Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I - 1 Trước thời kỳ Đông và Tây
Phương Tây là gì?

❊ ❊ ❊

Samuel Johnson phát biểu như sau: “Khi một người mỏi mệt vì thành phố London, rõ ràng anh ta đã mỏi mệt với cuộc sống, vì ở London có đủ mọi thứ mà cuộc sống có thể đáp ứng.”❖ Đó là vào thời điểm năm 1777, và mỗi luồng tư tưởng, mỗi phát minh rực rỡ đều nhằm tiếp thêm sinh lực cho quê hương của Dr. Johnson. London có nhà thờ và cung điện, công viên và sông ngòi, biệt thự và khu nhà ổ chuột; nhưng trên hết, nó có mọi thứ để mua sắm – những vật dụng vượt ngoài trí tưởng tượng hoang đường nhất ở các thế hệ trước đó. Những quý bà và quý ông thanh lịch có thể rời xe ngựa bên ngoài những vòm che mới mẻ trên đường Oxford để tìm kiếm các sản phẩm mới lạ như chiếc ô, một phát minh ở thập niên 1760 mà người Anh sớm đánh giá là không thể thiếu; hay túi xách, hoặc kem đánh răng, cả hai sản phẩm ra đời trong cùng một thập niên. Và không phải chỉ những người giàu có mới tự cho phép mình hưởng thụ nền văn hóa tiêu thụ mới mẻ này. Những người bảo thủ kinh hoảng khi thấy các thương nhân bỏ ra hàng giờ trong quán cà phê, người nghèo thì gọi trà là nhu cầu thiết yếu,❖ và các bà vợ nông dân thì sắm đàn piano.

Người Anh bắt đầu cảm thấy mình không giống các dân tộc khác. Năm 1776, nhà thông thái người Scotland, Adam Smith, đã gọi đó là “một đất nước của những chủ cửa hàng” trong cuốn Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (Khảo về bản chất và nguyên nhân sự thịnh vượng của các quốc gia), với ý khen ngợi; Smith cho rằng người Anh xem hạnh phúc của mình chính là làm cho mọi người trở nên giàu có hơn. Ông nói chỉ cần nghĩ về sự tương phản giữa nước Anh và Trung Hoa. Trung Hoa từng là “một trong những đất nước thịnh vượng nhất, nghĩa là một trong những quốc gia có đất đai màu mỡ, trồng trọt tốt nhất, người dân cần cù siêng năng và đông đúc nhất trên thế giới,” nhưng đã “đạt đến trọn vẹn mọi sự phong nhiêu trong giới hạn mà các quy luật và thể chế của nó cho phép.” Người Trung Hoa, tóm lại, đã bị mắc kẹt. Smith dự đoán: “Sự cạnh tranh của giới lao động và quyền lợi của các ông chủ chẳng sớm thì muộn sẽ kéo giảm họ xuống mức thấp nhất phù hợp với tính đồng nhất của nhân loại,” kết quả là “sự nghèo khổ của tầng lớp thấp ở Trung Hoa đến nay vẫn vượt trội sự nghèo khổ của các nước nghèo nhất ở châu Âu… Bất kỳ con vật kinh tởm nào, xác chó mèo chẳng hạn, mặc dù sắp phân hủy và bốc mùi, vẫn được người Trung Hoa đón nhận như cách người dân các quốc gia khác đón nhận loại thực phẩm lành mạnh nhất.”❖

Johnson và Smith đều có chung một ý. Mặc dù cuộc cách mạng công nghiệp chỉ mới bắt đầu vào thập niên 1770, thu nhập trung bình ở Anh đã cao hơn ở Trung Hoa và được phân bổ đều hơn. Những lý thuyết về sự tất định dài hạn đối với sự vượt trội của phương Tây thường bắt đầu từ thực tế này: họ cho rằng sự dẫn đầu của phương Tây là một căn nguyên chứ không phải hệ quả của cuộc cách mạng công nghiệp và chúng ta cần phải nhìn lại đủ xa – có lẽ phải rất xa – để giải thích điều này.

Hay chúng ta cũng nhìn nhận như thế: Nhà sử học Kenneth Pomeranz, tôi có đề cập đến cuốn Sự phân rẽ vĩ đại của ông trong phần giới thiệu, nhấn mạnh rằng Adam Smith và tất cả những người cổ động cho phương Tây theo ông ta, hiển nhiên đã đối chiếu sai lầm. Pomeranz chỉ ra rằng Trung Hoa vừa rộng lớn vừa đa dạng như toàn bộ lục địa châu Âu. Vậy thì chúng ta cũng đừng nên quá ngạc nhiên khi chọn nước Anh, vùng đất phát triển nhất châu Âu ở thời Smith, và so sánh đất nước này với mức phát triển trung bình của cả Trung Hoa, và dĩ nhiên nước Anh phải đạt điểm cao hơn. Tương tự như thế, nếu chúng ta chuyển sang so sánh đồng bằng sông Dương Tử (phần phát triển nhất của Trung Hoa vào thập niên 1770) với mức độ phát triển trung bình trên khắp châu Âu thì đồng bằng sông Dương Tử sẽ đạt điểm cao hơn. Pomeranz cho rằng nước Anh ở thế kỷ XVIII và đồng bằng sông Dương Tử có nhiều điểm tương đồng hơn (nền công nghiệp phôi thai, thị trường đang bùng nổ tăng trưởng, sự phân chia lao động phức tạp) nếu so nước Anh với các khu vực kém phát triển châu Âu hoặc vùng đồng bằng sông Dương Tử với các khu vực kém phát triển ở Trung Hoa – tất cả những điều trên dẫn ông đến kết luận rằng các lý thuyết gia dài hạn đã đảo lộn mọi thứ do suy nghĩ của họ vẫn còn tùy tiện. Pomeranz nhận xét rằng nếu ở thế kỷ XVIII, nước Anh và vùng đồng bằng sông Dương Tử giống nhau đến thế, thì lời giải thích cho sự vượt trội của phương Tây phải nằm sau mốc thời gian này, chứ không phải trước đó.

Có một hàm ý rất rõ ràng: nếu muốn biết lý do phương Tây vượt trội, trước tiên chúng ta cần phải biết phương Tây là gì. Dù vậy, ngay khi chúng tôi đặt ra câu hỏi đó, mọi thứ lại trở nên hỗn độn. Hầu hết chúng ta đều có cảm giác mơ hồ về điều gì đã cấu thành phương Tây. Một số người cho là nền dân chủ và tự do; một số khác quy cho Ki-tô giáo; số khác vẫn gán cho chủ nghĩa duy lý muôn đời. Trong thực tế, nhà sử học Norman Davies đã tìm ra không dưới 12 định nghĩa về phương Tây của các học giả, cho rằng nó chỉ gắn kết bởi thứ mà ông gọi là địa lý co giãn.❖ Mỗi định nghĩa cho phương Tây một dạng hình khác nhau, tạo ra thứ lộn xộn mà Pomeranz than phiền. Theo Davies, phương Tây “có thể được định nghĩa với những người ủng hộ nó theo bất kỳ cách nào mà họ cho là phù hợp,” nghĩa là nếu chúng ta hiểu đúng, thì “nền văn minh phương Tây thực chất là một hỗn hợp các cấu trúc hiểu biết được thiết kế nhằm thu lấy lợi ích của các tác giả.”

Nếu điều Davies nói là đúng, thì việc đặt câu hỏi tại sao phương Tây vượt trội chẳng có ý nghĩa gì ngoài việc tùy tiện nhặt nhạnh một giá trị nào đó để định nghĩa phương Tây rồi khẳng định một tập hợp cụ thể các quốc gia minh họa cho giá trị này, sau đó đối chiếu tập hợp đó với một tập hợp cụ thể các quốc gia phi-phương Tây để đạt được bất kỳ kết luận nào phục vụ cho điều chúng ta muốn. Nếu có ai không đồng ý với kết luận của chúng ta, họ đơn giản chỉ chọn một giá trị khác để khắc họa căn tính phương Tây và một tập hợp đối sánh khác để minh họa nó, tất nhiên cũng sẽ đưa đến một kết luận khác cùng mang tính phục vụ cho ý đồ của riêng họ.

Việc làm này hẳn là vô nghĩa, vì vậy tôi muốn có một cách tiếp cận khác. Thay vì bắt đầu ở đoạn cuối tiến trình, tôi sẽ khởi sự ngay từ đầu bằng cách đưa ra những giả định về những gì được cho là những giá trị phương Tây rồi sau đó ngược dòng thời gian để tìm nguồn gốc của chúng. Tôi sẽ chuyển thời gian về phía trước, từ lúc khởi đầu cho đến khi chúng ta đạt đến một điểm mà ở đó chúng ta có thể thấy được những lối sống đặc thù xuất hiện tại những phần đất khác nhau trên thế giới. Sau đó tôi sẽ gọi vùng cực tây của các khu vực đặc biệt này là phương Tây và vùng cực đông là phương Đông, nghiên cứu phương Tây và phương Đông về những gì chúng vốn là – theo các nhãn hiệu địa lý chứ không phải những phán đoán về mặt giá trị.

Việc cho rằng chúng ta phải bắt đầu từ khởi nguyên là một lẽ; tìm ra nó lại là một việc hoàn toàn khác. Như chúng ta sẽ thấy, có một số quan điểm trong quá khứ, theo đó, các học giả bị lôi cuốn bởi việc định nghĩa phương Đông và phương Tây về mặt sinh vật học, bác bỏ lập luận của tôi ở phần giới thiệu, rằng con người (ở các nhóm chủng tộc lớn) tất cả đều như nhau và thay vào đó, xem dân tộc ở một khu vực của thế giới có sự vượt trội mang tính di truyền cao hơn những dân tộc khác. Cũng có những quan điểm kết luận một cách dễ dãi rằng từ xa xưa đã có một khu vực vượt trội về mặt văn hóa so với tất cả những vùng khác. Chúng ta phải xem xét cẩn thận những ý tưởng này bởi vì nếu vấp phải sơ sót ở đây ngay từ đầu chúng ta cũng sẽ vấp phải sai lầm về tất cả dạng hình của quá khứ, và do đó cũng dẫn đến sai lầm về dạng hình của tương lai.

Khởi nguyên

Mỗi nền văn hóa đều có câu chuyện riêng về khởi nguyên để kể lại, nhưng trong vài năm gần đây các nhà vật lý thiên văn đã cho chúng ta một số phiên bản có tính khoa học mới. Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng thời gian và không gian đã khởi đầu hơn 13 tỉ năm trước, mặc dù họ chưa thống nhất về sự nảy sinh của chúng. Lý thuyết lạm phát vượt trội cho rằng vũ trụ ban đầu mở rộng nhanh hơn tốc độ ánh sáng từ một điểm nhỏ vô cùng đặc và nhỏ bé, trong khi lý thuyết tuần hoàn đối nghịch lại cho rằng nó đã bùng nổ khi một vũ trụ trước đó đổ sụp. Cả hai trường phái đều đồng thuận rằng vũ trụ của chúng ta vẫn đang mở rộng, nhưng trong khi các nhà khoa học theo thuyết lạm phát cho rằng nó sẽ tiếp tục phát triển và các ngôi sao ngày một di chuyển xa ra, và sau cùng là sự tối tăm và lạnh giá ngự trị, thì những người theo thuyết tuần hoàn tuyên bố nó sẽ tự co lại rồi nổ tung để khởi đầu cho một vũ trụ mới.

Các lý thuyết này rất khó hiểu trừ khi bạn đã học môn toán cao cấp trong nhiều năm, nhưng may là chủ đề này không yêu cầu chúng ta lần về thời điểm khởi nguyên xa xưa như vậy. Lúc đó hẳn không có phương Đông hay phương Tây khi chưa có phương hướng cũng như các quy luật tự nhiên vẫn chưa hiện hữu. Khái niệm phương Đông và phương Tây cũng chẳng hữu ích gì trước khi mặt trời và hành tinh của chúng ta hình thành vào 4,5 tỉ năm trước. Chúng ta chỉ có thể nói về phương Đông và phương Tây một khi lớp vỏ trái đất hình thành, hay ít nhất một khi các lục địa đã nằm ở vị trí hiện tại, từ vài triệu năm trước. Dù sao, mọi tranh luận này đều nằm ngoài vấn đề: Đông và Tây không hề có ý nghĩa gì đối với câu hỏi đặt ra trong cuốn sách này nếu chúng ta không thêm vào một thành tố khác – đó là con người.

Những nhà cổ nhân loại học chuyên nghiên cứu về con người thời nguyên thủy đều thích tranh cãi, thậm chí hơn cả các sử gia. Lĩnh vực của họ còn non trẻ và vận động nhanh, đồng thời những phát hiện mới liên tục làm thay đổi lý thuyết của họ. Nếu bạn để hai nhà cổ nhân loại học vào chung một căn phòng, họ có thể bước ra với ba lý thuyết về sự tiến hóa của con người, và khi cánh cửa vừa đóng lại đằng sau họ thì mớ lý thuyết đó đã lỗi thời.

Ranh giới giữa con người và người tiền sử rõ ràng là mờ nhạt. Một số nhà cổ nhân loại học thì cho rằng khi trông thấy loài vượn có thể đi thẳng thì chúng ta mới nên bắt đầu nói về con người. Khảo sát từ các mẫu xương hông và xương ngón chân hóa thạch, ta thấy một số loài vượn châu Phi đã bắt đầu thực hiện điều này cách đây 6 hoặc 7 triệu năm. Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng việc lấy điều này làm chuẩn mực thì còn quá thấp, và những phân loại sinh học chuẩn mực xác định chi Homo (con người – tiếng Latin) bằng cách quy vào sự gia tăng kích thước bộ óc từ 400-500cm3 đến 630cm3 (thông thường bộ óc của chúng ta lớn gấp đôi) đối với chứng cứ đầu tiên khi loài vượn đứng thẳng đập những viên đá vào nhau để tạo ra các công cụ thô sơ. Cả hai quá trình đều khởi đầu khi xuất hiện loài vượn Đông Phi đi bằng hai chân khoảng 2,5 triệu năm trước. Louis và Mary Leakey, hai nhà khảo cổ nổi tiếng khai quật di chỉ khảo cổ Olduvai Gorge ở Tanzania (Hình 1.1), đặt tên cho những sinh vật biết sử dụng công cụ và có bộ óc tương đối lớn này là Homo habilis (con người khéo léo – tiếng Latin). (Mãi đến gần đây, các nhà cổ nhân loại học, cũng như hầu hết mọi người, không nghĩ đến việc dùng từ man [người] cho cả hai giới tính, nay thì điều đó là hiển nhiên, nhưng theo quy ước, các nhà khoa học vẫn dùng để chỉ một giới tính, như Handy Man chẳng hạn).

Hình 1.1. Trước thời kỳ ĐôngTây được minh định, các địa điểm ở Cựu Thế giới được đề cập ở chương này.

Đầu tiên, Đông và Tây không có ý nghĩa gì khi những Homo habilis còn bước đi lang thang trên trái đất do toàn bộ những sinh vật này đều sinh sống trong phạm vi các khu rừng ở Đông Phi, và chưa có những biến thể nào của chúng phát triển ở những khu vực khác, thứ hai, do cụm từ bước đi trên trái đất thực sự quá hào phóng. Con người khéo léo dù có ngón chân và mắt cá chân giống với chúng ta, và chắc chắn đã bước đi được, nhưng những cánh tay dài cho thấy họ cũng dành nhiều thời gian trên cây.

Đây là những con vượn khác thường, nhưng thế cũng chưa đủ. Dấu vết các công cụ bằng đá của chúng lưu lại trên xương động vật cho thấy Homo habilis vừa ăn thịt động vật vừa ăn thực vật, nhưng dường như tỉ lệ chuỗi thức ăn động vật còn khá thấp. Một số nhà cổ nhân loại học thì bảo vệ lý thuyết con-người-săn-mồi, xem Homo habilis là đủ thông minh và can đảm để giết thú săn bằng gậy và đá ghè, nhưng những người khác (có vẻ thuyết phục hơn) xem Homo habilis thuộc chi ăn-xác-thối, theo sau những động vật ăn thịt thực sự (như sư tử) để ăn những thứ chúng để lại. Các nghiên cứu bằng kính hiển vi cho thấy dấu hiệu các công cụ của Con người khéo léo trên xương động vật ít nhất cũng trước dấu răng linh cẩu.

