nhỏ chip máy tính làm tăng gấp đôi tốc độ xử lý của chúng và giảm được một nửa chi phí. Bốn mươi năm trước, các hệ thống máy tính khổng lồ thường chỉ thực hiện được vài trăm nghìn phép tính mỗi giây và tiêu tốn đến vài triệu đô-la, nhưng hiện tại chiếc máy tính xách tay nhỏ xíu chỉ 1.000 đô-la mà tôi đang sử dụng có thể xử lý được hai tỉ phép tính mỗi giây – được cải tiến gấp 10 triệu lần nhưng lại đáp ứng được mức giá vừa phải hay chỉ tăng gấp đôi cứ mỗi 18 tháng, giống như dự đoán của Moore.
Nếu tiếp tục xu thế này thì khoảng năm 2030, máy tính sẽ đủ mạnh để chạy các chương trình tái tạo 10.000 tỉ tỉ tín hiệu truyền dẫn mỗi giây trong số 22 tỉ neuron bên trong não bộ một người. Chúng cũng sẽ có bộ nhớ để lưu trữ 10.000 tỉ tỉ hồi ức mà một não bộ điển hình cất giữ. Đến thời điểm đó, công nghệ quét sẽ đủ chính xác để mô phỏng não bộ con người đến từng neuron – điều này có nghĩa là, nói theo những người ủng hộ công nghệ, chúng ta sẽ có thể tải những suy nghĩ của con người lên máy. Kurzweil cho rằng, khoảng năm 2045, máy tính sẽ có khả năng lưu trữ tất cả trí tuệ trên thế giới, kết hợp hiệu quả trí thông minh dựa trên carbon và silic thành một ý thức toàn cầu duy nhất. Đây sẽ là điểm Công nghệ Dị thường. Chúng ta sẽ vượt lên về tình trạng sinh học, tiến hóa thành một sinh vật hỗn hợp mới, vượt xa loài Homo sapiens đương thời vốn là những tế bào đơn lẻ hợp nhất lại để tạo ra thân xác.
Tầm nhìn đầy nhiệt huyết của Kurzweil đã khơi dậy nhiều sự nhạo báng cũng như ngưỡng mộ (một số người gọi đó là “Trạng thái phấn khích của những người đam mê khoa học”❖), và điều khác biệt là – giống như mọi nhà tiên tri trước ông – ông cũng sẽ vấp phải những điều sai lầm hơn là điều đúng. Nhưng một trong những điều mà Kurzweil chắc chắn đúng là điều mà ông gọi là sự phê phán từ tính hoài nghi❖, sự hoài nghi giản đơn cho rằng bất kỳ điều khác thường nào có thể xảy ra đều không có phản để. Nói như nhà hóa học đoạt giải Nobel, Richard Smalley: “Khi một nhà khoa học cho rằng một điều gì đó có thể xảy ra, có thể họ đang xem nhẹ việc điều đó phải mất bao lâu để xảy đến. Nhưng nếu họ cho rằng điều đó là không thể, thì có lẽ họ đã sai lầm.”❖ Nhân loại đang thực hiện các bước đi chập chững hướng đến điểm Công nghệ Dị thường, đồng thời các chính phủ và quân đội cũng đang nghiêm túc nắm bắt viễn cảnh về một thời điểm Công nghệ Dị thường để bắt đầu vạch kế hoạch cho nó.
Có lẽ chúng ta đã chứng kiến một số bước đi chập chững kiểu này làm được những gì. Trong Chương 10, tôi chỉ ra rằng cuộc cách mạng công nghiệp đã khởi đầu cho những thay đổi lớn hơn theo ý nghĩa con người so với những gì cuộc cách mạng nông nghiệp đã tạo ra. Trên hầu khắp thế giới, chế độ ăn kiêng tốt hơn hiện nay cho phép con người kéo dài tuổi thọ gấp đôi và cao hơn 15cm so với cụ kị của họ. Giờ đây rất ít phụ nữ phải mất nhiều thời gian cho việc sinh nở và chăm sóc con cái, và đem so với các thời kỳ trước đó, rất ít trẻ tử vong từ khi mới sinh ra. Ở các nước giàu nhất, những bác sĩ có vẻ đang thực hiện các phép lạ – họ có thể giữ cho chúng ta trông trẻ ra (năm 2008, có năm triệu liệu trình Botox đã được thực hiện ở Hoa Kỳ), kiểm soát tâm trạng của chúng ta (1/10 người Mỹ sử dụng thuốc Prozac) và điều chỉnh mọi thứ từ sụn đến sự cương cứng (trong năm 2005, các bác sĩ Mỹ đã kê 17 triệu đơn thuốc dùng Viagra, Cialis và Levitra). Tôi cho rằng các hoàng đế già cỗi của thời cổ đại hẳn có thể nghĩ rằng những viên thuốc tím nhỏ này cũng kỳ diệu như bất cứ điều gì trong giả thuyết Công nghệ Dị thường của Kurzweil.
Nghiên cứu về di truyền học ở thế kỷ XXI còn hứa hẹn sẽ làm thay đổi con người nhiều hơn nữa, sửa chữa lỗi sao chép trong tế bào chúng ta và phát triển các bộ phận mới khi chúng ta thất vọng với những bộ phận gắn liền với mình từ khi sinh ra. Một số nhà khoa học nghĩ rằng chúng ta đang tiếp cận sự bất tử hóa từng phần: giống như cây rìu nổi tiếng của Abraham Lincoln (cán được thay ba lần và lưỡi hai lần), mỗi bộ phận của chúng ta có thể được làm mới trong khi chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng vô thời hạn.
Và tại sao lại chỉ dừng lại ở việc sửa chữa những gì bị hỏng hóc? Có thể các bạn còn nhớ bộ phim truyền hình The Six Million Dollar Man (Người đáng giá sáu triệu đô-la) sản xuất năm 1970, mở đầu bằng việc một phi công tên Steve Austin (do Lee Majors thủ vai) bị mất một cánh tay, một con mắt và cả hai chân trong một tai nạn máy bay. Lời người dẫn chuyện nói: “Chúng tôi có thể tái tạo anh ấy – chúng tôi có công nghệ,”❖ và rồi Austin nhanh chóng xuất hiện trở lại như một người mô phỏng sinh học, chạy nhanh hơn xe hơi, có một bộ đếm Geiger trên tay và một ống kính máy ảnh trong mắt, và cuối cùng cũng có một bạn gái mô phỏng sinh học (Lindsay Wagner).
Ba mươi năm qua đi và giờ đây các vận động viên đã tiến đến tầm ứng dụng mô phỏng sinh học. Khi Tiger Woods cần phẫu thuật mắt vào năm 2005, anh đã nâng cấp tầm nhìn của mình trên cả hoàn hảo ở chỉ số 20/15, và vào năm 2008, Liên đoàn Điền kinh Quốc tế (International Association of Athletics Federations) còn tạm thời cấm vận động viên chạy nước rút Oscar Pistorius tham gia Thế vận hội vì chân giả của anh giúp anh có lợi thế hơn những vận động viên khác trên đường chạy.
Vào thập niên 2020, những người trung niên ở các vùng lõi đã phát triển có thể nhìn xa hơn, chạy nhanh hơn và trông đẹp hơn so với thời trai trẻ. Nhưng họ vẫn sẽ không tinh mắt, nhanh lẹ và đẹp đẽ hơn thế hệ kế tiếp. Việc kiểm tra di truyền cho phép cha mẹ có cơ hội loại bỏ những bào thai có triệu chứng mắc phải các khiếm khuyết không mong muốn, và khi chúng ta tiến bộ hơn trong việc chuyển đổi gen, thứ gọi là những đứa trẻ hàng hiệu ra đời dựa trên kỹ thuật di truyền học theo sở thích riêng của bố mẹ có thể trở thành một giải pháp lựa chọn. Một số người đặt câu hỏi tại sao cứ phải đặt cơ hội vào tấm vé số di truyền tự nhiên trong khi chỉ cần chút ít sửa đổi bạn sẽ có những đứa con theo ý mình?
Một số khác lại cho rằng thuyết ưu sinh – dù được thúc đẩy bởi những kẻ điên cuồng phân biệt chủng tộc như Hitler hay do chọn lựa của người tiêu dùng – là vô đạo đức. Nó cũng có thể nguy hiểm: các nhà sinh vật học thích nói rằng sự tiến hóa thông minh hơn bạn và có thể một ngày nào đó chúng ta phải trả giá vì cố làm khôn hơn tự nhiên bằng cách chọn lấy những đặc điểm bầy đàn của chúng ta như ngu dốt, thù địch, béo phì và lười biếng. Các nhà phê phán chỉ trích rằng tất cả những điều nói về vượt trội sinh học đơn thuần chỉ là trò chơi muốn trở thành Thượng Đế, và Craig Venter, một trong những nhà khoa học đầu tiên sắp xếp trình tự hệ gen người, đã đáp lại: “Chúng tôi không tham gia trò chơi đó.”❖
Cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn, nhưng tôi cho rằng thời đại của chúng ta, cũng giống như nhiều thời đại trước đó, cuối cùng sẽ tìm ra được ý tưởng cần thiết. Mười nghìn năm trước, có thể một số người lo rằng lúa mì và cừu thuần hóa là trái với quy luật tự nhiên; 200 năm trước, chắc chắn một số người cũng cảm thấy như thế đối với động cơ hơi nước. Người nào làm chủ được nỗi lo sợ của mình thì sẽ phát triển; còn những người không thể thì sẽ không tiến bộ được. Việc cố gắng cấm đoán nhân bản hay làm đẹp trên mọi thứ và kéo dài tuổi thọ trông khó khả thi, và việc cấm sử dụng những cải tiến trong quân sự đối với tự nhiên thậm chí còn ít khả thi hơn nữa.
Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DARPA) là một trong những nhà tài trợ lớn nhất cho nghiên cứu về việc sửa đổi con người. Chính DARPA đã đưa chúng ta vào thế giới Internet (hồi đó gọi là Arpanet) ở thập niên 1970, và Dự án Giao diện Thông minh (Brain Interface Project) của nó hiện đang nghiên cứu loại máy tính ở cấp độ phân tử, được chế tạo từ các enzyme và phân tử DNA thay vì silicon, có thể được cấy vào đầu binh lính. Những máy tính phân tử đầu tiên được tiết lộ vào năm 2002, và vào năm 2004 các phiên bản tốt hơn có thể giúp chống lại căn bệnh ung thư. Tuy nhiên, DARPA hy vọng rằng các kiểu mẫu tiên tiến sẽ đem lại cho người lính một số ưu điểm như máy móc bằng cách thúc đẩy các liên kết tiếp hợp, hỗ trợ bộ nhớ, thậm chí cung cấp truy cập mạng Internet không dây. Cùng một cảm hứng tương tự, dự án Silent Talk (Nói thầm) của DARPA đang nghiên cứu việc cấy ghép để giải mã các ký hiệu tiền lời nói trong não bộ và gửi chúng qua Internet để binh lính có thể liên lạc mà không cần radio hay email. Một báo cáo của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) cho rằng phương thức thần giao cách cảm ứng dụng qua mạng❖ như vậy sẽ trở thành hiện thực trong thập niên 2020.
Máy tính, thành phần cuối cùng trong Công nghệ Dị thường của Kurzweil, vốn có khả năng tái tạo các hoạt động của bộ não sinh học, còn phát triển nhanh hơn nữa. Vào tháng 4 năm 2007, các nhà nghiên cứu của hãng IBM đã biến một siêu máy tính Blue Gene/L thành một bộ mô phỏng vỏ não song song có thể chạy một chương trình bắt chước các chức năng của chuột. Chương trình chỉ được một nửa tính phức tạp của một con chuột thực sự, và chỉ chạy bằng 1/10 tốc độ của loài gặm nhấm, nhưng vào tháng 11 năm đó, cũng chính phòng thí nghiệm này đã nâng cấp để bắt chước bộ não chuột lớn hơn và phức tạp hơn.
Khoảng cách từ một nửa con chuột với tốc độ chậm đến một con người với tốc độ tối đa là một chặng đường dài, và nhóm thí nghiệm ước tính rằng một mô phỏng con người sẽ đòi hỏi một máy tính mạnh gấp 400 lần, mà công nghệ năm 2007 còn vướng phải những yêu cầu về năng lượng, làm mát và không gian chưa thể xử lý được. Tuy nhiên, trong năm 2008, chi phí giảm mạnh, và hãng IBM dự đoán rằng siêu máy tính Blue Gene/Q được khởi động và vận hành trong năm 2011 sẽ đạt tối thiểu ¼ chặng đường đó. Ngoài ra, dự án Kittyhawk thậm chí còn tham vọng hơn, nhằm liên kết hàng nghìn siêu máy tính thế hệ Blue Gene, cũng phải chờ đến thập niên 2020 mới tiếp cận được.
