Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 126 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7 Thời kỳ phương Đông
Phương Đông dẫn đầu

❊ ❊ ❊

Theo Hình 7.1, năm 541 phải là một trong những thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử. Trong năm đó (hay vào khoảng giữa thế kỷ VI, cho phép có sai số nào đó trong chỉ số này), điểm số phát triển xã hội của phương Đông lại vượt qua phương Tây, kết thúc mẫu hình 14.000 năm tuổi và bác bỏ tức thời mọi lý thuyết chốt khóa dài hạn đơn giản nào về lý do tại sao phương Tây vượt trội. Đến năm 700, điểm số của phương Đông cao hơn ⅓ so với phương Tây, và khoảng năm 1100 thì khoảng cách – gần 40% – đã lớn hơn so với trong 2.500 năm qua (khi lợi thế vẫn nằm ở phương Tây).

Tại sao phương Đông lại tiến lên phía trước trong thế kỷ VI? Và tại sao điểm số phát triển xã hội của nó lại tăng cao trong nửa thiên niên kỷ tiếp theo, trong khi phương Tây lại tụt hậu? Những câu hỏi này là rất quan trọng để giải thích tại sao phương Tây giờ đây lại dẫn đầu thế giới, và khi cố gắng trả lời chúng trong chương này, chúng ta sẽ gặp khá nhiều nhân vật anh hùng, nhân vật phản diện, thiên tài và những kẻ phá hoại. Tuy nhiên, đằng sau mọi sự việc, chúng ta sẽ tìm thấy một thực tế đơn giản giống nhau gây ra sự khác biệt giữa Đông và Tây trong suốt câu chuyện: địa lý.

Hình 7.1. Sự đảo chiều lớn: phương Đông chuyển đổi thành công sự suy giảm và lần đầu tiên trong lịch sử dẫn trước phương Tây.

Chiến tranh và lúa gạo

Chỉ số phát triển xã hội ở phương Đông bắt đầu sụt giảm từ trước năm 100 và tiếp tục cho đến năm 400, và vào thời điểm chạm đáy, nó đã ở mức thấp hơn trước đó trong suốt năm thế kỷ. Các vương triều loạn lạc, những thành phố bị thiêu rụi, và những cuộc di dân – từ vùng Nội Á đến miền Bắc Trung Hoa, rồi từ miền Bắc đến miền Nam – đã làm rối loạn toàn bộ vùng lõi. Tuy vậy, chính từ những cuộc di dân này, phương Đông bắt đầu hồi sinh.

Ở Chương 4-6, chúng ta đã chứng kiến việc gia tăng chỉ số phát triển xã hội đã biến đổi bản đồ địa lý, khai mở những lợi thế trong tình trạng lạc hậu và mở ra những con đường xuyên qua các đại dương và thảo nguyên như thế nào. Tuy nhiên, kể từ thế kỷ III, mối quan hệ này cũng cho thấy một sự vận hành ngược lại: phát triển xã hội giảm cũng làm thay đổi bản đồ địa lý.

Hình 7.2. Phía Đông phục hồi, giai đoạn 400-700. Hình 7.2a thể hiện các nước Tây Ngụy, Đông Ngụy, và triều Lương ở miền Nam Trung Hoa năm 541. Triều Tùy thống nhất cả ba nước này vào năm 189. Hình 7.2b thể hiện quy mô vĩ đại nhất của Đế chế nhà Đường, khoảng năm 700.

Khi các thành phố của Đế quốc La Mã và Trung Hoa co lại, tri thức suy tàn, các lực lượng quân đội bị suy yếu và mức sống giảm xuống, các vùng lõi cũng bị co cụm về mặt địa lý, và những khác biệt giữa các sự co cụm này đã phần nào giải thích tại sao phát triển xã hội ở phương Đông lại phục hồi nhanh chóng trong khi chỉ số phát triển của phương Tây vẫn tiếp tục giảm xuống mãi đến thế kỷ VIII.

Ở Chương 6 chúng ta cũng thấy rằng trung tâm cũ của vùng lõi phương Đông ở thung lũng Hoàng Hà bị phân rã thành các chiến quốc sau năm 300 và hàng triệu người ở phía bắc phải trôi dạt về phía nam. Cuộc di dân đã biến đổi những vùng đất phía nam sông Dương Tử từ vùng ngoại biên kém phát triển ở thời nhà Hán thành một biên giới mới. Những kẻ tị nạn chạy đến một vùng đất xa lạ, ẩm và nóng, nơi lúa mì và kê phát triển nghèo nàn nhưng lúa lại phát triển mạnh mẽ. Số lượng những người đến định cư ở phần lớn vùng đất đai này không đáng kể, thường là tộc người có phong tục và ngôn ngữ rất khác với những người di dân đến từ miền Bắc Trung Hoa. Giữa bạo lực và sự khắc nghiệt vốn là đặc trưng của việc chiếm giữ đất đai thuộc địa, thì sự vượt trội về số lượng và cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn đã giúp những di dân này đẩy lùi những cư dân trước đó.

Giữa những năm 280-464, số nhân khẩu nằm trong danh sách nộp thuế ở phía nam sông Dương Tử đã nhân lên gấp năm lần, nhưng việc di dân không chỉ đưa nhiều người hơn về phía nam mà nó còn mang theo những kỹ thuật mới. Theo cuốn Tề dân yếu thuật⦾, có không dưới 37 giống lúa được biết đến vào những năm 530, và việc gieo mạ (gieo giống trên những luống riêng trong sáu tuần, sau đó chuyển chúng đến các cánh đồng ngập nước) đã trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là công việc cực nhọc nhưng bảo đảm đạt năng suất cao. Cuốn Tề dân yếu thuật còn giải thích cách thức bón phân giúp nông dân làm việc liên tục trên các cánh đồng thay vì để chúng hoang hóa, và làm thế nào mà các guồng nước – đặc biệt ở các tu viện Phật giáo, thường được thực hiện dựa vào những dòng suối chảy từ núi cao và thường có vốn đầu tư lớn – giúp cho việc xay ngũ cốc thành bột, xát lúa, và ép dầu từ hạt trở nên rẻ hơn. Kết quả là sự phát triển từng bước một của một biên giới mới cho các thời cơ phát triển nông nghiệp, giống như những gì người La Mã tạo ra khi họ chinh phục Tây Âu vào thế kỷ I TCN. Dần dần, qua nhiều thế kỷ, sự lạc hậu của vùng nông thôn phía nam đã biến thành một lợi thế.

Việc vận chuyển giá rẻ bắt đầu giúp lương thực rẻ đi. Dù không có thủy lộ nào thay thế những con sông ở Trung Hoa như các tuyến đường thủy mà Địa Trung Hải đã cung cấp cho Rome, nhưng dần dần sự khéo léo của con người đã bù đắp cho điều này. Các nhà khảo cổ học dưới nước vẫn chưa cung cấp số liệu thống kê như đã làm đối với những con tàu đắm La Mã, tuy nhiên các văn bản cũng ghi nhận rằng thuyền bè ngày càng lớn hơn và chạy nhanh hơn. Những chiếc thuyền chạy bằng guồng đã xuất hiện trên sông Dương Tử vào những năm 490, và từ Thành Đô (Chengdu) đến Kiến Khang, lúa gạo đã nuôi dưỡng cho các thành phố đang phát triển, nơi các thị trường đô thị khuyến khích việc trao đổi các loại cây công nghiệp, như trà chẳng hạn, lấy tiền mặt (lần đầu tiên được đề cập ở những ghi chép khoảng năm 270 còn lưu lại và đã trở thành một món hàng sang trọng phổ biến khoảng năm 500). Giới quý tộc, thương nhân và các tu viện đều giàu lên nhờ việc cho thuê đất đai, vận chuyển và xay xát ở vùng thung lũng sông Dương Tử.

Tuy nhiên, triều đình ở kinh đô Kiến Khang lại không trở nên giàu có. Về mặt này, tình trạng của nó ít giống với tình trạng của Đế quốc La Mã, mà giống hơn với Đế quốc Assyria ở thế kỷ VIII TCN, nơi mà các thủ lĩnh và chủ đất, chứ không phải nhà nước, nắm giữ những thành quả từ việc dân số và giao thương ngày càng phát triển – chỉ cho đến khi Tiglath-Pileser xoay chuyển mọi thứ. Tuy nhiên, miền Nam Trung Hoa lại không bao giờ có được một Tiglath-Pileser. Cũng có lúc một vị hoàng đế nỗ lực kiềm chế tầng lớp quý tộc và thậm chí cố gắng tái chinh phục miền Bắc, nhưng những nỗ lực này luôn bị sụp đổ vì nội chiến. Từ năm 317 đến năm 589, năm nhà cai trị nối tiếp nhau đã trị vì (tạm bợ) ở kinh đô Kiến Khang.

Cuốn Tề dân yếu thuật cũng chỉ ra rằng nền nông nghiệp phức tạp đã phát triển ở miền Bắc vào những năm 530, nhưng trước đó nền giao thương đường dài và thậm chí cả hệ thống tiền tệ đã biến mất do nạn cướp bóc tràn lan. Lúc đầu, sự đổ vỡ này gây ra những biến cố chính trị nhiều hơn cả miền Nam, nhưng dần dần các nhà cai trị mới bắt đầu áp đặt trật tự ở miền Bắc. Trong số đó có cả bộ tộc Tiên Ti, tộc người đến từ các vùng rìa thảo nguyên ở Mãn Châu. Như người Parthian ở Tây Á tràn qua Iran sáu thế kỷ trước đó, người Tiên Ti kết hợp các truyền thống du mục và nông nghiệp, và trong nhiều thế hệ đã chiến đấu như một tầng lớp kỵ sĩ tài năng trong khi bòn rút tiền bảo vệ từ nông dân.

Khởi từ sự đổ nát hoang tàn của miền Bắc Trung Hoa vào những năm 380, người Tiên Ti đã dựng lên triều đại của họ, sử gọi là Bắc Ngụy⦾. Thay vì chỉ cướp bóc tầng lớp có địa vị xã hội người Hán, họ tiến hành những thỏa thuận với tầng lớp này, giữ lại ít nhất một số thư lại được trả lương và các sắc thuế của những triều đại cũ. Điều này tạo cho Bắc Ngụy một lợi thế đối với đám hỗn tạp mất trật tự điều hành các tiểu quốc ở miền Bắc Trung Hoa; trên thực tế, chỉ cần một lợi thế này cũng đủ để Bắc Ngụy thống nhất toàn bộ khu vực vào năm 439.

Dù vậy, những giao ước giữa triều Bắc Ngụy với những tàn dư của tầng lớp quý tộc Trung Hoa cũ vẫn còn khá chao đảo. Hầu hết các chiến binh Tiên Ti thích chăn nuôi gia súc hơn kết thân với giới trí thức, và ngay cả khi đã định cư, họ vẫn xây lâu đài riêng để tránh phải tiếp xúc với nông dân Trung Hoa. Nhà nước của họ vẫn kiên định ở tình trạng thứ cấp. Chừng nào còn chiến đấu với các tiểu quốc chỉ biết cướp bóc ở phía bắc thì nhà nước của họ vẫn ổn, nhưng khi những kỵ sĩ Tiên Ti tiến gần các vùng phụ cận kinh đô Kiến Khang vào năm 450, họ phát hiện ra rằng dù có thể chiến thắng các trận đánh và cướp đi mọi thứ mà không bận tâm, thì thực sự họ vẫn không thể đe dọa được các thành phố. Chỉ có một nhà nước cấp cao với đầy đủ tàu bè, máy công thành, và quân nhu mới có thể làm được điều đó.

Do không thể chiếm miền Nam Trung Hoa vì thiếu một kiểu quân đội cấp cao, và không còn cơ hội cướp bóc miền Bắc Trung Hoa vì họ đã cai trị nó, các vị vua của triều Bắc Ngụy thiếu hụt trầm trọng nguồn lực để mua sự trung thành của những người ủng hộ – một yếu điểm chết người tiềm tàng ở một nhà nước cấp thấp. Vào thập niên 480, Hiếu Văn Đế nhận ra rằng chỉ còn một giải pháp duy nhất: hướng đến một nhà nước cấp cao. Ông thực hiện điều này với một sự quyết liệt, đó là quốc hữu hóa toàn bộ đất đai rồi tái phân phối cho những người đăng ký đóng thuế và phục vụ nhà nước, và – để người Tiên Ti bắt đầu suy nghĩ và hành động theo những mục tiêu đề ra cho một quốc gia cấp cao – ông đã tấn công thẳng vào truyền thống của tộc mình. Hiếu Văn Đế cấm mặc trang phục Tiên Ti, đổi họ Tiên Ti theo họ người Hán, yêu cầu tất cả các cận thần dưới 30 tuổi phải nói tiếng của người Hán đồng thời cho chuyển hàng nghìn người đến một thành phố mới gọi là Lạc Dương.

Một số người Tiên Ti từ bỏ lối sống như tổ tiên của họ và thích ứng với việc cai trị chẳng khác gì những quý tộc người Hán bình thường, nhưng những người khác thì không chấp nhận. Những cuộc chiến văn hóa leo thang thành nội chiến, và năm 534 Bắc Ngụy bị chia tách thành Đông Ngụy (theo phái mới) và Tây Ngụy (theo truyền thống). Những người theo chủ nghĩa truyền thống, vốn gắn với lối sống du cư, có khả năng thu hút những kỵ binh đến từ vùng thảo nguyên, và không lâu sau đó, có vẻ như binh lực của họ đã chế ngự được cuộc cách mạng do Hiếu Văn Đế khởi xướng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh tuyệt vọng lại nảy sinh phát kiến. Trong khi Hiếu Văn Đế muốn biến các chiến binh Tiên Ti thành quý tộc người Hán, thì những người nối nghiệp ông đã làm ngược lại, giảm thuế cho binh sĩ người Hán, cắt cử người Hán có địa vị cao làm tướng, đồng thời cho phép các chiến binh người Hán đổi sang họ Tiên Ti. Rồi sau đó, những nông dân và trí thức đã học được cách chiến đấu, và năm 577 đến lượt họ lật đổ phe đối lập. Đó là một quá trình dài, nhiễu nhương, nhưng một phiên bản về tầm nhìn của Hiếu Văn Đế cuối cùng đã chiến thắng.

Kết quả là một nước Trung Hoa phân cực mạnh mẽ. Ở phía bắc, một nhà nước cấp cao (cải tên là vương triều nhà Tùy sau cuộc chính biến quân sự năm 581) với quân đội hùng mạnh lại ngự trị trên một nền kinh tế nghèo đói và manh mún, trong khi đó, phía bắc là một quốc gia bị phân rã với các thể chế yếu ớt đang nỗ lực, dù đa phần bị thất bại, để khai thác sự thịnh vượng của một nền kinh tế đang bùng nổ.

Điều này trông có vẻ hoàn toàn bất bình thường, nhưng trên thực tế lại hoàn hảo cho khởi đầu của một bước nhảy trong phát triển xã hội. Năm 589, Tùy Văn Đế, vị vua đầu tiên của vương triều nhà Tùy, đã xây dựng một đội tàu chiến vượt qua đồng bằng sông Dương Tử và tung ra một đội quân đông đảo (có khả năng đến nửa triệu người) tấn công Kiến Khang. Với sự chênh lệch quá lớn về mặt quân đội giữa miền Bắc và miền Nam, thành phố này bị chiếm chỉ trong vài tuần. Khi nhận ra Tùy Văn Đế quả thực muốn đánh thuế họ, những quý tộc miền Nam Trung Hoa đồng loạt nổi dậy, theo sử liệu thì họ mổ bụng – thậm chí ăn thịt – những viên quan cai trị nhà Tùy, nhưng ngay trong năm đó họ bị đánh bại. Tùy Văn Đế chinh phục miền Nam Trung Hoa mà không gây ra những cuộc chiến dai dẳng làm hủy hoại nền kinh tế, và vậy là một sự phục hưng ở phương Đông đã cất cánh.

Thế giới của Võ Hậu (Võ Tắc Thiên)

Cùng với việc tái tạo một đế chế rộng lớn thống nhất, vương triều nhà Tùy liền tiến hành hai công việc. Thứ nhất, nó cho phép nhà nước mạnh mẽ có kinh đô ở miền Bắc Trung Hoa khai thác biên giới kinh tế mới ở miền Nam; và thứ hai, nó cho phép sự bùng nổ kinh tế ở miền Nam lan rộng khắp Trung Hoa.

Điều này không phải lúc nào cũng nằm trong tính toán. Khi các hoàng đế nhà Tùy cho đào kênh Đại Vận Hà dài hơn 2.400km và rộng gần 40m, công trình vĩ đại nhất thời đó, để kết nối sông Dương Tử với miền Bắc Trung Hoa, họ chỉ muốn có một tuyến đường giao thông để chuyển quân. Nhưng chỉ trong vòng một thế hệ, nó đã trở thành huyết mạch kinh tế của Trung Hoa để vận chuyển gạo từ miền Nam đến nuôi các thành phố miền Bắc. Các học giả ở thế kỷ VII thích phàn nàn rằng: “Bằng cách đâm xuyên qua rặng Thái Hàng Sơn, nhà Tùy đã gây ra những nỗi đau khổ khôn cùng cho người dân.” Tuy nhiên, họ cũng thừa nhận rằng, kênh đào này “đã cung cấp lợi ích vô tận cho người dân… Những lợi ích mà nó mang lại thực sự rất to lớn!”❖

Đại Vận Hà hoạt động như một kiểu Địa Trung Hải nhân tạo, làm thay đổi vùng địa lý phương Đông bởi cuối cùng đã ban tặng cho Trung Hoa một loại thủy lộ mà Rome đã từng được thụ hưởng. Lúa rẻ ở miền Nam giúp nuôi dưỡng sự bùng nổ đô thị ở miền Bắc. Thi hào Bạch Cư Dị đã viết về Trường An, một lần nữa được chọn làm kinh đô Trung Hoa, như sau: “Hàng trăm ngôi nhà, hàng nghìn ngôi nhà – trông như một bàn cờ vĩ đại.” Nó trải rộng trên 75km2, “trông giống một cánh đồng rộng xếp đầy những hàng cải bắp.”❖ Một triệu người dân xúm xít quanh những đại lộ rợp bóng cây rộng gấp năm lần đại lộ Fifth Avenue ở New York. Không chỉ Trường An là độc đáo; Lạc Dương có lẽ cũng có kích thước bằng một nửa của Trường An, và cả tá thành phố khác có dân số lên đến 100.000 người.

Tuy nhiên, sự phục hồi của Trung Hoa cũng là một con dao hai lưỡi, vì sự kết hợp giữa quyền lực nhà nước phía bắc và vùng lúa gạo phía nam đều có những thuận lợi và bất lợi như nhau. Một mặt, giới quan lại mới nhất tổ chức và kiểm soát các thị trường đô thị làm giàu cho nông dân và giới thương nhân, thúc đẩy phát triển xã hội đi lên; mặt khác, sự quản lý quá mức đã hãm lại đà phát triển do những trói buộc đối với nông dân và thương nhân bằng cách quy định từng chi tiết trong thương mại. Quan chức cố định giá cả, chỉ định lúc nào thì mua và lúc nào thì bán, thậm chí còn áp đặt lối sống của những thương nhân (chẳng hạn họ không thể cưỡi ngựa vì điều này quá trang trọng đối với những kẻ chỉ là buôn bán vặt vãnh).

Giới quan lại thường đặt chính trị lên trước kinh tế. Thay vì cho phép mọi người mua bán ruộng đất, họ vẫn giữ lại hệ thống của Hiếu Văn Đế, minh định tất cả đất đai đều thuộc về nhà nước và chỉ cho nông dân vay mượn. Điều này buộc nông dân phải đăng ký thuế và giúp kiểm soát những chủ đất quyền lực, nhưng lại làm rối rắm mọi thứ vì tệ quan liêu. Trong nhiều năm các nhà sử học ngờ rằng những luật đất đai này nói lên hệ tư tưởng hơn là tính thực tiễn; họ lý giải rằng hiển nhiên không một nhà nước tiền hiện đại nào có thể xử lý công việc giấy tờ nhiều đến thế.⦾ Tuy nhiên, những tài liệu cổ xưa được bảo quản do các điều kiện khô nóng ở thành phố Đôn Hoàng, rìa sa mạc Gobi, cho thấy các nhà điều hành ở thế kỷ VIII đúng là đã thực thi những luật tắc này.