Trong 25.000 thế hệ, Con người khéo léo đi lại và chuyền cành qua các ngọn cây tại một góc nhỏ của thế giới, đẽo các công cụ bằng đá, chải chuốt cho nhau và giao phối. Sau đó, khoảng 1,8 triệu năm trước, chúng biến mất. Cho đến nay chúng ta có thể nói điều này xảy ra khá đột ngột, dù một trong những vấn đề đối với việc nghiên cứu sự tiến hóa của con người là sự khó khăn trong việc định niên đại chính xác. Phần lớn thời gian chúng ta dựa vào thực tế các lớp đá có chứa xương hay công cụ hóa thạch cũng có thể chứa các đồng vị phóng xạ không ổn định có tỉ lệ phân hủy được biết đến để đo tỉ lệ giữa các đồng vị giúp phát hiện niên đại. Tuy nhiên, những niên đại này có thể có độ dung sai lên đến hàng chục nghìn năm, vì thế khi chúng ta nói rằng thế giới của Homo habilis đột nhiên kết thúc, thì đột nhiên ở đây có thể là vài đời hay vài nghìn đời.

Khi Charles Darwin nghĩ đến chọn lọc tự nhiên vào những thập niên 1840 và 1850, ông cho rằng nó vận hành thông qua sự phát triển chậm từ những biến đổi nhỏ nhặt, nhưng vào thập niên 1970 nhà sinh vật học Stephen Jay Gould lại đề xuất giả thuyết cho rằng trong một thời kỳ dài không xảy ra nhiều đột biến, thế rồi một sự cố nào đó gây ra một loạt các biến đổi. Hiện nay các nhà tiến hóa luận chia thành hai trường phái, thuyết biến đổi dần dần (các nhà phê bình gọi là tiến hóa từ từ) hay thuyết cân bằng đột ngột❖ của Gould (tiến hóa đột ngột), không biết mô hình chung nào đúng hơn, nhưng mô hình sau có vẻ giải thích được sự biến mất của Homo habilis. Khoảng 1,8 triệu năm trước, khí hậu Đông Phi khô hơn và các vùng thảo nguyên trần trụi đã thế chỗ các khu rừng nơi Homo habilis sinh sống, và chỉ ở thời điểm đó mới có các loài vượn người⦾ thế chỗ Con người khéo léo.

Tôi muốn tránh việc đặt tên cho loài vượn người mới này, và trong lúc này chỉ nêu ra rằng họ có bộ não lớn hơn Homo habilis, điển hình là khoảng 800cm3. Họ thiếu những cánh tay dài giống loài tinh tinh của Homo habilis, có lẽ điều này cho thấy họ đã sinh sống hầu hết thời gian trên mặt đất. Loài này cũng cao hơn. Một bộ xương khoảng 1,5 triệu năm tuổi ở Nariokotome, Kenya, được đặt tên Turkana Boy, thuộc về một đứa trẻ cao khoảng 1,5m mà nếu có thể sống tới tuổi trưởng thành, nó có thể cao tới 1,8m. Xương của hóa thạch này không những dài hơn mà còn ít thô hơn của Homo habilis, điều này cho thấy vượn-người hóa thạch này và đồng loại sống dựa nhiều vào trí thông minh và công cụ hơn là sức mạnh mang tính thú vật.

Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng trí thông minh hiển nhiên là tốt. Vậy điều gì xảy ra nếu Homo habilis có khả năng biến đổi theo hướng này, liệu họ có lang thang suốt nửa triệu năm trước khi đột ngột biến thành những sinh vật cao hơn với bộ óc lớn hơn? Giải thích khả dĩ nhất nằm ở thực tế là không có cái gì gọi là bữa trưa miễn phí.⦾ Một bộ não lớn khó chạy bền. Bộ não của chúng ta thường chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng sử dụng đến 20% mức năng lượng tiêu thụ. Những bộ não lớn cũng tạo ra những vấn đề khác: cần một hộp sọ lớn để chứa bộ não lớn – lớn đến nỗi trong thực tế phụ nữ hiện đại gặp rắc rối khi rặn trẻ sơ sinh đầu to xuống ống tử cung. Phụ nữ gặp trường hợp này thường cho sinh non. Nếu đứa trẻ ở trong bụng mẹ cho đến khi chúng gần như tự chui ra ngoài (như những loài động vật có vú khác), đầu của chúng sẽ quá lớn để chui được ra ngoài.

Tuy vậy việc sinh đẻ gặp nguy cơ cao, nhiều năm nuôi dưỡng, và một bộ não lớn đốt cháy một phần năm lượng thức ăn của chúng ta vẫn tốt hơn việc sử dụng cùng một mức năng lượng để phát triển cơ bắp cánh tay hay hàm răng lớn. Sự thông minh chiếm nhiều ưu thế hơn so với bất kỳ lựa chọn nào khác. Song, không rõ tại sao một đột biến di truyền khoảng vài triệu năm trước lại sản sinh những bộ não lớn hơn lại tạo ra những thuận lợi đủ để loài vượn người có thể làm tiêu hao năng lượng xứng đáng. Nếu việc thông minh hơn không có lợi ích gì đủ để bù đắp năng lượng cho việc hỗ trợ các chất xám này thì loài tinh tinh khôn khéo hẳn nhiên sẽ đạt thành tựu ít hơn so với những họ hàng câm của chúng, và gen thông minh của chúng sẽ nhanh chóng biến mất khỏi quần thể.

Có lẽ chúng ta nên đổ lỗi cho thời tiết. Khi những cơn mưa khan hiếm dần và cây cối nơi loài vượn người sinh sống bắt đầu héo khô, những giống đột biến có đầu óc hơn và có lẽ sống cộng đồng hơn có khả năng đạt lợi thế sinh tồn hơn những loài họ hàng nhà khỉ. Thay vì rút về những vùng đồng cỏ, loài vượn người khéo léo này đã tìm ra những phương cách để tồn tại trên vùng đất đó, và chỉ trong chớp mắt (tính theo các giai đoạn thời gian tiến hóa), một nhóm đột biến lan truyền gen của chúng qua các nhóm khác và thay thế hoàn toàn loài Homo habilis trì độn có kích thước nhỏ bé và chỉ thích sống trong rừng rậm.

Khởi nguyên của Đông và Tây?

Bất kể vì lý do phạm vi chỗ ở của chúng trở nên chật chội, hay các quần thể luôn cãi nhau ầm ĩ, hoặc chỉ vì tò mò, thì loài vượn người mới mẻ này cũng là những sinh vật đầu tiên rời Đông Phi. Xương của chúng được tìm thấy khắp nơi, từ mũi phía nam của lục địa đến bờ Thái Bình Dương của châu Á. Dẫu vậy, chúng ta không nên hình dung theo kiểu những làn sóng di dân vĩ đại trong một bộ phim cao bồi; chắc chắn chúng hầu như không ý thức được những gì đang làm, và việc vượt qua những khoảng cách rộng lớn này thậm chí còn đòi hỏi nhiều thời gian hơn thế. Từ Olduvai Gorge đến Cape Town ở Nam Phi là cả một chặng đường dài – hơn 3.000km – nhưng để phủ đầy vùng đất này trong hàng trăm nghìn năm (khoảng thời gian biểu kiến) loài vượn người chỉ cần, tính bình quân, mở rộng phạm vi tìm kiếm thức ăn khoảng 32m mỗi năm. Việc trôi dạt về phía bắc theo cùng tốc độ cũng đưa họ đến ngưỡng cửa châu Á, và vào năm 2002 các nhà khảo cổ ở Dmanisi thuộc Cộng hòa Georgia đã tìm thấy một sọ người có niên đại 1,7 triệu năm tuổi kết hợp các đặc tính của Homo habilis và loài vượn người mới. Những công cụ bằng đá ở Trung Hoa và xương hóa thạch ở Java (thời kỳ đó vẫn còn gắn liền với lục địa châu Á) có thể cũng cùng niên đại, cho thấy sau khi rời châu Phi, loài vượn người đã tăng tốc, tiến bước bình quân 128m mỗi năm.⦾

Thực tế chúng ta chỉ có thể mong muốn phân biệt được lối sống của loài vượn người ở phương Đông và phương Tây sau khi rời Đông Phi, trải rộng qua các vĩ độ ấm áp, cận nhiệt đới đến tận Trung Hoa; và những gì chúng ta phát hiện là một sự khác biệt Đông-Tây. Có những mẫu hình phương Đông và phương Tây rõ ràng cách đây khoảng 1,6 triệu năm trong hồ sơ khảo cổ học. Tuy nhiên, câu hỏi là liệu những sự tương phản này có đủ quan trọng để chúng ta có thể hình dung được những lối sống khác nhau ẩn chứa phía sau hay không.

Các nhà khảo cổ đã biết đến những khác biệt Đông-Tây này từ thập niên 1940 khi nhà khảo cổ học Hallam Movius thuộc Đại học Harvard nhận thấy xương của loài vượn người khôn khéo mới này thường được tìm thấy cùng với các loại công cụ bằng đá (mảnh tước). Các nhà khảo cổ gọi công cụ nổi bật nhất trong các công cụ này là rìu tay Acheulean (gọi là rìu vì chúng giống đầu rìu, dù rõ ràng chúng được sử dụng để cắt, chọc, nghiền và chặt; tay là do chúng được cầm bằng tay, thay vì được gắn vào đầu gậy, và Acheulean lấy theo tên thị trấn nhỏ St. Acheul ở Pháp, nơi lần đầu tiên chúng được tìm thấy với số lượng lớn). Việc xem các công cụ này là những công trình nghệ thuật có thể hơi quá, nhưng sự đối xứng đơn giản của chúng thường đẹp hơn các mảnh tước thô và công cụ để chặt của Con người khéo léo. Movius nhận thấy rằng trong khi rìu tay Acheulean phổ biến ở châu Phi, châu Âu, và Tây Nam Á, thì không thấy xuất hiện ở Đông hay Đông Nam Á. Thay vào đó, các di chỉ ở phương Đông chỉ có các công cụ thô hơn giống như những phát hiện tiền Acheulean gắn với Homo habilis ở châu Phi.

Hình 1.2. Khởi nguyên của Đông và Tây? Bản đồ này biểu thị Tuyến Movius, trong khoảng một triệu năm đã tách biệt các nền văn hóa rìu tay ở phía Đông với văn hóa mảnh tước ở phía Tây.

Nếu cái gọi là Tuyến Movius (Hình 1.2.) thực sự đánh dấu sự khởi đầu các lối sống khác biệt giữa Đông và Tây, nó cũng có thể cung cấp một lý thuyết chốt khóa dài hạn đáng ngạc nhiên – chúng ta dễ có cảm giác là hầu như sau khi loài vượn người rời châu Phi, họ phân rẽ thành những nền văn hóa rìu tay Acheulean/công nghệ tiên tiến/thuộc phương Tây ở châu Phi và Tây Nam Á, và các nền văn hóa mảnh tước/công nghệ ít tiên tiến/thuộc phương Đông ở vùng Đông Á; và sẽ không lạ gì khi chúng ta có thể đi đến kết luận về lý do ngày nay phương Tây vượt trội: phương Tây đã dẫn đầu thế giới về mặt công nghệ đến 1,5 triệu năm.

Tuy nhiên, việc xác định Tuyến Movius dễ dàng hơn giải thích nó. Những rìu tay Acheulean sớm nhất tìm thấy ở châu Phi có niên đại khoảng 1,6 triệu năm tuổi, nhưng trước đó 100.000 năm đã xuất hiện loài vượn người ở Dmanisi, Georgia. Những vượn người đầu tiên rõ ràng đã rời châu Phi trước khi rìu tay Acheulean trở thành một phần phổ biến trong bộ công cụ của họ, đem các công nghệ tiền Acheulean đi khắp châu Á trong khi khu vực phía Tây/châu Phi tiếp tục phát triển các công cụ Acheulean.

Dù vậy, chỉ nhìn thoáng qua Hình 1.2, chúng ta có thể thấy Tuyến Movius không chia tách châu Phi với châu Á mà chạy xuyên qua miền Bắc Ấn Độ. Đây là một chi tiết quan trọng. Loài di cư đầu tiên rời châu Phi trước khi rìu tay Acheulean được phát kiến, do vậy, phải có những đợt di cư tiếp theo từ châu Phi để đưa rìu tay đến Tây Nam Á và Ấn Độ. Vì thế, chúng ta cần đặt ra một câu hỏi mới: Tại sao trong những đợt di cư sau này công nghệ Acheulean lại không được sử dụng xa hơn về phía đông?

Câu trả lời khả dĩ nhất là thay vì đánh dấu ranh giới giữa một phương Tây phát triển về mặt công nghệ và một phương Đông kém phát triển, Tuyến Movius đơn thuần chỉ làm tách biệt các khu vực phía Tây, nơi việc tiếp cận các loại đá cần để chế tác rìu tay dễ dàng hơn so với các vùng phía Đông, nơi việc tiếp cận các loại đá như thế lại hiếm hoi và những chọn lựa khác – chẳng hạn như tre, tuy bền nhưng không tồn tại lâu dài cho chúng ta khai quật – lại có sẵn. Theo cách giải thích này, khi những người sử dụng rìu tay dạt qua Tuyến Movius, họ đã dần dần từ bỏ các công cụ Acheulean do không thể thay thế số công cụ bị vỡ. Họ vẫn chế tác công cụ chặt và mảnh trước mà từ bất kỳ viên sỏi cũ xưa nào cũng có thể chế tác được, nhưng có lẽ bắt đầu sử dụng tre cho những công việc trước đây được thực hiện bởi rìu tay đá.

Một số nhà khảo cổ học cho rằng những phát hiện từ di chỉ ở vùng Bose Basin⦾ phía nam Trung Hoa hỗ trợ cho suy nghĩ này. Khoảng 800.000 năm trước, một khối thiên thạch khổng lồ đã đâm xuống đây. Đó là một thảm họa trên quy mô lớn, và những vụ hỏa hoạn dữ dội đã thiêu cháy hàng triệu hecta rừng. Trước khi xảy ra thảm họa đó, người vượn ở vùng này đã sử dụng những công cụ chặt, mảnh trước và tre (giả định) như những nhóm khác ở vùng Đông Á; nhưng khi quay trở lại sau vụ cháy, có lẽ họ cũng bắt đầu làm rìu tay giống như những người Acheulean – lý thuyết này cũng hợp lý, bởi vì đám cháy đã thiêu đốt mọi cây tre và trong quá trình đó lộ ra những khối sỏi đá có thể sử dụng được. Sau vài thế kỷ, khi thảm thực vật sinh sôi trở lại, giống loài địa phương lại bỏ rìu tay và dùng tre trở lại.

Nếu suy đoán này đúng thì những vượn người vùng Đông Á hoàn toàn có khả năng làm rìu tay khi có điều kiện cho phép, nhưng thường thì họ không bận tâm vì đã có những vật dụng thay thế dễ dàng hơn. Rìu tay bằng đá và công cụ bằng tre chỉ là hai công cụ khác nhau làm những công việc giống nhau, và mọi vượn người đều sinh sống theo cùng một cách cho dù họ ở Morocco hay bán đảo Mã Lai.

Điều này có vẻ hợp lý, nhưng đây lại là môn khảo cổ học tiền sử, có những phương cách khác để xem xét Tuyến Movius. Cho đến nay, tôi vẫn tránh đặt tên cho những vượn người sử dụng rìu tay Acheulean, nhưng ở thời điểm này, việc đặt tên cho họ bắt đầu trở nên quan trọng.

Từ thập niên 1960, hầu hết các nhà cổ nhân loại học đã gọi loài mới, tiến hóa ở châu Phi cách đây khoảng 1,8 triệu năm, là Homo erectus (Con người đứng thẳng) và cho rằng loài này đã lang thang qua các vùng cận nhiệt đới đến tận bờ Thái Bình Dương. Tuy nhiên, vào những năm 1980, một số chuyên gia bắt đầu tập trung vào những khác biệt tinh vi giữa các sọ người Homo erectus tìm thấy ở châu Phi với ở Đông Á. Họ ngờ rằng mình đang thực sự xem xét hai loài vượn người khác nhau và đặt ra một cái tên mới, Homo ergaster (Con người chế tác), cho loài đã tiến hóa ở châu Phi cách đây 1,8 triệu năm và sau đó lan sang Trung Hoa. Họ cho rằng chỉ khi người Homo ergaster đến vùng Đông Á, thì mới xuất hiện Homo erectus tiến hóa từ loài này. Do đó, Homo erectus là một loài thuần chủng ở Đông Á, khác với Homo ergaster, vốn đã chiếm ngụ châu Phi, Tây Nam Á và Ấn Độ.