Khẳng định những dự án đó sẽ đưa ra kết luận cho Công nghệ Dị thường của Kurzweil vào năm 2015 có vẻ vội vàng. Tuy nhiên, có thể còn thiếu suy nghĩ hơn nếu phủ nhận rằng chúng ta đang tiến tới một bước nhảy trên quy mô lớn. Ở mọi phạm vi chúng ta quan sát đều thấy các nhà khoa học đang tấn công vào các ranh giới của sinh vật học. Tham vọng công khai của Craig Venter nhằm tạo ra sự sống đã khiến ông có biệt danh Bác sĩ Frankencell, nhưng vào năm 2010, nhóm nghiên cứu của ông đã thành công trong việc sản xuất bộ gen của một loại vi khuẩn đơn giản hoàn toàn từ hóa chất và cấy vào vách tế bào để tạo ra chất JCVI-syn1.0, thể sống tổng hợp tự tái tạo đầu tiên trên trái đất. Di truyền học thậm chí còn có một phiên bản riêng của Định luật Moore, Đường cong Carlson⦾: giữa năm 1995 và năm 2009 chi phí nghiên cứu tổng hợp DNA giảm từ một đô-la/một cặp gốc xuống còn dưới 0,1 cent. Một số nhà di truyền học cho rằng đến năm 2020 việc tạo dựng các thể sống hoàn toàn mới sẽ trở nên đơn giản. Quả thật chúng ta khó hình dung ra những xu thế ở hai thế kỷ qua đang dẫn đến một sự thay đổi trong ý nghĩa là con người, tạo ra những thành phố rộng lớn, mức độ năng lượng không tưởng, vũ khí Khải huyền và các loại khoa học viễn tưởng về công nghệ thông tin được nói lên trong điểm số phát triển xã hội ở mốc 5.000 điểm.
Cuốn sách này cung cấp đầy những biến động khiến phát triển xã hội nhảy vọt, đưa ra nhiều vấn đề không thích đáng chi phối đến cuộc sống của các thế hệ trước. Sự tiến hóa của loài Homo sapiens đã quét sạch mọi loài vượn người trước đó; phát kiến nông nghiệp đã khiến nhiều vấn đề nóng bỏng trong cuộc sống săn bắt-hái lượm trở nên không quan trọng và sự trỗi dậy của các thành phố và quốc gia cũng làm những mối bận tâm của người dân làng thời tiền sử bị lãng quên. Việc đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên và mở ra các đại dương đã chấm dứt những vấn đề thực tiễn cản trở sự phát triển của Cựu Thế giới trong suốt 2.000 năm, và dĩ nhiên cuộc cách mạng công nghiệp đã nhạo báng tất cả những gì qua đi trước đó.
Những cuộc cách mạng này đã và đang tăng tốc, nối tiếp nhau để cứ mỗi lần như thế lại thúc đẩy phát triển xã hội tiến xa hơn và nhanh hơn. Nếu phát triển nhảy vọt lên đến 4.000 điểm trong thế kỷ XXI như Hình 12.1 dự đoán, cuộc cách mạng đang diễn ra này sẽ là lớn nhất và nhanh nhất. Nhiều nhà tương lai học đồng ý rằng cốt lõi của nó nằm trong những chuyển đổi kết nối của di truyền học, ngành chế tạo robot, công nghệ nano và tin học, và những hậu quả của nó sẽ làm đảo lộn phần lớn những gì chúng ta đã biết.
Tuy nhiên, trong khi Hình 12.1 cho thấy điểm số phát triển phương Đông đuổi sát phương Tây, bạn có thể nhận thấy rằng mọi dẫn chúng tôi nêu ra ở phần này – DARPA, IBM, The Six Million Dollar Man – đều thuộc nước Mỹ. Các nhà khoa học phương Đông cũng có nhiều đóng góp cho các công nghệ mới (chẳng hạn như ngành chế tạo robot ở Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như ở bất cứ đâu), nhưng cho đến nay, cuộc cách mạng vẫn tràn ngập ở phương Tây. Điều này có nghĩa là việc các học giả chỉ ra sự thoái trào của nước Mỹ và một thời kỳ Trung Hoa đang đến gần sẽ được chứng minh là sai lầm: nếu Mỹ thống lĩnh những công nghệ mới triệt để như nước Anh thống lĩnh nền công nghiệp hai thế kỷ trước đây, thì cuộc cách mạng về di truyền học công nghệ nano/chế tạo robot có thể chuyển sự thịnh vượng và quyền lực sang hướng tây thậm chí còn gây ấn tượng hơn cả cuộc cách mạng công nghiệp.
Mặt khác, có thể sự chuyển đổi cơ bản của sự thịnh vượng từ Tây sang Đông cũng đồng nghĩa với việc sự thống lĩnh của Mỹ hiện nay chỉ là một độ trễ từ thế kỷ XX, và đến thập niên 2020 những tiến bộ to lớn sẽ diễn ra ở các phòng thí nghiệm phương Đông. Trung Hoa đã sử dụng nguồn tài chính hào phóng để thu hút các nhà khoa học giỏi nhất của họ từ Mỹ trở về; và có thể hãng Lenovo, chứ không phải IBM, sẽ cung cấp các hệ thống máy tính có bộ nhớ khổng lồ lưu trữ mọi tư tưởng trên toàn cầu vào thập niên 2040, và nhìn chung thì Hình 12.1 ít nhiều cũng thể hiện chính xác.
Hay có thể một lần nữa, Công nghệ Dị thường lại biến các phạm trù cũ xưa như Đông và Tây hoàn toàn không còn thích đáng nữa. Thay vì chuyển đổi vùng địa lý, nó có thể loại bỏ điều đó. Sự kết hợp giữa con người và máy móc cũng đồng nghĩa với việc tạo ra những phương cách mới để thu hút và sử dụng năng lượng, những phương cách sống chung mới, những phương cách chiến đấu mới cùng những phương cách giao tiếp mới. Nó cũng đồng nghĩa với việc tạo ra những phương cách làm việc, tư duy, yêu thương và cười đùa mới mẻ; những phương cách ra đời, đến với tuổi già rồi ra đi một cách mới mẻ. Thậm chí nó cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của tất cả những điều đó hay sự tạo dựng một thế giới vượt qua những điều mà bộ óc thuần sinh học chưa được cải tiến của chúng ta có thể hình dung được.
Một hay tất cả những điều này đều có thể xảy ra. Tất nhiên chỉ trừ khi có điều gì ngăn trở.
Kịch bản tồi tệ nhất
Cuối năm 2006, vợ chồng tôi được mời tham dự một hội nghị ở Đại học Stanford gọi là Một thế giới đầy bất trắc. Sự kiện có nhiều nhân vật hoạch định chính sách hàng đầu thế giới tham gia này diễn ra vào một ngày mùa đông tươi đẹp. Mặt trời chiếu sáng trên bầu trời trong xanh khi chúng tôi đến địa điểm gặp gỡ. Thị trường chứng khoán, giá nhà, việc làm, và sự tự tin của người tiêu dùng đang đạt mức cao nhất hay gần như thế ở mọi thời đại. Đó là bình minh ở nước Mỹ.
Trong bữa điểm tâm, chúng tôi chỉ nghe các cựu bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng bàn về các mối đe dọa hạt nhân, sinh học và khủng bố đang phải đối mặt. Trước giờ ăn trưa, chúng tôi lại được nghe về quy mô kinh hoàng của suy thoái môi trường và nguy cơ cao về sự sụp đổ của nền an ninh quốc tế, đồng thời trong khi ăn, chúng tôi lại được nghe tiếp về dịch bệnh toàn cầu hầu như không thể tránh khỏi. Và sau đó mọi thứ trở nên thảm hại. Chúng tôi quay cuồng từ phiên họp này sang phiên họp khác để chỉ nhận được một sự ảm đạm bao trùm lên hết báo cáo này đến báo cáo khác của các chuyên gia về tình hình thảm họa đang gia tăng. Hội nghị vốn nhằm tìm giải pháp xử lý những tình huống khó khăn toàn cầu, thế nhưng vào lúc diễn giả sau bữa ăn tối trình bày rằng chúng ta đang thất bại trong cuộc chiến chống khủng bố thì người nghe hầu như chỉ biết im lặng.
Cái ngày đầy thất vọng này khiến tôi phải suy nghĩ (tôi không phóng đại chút nào). Ở thế kỷ đầu tiên, và rồi 1.000 năm sau đó, phát triển xã hội từng rơi vào một ngưỡng cứng và các thế lực gây trì trệ do chính sự phát triển gây ra đã khởi phát sự sụp đổ trên khắp Cựu Thế giới. Liệu có phải giờ đây chúng ta lại phát hiện ra một ngưỡng cứng mới quanh 1.000 điểm trên bảng chỉ số? Liệu tiếng vó ngựa của các kỹ sĩ Khải huyền có đang bắt kịp những bước đi chập chững của chúng ta hướng tới điểm Công nghệ Dị thường trong khi các bạn đọc những lời này?
Năm khuôn mặt quen thuộc – biến đổi khí hậu, nạn đói, sự thất bại của nhà nước, di dân và bệnh tật – tất cả có vẻ như đang quay trở lại. Thứ nhất, sự ấm lên toàn cầu, có lẽ là dẫn chứng cuối cùng của nghịch lý phát triển và cũng chính các nhiên liệu hóa thạch giúp thúc đẩy phát triển xã hội kể từ năm 1800 đã làm không khí tràn đầy khí carbon, gây hiệu ứng nhà kính. Đồ chơi bằng nhựa và tủ lạnh biến thế giới của chúng ta thành một nhà kính. Nhiệt độ đã tăng thêm 0,5°C kể từ năm 1850, thời kỳ tăng nhanh nhất chủ yếu là 30 năm trở lại đây, và thủy ngân trong nhiệt kế vẫn tiếp tục tăng.
Trong quá khứ, nhiệt độ cao hơn thường đi kèm với năng suất nông nghiệp cao hơn và sự phát triển gia tăng (như ở những Thời kỳ Ấm La Mã và Trung cổ), nhưng lần này có thể khác đi. Ủy ban liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc (IPCC) vào năm 2007 cho rằng “Các tần suất và cường độ biến đổi của thời tiết khắc nghiệt cùng với tình trạng nước biển dâng được dự báo sẽ gây tác động bất lợi đến tự nhiên và các hệ thống con người… sự ấm lên toàn cầu có thể dẫn đến một số tác động bất thường hay không thể thay đổi được.”❖ Và có lẽ không khoa trương chút nào, nhưng những dòng chữ bé nhỏ trong báo cáo của họ thậm chí còn đáng báo động hơn nữa.
Bọt khí trong các chỏm băng cho thấy mức độ carbon dioxide đã dao động thất thường suốt trong 650.000 năm qua, chỉ từ 180 phân tử carbon dioxide trên một triệu phân tử không khí trong các Thời đại Băng hà lên tới 290 phân tử/1 triệu phân tử không khí (ppm) trong các thời kỳ gian băng làm khí hậu ấm lên. Carbon dioxide chưa bao giờ đạt đến 300 ppm cho đến năm 1958. Nhưng đến tháng 5 năm 2010, nó đạt mức 393 ppm, và IPCC ước tính rằng xu hướng hiện thời nếu tiếp tục không được kiểm soát thì đến năm 2050, mức carbon dioxide sẽ đạt đến 550 ppm – cao hơn các mức trong suốt 24 triệu năm và nhiệt độ trung bình sẽ tăng thêm 3°C. Và nếu việc hấp thu năng lượng tiếp tục tăng lên như mô tả ở Hình 12.1, thế giới có thể sẽ nóng hơn nhiều và nhanh hơn nhiều.
Trong tương lai, ngay cả khi chúng ta ngừng xả những chất khí gây hiệu ứng nhà kính, thì cũng đã có quá nhiều carbon dioxide trong không khí khiến tình trạng ấm lên vẫn sẽ tiếp tục. Chúng ta đã làm thay đổi đặc tính hóa học của bầu khí quyển nên dù bây giờ có làm bất kỳ điều gì, Bắc Cực vẫn sẽ tan băng. Những ước tính thận trọng như của IPCC cho thấy rằng băng sẽ biến mất vào năm 2100; những người có quan điểm cực đoan nhất thì cho rằng mùa hè ở vùng cực sẽ gây ra hiện tượng không đóng băng vào năm 2013. Nhưng hầu hết các nhà khoa học lại nghĩ rằng hiện tượng này sẽ xảy ra khoảng năm 2010.