Dĩ nhiên giới nông dân, chủ đất và những kẻ đầu cơ tìm đủ cách để tránh né các quy định, nhưng cơ quan hành chính ngày càng phình ra để xử lý hàng núi hồ sơ giấy tờ và thực hiện một cuộc cách mạng riêng của nó. Về lý thuyết, các kỳ thi tuyển dụng đã giúp cơ chế hành chính Trung Hoa được duy trì tốt nhất và rực rỡ nhất kể từ thời nhà Hán, nhưng trong thực tế, các gia đình quý tộc luôn xoay xở để biến chức vụ cao thành một đặc quyền đặc lợi. Tuy nhiên vào thế kỷ VII, thành quả thi cử thực sự trở thành tiêu chí duy nhất để thành đạt. Chừng nào mà chúng ta còn cho rằng (như hầu hết mọi người) việc sáng tác thơ ca và trích dẫn văn học cổ điển là định hướng tốt nhất cho khả năng hành chính, thì Trung Hoa có thể được xem là đã phát triển các quy trình lựa chọn hợp lý nhất cho dịch vụ nhà nước được biết đến lịch sử.⦾

Khi sự kìm giữ của giới quý tộc già cỗi đối với giới quyền cao chức trọng dần nới lỏng, thì với tầng lớp thấp hơn, việc bổ nhiệm hành chính đã trở thành con đường chắc chắn nhất để trở nên giàu có và có thế lực, và việc thi cử để gia nhập vào các cơ quan hành chính ngày càng trở nên khó khăn. Có một số năm, trong 100 thí sinh thì chỉ có một người đỗ, và có những mẩu chuyện cười ra nước mắt về những người thi đi thi lại nhiều lần trong nhiều thập niên. Những gia đình có tham vọng thuê thầy dạy kèm, cũng giống như ngày nay để con em họ vượt qua các kỳ thi tuyển vào những trường đại học danh giá nhất và các máy in mới in ra hàng nghìn cuốn sách về các câu hỏi thực hành. Một số thí sinh còn mặc áo gian dối với các bài văn mẫu nhét trong lớp vải lót. Do điểm số phụ thuộc rất nhiều vào bài viết văn học, nên mọi thanh niên sớm trở thành nhà thơ; và do có nhiều nhà thơ nên giai đoạn này trở thành thời hoàng kim của văn học Trung Hoa.

Việc thi cử đã tạo ra biến đổi xã hội chưa từng thấy trong giới tinh hoa học thức, và một số sử gia thậm chí còn nói đến sự trỗi dậy của một kiểu chủ nghĩa nam nữ bình quyền sớm do tính phóng khoáng mới mẻ lan rộng đến các mối quan hệ giới tính. Nhưng chúng ta cũng không nên phóng đại xu hướng này; lời dạy bảo dành cho phụ nữ trong cuốn Tổ phụ gia giáo, một trong những cuốn sách phổ biến nhất còn lưu lại ở thế kỷ VIII, không gây sốc cho bất kỳ ai tại thời điểm 1.000 năm trước đó:

Nàng dâu phục vụ chồng mình

Cũng như phục vụ người cha.

Không để người ngoài nghe giọng nói

Cũng không xuất hiện trước mọi người, dù là thấp thoáng.

Không được trò chuyện với cha chồng và anh chồng.

Mặt khác, các mẫu hình cưới xin mới và lối ứng xử tự do của người theo đạo Phật (so với tư tưởng Khổng giáo) đối với những phẩm chất của người phụ nữ đã tạo cơ hội cho những phụ nữ giàu có lờ đi những văn bảo của tổ tiên. Ví dụ như Võ Tắc Thiên, sau một thời gian vào chùa đi tu, tiến cung làm phi tần của hoàng đế [Đường Thái Tông] (lúc 13 tuổi) trước khi được nạp làm chính thất cho con trai vị hoàng đế này [Cao Tông].⦾ Theo lời kể trong thư tịch, Võ Tắc Thiên, do tài giỏi hơn vị hoàng đế [Cao Tông] nhu nhược và sức khỏe không tốt (bị chứng đau đầu), đã buông rèm chỉ đạo chính sự. Và nhân khi vị hoàng đế này băng hà vào năm 183, Võ Tắc Thiên bị cho là đã đầu độc vị thái tử chính thức, sau đó lần lượt truất phế hai người con trai của mình (một chỉ trong sáu tuần, người kia sau sáu năm). Rồi vào năm 190, bà gỡ rèm để chính thức trở thành người phụ nữ duy nhất ngồi trên ngai vàng trong lịch sử Trung Quốc.

Ở một phương diện nào đó, Võ Hậu là nhân vật tiêu biểu cho thuyết nam nữ bình quyền sớm một cách tuyệt đối. Bà thành lập một học viện soạn ra cuốn Liệt nữ truyện và gây chấn động dư luận bảo thủ qua việc dẫn đầu một cuộc rước lễ toàn phụ nữ lên Thái Sơn để tiến hành nghi lễ thiêng liêng nhất ở Trung Hoa, lễ Tế Trời. Tuy nhiên, tình chị em phụ nữ của bà lại có giới hạn – khi hoàng hậu và một phi tần được sủng ái của nhà vua và trở thành mối đe dọa trong khi bà đang vạch kế hoạch leo lên ngôi cao, bà tự tay bóp chết đứa con mới sinh của mình (cũng theo tin đồn) rồi vu vạ cho các đối thủ, và trừng phạt họ bằng cách chặt tay chân rồi đem ngâm trong thùng rượu.

Phật giáo của Võ Hậu cũng mâu thuẫn như chủ nghĩa nam nữ bình quyền sớm của bà. Hẳn nhiên bà là một người mộ đạo, một mặt bà cấm đoán mở hàng thịt, mặt khác bà đích thân rời kinh đô Trường An để gặp gỡ một nhà sư thỉnh kinh ở Ấn Độ về, đồng thời bà còn tận dụng tôn giáo cho mục đích chính trị. Năm 685, tình nhân của bà – một nhà sư khác – tìm thấy một bản văn, gọi là Đại Vân Kinh, dự đoán sự trỗi dậy của một phụ nữ có phẩm hạnh tài năng lớn đến mức sẽ trở thành người thống lĩnh thiên hạ. Võ Hậu lấy danh xưng Di Lặc (Vị Phật Tương lai) Độc Nhất Vô Nhị, và truyền thuyết cho rằng khuôn mặt của tượng Phật Di Lặc xinh đẹp tuyệt trần ở Long Môn chính là bản sao gương mặt của Võ Hậu (Hình 7.3).

Võ Hậu cũng có cách xử sự tương đối phức tạp đối với sự vụ hành chính. Bà khuyến khích việc tổ chức thi tuyển nhân tài thay vì dùng người thân trong dòng tộc, thế nhưng những nhà Nho quý tộc với ưu thế của mình lại ghét cay ghét đắng vị nữ hoàng của họ khiến bà lại trở về với con người của cảm tính. Bà trừ khử các nhà Nho, những người sau đó đã trả đũa bằng cách viết sử chính thống biến bà thành nguyên mẫu của những sai trái khi để phụ nữ nắm giữ chức vị cao.

Nhưng không vì thế mà họ có thể phủ lấp được sự huy hoàng của triều đại Võ Hậu. Bà đã lãnh đạo một đội quân hàng triệu binh sĩ và quản lý các nguồn lực dồi dào để gửi đến tận vùng thảo nguyên xa xôi. Quân đội của bà giống quân đội La Mã hơn triều Hán, binh sĩ được tuyển mộ chủ yếu trong phạm vi của đế chế và tướng lĩnh thì lấy từ tầng lớp quý tộc. Điều này có mối đe dọa về nội loạn nhưng cũng có những biện pháp phòng ngừa tinh vi để bắt các tướng lãnh phải trung thành. Bất kỳ chỉ huy nào chuyển quân, mà không được phép, dù chỉ 10 binh sĩ, sẽ phải đối mặt với án một năm tù; còn tướng nào chuyển quân cả một binh đội thì có nguy cơ bị treo cổ.

Hình 7.3. Khuôn mặt của Võ Tắc Thiên? Truyền thuyết cho rằng bức tượng Phật Vị Lai này, được khắc ở Long Môn khoảng năm 700, được mô phỏng theo hình tượng vị nữ hoàng đế duy nhất cai trị Trung Hoa.

Chính quân đội đã giúp Trung Hoa thống lĩnh xa hơn về phía đông Bắc Á, Đông Nam Á và Trung Á so với trước đây, thậm chí nó còn can thiệp vào miền Bắc Ấn Độ năm 648, và sức mạnh mềm Trung Hoa vẫn tiếp tục vươn xa. Từ thế kỷ II đến thế kỷ V, Ấn Độ vượt trội Trung Hoa như là một trung tâm thu hút về văn hóa, những nhà sư truyền đạo và thương nhân Ấn Độ truyền bá Phật giáo rộng khắp, và tầng lớp quý tộc của các quốc gia mới hình thành ở vùng Đông Nam Á học theo lối ăn mặc cũng như kinh điển và tôn giáo của Ấn Độ. Tuy nhiên, đến thế kỷ VII, ảnh hưởng của Trung Hoa đã trở nên rõ ràng. Một nền văn minh Ấn-Hoa đặc thù đã phát triển ở Đông Nam Á, những trường phái Phật giáo ở Trung Hoa ảnh hưởng ngược lại về tư tưởng ở Ấn Độ, và các giai tầng lãnh đạo ở hai quốc gia mới nổi là Triều Tiên và Nhật Bản cũng tiếp thu Phật giáo hoàn toàn từ Trung Hoa. Họ bắt chước trang phục Trung Hoa, quy hoạch thành phố, san định luật lệ và chữ viết, đồng thời củng cố quyền lực của họ qua việc khẳng định sự chấp nhận và kế thừa từ các nhà cai trị Trung Hoa.

Một phần ở sự hấp dẫn của văn hóa Trung Hoa là tính thông thoáng đối với những tư tưởng bên ngoài và khả năng dung hợp với những điều mới mẻ. Nhiều nhân vật quyền lực nhất ở thế giới của Võ Hậu có thể lần ngược theo nguồn cội tổ tiên của họ đến tận những người du mục vùng thảo nguyên di cư sang Trung Hoa, và họ vẫn duy trì mối liên hệ với Tuyến đường Thảo nguyên nối từ Đông sang Tây. Những vũ công và đàn luýt vùng Trung Á rất được ưa chuộng ở kinh thành Trường An, nơi các chuyên gia thời trang mặc trang phục Ba Tư với vạt áo thắt, váy xếp nếp và áo choàng dài cả mấy thước. Những người lăng xê thời trang đúng nghĩa chỉ dùng các nô lệ dạ xoa vùng Đông Phi làm người gác cổng: “Nếu chúng không chết,” một chủ nhân của họ lạnh lùng nhận xét, “người ta có thể giữ chúng, và sau một thời gian dài chúng cũng bắt đầu hiểu được ngôn ngữ của con người, mặc dù không thể nói được.”❖

Những nhân vật quyền quý dòng dõi thế gia vọng tộc Trung Hoa bị gãy xương do chơi mã cầu, một môn thể thao của người du mục; mọi người đều học kiểu ngồi theo phong cách Trung Á, nhưng trên ghế chứ không phải trên thảm; và những phu nhân chạy theo thời trang thì thường rề rà ở các ngôi đền thờ của các tôn giáo ngoại lai như Bái Hỏa giáo và Ki-tô giáo, du nhập về phương Đông từ các thương nhân vùng Trung Á, Iran, Ấn Độ và Ả Rập lũ lượt đổ xô đến các đô thị Trung Hoa. Năm 2007, một nghiên cứu DNA cho thấy một nhân vật tên Ngu Hoằng (Yu Hong), được chôn cất ở Thái Nguyên, miền Bắc Trung Hoa, vào năm 592 thực ra là người châu Âu (mặc dù chưa xác định được có phải người này di cư từ phương Tây đến tận phía cực đông của vùng thảo nguyên hay tổ tiên của ông ta di chuyển dần dần đến đó).

Thế giới của Võ Hậu là thành quả của sự nhất thống Trung Hoa vào năm 189, tạo ra một quốc gia hùng mạnh ở phía nam và mở ra một thế giới rộng lớn đối với sự phát triển kinh tế miền Nam. Điều đó giải thích tại sao phát triển xã hội ở phương Đông lại nhanh chóng tăng vọt; nhưng nó chỉ là một nửa lời giải đáp cho lý do thang điểm của phương Đông và phương Tây giao nhau vào năm 541. Để có câu trả lời đầy đủ, chúng ta cần biết tại sao phát triển xã hội phương Tây lại giảm sút.

Những người cuối cùng trong dòng giống

Nhìn bề ngoài, ở thế kỷ VI sự hồi phục của phương Tây có vẻ ít nhất cũng như ở phương Đông. Trong mỗi vùng lõi, một đế chế lớn thời cổ đại đã bị phá vỡ để lại một đế chế nhỏ hơn khẳng định sự thống trị hợp pháp trên toàn khu vực và một nhóm vương quốc man rợ lờ đi những khẳng định đó (Hình 7.4). Sau những tai ương ở thế kỷ V, thành Byzantium đã củng cố lại biên giới và tương đối yên bình, và năm 527, khi một vị hoàng đế mới tên Justinian lên ngôi, mọi dấu hiệu đều khả quan.

Các sử gia thường gọi Justinian là vị hoàng đế cuối cùng của người La Mã. Ông cai trị bằng một nghị lực mạnh mẽ, đôn đốc công việc hành chính, tăng thuế và xây dựng lại Constantinople (nhà thờ Hagia Sophia nguy nga là một phần di sản của ông). Ông lao vào công việc như một con quỷ. Một số nhà phê bình nhấn mạnh rằng ông thực sự là một con quỷ – như một loại ma cà rồng của Hollywood, họ khẳng định, ông không bao giờ ăn, uống, hoặc ngủ, mặc dù ông ham muốn tình dục mãnh liệt. Thậm chí một số người còn nói rằng họ đã nhìn thấy đầu của ông tách rời khỏi cơ thể và bay lượn quanh người khi ông đi vẩn vơ ở hành lang vào ban đêm.

Hình 7.4. Những nhân vật cuối cùng trong dòng giống? Đầu tiên là Justinian của Byzantium (533-565) và sau đó là Khusrau nước Ba Tư (603-627) cố gắng hợp nhất vùng lõi phương Tây; Heraclius của Byzantium phản công lại Khusrau (624-628).

Theo lời đồn đại, động lực khiến Justinian lao vào công việc chính là vợ ông, Theodora (Hình 7.5), người thậm chí còn bị phê phán là xấu xa hơn cả Võ Tắc Thiên. Theodora từng là một kỹ nữ (thời xưa, từ này thường là một uyển ngữ để chỉ gái mại dâm) trước khi kết hôn với Justinian. Thiên hạ đồn rằng bản năng tình dục của bà ta còn mạnh hơn cả Justinian; rằng bà đã từng ngủ với tất cả khách mời trong một bữa tiệc tối, và khi họ đã kiệt sức, bà còn tiếp tục với 30 người hầu của họ; bà cũng thường than vãn Đức Chúa Trời chỉ cho bà có 3 cái lỗ. Dù có thể như thế, bà vẫn có bản lĩnh của một hoàng hậu. Khi các nhà quý tộc phản đối các sắc thuế của Justinian, sử dụng những người yêu thích trò chơi bạo loạn để lật đổ ông vào năm 532, Theodora ngăn ông chạy trốn khỏi kinh thành. Bà ta nói như sau: “Mọi người sinh ra rồi đều phải chết, nhưng tôi không thể sống được để nhìn thấy ngày mà người ta không còn gọi tôi ‘Tâu Hoàng Hậu.’ Phu quân của tôi ơi, nếu ngài muốn tìm kiếm sự an toàn thì dễ thôi… nhưng tôi thích thành ngữ cổ này hơn – màu tím [màu của các vị vua] làm vải liệm là tốt nhất.”❖ Justinian tỉnh ngộ, sai quân đội về kinh thành đàn áp cuộc bạo loạn, và không bao giờ quay đầu lại.

Hình 7.5. Tồi tệ hơn (hay tốt hơn, tùy theo cách nhìn của bạn) so với Võ Hậu? Hoàng hậu Theodora, được thể hiện trên một bức tranh khảm ở Ravenna, Italy, hoàn thành năm 547.

Ngay năm sau, Justinian phái tướng Belisarius giành lại vùng Bắc Phi từ tay người Vandal. Sáu mươi lăm năm trước đó, những chiếc thuyền lửa đã nuôi hy vọng cho Đế quốc Byzantine giành lại thành Carthage trong khói lửa, nhưng bây giờ thì đến lượt vương quốc Vandal sụp đổ. Belisarius tràn qua Bắc Phi, rồi tiến vào Sicily. Ở đó những người Goth cũng bị đánh tan, và viên tướng này đã đón mừng lễ Giáng Sinh năm 536 tại thành Rome. Mọi chiến dịch đều được thực hiện thành công. Tuy nhiên, khi Justinian mất vào năm 565, việc tái chinh phục các lãnh địa cũ bị đình trệ, đế chế bị phá sản, và chỉ số phát triển xã hội phương Tây đã ở bên dưới phương Đông. Vậy điều gì đã xảy ra?

Theo lời thư ký Procopius của tướng Belisarius, người viết cuốn The Secret History (Lịch sử bí ẩn), tất cả đều do lỗi của phụ nữ. Procopius đã cung cấp một thuyết âm mưu rối mù, rất xứng tầm với các quan lại Nho học của Võ Hậu. Ông ta cho biết vợ của Belisarius, Antonina, là người bạn thân thiết nhất của Hoàng hậu Theodora, đồng thời cũng là bạn gắn bó trong các cuộc vui tình dục. Để làm xao lãng tâm trí của Justinian về những lời đồn-đại-quá-đúng về Antonina (và cả bản thân bà), Theodora đã bôi nhọ tướng Belisarius dưới mắt Justinian. Tin rằng Belisarius đang âm mưu chống lại mình, Justinian triệu hồi ông ta về kinh thành – điều này khiến quân đội Byzantine, do mất chủ tướng, bị đánh bại. Justinian phải cử Belisarius trở lại để giải cứu; sau đó, bệnh hoang tưởng của ông ta trở lại, và toàn bộ chu kỳ ngu ngốc đó lại tái diễn (nhiều lần).

Tính chân xác trong truyện kể của Procopius đến mức nào vẫn chưa xác định được, nhưng lời giải thích thực sự về thất bại của việc tái chinh phục các vùng đất cũ có vẻ như cho dù có những điểm tương đồng giữa các vùng lõi phương Đông và phương Tây ở thế kỷ VI, nhưng những khác biệt mới quan trọng hơn. Về mặt chiến lược, vị trí của Justinian gần như trái ngược với vai trò của Văn Đế nhà Tùy khi ông thống nhất Trung Hoa. Ở Trung Hoa, tất cả các vương quốc man rợ ở phía bắc hình thành một thực thể duy nhất vào năm 577, và Văn Đế đã chiến thắng miền Nam giàu có nhưng yếu ớt. Trái lại, Justinian cố gắng chinh phục các vương quốc man rợ, chủ yếu là nghèo đói nhưng mạnh mẽ, từ Đế quốc Byzantine giàu có. Nên việc tái thống nhất vùng lõi chỉ trong một chiến dịch, như Văn Đế tiến hành vào năm 589, là điều bất khả.

Justinian còn phải lo đối phó với Ba Tư. Trong một thế kỷ, một loạt các cuộc chiến tranh với Hung Nô, những mâu thuẫn phát sinh từ thuế khóa và các biến động tôn giáo đã khiến Ba Tư giữ yên lặng về mặt quân sự, nhưng viễn cảnh trỗi dậy của Đế quốc La Mã từ tro tàn khiến họ phải hành động. Năm 540, quân đội Ba Tư bẻ gãy các phòng tuyến bảo vệ yếu ớt của Byzantium và cướp lấy Syria, khiến Justinian phải chiến đấu trên cả hai mặt trận (có lẽ điều này liên quan nhiều hơn đến việc triệu hồi Belisarius từ Italy về chứ không phải các tình tiết về Antonina).