Nếu lý thuyết này là chính xác, thì Tuyến Movius không chỉ là một khác biệt nhỏ về loại công cụ: nó còn là một bước ngoặt về mặt di truyền chia tách loài vượn người đầu tiên thành hai nhóm. Trên thực tế, nó đưa ra khả năng về điều mà chúng ta có thể gọi là mẹ của tất cả các lý thuyết chốt khóa dài hạn: Đông và Tây khác biệt do con người phương Đông và con người phương Tây là hai chi người khác nhau từ hơn một triệu năm trước.

Những người phương Đông đầu tiên:

Người vượn Bắc Kinh

Cuộc tranh luận mang tính kỹ thuật về việc phân loại các bộ xương thời tiền sử này tiềm ẩn những hậu quả đáng báo động. Những người phân biệt chủng tộc thường háo hức chộp lấy những chi tiết như vậy để biện minh cho thành kiến, bạo lực và thậm chí chủ nghĩa diệt chủng. Bạn có thể cảm thấy rằng việc dành thời gian để nói về một lý thuyết ở dạng này đơn thuần chỉ đề cao sự cố chấp; đáng ra chúng ta nên bỏ qua nó. Nhưng theo tôi đó cũng là một sai lầm. Việc lên án các lý thuyết phân biệt chủng tộc đáng khinh là chưa đủ. Nếu chúng ta thực sự muốn phản bác chúng, và kết luận rằng mọi chủng tộc (tập hợp các nhóm lớn) đều như nhau, ắt hẳn vì các lý thuyết phân biệt chủng tộc là sai, chứ không chỉ vì hầu hết chúng ta ngày nay đều không ưa gì chúng.

Về cơ bản, chúng ta không biết liệu chỉ có một loài vượn người trên trái đất khoảng 1,5 triệu năm trước – nghĩa là loài này (ở các nhóm lớn) đều giống nhau từ châu Phi đến Indonesia – hay liệu có một loài Homo ergaster khác ở phía tây Tuyến Movius và một loài Homo erectus phía đông. Chỉ có nghiên cứu sâu hơn mới làm rõ được câu hỏi đó. Nhưng chúng ta biết chắc một điều là trong vòng một triệu năm qua, các loài vượn người riêng biệt đã tiến hóa ở cả phương Đông lẫn phương Tây.

Vấn đề địa lý có lẽ cũng có nhiều điều đáng bàn. Loài vượn người dạt khỏi châu Phi khoảng 1,7 triệu năm trước dần thích nghi với các vùng khí hậu cận nhiệt đới, nhưng khi lang thang về phía bắc, đi sâu vào châu Âu và châu Á, họ phải đối mặt với mùa đông dài hơn và khắc nghiệt hơn. Họ sống ngoài trời như tổ tiên của mình ở châu Phi, cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi họ tiến theo tuyến đường khoảng 40 độ về phía bắc đường xích đạo (chạy từ đỉnh Bồ Đào Nha đến Bắc Kinh; xem Hình 1.1). Có thể nói rằng việc dựng lều và kiếm đồ che thân vượt ngoài tầm khả năng tư duy của họ, nhưng họ có thể tìm ra câu trả lời: trú ẩn trong các hang động. Vì vậy nảy sinh những người hang động mà chúng ta thường nghe kể khi còn nhỏ.

Việc cư trú trong hang động là một điều vừa may vừa rủi cho loài vượn người khi phải thường xuyên chia sẻ không gian sinh tồn với loài gấu và loài linh cẩu to lớn bằng sư tử có răng nhai được cả xương. Ngoài ra, đây còn là điều may mắn bất ngờ đối với các nhà khảo cổ, vì các hang động bảo quản tốt các chứng cứ thời tiền sử, giúp chúng ta lần theo sự phát triển của loài vượn người khi bắt đầu phân tán về những khu vực phía đông và phía tây Cựu Thế giới do hình thành các thích nghi khác nhau với khí hậu lạnh hơn.

Để hiểu về loài vượn người phương Đông, di chỉ quan trọng nhất là Chu Khẩu Điếm (Zhoukoudian) gần Bắc Kinh, nằm ngay vĩ độ 40, thỉnh thoảng phát hiện những hiện vật từ khoảng 670.000 đến 410.000 năm trước. Câu chuyện về cuộc khai quật di chỉ này là một chuỗi sự kiện dài về thực trạng của chính nó, và từng là bối cảnh cho một phần cuốn tiểu thuyết The Bonesetter’s Daughter (Con gái thầy lang) của Tân Ái Mỹ (Amy Tan). Trong khi các nhà khảo cổ châu Âu, Mỹ và Trung Hoa đang đào xới ở đây từ năm 1921 đến năm 1937, thì các ngọn đồi xung quanh di chỉ này là tuyến đầu trong một cuộc nội chiến tàn bạo diễn ra giữa những người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cộng sản, và đủ loại quân phiệt địa phương. Các nhà khảo cổ luôn phải làm việc trong tiếng bom đạn và lẩn tránh thổ phỉ và trạm kiểm soát để đưa những hiện vật tìm thấy về Bắc Kinh. Cuối cùng dự án cũng đổ vỡ khi Nhật Bản xâm chiếm Trung Hoa, Chu Khẩu Điếm trở thành một căn cứ của những người cộng sản, đồng thời quân đội Nhật Bản cũng đã tra tấn và giết chết ba thành viên trong nhóm khai quật.

Sự cố ngày càng xấu đi. Vào tháng 11 năm 1941, khi cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ có vẻ chắc chắn sẽ nổ ra, một quyết định được đưa ra nhằm chuyển các hiện vật tới New York để giữ an toàn. Các kỹ thuật viên đóng gói chúng vào hai thùng gỗ lớn để chờ bộ sưu tập được vận chuyển trong một chiếc ô tô từ sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh. Không ai biết chắc chiếc xe có đến hay không, và nếu có đến thì nó có chở mấy thùng này đi hay không. Một câu chuyện kể rằng binh lính Nhật Bản đã chặn bắt nhóm lính thủy đánh bộ Mỹ hộ tống chuyến hàng này ngay lúc những quả bom bắt đầu rơi xuống Trân Châu Cảng, nhưng để lại những hiện vật vô giá này. Mạng sống thật rẻ mạt trong những ngày đen tối đó, và không ai cần quan tâm đến những chiếc hộp chỉ toàn đá và xương đó làm gì.

Nhưng không hẳn là đã mất tất cả. Nhóm khai quật Chu Khẩu Điếm đã công bố những phát hiện của họ một cách tỉ mỉ và gửi các mẫu thạch cao đúc từ xương hiện vật tới New York – một ví dụ ban đầu về tầm quan trọng của việc sao lưu dữ liệu. Những khuôn này cho thấy 600.000 năm trước, người vượn Bắc Kinh⦾ (tên gọi do các nhà khai quật gán cho loài vượn người ở Chu Khẩu Điếm) đã biến đổi hình dạng từ cao và gầy như bộ xương hóa thạch Turkana Boy của loài vượn châu Phi thành thấp và đậm để thích ứng hơn với cái lạnh. Người vượn Bắc Kinh thường cao khoảng 1,6m và ít lông hơn loài vượn hiện thời, dù vậy, nếu bạn gặp phải một con trên Main Street, chắc chắn bạn cũng sẽ rất lúng túng. Họ có khuôn mặt rộng và ngắn, trán dẹt và thấp, lông mày rậm giao nhau và quai hàm lớn, hầu như không có cằm.

Việc giao tiếp với người vượn Bắc Kinh ắt hẳn là một thách thức. Cho đến nay chúng ta có thể nói, hạch nền (các bộ phận của bộ não cho phép con người hiện đại kết hợp một số lượng nhỏ các chuyển động miệng thành vô số lời nói) của Homo erectus còn phát triển nghèo nàn. Bộ xương Turkana Boy còn được bảo tồn tốt cũng có một ống tủy sống (giữ thần kinh tủy sống) chỉ rộng bằng ¾ của con người hiện nay, cho thấy nó không thể kiểm soát chính xác cách phát âm của bản thân đủ để nói chuyện như chúng ta.

Điều đó gián tiếp nói lên rằng, những hiện vật khác gợi ý rằng việc loài vượn người ở phía đông Cựu Thế giới có thể giao tiếp được cũng chưa ổn. Năm 1994 các nhà khảo cổ trên hòn đảo nhỏ Flores gần Java đã khai quật những hiện vật được cho là công cụ bằng đá có 800.000 năm tuổi. Tám trăm nghìn năm trước, Flores hoàn toàn là một hòn đảo, tách biệt khỏi đất liền bởi 19km đường biển; tất cả những sự kiện này dường như cho thấy Homo erectus ắt phải có khả năng giao tiếp đủ tốt thì mới có thể đóng thuyền vượt biển để định cư ở Flores. Tuy nhiên, những nhà khảo cổ học khác lại loại bỏ ý tưởng về việc đóng thuyền của Homo erectus, phản bác rằng những công cụ này không giống công cụ chút nào; có thể chúng chỉ đơn giản là đá bị va đập tạo thành những hình dạng khác nhau qua các tiến trình tự nhiên.

Cuộc tranh luận dễ dàng đi vào ngõ cụt, như thường thấy ở mọi tranh cãi của các nhà khảo cổ học, nhưng vào năm 2003, những phát hiện ở Flores còn đáng ngạc nhiên hơn nữa. Một cuộc thăm dò sâu đã làm lộ ra tám bộ xương, tất cả đều có niên đại khoảng năm 16000 TCN, tất cả đều thuộc về con người đã trưởng thành, và tất cả đều cao dưới 1,22m. Khi đó phần đầu tiên của bộ phim The Lord of the Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn) của Peter Jackson vừa mới ra lò, và các nhà báo ngay lập tức gọi những con người nhỏ bé thời tiền sử này là hobbit theo tên những bán nhân có lông bàn chân của J.R.R. Tolkien. Khi các quần thể động vật bị cô lập trên những hòn đảo, nơi không có loài ăn thịt, chúng thường phát triển thành các dạng lùn, và điều này có lẽ là nguyên nhân về sự nhỏ bé của những hobbit. Dù vậy, để chuyển hóa thành kích thước như người hobbit vào khoảng năm 16000 TCN, loài vượn người hẳn phải định cư ở đảo Flores hàng nghìn thế hệ trước đó – thậm chí có thể là 800.000 năm trước, theo gợi ý từ những công cụ bằng đá tìm thấy vào năm 1994. Điều này, lại một lần nữa cho thấy Homo erectus có thể giao tiếp đủ tốt để có thể đóng thuyền vượt biển.

Vậy thì những vượn người ở Chu Khẩu Điếm có khả năng hiểu biết nhiều hơn so với loài tinh tinh hay khỉ đột, đồng thời những hiện vật trong hang cho thấy chúng cũng có thể tạo ra lửa theo ý muốn. Ít nhất cũng có một trường hợp người vượn Bắc Kinh nướng đầu một con ngựa hoang. Những vết cắt trên hộp sọ cho thấy họ đã tìm lưỡi và óc, cả hai bộ phận này vốn đều giàu chất béo. Họ cũng thích bộ óc của các loài khác: vào thập niên 1930, các nhà khảo cổ đưa ra phỏng đoán về tục ăn thịt người và cả săn đầu người khi quan sát các mẫu vỡ của xương. Một nghiên cứu các khuôn đúc thạch cao ở thập niên 1980 cho thấy hầu hết các dấu hiệu lưu lại trên hộp sọ thực sự là do răng của những con linh cẩu khổng lồ thời tiền sử chứ không phải của người vượn Bắc Kinh, nhưng một hộp sọ – một mảnh thêm vào số được khai quật vào năm 1966 – cho thấy có vết tích của công cụ bằng đá.

Thay vì đâm sầm vào một người vượn Bắc Kinh trên con phố Main Street hiện thời, nếu có thể dùng một cỗ máy thời gian quay trở lại Chu Khẩu Điếm thời kỳ nửa triệu năm trước, bạn sẽ có một trải nghiệm mất phương hướng và hoang mang. Bạn sẽ chứng kiến con người hang động giao tiếp, nhưng có lẽ chỉ bằng những tiếng càu nhàu và điệu bộ cử chỉ, nhưng bạn sẽ không thể nói chuyện với họ được. Bạn cũng không thể giao tiếp với họ thông qua hình vẽ; không có bằng chứng nào cho thấy nghệ thuật có ý nghĩa hơn đối với Homo erectus so với loài tinh tinh. Rõ ràng người vượn Bắc Kinh tiến hóa ở phía đông Cựu Thế giới rất khác biệt với chúng ta.

Những người phương Tây đầu tiên:

Người Neanderthal

Nhưng liệu người vượn Bắc Kinh cũng khác với loài vượn người tiến hóa ở phía tây Cựu Thế giới hay không? Những hiện vật cổ xưa nhất ở châu Âu được phát hiện vào năm 1994 trong một chuỗi hang động tại Atapuerca, Tây Ban Nha, có niên đại khoảng 800.000 năm (gần với thời gian mà Homo erectus có thể đã đóng thuyền đến định cư đảo Flores). Về mặt nào đó, những hiện vật tìm thấy ở Atapuerca khá giống của loài vượn người ở Chu Khẩu Điểm: nhiều loại xương bị rạch chéo bởi những vết cắt từ các công cụ đá hoàn toàn giống vết cắt do các thợ giết mổ gây ra.

Những gợi ý về tục ăn thịt người tạo ra sức thu hút trên các mục chính của giới báo chí, nhưng các nhà cổ nhân loại học thậm chí còn bị kích thích hơn bởi những điểm khác biệt giữa vượn người Atapuerca với [vượn người] Chu Khẩu Điếm. Hộp sọ của người Atapuerca có khoang não lớn hơn của Homo erectus với mũi và xương gò má trông khá giống con người hiện đại. Các nhà cổ nhân loại học đi đến kết luận rằng một loài mới đã xuất hiện, và họ gọi là Homo antecessor (“Con người tổ tiên”).

Homo antecessor giúp làm rõ một loạt các phát hiện tìm thấy từ năm 1907, khi những người thợ đào được một xương hàm lạ tại một hầm cát ở Đức. Chủng người này, gọi là người Heidelberg theo tên một thành phố đại học gần đó, trông giống Homo erectus nhưng có đầu giống với chúng ta hơn, sọ đầu cao, tròn và não bộ khoảng 1.000cm3 – lớn hơn nhiều so với mức trung bình 800cm3 của Homo erectus. Trông có vẻ như bước biến đổi tiến hóa phát triển nhanh hơn trên toàn Cựu Thế giới sau 800.000 năm trước, do loài vượn người khi chuyển đến khu vực lạnh giá phía bắc phải đối mặt với những vùng khí hậu cực kỳ khác biệt nên những đột biến di truyền ngẫu nhiên có thể bùng phát.⦾

Ở đây cuối cùng chúng ta có một số sự kiện không chối cãi được. Khoảng 600.000 năm trước, khi người Heidelberg xuất hiện và người vượn Bắc Kinh thống trị vùng Chu Khẩu Điếm, đã có nhiều chi Homo khác nhau ở các khu vực phía đông và phía tây Cựu Thế giới: ở phía đông là Homo erectus có não bộ nhỏ và ở phía tây là Homo antecessor và người Heidelberg.⦾

Nói về não bộ, kích thước không hẳn quyết định tất cả. Anatole France từng đoạt giải Nobel văn chương năm 1921 có não bộ không lớn hơn người Heidelberg. Ngoài ra, người Heidelberg dường như lại thông minh hơn nhiều so với loài vượn người trước đây hay người vượn Bắc Kinh cùng thời. Trước khi người Heidelberg xuất hiện, những công cụ bằng đá ít có sự thay đổi trong suốt một triệu năm, nhưng chỉ khoảng năm 500000 TCN thì người Heidelberg đã tạo ra các phiên bản mỏng và nhẹ hơn, ghè các mảnh tước tinh tế hơn bằng búa mềm (có thể bằng gỗ) hay ghè các viên đá. Việc này cho thấy tay và mắt đã phối hợp tốt hơn. Người Heidelberg, nam lẫn nữ, cũng chế tác những công cụ chuyên dụng và bắt đầu chuẩn bị các lõi đá riêng cho việc ghè các công cụ khác theo ý muốn, điều này phải đồng nghĩa với việc họ tư duy tốt hơn nhiều so với Homo erectus trong việc chế tác công cụ theo mong muốn. Chính việc người Heidelberg có thể tồn tại ở Heidelberg, nằm ở 40 độ vĩ bắc tự thân đã là chứng cứ cho một loài vượn người khéo léo hơn.