Khi các vùng cực tan băng, mực nước biển sẽ dâng. Mặt biển đã dâng cao hơn 12cm so với năm 1900, và IPCC dự đoán sẽ tăng thêm 0,6m vào năm 2100. Các dự đoán đáng sợ nhất là khi vùng cực tan băng sẽ làm mực nước biển dâng thêm 15m nữa, nhấn chìm hàng triệu kilomet vuông đất canh tác tốt nhất và những thành phố giàu nhất hành tinh. Thế giới đang co lại theo nhiều cách hơn chúng ta nhận biết.
Nhưng dù cho toàn bộ băng có tan thành nước, các vùng biển vẫn sẽ ấm lên khi chúng hấp thụ nhiệt từ khí quyển, và do các đại dương giờ đây ít lạnh hơn vào mùa đông như trước đây nên mùa mưa bão và gió lốc sẽ kéo dài và dữ dội hơn. Những vùng ẩm ướt sẽ ẩm ướt hơn, kèm theo bão tố và lụt lội; những vùng khô càng khô hơn, kèm theo những trận cháy rừng và bão cát.
Cá nhân nhiều người trong chúng ta đã gặp một số dạng cảnh báo về sự ấm lên toàn cầu. Với tôi, cảnh báo này xảy ra vào năm 2008 ngay trước khi mùa cháy rừng ở California thường bắt đầu, không khí dày đặc tro bụi khi những khu rừng bùng cháy quanh nhà chúng tôi. Bầu trời chuyển sang màu da cam dị kỳ và tiếng cánh quạt của trực thăng chữa cháy át cả âm thanh của chúng tôi. Chúng tôi đã phát quang một vành đai phòng hỏa quanh nhà để ngăn chặn những đám cháy trong tương lai nhưng cuối cùng xém chết nếu không có những cơn mưa xuất hiện. Hay có lẽ tôi phải nói các trận mưa cuối cùng cũng đến sau một mùa cháy rừng diễn ra ở miền tây nước Mỹ mà tính đến giờ đã dài hơn 78 ngày so với thập niên 1970. Những trận cháy điển hình cũng kéo dài gấp năm lần so với 30 năm trước đây. Và nhân viên cứu hỏa dự đoán tương lai sẽ còn tồi tệ hơn thế nữa.
Tất cả những điều này xuất hiện trong bài viết mà nhà báo Thomas L. Friedman gọi là “những điều thực sự đáng sợ mà chúng ta đã biết.” Nhưng điều còn tồi tệ hơn nhiều chính là những gì ông gọi là “những điều thậm chí còn đáng sợ hơn mà chúng ta chưa biết.” Friedman giải thích rằng vấn đề mà chúng ta phải đối mặt không phải là sự ấm lên toàn cầu mà là “sự khác thường của khí hậu toàn cầu.”❖ Thay đổi khí hậu thì khó tiên đoán: mọi điều đều liên quan đến những thứ khác và phản hồi lại theo những phương cách quá phức tạp đến mức khó hiểu được cách thức của nó. Sẽ có những điểm bùng phát khi môi trường thay đổi đột ngột và không thể đảo ngược, nhưng chúng ta không biết chúng nằm ở đâu và điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta tiếp cận chúng.
Nhưng điều đáng sợ nhất mà chúng ta không biết chính là con người sẽ phản ứng như thế nào. Cũng giống như mọi giai đoạn biến đổi khí hậu trong quá khứ, điều này sẽ không trực tiếp gây ra sự sụp đổ. Năm 2006, Báo cáo Stern, một nghiên cứu của Anh, dự đoán rằng nếu chúng ta tiếp tục công việc như thường lệ cho đến năm 2100, biến đổi khí hậu sẽ làm sản lượng kinh tế toàn cầu giảm 20% so với mức hiện tại – một viễn cảnh ảm đạm, nhưng chưa phải là kết thúc của thế giới mà chúng ta biết, và thậm chí nếu các dự đoán đáng sợ nhất biến thành sự thật, với nhiệt độ tăng 5,5°C, nhân loại cũng sẽ ứng phó được dù vẫn lúng túng. Mối quan tâm thực sự không phải là thời tiết mà chính là rất lâu trước năm 2100, những phản ứng của con người đối với sự thay đổi khí hậu sẽ giải phóng thêm nhiều kỵ sĩ Khải huyền.
Rõ ràng nhất là nạn đói. Cuộc cách mạng xanh có lẽ là thành tựu lớn nhất ở thế kỷ XX, làm gia tăng sản lượng lương thực thậm chí còn nhanh hơn dân số phát triển. Vào năm 2000, dường như chúng ta kìm hãm được sự hà khắc và xuẩn ngốc của các nhà độc tài và quân phiệt nên nạn đói kém chưa xuất hiện. Nhưng một thập niên sau thì ít có khả năng hơn. Nghịch lý của sự phát triển một lần nữa đang diễn ra. Do sự thịnh vượng gia tăng, người nông dân chăn nuôi gia súc với giá rẻ hơn còn chúng ta lại ăn thịt đắt tiền hay chuyển đổi đồng ruộng đổi lấy nhiên liệu sinh học để có thể đi xe không cần xăng dầu. Kết quả: giá thực phẩm thiết yếu tăng gấp đôi hay gấp ba lần giữa những năm 2006 và 2008 khiến đám đông đói nghèo gây náo loạn khắp châu Phi và châu Á. Sự kết hợp của vụ thu hoạch ngũ cốc lớn nhất trong lịch sử (2,3 tỉ tấn) và cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy giá cả đi xuống vào năm 2009, nhưng với dân số thế giới dự trù lên tới chín tỉ người vào năm 2050, tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc dự đoán biến động về giá và tình trạng thiếu hụt lương thực sẽ gia tăng.
Địa lý sẽ tiếp tục không công bằng ở thế kỷ XXI. Sự ấm lên toàn cầu sẽ làm tăng năng suất vụ mùa ở những nước giàu có như Nga và Canada, nhưng sẽ có tác động ngược lại ở những vùng mà Ủy ban Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ gọi là vòng cung bất ổn❖ kéo dài từ châu Phi qua châu Á (Hình 12.2). Hầu hết những người nghèo nhất trên thế giới sinh sống trong vòng cung này, và việc thu hoạch vụ mùa giảm sút có khả năng giúp giải phóng ba kỵ sĩ Khải huyền cuối cùng.
Ủy ban Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ ước tính từ năm 2008 đến năm 2025, số người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực hay nước dùng sẽ nhảy vọt từ 600 triệu lên 1,4 tỷ, hầu hết đều nằm trong vòng cung này; và sẽ không thoát khỏi các dự đoán trong Sách Khải huyền, Báo cáo Stern kết luận rằng vào năm 2050 nạn đói và hạn hán sẽ khiến 200 triệu di dân khí hậu❖ phải chuyển di – gấp năm lần số người tị nạn trên toàn thế giới trong năm 2008.
Nhiều người trong vùng lõi phương Tây đã nhìn nhận sự di cư như một mối đe dọa mặc dù kể từ khi đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên cách đây ba thế kỷ, di cư thường tạo ra động lực phát triển hơn là hiểm họa.⦾ Vào năm 2006, một cuộc thăm dò ý kiến của viện Gallup ghi nhận rằng nhập cư là vấn nạn tồi tệ đứng thứ hai của đất nước này (sau chiến tranh Iraq).❖

Hình 12.2. Cơn khát lớn: vòng cung bất ổn (trải dài từ châu Phi đến châu Á) của Hội đồng Tình báo Quốc gia, kế hoạch đối phó với các vùng có khả năng đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2025. Những khu vực tối nhất sẽ phải đối mặt với sự khan hiếm vật lý được định nghĩa là có hơn 75% số nước được phân bổ cho nông nghiệp, công nghiệp và/hoặc sử dụng trong gia đình. Các vùng tối vừa sẽ tiếp cận tình trạng khan hiếm vật lý, với 60% lượng nước được sử dụng cho những mục đích này, và những khu vực nhẹ nhất sẽ phải đối mặt với khan hiếm về mặt kinh tế, với hơn 25% lượng nước đã cam kết. Các quốc gia giàu có như Hoa Kỳ, Australia và Trung Hoa có thể dẫn nước từ các vùng ẩm ướt đến vùng khô cạn, nhưng những người nghèo thì không thể.
Đối với nhiều người Mỹ, mối nguy hại từ việc buôn lậu ma túy và chiếm việc làm của người Mexico có vẻ như còn trầm trọng hơn các lợi ích khác; còn đối với nhiều người châu Âu, nỗi lo về bóng ma chủ nghĩa khủng bố Islam giáo cũng rất lớn. Ở cả hai khu vực này, những nhà vận động chính sách bản xứ đều cho rằng những người định cư mới rất khó đồng hóa.
Sự ấm lên toàn cầu đe dọa sẽ biến những nỗi sợ hãi lớn nhất của các nhà hoạt động chống nhập cư trở thành hiện thực vào thập niên 2020. Hàng chục triệu người đói khổ, giận dữ và tuyệt vọng nhất trên thế giới có thể trốn khỏi thế giới Islam giáo để đến châu Âu, và người Mỹ Latin chạy vào nước Mỹ. Các phong trào di dân có thể làm lu mờ mọi thứ trong lịch sử, phục hồi lại những vấn nạn mà Tuyến đường Thảo nguyên từng thể hiện.
Bệnh tật, kỵ sĩ Khải huyền thứ tư, có thể là một trong những vấn nạn này. Những cuộc di cư vượt qua vùng thảo nguyên đã lan truyền các bệnh dịch ở thế kỷ II và thế kỷ XIV và đại dịch ở thế kỷ XX, dịch cúm H1N1 năm 1918, bị lây lan bởi một những thanh niên trai trẻ được trang bị vũ khí giữa châu Mỹ và châu Âu. Chỉ trong một năm, cúm H1N1 đã giết chết nhiều người hơn – khoảng 50 triệu – so với số tử vong do Cái Chết Đen gây ra trong suốt một thế kỷ, và gấp hai hay ba lần số người tử vong do đại dịch AIDS trong 30 năm qua.
Việc đi lại bằng đường hàng không càng làm cho căn bệnh khó kiểm soát hơn. Sau khi ủ bệnh ở châu Phi ít nhất cũng từ năm 1959, đại dịch AIDS đã bùng nổ ở bốn châu lục vào thập niên 1980, và dịch SARS (Hội chứng hô hấp cấp tính năng) đã lan khắp 37 nước vào năm 2003 chỉ trong vòng vài tuần sau khi phát triển ở miền Nam Trung Hoa. Các nhà di truyền học đã giải mã DNA của hội chứng này trong 31 ngày (so với 15 năm đối với virus HIV) và sự vào cuộc quyết liệt của Cộng đồng quốc tế đã bóp chết nó trong trứng nước. Tuy nhiên, vào thời điểm các nhà dịch tễ học xác định được chứng bệnh gọi là cúm lợn (được biết dưới tên gọi H1N1 biến thể mới để phân biệt với dịch cúm năm 1918) vào năm 2009 thì nó đã phát tán rộng khắp nên không kiểm soát được.
Nếu cám lợn hay một trong những chủng virus cúm chim khởi phát giống như virus H2N2 gây tử vong cho 1 đến 2 triệu người vào năm 1957, thì Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng nó sẽ giết chết từ 2 đến 7,4 triệu người; nếu nó khởi phát giống như dịch cúm năm 1918, nó sẽ giết chết 200 triệu người. Thế giới đã được chuẩn bị tốt hơn so với năm 1918, nhưng ngay cả số tử vong bằng 1/10 ở quy mô đó cũng có thể gây ra một hiện tượng khủng hoảng kinh tế ngắn hạn mà so với nó thì cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 lại trở nên nhỏ bé. Ngân hàng Thế giới dự đoán rằng một trận đại dịch sẽ làm giảm 5% sản lượng kinh tế toàn cầu, và một số điều trong cẩm nang Mười điều bạn cần biết về đại dịch cúm liệt kê trên trang web của Tổ chức Y tế Thế giới thậm chí còn đáng báo động hơn:
Thế giới có thể đang ở bờ vực của một đại dịch khác. Mọi quốc gia đều bị ảnh hưởng. Cung cấp y tế sẽ không đầy đủ. Tử vong diễn ra ở số lượng lớn. Tình trạng đổ vỡ kinh tế và xã hội sẽ dữ dội.❖
Và khi những kỵ sĩ Khải huyền rong ruổi trong quá khứ: biến đổi khí hậu, nạn đói, di dân và bệnh tật có thể lần lượt quay lại, thì kỵ sĩ thứ năm, sự thất bại của nhà nước, cũng sẽ được giải phóng. Vòng cung bất ổn là ngôi nhà của một số chế độ dễ đổ vỡ nhất trên thế giới, và khi áp lực gia tăng, một số nước có thể sụp đổ hoàn toàn như Afghanistan hay Somalia, làm gia tăng sự nghèo khổ và cung cấp nơi ẩn náu cho những kẻ khủng bố. Và nếu tính không ổn định ảnh hưởng đến các vùng lõi mà nền kinh tế bị vướng mắc vào tài nguyên của vòng cung bất ổn này thì chúng ta có thể rơi vào nguồn gốc của mọi kịch bản xấu nhất.