Như thể điều này còn chưa đủ, người ta ghi nhận một căn bệnh khác xuất hiện ở Ai Cập năm 541. Người bệnh cảm thấy sốt, háng và nách sưng lên. Trong khoảng một ngày, những chỗ sưng tấy thâm đen rồi bệnh nhân bị hôn mê và rơi vào tình trạng mê sảng. Một, hai ngày sau bệnh nhân qua đời trong đau đớn quằn quại.

Đó là căn bệnh dịch hạch. Căn bệnh này lan đến Constantinople một năm sau đó, có khả năng đã làm chết hàng trăm nghìn người. Nguy cơ tử vong cao đến mức đức Giám mục John thành Ephesus phải tuyên bố rằng, “không ai được ra khỏi nhà nếu không có thẻ ghi tên mình đeo ở cổ.”❖

Người dân thành Constantinople cho rằng bệnh dịch hạch đến từ Ethiopia, và hầu hết các sử gia đều đồng ý. Có lẽ khuẩn hình que đã tiến hóa quanh vùng Ngũ Đại Hồ (Great Lakes) ở châu Phi từ rất lâu trước năm 541 và trở thành loài đặc hữu nằm trong số bọ chét sống ký sinh trên loài chuột đen ở vùng cao nguyên Ethiopia. Các thương nhân vùng Biển Đỏ hẳn là đã đưa nhiều chuột Ethiopia này sang Ai Cập trong nhiều năm, nhưng vì loài bọ chét mang mầm bệnh chỉ thực sự hoạt động khi nhiệt độ nằm trong khoảng 15-20°C, và chính khí hậu nóng bức ở Ai Cập đã tạo ra một rào cản dịch tễ – cho đến những năm cuối của thập niên 530.

Chuyện gì đã xảy ra vẫn là điều còn gây tranh cãi. Chu kỳ sinh trưởng của cây cho thấy có nhiều năm lạnh lẽo hiếm có, và các nhà quan sát thiên văn người Byzantine và Anglo-Saxon ghi nhận có một sao chổi lớn xuất hiện. Một số sử gia nghĩ rằng đuôi của nó tạo ra một bức màn bụi, làm giảm nhiệt độ và khiến bệnh dịch hạch bùng phát. Một số lại cho rằng tro núi lửa là thủ phạm làm nhiệt độ hạ thấp. Những người khác thì cho rằng màn bụi và núi lửa không liên quan gì đến việc này.

Tuy nhiên, với tất cả những gì xảy đến thì không phải sao chổi, chiến lược, hay thậm chí đạo đức suy đổi khiến cho phát triển xã hội phương Tây đi xuống ở thế kỷ VI. Sự tương phản cơ bản giữa Đông và Tây, nhân tố quyết định những cú sốc chiến tranh và bệnh tật tác động đến sự phát triển, chính là từ vị trí địa lý chứ không phải từ những mầm mống rạn vỡ. Nền kinh tế của đế chế thời Justinian vẫn phát triển hợp lý – những nông dân Ai Cập và Syria đạt năng suất cao hơn bao giờ hết, và các thương gia vẫn vận chuyển ngũ cốc và dầu ô-liu đến Constantinople – nhưng phương Tây không có vùng nào giống như vùng biên giới mới phồn thịnh, ruộng lúa phong phú ở phương Đông. Khi Tùy Văn Đế chinh phục miền Nam Trung Hoa, ông triển khai ít nhất 200.000 quân; nhưng vào cao điểm cuộc chiến tại Italy vào năm 551, Justinian chỉ có thể tung ra 20.000 quân. Những chiến thắng của Tùy Văn Đế đã giúp ông chiếm hữu sự thịnh vượng của miền Nam Trung Hoa, trong khi đó, Justinian chỉ giành được những vùng đất nghèo đói hơn và thường bị chiến tranh tàn phá. Ta thử hình dung rằng qua nhiều thế hệ, một Đế quốc La Mã thống nhất có thể biến Địa Trung Hải trở lại thành con đường giao thương, mở ra một biên giới kinh tế mới và tạo ra sự phát triển xã hội quanh nó; nhưng Justinian lại không có được điều xa xỉ này.

Chính vấn đề địa lý đã hủy hoại cuộc tái chinh phục đẩy phô trương của Justinian ngay trước khi nó bắt đầu, và những nỗ lực của ông có lẽ chỉ làm cho sự hủy hoại đó thêm phần tồi tệ. Những binh đội của ông đã biến Italy thành một vùng đất hoang tàn, những thương nhân cung cấp lương thực cho họ đã đem theo chuột, bọ chét, và cái chết đến khắp vùng Địa Trung Hải.⦾ Dịch bệnh giảm đi sau năm 546, nhưng khuẩn hình que đã bám rễ, và cho đến khoảng năm 750 không có năm nào mà không bùng phát ổ dịch ở một số nơi. Dân số giảm sút, có lẽ khoảng ⅓. Như những gì xảy ra khi Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới đã khai mào dịch bệnh cách đây 400 năm, tỉ lệ tử vong hàng loạt về cơ bản đã bó hẹp lợi ích của một số người; do ít công nhân hơn, tiền công phải tăng lên cho những người còn sống. Nhưng, dĩ nhiên điều đó chỉ làm người giàu có khó khăn hơn nhiều (gạt sang một bên việc trái với nguyên tắc Ki-tô giáo, vào năm 544, Đức Giám mục John thành Ephesus than phiền rằng những người chết khiến chi phí dịch vụ giặt ủi tăng lên thái quá), và Justinian đáp lại bằng cách giữ ổn định tiền công ở mức như thời kỳ trước khi có dịch bệnh. Điều này dường như không đạt kết quả. Đất đai bị bỏ hoang, các thành phố co hẹp, tiền thuế giảm sút và các cơ quan phải ngừng hoạt động. Rồi mọi người đều bị nghèo đói.

Chỉ trong hai thế hệ tiếp theo, Đế quốc Byzantine bị vỡ vụn từ bên trong. Nước Anh và phần lớn xứ Gaul rời bỏ vùng lõi phương Tây vào thế kỷ V; Italy bị chiến tranh xâu xé và tiếp đó là các phần đất của Tây Ban Nha vào thế kỷ VI; rồi sau đó là làn sóng triều sụp đổ dần cuốn đi từ tây bắc đến đông nam, đồng thời nhấn chìm luôn vùng đất trung tâm của Đế quốc Byzantine. Dân số Constantinople giảm đi khoảng ¾, nền nông nghiệp, thương mại và ngân khố đều đổ vỡ, sự kết thúc xem như đã cận kề. Vào năm 600, chỉ có một người còn mơ ước chỉnh lại vùng lõi phương Tây, đó là Vua Khusrau II của Ba Tư.

Sau cùng, Rome không phải là đế quốc phương Tây duy nhất có thể được tái dựng. Lùi về khoảng năm 500 TCN, khi Rome vẫn còn là một vùng đất thiếu sinh khí, thì Ba Tư đã thống nhất hầu hết vùng lõi của phương Tây. Bây giờ, với Byzantium như đem dâng trước miệng, thời kỳ của Ba Tư dường như đã trở lại. Năm 609, Khusrau vượt qua các pháo đài mục nát ở vùng biên giới và quân đội Byzantine nhanh chóng tan rã. Ông chiếm Jerusalem vào năm 614, cùng với nó là thánh tích thiêng liêng nhất của Ki-tô giáo: những mảnh gỗ của cây Thập Giá mà Chúa Jesus bị đóng đinh lên đó, Ngọn Giáo Thánh đâm vào hông ngài, và Miếng bọt biển Thiêng giúp ngài đỡ khát. Năm năm sau Khusrau lấy được Ai Cập, và năm 626, 99 năm sau khi Justinian lên ngôi, những đội quân của Khusrau đã có thể từ eo biển Bosporus nhìn thấy Constantinople. Trong khi đó, người Avar, các đồng minh du mục mà ông thu phục từ các thảo nguyên phía tây, tràn qua vùng Balkan và sẵn sàng tấn công từ bờ bên kia.

Nhưng những ước mơ của Khusrau rồi cũng tan tành, thậm chí còn nhanh hơn cả Justinian. Vào năm 628, ông qua đời và đế chế của ông cũng tan vỡ. Lờ đi các đội quân bao vây bên ngoài tường thành Constantinople, Hoàng đế Heraclius đã mượn đỡ vàng bạc của nhà thờ và đi thuyền đến vùng Caucasus, nơi ông dùng của cải chiếm được để thuê một đội kỵ binh du mục thuộc các dân tộc người Turk (Turkic)⦾ thảo nguyên. Ông lý giải rằng kỵ binh là nhân tố quan trọng; và do Đế quốc Byzantine không còn nhiều nên ông sẽ thuê một số. Việc ông thuê người Turk đã giúp đánh bại đội quân Ba Tư gửi đến ngăn chặn họ và tàn phá vùng Mesopotamia.

Đây cũng chính là tất cả những gì cần làm để tạo ra ngọn triều sụp đổ cuốn phăng đất nước Ba Tư. Giai cấp cầm quyền sụp đổ. Con của Khusrau giam ông lại và bỏ đói ông, rồi trả lại những vùng đất mà Khusrau đã chinh phục, cùng với những thành tích mà ông ta chiếm giữ, thậm chí còn thừa nhận Ki-tô giáo. Đất nước Ba Tư bị tan rã vì nội chiến, chỉ trong năm năm đã có đến tám vị vua, trong khi Heraclius được ca tụng là người vĩ đại nhất trong số những người vĩ đại. Một người cùng thời bày tỏ: “Niềm vui bất tận và hạnh phúc khôn tả khi nắm giữ toàn bộ thế giới;”❖ một người khác viết: “Tất cả chúng ta hãy cùng cất lên những lời ca ngợi thần thánh. Vinh quang cao nhất dâng lên Thiên Chúa, và an lành dưới thế cho người thiện tâm.”❖

Những biến đổi điên cuồng của vận mệnh trong thế kỷ tiếp sau năm 533 chính là sự giãy chết của các đế chế Tây phương cổ đại. Thiếu một vùng biên giới kinh tế mới mẻ như Trung Hoa, Khusrau không còn cơ hội biến đổi phát triển xã hội phương Tây như Justinian đã từng, và họ càng cố gắng chừng nào thì sự việc lại càng tồi tệ thêm chừng đó. Vị hoàng đế cuối cùng của người La Mã và vị vua cuối cùng của người Ba Tư đã làm trống rỗng vùng lõi phương Tây trong một thế kỷ của bạo lực, dịch hạch và suy thoái kinh tế. Chỉ một thập niên sau khi Heraclius cưỡi ngựa tiến vào Jerusalem năm 630 để thu hồi Cây Thập Giá đặt lại đúng chỗ của nó, tất cả những chiến thắng và bi kịch của họ đã không còn quan trọng gì nữa.

Lời nhà tiên tri

Cả Justinian lẫn Khusrau II đều đã theo bước những bài học cổ xưa trong vô thức. Những nỗ lực của họ nhằm kiểm soát vùng lõi lại gây bất ổn cho nó và một lần nữa lại thu hút những sắc dân vùng ngoại biên. Khusrau đã mời gọi người Avar đến Constantinople, còn Heraclius thì dẫn người Turk vào vùng Mesopotamia, và cả hai đế chế đều thuê các bộ lạc Ả Rập bảo vệ vùng biên giới sa mạc vì ít tốn kém hơn so với chi phí dành cho các binh đoàn của họ. Cùng một ý tưởng đó đã làm vùng biên giới của Đế quốc La Mã bị German hóa và của Đế chế Trung Hoa bị Hung Nô hóa, bây giờ đến lượt biên giới chung của Đế quốc Byzantine và Ba Tư bị Ả Rập hóa, và qua thế kỷ VI, cả hai đế quốc này ngày càng gắn kết hơn với bán đảo Ả Rập. Mỗi đế chế đều tạo ra những vương quốc Ả Rập ủng hộ họ, Ba Tư nhập phần đất phía nam bán đảo Ả Rập vào đế quốc của họ, còn các đồng minh người Ethiopia của Đế quốc Byzantine lại xâm chiếm Yemen để cân bằng việc này. Bán đảo Ả Rập được thu hút vào vùng lõi, và người Ả Rập hình thành các vương quốc riêng của mình trong sa mạc, xây dựng các thành phố ốc đảo dọc theo các tuyến đường giao thương, đồng thời đổi sang Ki-tô giáo.

Những cuộc chiến tranh lớn giữa Ba Tư và Byzantine đã làm vùng ngoại biên Ả Rập rung chuyển, và khi các đế quốc tan rã, những người Ả Rập mạnh mẽ đã tranh đấu để vượt qua những đổ nát hoang tàn. Ở phía tây bán đảo Ả Rập, hai thành phố Mecca và Medina (Hình 7.6) đã chiến đấu trong suốt thập niên 620 trên các tuyến đường giao thương, các nhóm chiến sĩ của họ trải khắp sa mạc để tìm đồng minh và phục kích những đoàn lữ hành của nhau. Những biên giới đế chế cũ không còn ý nghĩa gì trong trò chơi này, và vào thời kỳ viên chỉ huy thành Medina chiếm Mecca vào năm 630, những lính bố ráp của ông đã chiến đấu ở Palestine. Ở đó, người Ả Rập trung thành với Medina đụng độ với người Ả Rập trung thành với Mecca, trong khi những người Ả Rập khác, do Constantinople trả công, lại đánh nhau với cả hai nhóm.

Phần lớn điều này có vẻ tương tự như một bộ tộc người Aramaean hoạt động ở cùng những vùng rìa sa mạc này khi các đế chế Ai Cập và Babylon sụp đổ sau năm 1200: đó đơn giản là những gì xảy ra ở vùng biên giới khi các quốc gia sụp đổ. Nhưng có một điều khác biệt trông không giống như với tộc người Aramaean. Đó là vị chỉ huy của thành Medina, một nhân vật có tên Muhammad ibn Abdullah.

Khoảng năm 610, khi Ba Tư bắt đầu cuộc chiến tranh khốc liệt với Đế quốc Byzantine, thì vị Muhammad này đã có một khải tượng.

Hình 7.6. Jihad: Người Ả Rập hầu như thống nhất vùng lõi phương Tây, năm 632-732. Các mũi tên thể hiện những tuyến đường xâm lược của người Ả Rập.

Tổng lãnh thiên thần Gabriel xuất hiện và ra lệnh: “Hãy đọc lên!” Muhammad, lúc đó bối rối, khăng khăng rằng ông ta không phải là người đọc, nhưng Gabriel ra lệnh cho ông hai lần nữa. Sau đó, những lời của Muhammad tự động tuôn trào:

Hãy đọc! Nhân danh Chúa của ngươi, Đấng sáng tạo – đã tạo ra con người từ máu.

Hãy đọc! Chúa của ngươi là Đấng Toàn vẹn nhất, người bằng tác phẩm của mình dạy con người những điều mà chúng không biết.

Muhammad nghĩ rằng sự điên rồ hay quỷ dữ nhập vào ông ta, nhưng vợ ông lại thuyết phục ngược lại. Trong 22 năm tiếp theo, Gabriel trở lại nhiều lần, khiến Muhammad run sợ đến toát mồ hôi và hôn mê, đồng thời đặt những lời Thiên Chúa phán bảo lên đôi môi miễn cưỡng của nhà tiên tri. Và những lời đó là gì? Sách vở nói rằng: những lời nói tuyệt mỹ đã biến đổi mọi người ngay khi nghe được. Umar, một trong những nhân vật cải đạo quan trọng nhất, nói: “Con tim tôi mềm đi và tôi khóc. Islam giáo đã chính thức đi vào trong tôi.”❖

Islam giáo – tuân phục ý muốn của Thiên Chúa – theo nhiều cách là một tôn giáo Trục cổ điển thuộc làn sóng thứ hai. Giáo chủ của nó xuất thân bên lề tầng lớp tinh hoa (ông là nhân vật thứ yếu trong một bộ tộc thương nhân mới nổi) và cũng thuộc vùng rìa của đế chế; ông không viết ra gì cả (Kinh Koran, hay Xướng Đọc, chỉ được tập hợp sau khi ông qua đời); ông tin rằng Thiên Chúa là bất khả tri; và lập đạo dựa trên tư tưởng Trục trước đó. Ông rao giảng công lý và công bằng trước Thiên Chúa, và lòng xót thương đối với người yếu đuối. Về tất cả những điều này ông giống với các nhà tư tưởng theo tư duy Trục trước đó. Nhưng theo một cách khác, ông là một tạo vật hoàn toàn mới mẻ: một chiến binh của tư duy Trục.

Không như Phật giáo, Khổng giáo, hay Ki-tô giáo, Islam giáo khai sinh trên bờ vực sụp đổ của các đế chế và phát triển giữa thời kỳ chiến tranh liên tục xảy ra. Islam giáo vốn không phải là một tôn giáo của bạo lực (trong Kinh Koran ít xảy ra cảnh máu đổ như Kinh Thánh Hebrew), nhưng người Islam giáo không thể đứng ngoài cuộc chiến. Muhammad đã phán: “Hãy chiến đấu vì Thiên Chúa đối với những ai chống lại bạn, nhưng đừng tấn công họ trước. Thiên Chúa không yêu thương những kẻ xâm lăng.”❖ – hay nói như Malcolm X, một người Mỹ theo Islam giáo, ở thế kỷ XX: “Hãy thư thái, nhã nhặn, tuân thủ luật pháp, tôn trọng mọi người, nhưng nếu người nào đó chạm đến bạn, hãy gửi hắn ta ra nghĩa trang.”❖ Không có việc ép buộc trong truyền bá tôn giáo, nhưng người Islam giáo (những người quy phục Thiên Chúa) có nghĩa vụ bảo vệ đức tin của họ bất cứ khi nào bị đe dọa – điều mà, do họ đang tấn công và cướp bóc các đế chế đang sụp đổ cùng lúc với việc truyền bá lời dạy này, có vẻ xảy ra thường xuyên.

Vì thế, những di dân Ả Rập đã tìm ra lợi thế trong sự lạc hậu: việc kết hợp cứu rỗi linh hồn và chủ thuyết quân phiệt đã tạo cho họ một tổ chức và mục đích trong một thế giới mà cả hai điều này đều khan hiếm.

Cũng giống như những tộc người ở vùng ngoại biên đang tìm kiếm một chỗ đặt chân ở vùng lõi, người Ả Rập tuyên bố đã sinh ra từ vùng đất đó, là hậu duệ của Ishmael, con của Abraham. Người Islam giáo cho rằng Abraham và Ishmael đã tự tay xây dựng Ka’ba, đền thờ thiêng liêng nhất ở Mecca; và Islam giáo thực chất là tôn giáo nguyên thủy của Abraham, và Do Thái giáo chỉ tách ra từ đó. Kinh Koran xem Do Thái giáo như người anh em họ của Islam giáo; kinh này viết: “Có kẻ điên khùng nào lại từ bỏ đức tin của Abraham không?” Tất cả các đấng tiên tri, từ Abraham đến Chúa Jesus, đều có giá trị (mặc dù Chúa Jesus không phải là Messiah được xức dầu thánh), và Muhammad đơn giản chỉ là đấng tiên tri cuối cùng đặt dấu ấn cho sứ điệp của Chúa và thực hiện những hứa hẹn của Do Thái giáo và Ki-tô giáo. “Thiên Chúa của chúng ta và Thiên Chúa của quý vị chỉ là một,”❖ Muhammad nhấn mạnh. Trong sách vở không có xung đột thiết yếu nào giữa các tôn giáo: trên thực tế, phương Tây rất cần đến Islam giáo.