Cư dân ở Chu Khẩu Điếm ít biến đổi trong khoảng 670.000 đến 410.000 năm trước, nhưng vượn người phương Tây vẫn tiếp tục phát triển trong giai đoạn này. Nếu vào những hang động Tây Ban Nha ở Atapuerca khoảng vài trăm mét, chủ yếu bò bằng bụng và đôi khi dùng dây thừng, bạn sẽ xuống đến một hố sâu khoảng 12,2m được gọi bằng cái tên xứng hợp là Hố Xương – nơi có mật độ hài cốt người vượn dày đặc nhất của loài vượn người được tìm thấy. Hơn 4.000 mảnh hài cốt được phát hiện ở đây kể từ thập niên 1990, có niên đại từ 564.000 đến 600.000 năm trước. Hầu hết đều ở độ tuổi thiếu niên hoặc vừa trưởng thành. Cho đến nay, việc chúng làm gì bên dưới lòng đất vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng cũng như trầm tích Atapuerca cổ xưa hơn, Hố Xương chứa những hài cốt người đa dạng. Các nhà khảo cổ học Tây Ban Nha xếp hầu hết các hài cốt này vào nhóm người Heidelberg, nhưng nhiều học giả nước ngoài nghĩ rằng họ trông giống loài khác hơn – người Neanderthal.

Những người hang động nổi tiếng nhất này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1856, khi các công nhân khai thác mỏ ở thung lũng Neander (Tal hoặc Thal trong tiếng Đức) cho một giáo viên người địa phương xem một đỉnh sọ và 15 mẫu xương mà họ tìm thấy (các cuộc khai quật trong thập niên 1990 phát hiện thêm 62 mảnh xương khác từ các hố thải của công nhân). Người giáo viên này sau đó đã đưa chúng cho một nhà giải phẫu học xem, và ông này, với thói quen giảm nhẹ sự việc, gọi chúng là xương của người tiền German.

Những hiện vật tìm thấy ở Atapuerca cho thấy rằng người Neanderthal dần dần xuất hiện qua 250.000 năm. Thay vì sự thay đổi khí hậu hoặc di cư đến các khu vực mới tạo điều kiện cho một số vượn người đột biến để giao phối và thay thế người Heidelberg, thì đây có thể là trường hợp biến đổi gen từ từ, với sự phát triển của nhiều loài vượn người khác nhau. Những người Neanderthal cổ xưa đã xuất hiện cách đây 200.000 năm và trong vòng 100.000 năm sau đó họ lan tràn khắp châu Âu và phía đông sang đến Siberia, nhưng theo chúng ta biết thì họ không đến Trung Hoa hay Indonesia.

Vậy người Neanderthal khác với người vượn Bắc Kinh đến mức nào? Họ thường có chiều cao tương tự vượn người phía Đông và thậm chí trông còn nguyên thủy hơn, với trán dốc và cằm yếu. Họ có răng cửa lớn, thường bị mòn do được sử dụng như một công cụ, khuôn mặt nhô ra phía trước, mũi to, có lẽ loài này thích nghi với không khí lạnh của Thời đại Băng hà ở châu Âu. Người Neanderthal trông nặng nề hơn người vượn Bắc Kinh, với hông và vai rộng hơn. Họ mạnh mẽ như các đô vật, dai sức như một vận động viên chạy marathon, và có vẻ là những chiến binh hung bạo.

Mặc dù có bộ xương nặng hơn hầu hết loài vượn người khác, người Neanderthal lại bị thương rất nhiều; những mẫu vật bị vỡ xương trong tương tự như trường hợp của các kỵ sĩ đua ngựa (rodeo) chuyên nghiệp hiện nay. Do 100.000 năm trước loài ngựa hoang chưa xuất hiện mãi đến khoảng năm 4000 TCN loài ngựa mới tiến hóa dần), các nhà cổ nhân loại học cho rằng người Neanderthal đã bị thương khi chiến đấu với nhau hay với các loài động vật hoang dã. Họ là những thợ săn tận tụy; phân tích các đồng vị nitrogen từ xương cho thấy họ ăn thịt rất nhiều do có được một tỉ lệ protein đáng kinh ngạc từ thịt. Từ lâu các nhà khảo cổ học ngờ rằng khẩu phần thịt của người Neanderthal có được một phần từ thịt của đồng loại, cũng giống như người vượn Bắc Kinh, và các mẫu vật tìm thấy ở thập niên 1990 tại Pháp đã chứng tỏ điều này không chút nghi ngờ gì nữa; xương của nửa tá người Neanderthal được tìm thấy cùng với xương của năm con hươu đỏ. Những sinh vật này đều được xử lý theo cùng một cách: trước tiên chúng được cắt thành từng mảnh với công cụ bằng đá, sau đó thịt được lóc khỏi xương, và cuối cùng sọ và xương ống được đập vỡ để lấy não và tủy.

Những chi tiết tôi đưa ra cho thấy người Neanderthal có vẻ không quá khác biệt với người vượn Bắc Kinh, nhưng còn một điều khác ở câu chuyện này. Người Neanderthal có bộ não lớn, thậm chí còn lớn hơn bộ não của chúng ta, trung bình khoảng 1.520cm3 so với 1.350cm3 của chúng ta. Họ cũng có ống não tủy rộng hơn của hiện vật Turkana Boy, và khối tủy sống dày đặc giúp họ khéo tay hơn. Công cụ bằng đá của họ được làm tốt hơn và đa dạng hơn của người vượn Bắc Kinh, gồm những dụng cụ để nạo, dao, và mũi đột chuyên dụng. Người ta tìm thấy vết tích nhựa cây trên một mũi nhọn bằng đá găm vào cổ một con lừa hoang ở Syria và suy đoán nó là mũi nhọn gắn lên đầu gậy. Những vết mòn vẹt trên các công cụ cho thấy người Neanderthal đã dùng chúng chủ yếu để đẽo gỗ, những mẫu vật này hiếm khi tồn tại, nhưng tại một di chỉ ngập nước ở Schöningen, Đức, người ta tìm thấy bốn ngọn giáo dài 2,1m được chạm trổ đẹp đẽ xuất hiện gần các đống xương ngựa hoang. Những ngọn giáo này rất nặng dùng để đâm chứ không ném; ở mức độ khéo léo của mình, người Neanderthal khó có khả năng chế tác vũ khí phóng đi được.

Nhu cầu để tiếp cận những con vật đáng sợ có thể giải thích cho thương tích như những người cưỡi bò, ngựa trong môn rodeo của người Neanderthal, nhưng một số hiện vật tìm thấy, đặc biệt ở hang động Shanidar, Iraq, lại gợi ra những phẩm chất hoàn toàn khác. Một bộ xương cho thấy một người đàn ông vẫn sống sót trong nhiều năm với một cánh tay bị teo và hai chân bị biến dạng, mặc dù đã mất đi cánh tay phải và mắt trái của mình (Jean Auel, trong cuốn tiểu thuyết bán chạy của bà là The Clan of the Cave Bear, đã lấy cảm hứng cho nhân vật khuyết tật Creb – lãnh đạo tinh thần của một nhóm người Neanderthal sống ở Crimea – từ bộ xương này). Một người đàn ông khác ở Shanidar bị chứng viêm khớp ở mắt cá chân phải gần như bại liệt, nhưng cũng xoay xở được, ít nhất là cho đến khi bị đâm chết. Việc có não bộ lớn hơn hẳn nhiên cũng giúp những người yếu đuối và bị thương tích có thể tự lo thân. Người Neanderthal hoàn toàn có thể tạo ra lửa theo ý muốn và cũng có thể dùng da động vật làm vật dụng che thân. Nhưng dù sao đi nữa cũng khó biết được chủng loài ở Shanidar làm thế nào để sinh tồn nếu không có sự giúp đỡ của những người bạn lành lặn hay gia đình họ. Ngay những nhà khoa học khó tính nhất cũng đồng ý rằng người Neanderthal – nếu so sánh với tất cả các chi Homo trước đây và người vượn Chu Khẩu Điếm cùng thời – đã thể hiện một điều gì đó mà chúng ta chỉ có thể gọi là tính người.

Một số nhà cổ nhân loại học thậm chí còn nghĩ rằng bộ não lớn của người Neanderthal và ống não tủy rộng cho phép họ ít nhiều cũng nói chuyện như chúng ta. Giống như con người hiện đại, họ có xương móng để giữ lưỡi và giúp thanh quản thực hiện những chuyển động phức tạp cần thiết để có lời nói. Tuy nhiên, các chuyên gia khác lại không đồng ý và nhận xét rằng bộ não của người Neanderthal, tuy lớn nhưng lại dài và dẹt hơn của chúng ta, và các vùng ngôn ngữ có lẽ ít phát triển hơn. Họ cũng chỉ ra rằng mặc dù các vùng trên chỉ tồn tại trên cơ sở ba bộ xương sọ nhưng có vẻ như các thanh quản trong cổ họng của người Neanderthal rất cao, có nghĩa là mặc dù có xương móng nhưng họ chỉ có thể phát ra âm thanh ở phạm vi hẹp. Có lẽ họ chỉ phát ra được những âm tiết đơn (theo kiểu “tôi Tarzan, bạn Jane”), hay diễn đạt các khái niệm quan trọng như “đến đây,” “hãy đi săn,” “làm công cụ bằng đá/ăn tối/làm tình” bằng việc kết hợp cử chỉ và âm thanh (trong The Clan of the Cave Bear, người Neanderthal có ngôn ngữ ký hiệu phức tạp hơn).

Vào năm 2001, có vẻ như ngành di truyền học đã giải quyết được mọi thứ. Các nhà khoa học thấy rằng một gia đình người Anh trong ba thế hệ đều bị chứng rối loạn ngôn ngữ, gọi là chứng nói chậm (verbal dyspraxia), đồng thời cũng có đột biến về một gen gọi là FOXP2. Gen này tạo ra những tập hợp để protein tác động đến phương cách não bộ xử lý lời nói và ngôn ngữ. Điều này không có nghĩa FOXP2 là gen ngôn ngữ: lời nói là một quá trình phức tạp liên quan đến vô số gen cùng hoạt động theo những cách chúng ta chưa hiểu hết được. FOXP2 gây sự chú ý của các nhà di truyền học vì đôi khi chỉ cần nó bị lỗi là toàn bộ hệ thống bị sụp đổ. Chỉ cần con chuột gặm một dây điện đáng giá hai xu là đủ để chiếc xe 20.000 đô của tôi không khởi động được: các lỗi chức năng FOXP2 và hệ thống ngôn ngữ phức tạp của não bộ đều bị nghẽn giống nhau. Các nhà khảo cổ học cho rằng có thể những đột biến ngẫu nhiên đã tạo ra FOXP2 và các gen liên quan giúp tạo ra các kỹ năng ngôn ngữ cho con người hiện nay trong khi các loài vượn người trước đó, bao gồm người Neanderthal, còn thiếu.

Nhưng sau đó mọi chuyện lại phức tạp thêm. Như mọi người hiện nay đều biết Deoxyribo Nucleic Acid – DNA – là bộ khuôn kiến tạo cơ bản cho sự sống, và vào năm 2000, các nhà di truyền học đã sắp xếp bộ gen con người hiện đại. Một điều ít được nhắc đến là vào năm 1997, một cảnh hồi tưởng trong phim Jurassic Park (Công viên kỷ Jura) có nhắc đến việc các nhà khoa học ở Leipzig, Đức, trích lấy DNA cổ xưa từ cánh tay của bộ xương người Neanderthal nguyên thủy tìm thấy ở thung lũng Neander vào năm 1856. Đây là một điều phi thường do DNA bắt đầu phân rã ngay sau khi chết, và chỉ có những mảnh vỡ nhỏ mới tồn tại trong vật liệu cổ xưa đến thế. Theo tôi biết⦾ thì nhóm Leipzig không nhân bản người hang động và mở công viên Neanderthal, nhưng vào năm 2007, thông qua tiến trình sắp xếp chuỗi gen người Neanderthal (hoàn tất vào năm 2009) các nhà khoa học đã đưa ra một phát hiện đáng chú ý – người Neanderthal cũng có gen FOXP2.

Điều này có thể cho thấy rằng người Neanderthal cũng thích tán gẫu như chúng ta; hoặc có thể FOXP2 không phải là chìa khóa của lời nói. Chắc chắn một ngày nào đó chúng ta sẽ biết, nhưng bây giờ tất cả những gì chúng ta có thể làm là khảo sát các kết quả tương tác của người Neanderthal. Họ sống theo các nhóm lớn hơn những loài vượn người trước đây, săn bắt hiệu quả hơn, cư trú trên những vùng đất trong nhiều thời kỳ dài hơn, và chăm sóc lẫn nhau theo những cách mà các loài vượn người trước đó không làm được.

Họ cũng biết chôn cất một số người chết, và thậm chí có thể thực hiện các nghi lễ cho người chết – những dấu hiệu sớm nhất về phẩm tính con người, một đời sống tinh thần, nếu chúng ta diễn giải chính xác các bằng chứng. Chẳng hạn, ở Shanidar, một số xác chết được chôn cất tử tế, và đất trong một ngôi mộ có hàm lượng phấn hoa cao, có thể là do một số người Neanderthal đã đặt xác người thân yêu của mình lên một chiếc giường hoa mùa xuân. (Ít lãng mạn hơn, một số nhà khảo cổ cho rằng ngôi mộ bị chuột đào bới, và chuột thì lại thường mang hoa vào hang ổ của chúng).

Trong trường hợp thứ hai, ở Monte Circeo gần Rome, vào năm 1939 các công nhân xây dựng đã khai mở một hang động bị bịt kín do đá lở cách đây 50.000 năm. Họ kể lại với các nhà khảo cổ rằng đã phát hiện một sọ người Neanderthal ở tư thế ngồi trên nền động, xung quanh là một vòng tròn bằng đá, nhưng vì những công nhân này di chuyển nó trước khi các chuyên gia chứng kiến, nên nhiều nhà khảo cổ học còn nghi ngờ.

Cuối cùng, còn có di chỉ Teshik-Tash ở Uzbekistan. Ở đây Hallam Movius (người nổi tiếng với Tuyến Movius) nói rằng ông phát hiện được bộ xương của một cậu bé được bao quanh với năm hoặc sáu cặp sừng dê hoang dã. Tuy nhiên, các trầm tích ở Teshik-Tash lại có đầy sừng dê, và Movius cũng chưa bao giờ công bố bản vẽ hay hình ảnh của những hiện vật này để thuyết phục những người hoài nghi rằng những mẫu vật này có một ý nghĩa đặc biệt.

Chúng ta cần những bằng chứng rõ ràng hơn để đặt câu hỏi về sự chôn cất này. Cá nhân tôi thì cho rằng nếu không có lửa thì làm sao có khói, và người Neanderthal quả thật đã có một đời sống tinh thần như thế. Thậm chí họ có thể cũng từng có những bà thầy và pháp sư như Iza và Creb trong The Clan of the Cave Bear. Cho dù điều đó có đúng hay không, nếu cỗ máy thời gian mà tôi viện dẫn có thể đưa bạn đến Shanidar và Chu Khẩu Điếm, bạn sẽ thấy những khác biệt thực sự về hành vi giữa người vượn Bắc Kinh ở phía Đông và người Neanderthal ở phía Tây. Bạn cũng khó tránh khỏi kết luận rằng phương Tây phát triển hơn phương Đông. Cách đây 1,6 triệu năm điều này chỉ có khả năng đúng khi Tuyến Movius hình thành, nhưng 100.000 năm trước thì nó lại đúng hoàn toàn. Một lần nữa, bóng ma của một thuyết chốt khóa dài hạn mang tính phân biệt chủng tộc lại hiện ra: Liệu có phải ngày nay phương Tây vượt trội là do người châu Âu hiện đại kế thừa được nguồn gen thượng đẳng của dòng giống Neanderthal, trong khi người châu Á lại trỗi lên từ Homo erectus sơ khai hơn hay không?

Những bước khởi đầu chập chững

Câu trả lời là “Không.”