Ngay từ năm 1943, một phái đoàn Mỹ đến Vịnh Ba Tư đã xác định được vấn đề cốt yếu. Phái đoàn này tường trình rằng “Dầu ở khu vực này là phần thưởng lớn nhất trong mọi thời kỳ lịch sử.”❖ Các quốc gia giàu có ở vùng lõi phía Tây ngay lập tức định hướng lại các chiến lược lớn của mình xoay quanh dầu Vùng Vịnh. Khi sức mạnh của Tây Âu suy yếu vào thập niên 1950, Mỹ liền nhảy vào, bí mật hoặc công khai can thiệp để giúp các đồng minh, gây nguy hại cho kẻ thù và bảo vệ sự thâm nhập vào vòng cung. Mặc dù ít phụ thuộc vào dầu mỏ ở Vùng Vịnh, nhưng Liên bang Xô viết vẫn muốn can dự mạnh mẽ để ngăn chặn các lợi ích của Mỹ, và khi Nga rút lui vào thập niên 1990, sự khát dầu của Trung Hoa (chiếm 40% nhu cầu thế giới từ năm 2000) buộc nước này cũng phải tham gia vào trò chơi lớn này.
Sự thèm khát tài nguyên của Trung Hoa (đậu nành, sắt, đồng, cobalt, gỗ, và khí đốt thiên nhiên cũng như dầu lửa) còn hứa hẹn các đụng độ kéo dài với các lợi ích của phương Tây ở vòng cung bất ổn trong thời kỳ thập niên 2010. Các nhà ngoại giao Trung Hoa luôn nhấn mạnh sự trỗi dậy hòa bình của đất nước mình (một số nhẹ giọng hơn, dùng thuật ngữ phát triển hòa bình❖), nhưng phương Tây vẫn giữ thái độ quan ngại kể từ những năm 1990. Chẳng hạn năm 2004, việc Trung Hoa tìm kiếm sắt đã nhanh chóng thổi bùng trên báo chí, với các bài viết nói về sự bòn rút vĩ đại,❖ những tên trộm trên thế giới đánh cắp nắp cống rồi vận chuyển về phía Đông để nấu chảy. Chỉ tính riêng thành phố Chicago đã mất 150 nắp cống trong một tháng. Người phương Tây tự hỏi việc này sẽ dẫn đến đâu. Hôm nay nắp cống, ngày mai là cả thế giới. Theo một cuộc thăm dò vào năm 2005, 54% người Mỹ đồng ý rằng sự trỗi dậy của Trung Hoa là “một mối đe dọa đối với hòa bình thế giới,”❖ ở một cuộc thăm dò khác vào năm 2007, người Mỹ gọi Trung Hoa là mối đe dọa lớn thứ hai đối với sự ổn định toàn cầu, chỉ sau Iran.❖
Trung Hoa đã đáp trả lại lời khen này. Khi máy bay NATO bỏ bom nhầm vào đại sứ quán Trung Hoa ở Belgrade vào năm 1999 làm chết ba nhà báo, đám đông giận dữ ném đá vào các đại sứ quán phương Tây ở Bắc Kinh và ném bom xăng vào một lãnh sự quán ở Thành Đô. Tờ China Daily đã đặt một tiêu đề đầy thịnh nộ: NHÂN DÂN CHỊU ĐAU KHỔ VÌ HÀNH VI TỘI PHẠM.❖ Năm 2004, Đảng Cộng sản Trung Hoa vẫn tiếp tục khẳng định có một “âm mưu chiến lược của các thế lực thù địch nhằm Tây phương hóa và gây chia rẽ đất nước Trung Hoa.”❖
Vào năm 1914, khi các cường quốc của châu Âu phải đối mặt với những tàn tích của Đế quốc Ottoman ở vùng Balkan, băng đảng khủng bố Bàn Tay Đen (Black Hand) của Serbia chỉ cần một khẩu súng lục là đủ gây ra cuộc Thế chiến I. Vào năm 2008, một ủy ban Hoa Kỳ kết luận rằng “có khả năng một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt sẽ được sử dụng trong một cuộc tấn công khủng bố ở bất kỳ nơi nào trên thế giới vào cuối năm 2013.”❖ Với việc các cường quốc phải đối mặt với những tàn tích của các đế quốc châu Âu ở vòng cung bất ổn, lực lượng al-Qaeda hay Hezbollah bất trị có thể trả thù với những loại vũ khí này bất cần suy nghĩ.
Những rắc rối ở vòng cung này còn đáng sợ hơn so với những gì đã xảy ra ở vùng Balkan cách đây một thế kỷ do các nước nằm trong vòng cung đã có năng lực hạt nhân. Israel đã xây dựng một kho vũ khí hạt nhân từ năm 1970; vào năm 1998, Ấn Độ và Pakistan đều thử nghiệm bom nguyên tử; và từ năm 2005 Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ lên án Iran đang nhắm đến mục tiêu này. Hầu hết các nhà quan sát cho rằng Iran sẽ sở hữu vũ khí hạt nhân vào thập niên 2010, điều này có thể thúc đẩy nửa tá các nước Islam giáo⦾ tìm kiếm vũ khí tương tự để ngăn chặn. Israel dự kiến Iran sẽ sở hữu vũ khí hạt nhân vào năm 2011, nhưng có thể họ sẽ không chờ đợi đến thời điểm đó. Máy bay chiến đấu của Israel đã phá hủy các lò phản ứng hạt nhân ở Iraq và Syria, và những cuộc tấn công mới có thể xảy ra nếu chương trình hạt nhân của Iran vẫn tiến hành.
Không một chính phủ Mỹ nào có thể giữ trung lập trong một cuộc đối đầu hạt nhân ở vòng cung bất ổn giữa đồng minh thân thiết nhất và kẻ thù ác liệt nhất của mình. Có lẽ cả Nga hay Trung Hoa cũng thế. Cả hai đều phản đối tham vọng hạt nhân của Iran nhưng họ vẫn để cho Iran xin gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải⦾, một tổ chức lỏng lẻo chủ yếu nhằm đối đầu với những lợi ích của Mỹ ở vùng Trung Á.
Dĩ nhiên cuộc chiến tranh tổng lực Đông-Tây sẽ là một thảm họa. Đối với Trung Hoa đây sẽ là một sự tự sát: so với Trung Hoa, đầu đạn hạt nhân của Mỹ nhiều gấp 20 lần và phần lớn số đầu đạn có thể đến được lãnh thổ đối phương. Trung Hoa đã thử nghiệm loại tên lửa đánh chặn vào tháng 1 năm 2010 nhưng vẫn còn lạc hậu so với khả năng của Mỹ. Nước Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm trong khi Trung Hoa hầu như bằng không (mặc dù Trung Hoa đã khởi sự thiết kế hàng không mẫu hạm đầu tiên vào năm 2009) và dẫn đầu về công nghệ quân sự. Mỹ không thể, và cũng không muốn chinh phục và chiếm đóng Trung Hoa, nhưng hầu như bất kỳ cuộc chiến tưởng tượng nào cũng sẽ kết thúc bằng thất bại của Trung Hoa, sự sụp đổ của thể chế và có lẽ cả sự tan vỡ của đất nước này.
Điều đó nói lên rằng nếu thắng một cuộc chiến thì nước Mỹ vẫn chịu mất mát đồng thời Trung Hoa sẽ chịu thất bại. Ngay cả một cuộc xung đột ở cường độ thấp cũng sẽ gánh chịu những tổn phí khủng khiếp. Nếu quan hệ Trung-Mỹ đột ngột chia cắt trong hận thù thì điều đó cũng sẽ đồng nghĩa với thảm họa tài chính cho cả hai đối tác. Một sự trả đũa hạt nhân thì còn tệ hơn, nó sẽ biến bờ biển phía tây Bắc Mỹ và phần lớn Trung Hoa thành tàn tích phóng xạ, giết chết hàng trăm triệu người, và làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn. Và điều tồi tệ nhất, một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ có thể dễ dàng lôi kéo nước Nga, vốn là kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới,⦾ vào cuộc.
Bất kỳ chúng ta nhìn nó ở mặt nào, thì chiến tranh tổng lực vẫn là một điều điên khùng. May mắn thay, phần lớn các chuyên gia đều làm chúng ta yên lòng khi khẳng định rằng ở một thế giới toàn cầu hóa đến thế thì một sự điên khùng như vậy là không thể xảy ra. Một chuyên gia phát biểu rằng: “Không một thế lực hữu hình nào có thể phá hủy được sức mạnh của tín dụng.”❖ Người khác thì cho rằng “phong trào quốc tế về tín dụng là nhà bảo lãnh lớn nhất cho hòa bình thế giới.”❖ Người thứ ba thêm rằng việc gây chiến tranh “phải gắn với việc chi tiêu một khoản tiền lớn lao và một sự can thiệp vào thương mại đến mức khiến một cuộc chiến tranh sẽ đi kèm, hoặc tiếp nối, bởi một sự sụp đổ hoàn toàn của…. tín dụng và công nghiệp,”❖ điều này đồng nghĩa với “sự kiệt quệ và nghèo đói hoàn toàn, công nghiệp và thương mại sẽ bị hủy hoại, và nguồn lực tư bản bị hủy diệt.”❖
Điều này có thể an ủi chúng ta – ngoại trừ việc các chuyên gia này không đề cập gì đến nguy cơ xung đột Trung-Mỹ ở thập niên 2010. Mọi sự đều được viết ra từ năm 1910 đến năm 1914, cho rằng mạng lưới thương mại và tài chính phức tạp ở thế giới hiện đại đã loại trừ bất kỳ cơ hội nào để xảy ra một cuộc chiến giành quyền lực ở châu Âu. Tất cả chúng ta đều điều đó đã gây ra những hậu quả như thế nào.
Có thể các chính khách trên thế giới sẽ đẩy đưa chúng ta hết vấn đề này đến vấn đề khác. Có thể chúng ta tránh được một kiểu chiến tranh hạt nhân năm 1914 thêm một thế hệ nữa, có thể trong 50 năm. Nhưng phải thực tế khi nghĩ rằng chúng ta có thể giữ cho quả bom ngoài tầm tay bọn khủng bố và các quốc gia vô lại mãi mãi hay không? Hay ngăn chặn được mọi nhà lãnh đạo, bất kể lợi ích quốc gia, khỏi việc quyết định chiến tranh hạt nhân là giải pháp tốt nhất: Ngay cả khi chúng ta hạn chế phổ biến vũ khí hạt nhân ở mức hiện tại, thì đến năm 2060 sẽ có gần 20 cường quốc hạt nhân mà một số nước này lại nằm trong vòng cung bất ổn.
Mỗi năm chúng ta đều phải tránh né nguy cơ Tận thế mà những mối đe dọa từ những kỵ sĩ Khải huyền vẫn tiếp tục bồi đắp. Áp lực về tài nguyên sẽ tăng cao, các dịch bệnh mới sẽ tiến hóa, vũ khí hạt nhân sẽ gia tăng về số lượng, và – hiểm họa lớn nhất – biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm thay đổi các tính toán theo những cách không thể tiên liệu được. Việc chúng ta cho rằng có thể xử lý mọi vấn nạn này vô thời hạn xem ra chỉ là điều lạc quan điên rồ.
Dường như chúng ta đang tiến đến một ngưỡng cứng. Khi người La Mã chạm đến ngưỡng cứng đầu tiên ở đầu thế kỷ I, họ phải đối mặt với hai kết quả khả dĩ: họ có thể tìm được cách để vượt qua, trong trường hợp đó sự phát triển xã hội sẽ nhảy vọt, hay nếu không thể thì trong trường hợp này các kỵ sĩ Khải huyền sẽ kéo họ xuống. Sự thất bại của họ khởi đầu cho một sự suy thoái trong suốt sáu thế kỷ, cắt giảm phát triển xã hội phương Tây đến hơn ⅓. Vào thế kỷ XI, khi nhà Tống Trung Hoa cũng đạt đến cùng một ngưỡng cứng, thì cũng không phá vỡ được nó, và sự phát triển ở phương Đông cũng rơi xuống gần ⅙ giữa những năm 1200 và năm 1400.