Muhammad gửi thư cho Khusrau II và Heraclius để giải thích tất cả điều này, nhưng không nhận được phản hồi. Điều này cũng không thành vấn đề; người Ả Rập vẫn tiếp tục di chuyển đến Palestine và vùng Mesopotamia. Họ đi thành từng nhóm vũ trang chứ không phải các đội quân thực sự, họ hiếm khi có hơn 5.000 người và có lẽ chưa bao giờ có quá 15.000 chiến binh, họ chỉ đánh nhanh rút gọn chứ không chiến đấu trực diện; nhưng lực lượng chống lại họ cũng không còn hùng hậu. Các đế chế ở thập niên 630 đã bị sụp đổ, chia rẽ, và không còn khả năng đối đầu với mối đe dọa mới này.

Trên thực tế, hầu hết mọi tộc người ở vùng Tây Nam Á dường như không quan tâm nhiều đến việc liệu các thủ lĩnh Ả Rập có thay thế các quan lại Byzantine và Ba Tư hay không. Trong nhiều thế kỷ, cả hai đế chế này đã ngược đãi nhiều thần dân Ki-tô giáo của họ dựa trên những học thuyết mơ hồ. Chẳng hạn như ở Đế quốc Byzantine, từ năm 451, quan điểm chính thức cho rằng Chúa Jesus có hai bản chất, con người và thần thánh, hợp nhất trong một thân thể. Nhưng một số lý thuyết gia Ai Cập lại phản bác rằng Chúa Jesus thực sự chỉ có một bản chất thần thánh, và vào những năm 630, rất nhiều người đã chết vì vấn nạn này đến nỗi nhiều người Ki-tô giáo theo thuyết Một-Bản-Chất⦾ ở Syria và Ai Cập đã tích cực tiếp nhận người Islam giáo. Việc có các bậc thầy ngoại giáo xem câu hỏi đó là vô nghĩa còn tốt hơn có những người trung thành với tôn giáo, những người tạo ra sự khủng bố do mộ đạo.

Chỉ có 4.000 người Islam giáo xâm chiếm Ai Cập vào năm 639, nhưng thành phố Alexandria dù chưa chiến đấu vẫn chịu đầu hàng. Đế quốc Ba Tư hùng mạnh, vẫn còn quay cuồng trong suốt một thập niên nội chiến, sụp đổ như một căn nhà không móng, và người dân Byzantine phải rút về vùng Tiểu Á, mất đi đến ¾ số thuế của đế chế. Trong 50 năm tiếp theo, các cơ cấu tổ chức bậc cao của Đế quốc Byzantine bị bốc hơi. Đế quốc chỉ tồn tại bằng cách nhanh chóng tìm ra các giải pháp cấp thấp, chỉ dựa vào những nhân vật có thanh vọng để gầy dựng quân đội và binh sĩ tự túc lương thực thay vì được nhận lương. Khoảng năm 700, chỉ có 50.000 người dân sống ở Constantinople, cày bừa trồng trọt ở các vùng lân cận, sống không có hàng nhập khẩu, và chỉ đổi chác thay vì sử dụng đồng tiền.

Trong vòng một thế kỷ, người Ả Rập nuốt chửng những phần đất giàu có nhất của vùng lõi phương Tây. Năm 674, các binh đội của họ đóng quân dưới bức tường thành Constantinople. Bốn mươi năm sau, họ đứng trên bờ sông Indus ở Pakistan và tiến vào Tây Ban Nha, rồi năm 732, một nhóm chiến binh đã tiếp cận Poitiers ở miền Trung nước Pháp. Nhưng rồi những chuyển dịch từ vùng sa mạc vào vùng trung tâm của các đế chế dần chậm lại. Một thiên niên kỷ sau đó Gibbon suy ngẫm:

Một dòng người diễu hành chiến thắng kéo dài trên 1.000km từ mỏm đá ở Gibraltar đến bờ sông Loire; việc lặp lại một khoảng cách tương đương sẽ đưa người Saracen (người Islam giáo từ Bắc Phi) đến tận ranh giới Ba Lan và vùng Cao nguyên Scotland: sông Rhine hẳn không còn là con sông khó vượt qua hơn sông Nile hay Euphrates, và hạm đội tàu chiến Ả Rập có thể đến tận cửa sông Thames mà không vấp phải sự kháng cự nào. Có lẽ việc diễn giải Kinh Koran giờ đây sẽ được dạy ở các ngôi trường tại Đại học Oxford, và các nhà thuyết giáo của họ có thể đang giải thích cho một đám người đã cắt bao quy đầu về tính thần thánh và chân lý trong lời răn của Mahomet.

Gibbon còn nói thêm, không chút hàm ý mỉa mai: “Chính từ những tai ương như thế mà người dân theo Ki-tô giáo mới được giải phóng.” Những đầu óc thông thái bảo thủ ở Anh vào thế kỷ XVIII, giống như những học giả ở Constantinople thế kỷ XVII, xem Ki-tô giáo là chuẩn mực để xác định phương Tây và Islam giáo là phản đề của nó. Những nhà cai trị các vùng lõi có thể luôn hình dung những người đến từ các vùng rìa là những người man rợ, nhưng Gibbon hiểu rõ rằng người Ả Rập thực sự là một phần của sự chuyển đổi Trục rộng lớn hơn thuộc làn sóng thứ hai của vùng lõi phương Tây, khởi đầu với thắng lợi của Ki-tô giáo. Thực ra, chúng ta có thể là một Gibbon khác khi đặt người Ả Rập vào một truyền thống vẫn còn kéo dài khởi từ người Amorites ở vùng Mesopotamia vào năm 2200 TCN, và quan sát họ cũng như họ nhìn thấy chính mình: như những người đã được thu hút vào vùng lõi do các xung đột của nó, và những người giờ đây khẳng định trong đầu vị trí chính đáng của mình. Họ đến không phải để chôn vùi phương Tây, mà để hoàn thiện nó không phải để ngăn trở những tham vọng của Justinian và Khusrau, mà để hoàn tất chúng.

Nhiều học giả uyên thâm về chính trị ở thế kỷ của chúng ta, cũng như các nhà phê bình ở thế kỷ XVIII của Gibbon, thấy tiện lợi khi hình dung nền văn minh Islam giáo nằm bên ngoài và đối kháng với nền văn minh phương Tây (ý của họ ở đây là vùng tây bắc châu Âu và các thuộc địa ở hải ngoại). Nhưng điều này đã lờ đi những thực tế lịch sử. Khoảng năm 700, thế giới Islam giáo ít nhiều cũng từng là vùng lõi của phương Tây, và các quốc gia Ki-tô giáo chỉ là một vùng đất ngoại vi dọc theo rìa phía bắc của nó. Về đại thể, người Ả Rập đã đem lại một quốc gia rộng lớn cho vùng lõi phương Tây như Đế quốc La Mã đã từng làm.

Các cuộc chinh phục của người Ả Rập kéo dài hơn Tùy Văn Đế ở phương Đông, nhưng vì quân đội Ả Rập quá ít ỏi và cũng ít gặp phải đối kháng, nên họ hiếm khi tàn phá những vùng đất bị chinh phục, và vào thế kỷ VIII, chỉ số phát triển xã hội của phương Tây cũng ngừng rơi xuống. Có lẽ lúc đó vùng lõi phương Tây hồi phục nhanh chóng như những gì vùng lõi phương Đông đạt được vào thế kỷ VI, và khoảng cách giữa Đông và Tây lại được thu hẹp.

Các trung tâm không bền vững

Nhưng điều đó đã không xảy ra, như minh họa rõ ở Hình 7.1. Mặc dù cả hai vùng lõi đã được thống nhất ở quy mô lớn khoảng năm 700 và thủ đắc hay gánh chịu những số phận chính trị tương đồng giữa thế kỷ VIII và thế kỷ X, nhưng phát triển xã hội phương Đông vẫn tiếp tục tăng nhanh hơn phương Tây.

Cả hai vùng lõi thống nhất đều cho thấy sự yếu ớt về mặt chính trị. Các nhà cai trị ở đó phải học lại bài học xảy ra cho triều đại nhà Hán và người La Mã, rằng các đế chế đều bị chi phối bởi những chắp vá và thỏa hiệp, nhưng về mặt này thì triều đại nhà Tùy lẫn người Ả Rập cũng không hơn gì. Cũng như thời nhà Hán, nhà Tùy phải bận tâm về những người du mục (bây giờ là người Turk⦾ chứ không phải rợ Hung Nô), nhưng do sự phát triển của vùng lõi phương Đông họ cũng phải bận tâm đến những mối đe dọa từ các quốc gia mới thành lập. Khi vương quốc Cao Câu Ly (Koguryo) mở những cuộc đàm phán bí mật với người Turk để hợp tác cùng cướp bóc Trung Hoa, hoàng đế nhà Tùy quyết định phải hành động. Năm 612, ông gửi một đội quân lớn tiến đánh Cao Câu Ly, nhưng do thời tiết xấu, công việc hậu cần còn tồi tệ hơn, và cấp chỉ huy tàn bạo đã làm đoàn quân này tan rã. Năm 613, ông cử đi một đội quân khác và thêm một lần nữa vào năm 614. Và khi ông đang chuẩn bị đội quân thứ tư thì những cuộc nổi loạn chống lại những yêu cầu của ông đã làm tan vỡ đế quốc.

Một thời gian dài, những kỵ sĩ Khải huyền như được sổ lồng. Các vương hầu phân chia đất nước Trung Hoa, những thủ lĩnh người Turk đánh lẫn nhau và cướp bóc theo ý muốn, nạn đói và bệnh tật lây lan. Một bệnh dịch tràn qua các thảo nguyên và một bệnh dịch khác, trông cũng nghiêm trọng như bệnh dịch hạch, đến bằng đường biển. Nhưng khi sự ngu muội đã chín muồi cho khởi đầu cuộc khủng hoảng, thì việc xuất hiện một lãnh đạo tốt là đủ để kết thúc nó. Một nhà quân phiệt Trung Hoa, vị vương gia nhà Đường, thương thảo với các thủ lĩnh người Turk nhằm ủng hộ ông ta chống lại các quân phiệt khác, và khi người Turk nhận ra sai lầm của mình, thì ông đã lên ngôi hoàng đế mở ra triều đại nhà Đường. Năm 630, con trai ông đã khai thác một cuộc nội chiến của người Turk để mở rộng sự cai trị của Trung Hoa xa hơn đến các vùng thảo nguyên trước đây chưa từng có (Hình 7.2b). Việc kiểm soát đất nước được khôi phục; dịch chuyển dân số, nạn đói và dịch bệnh giảm dần; và việc gia tăng phát triển xã hội đã giúp hình thành thế giới của Võ Hậu.

Thậm chí còn hơn thời kỳ nhà Hán, triều đại này dùng chính sách cứng rắn để bảo vệ trung tâm quyền lực, nhưng con người vẫn luôn là con người, những chính sách như thế không phải lúc nào cũng dùng được. Chính một con người với đầy đủ những cảm xúc, tình yêu, đã phá hủy đế chế nhà Đường. Theo thi hào vĩ đại Bạch Cư Dị, Hoàng đế Đường Huyền Tông – người “ái dục làm rung chuyển đế chế” – đã mê say Dương Quý Phi⦾, vợ của con trai mình, năm 740 cho đưa bà vào cung. Câu chuyện nghe có vẻ mơ hồ giống như chuyện tình giữa Chu U Vương với nàng Bao Tự, được cho là đã làm sụp đổ triều đại Tây Chu 1.500 năm trước đó, nhưng nếu đúng như vậy, thì theo truyền thống Đường Huyền Tông sẵn sàng làm bất cứ điều gì để làm vui lòng Dương Quý Phi. Một trong những ý tưởng sáng giá của ông là ban tặng những gì bà yêu thích, bao gồm một tướng lĩnh người Turk tên An Lộc Sơn, người đã chiến đấu cho nhà Đường. Bỏ qua những biện pháp bảo vệ thông thường đối với sức mạnh quân đội, Đường Huyền Tông cho phép An Lộc Sơn chỉ huy một đội quân hùng hậu.

Do những phức tạp của mưu đồ đan xen trong cung cấm, điều không thể tránh khỏi là An Lộc Sơn sớm muộn gì sẽ không còn được ưu ái; và khi điều này xảy đến, năm 755, An Lộc Sơn phát động đạo quân hùng hậu của mình tấn công kinh thành Trường An. Huyền Tông và Dương Quý Phi phải bỏ chạy, nhưng những binh sĩ hộ tống đổ lỗi cho Dương Quý Phi gây ra nội chiến, đòi bà ta phải chịu tội chết. Lòng thổn thức, tuyệt vọng vì không giữ được mạng sống cho người mình yêu khỏi đám binh lính, Huyền Tông buộc phải ra lệnh cho viên thái giám tổng quản thắt cổ bà. Bạch Cư Dị viết trong Trường Hận Ca như sau:

Hoa điền ủy địa vô nhân thu

Thúy kiều kim tước ngọc tao đầu

Quân vương yểm diện cứu bất đắc

Hồi khan huyết lệ tương hòa lưu

Hoàng ai tản mạn phong tiêu tác

Dịch thơ:

Ai người nhặt hoa rơi bỏ đất

Ôi! Thúy Kiều ngọc nát vàng phai

Quân vương bưng mặt cho rồi

Quay đầu trông lại máu trôi lệ dàn

Gió tung bụi mê man tản mác.

Bản dịch của Tản Đà

Theo truyền thuyết, Đường Huyền Tông thuê một thuật sĩ theo dấu linh hồn Dương Quý Phi đến tận một hòn đảo ngoài bồng lai. Bài thơ của Bạch Cư Dị diễn tả lời của Dương Quý Phi khi gặp lại Đường Huyền Tông:

Đãn giao tâm tự kim điến kiên

Thiên thượng nhân gian hội tương kiến.

Dịch thơ:

Thời cho cách trở đôi nơi

Nhân gian rồi mới trên trời gặp nhau.

Bản dịch của Tản Đà

Tuy nhiên trong khi đó, con trai của Huyền Tông đã đè bẹp cuộc nổi loạn, nhưng theo cách mà ông đã làm – ban quyền lực rộng lớn cho các đô đốc quân sự khác như An Lộc Sơn và mời gọi người Turk từ vùng thảo nguyên – vẫn là một công thức cho những thảm họa tiếp theo. Các biên giới sụp đổ, thu nhập thuế bị thu hẹp, và trong nhiều thế hệ, đế chế lại tiếp tục sai lầm giữa những lần khôi phục trật tự, những cuộc nổi dậy, xâm lăng, và bạo loạn mới. Cuối cùng, vào năm 907, một nhà quân phiệt đã chấm dứt hoàn cảnh khốn khổ của nhà Đường bằng cách giết vị hoàng đế nhỏ tuổi, và trong 50 năm tiếp theo, một vương quốc rộng lớn chiếm ưu thế ở miền Bắc Trung Hoa, trong khi có 8 đến 10 tiểu quốc cai trị ở miền Nam.

Trường hợp của Đường Huyền Tông đã phơi bày vấn nạn chính trị cơ bản của Trung Hoa: những hoàng đế hùng mạnh có quá nhiều quyền lực và có thể không đếm xỉa gì đến các thiết chế khác. Với các hoàng đế tài năng thì điều này là tốt, nhưng việc phân bổ ngẫu nhiên tài năng cùng một loạt các thách thức phát sinh cũng có nghĩa là sớm hay muộn không thể tránh khỏi thảm họa.

Ở một mặt nào đó, vùng lõi phương Tây lại gặp vấn đề ngược lại: sự lãnh đạo là quá yếu. Đế quốc Ả Rập rộng lớn không có vị hoàng đế nào. Muhammad chỉ là một đấng tiên tri chứ không phải một vị vua, và mọi người theo ông vì họ tin rằng chỉ ông mới biết Chúa muốn gì. Khi ông qua đời vào năm 632, họ không có lý do gì để đi theo bất kỳ ai, và liên minh Ả Rập của Muhammad tiến dần đến sự tan rã. Để ngăn chặn điều này, một số người bạn của ông đã ngồi họp suốt đêm để bầu chọn một trong số họ làm khalifa (tiếng Anh là caliph), một từ lưỡng nghĩa, vừa có nghĩa là người thay mặt (Thiên Chúa) vừa là người nối nghiệp (Muhammad). Tuy nhiên, vị caliph chỉ khẳng định sự gần gũi của ông với đấng tiên tri quá cố.

Xét về tính bướng bỉnh của các thủ lĩnh Ả Rập (một số thì chỉ muốn cướp phá hai Đế quốc Ba Tư và Byzantine, số khác lại muốn phân chia hai đế quốc này và định cư tại đó như những chủ đất, nhưng những người khác vẫn muốn xức dầu thánh cho các tiên tri mới), thì những caliph đầu tiên đã xử lý khá tốt. Họ thuyết phục hầu hết những người Ả Rập càng ít gây phiền nhiễu cho hai đế quốc này càng tốt, vẫn để các nông dân làm ruộng, chủ đất sở hữu điền trang, và giới thư lại làm việc giấy tờ sổ sách. Thay đổi chủ yếu là chuyển các loại thuế của đế chế qua họ, việc này giúp họ trả lương cho những người Ả Rập trở thành chiến binh chuyên nghiệp của Chúa, đồng thời sinh sống tại các thành phố có binh lính Ả Rập trú đóng ở các điểm chiến lược trong những vùng đất bị chinh phục.

Dù sao thì những caliph không thể phân định được sự nhập nhằng về chức vị của mình. Phải chăng họ là vua, tập trung mọi thu nhập và ban bố mệnh lệnh, hay chỉ là nhà lãnh đạo tôn giáo, chỉ làm nhiệm vụ cố vấn cho những thủ lĩnh (sheikh) độc lập ở các vùng mới được chinh phục? Phải chăng họ đại diện cho tầng lớp tinh hoa bộ tộc trước thời kỳ Islam giáo xuất hiện? Hay đại diện cho một trong những tín đồ Islam giáo đầu tiên của Muhammad được bầu chọn? Hay đứng đầu một cộng đồng bình đẳng các tín hữu? Không caliph nào có thể làm hài lòng tất cả người Islam giáo, và vào năm 656, khi vị caliph thứ ba bị mưu sát, những khó khăn nảy sinh đã đạt đến mức khủng hoảng. Chỉ còn rất ít người bạn thuở ban đầu của Muhammad còn sống, và cuộc bầu cử được chuyển giao cho ‘Ali, em họ (đồng thời là con rể) của Muhammad.

‘Ali muốn phục hồi những gì ông xem là tinh thần Islam giáo nguyên thủy, nhưng chiến lược của ông về việc bảo vệ người nghèo, giao nguồn thu thuế vào tay các chiến binh đồng thời chia sẻ bình đẳng của cải cướp bóc được cho các nhóm đặc quyền trước đây gây phật lòng nhiều người. Cuộc nội chiến vẫn âm ỉ, nhưng người Islam giáo (ở thời kỳ này) vẫn chưa muốn sát hại nhau. Năm 661, họ may mắn rút khỏi bờ vực nội chiến: thay vì đẩy toàn bộ thế giới Ả Rập vào chiến tranh, những kẻ ủng hộ ‘Ali vỡ mộng nên đã sát hại ông. Chức vị caliph bấy giờ chuyển sang thủ lĩnh của nhóm người cầm đầu các chiến binh Ả Rập hùng mạnh nhất, người này sau đó xây dựng một thủ đô ở Damascus và nỗ lực gầy dựng một đế chế trung ương tập quyền truyền thống nắm giữ toàn bộ thuế má và giới quan lại, nhưng không thực sự thành công.

Ở Trung Hoa, tình yêu của Đường Huyền Tông đã gây nên thảm họa chính trị; ở phương Tây thì chính tình anh em – hay đúng hơn là thiếu thứ tình cảm này – đã báo hiệu một thảm họa. Một vương triều mới của các caliph dời kinh đô đến Baghdad năm 750 và theo đuổi chính sách trung ương tập quyền hiệu quả hơn, nhưng đến năm 809, một cuộc tranh cãi quyền kế vị giữa các anh em đã khiến Caliph al-Ma’mun yếu hẳn ngay cả theo các chuẩn mực Ả Rập. Ông mạnh dạn quyết định đi đến cốt lõi của vấn đề: Thiên Chúa. Không giống các tín đồ Ki-tô giáo hay Phật giáo, người Islam giáo không có hệ thống giáo hội có tổ chức, và trong khi các caliph còn có quyền lực thế tục, họ không khẳng định biết được những gì Thiên Chúa muốn hơn những người khác. Nhưng al-Ma’mun quyết định thay đổi điều này bằng cách khơi lại một vết thương cũ trong cộng đồng Islam giáo.