Các nhà sử học thích đưa ra những câu trả lời dài dòng và phức tạp cho các câu hỏi đơn giản, nhưng thực sự lần này mọi thứ có vẻ giản đơn. Người châu Âu không khởi nguồn từ chủng Neanderthal thượng đẳng, và người châu Á cũng không phải bắt nguồn từ Homo erectus hạ đẳng. Khởi đầu từ khoảng 70.000 năm trước, một chi Homo mới – con người chúng ta – dạt khỏi châu Phi và thay thế hoàn toàn tất cả các chi khác.⦾ Trong quá trình này, loài người chúng ta, Homo sapiens (Con người tinh khôn), đã phối giống với người Neanderthal. Những con người Âu-Á hiện nay đều chia sẻ 1%-4% gen của người Neanderthal, nhưng ở khắp mọi nơi, từ Pháp đến Trung Hoa, đều có sự chia sẻ 1%-4% này.⦾ Sự lan tràn của con người hiện đại đã xóa sạch mọi thứ. Tiến trình tiến hóa vẫn tiếp tục, và những biến đổi về màu da, khuôn mặt, chiều cao, lượng dung nạp lactose và vô số điều khác xuất hiện ở các vùng miền khác nhau trong suốt 2.000 thế hệ kể từ khi con người chúng ta bắt đầu trải ra khắp mặt địa cầu. Nhưng khi chúng ta bắt đầu quan tâm đến, thì chúng lại trở nên bình thường. Bất cứ bạn đi đâu hay làm gì, con người (ở các nhóm lớn) đều giống nhau.

Sự tiến hóa của loài người chúng ta và việc chinh phục hành tinh này đã tạo ra tính đồng nhất của nhân loại về mặt sinh học và do đó cũng là chuẩn mực cho bất kỳ giải thích nào về lý do phương Tây vượt trội. Tính đồng nhất về mặt sinh học của loài người đã loại trừ các lý thuyết dựa trên nguồn gốc chủng tộc. Ngoài ra, cho dù tầm quan trọng của quá trình này có lấn át, thì vẫn có rất nhiều điều còn mơ hồ về nguồn gốc của Con người hiện đại. Vào thập niên 1980, các nhà khảo cổ học biết rằng có những bộ xương ít nhiều giống với chúng ta đã xuất hiện cách đây khoảng 150.000 năm trước ở các di chỉ tại đông và nam châu Phi. Loài mới này có khuôn mặt phẳng hơn, phía dưới trán hõm vào hơn so với loài vượn người trước kia. Họ ít dùng răng làm công cụ, có tứ chi dài hơn nhưng ít cơ bắp, đồng thời có ống não tủy rộng hơn và thanh quản đặt ở vị trí thuận lợi hơn để giao tiếp. Khoang não của họ nhỏ hơn một chút so với người Neanderthal nhưng hộp sọ của họ cao hơn và vồng hơn để có chỗ cho các trung tâm ngôn ngữ và lời nói lớn hơn và các lớp neuron xếp lên nhau giúp thực hiện đồng thời nhiều phép tính.

Những bộ xương này cũng cho thấy rằng những Homo sapiens đầu tiên có thể bước đi như chúng ta, nhưng lạ thay, ngành khảo cổ học chỉ ra rằng trong suốt 100.000 năm, họ lại cứng đầu không chịu nói. Công cụ và hành vi của Homo sapiens không khác gì mấy so với loài vượn người trước đó, và cũng như loài vượn người, nhưng hoàn toàn không giống chúng ta, Homo sapiens nguyên thủy dường như chỉ hoạt động theo một cách thức duy nhất. Ngoài những di chỉ mà các nhà khảo cổ đào bới ở châu Phi, họ còn tiếp tục phát hiện những hiện vật tương tự ở những nơi khác, nhưng không có gì mới mẻ trừ phi họ khai quật các di chỉ Homo sapiens có niên đại dưới 50.000 năm tuổi. Ở các di chỉ muộn hơn, Homo sapiens bắt đầu thực hiện nhiều điều thú vị và cũng theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, các nhà khảo cổ xác định không dưới sáu loại công cụ đá khác nhau được sử dụng ở vùng thung lũng sông Nile của Ai Cập có niên đại năm 50000-25000 TCN, trong khi trước đó chỉ có một kiểu cách duy nhất phổ biến từ Nam Phi đến bờ Địa Trung Hải.

Chính con người tạo ra kiểu cách. Các công cụ bằng đá, thay vì làm theo cách này lại làm theo cách khác, bấy giờ là chỉ dấu để phân biệt một nhóm người với những nhóm lân cận; nhưng việc đẽo chúng theo cách thứ ba lại đánh dấu một thế hệ mới khác biệt với các thế hệ trước đó. Sự thay đổi vẫn còn chậm chạp do các chuẩn mực chúng ta đã quen thuộc, khi rút ra một điện thoại di động bốn năm tuổi không có chức năng quay phim, định vị người dùng trên bản đồ, hoặc kiểm tra email, trông tôi giống một con người cổ lỗ, nhưng nó vẫn còn nhanh hơn so với tất cả những gì có trước.

Khi bất kỳ thiếu niên nào về nhà với mái tóc nhuộm màu xanh lá hay đeo khuyên tai thì bạn phải hiểu một điều: cách tốt nhất để thể hiện mình là phải trang điểm cho bản thân, việc này đã xảy ra 50.000 năm trước, và gần như không một ai cảm thấy điều này, nhưng về sau hầu hết mọi người đều làm theo. Lần lượt từ di chỉ này sang di chỉ khác có niên đại sau năm 50000 TCN ở khắp châu Phi, các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều đồ trang sức bằng xương, răng động vật và ngà voi; và chúng là những gì của các hoạt động còn sót lại mà chúng ta khai quật được. Chúng tương hợp với hầu hết những hình thức trang điểm cá nhân khác mà chúng ta biết – kiểu tóc, trang điểm, hình xăm, y phục xuất hiện hầu như cùng thời điểm. Một nghiên cứu di truyền học dễ gây khó chịu cho thấy loài chấy rận sống trên cơ thể người, chuyên hút máu và bám trong quần áo chúng ta, đã tiến hóa khoảng 50.000 năm trước như một phần thưởng nhỏ bé dành cho những chuyên gia đầu tiên về thời trang.

“Con người quả là một tuyệt tác của tạo hóa!”❖ Hamlet đã nói thế khi hai người bạn Rosencrantz và Guildenstern đến thăm dò chàng. “Lý trí thì cao quý làm sao! Tài năng quả là vô hạn! Trông vẻ ngoài và dáng đi thì uyển chuyển và đáng ngưỡng mộ làm sao! Trong hành động lại như một thiên thần! Về mặt lĩnh hội thì sánh ngang Thượng Đế!” Và nếu theo những diễn đạt trên thì loài vượn người khác biệt đến thế nào. Khoảng năm 50000 TCN, nhìn tổng quát thì những con người hiện đại lúc đó đã suy nghĩ và hành động ở một mức độ khác biệt với tổ tiên của họ. Dường như đã xảy ra một điều gì khác thường – một điều gì đó sâu xa, kỳ diệu đến mức vào thập niên 1990, nó đã khiến các nhà khoa học vốn điềm tĩnh phải dùng đến những ý tưởng khoa đại theo lối tu từ. Một số nói đến Đại Nhảy vọt⦾; những người khác thì xem là Bình minh của nền văn minh nhân loại, hay thậm chí là Big Bang của ý thức nhân loại.

Bỏ qua mọi tính cường điệu, thì những lý thuyết về Đại Nhảy vọt này luôn không được trọn vẹn. Chúng yêu cầu chúng ta phải hình dung không phải chỉ một mà có đến hai lần biến đổi, lần đầu tiên (khoảng 150.000 năm trước) chỉ mới tạo ra thân xác con người hiện đại nhưng chưa có hành vi con người hiện đại, và lần thứ hai (khoảng 50.000 năm trước) sản sinh hành vi con người hiện đại nhưng thân xác chúng ta vẫn không thay đổi. Giải thích phổ biến nhất là lần biến đổi thứ hai – Đại Nhảy vọt – khởi đầu với những biến đổi thuần túy về mặt thần kinh nối kết não bộ để giúp hiện thực hóa các hoạt động lời nói hiện đại, rồi đến lượt những hoạt động này dẫn đến cuộc cách mạng trong hành vi con người; nhưng việc nối kết này bao gồm những gì (và tại sao lại không có những biến đổi liên quan đối với phần sọ) vẫn còn là một điều bí ẩn.

Nếu có bất cứ nơi nào mà khoa học tiến hóa dành chỗ cho một can thiệp siêu nhiên, và một quyền năng vượt trội nào đó chiếu tia sáng thần thánh vào loài vượn người vô tri, thì chắc chắn phải ở trường hợp này. Khi còn trẻ, tôi đặc biệt thích câu chuyện mở đầu trong cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Arthur C. Clarke là 2001: A Space Odyssey (2001: Chuyến du hành không gian) (và nếu bạn khó theo dõi thì đã có bộ phim đáng nhớ của Stanley Kubrick phỏng theo nguyên tác). Những tảng tinh thể bí ẩn từ không gian bên ngoài trái đất rơi xuống để nâng cấp những vượn người ở hành tinh chúng ta trước khi chúng bị tuyệt diệt vì đói khát. Hằng đêm, Moon Watcher (Kẻ Quan sát Mặt trăng), một người vượn quan trọng nhất trong đàn sống trên trái đất đều cảm nhận điều mà Clarke viết là “những đường gân tọc mạch bỏ qua những vùng chưa được biết đến trong đầu óc của mình” tưởng như một tảng tinh thể đã gửi đến cho nó tầm nhìn và dạy nó cách ném đá. “Chính các nguyên tử trong não bộ giản đơn của nó đã xoắn xuýt lại, hình thành những khuôn mẫu mới,”❖ Clarke viết. Và sau đó nhiệm vụ của tảng tinh thể đã hoàn tất: Moon Watcher nhặt lên một mẩu xương cùng bộ não bị vứt bỏ của một chú lợn con. Chỉ thất vọng một điều, viễn kiến của Clarke về một Big Bang của ý thức nhân loại lại bao gồm cả việc giết chóc mọi thứ, đỉnh điểm là cảnh Moon Watcher giết One Ear (Một Tai), một thủ lĩnh của đàn vượn người đối nghịch. Điều tiếp theo thì độc giả đã biết, chúng ta đang sống trong thời đại không gian.

Clarke đã tạo dựng thời điểm năm 2001 cách đây 3 triệu năm, có lẽ là để giải thích phát kiến công cụ của Homo habilis, nhưng tôi luôn cảm thấy rằng khi một khối tinh thể thực sự thực hiện tốt chức năng của nó là khi con người hoàn toàn hiện đại xuất hiện. Vào thời điểm tôi bắt đầu nghiên cứu về ngành khảo cổ ở trường đại học, tôi đã học được cách không nói những điều như thế, nhưng tôi không thể không nghĩ rằng những giải thích của các chuyên gia ít có sức thuyết phục hơn Clarke.

Vào những ngày xa xôi đó, khi tôi chưa tốt nghiệp đại học, vấn đề lớn của các nhà khảo cổ học đơn giản chỉ là họ không khai quật được nhiều di chỉ có niên đại cách đây từ 200.000 đến 50.000 năm trước. Tuy nhiên, trong thập niên 1990, khi những phát hiện mới tích lũy ngày càng nhiều thì rõ ràng chúng ta không còn cần đến những khối tinh thể đó nữa; thực vậy, Đại Nhảy vọt tự nó bắt đầu hòa lẫn vào một chuỗi Bước Khởi đầu Chập chững, trải dài trên hàng chục nghìn năm.

Hiện nay, chúng ta đã biết đến một số di chỉ có trước năm 50000 TCN cùng với những dấu hiệu đáng ngạc nhiên về hành vi hiện đại. Chẳng hạn, Pinnacle Point, một hang động được khai quật vào năm 2007 trên bờ biển Nam Phi, nơi Homo sapiens đã di chuyển đến khoảng 160.000 năm trước. Ở đây có điều rất thú vị: những vượn người trước đó thường không quan tâm đến các địa điểm ven biển, có lẽ do không biết cách tìm thức ăn ở đó. Tuy nhiên, Homo sapiens không chỉ tiến ra bờ biển – rõ ràng là một hành vi hiện đại – mà khi đến đó họ còn đủ thông minh để thu thập các loại trai sò, cạy chúng ra để nấu nướng. Họ cũng đẽo những viên đá thành mũi nhọn nhỏ và nhẹ mà các nhà khảo cổ gọi là mũi dao nhỏ (bladelet), dùng làm mũi lao hay mũi tên là tuyệt hảo – một điều mà cả người vượn Bắc Kinh lẫn người Neanderthal ở châu Âu không làm được.

Ở một số di chỉ châu Phi khác, họ còn tham gia vào các hoạt động khác nhau nhưng trông có vẻ hiện đại. Khoảng 100.000 năm trước đây, ở hang động Mumbwa, Zambia, người ta đã lát một khoảng trước nơi sưởi lửa bằng các phiến đá để tạo ra một góc ấm cúng, và chúng ta dễ dàng tưởng tượng cảnh họ đang ngồi quây quần kể chuyện, đồng thời ở hàng chục địa điểm quanh các bờ biển châu Phi, từ mũi phía nam đến Morocco và Algeria ở phía bắc (thậm chí bên ngoài châu Phi, ở Israel), họ còn ngồi kiên nhẫn cắt và nghiền vỏ trứng đà điểu để xâu thành chuỗi, một số chỉ có bề ngang khoảng 0,6cm. Khoảng 90.000 năm trước, người ở Katanda, Congo đã trở thành ngư dân chính cống, chế tác lao móc để đâm cá từ xương động vật. Tuy nhiên, di chỉ thú vị nhất lại là hang động Blombos ở bờ biển phía nam châu Phi, nơi mà ngoài các chuỗi hạt vỏ sò, các nhà khai quật còn tìm thấy một thanh kim loại màu hoàng thổ (một loại quặng sắt) có niên đại 77.000 năm tuổi. Hoàng thổ có thể được dùng để kết dính mọi thứ với nhau, những cánh buồm chống thấm, và tất cả các loại công việc khác, nhưng trong thời kỳ đó nó đặc biệt thông dụng để vẽ, tạo những vạch đỏ đậm trên vỏ cây, tường hang động, và cơ thể người. Có 57 mảnh hiện vật như thế được đào lên ở Pinnacle Point, và khoảng năm 100000 TCN nó xuất hiện trên hầu hết các di chỉ ở châu Phi, có thể là do những người thời đó thích vẽ. Tuy nhiên, điểm thực sự nổi bật của cây gậy hoàng thổ ở Blombos là có người đã rạch một hoa văn kỷ hà trên đó, biến nó thành tác phẩm nghệ thuật không còn bàn cãi gì nữa – và dĩ nhiên một tác phẩm được tạo ra đồng nghĩa với việc nhiều tác phẩm nghệ thuật hơn cũng sẽ ra đời.

Ở mỗi di chỉ chúng ta đều tìm thấy dấu vết của một hoặc hai loại hành vi hiện đại, nhưng không một hoạt động nào thường thấy sau năm 50000 TCN. Cũng không có nhiều dấu hiệu cho thấy các hoạt động hiện đại được tích lũy, gây dựng dần dần cho đến khi họ tiếp quản. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ đã bắt đầu nắm được cách giải thích cho những bước đi chập chững non trẻ hướng đến con người hiện đại, chủ yếu là được thúc đẩy bởi sự thay đổi khí hậu.

Các nhà địa chất học nhận thức lại vào thập niên 1830 rằng những tuyến sỏi cuội cong, dài hàng kilomet tìm thấy ở các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ phải được tạo ra do các dải băng hà đẩy dạt các mảnh vụn lên trước (chứ không phải bởi trận đại hồng thủy trong Kinh Thánh như những suy nghĩ trước đây). Khái niệm về một Thời đại Băng hà được khai sinh, mặc dù phải mất đến 50 năm trước khi các nhà khoa học hiểu được chính xác lý do tại sao lại xảy ra các Thời đại Băng hà.