Khi chạm ngưỡng cứng mới ở thế kỷ XXI, chúng ta phải đối mặt với những lựa chọn tương tự nhưng ở những điều kiện khắc nghiệt hơn. Khi Đế quốc La Mã và nhà Tống không tìm ra giải pháp, họ vẫn giữ được sự xa hoa tương đối trong nhiều thế kỷ suy giảm từ từ, nhưng chúng ta sẽ không có được diễm phúc đó. Có rất nhiều con đường khả dĩ mà tương lai của chúng ta có thể đi theo, nhưng dù chúng có vòng vào thế nào chăng nữa, hầu hết dường như đều dẫn đến cùng một nơi: Hoàng hôn nhân loại.
Ý nghĩa của Công nghệ Dị thường đối với sự vượt trội của phương Tây còn để ngỏ cho các cuộc tranh luận, nhưng ý nghĩa của thời kỳ Hoàng hôn nhân loại có vẻ rõ ràng hơn nhiều. Trở lại năm 1949, Einstein từng nói với một nhà báo rằng: “Tôi không biết Thế chiến III sẽ diễn ra như thế nào, nhưng tôi có thể cho bạn biết họ sẽ sử dụng vũ khí gì trong Thế chiến IV, đó là những viên đá.”❖ Sau thời kỳ Hoàng hôn nhân loại, không một ai còn có thể thống lĩnh thế giới.
Cuộc đua vĩ đại
Việc nói chuyện với Bóng Ma Giáng sinh Quá khứ sẽ dẫn đến một kết luận đáng báo động: thế kỷ XXI sẽ là một cuộc đua. Ở một làn đua sẽ là một loại Công nghệ Dị thường; ở làn khác sẽ là thời kỳ Hoàng hôn nhân loại. Chỉ có một làn giành chiến thắng và làn kia mất hết chứ không có huy chương bạc. Hoặc chúng ta sẽ sớm (có thể trước năm 2050) khởi sự một chuyển đổi thậm chí còn sâu sắc hơn cuộc cách mạng công nghiệp, có thể làm cho hầu hết các vấn nạn hiện tại không còn nghĩa lý gì hoặc chúng ta sẽ rơi vào tình trạng sụp đổ không còn cách nào khác. Thật khó biết được kết quả trung gian sẽ diễn ra như thế nào – cứ cho đó là một sự thỏa hiệp mà ở đó mọi người trở nên giàu có hơn một chút, Trung Hoa dần vượt qua phương Tây, và mặt nào đó mọi thứ sẽ tiếp diễn như trước đây.
Điều này có nghĩa là 40 năm tới sẽ có tầm quan trọng lớn nhất trong lịch sử.
Việc thế giới cần làm để ngăn chặn thời kỳ Hoàng hôn nhân loại thực sự không còn là một điều bí ẩn. Ưu tiên hàng đầu là tránh được một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực, và phương cách để đạt được điều đó là các cường quốc phải giảm kho vũ khí hạt nhân của họ. Điều nghịch lý là việc theo đuổi giải trừ quân bị hoàn toàn lại có thể là một tiến trình tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vũ khí hạt nhân không phải là một ý tưởng chưa được phát minh. Các cường quốc vẫn luôn sẵn sàng chế tạo bom mới một cách nhanh chóng, và những kẻ xấu – đám khủng bố và các nhà lãnh đạo những đất nước vô lại – sẽ lờ đi mọi thỏa ước trong bất kỳ trường hợp nào. Việc phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ làm gia tăng nguy cơ chiến tranh hạt nhân nổ ra trong vòng 30 đến 40 năm tới, nhưng tình hình ổn định nhất vẫn là tình huống khi các cường quốc có đầy đủ vũ khí để ngăn chặn sự xâm lược nhưng không đủ để hủy diệt tất cả chúng ta.
Các cường quốc hạt nhân cũ – Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Trung Hoa – đã chuyển theo chiều hướng này từ thập niên 1980. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, nhà toán học, khí tượng học và là người cổ súy hòa bình (cho đến khi ông từ bỏ nghiên cứu về thời tiết sau khi nhận ra nó đã giúp những gì cho không quân) Lewis Fry Richardson đã đưa ra một số liệu thống kê được trích dẫn rộng rãi cho rằng có 15-20% khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trước năm 2000. Tuy nhiên, đến năm 2008, nhà khoa học về năng lượng Vaclav Smil lại đưa ra dự báo tương đối tươi sáng rằng nguy cơ để xảy ra một cuộc xung đột như Thế chiến II (giết chết 50 triệu người) trước năm 2050 cũng chỉ dưới 1%, và vào tháng 1 năm 2010❖, tờ Bulletin of Atomic Scientists (Chuyên san các nhà khoa học nguyên tử) đã dịch chuyển kim phút của Đồng hồ Ngày Tận Thế nổi tiếng – chỉ định thời gian chúng ta tiến đến thời kỳ Hoàng hôn nhân loại – lùi lại từ 5 phút sang 6 phút trước nửa đêm.
Ưu tiên thứ hai là làm chậm lại biến đổi khí hậu toàn cầu. Việc giải quyết vấn nạn đó ít tiến triển hơn. Năm 1997, các nước quan tâm đến vấn đề này tập trung tại Kyoto để đưa ra một giải pháp và tất cả đều thỏa thuận rằng đến năm 2012, phát thải khí nhà kính phải giảm xuống còn 5,2%, dưới mức năm 1990. Tuy nhiên, những đề xuất cắt giảm lại chủ yếu đến từ các nước phương Tây giàu có, trong khi Mỹ – nước gây ô nhiễm lớn nhất thế giới trong thập niên 1990 – lại từ chối phê chuẩn nghị định thư này. Đối với nhiều nhà phê bình, điều này giống như (theo phát ngôn của một giới chức Ấn Độ) “những kẻ béo phì bảo những người vừa mới hết suy dinh dưỡng nên tiếp tục ăn kiêng,”❖ nhưng các nhà hoạch định chính sách Mỹ đáp lại rằng không thể kiểm soát được khí thải trừ khi Ấn Độ và Trung Hoa (năm 2006 đã thế chỗ Hoa Kỳ để trở thành những nước gây ô nhiễm nhất trên thế giới) cũng phải cắt giảm.
Đến năm 2008, Mỹ và Trung Hoa đều quan tâm đến sự thay đổi, nhưng dường như còn thiếu ý chí chính trị cần có đối với các thỏa thuận toàn diện. Các tác giả của Báo cáo Stern ước tính rằng các loại công nghệ carbon thấp, việc bảo vệ rừng và các hiệu quả năng lượng có thể ngăn ngừa thiên tai bằng cách giữ mức carbon xuống 450 ppm vào năm 2050 với mức tổn phí khoảng một tỉ tỉ đô-la. So với cái giá của việc không làm gì cả thì điều này không đáng kể, nhưng với nền tài chính tả tơi sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009, nhiều chính phủ đã phải chùn bước trước các kế hoạch cắt giảm khí thải, và hội nghị thượng đỉnh Copenhagen vào tháng 12 năm 2009 đã không đưa ra được một thỏa thuận ràng buộc nào.
Mặc dù có những khác biệt rõ ràng, chiến tranh hạt nhân và biến đổi khí hậu toàn cầu đều cho thấy chung một vấn nạn. Trong 5.000 năm, các quốc gia và đế chế là những tổ chức hiệu quả nhất trên trái đất, nhưng khi phát triển xã hội làm biến đổi ý nghĩa của địa lý, các tổ chức này lại trở nên kém hiệu quả hơn. Thomas Friedman đã tổng kết nó một cách sắc sảo. Vào năm 1999, ông nhận xét như sau: “Kỷ nguyên đầu tiên của toàn cầu hóa (khoảng năm 1870-1914] đã làm thế giới co lại, từ quy mô lớn sang trung bình, nhưng kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày nay [từ năm 1989] thì đang làm thế giới co lại từ quy mô trung bình sang quy mô nhỏ”.“❖ Sáu năm sau đó, sự co hẹp lại còn tiến xa hơn nữa đến nỗi Friedman lại xác định một giai đoạn hoàn toàn mới: Toàn cầu hóa 3.0. Ông cho rằng điều này đang làm thế giới co lại từ một quy mô nhỏ sang một quy mô cực nhỏ, đồng thời làm phẳng sân chơi thế giới.”❖
Trong thế giới phẳng nhỏ bé này, sẽ không còn chỗ nào để ẩn náu. Vũ khí hạt nhân và biến đổi khí hậu (chưa kể đến vấn nạn khủng bố, bệnh tật, di dân, tài chính, cung cấp lương thực và nước) là những vấn đề toàn cầu, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn cầu. Các quốc gia và đế chế, vốn chỉ có chủ quyền trong phạm vi biên giới của họ, không thể giải quyết chúng một cách hiệu quả.
Einstein đã chỉ ra những giải pháp cụ thể chưa đầy một tháng sau khi hai quả bom nguyên tử phá hủy Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945. Ông phát biểu trên tờ New York Times: “Sự cứu rỗi duy nhất đối với nền văn minh và nhân loại nằm trong việc tạo ra một chính phủ thế giới.”❖ Bị công luận chế giễu là một nhà khoa học ngây thơ mà lại can thiệp vào những vấn đề ngoài tầm hiểu biết, Einstein thẳng thừng nói rằng: “Nếu ý tưởng về chính phủ thế giới là không thực tế, thì chỉ có một cái nhìn thực tế về tương lai của chúng ta: sự hủy diệt hàng loạt của con người do chính con người gây ra.”❖
Nhìn lại suốt quá trình 15.000 năm qua, Einstein dường như đã đánh giá lịch sử đúng hướng. Từ những ngôi làng ở Thời kỳ Đồ đá đến các quốc gia ban đầu như Uruk và nhà Thương, các đế chế đầu tiên như Assyria và nhà Tần, rồi đến các đế quốc đại dương như nước Anh, đã hình thành một xu thế rõ ràng hướng đến các đơn vị chính trị ngày càng lớn hơn. Kết quả hợp logic có vẻ là sự trỗi dậy của một đế quốc Mỹ bá chủ toàn cầu ở đầu thế kỷ XXI – hay, khi sự cân bằng kinh tế gây bất lợi cho phương Tây, một Đế chế Trung Hoa bá chủ toàn cầu vào giữa hoặc cuối thế kỷ XXI.
Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh đối với logic này là các đơn vị chính trị lớn hơn hầu như luôn được hình thành thông qua chiến tranh, chính xác là kết quả mà chính phủ thế giới của Einstein được cho là phải ngăn chặn. Nếu phương cách duy nhất để tránh chiến tranh hạt nhân là một chính phủ thế giới, và nếu phương cách duy nhất để tạo ra một chính phủ trên thế giới là thông qua một cuộc chiến tranh hạt nhân Trung-Mỹ, thì triển vọng tương lai quả là đáng sợ.
Dù sao, trên thực tế cả hai định đề này đều không đúng hoàn toàn. Kể từ năm 1945, các tổ chức phi chính phủ ngày càng đóng nhiều vai trò quan trọng hơn. Chúng bao gồm các tổ chức từ thiện và các tập đoàn đa quốc gia tư nhân hoạt động dưới sự bảo trợ từ các quốc gia đến chính phủ liên bang như Liên minh châu Âu, Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Thương mại Thế giới có tầm ảnh hưởng đến chủ quyền nhà nước. Các quốc gia chắc chắn vẫn là những người bảo đảm về an ninh (Liên Hiệp Quốc hiệu quả hơn Hội Quốc Liên một chút trong việc chấm dứt chiến tranh) và tài chính (ở những năm 2008-2009 đã có những gói cứu trợ của chính phủ giúp giải cứu chủ nghĩa tư bản) và sẽ không sớm mất đi tầm quan trọng, nhưng phương cách hiệu quả nhất để kìm giữ thời kỳ Hoàng hôn nhân loại trong 10 năm tới có lẽ nhờ việc các quốc gia phải vướng sâu hơn vào các tổ chức phi chính phủ, buộc các chính phủ phải nhượng bộ một số chủ quyền để đổi lấy các giải pháp mà họ có thể không đủ khả năng tiếp cận một cách độc lập.
Việc đó sẽ là một vấn đề rối rắm, và như thường xảy ra trong quá khứ, những thách thức mới sẽ đòi hỏi những tư tưởng mới. Nhưng ngay cả nếu trong nửa thế kỷ tiếp theo chúng ta có thể tạo ra các thể chế đủ khả năng tìm ra các giải pháp toàn cầu cho các vấn đề toàn cầu, thì đó sẽ chỉ là một điều kiện cần thiết chứ không phải là một điều kiện đủ để Công nghệ Dị thường giành được chiến thắng trong cuộc đua.