Trở lại năm 680, chưa đầy 20 năm sau khi ‘Ali, người anh em họ đồng thời là con rể của Muhammad bị ám sát, Husayn, con trai của ‘Ali liền dựng cờ khởi nghĩa chống lại các caliph. Khi Husayn bị đánh bại rồi bị giết chết, rất ít người Islam giáo phản kháng, nhưng khoảng 100 năm sau, một phe phái (shi’a) tự thuyết phục rằng vì những caliph hiện tại có được chức vị này là nhờ ‘Ali bị sát hại, nên họ là những người không chính đáng. Phe phái này – người Shiite – lập luận rằng máu của Husayn, ‘Ali, và Muhammad thực sự đã cung cấp kiến thức đặc quyền của Thiên Chúa, và do đó chỉ những giáo sĩ (imam), hậu duệ của dòng này, mới có thể dẫn dắt Islam giáo. Hầu hết người Islam giáo (gọi là người Sunni vì họ giữ theo tục lệ, sunna) thấy chuyện này lố bịch, nhưng người Shiite vẫn tiếp tục dựng lên lý thuyết thần học cho riêng họ. Vào thế kỷ IX, một số người Shiite còn tin rằng dòng giống của các thầy tu đang đưa đến một đấng Tiên tri (Mahdi), một cứu tinh (Messiah), người sẽ thiết lập vương quốc của Chúa Trời trên trần gian.

Ý tưởng sáng giá của al-Ma’mun là nhận vị giáo sĩ hiện thời (cháu đời thứ tư của Husayn) làm người thừa kế ông ta, do đó biến những người Shiite thành phe phái riêng của ông ta. Đó là một mánh lới thông minh nếu lôi kéo được mọi người, nhưng kế hoạch thất bại khi vị giáo sĩ qua đời trong năm đó, và con trai ông ta tỏ ra không hứng thú với những thủ đoạn của al-Ma’mun. Không nản lòng, al-Ma’mun tiết lộ kế hoạch B. Một số lý thuyết gia tôn giáo mà ông sử dụng ở Baghdad, vốn chịu ảnh hưởng của triết học Hy Lạp, sẵn sàng nói rằng Kinh Koran được một con người viết ra, chứ không phải (như suy nghĩ của hầu hết người Islam giáo) là một phần của bản chất Thiên Chúa. Như vậy, Kinh Koran – và tất cả các giáo sĩ diễn giải nó – đều thuộc thẩm quyền của caliph, người đại diện Thiên Chúa ở trần thế. al-Ma’mun cho lập một tòa án dị giáo ở Iraq⦾ để ép buộc các học giả khác phải đồng ý, nhưng một số giáo sĩ cứng rắn phớt lờ các đe dọa của ông và kiên định rằng Kinh Koran, những lời của Thiên Chúa, bao trùm tất cả mọi thứ, gồm cả al-Ma’mun. Cuộc tranh cãi kéo dài cho đến năm 848, khi các caliph chấp nhận thất bại.

Thuyết hoài nghi trong kế hoạch A và B của al-Ma’mun đã làm suy yếu quyền lực các caliph, nhưng chính kế hoạch C của ông mới phá vỡ nó. Do không nắm được quyền lực tôn giáo, al-Ma’mun quyết định không còn tế nhị nữa mà chỉ mua quân đội, theo nghĩa đen, bằng cách tậu các kỵ binh người Turk như một đội quân nô lệ. Tuy nhiên, cũng như những nhà cai trị trước đó, al-Ma’mun và những người thừa kế ông học được một điều là những người du mục về cơ bản không thể kiểm soát được. Đến năm 860, các caliph hầu như là con tin của đội quân nô lệ đó. Do không nắm quyền lực về mặt quân sự hay trợ giúp tôn giáo họ không còn khả năng tạo ra các khoản thuế và cuối cùng phải bán rẻ các tỉnh thành cho những tiểu vương (emir): thống đốc quân đội trả trọn gói, sau đó giữ bất kỳ khoản thuế nào họ thu được. Năm 945, một tiểu vương chiếm lấy Baghdad và lãnh thổ của caliph bị phân chia thành hàng chục tiểu vương quốc Ả Rập.⦾

Đến thời điểm đó, các vùng lõi phương Đông và phương Tây đã vỡ vụn thành hơn 10 vương quốc, mặc dù có những điểm tương đồng giữa những đổ vỡ ở hai vùng lõi, phát triển xã hội của phương Đông vẫn tiếp tục tăng nhanh hơn phương Tây. Lời giải thích đưa ra một lần nữa cho thấy rằng có vẻ như không phải những hoàng đế và giới trí thức uyên thâm tạo ra lịch sử mà chính là do hàng triệu người lười biếng, tham lam và sợ hãi tìm kiếm các phương cách làm việc dễ dàng hơn, sinh lợi hơn và an toàn hơn. Bất kể tình trạng rối ren mà các nhà cai trị gây ra cho họ, những người dân thường vẫn tiếp tục sống và làm những điều tốt nhất có thể, và do những thực tiễn địa lý mà con người phương Đông và con người phương Tây vẫn tồn tại mạnh mẽ theo những cách khác nhau, những khủng hoảng chính trị ở mỗi vùng lõi lại dẫn đến những hệ quả rất khác nhau.

Ở phương Đông, việc di cư trong nội bộ đã tạo ra một biên giới mới vượt khỏi sông Dương Tử từ thế kỷ V chính là động lực thực sự đằng sau phát triển xã hội. Sự phục hồi một đế chế thống nhất ở thế kỷ VI đã làm tăng tốc độ phát triển, và vào thế kỷ VIII, xu hướng đi lên đã trở nên mạnh mẽ đến mức nó vẫn duy trì bất chấp hậu quả xảy ra từ cuộc đời tình ái của Đường Huyền Tông. Những biến cố chính trị chắc chắn phải gây ra những hậu quả tiêu cực, chẳng hạn như một sự sụt giảm điểm số phát triển xã hội ở phương Đông vào năm 900 (Hình 7.1), phần lớn là kết quả từ việc các đội quân đối nghịch tàn phá kinh đô Trường An với một triệu cư dân. Nhưng hầu hết các trận đánh diễn ra vẫn còn xa những cánh đồng lúa, kênh đào và thành phố quan trọng, đồng thời điều này có thể đã giúp thúc đẩy phát triển nhanh chóng qua việc dọn sạch những tay quản lý vi mô của chính phủ, những kẻ trước đây đã gây cản trở cho nền giao thương. Do không thể giám sát các vùng đất thuộc nhà nước trong thời buổi nhiễu nhương, nên giới quan lại phải kiếm tiền từ sự độc quyền và các sắc thuế đánh vào giao thương và không chỉ dẫn cho giới thương nhân phải kinh doanh như thế nào. Có một sự chuyển giao quyền lực từ các trung tâm chính trị ở miền Bắc Trung Hoa sang các thương nhân miền Nam, và các thương nhân này, với những phương cách riêng của mình, vẫn tìm ra nhiều cách để tăng tốc nền giao thương.

Phần lớn nền giao thương với nước ngoài ở miền Bắc Trung Hoa đều được nhà nước định hướng, nhưng do những sự cố giữa triều đình và các nhà cai trị ở Nhật Bản và Triều Tiên, cùng với sự sụp đổ quyền lực chính trị của Đế chế nhà Đường sau năm 755, các mối dây liên kết này đã bị tan rã. Điều này có một số kết quả tích cực; nhờ đoạn tuyệt được các mô hình Trung Hoa, nền văn hóa tinh hoa của Nhật Bản chuyển sang những hướng đi khác biệt và độc đáo, với hàng loạt những tác gia nữ sáng tác các tuyệt phẩm văn học như Truyện kể GenjiSách Gối, tuy nhiên, hầu hết là kết quả tiêu cực. Nền kinh tế ở miền Bắc Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản đều suy thoái và cùng dẫn đến sự đổ vỡ của nhà nước trong thế kỷ IX.

Ở phía nam Trung Hoa, ngược lại, các thương nhân độc lập khai thác quyền tự do mới mẻ của mình từ chính quyền lực nhà nước. Những con tàu đắm vào thế kỷ X được phát hiện ở vùng biển Java từ những năm 1990 không chỉ chất đầy những hàng xa xỉ của Trung Hoa mà còn có cả đồ gốm sứ và thủy tinh có xuất xứ từ vùng Nam Á và thế giới Islam giáo, gián tiếp cho thấy sự bành trướng của các thị trường trong khu vực này, và do giới tinh hoa địa phương đánh thuế các thương nhân đang ăn nên làm ra, nên những tiểu quốc hùng mạnh đầu tiên ở Đông Nam Á trỗi dậy, gồm vùng đảo Sumatra ngày nay và vương quốc Khmer ở Campuchia.

Do vị trí địa lý rất khác biệt của phía tây vùng Á-Âu, cũng như không vùng biên giới phong phú lúa gạo giống ở phương Đông, nên sự sụp đổ chính trị của nó cũng dẫn đến những hậu quả khác biệt. Vào thế kỷ VII, các cuộc chinh phục của người Ả Rập đã xóa đi biên giới cũ phân cách thế giới La Mã với Ba Tư (Hình 7.7), tạo ra một sự bùng nổ trong vùng lõi Islam giáo. Các caliph mở rộng hệ thống tưới tiêu ở Iraq và Ai Cập, và những khách thương đưa cây trồng và kỹ thuật từ vùng An Hà đến Đại Tây Dương. Gạo, đường và bông vải lan khắp vùng Địa Trung Hải thuộc Islam giáo, và bằng phương pháp luân canh, nông dân thu hoạch được hai đến ba vụ mùa từ đồng ruộng. Những người Islam giáo định cư ở Sicily thậm chí còn phát kiến các loại thực phẩm truyền thống phương Tây như mì ống và kem lạnh.

Hình 7.7. Đường đứt gãy: các đường gạch đứt đoạn thể hiện đường đứt gãy kinh tế-chính trị-văn hóa từ năm 100 TCN đến năm 600, tách biệt Đế quốc La Mã với Ba Tư; đường gạch liền biểu thị dòng chính sau năm 650, tách biệt Islam giáo với các quốc gia theo Ki-tô giáo. Ở phía trên bên trái là Đế quốc của người Frank đang ở đỉnh cao, khoảng năm 800; Ở dưới cùng của thế giới Islam giáo, thể hiện sự phân chia chính trị khoảng năm 945.

Tuy nhiên, những thành quả thu hoạch từ việc xóa bỏ rào cản cũ xưa giữa La Mã và Ba Tư ngày càng bị giới hạn do những thiệt hại gây ra từ một rào cản mới dọc theo Địa Trung Hải, tách Islam giáo khỏi các nước Ki-tô giáo. Do ở miền Nam và miền Đông vùng Địa Trung Hải số tín đồ Islam giáo phát triển mạnh mẽ (nếu cuối năm 750, chỉ 1/10 dân số nằm dưới sự cai trị của Ả Rập theo Islam giáo, thì khoảng năm 950, con số đã là 9/10) và tiếng Ả Rập trở thành ngôn ngữ cầu nối (lingua franca), mối quan hệ với các nước Ki-tô giáo giảm dần; và sau đó, khi lãnh thổ của các caliph bị phân rã sau năm 800, các tiểu vương Islam giáo đặt ra những rào cản ngay trong thế giới Islam giáo. Một số khu vực trong vùng lõi Islam giáo, như Tây Ban Nha, Ai Cập, và Iran chẳng hạn, đủ lớn để tự thân xoay xở, nhưng những khu vực khác lại bị suy giảm. Trong khi các cuộc chiến tranh diễn ra ở Trung Hoa vào thế kỷ IX, hầu như các vùng trung tâm kinh tế đều tránh được thảm họa, thì mạng lưới thủy lợi mong manh của Iraq lại bị tàn phá bởi các đội quân nô lệ người Turk và một cuộc nổi dậy kéo dài 14 năm của các nô lệ trang trại ở châu Phi dưới sự lãnh đạo của một nhân vật tự xưng là nhà thơ, nhà tiên tri, và là hậu duệ của ‘Ali.

Ở phương Đông, Triều Tiên và Nhật Bản rơi vào tình trạng đổ vỡ chính trị khi phía bắc vùng lõi Trung Hoa lâm vào khủng hoảng; tương tự như thế, ở phương Tây, vùng ngoại vi thế giới Ki-tô giáo bị phân rẽ còn hơn cả khi vùng lõi Islam giáo tách ra. Người dân Đế quốc Byzantine tàn sát lẫn nhau lên đến hàng nghìn người và tách khỏi Giáo hội La Mã do những vấn đề về học thuyết mới (đặc biệt là việc Chúa Trời có chấp nhận hình ảnh Chúa Jesus, Thánh Mary và các thánh thần hay không) đồng thời các vương quốc thuộc chủng tộc German, phần lớn đoạn tuyệt với vùng Địa Trung Hải, bắt đầu tạo lập thế giới riêng của họ.

Một số đất nước ở vùng rìa phía tây xa xôi này cũng mong biến nó thành một vùng lõi trong khả năng của mình. Từ thế kỷ VI, tộc người Frank đã trở thành một thế lực trong khu vực, các thành phố thương mại nhỏ bất ngờ xuất hiện quanh vùng Biển Bắc để đáp ứng nhu cầu không ngừng của người Frank về những món hàng xa xỉ. Những vương quốc của họ vẫn ở dạng sơ khai, với hệ thống điều hành và thuế má ít ỏi. Những vị vua có khả năng huy động những quý tộc hay sinh sự có thể nhanh chóng kết hợp các lãnh địa rộng lớn nhưng lỏng lẻo bao gồm phần lớn vùng Tây Âu, nhưng dưới sự cai trị của các vị vua bạc nhược thì các lãnh địa này cũng nhanh chóng sụp đổ. Những vị vua có quá nhiều con trai thường phân phong đất đai cho con họ – việc này đơn giản chỉ dẫn đến chiến tranh để thống nhất tài sản kế thừa.

Giai đoạn cuối thế kỷ VIII là thời điểm đặc biệt tốt đẹp đối với người Frank. Trong những năm 750, Đức Giáo hoàng ở Rome tìm đến sự bảo vệ của họ để chống lại những bộ lạc địa phương, và vào sáng ngày Giáng sinh năm 800, vua Charlemagne⦾ của người Frank thậm chí còn có thể bắt Giáo hoàng Leo III quỳ gối trước ông ở nhà thờ Thánh Peter và tôn phong ông làm hoàng đế La Mã.

Charlemagne nỗ lực xây dựng một vương quốc xứng đáng với danh hiệu mà ông tuyên bố. Những đội quân của ông đã đem ngọn lửa, thanh gươm, và Ki-tô giáo vào Đông Âu và đẩy lùi người Islam giáo trở lại Tây Ban Nha, trong khi bộ máy quan liêu có học vấn của ông thu một số loại thuế, tập hợp các học giả tại Aachen (một thi sĩ cung đình gọi đó là “một thành phố Rome chưa hoàn chỉnh”❖), đặt ra một hệ thống tiền tệ ổn định, và giám sát nền thương mại đang hồi sinh. Quả là thú vị khi so sánh Charlemagne với Hiếu Văn Đế triều Bắc Ngụy, người mà ba thế kỷ trước đó đã biến vương triều Bắc Ngụy ở vùng biên địa Trung Hoa thành một nhà nước cấp cao, khởi đầu cho bước nhảy dẫn đến việc thống nhất vùng lõi phía Đông. Lễ đăng quang của Charlemagne ở Rome chắc hẳn đã nói lên những tham vọng như của Hiếu Văn Đế, cũng như với việc ông cử sứ giả đến Ba Tư để mưu cầu tình hữu nghị với Baghdad. Và vị caliph ở đó đã cảm kích đến nỗi, theo biên niên của người Frank, ông ta đã gửi tặng Charlemagne một con voi.

Tuy nhiên, các nguồn tư liệu Ả Rập không đề cập gì đến người Frank lẫn con voi tặng vật. Charlemagne không phải là Hiếu Văn Đế, và có vẻ như không được hội đồng tư vấn của caliph quan tâm lắm. Cũng như tuyên bố trở thành hoàng đế La Mã của Charlemagne không thể buộc Nữ hoàng Irene⦾ của Đế quốc Byzantine thoái vị theo ý ông. Thực tế là vương quốc của người Frank còn rất lâu mới đạt đến đỉnh cao. Đối với những kỳ vọng của Charlemagne, rõ ràng ông không có cơ hội nào để thống nhất vùng lõi hay thậm chí biến những vùng Ki-tô giáo ở vùng rìa thành một quốc gia đơn nhất.

Không may thay, một điều mà Charlemagne đạt được lại chính là sự gia tăng phát triển xã hội đủ để thu hút những kẻ cướp bóc đến từ những vùng đất hoang dã nằm ngoài thế giới Ki-tô giáo. Vào lúc ông qua đời năm 814, những con thuyền dài của người Viking từ bán đảo Scandinavia thì đang sục sạo ngược các dòng sông vào tận trung tâm của đế chế, người Magyar trên những con ngựa nhỏ thó vùng thảo nguyên đang cướp bóc nước Đức, và những tên cướp biển Saracen từ Bắc Phi sắp cướp phá thành Rome. Aachen thì được trang bị yếu ớt không đủ sức đáp trả; khi những người Viking cho thuyền cập bờ để đốt phá các ngôi làng, quân đội hoàng gia đến quá chậm hay bỏ mặc. Dân quê chỉ còn cách dựa vào những nhân vật quan trọng ở địa phương để bảo vệ họ, còn người dân ở các thị trấn thì nhờ cậy các giám mục hay thị trưởng. Vào thời điểm ba người cháu của Charlemagne phân chia đế chế với nhau vào năm 843, các vị vua đã không còn ý nghĩa gì nhiều đối với hầu hết thần dân của họ.

Chịu áp lực

Như thể tình trạng căng thẳng này còn chưa đủ, sau năm 900 lục địa Á-Âu còn chịu một loại áp lực mới – theo nghĩa đen; khi quỹ đạo trái đất tiếp tục dịch chuyển, áp lực không khí tăng lên trên bề mặt trái đất, làm suy yếu những ngọn gió Tây từ Đại Tây Dương thổi vào châu Âu và gió mùa từ Ấn Độ Dương thổi vào Nam Á. Tính trung bình trên khắp lục địa Á-Âu, nhiệt độ có thể tăng 0,5-1°C giữa các năm 900 và 1300, đồng thời lượng mưa giảm khoảng 10%.

Hình 7.8. Xuất phát từ cái lạnh: những cuộc di cư của người Turk Seljuk (mũi tên liền) và người Viking/Norman (mũi tên đứt đoạn) vào vùng lõi phương Tây ở thế kỷ XI.

Như thường lệ, biến đổi khí hậu buộc mọi người phải thích ứng, nhưng việc đưa ra quyết định phải làm thế nào để thích ứng thì còn tùy thuộc vào họ. Ở vùng Bắc Âu lạnh lẽo, ẩm ướt thì cái gọi là Thời kỳ Ấm Trung cổ này thường được chào đón, và dân số ước tính tăng gấp đôi trong giai đoạn 1000-1300. Tuy nhiên, ở vùng lõi Islam giáo nóng hơn và khô hơn thì nó có thể ít được hoan nghênh hơn. Tổng dân số ở thế giới Islam giáo giảm đi khoảng 10%, nhưng một số khu vực, đặc biệt Bắc Phi, lại gia tăng. Năm 908, vùng Ifriqiya⦾, phần đất gồm cả nước Tunisia ngày nay (Hình 7.8), tách khỏi những vị caliph ở Baghdad. Những người Shite cấp tiến⦾ hình thành một dòng caliph-imam vô-nhiễm chính thức, gọi là dòng Fatimid vì họ tuyên bố là hậu duệ (và thuộc dòng lãnh tụ) của Fatima, con gái Muhammad. Năm 969, những người Fatimid này chinh phục Ai Cập, nơi họ xây dựng một thành phố mới ở Cairo và đầu tư vào thủy lợi. Vào năm 1000, Ai Cập có chỉ số phát triển xã hội cao nhất ở phương Tây, và các thương nhân Ai Cập hoạt động khắp vùng Địa Trung Hải.