Quỹ đạo trái đất xoay quanh mặt trời không tròn trịa một cách hoàn hảo do lực hấp dẫn của các hành tinh khác cũng lôi kéo chúng ta. Trong một tiến trình hàng trăm nghìn năm, quỹ đạo của hành tinh chúng ta di chuyển gần như tròn (như hiện tại) đến dạng ellipse, rồi tròn trở lại. Độ nghiêng của trái đất trên trục của nó cũng thay đổi theo nhịp điệu 22.000 năm, và cũng giống như cách hành tinh lắc lư quanh trục này, lần này lại ở mức 41.000 năm. Các nhà khoa học gọi chúng là chu kỳ Milankovitch, theo tên một nhà toán học người Serbia, người đã tính toán bằng viết tay trong khi bị quản thúc vào thời kỳ Thế chiến I (đây là một sự quản thúc rất lịch sự vì Milankovitch vẫn được tự do dành cả ngày trong thư viện của Viện Hàn lâm Khoa học Hungary). Các mô hình quỹ đạo xoay này cứ kết hợp và tái kết hợp theo những cách phức tạp khó hiểu, nhưng theo lịch trình khoảng hàng trăm nghìn năm, chúng lại khiến trái đất chúng ta hấp thu bức xạ mặt trời nhiều hơn mức trung bình khi bề mặt tiếp xúc được phân bố không đồng đều trong cả năm, hay nhận ánh sáng mặt trời ít hơn khi được phân bố cân bằng hơn.

Nhưng điều này không có ý nghĩa gì nhiều, ngoại trừ cách thức chu kỳ Milankovitch tương tác với hai chiều hướng địa chất. Thứ nhất, trong 50 triệu năm qua, sự trôi dạt lục địa đã đẩy hầu hết các vùng đất về phía bắc đường xích đạo, khiến có một bán cầu chủ yếu là đất và bán cầu kia là nước, làm gia tăng hiệu ứng của các biến đổi theo mùa do bức xạ mặt trời. Thứ hai, hoạt động núi lửa cũng giảm đi trong cùng thời kỳ. Trong bầu khí quyển có ít khí carbonic hơn (cho đến nay) so với thời kỳ khủng long, và vì thế hành tinh chúng ta – do đã vận hành trong một thời gian dài và mãi đến gần đây – đã nguội đi một cách nhanh chóng.

Suốt phần lớn lịch sử trái đất, mùa đông thường lạnh đủ để tuyết rơi ở hai cực và tuyết đóng lại thành băng, nhưng vào mùa hè thì mặt trời lại làm tan băng. Tuy nhiên, 14 triệu năm trước, hoạt động núi lửa sụt giảm đã làm trái đất nguội nhanh đến mức tại Nam Cực, nơi có một đại lục lớn, mặt trời mùa hè không còn làm tan băng nữa. Tại Bắc Cực, nơi không có đất liền, băng dễ dàng tan nhanh, nhưng khoảng 2,75 triệu năm trước, nhiệt độ lại giảm xuống đủ để giữ băng tồn tại quanh năm. Điều này gây hậu quả rất lớn, bởi vì hiện tại bất cứ khi nào chu kỳ Milankovitch khiến trái đất hấp thụ ít bức xạ mặt trời khi bề mặt tiếp xúc được phân bố đều trong năm, thì chỏm băng Bắc Cực sẽ lan rộng ra Bắc Âu, châu Á và châu Mỹ, đồng thời giam nước lại, làm đất đai khô hạn và mực nước biển xuống thấp, phản chiếu lại bức xạ mặt trời nhiều hơn, và còn làm nhiệt độ giảm xuống. Sau đó, nhiệt độ trái đất giảm xuống theo hình xoắn ốc, hình thành một Thời đại Băng hà – cho đến khi hành tinh này chao lắc, nghiêng đi, và xoay trở lại nơi ấm hơn, làm bằng tan.

Tùy thuộc vào cách tính toán của bạn, đã xảy ra khoảng 40 đến 50 Thời đại Băng hà, và có hai thời kỳ tiếp nối kéo dài khoảng năm 190000-90000 TCN – những thiên niên kỷ quan trọng quyết định sự tiến hóa của con người – là đặc biệt khắc nghiệt. Lấy ví dụ hồ Malawi, cách đây 135.000 năm nó chỉ chứa một lượng nước bằng 1/20 hiện nay. Môi trường khắc nghiệt hơn ắt hẳn đã làm thay đổi các quy luật sinh tồn, điều này có thể giải thích tại sao những đột biến tạo thuận lợi cho óc thông minh bắt đầu chín muồi. Nó cũng có thể giải thích lý do chúng ta phát hiện rất ít di chỉ ở thời kỳ này, hầu hết những con người nguyên thủy có thể đã chết hết. Một số nhà khảo cổ học và di truyền học ước tính vào khoảng năm 100000 TCN chỉ còn khoảng 20.000 Homo sapiens sống sót.

Nếu lý thuyết mới này chính xác, thì cuộc khủng hoảng dân số ắt hẳn đã làm được một số điều ngay tức thì. Một mặt, việc thu hẹp toàn bộ gen sẽ làm các đột biến tăng lên dễ dàng hơn, nhưng mặt khác, nếu các nhóm Homo sapiens ít đi, họ sẽ dễ chết hơn, nhưng lại có những đột biến thuận lợi cho họ. Nếu (có vẻ như từ các di chỉ ít ỏi được phát hiện thuộc thời kỳ này) có ít nhóm người hơn, họ sẽ ít gặp nhau và ít có cơ hội để chia sẻ gen và kiến thức của mình. Chúng ta có thể hình dung rằng trong suốt 100.000 năm, các nhóm nhỏ người nguyên thủy đã nỗ lực để sống còn ở châu Phi trong những môi trường không thân thiện và không lường trước được. Họ không thường xuyên gặp nhau, giao phối, hay trao đổi vật dụng và thông tin. Những đột biến gen phát triển mạnh trong những nhóm nhỏ người sống biệt lập, một số sản sinh con người giống như chúng ta, một số thì không. Một số nhóm phát kiến ra lao móc, số nhiều hơn biết xâu chuỗi hạt, nhưng hầu hết không biết gì, và bóng ma của sự tuyệt chủng luôn ám ảnh tất cả.

Đó là những ngày đen tối của Homo sapiens, nhưng khoảng 70.000 năm trước, thời vận của họ đã thay đổi. Khí hậu Đông và Nam Phi ấm lên và ẩm hơn, khiến việc săn bắt và thu hái dễ dàng hơn, và con người cũng sinh sôi nảy nở trở lại cùng tốc độ với nguồn thức ăn của họ. Homo sapiens hiện đại lại tiếp tục tiến hóa trong hàng trăm nghìn năm, với nhiều thử thách, sai sót, và nguy cơ tuyệt chủng, nhưng khi khí hậu được cải thiện, những quần thể đó, với những đột biến thuận lợi nhất đã xóa bỏ hay phối giống với những tộc người kém thông minh hơn. Không có khối tinh thể nào, cũng không có Đại Nhảy vọt, mà chỉ có rất nhiều tình dục và trẻ sơ sinh.

Trong vòng một vài nghìn năm đầu, con người đã đạt đến một đỉnh điểm về mặt nhân khẩu cũng như di truyền. Thay vì thường phải chết dần chết mòn, những nhóm người hiện đại đã đủ lớn và đông đúc để giữ liên lạc thường xuyên, chia sẻ gen và bí quyết tạo tác công cụ. Sự thay đổi cứ chồng chất mãi và hành vi của Homo sapiens nhanh chóng tách khỏi hành vi của các loài vượn người khác. Và một khi điều này xảy đến, thì nó cũng đánh dấu thời gian khởi đầu cho những khác biệt về mặt di truyền giữa Đông và Tây.

Rời châu Phi một lần nữa

Sự thay đổi khí hậu hiếm khi đơn giản, và 70.000 năm trước, trong khi quê hương của Homo sapiens ở phía đông và nam châu Phi bị ẩm ướt thì vùng Bắc Phi lại khô cằn. Tổ tiên của chúng ta, nhanh chóng nhân rộng trong phạm vi quê nhà của mình, đã chọn không đi theo hướng đó; thay vì thế, các nhóm nhỏ đi lang thang từ nơi bây giờ là Somalia băng qua vùng cầu nối đến phía nam Ả Rập, rồi sau đó tới Iran (Hình 1.3). Ít nhất, đây là những gì chúng tôi nghĩ họ hẳn phải làm. Hiện còn tương đối ít thăm dò khảo cổ ở Nam Á, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng các nhóm người hiện đại đã di chuyển theo con đường này, vì năm 60000 TCN họ đã đi bằng thuyền đến Indonesia, vượt qua 80km biển, và rong ruổi đến tận hồ Mungo ở miền Nam Australia. Những người đi định cư ở vùng đất mới này di chuyển nhanh gấp 10 lần so với Homo erectus/ergaster từng làm khi họ rời châu Phi, trung bình hơn 1,6km mỗi năm so với 300m của những vượn người trước đó.

Hình 1.3. Sự thống nhất của loài người được khôi phục: sự lan đi của con người hoàn toàn hiện đại khỏi châu Phi trong khoảng từ 60.000 đến 12.000 năm trước. Những con số cho thấy bao nhiêu năm trước con người đã đến từng nơi trên thế giới và đường bờ biển đại diện cho những người ở cuối Thời đại Băng hà, khoảng 20.000 năm trước.

Ở giai đoạn 50.000 đến 40.000 năm trước, một làn sóng di cư thứ hai có thể qua Ai Cập vào phía Tây Nam và Trung Á, trải rộng từ đó đến châu Âu. Con người lúc này đủ khéo léo để tạo ra những lưỡi dao và kim làm từ xương rất tinh tế, những con người hiện đại này đã cắt và may được y phục phù hợp và dựng nhà từ ngà voi mammoth và da thú, biến những vùng hoang vu băng giá của vùng Siberia thành nơi cư trú. Khoảng năm 15000 TCN, con người vượt qua vùng đất cầu nối giữa Siberia với Alaska và/hoặc đi thuyền từng chặng men theo các vùng rìa. Khoảng năm 12000 TCN, họ đã lưu lại sỏi phân (coprolite) trong các hang động ở Oregon và tảo biển ở vùng núi Chile. (Một số nhà khảo cổ học cho rằng con người cũng vượt qua Đại Tây Dương dọc theo rìa các dải băng, lúc đó còn nối châu Âu với châu Mỹ, mặc dù đây chỉ là phỏng đoán).

Tình trạng ở vùng Đông Á thì ít rõ ràng hơn. Một hộp sọ còn nguyên vẹn của con người hiện đại được tìm thấy ở Liễu Giang (Liujiang), Trung Hoa có thể đến 68.000 năm tuổi, nhưng có một số vấn đề kỹ thuật với niên đại này, và giờ thì đã xác định niên đại xưa nhất của nó chỉ khoảng năm 40000 TCN. Việc khai quật thêm nhiều di chỉ sẽ giúp giải quyết vấn đề con người hiện đại đến Trung Hoa sớm hơn hay muộn hơn,⦾ nhưng chắc chắn họ đã đến Nhật Bản cách đây 20.000 năm.

Bất kỳ nơi nào những con người mới đi đến, họ đều để lại dấu vết tàn phá. Những lục địa nơi loài vượn người trước đây chưa bao giờ đặt chân đến giờ đây lại biến thành vùng đất săn bắt rộng lớn cho Homo sapiens khi họ đến đó. Những con người đầu tiên vào New Guinea và Australia đã từng chứng kiến loài chim không bay được nặng đến hơn 180 kg và những con thằn lằn nặng cả tấn; nhưng đến khoảng năm 35000 TCN thì chúng đã bị tuyệt chủng. Các hiện vật tìm thấy ở hồ Mungo và một số di chỉ khác cho thấy con người đã đến đó cách đây khoảng năm 60000 TCN, nghĩa là con người và quần thể động vật khổng lồ đã cùng sống chung trong suốt 25 thiên niên kỷ, nhưng một số nhà khảo cổ bác bỏ những niên đại này, cho rằng con người chỉ đến đó 40.000 năm trước. Nếu họ đúng, thì những loài thú lớn nhanh chóng biến mất một cách đáng nghi sau khi con người đến. Ở châu Mỹ, những người di cư đến vùng đất mới đầu tiên, cách đây 15.000 năm, đã thấy có lạc đà, voi và những con lười to lớn; và chỉ trong vòng 4.000 năm, tất cả đều biến mất. Trùng hợp ngẫu nhiên giữa sự xuất hiện của Homo sapiens và sự ra đi của các loài động vật khổng lồ, ít nhất cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Không có bằng chứng trực tiếp nào cho thấy con người săn bắt những con vật này đến mức chúng bị tuyệt chủng hay đẩy chúng ra khỏi môi trường sống, và các giải thích khác cho sự biến mất của chúng (như thay đổi khí hậu hay các vụ nổ sao chổi) thì rất nhiều, nhưng lại ít có tranh cãi về vấn đề khi con người hiện đại tràn vào những môi trường đã có loài vượn người cư trú, thì giống loài này đã tuyệt chủng chưa. Con người hiện đại tràn vào châu Âu khoảng năm 35000 TCN, và chỉ trong vòng 10.000 năm thì người Neanderthal đã biến mất ở khắp mọi nơi ngoại trừ các triền núi của đại lục này. Những di chỉ trầm tích về người Neanderthal mới nhất được biết đến, từ Gibraltar ở phía nam Tây Ban Nha, đều có niên đại khoảng năm 25000 TCN. Sau khi thống trị châu Âu trong suốt 150.000 năm, người Neanderthal, đơn giản là đã biến mất.

Tuy nhiên, những chi tiết về việc con người hiện đại thay thế loài vượn người như thế nào lại quyết định cho những giải thích về mặt chủng tộc để làm cho việc phương Tây vượt trội trở nên có ý nghĩa. Chúng ta vẫn chưa biết liệu tổ tiên của mình có chủ động tàn sát giống loài được ban tặng ít tri thức hơn hay chỉ do tranh giành lương thực. Tại hầu hết các di chỉ, những trầm tích liên quan đến con người hiện đại đơn giản chỉ thế chỗ những gì liên quan đến người Neanderthal, điều này cho thấy có một sự thay đổi đột ngột. Một ngoại lệ quan trọng nhất là hang động Reindeer ở Pháp, nơi mà những giai đoạn chiếm ngụ của người Neanderthal và người hiện đại xen kẽ nhau một cách rõ ràng giữa 33.000 và 35.000 năm trước, và các lớp trầm tích của người Neanderthal có cả nền đá để dựng lều, công cụ bằng xương, và dây chuyền làm từ răng động vật. Những nhà khai quật cho rằng người Neanderthal đã học hỏi từ con người hiện đại và đang tiến đến một Bình minh Nhận thức của người Neanderthal. Một số hiện vật hoàng thể tìm thấy tại các di chỉ người Neanderthal ở Pháp (mỗi hiện vật nặng 9kg trong một hang động) có thể chỉ ra điều đó.

Rất dễ hình dung cảnh những người Neanderthal lông mày rậm, lực lưỡng đang quan sát những kẻ mới đến nói luôn miệng, sơn vẽ trên cơ thể và dựng chòi, sau đó cố gắng lặp lại những hành động này với những ngón tay vụng về, hoặc có thể trao đổi thịt tươi mới săn được để lấy đồ trang sức. Trong The Clan of the Cave Bear, Jean Auel tưởng tượng ra những con người hiện đại khinh khỉnh xua đuổi những người Neanderthal Đầu Dẹt, trong khi người Neanderthal cố gắng ngăn trở Những Kẻ Khác – ngoại trừ Ayla, một cô bé người hiện đại 5 tuổi mồ côi được bộ tộc Cave Bear của người Neanderthal nuôi dưỡng, là có kết quả chuyển hóa. Tất nhiên, tất cả chỉ là tưởng tượng, nhưng nó cũng có vẻ hợp lý như những dự đoán khác (trừ khi chúng ta tin theo những nhà khảo cổ không chút nào lãng mạn, những người chỉ ra rằng việc khai quật tùy tiện là lời giải thích kinh tế nhất đối với các trầm tích đan xen của người Neanderthal và người hiện đại ở động Reindeer, điều này có nghĩa là không có bằng chứng trực tiếp nào cho thấy người Đầu Dẹt đã học hỏi từ Những Kẻ Khác).

Điểm mấu chốt là quan hệ tình dục. Nếu con người hiện đại thay thế người Neanderthal ở Cựu Thế giới phương Tây và người Homo erectus ở các khu vực phía Đông không có sự giao phối, thì các lý thuyết phân biệt chủng tộc mà truy nguyên lý do phương Tây vượt trội dựa trên những khác biệt về mặt di truyền thời tiền sử hẳn phải sai lầm. Nhưng liệu có phải đó là những gì đã diễn ra?