Chúng ta có thể so sánh tình trạng hiện tại với những gì xảy ra ở các thế kỷ I, XI và XVII, khi phát triển xã hội chạm ngưỡng cứng ở 43 điểm trên bảng chỉ số. Như tôi đã nêu ra trong Chương 11 rằng cách duy nhất để người La Mã hay người Trung Hoa đời Tống có thể bứt phá ở thế kỷ I và XI là phải làm theo những gì châu Âu và Trung Hoa thực hiện trong thế kỷ XVII: tức là, bằng cách tái cấu trúc địa lý qua việc đóng lại Tuyến đường Thảo nguyên và tạo ra một tuyến đường đại dương. Chỉ sau đó họ mới có thể mua được sự an toàn đối với vấn nạn di cư, đồng thời nảy sinh các kiểu vấn đề đòi hỏi một cuộc cách mạng khoa học, và khởi đầu cho việc tạo dựng những động cơ thúc đẩy cho việc hình thành một cuộc cách mạng công nghiệp. Dĩ nhiên người La Mã và người Trung Hoa đời Tống đều không thể làm được việc này, và chỉ trong vòng một vài thế hệ, di cư, bệnh tật, nạn đói, và thất bại của nhà nước kết hợp với biến đổi khí hậu đã làm khắp mọi khu vực trên lục địa Á-Âu sụp đổ.
Khi người châu Âu và Trung Hoa cơ cấu lại địa lý vào thế kỷ XVII, họ đã đẩy ngưỡng cứng đi lên dù không phá vỡ được nó, như chúng ta đã thấy trong Chương 9. Vào năm 1750 các vấn nạn lại gia tăng một lần nữa, nhưng đến thời điểm đó các doanh nghiệp Anh đã tận dụng thời gian mà sự cơ cấu lại địa lý đã mua được để bắt đầu một cuộc cách mạng trong việc hấp thu năng lượng.
Trong thế kỷ XXI, chúng ta cần đi theo một con đường tương tự. Trước tiên là phải cơ cấu lại vị trí địa chính trị để tạo điều kiện cho các loại thể chế toàn cầu giảm trừ nguy cơ chiến tranh và biến đổi khí hậu toàn cầu; sau đó, chúng ta phải tận dụng thời gian mua được để thực hiện một cuộc cách mạng mới trong việc thu nạp năng lượng, đó là hủy đi mức trần nhiên liệu hóa thạch. Việc tiếp tục đốt nhiên liệu và than như chúng ta đã làm trong thế kỷ XX sẽ đưa đến thời kỳ Hoàng hôn cho nhân loại thậm chí còn trước cả khi khí hydrocarbon cạn kiệt.
Một số nhà môi trường học khuyến nghị một cách tiếp cận khác, kêu gọi chúng ta trở lại với lối sống đơn giản hơn, giảm việc sử dụng năng lượng đủ để ngăn chặn tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng cũng khó để thấy được điều này hiệu quả đến đâu. Dân số thế giới có khả năng tăng thêm ba tỉ người trước khi đạt đỉnh cao nhất là chín tỉ vào năm 2050, và hàng trăm triệu người trong số này có khả năng bứt khỏi tình trạng đói nghèo cùng cực bằng cách sử dụng nhiều năng lượng hơn để thực hiện điều đó. David Douglas, trưởng bộ phận phát triển bền vững của công ty máy tính Sun Microsystems, chỉ ra rằng nếu mỗi người trong số đó chỉ dùng một bóng đèn có công suất 60 watt và trong 4 giờ mỗi ngày, thế giới sẽ cần đưa vào vận hành thêm 60 nhà máy điện có công suất 500 megawatt hoặc hơn nữa.❖ Cơ quan Năng lượng Quốc tế dự đoán nhu cầu về dầu lửa của thế giới sẽ tăng từ 86 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2007 lên 116 triệu vào năm 2030; và họ ước tính thậm chí đến lúc đó vẫn còn 1,4 tỉ người không có điện để dùng.
Vấn nạn kép về việc người nghèo trên thế giới gia tăng hay trở nên giàu có hơn khi họ tận dụng năng lượng sẽ khiến khó có khả năng mức nắm giữ/khai thác năng lượng sẽ giảm trong vòng 10 năm tới. Nếu chúng ta sử dụng ít năng lượng hơn cho phân bón hay nhiên liệu để luân chuyển thực phẩm, hàng trăm triệu người nghèo sẽ đói ăn, dẫn đến thời kỳ Hoàng hôn nhân loại nhanh hơn bất cứ điều gì. Nhưng nếu mọi người không đói ăn, họ sẽ đòi hỏi nhiều năng lượng hơn. Chỉ riêng ở Trung Hoa, cứ mỗi ngày có thêm 14.000 xe hơi mới lăn bánh trên đường; 400 triệu người (nhiều hơn toàn bộ dân số Hoa Kỳ) có thể rời bỏ các nông trang năng lượng thấp để đến những thành phố năng lượng cao từ năm 2000 đến năm 2030; và số lượng người đi du lịch nước ngoài làm tăng nhiên liệu máy bay và lưu trú ở khách sạn, sẽ tăng từ 34 triệu năm 2006 lên 115 triệu vào năm 2020.
Chúng ta sẽ không giảm được mức nắm giữ/khai thác năng lượng trừ khi những thế lực gây thảm họa buộc chúng ta phải làm – do đó, cách duy nhất để tránh cạn kiệt tài nguyên, đầu độc trái đất, hoặc cả hai, sẽ là khai thác năng lượng sạch, có thể tái tạo được.
Năng lượng nguyên tử có khả năng là một phần quan trọng trong dự phóng này. Tuy nỗi lo về phóng xạ đã giúp ngăn chặn các chương trình hạt nhân từ thập niên 1970, nhưng điều đó có thể thay đổi khi thời đại mới có tư duy mới. Hay có thể năng lượng mặt trời sẽ quan trọng hơn: chỉ có một nửa trong số một phần tỉ năng lượng mà mặt trời phát ra đến được trái đất, và khoảng ⅓ số đó phản xạ trở lại. Mặc dù vậy, mỗi giờ năng lượng mặt trời tiếp xúc với trái đất cũng đủ cung ứng một lượng điện năng đáp ứng các nhu cầu của con người trong một năm – nếu chúng ta biết khai thác nó một cách hiệu quả. Ngoài ra, còn có những lựa chọn khác, như công nghệ nano và di truyền học về cơ bản cũng có thể cung cấp các nguồn năng lượng mới. Dĩ nhiên, phần lớn các điều này giống như chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng chắc chắn sẽ có những bước nhảy công nghệ vượt bậc để mở ra một thời đại năng lượng sạch dồi dào. Nhưng nếu chúng ta không sớm thực hiện được những bước nhảy vọt như vậy thì Hoàng hôn nhân loại sẽ giành chiến thắng trong cuộc đua.
Nếu muốn Công nghệ Dị thường giành chiến thắng, chúng ta cần phải kiểm soát chặt chẽ mọi hiểm họa chiến tranh, xử lý biến đổi khí hậu toàn cầu, và thực hiện đến cùng cuộc cách mạng trong hấp thu năng lượng. Mọi thứ phải đi đúng hướng. Chỉ cần một sự chệch hướng cũng đủ khiến Hoàng hôn nhân loại giành phần thắng. Tỉ lệ cược trông bất lợi rõ ràng.
Định hình thế giới tương lai
Một số nhà khoa học nghĩ rằng họ đã biết ai sẽ giành chiến thắng trong cuộc đua, vì câu trả lời được viết ra từ các vì sao. Một ngày khoảng năm 1950 (không ai nhớ chính xác thời điểm cụ thể), nhà vật lý Enrico Fermi và ba đồng nghiệp gặp nhau trong bữa ăn trưa tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, bang New Mexico. Sau khi cười cợt về một tranh biếm họa trên tờ New Yorker vẽ một đĩa bay, họ chuyển sang đề tài người ngoài trái đất nói chung trước khi chuyển sang các chủ đề khoa học thông thường. Đột nhiên Fermi bật thốt lên: “Nhưng họ ở đâu?”❖
Phải mất một lúc những người cùng ăn trưa với Fermi mới nhận ra rằng ông vẫn bận tâm về những người không gian. Nhẩm tính một vài con số trong đầu khi đang ăn, Fermi ngạc nhiên khi thấy rằng ngay cả khi chỉ có một tỉ lệ nhỏ bé những hành tinh có sự sống trong số 250 tỉ ngôi sao ở thiên hà của chúng ta⦾ thì ngoài không gian vẫn đầy người ngoài hành tinh. Trái đất tương đối trẻ, mới chỉ hình thành chưa đầy năm tỉ năm, vì vậy một số loài này còn cổ xưa và tiến bộ hơn chúng ta rất nhiều. Ngay cả khi những con tàu không gian của họ chậm chạp như của chúng ta thì họ cũng chỉ cần nhiều nhất là 50 triệu năm để khám phá toàn bộ thiên hà. Vậy họ ở đâu? Và tại sao họ không liên lạc với chúng ta?
Vào năm 1967, các nhà thiên văn Iosif Shklovskii và Carl Sagan đưa ra một giải pháp đúng mức cho nghịch lý Fermi. Họ tính toán rằng nếu chỉ có một trong mỗi ¼ triệu ngôi sao có một hành tinh bay quanh quỹ đạo của nó thì có khả năng sẽ có đến một triệu nền văn minh xa lạ trong dải Ngân hà. Theo kết luận của Shklovskii và Sagan thì việc chúng ta không nghe nói gì đến họ là do các nền văn minh tiên tiến luôn hủy diệt chính bản thân chúng. Các nhà thiên văn học thậm chí còn cho rằng chúng hẳn luôn làm thế trong vòng một thế kỷ sau khi phát minh ra vũ khí hạt nhân vì nếu không, người ngoài hành tinh sẽ có nhiều thời gian để tạo ra vô số tín hiệu trong vũ trụ và chúng ta sẽ thu nhận được. Vậy mọi bằng chứng (hay nói đúng ra là sự thiếu vắng bằng chứng) đều chỉ đến thời kỳ Hoàng hôn vào năm 2045, đúng 100 năm xảy ra thảm họa Hiroshima và Nagasaki. (Lại là một trùng hợp khá ngẫu nhiên khi năm 2045 cũng là năm mà Kurzweil ấn định cho thời điểm Công nghệ Dị thường).
Đó là một lập luận sắc sảo, nhưng như lệ thường, có nhiều cách để thực hiện các phép tính. Việc có đến một triệu nền văn minh rơi vào thời kỳ Hoàng hôn chỉ là một phỏng đoán, và hầu hết các giải pháp của phương trình Drake⦾ (do nhà thiên văn học Frank Drake tưởng tượng ra vào năm 1961 để tính toán số lượng các nền văn minh trong thiên hà) thực ra chỉ đưa ra số lượng thấp hơn nhiều. Chính Drake cũng tính rằng thiên hà của chúng ta chỉ sản sinh được 10 nền văn minh tiến bộ trong toàn bộ lịch sử của nó, và trong trường hợp đó, thì người ngoài hành tinh cũng nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta.
Rốt cùng thì nghịch lý Fermi cũng không giúp ích gì, vì câu trả lời cho thấy cuộc đua vĩ đại hóa ra không nằm ở các ngôi sao nhưng lại chính trong quá khứ của chúng ta. Ngay cả khi lịch sử không thể cung cấp cho chúng ta các công cụ dự đoán chính xác mà Asimov hình dung trong tuyển tập Foundation, nó cũng cung cấp một số gợi ý khá cụ thể. Tôi cho rằng đó là những nền tảng thực tế duy nhất để trông chờ.