Chúng ta hẳn sẽ biết rất ít về những thương nhân này nếu như vào năm 1890 cộng đồng người Do Thái ở Cairo không quyết định tu sửa ngôi giáo đường 900 năm tuổi. Giống những giáo đường khác, nơi này có một phòng chứa đồ, nơi các tín đồ Do Thái giáo có thể ký thác những giấy tờ không cần thiết để tránh bị báng bổ do tiêu hủy giấy tờ có viết tên Thiên Chúa. Thông thường, các phòng chứa đều được dọn dẹp định kỳ, nhưng riêng phòng này lại chứa đầy giấy tờ cất giữ qua nhiều thế kỷ. Khi bắt đầu việc tu bổ giáo đường thì các tài liệu cổ xưa cũng xuất hiện trên thị trường cổ vật ở Cairo, và vào mùa xuân năm 1896 một cặp chị em người Anh đã đem về cả một bó cho Đại học Cambridge. Ở đó, họ giới thiệu hai văn bản cho Solomon Schachter, chuyên gia nghiên cứu kinh Talmud (ghi chép các văn kiện Do Thái giáo cổ đại). Ban đầu còn hoài nghi, nhưng sau đó Schachter đã có một thời điểm phải thốt lên “Ôi! Lạy Chúa tôi!”: một văn bản là một đoạn văn tiếng Hebrew trong sách Huấn Ca (Ecclesiasticus) của Kinh Thánh Hebrew, trước đây chỉ được biết đến từ bản dịch Hy Lạp. Học giả này liền bay đến Cairo tháng 12 năm đó và đem về được 140.000 tài liệu.

Trong số tài liệu này có hàng trăm bức thư gửi đến các thương điếm ở Cairo trong thời điểm từ năm 1025 đến khoảng năm 1250 từ những vùng xa xôi như Tây Ban Nha và Ấn Độ. Việc chia rẽ ý thức hệ, vốn hình thành theo sau các cuộc chinh phục của người Ả Rập, bị vỡ vụn khi tăng trưởng dân số dẫn đến việc mở rộng thị trường và lợi nhuận, và rõ ràng chẳng có ý nghĩa gì đối với những thương nhân trao đổi thư tín này, vốn chỉ bận tâm nhiều hơn về thời tiết, gia đình, và làm giàu hơn là về tôn giáo và chính trị. Trong trường hợp này, họ có thể là điển hình cho các thương nhân vùng Địa Trung Hải, mặc dù chưa được chứng minh rõ ràng qua tài liệu, nhưng nền thương mại hiển nhiên đã đem lại lợi nhuận và mang tính quốc tế ở Ifriqiya và Sicily, nơi Palermo thuộc Islam giáo đã trở thành một thành phố phất lên nhờ giao thương với miền Bắc Italy thuộc Ki-tô giáo.

Thậm chí Monte Polizzo, ngôi làng vùng Sicily, nơi tôi tiến hành khai quật trong mấy năm qua, cũng tham gia vào hoạt động này. Như đã đề cập ở Chương 5, tôi đến đó để nghiên cứu những tác động của vùng thuộc địa người Phoenicia và Hy Lạp ở thế kỷ VII và thế kỷ VI TCN, nhưng khi bắt đầu công việc khai quật vào năm 2000, chúng tôi lại phát hiện một ngôi làng thứ hai nằm trên những ngôi nhà cổ. Ngôi làng này hình thành khoảng năm 1000, có lẽ do những người nhập cư Islam giáo đến từ Ifriqiya lập ra, và bị thiêu rụi vào năm 1125. Khi nhà thực vật học của chúng tôi sàng lọc các hạt giống đã cháy thành than trong đống phế tích, ông phát hiện – trước sự ngạc nhiên của mọi người – một công trình xây dựng, từng là một kho chứa đầy ắp lúa mì được tuốt cẩn thận, chỉ trộn lẫn chút ít cỏ dại.⦾ Điều này đã tạo ra một tương phản rõ ràng với những hạt giống chúng ta tìm thấy trong bối cảnh thế kỷ VI TCN, vốn luôn trộn lẫn nhiều cỏ dại và vỏ trấu. Điều đó có thể làm bánh mì thô tháp hơn, vốn là điều chúng ta mong đợi ở một ngôi làng nông nghiệp đơn giản, nơi người ta chỉ thu hoạch mùa màng cho bữa ăn gia đình và không bận tâm đến việc khó chịu khi nhai thức ăn. Tuy nhiên, việc sàng sảy để loại bỏ những tạp chất trong lúa mì thế kỷ XII chính xác là những gì chúng ta mong đợi từ những nông dân làm thương mại sản xuất cho những người dân thành thị kén cá chọn canh.

Rõ ràng nền kinh tế vùng Địa Trung Hải đang bùng nổ nếu như đến cả ngôi làng nhỏ bé Monte Polizzo cũng ràng buộc với các mạng lưới giao thương quốc tế. Nhưng ở khu vực Tây Nam Á, phần đất lâu đời nhất của vùng lõi Islam giáo, lại không làm tốt như vậy. Sự việc tưởng là đủ tồi tệ kể từ những năm 860, khi các nô lệ người Turk được các caliph mua về để tăng cường quân đội đã phát động những cuộc đảo chính rồi tự xưng làm vua (sultan), nhưng điều còn tồi tệ hơn lại sắp xảy ra. Từ thế kỷ VII, các thương nhân và giáo sĩ Islam giáo đã rao giảng Tin mừng của Muhammad cho các dân tộc người Turk trên thảo nguyên, và vào năm 960, bộ tộc Karluk ở Uzbekistan hiện nay – có khoảng 200.000 gia đình – được cải đạo sang Islam giáo. Đó là một chiến thắng cho đức tin nhưng lại nhanh chóng biến thành một cơn ác mộng cho các nhà chính trị. Người Karluk thành lập riêng đế chế Karakhanid, đồng thời một dân tộc người Turk khác, người Seljuk, tiếp bước sự cải đạo của họ bằng việc di cư, và trên đường đi đã cướp bóc khắp Ba Tư rồi chiếm Baghdad vào năm 1055.⦾ Đến năm 1079, họ đã xua đuổi người dân Byzantine ra khỏi hầu hết vùng Anatolia và những người thuộc dòng Fatimid ra khỏi Syria.

Vùng Tây Nam Á theo Islam giáo nhanh chóng phân cách với vùng Địa Trung Hải theo Islam giáo đang phát triển mạnh mẽ. Những người Turk Seljuk đã tập hợp thành một đế quốc rộng lớn, nhưng thậm chí nó còn rối loạn hơn so với thời của các caliph. Khi vị vua tàn bạo đầu tiên qua đời vào năm 1092, theo truyền thống vùng thảo nguyên, các con trai ông chia tách đế chế thành chín phần và gây chiến lẫn nhau. Lực lượng quyết định trong các trận chiến giữa những người con này chính là kỵ binh, vì vậy các vị vua người Seljuk đã ban cấp điền thổ cho các lãnh chúa có thể cung cấp những chiến binh trên lưng ngựa. Có thể dự đoán được rằng những thủ lĩnh du mục này sẽ làm cho nền hành chính và thương mại suy sụp, thậm chí còn ngừng việc đúc tiền. Các thành phố bị co lại, kênh thủy lợi nghẽn bùn, và những ngôi làng vùng rìa bị bỏ hoang. Trong thời tiết nóng và khô của Thời kỳ Ấm Trung cổ này, người nông dân phải đấu tranh liên tục để giữ những cánh đồng quý giá của mình khỏi trở lại thành thảo nguyên và sa mạc, nhưng các chính sách của người Seljuk đã khiến công việc của họ khó khăn hơn. Nhiều nhà chinh phục, thích lối sống du mục hơn đời sống đô thị, lại đón mừng sự suy giảm nông nghiệp, và bước sang thế kỷ XII thì ngày càng nhiều người Ả Rập rời bỏ những cánh đồng và theo chân người Turk chăn nuôi gia súc.

Lo ngại sự bành trướng của các học thuyết Shiite cấp tiến vào những năm đầy biến loạn này, các học giả ở miền đông Iran thiết lập các trường học để phát triển và giảng dạy một học thuyết chặt chẽ của người Sunni, mà các lãnh chúa Seljuk đã phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XII. Những công trình uyên bác – như cuốn Revivification of the Sciences of Religion (Sự Hồi sinh của Khoa học Tôn giáo) của al-Ghazali, dựa trên logic học Hy Lạp để hòa hợp với luật tắc Islam giáo, chủ thuyết thần bí của Islam giáo Sufi, và mặc khải của Muhammad – đến ngày nay vẫn là nền tảng tư tưởng của giáo phái Sunni. Thực ra, sự Phục hưng phái Sunni thành công đến nỗi việc một số người Shiite quyết định sát hại các nhà lãnh đạo phái Sunni là một sự đáp trả thực tiễn duy nhất. Trở về vùng núi non ở Iran, họ thành lập một hiệp hội bí mật gọi là Hội Sát Thủ (theo truyền thuyết, danh xưng này được gọi như thế là do các thành viên của hội hút cần sa (Assassins) để đặt họ vào tâm trạng phải giết người).

Việc ám sát không thể đẩy lùi được cuộc Phục hưng của người Sunni, nhưng cũng không một phong trào trí tuệ nào có thể – bất chấp thành công của nó – giữ được sự ổn định cho một vương quốc của người Seljuk, và do không có được một tổ chức chính trị như các vương quốc dòng Fatimid đã tạo dựng ở Bắc Phi, những vùng đất của người Seljuk phải oằn mình dưới áp lực của Thời kỳ Ấm Trung cổ. Đây là thời điểm không may vì cùng một thời tiết như thế lại đặt ra những thách thức ở vùng Tây Nam Á, tạo cơ hội cho những kẻ cướp bất kham, thương nhân và những kẻ xâm lăng thâm nhập phần rìa châu Âu của vùng lõi Islam giáo. Điều quan trọng không kém là thời tiết ấm hơn làm các mùa trồng cây ở vùng Bắc Âu dài hơn và cho sản lượng cao hơn, làm cho những vùng đất cận biên trước đây có khả năng thu lợi. Ở thời điểm Thời kỳ Ấm Trung cổ kết thúc, nông dân đã cày bừa trên một vùng đất rộng lớn từng là rừng cây, làm mất đi có lẽ đến một nửa số cây cối ở Tây Âu.

Giống như mọi giai đoạn bành trướng kể từ khi nông nghiệp lan truyền từ vùng Hilly Flanks, hai tiến trình kết hợp để đưa các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến từ Tây Âu sang Đông Âu. Tiến trình đầu tiên là sự thuộc địa hóa, thường được dẫn dắt bởi giới nhà thờ, vốn là thể chế có tổ chức tốt nhất ở vùng biên địa. Giáo sĩ Gerald xứ Wales viết: “Hãy cho những tu sĩ này một trảng đất trống hay cánh rừng hoang dã, để vài năm qua đi rồi bạn sẽ thấy không chỉ những nhà thờ xinh đẹp mà còn có cả những ngôi nhà của người định cư được xây dựng xung quanh chúng.”❖ Sự bành trướng là công việc của Chúa: theo một xu thế tuyển mộ năm 1108, “những kẻ ngoại giáo là tệ nhất nhưng đất đai của họ lại tốt nhất, với thịt, mật ong, và bột mì… ở đây bạn sẽ có thể cứu linh hồn của mình [bằng cách buộc những kẻ ngoại giáo cải đạo], và nếu làm thế bạn sẽ kiếm được đất đai tươi tốt để định cư.”❖

Đôi khi người ngoại giáo bỏ trốn; có khi họ lại phục tùng, nhưng thường thì có cái kết khá hơn so với những nô lệ. Nhưng cũng như những người săn bắt-hái lượm đối đầu với những người nông dân, hay người Sicily đối đầu với những thực dân Hy Lạp hàng nghìn năm trước, đôi khi họ tự tổ chức và vẫn kiên định với quan điểm của mình. Khi những nông dân người Frank và German di chuyển về phía đông đốn cây và cày xới những đồng cỏ, thì một số dân làng vùng Bohemia, Ba Lan, Hungary và thậm chí ở đất Nga xa xôi cũng bắt chước kỹ thuật của họ, tận dụng thời tiết tốt hơn để canh tác đất đai rộng rãi. Các thủ lĩnh của họ, giờ đã theo Ki-tô giáo, thuyết phục hoặc buộc họ phải đóng thuế và chiến đấu chống lại những người thực dân (và đánh lẫn nhau).

Sự lan rộng của các vương quốc, nhà thờ và sự thâm canh ở khắp châu Âu có nhiều điểm tương đồng với vùng biên giới nông nghiệp đã phát triển ở phía nam sông Dương Tử từ thế kỷ V, nhưng khác biệt về một khía cạnh cốt lõi: nó không tạo ra những dòng chảy thương mại quan trọng giữa biên giới vùng nông thôn mới và vùng lõi đô thị cũ xưa hơn. Với việc thiếu vắng một trung tâm châu Âu tương đương với Đại Vận Hà ở Trung Hoa thì không có phương cách vận chuyển rẻ tiền để đưa hạt lúa mì Ba Lan đến các thành phố lớn như Palermo và Cairo được. Những thị trấn ở Tây Âu gần các biên giới hơn và đang phát triển, nhưng lại quá ít và quá nhỏ để cung cấp đầy đủ cho các thị trường. Thay vì nhập khẩu thực phẩm từ Đông Âu, các thị trấn vùng Tây Âu thường phát triển bằng cách gia tăng sản xuất địa phương và khai thác các nguồn năng lượng mới.

Cối xay nước, vốn đã phổ biến ở vùng lõi Islam giáo, giờ đây đã lan rộng khắp vùng rìa Ki-tô giáo. Ví dụ như số lượng cối xay nước ở thung lũng Robec, Pháp đã tăng gấp bốn lần giữa thế kỷ X và XIII, và trong cuốn Domesday Book (Địa Bạ Anh), về điều tra dân số được biên soạn vào năm 1086, chép rằng nước Anh có đến 5.624 cối xay nước. Nông dân cũng học được những công dụng của ngựa, tuy ăn nhiều hơn bò nhưng lại kéo cày nhanh hơn và làm việc bền hơn. Sự cân bằng từ từ tái lập nhờ vào sức ngựa sau năm 1000, khi – vì nhiều lý do tôi sẽ trở lại trong Chương 8 – người châu Âu học được người Islam giáo cách đóng móng ngựa bằng kim loại để làm giảm ma sát và thay thế những bộ yên cương vụng về, làm nghẹt cổ ngựa bằng bộ dây cương điều khiển bốn ngựa kéo. Nếu như vào năm 1086, trên đất đai của các quý tộc Anh chỉ có một ngựa kéo trên tổng số 20 con vật kéo, thì đến năm 1300 số lượng đó là ⅕. Với việc gia tăng sức ngựa (chưa kể phân bón bổ sung) nông dân có thể làm giảm diện tích đất bỏ hoang mỗi năm, bóp nặn được nhiều hơn từ đất đai tài sản của họ.

Các nông trang ở châu Âu vẫn còn kém năng suất hơn so với ở Ai Cập hay Trung Hoa, nhưng sản xuất ngày càng dư thừa nên có thể cung cấp cho các thị trấn, và các thị trấn đang phát triển giờ đây tiếp nhận vai trò mới. Nhiều cư dân vùng tây bắc châu Âu là nô lệ, bị ràng buộc về mặt pháp lý khi khai thác đất đai của những quý tộc, những người bảo vệ họ chống lại bọn cướp bóc (và các quý tộc khác). Tối thiểu về mặt lý thuyết, giới quý tộc cũng nắm giữ những chức vị như chư hầu của các vị vua và phải phục vụ họ trong chiến đấu ở vai trò kỵ binh bọc giáp và các vị vua công nhận vị trí của họ dựa trên danh nghĩa giáo hội, có nghĩa là điều này được thực thi với sự chuẩn thuận của Thiên Chúa. Nhưng các vương hầu, vua chúa và nhà thờ giờ đây đều muốn tiếp cận với sự giàu có đang tích tụ ở những thị trấn, và cư dân thị trấn lại thường có thể thương lượng cắt giảm tài sản, đổi lại việc miễn các nghĩa vụ đóng góp cho hệ thống phong kiến để đổi lại việc cắt giảm tài sản.

Giống các nhà cai trị cấp thấp tìm mọi phương cách để vươn đến tầm cỡ Đế quốc Assyria và nhà Chu, các vị vua châu Âu đã tiến hành một cách hiệu quả mọi thủ đoạn bảo vệ, nhưng phiên bản của họ thậm chí còn rối rắm hơn cả những người đi trước. Những thị trấn, quý tộc, vua chúa và giáo sĩ liên tục can thiệp vào công việc của nhau, và nếu không có quyền lực trung ương thực sự thì chắc chắn sẽ xảy ra xung đột. Chẳng hạn năm 1075, Giáo hoàng Gregory VII khẳng định quyền bổ nhiệm tất cả các giám mục ở Đức. Mục tiêu của ông là hoán cải đạo đức của các chức sắc giáo hội, nhưng cũng do các giám mục kiểm soát những mảnh đất rộng lớn ở Đức nên động thái này cũng có hiệu ứng phụ là giúp Giáo hoàng kiểm soát được phần lớn nguồn lực của Đức. Hoàng đế của người German và của Đế quốc La Mã, Henry IV kinh hoàng, đáp lại bằng cách tuyên bố rằng với tư cách là người bảo vệ đức tin, ông có quyền bãi chức Gregory – “bây giờ không còn là Giáo hoàng,” Henry nhấn mạnh, “mà chỉ là một tu sĩ giả… Ta, Henry, nhờ ân sủng của Chúa, cùng với tất cả các giám mục, tuyên bố với ông: Hãy thoái vị!”❖

Thay vì thoái vị, Gregory VII rút phép thông công Henry, loại bỏ vị hoàng đế của người German khỏi đức tin Ki-tô giáo. Trên thực tế, điều này có nghĩa là các lãnh chúa phong kiến nước Đức có thể lờ đi vị vua của họ một cách hợp pháp. Giờ đây, do không còn quyền hành trên lãnh thổ của mình, chỉ trong vòng một năm, Henry buộc phải đi chân trần quỳ trong tuyết giá ba ngày bên ngoài một tu viện ở rặng Alpes để cầu xin Đức Giáo hoàng tha thứ. Cuối cùng ông cũng đạt được ước nguyện, nhưng sau này ông vẫn gây chiến với Giáo hoàng. Kết quả là không bên nào thắng. Giáo hoàng Gregory thì mất đi sự ủng hộ của mọi người sau khi lính đánh thuê của ông cướp phá thành Rome do ông không trả lương; còn vị hoàng đế thì kết thúc cuộc đời của mình khi chạy trốn khỏi chính người con trai; và cuộc tranh cãi thần học thực sự chưa bao giờ được giải quyết.

Châu Âu ở thế kỷ XI đầy những cuộc đấu tranh lộn xộn như thế, nhưng dần dần, các giải pháp đưa ra dần làm cho các thể chế trở nên mạnh mẽ hơn và phạm vi trách nhiệm của những nhà cai trị trở nên rõ ràng hơn. Các vị vua tăng cường quản lý tổ chức, huy động và đánh thuế người dân trong lãnh thổ của mình. Một sử gia đã gọi tiến trình này là “sự hình thành một xã hội ngược đãi”❖: các quan chức hoàng gia thuyết phục người dân xem mình là một phần của một quốc gia (người Anh, Pháp, v.v.) được định nghĩa là chống lại những người không phải là họ – tầng lớp hạ đẳng như người Do Thái, đồng tính, người hủi và những kẻ dị giáo; tầng lớp này lần đầu tiên bị tước bỏ sự bảo vệ một cách có hệ thống và bị khủng bố. Thế nhưng ở giai đoạn khó chịu này lại có nhiều nhà nước hiệu quả ngày càng nổi lên.