Vào thời kỳ hoàng kim của cái gọi là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có tính khoa học ở thập niên 1930, một số nhà nhân chủng học cho rằng người Trung Hoa hiện đại có tính nguyên thủy hơn người châu Âu vì hộp sọ của họ có những điểm tương đồng (đỉnh đầu nhỏ, phần trên khuôn mặt hơi dẹt, quai hàm không lộ, răng cửa vẩu) với người vượn Bắc Kinh. Cũng theo phương pháp đối sánh này, các nhà nhân học này cũng chỉ ra rằng hộp sọ của các dân tộc bản địa ở Australia có những điểm giống nhau – đỉnh đầu tròn phía sau để gắn với cơ cổ, lông mày nhô, trán thụt vào, răng to – với người Homo erectus ở Indonesia một triệu năm trước. Rồi họ (học giả phương Tây) kết luận rằng những người phương Đông hiện đại ắt phải là hậu duệ của loài vượn người nguyên thủy, trong khi người phương Tây là hậu duệ của người Neanderthal tiến bộ hơn; và điều đó có thể giải thích lý do phương Tây vượt trội.

Dĩ nhiên ngày nay thì không ai đặt vấn đề thô thiển đến thế, nhưng nếu có một câu hỏi nghiêm túc về nguyên nhân đó, thì chúng ta phải đối mặt với khả năng Homo sapiens đã giao phối với các chủng người tiền hiện đại và nếu xét về mặt di truyền thì quần thể người phương Đông vẫn ít tiến bộ hơn so với người phương Tây. Chúng ta sẽ không bao giờ khai quật được những người hang động đang giao cấu để xem liệu Homo sapiens có hợp nhất gen của mình với người Neanderthal ở phương Tây và người vượn Bắc Kinh ở phương Đông hay không, may mắn thay, chúng ta không cần đến điều đó vì có thể xem xét hệ quả các cuộc hẹn hò trăng hoa của họ ngay trong cơ thể chúng ta.

Mỗi người trong chúng ta đều thừa hưởng DNA mà mọi tổ tiên từng có, có nghĩa là theo lý thuyết, các nhà di truyền học có thể đối chiếu DNA của những người còn sống và vẽ một cây gia đình lùi lại đến tổ tiên gần đây nhất của con người. Dù vậy, về mặt thực tiễn thì một nửa DNA trong cơ thể của bạn đến từ dòng dõi người mẹ, còn một nửa từ dòng dõi người cha khiến việc gỡ rối thông tin cũng khó khăn chẳng khác gì phục hồi một quả trứng vỡ.

Các nhà di truyền học đã tìm ra một phương cách thông minh để giải quyết vấn đề này bằng cách tập trung vào DNA ty thể. Thay vì được sao chép từ hoạt động sinh lý như hầu hết các DNA, DNA ty thể chỉ được truyền từ nữ giới (nam giới thừa hưởng DNA ty thể từ người mẹ nhưng không truyền lại được). Thời xa xưa chúng ta đều có cùng một DNA ty thể, do đó bất kỳ sự khác biệt nào giữa DNA ty thể trong cơ thể của tôi và của bạn phải là kết quả của những đột biến ngẫu nhiên chứ không phải do sự pha trộn tình dục.

Vào năm 1987, một nhóm nghiên cứu của nhà di truyền học Rebecca Cann công bố một nghiên cứu về DNA ty thể của những chủng người còn sống trên khắp thế giới. Họ phân biệt được khoảng 150 loại nằm trong dữ liệu và nhận ra rằng dù có sắp xếp số liệu thống kê cách nào đi nữa thì vẫn nhận được ba kết quả chủ yếu: thứ nhất, có sự đa dạng di truyền ở châu Phi hơn bất kỳ nơi nào khác; thứ hai, sự đa dạng ở phần còn lại của thế giới chỉ là một tập hợp con của sự đa dạng trong phạm vi châu Phi, và thứ ba, các dòng DNA ty thể sâu xa nhất, và do đó cổ nhất, đều xuất phát từ châu Phi. Kết luận là đương nhiên: cụ tổ mẫu chung cuối cùng của mọi người trên thế giới hẳn là sống ở châu Phi, và ngay lập tức được gán cho cái tên Nàng Eve châu Phi. Theo khảo sát của Cann và các đồng nghiệp thì cụ tổ này là một người mẹ may mắn.❖ Áp dụng những đánh giá chuẩn mực về tỉ lệ đột biến trong DNA ty thể, họ kết luận rằng nàng Eve này sống cách đây 200.000 năm.

Trong suốt thập niên 1990, các nhà cổ nhân loại học đã tranh cãi về những kết luận của nhóm Cann. Một số người đặt câu hỏi về các phương pháp của họ (có hàng nghìn cách để sắp xếp kết quả mà về mặt lý thuyết thì tất cả đều có giá trị như nhau) và số khác thì nghi ngờ các chứng cứ của họ (hầu hết người châu Phi trong nghiên cứu ban đầu đều là người Mỹ gốc Phi), nhưng dù có ai đó chỉnh sửa lại mẫu vật hay số liệu chăng nữa, thì vẫn cho kết quả gần như nhau. Thay đổi thực sự duy nhất là đẩy lùi cuộc đời của Eve lại gần hơn, khoảng 150.000 năm trước. Để giải quyết mọi vấn đề, nàng Eve châu Phi đã có bầu có bạn vào cuối thập niên 1990 khi các tiến bộ kỹ thuật cho phép các nhà di truyền học khảo sát nhân DNA trên nhiễm sắc thể Y. Cũng như DNA ty thể, nó được sao chép vô tính, nhưng chỉ được truyền qua người nam. Các nghiên cứu cho thấy DNA của nhiễm sắc thể Y cũng có tính đa dạng lớn nhất và nòi giống sâu xa nhất ở châu Phi, chỉ ra một Adam châu Phi sống cách đây khoảng 60.000 đến 90.000 năm trước, và là cội nguồn của các biến thể không thuộc châu Phi khoảng 50.000 năm trước. Vào năm 2010, các nhà di truyền học bổ sung thêm một chi tiết: ngay sau khi rời châu Phi, Homo sapiens đã giao phối với người Neanderthal đủ để nhận một vệt DNA của họ, để rồi sau đó họ nhân rộng sự pha trộn này trên toàn bộ hành tinh.

Tuy nhiên, một số nhà cổ sinh học vẫn còn hoài nghi, họ cho rằng di truyền học hầu như không chỉ ra được những điểm tương đồng về bộ xương giữa Homo sapiens phương Tây với người Neanderthal và giữa Homo sapiens phương Đông với người Homo erectus. Thay cho mô hình bên ngoài châu Phi này, họ đề xuất một mô hình đa vùng. Họ thừa nhận có khả năng Những bước Khởi đầu chập chững đã xảy ra ở châu Phi, nhưng các chuyến di dân cư giữa châu Phi, châu Âu và châu Á lúc đó đã thúc đẩy các dòng gen nhanh đến nỗi các đột biến thuận lợi ở một nơi đã lan rộng khắp các vùng chỉ trong vòng vài nghìn năm. Kết quả là, một số chủng người hiện đại khá khác biệt đều cùng tiến hóa song song ở nhiều nơi trên thế giới. Điều đó có thể giải thích các chứng cứ về bộ xương và di truyền, đồng thời cũng có nghĩa là con người phương Đông và con người phương Tây khác nhau về mặt sinh học.

Giống như nhiều lý thuyết khác, thuyết đa vùng cũng có lá mặt lá trái, một số nhà khoa học Trung Hoa khăng khăng cho rằng Trung Hoa là một hiện tượng ngoại lệ vì – theo ghi nhận trên tờ China Daily – “người Trung Hoa hiện đại khởi nguồn từ khu vực mà hiện nay là lãnh thổ Trung Hoa chứ không phải từ châu Phi.”❖ Tuy nhiên, kể từ cuối thập niên 1990, các bằng chứng vững chắc đã loại bỏ ý tưởng này. Vùng Đông Á rất ít tiến hành các phân tích DNA cổ, và cũng kiệm lời tán tụng các nhà khoa học về thuyết đa vùng. Thậm chí các tác giả của một nghiên cứu nhiễm sắc thể Y còn kết luận rằng “các dữ liệu không có chút đóng góp nào đúng đắn, dù nhỏ, về nguồn gốc con người hiện đại về mặt giải phẫu học ở vùng Đông Á.”❖ Tại châu Âu, các nghiên cứu ban đầu về DNA ty thể của người Neanderthal cho thấy hoàn toàn không có sự trùng lặp với DNA ty thể của con người (dù ở xương người có 24.000 năm tuổi hay ở người châu Âu còn sống và hít thở), dẫn đến việc người Neanderthal và Homo sapiens không, hoặc không có khả năng lai giống được. Việc làm sáng tỏ bộ gen đầy đủ của người Neanderthal giờ đây đã cho thấy điều này đi quá xa, đồng thời cho thấy người Neanderthal đã từng khơi nguồn cảm hứng đủ cho Homo sapiens tạo ra một dấu ấn nhỏ trên DNA của chúng ta, nhưng nó cũng chỉ ra rằng dấu ấn đó hoàn toàn giống nhau từ Pháp đến Trung Hoa. Ở mọi nơi trên vùng lục địa Á-Âu, mọi dân tộc (các nhóm lớn) đều giống nhau.

Cuộc tranh luận về nguồn gốc đa vùng vẫn còn kéo dài, và gần đây, vào năm 2007, những phát hiện mới ở Chu Khẩu Điếm và Hứa Xương (Xuchang) đã được công bố theo hướng con người hiện đại hẳn phải tiến hóa từ người Homo erectus ở Trung Hoa. Tuy nhiên, ngay khi công bố về những phát hiện này đang được in ra, thì các học giả khác cũng đã đặt dấu chấm hết cho cái gọi là thuyết đa vùng. Phép phân tích hồi quy đa biến phức tạp của họ trong việc đo đạc trên 6.000 hộp sọ cho thấy rằng khi chúng ta phân định được khí hậu không phải là yếu tố hàng đầu thì những biến thể của các loại hộp sọ trên khắp thế giới đương nhiên sẽ phù hợp với các chứng cứ về DNA. Việc chúng ta phân tán khỏi châu Phi trong 60.000 năm qua đã khơi mào cho những khác biệt về mặt di truyền xuất hiện từ nửa triệu năm trước. Những thuyết phân biệt chủng tộc dựa vào sinh vật học để giải thích luận điểm phương Tây vượt trội hiển nhiên không có cơ sở. Con người, ở các chủng tộc lớn, dù ở bất cứ đâu cũng đều giống nhau, và tất cả chúng ta đều thừa hưởng như nhau những khả năng tư duy sáng tạo không ngừng từ tổ tiên người châu Phi. Sinh vật học tự thân không thể giải thích được lý do phương Tây vượt trội.

Những Picasso thời tiền sử

Vậy nếu các lý thuyết về chủng tộc sai, thì Đông và Tây khởi đầu ở đâu? Câu trả lời dường như rất rõ ràng đối với nhiều người châu Âu trong hơn 100 năm qua: ngay cả khi sinh vật học không tham gia, họ cũng tự tin khẳng định rằng châu Âu đã vượt trội hơn người phương Đông về mặt văn hóa kể từ khi có những con người hiện đại. Bằng chứng thuyết phục xuất hiện vào năm 1879. Tác phẩm On the Origin of Species (Nguồn gốc các loài) của Charles Darwin xuất bản hai thập niên trước đó đã khiến việc săn lùng hóa thạch trở thành một trào lưu của các quý ông, và cũng như nhiều người trong giai tầng của mình, quý ngài Marcelino Sanz de Sautuola chọn săn tìm những người hang động trên lãnh địa của mình ở miền Bắc Tây Ban Nha. Một hôm, ông đi thăm động Altamira cùng con gái. Khảo cổ học không có gì thú vị đối với một cô bé mới tám tuổi, do đó trong khi Sautuola chăm chú quan sát trên mặt đất thì cô bé Maria chạy quanh chơi đùa. Nhiều năm sau cô kể với một người phỏng vấn: “Đột nhiên tôi phát hiện những hình thể và con số trên trần hang.”❖ Cô hổn hển nói với cha: “Bố, xem này, những con bò!”

Mọi nhà khảo cổ đều mơ ước về một khoảnh khắc “Ôi, lạy Chúa tôi!” – giây phút xảy ra điều hoàn toàn không ngờ đến, lúc thời gian ngừng trôi và mọi thứ đều biến đi khi đối mặt với một phát hiện gây chấn động đến mức không thể tin được. Ít nhà khảo cổ học nào gặp được điều này, và có lẽ cũng không một nhà khảo cổ học nào từng được diễm phúc như thế. Sautuola thấy vô số hình vẽ bò rừng, hươu nai đủ màu sắc từng lớp chồng lên nhau phủ kín 6,1m quanh trần động, Số thì nằm cuộn tròn, số thì nhảy cỡn, số thì đang chồm lên trông vui nhộn (Hình 1.4). Mỗi con đều được diễn tả một cách sinh động và đẹp mắt. Nhiều năm sau, khi Picasso ghé thăm di chỉ này đã sững sờ phát biểu rằng: “Không một ai trong chúng ta sẽ được như thế, sau Altamira mọi thứ đều suy tàn.”

Hình 1.4. “Sau Altamira, mọi thứ đều suy tàn…” Một phần của bức tranh lộng lẫy về bò rừng trên trần hang động Altamira, do cô bé 8 tuổi Maria Sanz de Sautuola phát hiện vào năm 1879, khiến cuộc đời của người cha bị hủy hoại và Picasso phải sững sờ.

Phản ứng đầu tiên của Sautuola là bật cười, nhưng sau đó ông nhanh chóng “bị cuốn hút đến nỗi không thốt ra được lời nào,”❖ Maria hồi tưởng. Dần dần ông ta thuyết phục mình rằng những hình vẽ này đúng thật là cổ xưa (những nghiên cứu gần đây cho thấy một số hình vẽ đã có hơn 25.000 năm tuổi). Tuy nhiên vào năm 1879 thì không ai biết đến điều này. Trên thực tế, khi Sautuola giới thiệu di tích này tại Hội nghị Quốc tế về Nhân học và Khảo cổ Tiền sử ở Lisbon vào năm 1880, các chuyên gia đã cười cợt và mời ông rời diễn đàn. Mọi người hồi đó đều cho rằng người hang động không thể sản sinh một nền nghệ thuật như thế; họ cho rằng Sautuola là một tay lừa bịp hay chỉ là một kẻ khờ khạo. Sautuola xem đây là một xúc phạm đến danh dự của mình. Ông bị sụp đổ hoàn toàn rồi qua đời tám năm sau đó. Chính khoảnh khắc “Ôi, lạy Chúa tôi!” định mệnh đó đã hủy hoại cuộc đời ông.

Mãi đến năm 1902, người chỉ trích Soutuola mạnh mẽ nhất mới đến thăm Altamira và công khai thừa nhận sai lầm của mình, và cũng từ đó vài trăm hang động thời tiền sử có sơn vẽ được phát hiện. Động Chauvet ở Pháp, một trong những hang động đặc trưng nhất, được phát hiện gần đây vào năm 1994, được bảo tồn tốt đến nỗi trông như các nghệ sĩ vừa mới bước ra ngoài để dùng bữa rồi và sẽ quay lại để vẽ tiếp bất kỳ lúc nào. Một trong những bức tranh ở Chauvet có đến 30.000 năm tuổi, khiến nó trở thành một trong những dấu vết sớm nhất của con người hiện đại ở Tây Âu.

Không nơi nào trên thế giới phát hiện được những kiểu tranh hang động này. Sự di cư của con người hiện đại khỏi châu Phi đã quét sạch mọi khác biệt do Tuyến Movius và các biến dị sinh học giữa các giống loài vượn người đầu tiên tạo ra; nhưng liệu chúng ta có nên định vị sự khởi đầu thực sự của một truyền thống phương Tây đặc biệt (và thượng đẳng) hiện diện cách đây 30.000 năm trước qua một nền văn hóa sáng tạo độc đáo phủ khắp vùng phía bắc Tây Ban Nha và miền Nam nước Pháp với những Picasso thời tiền sử này hay không?