Trong ngắn hạn, những mẫu hình được thiết lập trong quá khứ cho thấy sự chuyển đổi của cải và quyền lực từ Tây sang Đông là điều không thể lay chuyển. Việc chuyển hóa vùng lõi phương Đông xưa cũ thành một khu vực ngoại vi của phương Tây vào thế kỷ XIX đã tạo điều kiện cho phương Đông phát hiện ra những lợi thế trong sự lạc hậu của nó, và điều mới nhất của việc này – sự hội nhập của lực lượng lao động đông đảo và nghèo nàn của Trung Hoa vào nền kinh tế tư bản toàn cầu – vẫn đang diễn ra. Những chia rẽ nội bộ và chiến tranh bên ngoài gây xáo trộn có thể kìm hãm đất nước Trung Hoa như đã từng xảy ra những thập niên 1840 và 1970, nhưng sớm hay muộn – có thể đến năm 2030, và gần như chắc chắn đến năm 2040 – tổng sản phẩm quốc nội của Trung Hoa sẽ vượt qua Mỹ. Vào một thời điểm nào đó ở thế kỷ XXI, Trung Hoa sẽ tận dụng đến cạn kiệt những thuận lợi về sự lạc hậu của nó, nhưng khi điều đó xảy ra thì trung tâm của trọng lực kinh tế thế giới vẫn có thể ở lại phương Đông và mở rộng sang vùng Nam Á và Đông Nam Á. Sự chuyển đổi quyền lực và sự thịnh vượng từ Tây sang Đông trong thế kỷ XXI có lẽ là điều không thể tránh khỏi, cũng giống như sự dịch chuyển từ Đông sang Tây xảy ra vào thế kỷ XIX.
Sự dịch chuyển từ Tây sang Đông chắc chắn sẽ nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trong lịch sử trước đó, nhưng vùng lõi phương Tây hiện thời vẫn giữ vị trí hàng đầu về hấp thu năng lượng, công nghệ và năng lực quân sự tính trên đầu người, và hầu như chắc chắn sẽ duy trì sự thống lĩnh của nó về một số lĩnh vực trong nửa đầu thế kỷ này. Chừng nào nước Mỹ còn đủ mạnh để đóng vai trò cảnh sát toàn cầu thì những cuộc chiến tranh lớn sẽ khó xảy ra, cũng như khi nước Anh là cảnh sát toàn cầu ở thế kỷ XIX. Nhưng bắt đầu từ khoảng đâu đó giữa năm 2025 và năm 2050, vai trò dẫn đầu của Mỹ đối với phần còn lại của thế giới sẽ thu hẹp lại cũng như nước Anh khoảng sau năm 1870, và những nguy cơ về một cuộc chiến tranh thế giới mới sẽ gia tăng.
Tốc độ thay đổi công nghệ có thể làm tăng thêm sự bất ổn do việc tiếp cận vũ khí công nghệ cao dễ dàng hơn. Theo Steven Metz, giáo sư Học viện Quân sự Hoa Kỳ: “Chúng ta sẽ thấy nếu không có những công nghệ đồng nhất, thì các công nghệ tương tự cũng đang được phát triển [bên ngoài nước Mỹ], đặc biệt là do tính chất có sẵn của chúng. Chúng ta đã đạt đến mức những kẻ xấu không cần phát triển chúng mà chỉ cần bỏ tiền ra mua.”❖ Một báo cáo của RAND Corporation (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển) thậm chí còn đề xuất vào năm 2001 rằng: “Hoa Kỳ và quân đội của họ phải thêm vào kế hoạch của mình khả năng xung đột quân sự có thể xảy ra khi Trung Hoa có thể phát triển hơn về mặt công nghệ và quân sự vào năm 2020.”❖
Nước Mỹ có lẽ sẽ là quốc gia đầu tiên phát triển lá chắn chống tên lửa, cũng như robot và vũ khí nano làm quân lính trở nên lỗi thời, công nghệ không gian mạng có thể vô hiệu hóa hay chiếm quyền điều khiển máy tính và robot của đối phương, và các vệ tinh quân sự hóa không gian. Một nguy cơ là nếu – điều này có khả năng xảy ra – nước Mỹ có thể triển khai một số hoặc tất cả những vũ khí kỳ diệu này trước năm 2040, các nhà lãnh đạo của nó dễ bị lôi cuốn vào việc tận dụng sức mạnh công nghệ tạm thời nhưng khổng lồ này để đảo ngược tình thế suy sụp về mặt chiến lược dài hạn của mình. Tuy nhiên, tôi cho rằng điều này không có khả năng xảy ra. Ngay cả trong bầu không khí sục sôi đầu những năm 1950, nước Mỹ vẫn cưỡng lại sự cám dỗ tấn công Liên Xô trước khi nước này có khả năng xây dựng kho vũ khí hạt nhân. Nguy cơ thực sự có lẽ là các quốc gia khác, do lo ngại những đột phá quân sự của Mỹ trong vài thập niên tới, có thể sẽ muốn tấn công trước hơn là bị tụt hậu quá xa. Kiểu suy nghĩ đó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy nước Đức đến việc gây chiến tranh vào năm 1914.
Điều này đòi hỏi khả năng của các nhà chính trị tài giỏi để duy trì hòa bình trong trong thế kỷ XXI đầy bất ổn. Tôi đã lập luận trong suốt cuốn sách này rằng những người đàn ông/phụ nữ vĩ đại và những kẻ xuẩn ngốc ngây thơ chưa bao giờ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình lịch sử như họ đã từng tin. Tôi cho rằng thay vì thay đổi tiến trình lịch sử, điều mà họ có thể làm là tăng tốc hoặc làm chậm lại các tiến trình sâu xa hơn được chi phối bởi bản đồ địa dư. Thậm chí những quyết định gây thảm khốc nhất, chẳng hạn những cuộc chiến tranh mà Hoàng đế Justinian của Đế quốc Byzantine và Khusrau của Ba Tư khởi xướng từ năm 530 đến 630, chỉ giúp đẩy nhanh sự sụp đổ vốn dĩ đang diễn ra. Nếu không có các cuộc chiến tranh của Justinian và Khusrau, phát triển xã hội phương Tây có thể bắt đầu hồi phục sớm hơn, nhưng ngay cả khi có chúng thì sự phát triển cuối cùng vẫn nhanh chóng hồi phục.
Tuy nhiên, kể từ năm 1945 các nhà lãnh đạo thực sự có khả năng thay đổi lịch sử. Khrushchev và Kennedy suýt làm điều đó vào năm 1962. Với vũ khí hạt nhân thì không có cửa cho chúng ta mắc sai lầm do không còn cơ hội thứ hai nào nữa. Trước đây, những sai lầm thường chỉ gây ra suy thoái và sụp đổ của một đế chế; bây giờ chúng gây ra Hoàng hôn nhân loại. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, lãnh đạo thực sự mang tính quyết định. Chỉ có thể hy vọng rằng ở thời kỳ của chúng ta, cũng giống như hầu hết các thời kỳ trước đó, có thể tìm ra lối thoát cần thiết.
Tôi đã kết luận trong Chương 11 rằng những giải thích cho lý do tại sao phương Tây vượt trội phải được diễn đạt bằng xác suất chứ không phải bằng sự chắc chắn, và điều này thậm chí còn đúng hơn trong cuộc đua vĩ đại của thế kỷ XXI. Ngay bây giờ lợi thế rõ ràng không nghiêng về chúng ta, nhưng đối với tôi nếu thời kỳ của chúng ta có thể tìm thấy lối thoát cần thiết thì tình thế sẽ dần đảo chiều nhờ vào Công nghệ Dị thường.
Nếu các nguồn năng lượng sạch, tái tạo thay thế hydrocarbon trong vòng 10 năm tới, chúng sẽ giảm thiểu (dù không thể loại bỏ) nguy cơ các siêu cường thổi bay các nguồn lực hoặc bị cuốn vào những hận thù truyền kiếp ở vòng cung bất ổn. Chúng cũng làm chậm lại tiến trình biến đổi khí hậu toàn cầu, giảm những áp lực trong vòng cung và có thể thúc đẩy sản xuất lương thực thậm chí còn nhiều hơn cuộc cách mạng công nghiệp. Nếu công nghệ chế tạo robot đạt được những tiến bộ như nhiều nhà khoa học dự đoán, máy móc thông minh có thể cứu vãn châu Âu và Nhật Bản giàu có khỏi thảm họa nhân khẩu, cung cấp lao động giá rẻ và chăm sóc y tế đáp ứng được sự già hóa dân số. Nếu công nghệ nano cũng phát triển tương tự như thế thì đến thập niên 2040 chúng ta còn có thể khởi sự làm sạch không khí và đại dương.
Tuy nhiên cũng chỉ có một dự đoán mà chúng ta có thể tin vào: Cả Hoàng hôn nhân loại lẫn Công nghệ Dị thường đều không giành chiến thắng thực sự trong cuộc đua vĩ đại này do cuộc đua sẽ không có hồi kết. Khi chúng ta tiến đến năm 2045 (thời gian ước tính của Kurzweil cho điểm đến của Công nghệ Dị thường, và thời điểm muộn nhất của Hoàng hôn nhân loại theo ước tính của Shklovskii và Sagan, đúng một thế kỷ sau thảm họa Hiroshima và Nagasaki), chúng ta sẽ không phải tuyên bố sự kết thúc của lịch sử và thông báo kẻ chiến thắng. Nếu theo dự đoán của tôi điều này sẽ xảy ra, chúng ta vẫn sẽ giữ không cho Hoàng hôn nhân loại đến gần ở thời điểm giữa thế kỷ XXI và phát triển xã hội sẽ vượt qua 2.000 điểm trong quá khứ, Công nghệ Dị thường sẽ không kết thúc cuộc đua mà biến đổi cuộc đua – và trên hết chính là biến đổi cuộc đua của nhân loại.
Đặt trên một quan điểm lâu dài, những mối đe dọa khiến ngày nay chúng ta phải sợ hãi dường như có rất nhiều điểm chung với thế lực đã thúc đẩy sự tiến hóa phát triển mạnh trong quá khứ. Qua thời gian, những thay đổi tương đối đột ngột trong môi trường đã tạo điều kiện cho những đột biến bùng phát và chuyển đổi quỹ gen. Khoảng 1,8 triệu năm trước, quá trình khô hạn của rừng rậm Đông Phi rõ ràng cho phép những con người dị hợm có não bộ lớn kiếm sống tốt hơn loài Homo habilis. Giai đoạn khốc liệt ở Thời đại Băng hà khoảng 100.000 năm trước có thể đã cho loài Homo sapiens một cơ hội tương đương để tỏa sáng. Và giờ đây, trong thế kỷ XXI, một điều tương tự lại có thể xảy ra một lần nữa.
Hiện đã xảy ra những lần tuyệt chủng hàng loạt, với mức độ cứ mỗi 20 phút lại có một loài thực vật hoặc động vật trên đất liền biến mất. Một nghiên cứu vào năm 2004 ước tính rằng kết quả đáng phấn khởi nhất là chỉ 9% trong số 10 triệu loài thực vật và động vật trên thế giới phải đối mặt với nạn tuyệt chủng vào năm 2050, nhưng nhiều nhà sinh vật học lại dự đoán sự đa dạng sinh học sẽ giảm đến ⅓ hoặc ½. Một số thậm chí còn nói đến sự tuyệt chủng hàng loạt lần thứ 6⦾, với ⅔ loài của trái đất sẽ chết dần vào năm 2100. Con người cũng có thể nằm trong số này, nhưng thay vì chỉ cần quét sạch chi Homo khỏi hành tinh, những điều kiện khắc nghiệt của thế kỷ XXI có thể hành động như những gì 1,8 triệu hay 100.000 năm trước đã từng làm, tạo cơ hội cho các sinh vật với các loại não bộ mới – trong trường hợp này chính là bộ não kết hợp giữa con người và máy móc – thay thế những con người cũ. Và thay vì giẫm nát chúng ta, vó ngựa của những kỵ sĩ Khải huyền có thể khiến những bước đi chập chững của chúng ta hướng đến Công nghệ Dị thường thành Đại Nhảy vọt mới.
Tuy nhiên, Công nghệ Dị thường cũng có thể khá đáng sợ như Hoàng hôn nhân loại. Ở tầm nhìn của Kurzweil, Công nghệ Dị thường sẽ tiến đến tột điểm với việc kết hợp trí thông minh con người và máy móc trong thập niên 2040, và nếu ai trong chúng ta sống đủ lâu để chứng kiến điều này có khả năng sẽ sống mãi; nhưng một số người có kinh nghiệm nhất với nó – các chuyên gia công nghệ trong Quân đội Hoa Kỳ – lại nghi ngờ rằng mọi thứ sẽ dừng lại ở thời điểm đó. Chẳng hạn như nguyên đại tá Thomas Adams cho rằng chiến tranh đã sẵn sàng vượt khỏi “không gian con người” khi vũ khí trở nên “quá nhanh, quá nhỏ, quá nhiều, và… tạo ra một môi trường quá đỗi phức tạp khiến con người không thể lèo lái được.” Ông còn nói thêm: “Công nghệ đang nhanh chóng đưa chúng ta đến một nơi mà chúng ta không muốn đi chút nào, nhưng có lẽ không cách gì tránh được.”❖ Việc kết hợp con người và máy tính có thể chỉ là một giai đoạn ngắn trước khi những gì mà chúng ta trịch thượng gọi là trí thông minh nhân tạo thay thế cho loài Homo sapiens một cách triệt để, cũng như loài Homo sapiens từng thay thế những loài vượn người trước đó.