Những nhà sử học khác nói vui hơn về một “thời đại của các giáo đường”❖, do những công trình gây cảm hứng nảy nở khắp châu Âu. Chỉ riêng ở Pháp, có đến 80 giáo đường, 500 tu viện và hàng chục nghìn nhà thờ xứ đạo được xây dựng từ năm 1180 đến 1270. Hơn 12.000 kg khối đá được khai thác ở các mỏ, số lượng còn lớn hơn Đại Kim tự tháp của Ai Cập.

Học vấn suy giảm ở Tây Âu cùng với Đế quốc La Mã và chỉ phục hồi một phần ở nước Pháp của Hoàng đế Charlemagne, nhưng sau năm 1000, giáo viên bắt đầu tập trung quanh các giáo đường mới, thành lập trường học giống như của những giáo sĩ Islam giáo độc lập trong thế giới Islam giáo. Ki-tô hữu đi học ở vùng Tây Ban Nha theo Islam giáo đem về những bản dịch các luận thuyết về luận lý học của Aristotle được gìn giữ qua nhiều thế kỷ bởi các học giả cung đình Ả Rập. Tất cả những điều này đã làm tăng thêm đời sống tri thức cho giáo dân, giúp các nhà thần học nghĩ về Thiên Chúa theo những cách thức tinh vi như các nhà lý luận của al-Ma’mun ở Baghdad vào thế kỷ IX, nhưng nó cũng tạo ra những mâu thuẫn mới trong giới tinh hoa có học thức.

Không ai minh họa những điều này tốt hơn Peter Abelard. Là thanh niên sáng dạ chỉ đắm chìm vào việc tiếp thu cái mới, Abelard xuất hiện ở Paris vào khoảng năm 1100. Lang thang từ trường này đến trường khác, Abelard công khai làm bẽ mặt những giáo viên ra vẻ mô phạm của mình bằng cách bài bác họ dựa trên luận lý của Aristotle. Những giáo sư trung thực nhưng chậm chạp thì thấy sự nghiệp của mình sụp đổ nếu đại loại có khoảng 20 người như Abelard sử dụng kỹ năng tranh luận sắc bén của mình để làm rối loạn hội nghị (và có khả năng là cả định phận của linh hồn mọi người). Quá đỗi hài lòng với bản thân, Abelard lập trường riêng rồi nhanh chóng quyến rũ cô Héloïse, một trong những học trò của ông, và làm cô có thai. Gia đình cô, do bị sỉ nhục, đã phản kích: “Một đêm khi tôi đang ngủ say,” Abelard xấu hổ kể lại, “họ đã cắt bỏ những bộ phận mà tôi đã làm những việc khiến họ ghê tởm.”❖

Héloïse và Abelard phải rời xa nhau trong nỗi tủi thẹn và giam mình trong tu viện, nhưng suốt trong 20 năm vẫn giữ thư từ liên lạc, phần ông thì tự biện minh, còn cá nhân Héloïse thì trở nên héo úa, tàn tạ. Trong thời kỳ bị buộc nghỉ hưu, Abelard viết cuốn Sic et Non (Có và Không), một loại cẩm nang áp dụng luận lý vào những mâu thuẫn của Ki-tô giáo; và nếu như cái tên của Abelard trở thành một điển hình cho sự nguy hiểm của việc tiếp thu cái mới, thì dù sao ông cũng đã buộc các lý thuyết gia Ki-tô giáo phải hòa hợp những gì viết trong Kinh Thánh với chủ thuyết duy lý của Aristotle. Và khoảng năm 1270, khi Thomas Aquinas hoàn thiện điều này trong cuốn On Christian Theology (Bàn về học thuyết thần học Ki-tô giáo), thì việc nghiên cứu Ki-tô giáo đã trở nên khá phức tạp như việc nghiên cứu Islam giáo ở giai đoạn Phục hưng của phái Sunni.

Những người châu Âu khác thì làm ngược lại với Abelard: thay vì du nhập những tư tưởng và tổ chức từ vùng lõi Islam giáo vào vùng rìa Ki-tô giáo, họ tự di chuyển vào vùng lõi Islam giáo. Các thương nhân ở Venice, Genoa, và Pisa cạnh tranh với thương nhân ở Cairo và Palermo về mối giao thương màu mỡ ở vùng Địa Trung Hải, gồm cả mua bán hay ăn cắp và giành giật. Ở Tây Ban Nha, những di dân từ vùng đông bắc châu Âu đông đúc ngày càng tăng đã giúp người Ki-tô giáo địa phương đẩy lùi người Islam giáo trở lại, trong khi đó trên khắp vùng Địa Trung Hải, người Norman (hay Norseman) lại gây ra một cơn bão cướp bóc và chinh phục.

Người Norman là hậu duệ của các Viking theo đa thần giáo ở bán đảo Scandinavia, rộ lên như những kẻ cướp bóc ở vùng rìa tây bắc xa xôi của châu Âu vào thế kỷ IX, nhưng vào thế kỷ X, phát triển thành những hình thức cướp bóc quy mô hơn. Do Thời kỳ Ấm Trung cổ đã mở ra vùng biển Bắc Đại Tây Dương, họ dùng loại thuyền dài đặc trưng chèo đến Iceland, Greenland, và cả vùng Vinland ở Bắc Mỹ. Họ định cư đông đúc ở Ireland và Anh, và ở miền Bắc nước Pháp, tộc trưởng của họ, Rollo, đã trở thành vị vua hợp thức (của vùng Normandy ngày nay) bằng cách chấp nhận theo Ki-tô giáo vào năm 912.

Người Norman vẫn còn mơ hồ về những chi tiết của đức tin, trong tang lễ của Rollo năm 931, họ còn làm lễ hiến tế hàng trăm tù nhân, nhưng chính tính hung bạo đã khiến họ trở thành những lính đánh thuê được thèm muốn ở vùng Constantinople xa xôi. Năm 2016, họ được thuê chiến đấu ở cả hai phe trong các cuộc chiến tranh bất tận ở vùng Nam Italy, những nhóm chiến binh Norman bắt đầu hình thành quốc gia riêng, và gây áp lực lên Sicily năm 1061, họ hầu như theo đuổi một cuộc chiến tranh diệt chủng chống lại cư dân Islam giáo. Ngày nay, nếu có ghé thăm Sicily, bạn sẽ khó tìm thấy một tượng đài nào sót lại trong suốt hai thế kỷ cai trị của người Islam giáo, trong khi đó hòn đảo này lại từng là kỳ quan của vùng Địa Trung Hải.

Người Norman không chỉ đặc biệt thù ghét Islam giáo; họ cũng đối xử tồi tệ như thế với những đồng đạo Ki-tô giáo. Một nhà văn người Italy đã gọi họ là “một chủng tộc có thiên hướng phi nhân tính hung ác, man rợ và khủng khiếp,”❖ và Anna Comnena, một công chúa Byzantine, thậm chí còn kinh hãi hơn, bà ta viết như sau: “Bất cứ khi nào xảy ra chiến trận và chiến tranh, đều có tiếng thét gào tận trong trái tim [của người Norman] và họ không thể kìm nén được. Không chỉ những chiến binh mà cả những chỉ huy của họ cũng không cưỡng được việc lao vào hàng ngũ kẻ địch.”❖

Đế quốc Byzantine đã học được nhiều kinh nghiệm đau đớn về người Norman. Ở thế kỷ IX và thế kỷ X, sức mạnh của đế chế này hồi phục khi người Islam giáo chuyển sang đấu đá trong nội bộ, và thậm chí vào năm 975, một đội quân Byzantine đã nhìn thấy thành phố Jerusalem (họ không chiếm được thành phố linh thiêng này nhưng đã thu hồi được đôi dép của Chúa Jesus và tóc của Thánh John [John the Baptist]). Nhưng chỉ trong vòng một thế kỷ người Byzantine trở nên lệ thuộc một cách nguy hiểm vào lính đánh thuê người Norman, những con người mà chính tính không đáng tin cậy (do sự tàn bạo của mình, họ thường xuyên tháo chạy) đã góp phần vào thất bại thê thảm dưới tay người Thổ vào năm 1071. Hai mươi năm sau, Constantinople nằm dưới sự vây hãm của người Thổ, hoàng để Byzantine viết thư cho Đức Giáo hoàng ở Rome, hình như để nhờ thuê thêm lính đánh thuê. Dù vậy, Đức Giáo hoàng lại có những ý tưởng khác. Do muốn tăng cường vị trí của mình trong cuộc đấu tranh với các vị vua châu Âu, ông đã triệu tập một hội nghị vào năm 1095 và đưa ra ý tưởng về một cuộc viễn chinh – cuộc thập tự chinh – để quét người Turk ra khỏi Jerusalem.

Đã có sự đáp ứng cuồng nhiệt hơn những gì Giáo hoàng hay người Byzantine mong muốn. Hàng chục nghìn dân làng bắt đầu đi về phía đông, cướp bóc vùng Trung Âu và tàn sát người Do Thái ở những nơi họ đi qua. Chỉ có một số người đến được vùng Anatolia rồi bị người Turk tàn sát ở đó. Không có ai đến được Đất Thánh (Holy Land), ngoại trừ những người nô lệ.

Áp dụng thực tiễn hơn chính là ba đội quân của các hiệp sĩ Pháp và Norman, được các thương gia thành Genoa hỗ trợ, họ tụ hội trên vùng đất Jerusalem vào năm 1099. Sự lựa chọn thời gian của họ đúng là hoàn hảo: người Seljuk do quá bận rộn chống phá lẫn nhau nên sức kháng cự suy giảm, và sau những kỳ tích vang dội đến khó tin, những chiến binh thập tự chinh đã chọc thủng tường thành Jerusalem. Trong 12 giờ đồng hồ, họ đã cướp bóc và giết chóc đến mức gây sốc cho cả những chiến binh Norman trong đội quân thập tự chinh; họ thiêu sống những người Do Thái và băm xác người Islam giáo thành từng mảnh (dù theo quan sát của một phụ nữ Do Thái, thì các tín đồ Ki-tô giáo này không hãm hiếp phụ nữ trước khi giết như thói quen của người Thổ). Cuối cùng, vào lúc hoàng hôn, những kẻ chinh phục đã lội qua vạt đất đẫm nước đến mắt cá chân để làm lễ tạ ơn Chúa tại Nhà thờ Mộ Thánh (Church of Holy Sepulcher).

Nhưng dù kỳ tích này có ngoạn mục đến đâu, thì cuộc tấn công trực tiếp vào vùng lõi này cũng không đe dọa được thế giới Islam giáo chút nào. Vương quốc Jerusalem của Ki-tô giáo chỉ đứng vững cho đến năm 1187, khi người Islam giáo chiếm lại thành phố. Sau đó còn thêm những cuộc thập tự chinh khác, nhưng hầu như đều thất bại thảm hại; cuộc thập tự chinh thứ tư vào năm 1904, do không đủ khả năng trả tiền mướn tàu, họ chấm dứt việc thuê mướn tàu, các chiến binh trở thành lính đánh thuê cho những nhà tư bản tài chính của Venice và cướp phá Constantinople chứ không đến Jerusalem. Phong trào thập tự chinh cũng như Đế quốc Byzantine không còn hồi phục từ điều ô nhục này.

Phương Tây đang thay đổi hình dạng dưới áp lực của Thời kỳ Ấm Trung cổ. Những vùng đất đai thuộc người Islam giáo vẫn còn là vùng lõi, nhưng do phát triển xã hội trì trệ ở khu vực Tây Nam Á, trung tâm thu hút của Islam giáo đã chuyển hướng sang vùng Địa Trung Hải, và ngay cả trong vùng Địa Trung Hải cũng có người được người mất. Ai Cập đã trở thành viên ngọc định trên vương miện Islam giáo; Đế quốc Byzantine, di tích cuối cùng của Đế quốc La Mã, đang ở giai đoạn cuối của sự suy tàn; và vùng rìa phía tây bắc man rợ và lạc hậu lại phát triển nhanh hơn tất cả.

Cuộc cách mạng kỹ nghệ đầu tiên

Những vấn nạn ở vùng lõi phương Đông hầu như cũng chẳng có nhiều khác biệt. Triều đại nhà Đường tan rã vào năm 907, nhưng đến năm 960 Trung Hoa lại thống nhất. Tống Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Tống, từng là một chiến binh cứng rắn, nhưng thấy được sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế và văn hóa giữa các vùng của Trung Hoa trong vài thế kỷ qua đã làm tầng lớp tinh hoa cảm thấy Trung Hoa nên là một đế quốc. Ông tính rằng nếu đi đúng hướng, họ sẽ ủng hộ ông chứ không chống lại. Khi cần thiết, ông sẵn sàng sử dụng vũ lực, nhưng khác với những nỗ lực trước đây để thống nhất hai vùng lõi, hầu hết các tiểu quốc đều phục tùng trong hòa bình và chấp nhận sự cai trị của nhà Tống.

Tống Thái Tổ cũng hiểu rằng chính những viên chỉ huy quân đội đã lật đổ đa phần các triều đại trước nên ông tìm cách loại bỏ họ. Sử chính thống kể rằng trong tiệc mừng ông mời các tướng lĩnh đã đặt ông lên ngai vàng, rồi “giải tán quyền lực quân phiệt bằng một ly rượu.”❖ Công khai uống mừng các tướng vì được về vui thú điền viên (chính ông báo tin cho các tướng lĩnh), rồi ông thải hồi họ. Điều khá ngạc nhiên là Tống Thái Tổ tránh được việc phải gây đổ máu, và từ đó trở đi, mỗi khi điều động quân đội, ông đều tự mình chỉ huy.

Việc chuyển từ chính quyền quân đội sang dân sự là một phương sách sáng suốt đánh vào sự khát khao hòa bình và thống nhất. Một trở ngại là Trung Hoa vẫn còn nhiều kẻ thù, đặc biệt là hai tộc người bán du mục, người Khitan (Khiết Đan) và người Tangut (Tây Hạ), đã gây dựng các đế chế ở biên giới phía bắc Trung Hoa (Hình 7.9). Không thể giải tán các đế chế này bằng rượu, nên sau khi bị mất nguyên một đạo quân và một hoàng đế thiếu chút nữa thì bị bắt, nhà Tống lại trở về chính sách cũ, dùng quà tặng để đổi lấy hòa bình.

Cho đến một thời điểm, điều này đã có hiệu quả, cả người Khiết Đan và người Tây Hạ đều không tràn qua được vùng lõi phương Đông như người Seljuk đã làm ở phương Tây. Điểm tiêu cực của nó là nhà Tống, cũng như các triều đại trước đó, đã sớm tự phá sản do phải chi dùng cho quà biếu và những đơn vị đồn trú thực sự không gìn giữ được hòa bình. Vào những năm 1040 họ phải cung ứng cho một đội quân lên đến một triệu người cùng hàng nghìn giáp trụ và hàng triệu mũi tên mỗi tháng – không chút nào giống như Tống Thái Tổ đã dự định.

Một số tướng lĩnh hy vọng rằng những vũ khí diệu kỳ có thể cứu Trung Hoa khỏi trượt vào tình trạng bế tắc xưa cũ với các vùng thảo nguyên. Những nhà giả kim của Đạo giáo đã phát kiến một loại thuốc súng thô khoảng năm 850 (trớ trêu là phát kiến này sinh ra trong khi chế linh đan trường sinh bất tử); khoảng năm 950, các bức tranh cho thấy người ta đang bắn chất bột cháy vào nhau bằng các ống tre; và năm 1044 một cuốn sổ tay quân sự mô tả một loại thuốc lửa bọc trong giấy hoặc ống tre và bắn bằng máy bắn đá. Tuy nhiên, vỏ thuốc súng vẫn còn kém hơn một vết chích, và trong khi nó khiến ngựa sợ hãi thì hiếm khi gây thương tích cho con người.

Hình 7.9. Đế chế chống quân phiệt: các phần của Trung Hoa khoảng năm 1000 gồm các quốc gia Tống, Khiết Đan và Tây Hạ. Các mỏ than chính của Trung Hoa được đánh dấu bằng những dấu chấm.

Do không có bước đột phá trong công nghệ, quân đội nhà Tống đương nhiên cần phải có thêm tiền. Sự trợ giúp đến từ những hướng không rõ ràng. Một là giới trí thức Trung Hoa. Sau cuộc nổi dậy của An Lộc Sơn làm đất nước này trở nên hỗn loạn vào năm 755, nhiều học giả nghi ngờ về nhiệt tâm của mọi thứ dính dáng đến bên ngoài mà họ nhìn thấy không cho Trung Hoa lợi lộc gì ngoài các tướng lĩnh người Turk và tình trạng mất trật tự. Xét lại toàn bộ thời kỳ năm thế kỷ kể từ khi nhà Hán sụp đổ, tầng lớp quý tộc tỉnh ngộ một điều là chính giai đoạn giao thoa với man di đã làm hư hỏng các giá trị truyền thống của Trung Hoa. Rồi họ cho rằng chính Phật giáo là đầu tàu của những điều xa lạ du nhập vào Trung Hoa đã làm xói mòn đất nước này.

Vào năm 819, Binh bộ thị lang Hàn Dũ (Han Yu) dâng lên Đường Hiến Tông bản Gián nghênh Phật cốt Biểu, can gián việc nghênh đón cốt Phật về thờ trong cung, bày tỏ sự kinh hoàng của ông khi bùng nổ một đám đông cuồng nhiệt đi theo đám rước cốt (được cho là của Đức Phật) từ một tu viện vào cung. Ông giãi bày: “Phật giáo không là gì ngoài một thứ tín ngưỡng của người man di.” Rồi quay lại thời kỳ Phật giáo hấp dẫn đất nước Trung Hoa, ông lập luận, “giới quan lại, do thiếu kiến thức, không hiểu được đường lối của các vị vua cổ đại và những nhu cầu cấp thiết của quá khứ và hiện tại, nên không thể thực hiện được chính sách minh triết của Hoàng thượng để cứu vãn thời kỳ suy đồi này.”❖ Mặc dù thời đó nền học thuật vẫn phát triển tốt. Giới trí thức đã học hỏi nền tư tưởng và hội họa của người xưa, và trên hết là thư pháp, do đó cứu vãn được đức hạnh cổ xưa để phụng sự đất nước. Hàn Dũ, người đã sáng tạo ra một thể văn mới nhằm tái dựng hào khí và tinh thần đạo đức cao của cổ nhân, cho rằng: “Văn chương phải chuyển tải được đạo lý” (Văn dĩ tải Đạo).

Phản ứng chống đối Phật giáo gây nhiều tranh cãi nhưng lại thuận lợi. Những tự viện Phật giáo tích lũy nhiều tài sản, nên khi Hoàng đế Đường Vũ Tông thẳng tay đàn áp Phật giáo vào những năm 840 – bắt tăng sĩ phải hoàn tục, đóng cửa chùa chiền và tước đoạt tài sản – thì những áp lực từ thâm hụt quốc khố có thể là động cơ thúc đẩy ông ta hơn là những bùng phát của giới sĩ phu. Sự bức hại chính thức đã gây xôn xao công luận như dưới đời Hán. Vẫn còn đến hàng triệu Phật tử, nhưng số người Trung Hoa nghi ngờ thứ tôn giáo được du nhập này còn nhiều hơn, và được tiếp thêm sinh lực bởi khả năng tìm ra lời giải cho những câu hỏi lớn mà Đức Phật đưa ra – Chân ngã là gì? Làm thế nào để hòa nhập với vũ trụ? – nằm ẩn sâu dưới những chiêm nghiệm giản dị trong những tác phẩm kinh điển Khổng giáo của họ.

Một phong trào Tân Nho (Tống Nho) lan rộng khắp tầng lớp sĩ phu, và trong giờ phút cấp bách của Trung Hoa, dưới áp lực của các tộc người Khiết Đan và Tây Hạ, những học giả thông thái nhất của đế triều đại đã bắt chước Khổng Tử theo lề lối nhập thế để khuyến nghị với nhà cai trị. Họ cho rằng phải quên đi khái niệm tái sinh và bất tử; chỉ hiện tiền mới là tất cả, và sự thỏa mãn phải xuất phát từ hoạt động trên cõi trần. Họ kết luận như sau: “Bậc quân tử chân chính phải là người đầu tiên bận tâm về những ưu phiền trên thế gian và là người cuối cùng tận hưởng những niềm vui của nó.”❖ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc).