Câu trả lời, có lẽ gây ngạc nhiên, lại nằm trong những phế vật bị đông cứng ở vùng Nam Cực. Hằng năm tuyết đổ xuống đó, phủ lấp những lớp tuyết trước và ép chúng vào những lớp băng mỏng. Những lớp này giống như một bộ biên niên về thời tiết cổ đại. Qua việc tách chúng ra, các nhà khí hậu học có thể đo được độ dày của chúng và cho chúng ta biết lượng tuyết đổ xuống là bao nhiêu; thiết lập sự cân bằng phương trình hóa học giữa các chất đồng vị của oxygen để biết được nhiệt độ; và đối chiếu lượng carbon dioxide và khí metan để giải thích hiệu ứng nhà kính. Nhưng việc khoan đến các vùng lõi xuyên qua các lớp băng dày là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất trong khoa học. Năm 2004 một nhóm nghiên cứu châu Âu đã thực hiện việc trích lấy một lõi Nam Cực sâu gần 3km, trở lại thời kỳ 740.000 năm trước, vào những ngày khi người Neanderthal vẫn còn là một đám người thô lỗ dưới mắt một số vượn người. Các nhà khoa học phải thực hiện công việc này ở điều kiện nhiệt độ xuống đến –50°C vào mùa đông, không bao giờ trên –25°C, và buộc phải làm lại từ đầu khi mũi khoan bị kẹt vào năm 1999 hay phải dùng túi nhựa chứa đầy ethanol làm mũi khoan tạm ở gần 1km cuối.

Kết quả do những người hùng khoa học này (có cả nữ giới) trích được từ vùng băng tuyết này đã làm rõ một điều: thế giới ở thời kỳ các nghệ sĩ của hang động Altamira rất lạnh. Nhiệt độ bắt đầu xáo trộn trở lại sau khi con người hiện đại rời châu Phi, và khoảng 20.000 năm trước – khi ngày càng nhiều nghệ sĩ đang dùng chất hoàng thổ và than vẽ lem nhem trên tường hang động – thì sự giá lạnh của Thời đại Băng hà cuối cùng đã lên đến đỉnh điểm. Nhiệt độ trung bình xuống thấp hơn –25°C so với thời gian trước đó. Điều đó tạo ra một sự khác biệt đáng kinh ngạc. Các dòng sông băng dày hàng kilomet bao phủ vùng Bắc Á, châu Âu và châu Mỹ, khóa chặt một lượng nước nhiều đến mức mực nước biển lúc đó thấp hơn hiện nay đến hơn 91,4m. Bạn có thể đi bộ từ châu Phi đến Anh, Australia hay châu Mỹ và không bao giờ nhìn thấy biển. Nhưng dẫu có muốn đến những nơi này ắt hẳn câu trả lời của bạn sẽ là không thể; ở rìa các dòng sông băng gió rú rít liên hồi và những cơn bão cuồng nộ mù trời thổi tràn qua những thảo nguyên mênh mông khô cằn, lạnh giá vào mùa đông và trơ trụi vào mùa hè. Ngay cả ở những khu vực ít nguy hiểm nhất, trong phạm vi 40° đường xích đạo, mùa hè ngắn lại, lượng mưa nghèo nàn đồng thời hàm lượng khí carbon dioxide trong không khí giảm xuống, hạn chế sự phát triển của của các loài thảo mộc và kìm hãm quần thể động vật (kể cả con người) ở mức thấp. Mọi thứ cũng tồi tệ chẳng khác gì vào những thời kỳ tồi tệ nhất trước khi con người hiện đại rời châu Phi.

Ngày nay, cuộc sống ở vùng nhiệt đới dễ dàng hơn ở Siberia, nhưng khi xem xét ở bất kỳ nơi nào, các nhà khảo cổ đều thấy rằng loài người thích nghi với Thời đại Băng hà theo những cách tương tự. Họ sống thành các nhóm nhỏ. Ở những vùng môi trường lạnh hơn thì một tá người đã là một nhóm lớn; ở những vùng khí hậu ấm áp thì số lượng đó có thể gấp đôi. Họ đã biết được khi nào thì các loại cây đến mùa chín tới và nơi để tìm ra chúng, khi nào thì đúng mùa các loài động vật di cư và nơi có thể chặn bắt chúng, và họ theo dõi cả hai việc này dựa theo cảnh quan. Những người không học hỏi những điều này sẽ chết đói.

Những nhóm nhỏ bé như vậy sẽ phải đấu tranh để sinh sản. Cũng như những người săn bắt-hái lượm hiện đại ở những vùng môi trường khó trồng trọt, họ hẳn phải gặp nhau thường xuyên để tìm kiếm bạn tình, trao đổi hàng hóa, kể chuyện, và có thể trò chuyện với các thần linh, linh hồn và tổ tiên của họ. Những cuộc tụ họp này chắc hẳn là những sự kiện xã hội thú vị nhất trong lịch biểu. Dĩ nhiên, đây chỉ là dự đoán của chúng tôi, nhưng nhiều nhà khảo cổ nghĩ rằng những ngày lễ hội này đã hiện diện sau các bức tranh hang động ngoạn mục ở châu Âu: mọi người đều khoác những chiếc áo da thú và đeo chuỗi hạt đẹp đẽ nhất, vẽ mặt, và làm những gì có thể để trang trí nơi hội họp linh thiêng của họ, khiến chúng thực sự đặc biệt.

Tuy nhiên, một câu hỏi rõ ràng sẽ được đặt ra, tại sao – nếu những sự thật về cuộc sống khó khăn được áp dụng trên khắp châu Phi, châu Á và châu Âu – thì tại sao chúng ta chỉ gặp những bức tranh hang động ngoạn mục này ở Tây Âu. Câu trả lời truyền thống cho rằng người châu Âu có tính sáng tạo về mặt văn hóa hơn bất kỳ ai khác nghe ra rất có ý nghĩa, nhưng chúng ta có thể có câu trả lời hay hơn nếu chuyển câu hỏi sang hướng ngược lại. Lịch sử nghệ thuật châu Âu không phải là một danh mục liên tục các tác phẩm bậc thầy từ Chauvet đến Chagall; những bức tranh hang động đã tàn lụi sau năm 11500 TCN và nhiều thiên niên kỷ trôi qua trước khi chúng ta biết làm gì để sánh kịp chúng.

Việc tìm kiếm căn nguyên phương Tây vượt trội dựa vào một truyền thống sáng tạo 30.000 năm của châu Âu rõ ràng là một điều sai lầm nếu truyền thống này thực sự đã cằn cỗi đến hàng nghìn năm. Thay vì vậy, có lẽ chúng ta nên đặt câu hỏi tại sao các bức tranh hang động lại chấm dứt, bởi vì một khi làm thế, chúng ta sẽ bắt đầu thấy có vẻ như những phát hiện lạ kỳ ở châu Âu thời tiền sử có nhiều liên quan đến địa lý và khí hậu cũng như bất kỳ nền văn hóa phương Tây đặc biệt nào.

Trải qua hầu hết Thời đại Băng hà, miền Bắc Tây Ban Nha và miền Nam nước Pháp là những đất săn tuyệt hảo, nơi hàng đàn tuần lộc di cư từ những đồng cỏ từ mùa hè đến mùa đông và lại trở về. Nhưng cách đây 15.000 năm, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên (sẽ đề cập nhiều hơn ở Chương 2) thì tuần lộc ngừng di cư về phía nam vùng này vào mùa đông, và những người thợ săn phải theo dấu chúng về phía bắc.

Không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên khi những bức vẽ trong các hang động ở Tây Âu tàn lụi dần trong cùng thời điểm. Ngày càng ít nghệ sĩ bò toài dưới lòng đất cùng với những cây đèn đốt bằng mỡ động vật và những chiếc que hoàng thổ. Ở một thời điểm nào đó khoảng 13.500 năm trước, người nghệ sĩ cuối cùng đã rời đi. Có lẽ anh ta không nhận ra một điều là vào cái ngày đó truyền thống cổ xưa đã chết. Bóng tối phủ xuống các hang động, và trong hàng thiên niên kỷ, chỉ có dơi và những giọt nước nhỏ xuống làm xáo động sự im lặng như nấm mồ của các hang động này.

Tại sao những bức tranh hang động tuyệt đẹp này không đều đặn chuyển đi về phía bắc qua châu Âu sau năm 11500 TCN khi những thợ săn theo dấu đàn tuần lộc đang lùi dần? Có lẽ lý do cụ thể là các thợ săn vùng Bắc Âu không tìm được những hang động thuận tiện để trổ tài hội họa. Miền Bắc Tây Ban Nha và miền Nam nước Pháp có một số lượng lớn các hang động đá vôi nằm sâu trong lòng đất, trong khi vùng Bắc Âu lại có rất ít. Những nỗ lực mà các tộc người tiền sử thực hiện để trang trí nơi hội họp của họ hiếm khi tồn tại cho chúng ta phát hiện nếu không có các vùng săn trùng khớp với những hang sâu. Bất kỳ khi nào không nảy sinh sự trùng hợp ngẫu nhiên may mắn này, con người lúc đó hẳn phải tập hợp lại gần hơn, hay trên bề mặt hang. Do tiếp xúc với gió, mặt trời, và mưa trong 20.000 năm, rất ít vết tích tác phẩm nghệ thuật của họ còn tồn tại.

Dù vậy rất ít vết tích không phải là không có vết tích nào, và đôi khi chúng ta cũng gặp may. Tại hang động tuyệt mỹ có tên Apollo 11 ở Namibia, các phiến đá có hình vẽ tê giác và ngựa vằn bị tách khỏi tường động rơi xuống nền, được bảo quản dưới các lớp trầm tích hình thành từ giữa 19.000 đến 26.000 năm trước, và một số mẫu vật Australia thậm chí còn xưa hơn nữa. Tại Sandy Creek, các trầm tích khoáng vật phát triển phủ lên một phần của bức chạm trên một tường động có thể xếp niên đại khoảng 25.000 năm trước và các mảng màu khoảng 20.000 đến 32.000 năm tuổi, trong khi ở hang đá Carpenter’s Gap, một phần của tường hang được sơn vẽ rơi xuống vỡ thành các mảnh vụn có đến 40.000 năm tuổi, còn sớm hơn ở Chauvet.

Không có mẫu vật nào của châu Phi hay Australia sánh được với tác phẩm tốt nhất ở Pháp và Tây Ban Nha về mặt thẩm mỹ, và có khá nhiều động sâu bên ngoài Tây Âu không có tranh vẽ (như Chu Khẩu Điếm, được cư trú trở lại 20.000 năm trước). Thật là ngớ ngẩn khi tuyên bố rằng tất thảy con người đều cố gắng như nhau trong nghệ thuật hang động, nói gì đến việc mọi truyền thống nghệ thuật đều thành công như nhau. Nhưng căn cứ vào các vấn đề bảo tồn và việc các nhà khảo cổ học chỉ tập trung lâu dài và tích cực ở châu Âu hơn bất kỳ nơi nào khác, thì sự tồn tại của nghệ thuật dẫu có ít ỏi ở các châu lục khác cũng cho thấy rằng tất cả con người hiện đại, ở khắp mọi nơi, đều chia sẻ mong muốn sáng tạo nghệ thuật. Ở những nơi các điều kiện vẽ tranh hang động không dễ dàng như ở Tây Âu, người ta có thể dồn năng lượng cho các phương tiện truyền thông khác.

Hình 1.5. Khởi nguyên của nền văn hóa phương Tây? Những vòng tròn trắng biểu thị các bức vẽ trên nền hang động có 12.000 năm tuổi hoặc hơn và những vòng tròn đen biểu thị những hiện vật nghệ thuật cùng niên đại.

Hình 1.5 cho thấy trong khi các cụm nghệ thuật hang động ở Tây Âu, đá, đất sét, các mẫu xương người và động vật xuất hiện phổ biến xa hơn về phía đông. Nếu điều kiện kinh tế cho phép, tôi có thể in ra hàng tá các bức tượng nhỏ tìm thấy ở khắp nơi từ Đức đến Siberia. Do không có điều kiện, tôi chỉ giới hạn vào phát hiện gần đây nhất, vào năm 2008 ở Hohle Fels, Đức (Hình 1.6) – một bức tượng nhỏ cao khoảng 5cm khắc họa một phụ nữ không đầu với bộ ngực lớn, thực hiện 35.000 năm trước từ ngà voi mammoth. Quanh thời điểm đó, những thợ săn ở Malaya Síya gần hồ Baikal ở Siberia – chắc chắn là một trong những địa điểm không thân thiện nhất trên trái đất – đã dành thời gian để khắc những hình ảnh động vật trên xương thú; và khoảng năm 25000 TCN, các nhóm lên đến 120 người mạnh mẽ đã quần tụ tại các túp lều làm bằng xương và da thú khổng lồ ở Dolní Vestonice, Cộng hòa Séc, nơi họ chế tác hàng nghìn tượng động vật bằng đất sét và vẫn là những phụ nữ ngực to. Ở Đông Á, ghi nhận về nghệ thuật này vẫn còn thưa thớt, nhưng phát hiện sớm nhất – một mẫu vật nhỏ chạm hình chim làm từ gạc nai có niên đại khoảng 15.000 năm trước được tìm thấy ở Hứa Xương vào năm 2009 – trông tinh vi đến nỗi chúng ta có thể tin rằng các cuộc khai quật trong tương lai sẽ cũng hiện lộ một truyền thống nghệ thuật nở rộ ở Thời đại Băng hà tại Trung Hoa.

Hình 1.6. Sự thôi thúc sáng tạo: Bức tượng nữ thần Venus 35.000 năm tuổi, ngực lớn, không đầu, cao hơn 5cm, được tạo tác bằng ngà voi mammoth, tìm thấy ở Hohle Fels, Đức, năm 2008.

Con người của Thời đại Băng hà bên ngoài phạm vi Tây Âu, do thiếu điều kiện để tạo ra những Chauvet và Altamira rõ ràng đã tìm thấy những phương tiện khác để thỏa mãn sự sáng tạo của mình. Có rất ít bằng chứng quý giá cho thấy loài vượn người trước đây đã cảm nhận được sự thôi thúc sáng tạo, nhưng trí tưởng tượng dường như đã được cài đặt vào Homo sapiens. Khoảng 50.000 năm trước, con người đã có những khả năng tinh thần để tìm kiếm ý nghĩa của thế giới và những kỹ năng để thể hiện những ý nghĩa này trong nghệ thuật và có thể cả trong thi ca, âm nhạc và nhảy múa (dù chúng ta không khảo sát được). Lại một lần nữa, mọi chủng tộc (ở các nhóm lớn) dường như đều giống nhau, bất kể chúng ta tìm thấy họ ở đâu. Dù huy hoàng tráng lệ đến mấy, Altamira cũng không làm cho phương Tây khác biệt với những khu vực còn lại.

Những khác biệt về công nghệ, trí tuệ và sinh học đã tích tụ trong hơn 1,5 triệu năm sau khi những người vượn đầu tiên rời châu Phi, phân chia Cựu Thế giới thành một phương Tây của người Neanderthal/Homo sapiens và một phương Đông của người Homo erectus. Và khoảng 100.000 năm trước, khi nói đến phương Tây là nói đến đặc trưng công nghệ tương đối tiên tiến, thậm chí còn hàm ý bao gồm cả nhân loại, trong khi phương Đông trong ngày càng lạc hậu, nhưng khi con người hiện đại di chuyển hẳn khỏi châu Phi cách đây 60.000 năm, họ đã xóa bỏ tất cả những điều này. Cách đây 20.000 năm, lúc Thời đại Băng hà cuối cùng lên đến cực điểm, thì đôngtây chỉ là những phương hướng để xác định vị trí mặt trời mọc và lặn. Các nhóm nhỏ người rải rác từ Anh đến Siberia hợp lại, thay vì chia tách, ngày càng nhiều, và (tương đối) sớm để băng qua châu Mỹ. Mỗi nhóm đều tự tìm kiếm lục lọi và săn bắt, rong ruổi trên những vùng đất rộng lớn theo mùa trái chín và các loài động vật đến rồi đi. Mỗi nhóm hẳn phải biết tường tận lãnh thổ của mình để kể những câu chuyện về đất đá và cây cối; mỗi nhóm đều có nghệ thuật, truyền thống, công cụ, vũ khí, thần linh và ma quỷ của riêng họ. Và chắc chắn một điều, mỗi nhóm đều biết thần linh rất thương yêu họ, vì bất kể mọi gian nan khổ ải trước mắt, họ vẫn còn sống và tồn tại.

Con người, trong chừng mực nào đó, đã có khả năng đến với một thế giới lạnh lẽo, khô cằn, nơi mà, chúng ta ngờ rằng, nếu trái đất không chuyển động dưới chân họ thì mọi thứ hẳn vẫn còn nguyên sơ.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.