Nếu điều này là nơi Công nghệ Dị thường đưa chúng ta đến vào nửa sau thế kỷ XXI, nó đồng nghĩa với sự kết thúc của sinh vật học như chúng ta đã biết, và cùng với nó là đoạn kết cho tính lười biếng, sợ hãi và tham lam như là những động cơ của lịch sử. Trong trường hợp đó, Định lý Morris của tôi – cho rằng sự thay đổi là do những con người lười biếng, tham lam, sợ hãi (những người hiếm khi biết họ đang làm gì) tìm kiếm những cách làm việc dễ dàng, sinh lợi và an toàn hơn – cuối cùng sẽ đạt đến giới hạn của nó.
Xã hội học như chúng ta biết sẽ đi theo cùng một cách, bất kể những loại quy luật gì sẽ thống lĩnh một xã hội máy móc theo dự đoán của bất kỳ ai; và Công nghệ Dị thường chắc chắn sẽ xóa bỏ ranh giới địa lý cũ. Những phân biệt giữa Đông và Tây sẽ không còn dính dáng gì đến người máy.
Khi các nhà sử học (nếu những khái niệm đó vẫn còn tồn tại) nhìn lại từ năm 2103 về sự chuyển đổi từ trí thông minh dựa trên carbon sang silicon, họ sẽ bất ngờ khi thấy điều này là không thể tránh khỏi – thực sự không thể tránh khỏi như tôi đã khẳng định rằng những chuyển đổi trước đó, từ hái lượm sang nông nghiệp, từ làng mạc sang đô thị và từ nông nghiệp sang công nghiệp là điều tất yếu. Có thể thấy rõ một điều rằng các truyền thống khu vực phát triển từ các vùng lõi nông nghiệp ban đầu kể từ khi kết thúc Thời đại Băng hà chắc chắn sẽ gắn kết vào một nền văn minh thế giới hậu nhân loại. Do vậy, mối bận tâm ở đầu thế kỷ XXI về lý do tại sao phương Tây thống lĩnh thế giới và liệu nó có tiếp tục giữ vị thế đó hay không lại trông có vẻ hơi buồn cười.
Hai thế giới khác biệt gặp nhau
Có một điều trớ trêu ở đây. Tôi bắt đầu cuốn sách bằng một câu chuyện giả định về việc Đế chế Trung Hoa đem Hoàng thân Albert đến Bắc Kinh làm con tin vào năm 1848, và sau đó dành 11 chương để giải thích lý do tại sao điều đó lại không xảy ra. Tôi kết luận rằng lời giải đáp cho câu hỏi chính yếu của cuốn sách là vị trí địa lý; chính bản đồ địa dư, chứ không phải con người, đã đem chú chó nhỏ Looty đến Balmoral chứ không đưa Albert đến Bắc Kinh.
Trong chương này, tôi đẩy phần tranh luận xa hơn, cho rằng việc giải thích lý do tại sao phương Tây vượt trội cũng giải đáp phần lớn câu hỏi về những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Cũng chắc chắn như việc vị trí địa lý khiến phương Tây vượt trội, nó chỉ ra rằng phương Đông sẽ bắt kịp, khai thác những thuận lợi của sự lạc hậu cho đến khi phát triển xã hội của nó vượt qua phương Tây. Nhưng ở đây chúng ta lại gặp một điều trớ trêu khác. Phát triển xã hội gia tăng luôn làm thay đổi ý nghĩa của địa lý, và trong thế kỷ XXI, sự phát triển sẽ tăng cao đến mức vị trí địa lý không còn ý nghĩa gì nữa. Điều duy nhất đáng quan tâm chính là cuộc đua giữa một Công nghệ Dị thường với Hoàng hôn nhân loại. Để kiềm giữ không cho Hoàng hôn nhân loại đến gần, chúng ta sẽ phải tiến hành toàn cầu hóa ngày càng nhiều những mối quan tâm của mình, và những tranh luận về khu vực nào của thế giới có phát triển xã hội cao nhất sẽ ngày càng ít quan trọng.
Vì thế, điều trớ trêu nhất: việc trả lời câu hỏi đầu tiên của cuốn sách (lý do tại sao phương Tây vượt trội) ở một bình diện rộng lớn cũng sẽ trả lời cho câu hỏi thứ hai (điều gì sẽ xảy ra tiếp theo), nhưng nếu trả lời câu hỏi thứ hai thì lại lấy đi phần lớn ý nghĩa của câu hỏi đầu tiên. Việc xem xét những gì xảy ra tiếp theo có lẽ cũng phản ánh những gì đã diễn ra trên toàn bộ thời gian – đó là ý nghĩa của lịch sử không phải là về phương Đông, phương Tây hay bất kỳ phân khúc thời kỳ nào của nhân loại. Tầm quan trọng của lịch sử nằm ở tính toàn cầu và tiến hóa, kể lại câu chuyện về cách thế giới chúng ta tiến triển từ các sinh vật đơn bào đến Công nghệ Dị thường.
Tôi đã biện luận trong suốt cuốn sách rằng các lý thuyết chốt khóa dài hạn hay ngẫu nhiên ngắn hạn đều không phải là những phương cách giải thích lịch sử một cách rõ ràng, và bây giờ lại một lần nữa, tôi muốn đi xa hơn. Trong một thời gian thực sự khá dài, đối với quy mô thời gian của lịch sử tiến hóa, các lý thuyết chốt khóa dài hạn hay ngẫu nhiên ngắn hạn trên thực tế đều không có ý nghĩa gì lắm. Mười lăm nghìn năm trước đó, trước khi kết thúc Thời đại Băng hà, khái niệm phương Đông và phương Tây chẳng có ý nghĩa gì. Và một thế kỷ sau kể từ bây giờ chúng lại một lần nữa chẳng còn ý nghĩa gì. Tầm quan trọng của chúng trong thời kỳ can thiệp chỉ là một hiệu ứng bên lề của địa lý giữa thời kỳ khi những người nông dân đầu tiên thúc đẩy sự phát triển xã hội đến khoảng sáu điểm và thời kỳ khi những tạo vật có trí thông minh nhân tạo đầu tiên được tăng cường máy móc thúc đẩy phát triển xã hội vượt quá 5.000 điểm. Vào lúc thời điểm đó xảy đến – tôi cho rằng ở đâu đó khoảng từ 2045 đến 2103 – vấn đề địa lý sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Và phương Đông lẫn phương Tây chỉ được xem là một giai đoạn mà chúng ta đã kinh qua.
Ngay cả khi tất cả mọi điều xảy ra trong giai đoạn này có diễn tiến khác nhau theo hình dung của chúng ta – chẳng hạn, nếu Trịnh Hòa thực sự đã đến Tenochtitlán, nếu có một kiểu kinh tế Thái Bình Dương mới thay vì nền kinh tế Đại Tây Dương, nếu có một nước Trung Hoa với cuộc cách mạng công nghiệp chứ không phải nước Anh, và nếu Albert đến Bắc Kinh chứ không phải chú chó Looty đến Balmoral – thì những thế lực sâu xa về mặt sinh học, xã hội học, và địa lý sẽ vẫn thúc đẩy lịch sử theo cùng một hướng. Châu Mỹ [hay vùng đất của Trịnh Hòa (Zhengland) mà lúc này chúng ta có thể gọi như thế] sẽ trở thành một phần của phương Đông chứ không còn là vùng lõi của phương Tây, và phương Tây bây giờ sẽ đuổi kịp phương Đông thay vì ngược lại, nhưng thế giới vẫn sẽ bị thu hẹp từ rộng lớn đến nhỏ bé, và bây giờ vẫn sẽ còn thu nhỏ hơn nữa. Đầu thế kỷ XXI sẽ vẫn bị chi phối bởi quan hệ Trung-Mỹ (Chimerica), và dù nó sụp đổ hay không, thì cuộc đua giữa Hoàng hôn Nhân loại và Công nghệ Dị thường vẫn sẽ diễn ra. Rồi phương Đông và phương Tây vẫn sẽ mất đi ý nghĩa của chúng.
Đây không phải là một kết luận gây sốc. Cách đây đã lâu, vào năm 1889, trong khi thế giới đang còn thu hẹp từ quy mô lớn sang trung bình, một nhà thơ trẻ tên Rudyard Kipling đã có thể thấy một phần của cùng một sự thật. Vừa mới trở về London từ chiến tuyến xa xôi, Kipling đã tận dụng khoảng thời gian nghỉ ngơi để dệt nên những vần điệu tuyệt mỹ trong tập thơ táo bạo gọi là Bài thơ Đông-Tây (The Ballad of East and West)⦾. Nó kể lại câu chuyện về Kamal, một tướng cướp vùng biên giới đánh cắp con ngựa cái của một đại tá người Anh. Con trai của viên đại tá liền nhảy lên ngựa truy đuổi Kamal qua sa mạc theo từng phân đoạn trong sử thi (“Họ kéo mảnh trăng non ra khỏi bầu trời/móng ngựa của họ mang bình minh tới/Ngựa ô như con bò bị thương/ còn ngựa cái như hươu con nhẹ nhàng bay lướt”). Cuối cùng, chàng trai người Anh bị vấp ngã. Kamal lao đến tấn công và nâng súng lên. Nhưng mọi sự đều kết thúc tốt đẹp: hai người đàn ông “cùng nhìn vào mắt nhau và không thấy lỗi lầm gì trong đó/Rồi họ mang muối với bánh mì để cùng cắt máu ăn thề.”❖
Dù chỉ là phần chất liệu trợ hứng, nhưng chính dòng mở đầu của bài thơ – “Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ” – lại gây ra mọi sự chú ý, chủ yếu từ những người thích trích dẫn nó như một ví dụ về sự tự mãn của phương Tây ở thế kỷ XIX. Tuy nhiên, điều đó chắc chắn không phải là kết quả mà Kipling mong đợi. Những gì ông thực sự viết ra là:
Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
Cho đến một khi Đất và Trời chưa đến ngày phán xử
Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không biên cương, bộ tộc, giống nòi
Khi chỉ hai người đàn ông mạnh mẽ, dù đến từ hai đầu trái đất, mặt đối mặt với nhau.
Như Kipling đã nhìn thấy, con người (những con người thực sự, dù sao đi nữa) cũng đều giống nhau, nhưng chính vấn đề địa lý đã che khuất sự thật, đòi hỏi chúng ta phải đi đến tận cùng trái đất để hiểu ra mọi thứ. Nhưng trong thế kỷ XXI, phát triển xã hội bùng nổ và thế giới đang thu hẹp khiến các hành trình như thế không còn cần thiết. Sẽ không còn phương Đông, phương Tây, biên giới, cũng như giống loài, dòng dõi khi chúng ta vượt qua khái niệm sinh vật học. Hai phương trời cuối cùng sẽ gặp gỡ nếu như chúng ta trì hoãn được Hoàng hôn nhân loại đủ lâu.
Liệu chúng ta có thể làm được điều đó? Tôi nghĩ câu trả lời là có. Sự khác biệt lớn giữa những thách thức mà chúng ta phải đối mặt ngày hôm nay và những thách thức đã đánh bại nhà Tống ở Trung Hoa khi nó tiến sát ngưỡng cứng 1.000 năm trước và Đế quốc La Mã trước đó 1.000 năm nữa là bây giờ chúng ta biết nhiều hơn về các vấn đề liên quan. Nhưng không giống như người La Mã và người Trung Hoa thời nhà Tống, thời đại của chúng ta vẫn còn khả năng tìm ra lối thoát.
Ở trang cuối cùng của cuốn Collapse (Sụp đổ), nhà sinh vật học và địa lý học Jared Diamond cho rằng có hai lực lượng có thể cứu vẫn thế giới khỏi thiên tai: các nhà khảo cổ học (những người khám phá chi tiết về những sai lầm của các xã hội trước đó) và truyền hình (truyền bá những phát hiện của họ).❖ Là một nhà khảo cổ học xem tivi nhiều, chắc chắn tôi đồng ý với ý kiến trên, nhưng tôi cũng muốn thêm vào một cứu tinh thứ ba, đó là lịch sử. Chỉ những nhà sử học mới có thể cùng nhau đưa ra câu chuyện kể vĩ đại về sự phát triển xã hội; chỉ những nhà sử học mới có thể giải thích những khác biệt khiến nhân loại chia rẽ và chỉ ra phương cách ngăn ngừa chúng hủy diệt chúng ta.
Hy vọng rằng cuốn sách này có thể đóng góp một chút về tiến trình đó.