Những nhà Tân Nho biến những ngành học cổ điển thành một chương trình để hoàn thiện xã hội. Họ khẳng quyết những người có kỹ năng về văn học và nghệ thuật để hiểu biết đúng đắn về nền văn hóa cổ xưa có thể áp dụng đức hạnh của cổ nhân để cứu vãn thế giới hiện đại. Chẳng hạn như Âu Dương Tu (Ouyang Xiu), thuở thiếu thời tình cờ đọc được văn tập của Hàn Dũ, sau đó khai sinh thể loại cổ phong độc đáo, nổi danh là một nhà thơ, sử gia và nhà sưu tập khí vật bằng kim loại có đến 2.000 năm tuổi, sau đó trở thành đại quan trong triều, đấu tranh cho những cải cách tài chính và quân sự.

Có đến hàng chục người tài năng ngang ngửa ra giúp đỡ nhà Tống, nhưng nhân vật đáng chú ý nhất là Vương An Thạch, một nhà sưu tập cổ văn hàng đầu, một trong bát đại gia nổi tiếng về văn chương thơ phú, đồng thời là tể tướng trong triều. Nhiều kẻ thù của Vương An Thạch (trong đó có cả Âu Dương Tu) đã gọi ông là người cay nghiệt và dơ bẩn đến kinh tởm, sau cùng ông bị giáng chức rồi chịu tội đi đày, nhưng những chính sách Biến pháp cấp tiến của ông – một phiên bản thế kỷ XI của Chính sách Kinh tế mới và Chính sách kinh tế của Reagan (Reaganomics) – đã đem lại một số thành quả thực sự. Vương An Thạch cắt giảm thuế nhưng tăng thu nhập bằng cách thu thuế công bằng hơn. Ông tài trợ cho các công trình công cộng quy mô lớn và kích thích tăng trưởng với phép thanh miêu (cho vay tiền khi lúa còn non), cho nông dân và thương nhân buôn bán nhỏ vay vốn. Ông cân đối ngân sách quốc gia bằng cách chuyển đổi quân lính chuyên nghiệp tốn kém thành lực lượng dân quân ít tốn kém hơn. Với các quan lại bảo thủ chống đối chính sách, ông lập tức cho thay người mới. Trong thi cử, ông đưa vào các môn kinh tế, địa lý, và luật lệ, thành lập thêm trường mới, và nâng lương cho những người trúng tuyển.

Dù phái Tân Nho đạt được những thành quả lớn lao như thế, nó vẫn không có ý nghĩa gì khi so với sự phát triển thứ hai đang cùng lúc diễn ra, một sự bùng nổ kinh tế đua tranh với thời kỳ bùng nổ của Đế quốc La Mã cổ đại. Thời kỳ Ấm Trung cổ là một món quà trên khắp mọi vùng ở Trung Hoa: trầm tích lòng hồ, thành phần hóa học của măng đá và tài liệu ngành dệt cho thấy miền Bắc nửa khô hạn lại có mưa nhiều, là điều mà những người nông dân mong muốn, trong khi miền Nam ẩm ướt lại ít mưa, lại cũng phù hợp với nông dân ở miền này. Dân số Trung Hoa đã lên đến khoảng 100 triệu người vào năm 1100.

Vào năm 1100, tất cả 37 loại lúa đề cập trong Tề dân yếu thuật đã được thay thế bằng các giống lúa có năng suất cao hơn, và nông dân thường làm đến ba vụ mùa mỗi năm trên những cánh đồng được tưới tiêu và bón phân bằng việc luân canh lúa và lúa mì. Mạng lưới đường bộ phát triển – đường sá trong thành phố, thậm chí ở vùng quê, được lát đá và đôi khi bằng gạch – tạo thuận lợi cho việc vận chuyển thóc lúa đến các bến cảng, và việc vận tải đường thủy được cải tiến đáng kể. Thợ đóng tàu Trung Hoa đã học hỏi các tính năng tốt nhất của tàu thuyền Ba Tư, Ả Rập và Đông Nam Á, đóng các thuyền mành đi biển loại lớn với những khoang kín nước, có đến 4 hay thậm chí 6 cột buồm, với một đội thủy thủ lành nghề với số lượng lên đến hàng nghìn. Chi phí vận chuyển thấp và các thương nhân tổ chức giao thương ở quy mô lớn. Theo một nhà văn ở thế kỷ XII kể lại như sau:

Sông và hồ kết nối với nhau, nhờ đó người ta có thể đi lại khắp nơi. Khi một chiếc thuyền rời cảng nhà thì việc lập kế hoạch hành trình đến một vạn [gần 5.000km] cũng không có trở ngại gì. Hằng năm, dân thường dùng phương tiện này buôn bán các loại ngũ cốc dư thừa để làm hạt giống và thực phẩm. Những thương nhân lớn thu thập thóc lúa từ các gia đình nông dân. Những chiếc thuyền nhỏ trở thành trung gian cho các tàu lớn hơn và tham gia vào các hoạt động kết nối, xuôi ngược sông hồ bán ngũ cốc để thu lợi nhuận.

Những người môi giới vận chuyển hầu như cũng quan trọng không kém gì thuyền bè, họ mua hàng hóa và lưu kho, cho vay, và điều chuyển tàu một cách nhanh chóng. Các giao dịch đều bằng tiền mặt, và do nền kinh tế phát triển nên chính phủ phải đúc thêm tiền đồng. Những nỗ lực quả cảm để tìm ra nguồn đồng mới (cùng việc làm giả chất lượng tiền đồng bằng cách pha thêm chì) đã đẩy sản lượng gia tăng từ 300 triệu tiền đồng vào năm 983 lên đến 1,83 tỉ vào năm 1007, nhưng cầu vẫn vượt cung.

Chính tham lam và lười biếng đã tiết kiệm được thời gian. Vào thế kỷ IX, khi nền giao thương trà bắt đầu bùng nổ và việc giám sát thương mại của nhà nước giảm đi, các thương nhân kinh doanh trà ở Tứ Xuyên liền mở đại lý tại Trường An, nơi họ có thể đổi tiền đồng bán trà để lấy tiền bay (một dạng tiền giấy). Khi trở về Tứ Xuyên, những thương nhân này lại đổi loại tiền giấy thành tiền đồng ở trụ sở chính của thương nghiệp. Với việc một túi tiền giấy có giá trị bằng 40 túi tiền đồng, thì mặt thuận lợi là hiển nhiên, và các thương nhân nhanh chóng sử dụng những tờ giấy này như tiền mặt. Họ cũng phát kiến ra một loại tiền tín thác, những chiếc thẻ có giá trị phụ thuộc vào sự tin cậy chứ không phải giá trị kim loại của nó. Năm 1024, nhà nước tiến thêm một bước hợp lý, in tiền giấy, và nhanh chóng phát hành nhiều tiền giấy hơn tiền đồng.⦾

Khi tiền giấy và tín phiếu thâm nhập vào nông thôn, việc trao đổi mua bán dễ dàng hơn, ngày càng nhiều nông dân trồng trọt những gì sinh lợi nhất trên mảnh ruộng của mình, bán đi để lấy tiền mặt, sau đó mua lại những thứ họ không sản xuất ra. Một nhà sư Phật giáo đã mô tả một chợ nhỏ ở một ngôi làng xa xôi khi ông tình cờ ngang qua:

Mặt trời buổi sáng chưa lên khỏi mặt hồ,

Những bụi gai trong khoảnh khắc trông như hàng thông.

Rặng cây già vươn cao trên vách đá dựng im lìm;

Vọng lại tiếng kêu sầu của loài khỉ vượn.

Lối mòn bỗng ngoặt, mở ra một thung lũng

Thấp thoáng một ngôi làng chốn mờ xa.

Lần theo dấu, tiếng la ó cười đùa,

Những nông dân lần lượt ngang qua để bắt kịp vài giờ trong buổi chợ.

Vô số túp lều và cửa hàng như mây.

Họ đem đến vải lanh và giấy dó,

Hay đẩy xe chở gà mái tơ và lợn con.

Chổi và giỏ rác xếp chồng lên nhau

Quá nhiều món vặt vãnh không kể hết.

Một người cao tuổi điều hành việc giao dịch bận rộn,

Và mọi người tôn trọng từng dấu hiệu nhỏ của ông.

Cẩn thận tỉ mỉ, ông so sánh

Các thước đo từng chiếc một,

Và từ tốn xoay trở chúng trong hai bàn tay.

Chợ búa vùng đô thị dĩ nhiên là rất lớn và thu hút nguồn cung ứng cho một nửa châu lục. Những thương nhân vùng Đông Nam Á nối kết cảng Tuyền Châu với Quần đảo Gia vị (Moluccan) của Indonesia và những vùng đất giàu có ở Ấn Độ Dương, và hàng nhập khẩu từ cảng này được phân phối đến mọi thành phố của đế chế. Để đổi lấy hàng hóa, các xưởng thủ công nghiệp gia đình sản xuất tơ lụa, đồ sứ, sơn mài và giấy, những xưởng nhỏ thành công nhất lại trở thành thương nghiệp lớn. Ngay cả dân quê cũng có thể mua những thứ trước kia vốn là đồ xa xỉ, như sách vở chẳng hạn. Vào thập niên 1040, hàng triệu cuốn sách tương đối rẻ được in ra từ các máy in bằng gỗ để đến tay người mua, thậm chí đến cả những người nghèo nhất. Tỉ lệ người biết chữ có thể sánh với Italy thời kỳ La Mã 1.000 năm trước đó.

Tuy nhiên, những thay đổi quan trọng nhất lại là ở ngành dệt may và than đá, vốn là những lĩnh vực hoạt động thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh vào thế kỷ XVIII. Công nhân dệt may ở thế kỷ XI đã phát kiến một loại máy dệt dùng bàn đạp, và vào năm 1313, trong cuốn Nông thư, Vương Chân đã mô tả một phiên bản máy xe sợi gai khá lớn, có thể dùng sức động vật hay sức nước để vận hành. Vương Chân ghi nhận rằng nó “rẻ gấp mấy lần so với việc dùng phụ nữ,” và “được dùng ở mọi vùng ở miền Bắc Trung Hoa, nơi sản xuất cây gai dầu.”❖ Vương Chân rất ấn tượng với cỗ máy kỳ diệu này đến mức ông tạm gián đoạn mô tả kỹ thuật của mình bằng một bài thơ:

Người quay tơ phải mất nhiều ngày để quay được một trăm cân,

Nhưng với sức nước, máy có thể thực hiện với tốc độ phi thường!…

Có một dây đai vận hành các bánh xe lớn, nhỏ;

Khi một bánh xe quay, những cái khác cùng quay với nó!

Những sợi thô được chuyện đều đặn từ các ống suốt,

Chỉ tự cuốn vào khung dệt!

So sánh thiết kế của máy dệt vải lanh của Pháp ở thế kỷ XVIII với thiết kế ở thế kỷ XIV của Vương Chân, nhà lịch sử kinh tế Mark Elvin buộc phải đi đến kết luận rằng “sự tương đồng giữa nó (máy dệt Pháp) với máy dệt của Vương [Chân] ấn tượng đến mức không cưỡng được những mối nghi ngờ về một nguồn gốc xuất xứ từ Trung Hoa của loại máy này.” Elvin kết luận: “máy dệt của Vương ít hiệu quả hơn máy Pháp, nhưng nếu nó cải tiến thêm chút nữa thì Trung Hoa thời Trung cổ hẳn đã có một cuộc cách mạng công nghiệp thật sự trong sản xuất hàng dệt may đi trước phương Tây hơn 400 năm.”❖

Không có số liệu thống kê nào về sản xuất và giá cả hàng dệt may vào thời Tống, do đó chúng ta không dễ kiểm chứng lý thuyết này, nhưng chúng tôi lại có thông tin về những ngành khác. Các bản khai thuế cho thấy sản lượng sắt tăng gấp sáu lần từ năm 800 đến 1078, lên đến khoảng 125.000 tấn – hầu như bằng toàn bộ sản lượng sắt châu Âu sản xuất vào năm 1700.⦾

Các xưởng làm đồ sắt tập trung xung quanh thị trường chính, thành phố Khai Phong một-triệu-dân, nơi sắt được dùng để rèn vũ khí cho nhu cầu của quân đội (cũng như cho những mục đích sử dụng khác). Thành phố Khai Phong được chọn làm kinh đô do nằm gần Đại Vận Hà nên dễ vận hành công việc. Thành phố này thiếu bề dày lịch sử, những đại lộ với hàng cây xanh và những cung điện duyên dáng của các kinh đô cũ, và cũng không gây được thi hứng để sáng tạo những tác phẩm thi ca tuyệt vời, nhưng vào thế kỷ XI, nó đã trở thành một đô thị đông đúc, hỗn loạn và sôi động. Những quán rượu nhiệt náo phục vụ rượu đến sáng,⦾ 50 nhà hát thu hút hàng nghìn khán giả, và các cửa hàng thậm chí tràn ra cả một đại lộ lớn trong thành phố. Bên ngoài những bức tường thành, các lò đúc đỏ lửa cả ngày lẫn đêm, những nhà máy độc địa tỏa ra toàn khói và lửa, nuốt trọng hàng chục nghìn cây cối để luyện quặng thành sắt – quả thực những xưởng sản xuất đồ sắt đã mua nhiều cây đến nỗi toàn bộ những ngọn núi bị đốn sạch, đẩy giá than vượt quá tầm với của dân thường. Hàng trăm người dân Khai Phong rét cóng đã bị giẫm đạp trong các cuộc khủng hoảng nhiên liệu vào năm 1013.

Khai Phong dường như đang rơi vào nút cổ chai sinh thái. Đơn giản là vì miền Bắc Trung Hoa không còn đủ gỗ để nuôi sống và làm ấm hàng triệu con người và giữ cho các xưởng đúc tiếp tục sản xuất ra hàng nghìn tấn sắt. Điều đó chỉ đưa lại hai giải pháp chọn lựa: con người và/hoặc các ngành công nghiệp để mặc cho số phận đẩy đưa, hay ai đó có thể cải cách và tìm ra một nguồn nhiên liệu mới.

Homo sapiens luôn tồn tại bằng cách khai thác thực vật và động vật để làm thức ăn, quần áo, nhiên liệu và nơi trú ẩn. Qua nhiều thời kỳ, con người trở thành những kẻ ăn bám hiệu quả hơn nhiều, chẳng hạn như người dân của các đế chế Hán và La Mã ở những thế kỷ đầu tiên đã tiêu thụ năng lượng gấp 7 đến 8 lần tổ tiên của họ ở Thời đại Băng hà vất vả đào bới suốt 14.000 năm trước đó⦾. Người Hán và người La Mã cũng học cách khai thác gió và sóng để đi thuyền, vượt xa những gì thực vật và động vật đáp ứng cho họ, và tận dụng sức nước để vận hành máy móc. Ngoài ra những người dân giá lạnh gây rối loạn ở thành Khai Phong vào năm 1013 cơ bản vẫn còn ăn được các sinh vật khác, đứng cao hơn trong Chuỗi Năng lượng Lớn so với những người săn bắt-hái lượm Thời kỳ Đồ đá.

Chỉ trong một vài thập niên bắt đầu thay đổi, những xưởng sản xuất đồ sắt ở thành Khai Phong trở thành những nhà cách mạng không chủ tâm. Một ngàn năm trước đó, dưới thời kỳ triều đại nhà Hán, một số người Trung Hoa đã khai thác than và khí đốt, nhưng những nguồn năng lượng này ít có ứng dụng rõ ràng. Chỉ đến bây giờ, với những xưởng rèn cạnh tranh với hộ gia đình về nhiên liệu mà các nhà công nghiệp đã mở toang cánh cửa giữa nền kinh tế hữu Cơ cổ đại và thế giới của nhiên liệu hóa thạch mới. Khai Phong nằm gần hai mỏ than lớn nhất Trung Hoa (Hình 7.9) và tiếp cận dễ dàng thông qua Hoàng Hà, vì vậy không cần đòi hỏi phải là thiên tài – chỉ cần lòng tham, sự liều lĩnh, rồi thử nghiệm cùng những sai sót – thì rồi cũng tìm ra cách sử dụng than thay vì chỉ dùng nó để nấu chảy quặng sắt. Điều này cũng đòi hỏi vốn liếng và sức lao động để xác định, đào bới và di chuyển than, giúp giải thích lý do tại sao các doanh nhân (có nguồn lực dồi dào) chứ không phải hộ gia đình (thiếu nguồn lực) lại là những người đi đầu.

Một bài thơ viết khoảng năm 1080 cho thấy ý nghĩa của sự chuyển hóa. Khổ thơ đầu tiên mô tả một phụ nữ khát khao nhiên liệu đến nỗi phải bán mình đổi lấy củi đốt; khổ thơ thứ hai, một mỏ than đang đến giải cứu; khổ thứ ba, một lò luyện sắt lớn; và khổ thứ tư, niềm vui khi giờ đây có bánh để ăn: có thể rèn kiếm sắt và rừng sẽ tồn tại.

Bạn không nhìn thấy cô ấy sao,

Mùa đông năm ngoái, khi những khách du lịch dừng chân vì mưa, tuyết

Và nắm xương người dân đô thị bị gió cuốn đi?

Với nửa bó củi ẩm, “đưa cô lên giường vào lúc bình minh”

Lúc hoàng hôn cô gõ cửa, nhưng không ai muốn trao đổi của cô.

Ai nghĩ rằng nơi những ngọn núi xa ẩn tàng một kho báu,

Chất đống, như đồ đá quý đen tuyền, 10.000 xe than.

Tràn trề ban ân sủng, không ai biết đến.

Luồng hơi tồi tệ – thoát ra từ ống bễ – tản mác bay đi;

Một khi bắt đầu thực hiện, [sản xuất] rộng lớn vô hạn.

Mười nghìn người nỗ lực, 1.000 giám sát.

Đổ quặng vào chất lỏng khuấy đục để bóng ngời hơn,

Dòng ngọc và vàng nấu chảy, uy lực mạnh mẽ của nó.

Ở núi Nam, rừng hạt dẻ bây giờ dễ thở;

Ở núi Bắc, không cần gõ quặng cứng.

Họ sẽ rèn cho bạn một thanh gươm trăm lần tinh luyện,

Để thỏa thích chém tên cướp thành trăm mảnh.

Lượng than và sắt cùng gia tăng. Theo tài liệu dẫn chứng rõ ràng, một xưởng đúc ở Tề Thôn trấn (Qicunzhen) mỗi năm đã sử dụng đến 3.000 công nhân để xúc 35.000 tấn quặng và 42.000 tấn than đổ vào lò, thu hoạch được 14.000 tấn kim loại. Vào năm 1050, than được khai thác quá nhiều khiến các hộ gia đình cũng sử dụng, và khi chính phủ kiểm tra việc cứu tế người nghèo vào năm 1098, thì than là nhiên liệu duy nhất các quan chức nhắc đến. Từ năm 1102 đến 1106, ở Khai Phong có đến 20 chợ than mới được mở.

Vào lúc đó, phát triển xã hội ở phương Đông đã ngang bằng đỉnh cao đạt được ở Đế quốc La Mã cổ đại một thiên niên kỷ trước đó. Còn phương Tây, do sự tách biệt giữa vùng lõi Islam giáo và vùng ngoại vi Ki-tô giáo, bây giờ tụt lại phía sau, và mức độ phát triển xã hội không còn xứng hợp nữa cho mãi đến thế kỷ XVIII, vào đêm trước cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh. Trên thực tế, mọi chỉ dấu đều cho thấy một cuộc cách mạng công nghiệp Trung Hoa đã được ấp ủ từ trong những bức tường bám bồ hóng đen kịt ở Khai Phong và biến vị trí dẫn đầu của một phương Đông rộng lớn về phát triển xã hội thành sự thống lĩnh của phương Đông. Lịch sử dường như đang di chuyển theo con đường dẫn Hoàng thân Albert đến Bắc Kinh thay vì chú chó Looty đến Balmoral.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.